Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »


Tự sát tập thể


Bùi Bảo Trúc


Lemming là sinh vật họ hàng rất gần với chuột và sóc sống ở vùng địa cực. Tuy sống gần địa cực nhưng chúng không thèm ngụy trang bằng bộ lông màu trắng để tiệp mầu với tuyết. Chúng hiên ngang với bộ lông màu nâu đậm và cũng không ngủ giấc đông miên như một số giống thú khác sống ở xứ lạnh. Theo một vài truyền thuyết thì khoảng mỗi bốn hay năm năm, cả vài ngàn con lemming lại kéo nhau đến một nơi ở Na Uy để tự tử bằng cách nhảy từ một bờ đất cao ngó xuống biển.

Sau khi không tìm thấy những bức thư tuyệt mạng chúng để lại mặc dầu đã mất nhiều công tìm kiếm, và tìm hiểu thêm thì các nhà sinh vật học tin là chuyện tự sát tập thể của những con lemming là không có thật. Lý do chúng kéo nhau nhảy xuống biển rồi chết là vì chúng tìm cách đi kiếm những vùng đất khác để sống khi thấy nơi chúng đang ở đã quá đông đúc (vì sinh sản quá nhiều).

Nhưng huyền thoại về những chuyến đi tự tử của chúng thì vẫn còn, và nhiều người vẫn tin là chúng kéo nhau đi tự tử hàng loạt. Thực ra không thể có chuyện cả ngàn con lemming đều thất tình, chán đời đến độ phải kéo nhau đi tìm cái chết như thế. Con thú nào cũng lận trong mình cái bản năng sinh tồn của ông Trời cho sẵn nên không loài thú nào tự đi tìm cái chết cả. Chuyện tự tử chỉ có nơi con người mà thôi. Người ta tự kết liễu đời sống vì nhiều lý do khác nhau. Có dân tộc tự tử nhiều, có dân tộc ít tự tử. Nhưng tự tử hàng loạt thì rất ít. Có thể nói là gần như không hề có hiện tượng đó, hiện tượng tự sát, tự tử, tự kết liễu đời sống cùng với nhau như huyền thoại về những con lemming ở Na Uy.

Như vậy, chỉ có loài người là biết tự tử. Người Nhật hay tự tử nhất. Tự tử để bảo toàn danh dự, vì thua trận, vì muốn lật ngược thế cờ như các phi công Kamikaze hồi đệ nhị thế chiến, vì không chu toàn được trách nhiệm như các samurai, vì những sai sót trong đời sống... Người già tự tử vì cô đơn như nhà văn Yasunari Kawabata tác giả của Ngàn Cánh Hạc. Người trẻ vì thất bại trong đời sống. Trẻ em Nhật cũng tự tử đến nỗi các cao ốc phải dựng lên những rào cản bằng lưới để ngăn chặn trẻ em nhẩy lầu trong mùa thi vì không thi đỗ vào lớp mẫu giáo...

Nhưng tự sát tập thể thì ngay cả ở Nhật cũng không có ngoại trừ một số kết liễu đời mình ngay trước hoàng cung khi Nhật hoàng loan báo nước Nhật thua trận và đầu hàng Đồng Minh. Vậy mà ở Việt Nam thì có. Người dân Việt Nam, cả nước đang cùng nhau tự sát tập thể.

Lý do không phải là vì chán đời, muốn đi theo bác Hồ hay bác chó gì hết. Nhưng người Việt vẫn đang tự sát tập thể. Không phải một hai, vài ba trăm hay mấy ngàn người mà dân tộc Việt Nam đang rất can đảm tự tử hàng loạt, tự tử cả nước. Và tự tử rất vui vẻ, anh hùng tự kết liễu đời mình, và luôn cả đời con cháu của mình, và giúp cho cả các thế hệ mai hậu tự giết mình.

Những cái chết do chính mình mang lại đó đang diễn ra hàng ngày một cách rất bình thản. Người tự tử chấp nhận những cái chết một cách tự nguyện rất anh dũng, không một nỗ lực nào để né tránh. Không bằng cách hara kiri tự mổ bụng như các hiệp sĩ Nhật, không lái máy bay lao vào chiến hạm Hoa kỳ như phi công Thần Phong Kamikaze, không ôm bom tự sát như khủng bố Hồi giáo. Người Việt Nam tự sát một cách bình thản và có phần vui vẻ là khác và được các đồng bào của mình sốt sắng giúp đỡ, một hình thức cũng có ở Mỹ nhưng rất hiếm hoi: assisted suicide (tự tử được sự trợ giúp) mà nhiều tiểu bang vẫn còn cấm ngặt và trừng phạt rất nặng như trường hợp của Bác Sĩ Jack Kevorkian (1928-2011).

Một cuộc nghiên cứu cho thấy là bệnh ung thư đang đóng góp rất nhiều vào việc giúp người Việt tự tử. Một giới chức thuộc hội ung thư Việt Nam nói rằng Việt Nam là quốc gia có số bệnh nhân ung thư cao nhất thế giới. Mỗi năm Việt Nam có khoảng 150 ngàn trường hợp nhiễm bệnh mới, và gần như đã nhiễm bệnh thì chỉ có chết. Lý do Việt Nam có nhiều người bị ung thư như vậy, theo giới chức này là vì một cuộc sống bẩn hóa chất: ăn bẩn, uống bẩn, thở bẩn.

Người Việt Nam ăn bẩn, rất bẩn. Gần như tất cả những thứ người dân Việt Nam cho vào miệng để ăn, để uống đều là những thứ độc hại. Không phải là những thứ mang những chất độc trong thiên nhiên, mà là những thứ thịt, cá, rau trái... được pha tẩm, ngâm... những loại hóa chất rất độc mà khoa học cho biết sẽ gây ra những chứng bệnh chết người về lâu về dài.

Trong năm qua, Việt Nam tiêu thụ khoảng 6 triệu con heo. Phần lớn những con heo này đều được chích những thứ thuốc giúp gia tăng lượng thịt nạc, giúp chúng tăng trọng lượng nhanh chóng. Một số heo trước khi giết còn được chích thuốc an thần. Những loại hóa chất và thuốc này chắc chắn là sẽ đem lại những hậu quả không bình thường cho người tiêu thụ. Người Việt cũng tiêu thụ những nội tạng đã phân hủy, đã trong tình trạng thối rữa sau đó được dùng những loại hóa chất để tẩy màu, khử mùi hôi thối rồi nấu nướng lên ăn với nhau. Ngay cả những con tôm, những con cá cũng được chích hóa chất để giữ được lâu hơn trước khi đem tiêu thụ ở khắp hang cùng ngõ hẻm. Những loại hóa chất độc hại này đều xuất xứ từ Trung Quốc được nhập cảng vào Việt Nam được bán công khai và được người Việt mua về để giúp nhau tự sát. Nhà cầm quyền thì không hề quan tâm đến những chuyện này, để mặc cho người dân tiêu thụ rồi chết với nhau. Những con gà phế thải ở Trung Quốc được đem sang bán ở Việt Nam cho người Việt tiêu thụ mà không qua bất cứ một biện pháp kiểm soát an toàn hay phòng ngừa nào của Việt Nam. Các nhà buôn Việt Nam thì dùng các hóa chất nhập cảng từ Trung Quốc để biến thịt heo, thịt trâu thành thịt bò bằng cách sử dụng các loại hóa chất độc hại để kiếm lời. Đừng tưởng miếng thịt tươi bán ngoài chợ đầu xóm là an toàn. Miếng thịt đó cũng đã được chích thuốc, từ con heo đã được cho ăn những thứ thực phẩm độc hại từ Trung Quốc. Mà đó là chưa kể những con chó bị đánh bả chết cũng được đưa lên bàn tiệc. Bả cho giết được chó chắc chắn còn trong xác con chó, ăn vào chắc chắn không thể tốt lành cho cơ thể người ăn.

Rồi đến những loại hoa quả trái cây cũng bị ngâm những thứ hóa chất để giữ cho tươi tốt được lâu như sầu riêng, như chuối... Những loại hóa chất này cũng giúp giữ cho những trái táo nhập cảng từ Trung Quốc được đẹp hơn, giữ được cả vài ba tháng không bị ung thối, nhưng những thứ trái cây này có an toàn hay không thì phải xét lại.

Ngay cả những thứ rau trái trồng ở trong nước cũng không an toàn cho người tiêu thụ như những bó rau trồng ở ngoại thành Hà Nội được tưới bằng nhớt thải của xe hơi rồi được rửa bằng nước cống rãnh trên đường đi vào thành phố cho người tiêu thụ.Và người tiêu thụ vẫn... tiêu thụ. Người tiêu thụ thì có một sự lựa chọn nào khác đâu.

Thế là người Việt hồn nhiên tiêu thụ, ăn uống, cho vào mồm miệng đủ các thứ độc hại để chết một cách... hồn nhiên. Một giới chức ở Hải Phòng nhận định rằng chưa bao giờ con đường từ dạ dầy tới nghĩa địa lại ngắn như thế.

Trong khi đó, bọn lãnh đạo thì ăn uống thế nào? Mấy năm trước, Lê Khả Phiêu khoe một vườn rau trên lầu bốn của nó ở giữa lòng Hà Nội, Đó, chúng nó ăn uống như thế đó. Còn người dân thì đang tự tìm đến những cái chết không cách gì tránh được để tự tử hàng loạt, tự tử cả nước là như vậy.

Không chỉ các loại thực phẩm nhiễm hóa chất độc mới giúp người Việt tự tử, mà còn có cả những sản phẩm tiêu thụ không phải là thực phẩm cũng góp phần vào việc giết người Việt. Thí dụ các loại đồ chơi trẻ em rẻ tiền xuất xứ từ Trung Quốc cũng có chứa các hóa chất rất nguy hiểm có thể gây thương vong cho các trẻ em như những chiếc nhẫn, những chiếc vòng vàng giả, hạt trai giả, dùng các loại sơn mang chất chì rất độc được các cha mẹ ham rẻ mua về cho con em chơi. Không chỉ đồ chơi trẻ em, luôn cả những sản phẩm dùng cho người lớn không ai ngờ tới cũng gây độc hại cho người dùng, như những tấm thảm để ngồi tập yoga cũng có những hóa chất gây ung thư. Chẳng trách một cuộc nghiên cứu mới cũng thấy là tỷ lệ người Việt Nam bị ung thư là tỷ lệ cao nhất thế giới hiện nay.

Không dừng ở đó. Người Việt sẵn sàng sử dụng những sản phẩm có thể gây chết chóc khác nữa. Hệ thống đường sắt Việt Nam vừa mua 164 toa tàu “đã qua sử dụng” nghĩa là đã cũ, tuổi đời từ 20 đền 30 năm. Những toa tàu cũ mà Trung quốc thải ra thì làm sao có thể bảo đảm an toàn cho các hành khách người Việt. Tai nạn và chết chóc là điều khó tránh được. Nhưng chúng vẫn được đưa về nước để dùng. Thế rồi người ta lại mua một số khá lớn những xe vận tải, những xe đầu kéo đã cũ cũng từ Trung Quốc để về sử dụng cho rẻ. Không ngạc nhiên khi thấy số tai nạn giao thông gây chết người không phải nhỏ ở Việt Nam ngày nay. Xe đã cũ, không sẵn phụ tùng, không được thường xuyên bảo trì thì gây nhiều tai nạn là phải.

Và cả một dân tộc đang tự sát tập thể là như thế!

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Tháng Tư... ngu!


Tạp ghi Huy Phương

Tháng Tư đen như mõm chó
Trước hết, tôi xin tự kiểm điểm cái ngu của bản thân mình trước, trong hàng nghìn cái ngu của thiên hạ, vì ngu mà phải mất nước, “lỗi tại tôi mọi đàng” hay “tôi làm tôi mất nước.” Là một cán bộ chiến tranh chính trị trung cấp, hết làm tâm lý chiến, rồi chính huấn, tức là huấn luyện chính trị cho hàng nghìn tân binh tại một trung tâm huấn luyện lớn nhất nước, mà khi nghe Cộng Sản vào đến Sài Gòn, không chịu tìm đường chạy, vì cứ nghĩ mình gốc nhà giáo, hòa bình rồi, đi 'học” mấy ngày rồi về dạy học lại!


Tôi ngu vì đã suy diễn hay hiểu sai thời gian đi “học tập,” nên chỉ đem theo 10 gói mì ăn liền Vifon, để ăn sáng trong 10 ngày, ngày thứ 11 đã ăn cơm nhà rồi!

Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn-Gia Định ra thông cáo tất cả các quân nhân cấp úy phải trình diện đi “học tập cải tạo,” mang theo tiền ăn trong 10 ngày, cấp tá mang theo tiền ăn cho một tháng. Sau này có người đi tù 17 năm ròng rã, chúng ta “chửi” Cộng Sản lừa dối, nhưng xem kỹ lại các văn bản, không thấy đoạn nào nói, cấp úy chỉ đi tù 10 ngày, cấp tá một tháng, mà chỉ nói “đóng tiền ăn.” Chẳng qua, vì chúng ta hay suy luận, và ngây thơ, khờ dại nên mắc mưu sự khôn lanh, xảo quyệt của kẻ thù, đó chính là vì chúng ta ngu!

Sau này, ra Bắc, chính tai tôi đã nghe một quản giáo cai tù nói rằng: “Đưa các anh ra biển thì cũng từ từ, trước hết là gần bờ, sau mới dần dần đưa các anh ra xa hơn, nếu không các anh chóng mặt, say sóng, chịu làm sao nổi!”

Tôi đoan chắc anh em chúng ta, nhất là quý vị tướng lãnh, nếu biết được những ngày tù không bản án, mà có người ra đi biền biệt 17 năm trời, chịu bao nhiêu khổ ải, nhọc nhằn, nhục nhã, thì một nửa trong chúng ta đã tự sát tại nhà mà chết, hoặc chạy vào rừng để rồi cũng chết vì súng đạn của Việt Cộng. May hay rủi, vì ngu mà chúng ta mới sống đến ngày hôm nay.

Khi đến các địa điểm trình diện, không ai nghĩ “đi tù” mà chỉ nghĩ “đi học.” Tại trường Trưng Vương, là nơi trình diện từ cấp phó giám đốc trở lên, hai vị, một từng là phó thủ tướng VNCH, dân biểu, một vị đã là thượng nghị sĩ, đi học còn mang theo gối ôm, và khi xếp hàng vào cổng, có vị đã giành đi trước, vì có giấy giới thiệu của Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn-Gia Định. Sau đó, bộ đội Cộng Sản mới ra lệnh: “Ai có giấy giới thiệu thì đứng qua một bên!” Giấy giới thiệu đây là giấy gọi “trình diện” cho các viên chức cấp cao, còn đối với cấp nhỏ thì chỉ có thông cáo chung trên báo chí, đài phát thanh.

Những ai còn đứng lấp ló ngoài cửa chưa chịu vào, còn nghi ngại dò la thì những chiếc xe mang tên nhà hàng Soái Kình Lâm, Đồng Khánh... mang thức ăn vào quý vị dùng bữa tối, hẳn đã đánh tan mối hoài nghi về thiện ý của người thắng trận.

Đến khi lên xe Molotova, phủ bạt kín rồi, chúng tôi vẫn còn lạc quan tin lời Cộng Sản được đưa đến chỗ đầy “đủ tiện nghi,” (chắc là có đủ điện nước, máy lạnh, sân bóng chuyền...) để học tập và khi biết đoàn xe ra đến xa lộ Biên Hòa, thì việc di chuyển lên Đà Lạt như cầm chắc trong tay. Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, trường Chỉ Huy Tham Mưu, trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị là những nơi lý tưởng nhất để “học tập.” Khi đến nơi ở tù rồi, Cộng Sản đưa tù vào một cái nhà kho, một trại gia binh hay một cánh rừng thì vẫn tin tưởng vào số ngày trong thông cáo, chờ ngày ra sân vận động Cộng Hòa làm lễ mãn khóa: “Quỳ xuống hỡi những cải tạo viên - Đứng lên hỡi những công dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!”

Câu chuyện những người trên con tàu Việt Nam Thương Tín, Tháng Năm, 1975, sang đến đảo Guam rồi, lại đốt “barrack,” tuyệt thực đề đòi “về với tổ quốc,” là một bài học xót xa cho những người trong cuộc, có người phải trả giá bằng 17 năm tù. Nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh kể chuyện, anh em “tù cải tạo” tại trại tù K2, Nghệ Tĩnh, gọi những người này bằng biệt danh “đội q...!”

Tại trại 15 NV. Long Thành, một nhạc sĩ đã hồ hởi sáng tác những bản nhạc được cai tù bắt cả trại hát: “Trồng rau, trồng đậu, trồng tình thương trong tâm hồn người...” Ra tới Bắc Thái lại thêm một bài “Ngày vui đã tới!” nhưng mà “ngày về” thì xa lắc xa lơ!

Thậm chí khi lên con tàu chở súc vật Sông Hương lưu đày ra Việt Bắc rồi, có người vẫn lạc quan “biết đâu nó chở tù miền Nam ra Đệ Thất Hạm Đội Hoa kỳ hay đi thẳng qua Guam để giao cho Mỹ!” Tàu chạy hơn một ngày một đêm rồi mà vẫn nghĩ là cập bến Đà Nẵng chứ không ai nghĩ là lên cảng Hải Phòng.

Ở trong nhà tù vẫn còn người tin tưởng “học tập, lao động” tốt thì được “Cách Mạng” cứu xét cho về với gia đình sớm, nên làm trối chết, kiệt sức, đấu tố anh em... để lấy điểm với cán bộ, cũng như đau xót cho quý bà ở nhà, dắt díu con cái đi vùng “kinh tế mới” cho chồng sớm được tha! Sau 10 “bài học tập,” tới buổi “thu hoạch” thì cứ nghĩ là viết hay thì được tha về, viết dở thì ở lại “học” tiếp.

Trước ngày 29 Tháng Ba, 1975, khi Cộng Quân chưa vào Đà Nẵng, một số người thuộc phe hòa hợp hòa giải tin tưởng thời cơ đã đến nên đã sắp đặt đưa Bác Sĩ Phạm Văn Lương lên làm thị trưởng Đà Nẵng, tin sau đó được đài BBC loan báo. Trong lần phỏng vấn bà quả phụ Phạm Văn Lương tại Nam California, bà xác nhận với chúng tôi Bác Sĩ Phạm Văn Lương chưa bao giờ là thị trưởng Đà Nẵng, nhưng có chuyện là khi có nguồn tin này, một vị trung tá đã đến gặp ông xin làm tài xế cho ông, để nhờ ông che chở, lánh nạn. Sao có người “ngu” đến mức như thế!

Ngày 5 Tháng Tư, 1975, Bác Sĩ Phạm Văn Lương cùng nhiều y sĩ khác bị đưa vào nhà tù Kỳ Sơn, và một năm vào ngày 3 Tháng Tư, 1976, Bác Sĩ Lương đã uống thuốc ngủ cùng 10 viên cloroquine để tự tử.

Trong những ngày cuối cùng của miền Nam, Tướng Dương Văn Minh vẫn còn tin tưởng Thượng Tọa Thích Trí Quang, người hứa sẽ đưa người “phía bên kia” đến thương lượng để thành lập chính phủ liên hiệp. Nhưng cuối cùng, tiếng than cuối cùng tuyệt vọng của “Tổng Thống” Dương Văn Minh là: “Thầy giết tôi rồi!”

Có những người làm lớn hoặc từng “làm rung rinh nước Mỹ” mà còn ngây thơ như vậy, thì đừng trách chi một thằng lính như tôi tin tưởng vào lời của “cách mạng” đem đủ 10 gói mì ăn liền, là... ngu!

Quân tử, ngay thẳng, ngây thơ mà đối đầu với tiểu nhân, xảo trá, độc ác thì không chết cũng bị thương. Tôi đâm ra nghi ngờ rằng, khó “đem đại nghĩa để thắng hung tàn,” và thời nay thấy nhan nhản chuyện “cường bạo áp đảo cả chí nhân!”

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

‘Ráng làm người tử tế’

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)

Chủ trì phiên họp cuối cùng nhằm từ biệt các thành viên nội các ngày 26 tháng 3, sau khi cám ơn mọi người,
Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng khuyên những người sắp về hưu như ông “ráng giữ gìn sức khỏe,
làm công dân tốt, đảng viên tốt, ráng làm người tử tế, sống tử tế.”

Image
Nguyễn Tấn Dụng bị Nguyễn Phú Trọng hất văng khỏi cuộc đua vào ghế tổng bí thư sau đại hội 12. (Hình: Getty Images)


Lời khuyên trên bao gồm bốn ý chính. Chuyện “giữ gìn sức khỏe,” “làm công dân tốt” và “đảng viên tốt” không có gì lạ. Lạ nhất là ý cuối “làm người tử tế.” Lạ vì nó ngược với thực tế: Muốn làm một đảng viên tốt thì khó mà sống tử tế được.

Nhớ, trong cuốn phim tài liệu “Chuyện Tử Tế,” sản xuất vào năm 1985, đạo diễn Trần Văn Thủy đã trăn trở đi tìm ý nghĩa của sự tử tế trong xã hội Cộng Sản thời bao cấp. Cuối cùng, ông tìm ra sự tử tế ở những nơi khuất vắng, ít người biết nhất: một bà mẹ bị bệnh cùi, hằng đêm làm gạch để xây nhà cho đứa con còn bé dại, và đặc biệt, ở bệnh viện cùi với các nữ tu Công Giáo, bất chấp những hiểm nguy lây bệnh, tận tình chăm sóc cho các bệnh nhân lở loét đau đớn. Bộ phim đầy những hình ảnh tương phản: bên cạnh những người ăn nhậu thỏa thuê là những người nghèo khổ rách rưới lam lũ đói khát dọc hai bên đường; bên cạnh hình ảnh hàng ngàn người chen chúc mua vé xe đò là hình ảnh những cán bộ cao cấp đi xe hơi và bước trên những chiếc thảm đỏ sang trọng mới tinh. Những sự tương phản ấy gợi lên ấn tượng: giới lãnh đạo Cộng Sản không hề tử tế.

Trong bài “Tao là đứa bé ngoẻo trên lưng Linda Lê,” Nguyễn Quốc Chánh, hiện sống trong nước, nhận định một cách khái quát:

“Có 3 thứ không thể kết hợp với nhau nổi. Ðó là: Thông minh, lương thiện và cộng sản.

Một người thông minh và lương thiện thì không thể cộng sản,

Một người thông minh mà cộng sản thì không thể lương thiện,...

Một người lương thiện mà cộng sản thì chắc chắn không thông minh.”

Ở đây có hai vấn đề: Một, thế nào là tử tế (hay lương thiện)? Và hai, tại sao những người cộng sản, ít nhất là lúc tại chức, không thể tử tế?

Khái niệm tử tế, theo tôi, có hai nội dung chính: Thứ nhất, sống theo một chuẩn mực đạo đức phổ quát; và thứ hai, biết nghĩ đến người khác.

Ðảng Cộng Sản, bất cứ là đảng Cộng Sản nào, khi lên cầm quyền, đều hăm he tiến hành ba cuộc cách mạng: cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng văn hóa tư tưởng. Một trong những nội dung chính của cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng là xóa bỏ những bảng giá trị truyền thống mà họ cho là tàn tích lỗi thời của chế độ phong kiến cũng như những mầm mống hư hoại của chủ nghĩa tư bản. Ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc, cái gọi là giá trị truyền thống ấy chính là những hệ thống đạo đức gắn liền với Nho giáo cũng như với văn hóa làng xã. Những quan hệ tốt đẹp giữa người và người như tình nghĩa và nhân nghĩa vốn kết tinh trong xã hội cả hàng ngàn năm bỗng dưng bị phê phán và đả kích kịch liệt. Cuộc cải cách ruộng đất tàn khốc vào giữa thập niên 1950 phá vỡ mọi quan hệ tốt đẹp giữa người và người. Hậu quả là sau mấy chục năm cầm quyền, đảng Cộng Sản làm cho mọi giá trị đạo đức truyền thống sụp đổ. Sau này, một số người cố gắng phục hồi lại Nho giáo nhưng đó chỉ là một nỗ lực lẻ tẻ và muộn màng: Những gì bị đánh sập thì khó mà vun đắp lại được. Thành ra, ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong giới đảng viên, hầu như không có một bảng giá trị phổ quát nào còn tồn tại.

Ngoài việc phá hoại những bảng giá trị truyền thống, đảng Cộng Sản còn đề cao việc đấu tranh giai cấp. Một trong những nội dung chính của cuộc đấu tranh giai cấp ấy là giành giật quyền lợi từ những tầng lớp thượng lưu vào tay mình.

Trong một bài viết ngắn trên facebook, nhà nghiên cứu âm nhạc và văn học Hoàng Ngọc-Tuấn phát hiện ra một điểm lạ trong bản tiếng Việt của bài “Quốc Tế Ca.” Câu “Le monde va changer de base/ Nous ne sommes rien, soyons tout” trong nguyên tác tiếng Pháp của Eugène Pottier (viết năm 1871) có nghĩa là “Thế giới sẽ thay đổi từ căn bản/ Chúng ta chẳng là gì, chúng ta hãy là tất cả” được Trần Phú, tổng bí thư đầu tiên của đảng Cộng Sản, dịch là “Nay mai cuộc đời của toàn dân khác xưa/ Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình.” Bản dịch ấy, từ mấy chục năm nay, trở thành lời ca chính thức tại Việt Nam.

Ðiều đó cho thấy mục tiêu lớn nhất mà đảng Cộng Sản Việt Nam nhắm tới, từ lúc mới sơ sinh, là giành giật “lợi quyền” vào tay họ. Khi giành được rồi, hầu như toàn bộ nỗ lực của họ là làm sao giữ được những quyền lợi ấy. Trong chiều hướng ấy, đứng trước nguy cơ “diễn tiến hòa bình,” để mua chuộc sự trung thành của các đảng viên, đặc biệt trong lực lượng công an, họ đặt ra câu khẩu hiệu “Còn đảng còn mình.” Ðể bảo vệ quyền lợi, có khi họ sẵn sàng hy sinh cả đất nước, điều được dân gian khái quát hóa qua câu nhận định sắc sảo: “Ði với Mỹ thì mất đảng, đi với Trung Quốc thì mất nước. Thà mất nước còn hơn mất đảng.” Có thể nói một cách tóm tắt, từ khi được thành lập đến nay, mục tiêu tối hậu của đảng Cộng Sản là giành và giữ quyền lực và quyền lợi cho họ. Cái gọi là “vì dân” của họ chỉ là một chiêu bài rỗng tuếch.

Bởi vậy, khái niệm “đảng viên tốt” rất khó đi liền với khái niệm “sống tử tế.”

Tuy nhiên, có một vấn đề khác cũng cần được chú ý: Lời khuyên làm người tử tế và sống tử tế của Nguyễn Tấn Dũng chỉ được thốt ra khi ông sắp sửa về hưu. Hiện tượng ấy cũng khá phổ biến. Hầu hết những đảng viên lên tiếng phản biện lại chính quyền và đảng cầm quyền cũng như hô hào cho tiến trình dân chủ hóa tại Việt Nam hiện nay đều là những người đã nghỉ hưu. Ðiều ấy cũng cho thấy khi còn nằm trong bộ máy quyền lực, người ta không thể tử tế được.

Muốn tử tế, người ta phải đi ra ngoài bộ máy quyền lực của đảng, thậm chí phải đi ra khỏi đảng.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Dốt và gian

Thục Quyên
Ngày 23 tháng 3 vừa qua “Tòa án Nhân dân” Hà Nội sau 2 năm nhốt người trái luật mà vẫn lúng túng không tìm được bằng chứng buộc tội, lại đem cái tội danh vớ vẩn “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước” ra để kết án tù Anh Ba Sàm và cộng sự viên của ông, cô Nguyễn thị Minh Thúy.

Việc nhà nước Việt Nam đem cái luật đặc biệt đặt ra để siết cổ những tiếng nói phản biện không có gì là lạ. Cái đặc biệt kỳ này là họ bị đẩy vào chân tường vì dù cố gắng ngăn chặn nhưng luật quốc tế đã không cho phép họ cấm hẳn một Nghị sĩ Đức, ông Martin Patzelt, đến Việt Nam.

Ông Patzelt đã nhũn nhặn xin phép qua Việt Nam từ nhiều tháng trước và nhà nước Việt Nam đinh ninh cứ trơ ra không trả lời là qua chuyện. Nhưng một Nghị sĩ Đức thì rất rành luật và ông Patzelt theo đúng chương trình “Bảo vệ Người bảo vệ Nhân quyền của Quốc hội Đức” , với sự cho phép của Chủ tịch Quốc hội Liên bang Đức, đã bay qua Việt nam với tư cách là một thành viên của Ủy ban Nhân quyền Quốc hội Đức, để bày tỏ sự ủng hộ của ông đối với những bị cáo, đặc biệt là Anh Ba Sàm. Trước thế giới, ông Patzelt và Quốc hội Đức đã chính thức nói lên bằng hành động:

Anh Ba Sàm là một nhà bảo vệ Nhân quyền!

Nghị sĩ Patzelt đã đến tận toà đưa hộ chiếu ngọai giao xin vào.

Trong cơn quẫn bách, nhà nước Việt Nam đành muối mặt nói dối là phòng xử hết chỗ để ngăn chặn người khách vào, vì không thể quên là người này đến từ một nước bạn đối tác chiến lược quan trọng của Việt Nam. Nhưng tiến thoái lưỡng nan, những tưởng đóng cửa xử kín thì có thể bưng bít sự việc, không ngờ lại phải nhận thêm cú sốc chưa từng có là Nghị sĩ Patzelt đã nhẫn nại đứng nhiều tiếng đồng hồ trước cửa toà án, kéo theo sự có mặt của Tham tán chính trị và Nhân quyền Felix Schwarz của Toà Đại sứ Đức, cũng như ký giả những hãng thông tấn quốc tế. Một dịp quá ư thuận lợi để thế giới được xem bao nhiêu video, nghe phỏng vấn chi tiết, liên quan đến vụ án. Thí dụ như được chứng kiến đại biểu Liên minh Âu Châu cho Nghị sĩ Patzelt biết trong phòng xử còn nhiều chỗ trống! Bằng chứng hiển nhiên nhà cầm quyền Việt Nam dám nói láo ngay tại toà án!

Trở về Đức, ông Patzelt viết trong bản thông tin chính thức:

Tôi thật rất muốn được tham dự phiên toà để thấy mức độ tính chất pháp lý của nó. Tôi không thể hiểu tại sao phải xét xử đằng sau những cánh cửa đóng kín. Nếu nghĩ rằng mọi việc đều theo đúng quy trình pháp luật, thì đâu cần phải làm một cách giấu giếm như vậy?

“Ich wäre gerne bei diesem Prozess dabei gewesen, um zu sehen, inwieweit rechtsstaatlich vorgegangen wird. Es ist mir unverständlich, dass das Verfahren hinter verschlossenen Türen stattgefunden hat. Wenn man der Auffassung ist, dass alles seine rechtsstaatliche Ordnung hat, hätte man das Verfahren nicht geheim durchführen müssen”.

Nhà nước Việt Nam chưa cho biết lý do tại sao. Có nghĩa là câu hỏi này chính ông Patzelt hay mọi đồng nghiệp của ông khi tham dự những buổi thương thuyết để hợp tác phát triển kinh tế Đức-Việt, lại phải đặt ra, vì đó là nhiệm vụ của họ. Trên trang nhà của Đại sứ quán Đức tại Hà Nội, trong bài nhận định về mối quan hệ song phương giữa Đức và Việt Nam có ghi rõ:

“Đức không chỉ giúp đỡ Việt Nam trong quá trình chuyển đổi kinh tế mà còn hỗ trợ Việt Nam trong quá trình cải cách hệ thống pháp luật”.

Nghị sĩ Martin Patzelt sinh ra và lớn lên tại Cộng hoà dân chủ Đức, và lẽ dĩ nhiên rất tường tận về những gì xảy ra trong xã hội Xã hội chủ nghĩa. Những trao đổi của ông với những người tranh đấu dân chủ Việt Nam khi đứng sát vai với nhau trước cổng tòa xử Ba Sàm, mang âm hưởng thân mật, ấm tình người pha lẫn chút thương xót cho sự hy sinh của họ.

Nhưng đó là sự hy sinh phải có.

Ông nói “Từ ngoài chúng tôi chỉ có thể giúp, chính quí vị phải tự làm. Ngày xưa chúng tôi cũng phải tự làm. Tây Đức cũng không thể làm hộ“.

Tuy vậy, với bản tính thành thật, ông Patzelt cũng đã tìm được một điều để khen ngợi: nhà nước Việt Nam đã không đàn áp những người ủng hộ Anh Ba Sàm đứng tụ tập trước cửa toà án, điều mà theo ông khó có thể xảy ra lúc trước tại Đông Đức.

Lời khen duy nhất này cũng tan biến chỉ vài ngày sau, khi Nghị sĩ Patzelt nhận được tờ báo cáo và hình ảnh những người bị sách nhiễu, ngăn cản từ nhà không thể đến tham dự, dù là chỉ đứng trước toà án, và ngay cả những người đã tiếp chuyện với ông, ngay sau đó đã bị “bắt cóc” cưỡng bách đem đi.

T.Q.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Tháng Tư... thù hận

Tạp Ghi Huy Phương

Mới đọc qua nhan đề bài tạp ghi hôm nay, xin quý vị bình tĩnh, chớ có la lên: “Bây giờ mà nói chuyện thù hận, hãy xóa bỏ hận thù, quên đi quá khứ và cùng nhau hướng về tương lai, bắt tay cùng nhau xây dựng đất nước!” Câu nói này do bên thắng trận, nói đi nói lại đã nhiều lần, trở thành một câu nói sáo mòn, nghe như vô nghĩa. Ngày 30 tháng 4 lại đến, những người thua trận đã chịu bao nhiêu cảnh nghiệt ngã, đau xót, tha thứ mà không quên, khó quên thì dễ gì một sớm một chiều mà tha thứ. Image
Giết người buông súng.

Loài sói lang trên rừng mà biết nói chuyện nhân nghĩa, tay còn dính máu mà nói chuyện hãy bỏ qua hận thù. Mỗi năm, đến ngày 30 tháng 4, những kẻ thắng trận lại khua chiêng, đánh trống, duyệt binh, bắn pháo bông ăn mừng, và nói những điều nhân nghĩa khó nghe. “Lòng nhân ái làm nên 30 tháng 4, 1975!” Đó là câu nói của Tướng Lê Đức Anh, người đã từng là bộ trưởng Quốc Phòng và chủ tịch nước CSVN. Tuyên bố với báo chí, y đã giải thích thêm:

“Không hề có cuộc trả thù ‘tắm máu’ nào, đội quân và bộ máy chính quyền Sài Gòn tan rã tại chỗ nên các đô thị của miền Nam hầu như nguyên vẹn, không bị tàn phá. Kết thúc chiến tranh có người thắng kẻ thua nhưng không hề có sự trả thù và phục thù gay gắt.” Và:“ Việt Nam (Cộng Sản) là một dân tộc hiền hậu và vị tha...”

Tôi có một người anh họ là Đại Tá Lê Khắc Duyệt, nguyên giám đốc Công An Trung Nguyên và Cao Nguyên Trung Phần dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Sau năm 1963, ông được thuyên chuyền về Tổng Nha Cảnh Sát, và những ngày cuối cùng ông đặc trách công việc của cơ quan Interpol tại Việt Nam. Trước ngày 30 tháng 4, ông cũng như bao người khác nghe lời đường mật qua thông cáo của Chính Phủ Cộng Hòa Lâm thời miền Nam Việt Nam: “Quân đội bỏ súng về quê!” có xe đến nhà rước lên phi trường, nhưng ông không đi. Sau đó, ông đi trình diện “học tập” đúng ngày như bao nhiêu công chức cao cấp khác của miền Nam.

Trong thời gian ông đang ở trong trại cải tạo, một người bà con đi tập kết từ năm 1954 trở về, tốt bụng đã nói chuyện với gia đình ông Duyệt:

- Những công chức cao cấp miền Nam giữ những chức vụ như anh, trước sau gì bọn chúng cũng giết. Nghe nói chúng sẽ đưa một số sĩ quan và viên chức cao cấp, nhất là giới tình báo ra Bắc. Vậy gia đình nên tìm cách vận động, chạy chọt để anh khỏi phải ra Bắc. Đằng nào cũng chết, nhưng nếu anh ở lại trong Nam, chị và các cháu còn có thể đem xác về chôn cất hương khói, còn như ra Bắc, thì chết xong, bọn nó vùi dập đâu đó, không biết đâu mà tìm.

Gia đình ông Duyệt nghe lời chỉ dẫn của người bà con, đã tìm đủ mọi cách “trải vàng” cho ông khỏi có tên trong danh sách những người được chở ra Bắc bằng máy bay C.130

vào một đêm cuối năm 1976. Nhưng ba tháng sau, ở trại Long Thành, ông bị một cơn cảm nhẹ, trại có nhã ý chích cho ông một mũi thuốc. Sau mũi thuốc này, ông bất tỉnh, không thở được, trại “khoan hồng” chuyển cho ông về bệnh viện Hồng Bàng, và ông qua đời một hôm sau đó. Gia đình đời đời nhớ ơn ông “cách mạng” này, đúng như lời chỉ dẫn thân nhân “có xác” của ông để mang về chôn cất. Thật ra mấy ai hiểu biết gì về Cộng Sản, ngay cả những người ở trong ngành tình báo, phản gián!

Những viên chức tình báo cao cấp sau đây đưa ra Bắc đã bị Việt Cộng giết trong tù:

1.Chuẩn Tướng Bùi Văn Nhu, phó tư lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, người thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình làm tư lệnh.

2.Đại Tá Dương Quang Tiếp, thuộc BTL Cảnh Sát Quốc Gia, phụ tá An Ninh Tình Báo Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên và 2 Bên.

3.Đại Tá Nguyễn Xuân Học, trưởng Khối Phản Tình Báo đặc trách An Ninh Tình Báo - Phản Gián Nha An Ninh Quân Đội.

4.Đốc Sự Nguyễn Phát Lộc, giám đốc Nha Nghiên Cứu, người thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình làm đặc ủy trưởng Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo.

5.Ông Nguyễn Kim Thúy, giám đốc Nha Nghiên Cứu Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo.

Những viên chức tình báo cao cấp này khi đưa ra Bắc, đã bị đưa đi nhiều trại tù khác nhau, nhưng cái chết của họ giống nhau: được gọi đi “làm việc,” khai báo tội lỗi, và sau đó được trại “bồi dưỡng” một tô phở, ăn xong tô phở về đến trại, bị hộc máu chết ngay trong đêm đó.

Cộng Sản ở đâu cũng vậy, chữa bệnh thì không giỏi, nhưng đầu độc là “nghề chuyên môn của chàng.”

Ở trong Nam, Việt Cộng “không đánh người chạy đi, nhưng giết người chạy lại!” Họ xử bắn những người lính đã buông súng đầu hàng, xử tử ngay cả những viên chức Xã, Ấp, trung đội trưởng Nghĩa Quân, trong đó Hậu Nghĩa (Nam) và Quảng Ngãi (Trung) là hai tỉnh chịu sự trả thù tàn khốc nhất. Ở Quảng Ngãi, Thiếu Tá Hai, một tiểu đoàn trưởng địa phương Quân, bị treo ngược lên ở chợ Tịnh Châu, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, và mọi người dân đi qua đều bị Việt Công bắt cầm dao đâm vào người ông cho đến khi chết, chết rồi còn bị đâm tiếp. Nhiều nhân viên đảng phái, như Quốc Dân Đảng được gọi riêng đi “học tập” trong đêm cuối cùng tất cả đều bị chôn sống.

Toàn bộ nhân viên cảnh sát xã Trung Lập, Củ Chi, tỉnh Hậu Nghĩa đều bị xử tử. Nhiều viên chức cấp thấp ở tỉnh này như Trung Sĩ CS Tạ Văn Phúc, Cuộc Tân An Hội bị chặt đầu tại Phú Hòa Đông, Trung Sĩ CS Đặc Biệt Củ Chi Nguyễn Văn Chấp, bị tra tấn bằng cách dội nước sôi cho đến chết.
Image
Ở Kiến Hòa, Đại Úy Nguyễn Xuân Thìn, phó trưởng Ty An Ninh Quân Đội ngày 30 tháng 4 cũng đã bị bắn và thả trôi sông.
Hầu hết những sĩ quan đặc trách tình báo, hay “Trưởng F đặc biệt” đều bị trả thù triệt để. Trung Tá Trương Văn Tỷ, Thiếu Tá Hồ Văn Còn, Thiếu Tá Phan Tấn Ngưu (Tây Ninh) Đại Uy Lữ Kim Ba (Ba Xuyên) chuyên viên Tình Báo Phạm Gia Đại (Tòa Đại Sứ Mỹ)... đều nhận bản án thù hận 17 năm trời ròng rã.

Đây chỉ là những tin tức hạn chế trong trăm nghìn trường hợp “hiền hậu, vị tha” mà những người Cộng Sản Việt Nam đã dành cho “anh em” miền Nam thất trận, còn bao nhiêu tội ác có nhân chứng trong nước, nhưng dưới chế độ này, họ đành câm nín mang theo cho đến khi chết.

Trong một cuộc chiến, khi hai bên coi nhau như kẻ thù, đều muốn tìm hết khả năng và dùng mọi phương tiện để tiêu diệt nhau, nhưng khi đã ngưng tiếng súng, có bên thắng bên thua, trong tinh thần mã thượng, không thể dùng sức mạnh để truy lùng, tiêu diệt những kẻ yếu thế như trường hợp đảng Cộng Sản Việt Nam đã làm. Như vậy, có thể dùng những danh từ hoa mỹ như “nhân ái,” “ hiền hậu,” “ vị tha” để mô tả những hành động ghê tởm này không?

“Không hề có sự trả thù và phục thù gay gắt” thì làm sao trong một trại tù như Ba Sao, Nam Hà, từ 1975 cho đến 1988 lại có 626 người tù từ miền Nam ra, đã chết vì đói, bệnh và làm việc kiệt lực.

Một chế độ không dạy con người thù hận, làm sao có thể có những sự trả thù ghê gớm đến mức như vậy? Một cuộc chiến đã ngưng tiếng súng rồi, sao còn gọi nhau “máu kêu trả máu - đầu kêu trả đầu!”(Tố Hữu)

Những người sống bằng nhân nghĩa lại có “đức tính” mau quên, và những bài học hận thù viết bằng chữ máu, thì chẳng bao giờ thuộc.

(*)Theo lời vị trụ trì thuật lại với cô Phạm Thanh Nghiên, cách đây vài năm có một Phật tử đưa một cựu giám thị trại tù Ba Sao đến chùa. Người giám thị này trao cho sư một danh sách gồm 626 người tù từ miền Nam chết trong trại, ngỏ ý muốn làm một tấm bia đặt trong chùa để 626 vong linh này được hương khói tử tế. Danh sách này sau đó đã bị ông thầy thiêu hủy!

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Image

Chơi ẩu nên... chơi lại!

Vũ Đông Hà
(Danlambao) - Sau lần đội hại 12, Nguyễn Phú Trọng nhấp nha nhấp nhỏm trên ghế TBT, muốn đá văng Ba Ếch trước khi đồng rận phe chúng giở trò thế lực thù địch với đồng chí phe ta, đã như Tào Tháo đuổi - gấp rút ra lệnh cho đàn em trong cuốc hội 13 đẻ gấp 3 con Ngân Quang Phúc để nằm ngay vào nôi chủ tịch đảng, chủ tịch cuốc hội và thủ lãnh tướng cướp.

3 đứa Ngân Quang Phúc này, trong ngày được Trọng lú đặt vào nôi, đã oe oe vừa thề: tuyệt đối trung thành với hiếp pháp; vừa phọt một đống bầy nhầy lên hiếp pháp của đảng: chúng ông, chúng bà ra đời cóc có cần cha mẹ chính thức, hợp pháp, hợp hiếp như đảng đã tự quy định.

Chơi ẩu, chơi đại, chơi nhàu hiện tại, chơi nát tương lai... bị bà con thổi còi việt vị, nên bây giờ đồng chí Tổng thư ký cuốc hội Nguyễn Hạnh Phúc được đẩy ra sân khấu ca bài: cú vừa rồi là chơi tạm; Ngân Quang Phúc là 3... tinh trùng của con cuốc thứ 13. Đến khi con cuốc 14 được đảng-cử-dân-bị-bầu cho ra đời vào ngày 22.05.2016 thì sau đó sẽ chơi lại cú nữa để đập bầu, đẻ lại 3 con chủ tịch đảng, chủ tịch cuốc hội và thủ lãnh tướng cướp.

Như vậy từ đầu tháng 4 đến gần cuối tháng 7 là thời điểm bầu bì... lần nữa, ba con chí Ngân Quang Phúc theo nguyên tắc được hưởng vinh hoa phú quý đủ mọi đàng, bò trên đầu trên tóc nhân dân để hút chích chừng đâu 3 tháng!?

Tại sao lại có trò chơi đi rồi chơi lại này?

Có người nói rằng vì tập đoàn cướp bóc không muốn có một khoảng trống quyền lực sau đại hội đảng cướp lần thứ 12; chẳng thể để cho đầu đường cuối hẻm Việt Nam có bóng... thanh bình, thiếu vắng những tên đầu trộm đuôi cướp tối cao vừa được bầy đàn sắp xếp vào thành phần đầu não trong đại hội quần hồ 12.

Có người cho rằng bởi vì Trọng lú sợ để đồng chí X ngồi lì thêm vài tháng sẽ làm lão khóc ngoài quan ải một lần nữa vì X sẽ đảo chánh triều đình.

Xì!!! có người phản đối, X nó chỉ muốn về Cà Mau vừa đập muỗi vừa tập làm ruồi tử tế, bác cả Lú chỉ không muốn hộc máu ra mà chết khi nhìn thấy nụ cười đểu của đồng chí X bắt tay Obama dự trù sẽ sang thăm VN cú chót mà thôi.

Riêng đồng chí Tổng thư ký cuốc hội Nguyễn Hạnh Phúc thì giải bày rằng: "sau Đại hội Đảng XII, nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt của Nhà nước không tái cử Ban chấp hành Trung ương. Do đó, việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo các cơ quan Nhà nước một cách đồng bộ nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng." - như trực tiếp cởi truồng cho thiên hạ thấy: cuốc hội chỉ là cái quần xì líp của đảng, đảng thay chim thì cuốc phải thay xì.

Còn đồng rận Phó Tổng Thư ký Quốc hội Lê Minh Thông thì cởi bạo hơn: “Tốt nhất khi thay đổi vị trí nào trong Đảng thì thay đổi ngay vị trí trong bộ máy nhà nước”. Nghe thiệt là dân chủ đến thế là cùng... đường!

Gì gì đi nữa thì hành động tống cổ các đồng rận phe địch cũng đã được các đồng chí phe ta hoàn tất thành công, thành công, đại thành công.

Ba Ếch đã tuyên bố bắt đầu tiến trình quá độ từ cóc sang người sẽ tập tành tử tế. Trọng lú sau khi tế tử bầy đàn Ếch nhái phe địch cũng phải ráng tỏ rằng phe ta cũng toàn là những tên đầu trộm đuôi cướp rất là tử tế. Thế nên, màn 2 của vở tuồng đút vào đút ra đẻ ra đẻ vào được tiếp nối: khai bông nở nhuỵ lại 3 tên thảo khấu Phúc-Quang-Ngân bằng cha mẹ đảng cuốc mới cho nó hợp hiếp.

Chơi, bầu và đẻ kiểu nào?

Thì nhét 3 đứa nó vào tử cung của con cuốc 14. Hô một phát, tất cả các ông bà mụ xuất thân từ động Ba Đình gật một cái là chúng nó chui ra trở lại, bò vào nôi chủ tịch đảng, chủ tịch cuốc hội và thủ lãnh tướng cướp, oe oe mần tiếp sự nghiệp bán nước cho Tàu được truyền lại từ đời béc Hồ một Tập nhiều Chương.

Thế nhé, chơi ẩu nên chơi lại. Vấn đề là đảng ta đương nhiên sẽ dùng lại cái bao cao su đã qua sử dụng. Không tốn kém gì nhiều. Chuyện có gì mà ầm ĩ!

14.04.2016
Vũ Đông Hà

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

CÓ NHỮNG SỰ THẬT KHÔNG CÃI ĐƯỢC

Huy Phương
Image Một bản tin ngắn, rất tầm thường ở Việt Nam, không chắc làm cho bạn quan tâm, đau lòng, đó là bản tin từ Hà Nội, cho biết nạn bẻ kính chiếu hậu xe hơi bắt đầu tràn lan. Chỉ với một chiếc Porsch Panamera giá $200,000 đã được quân gian chiếu cố, chỉ trong hai năm, đã bị bẻ kính bảy lần. Ngay một sinh viên trường Cao Đẳng Văn Hóa-Thể Thao Hà Nội, Đặng Huy Việt, trước đây cũng từng là thủ phạm loại ăn cắp vặt này. Theo tôi, trong cái thời buổi tệ mạt này, rõ ràng là chuyện “trăm năm trồng người” đã có kết quả hay hậu quả đau don... Image
Càng sống lâu trong xã hội chủ nghĩa, con người càng thiếu đạo đức.
“Trăm năm trồng người…”

Một trong những “danh ngôn” của Hồ Chí Minh được CSVN ca tụng nhất là câu: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người,” nhưng trẻ em“quàng khăn đỏ” ít đứa nào biết tới ông Quản Trọng bên Trung Cộng là tác giả chính hiệu danh ngôn này, đã bị “bác” bứng nguyên cây về trồng trong vườn nhà“bác.” Câu này lấy từ ý của Quản Trọng trong sách Quản Tử, nguyên văn là: “Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc, thập niên chi kế, mạc như thụ mộc, chung thân chi kế, mạc như thụ nhân.” (Kế sách cho một năm, lấy việc trồng lúa làm đầu; kế sách cho mười năm, lấy việc trồng cây làm đầu; kế sách cho trăm năm, lấy việc trồng người làm đầu).


Những gì “bác” đã gieo giống, chăm sóc, tưới nước bón phân, ngày nay rõ ràng là đã có kết quả. Sách Minh Tâm Bảo Giám, chương Kế Thiện, có câu: “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. (Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu). Không ai gieo hạt chanh chua mà lại hái được giống cam ngọt, nói đơn giản, gieo nhân nào thì gặt quả nấy! Hạt giống độc địa ấy từ ngày được Hồ Chí Minh mang về gieo trong khu vườn nhà đã như là “loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh; là loài trùng độc, sinh sôi nảy nở trên rác rưới của cuộc đời” như câu nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Tây Tạng, khi nhận xét về chủ nghĩa cộng sản. Sau ngày cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam, nơi Bắc Việt gọi là vùng tạm chiếm, tệ nạn xã hội càng ngày càng gia tăng, làm băng hoại đạo đức xã hội, luân thường đạo lý, như những chuyện băng đảng nhóm xã hội đen, cướp của giết người, mại dâm, ma túy, cờ bạc, hiếp dâm trẻ em, loạn luân, lừa gạt, chiếm đoạt tài sản.
Image Lúc đầu, nói về tình hình trật tự xã hội, đề cập đến những điều xấu xa đầy rẫy này, đảng cộng sản tránh né trách nhiệm, đổ lỗi cho đó là hậu quả, tàn dư của chế độ cũ để lại, chỉ đích danh là Mỹ, Ngụy, nhưng rõ ràng là sau hơn 39 năm “làm chủ” đất nước, thực tế ngày nay không thể còn đổ lỗi cho ai. Sau nữa là cả nước từ 60 năm nay, dưới sự cai trị của đảng, do chủ trương của đảng, là “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh!” Vậy thì những gì được ghi nhận hôm nay là thành quả chiếu sáng từ tấm gương ấy, đó là chân lý, mà chân lý này không bao giờ thay đổi. Không ai dám hỏi Hồ Chí Minh thực sự có đạo đức hay không, và cả đất nước mù quáng tin theo những gì đảng nhồi nhét từ những đứa trẻ, làm đông đặc đầu óc thanh niên, bắt người ta tin vào những chuyện không có thật. Image
Hậu quả là ngày nay cả nước nói dối như cuội.
Hậu quả là ngày nay cả nước ai cũng gian dối để sống.
Hậu quả là ngày nay, lý tưởng của cuộc sống là đồng tiền.
Image
-Ở xã hội ấy cái gì cũng mua được bằng tiền, cái gì cũng được đem bán, và người ta sẵn sàng bán đi những cái gì quý nhất.

- Ở xã hội ấy, người ta không biết hổ thẹn vì nhân cách, nhưng cảm thấy hổ thẹn khi thua sút những người chung quanh vì cái nhà, cái xe, cái điện thoại, cái xách tay…

- Ở xã hội ấy, ai cũng muốn bỏ đi, những ai còn ở lại là không đi được, hay đang còn kiếm được tiền để chuẩn bị đi hay lo cho những người đã đi.

- Con người là vốn quý như ai đó đã từng nói, nhưng một mạng người không đáng giá bằng một con chó!

- Con người là vốn quý, nhưng người ta coi rẻ sinh mạng của nhau, cầm dao giết nhau chỉ vì một cái nhìn, một chuyện tranh cãi hay để cướp đoạt tài sản của người khác. – Con người là vốn quý, nhưng công an, thế lực của chế độ, sẵn sàng đánh chết dân vì dân không chịu nhận tội mình không làm.

- Xã hội chủ trương mình sống vì mọi người, nhưng người vá xe sẵn sàng rải đinh trên đường để cho tiệm mình đông khách, thêm lợi nhuận.

-Xã hội chủ trương mình sống vì mọi người nhưng bọn phục vụ cho dân, ăn gian, làm dối, sống chết mặc bay.

- Cộng sản đã từng ca tụng: “Chủ Nghĩa Xã Hội là đỉnh cao trí tuệ loài người!” Hà Nội là lương tri của nhân loại! Báo Quân Đội Nhân Dân đã ca tụng “đỉnh cao của khí phách và trí tuệ Việt Nam,”nhưng ngày nay nhân dân Việt Nam đi đến đâu đều được mọi người có những cái nhìn thiếu thiện cảm. Nhật, Thái Lan, Nam Hàn, Singapore… kết án người Việt trộm cắp, ăn tham, xả rác, bán dâm… khiến hình ảnh Việt Nam đang dần trở nên xấu xa. Cả nhân viên nhà nước cũng buôn lậu, ăn cắp, hối lộ, vậy người Việt ra nước ngoài còn dám ngẩng mặt nhìn ai?

- Ở trong nước dân Việt đã bày tỏ dân trí bằng cách ẩu đả, chửi bới nhau để chen lấn mua bánh Trung Thu ở Hà Nội, giành giật đạp lên nhau để giành được một miếng sushi miễn phí ở một cửa hàng mới khai trương, hỗn loạn trèo lên đầu nhau để mua bằng được lá ấn trong lễ khai ấn đền Trần, hôi của khi có tai nạn qua đường như rơi tiền, đổ bia… Người ngoại quốc và các tòa đại sứ ở Việt Nam thì bắt đầu “sợ” dân Việt khi những cây anh đào được đem từ Nhật đến bị đám đông nhào đến vặt sạch, chính phủ Hòa Lan tổ chức phát 3,000 chiếc áo mưa cho dân chúng để tỏ tình hữu nghị thì đám đông ào ạt, hung dữ nhào lên sân khấu cướp từ tay các tình nguyện viên và nhân viên đại sứ quán.

- Chính giới trí thức trong nước, như Giáo Sư Nguyễn Thanh Giang đã viết rằng,“Phải nói rằng kể từ khi đưa Chủ Nghĩa Mác vào Việt Nam thì con người Việt Nam bấy giờ còn tha hóa hơn con người Việt Nam hồi thời phong kiến. Và tư chất, đạo lý của con người Việt Nam bây giờ còn thua cái thời Pháp thuộc. Cho nên điều đó là do ảnh hưởng của chế độ chính trị và của tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội mà chủ yếu đẩy con người vào tình trạng không cạnh tranh lành mạnh, không cạnh tranh dựa trên đạo lý, không dựa trên pháp luật, mà bằng phe nhóm, ỷ thế, ỷ quyền, ỷ vào giai cấp, ỷ vào thành phần lý lịch, ỷ vào con ông cháu cha. Hơn nữa, kể từ khi đưa cái Chủ Nghĩa Mác vào, lấy chuyên chính vô sản vào, thì người ta không tôn trọng pháp luật nữa. Cho nên người ta sẵn sang giẫm đạp lên pháp luật, lên đạo lý, từ đấy ảnh hưởng đến tâm tính của con người Việt Nam. Rồi đời sống không cần đạo lý, không cần pháp luật. Thì đó là cái tội của chế độ chính trị và tổ chức xã hội này.” Ai đưa Chủ Nghĩa Mác vào Việt Nam, phải chăng là công ơn “bác Hồ,” cho nên hôm nay, chưa đến một trăm năm, mà việc trồng người của “bác” đã có kết quả “khả quan,” đưa đất nước vào chỗ lụn bại, tha hóa.

Muốn gieo lại hạt giống tốt thì phải quét sạch, khai quang, đào xới lại cả khu vườn, thay đất mới, và phải mất trăm năm nữa, con người hôm nay mới trở lại được cái tử tế, văn hóa, chỉ mong được tương đối như người miền Nam trước 1975, hay nói xa hơn là cả cái thời Pháp thuộc.

Chúng ta phải thẳng thắn nhìn vào sự thật đau lòng, đừng mang ảo tưởng quê hương giàu đẹp, văn minh, trí tuệ, có ai đụng vào thì giãy lên như đỉa phải vôi, kêu la là “chống phá tổ quốc, tay sai ngoại bang, thù nghịch với nhân dân !”

Huy Phương
© Diễn Đàn Người Dân ViệtNam

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Xâm mình

Bùi Bảo Trúc

Mấy chi tiết của một bài học lịch sử học từ hơn nửa thế kỷ đến nay vẫn còn nguyên trong trí nhớ của nhiều học sinh tiểu học thời của tôi, đó là từ thời cổ đại, người Việt đã có tục xâm mình để khi xuống biển đánh cá các loài thủy tộc sợ mà không dám tấn công. Không chỉ xâm mình mà trên mũi của những chiếc thuyền đánh cá của họ còn có vẽ những con mắt để loài giao long, thuồng luồng phải tránh xa không dám làm hại.

Thực ra thì chẳng phải chỉ người Việt Nam, mà luôn cả những dân tộc khác cũng có tục xâm mình. Người Nhật, người Polynesien, người Hạ Uy Di, người Fiji, người Samoa, người Maori... cũng biết xâm mình. Ngày nay xâm mình không còn là cách trang trí thân thể của các dân tộc bán khai, sơ khai nữa, mà luôn cả các dân tộc văn minh cũng thích xâm mình. Người Mỹ cũng xâm mình và xâm mình rất đẹp. Nhưng rất nhiều người vẫn còn có những thành kiến không đẹp về xâm mình. Nhiều người vẫn coi chuyện xâm mình là trò chơi của những thành phần bất hảo, những băng đảng sống ngoài vòng pháp luật. Một số người khi muốn trở về với xã hội và đời sống bình thường phải tìm cách xóa đi những hình xâm trên người, nhất là khi đi tìm việc làm, nhất là những thứ công việc vẫn còn mang nhiều định kiến không tốt về những hình xâm. Chuyện phá những hình xâm này không dễ và còn rất tốn tiền. Kỹ thuật laser được sử dụng để làm mờ đi được hình xâm.

Tôi nhận là vẫn chưa thoải mái với những hình xâm, với những người xâm mình. Nói là tôi không có thiện cảm với họ thì cũng đúng. Nhất là với những phụ nữ. Đàn ông xâm mình đã dễ sợ rồi, phụ nữ xâm mình thì lại càng dễ sợ hơn. Tôi viết định kiến hay thành kiến đó là không đúng và nên dẹp bỏ nhưng tôi vẫn chưa làm được.

Hồi đi trình diện nhập ngũ ở Trung Tâm 3 tôi được thấy rất nhiều hình xâm và những hàng chữ xâm không tiện nhắc ở đây. Rồi những lần ngồi ở một tiệm nước cho mấy chú bé đánh giầy thì lại đọc được trên tay của các chú những câu như “chim non xa tổ,” “xa quê hương nhớ mẹ hiền”, “ân đền oán trả,” “hận kẻ bạc tình,” “giận đời đen bạc”... Những chú bé đó đều có những câu chuyện kể về những câu xâm mình đó nghe rất tội nghiệp nhưng chuyện tôi không thích xâm mình thì vẫn còn nguyên.

Một bức tranh của Norman Rockwell vẽ một anh chàng thủy thủ có cuộc sống đâu cũng là nhà, mỗi bến một nàng, đang ngồi trong một tiệm tattoo để xâm thêm một cái tên phụ nữ (mới) cạnh mấy cái tên (cũng phụ nữ) khác vừa được xóa đi cũng chỉ lại càng làm tôi nghĩ là (nếu khôn ngoan một chút) (thì) không nên xâm mình chút nào.

Nhưng tuần trước, tôi thấy mình thay đổi hẳn suy nghĩ về chuyện xâm mình khi nhìn thấy những hàng chữ xâm trên cánh tay của một người thanh niên. Người này cũng đã từng vào tù ra khám một hai lần. Hệt như Mike Tyson vào tù thì chưa có cái hình xâm nào trên người nhưng khi ra khỏi tù thì người đàn ông vô địch quyền Anh hạng nặng này có một hình xâm dễ sợ trên mặt và một hình xâm Mao Trạch Đông trên ngực. Mike Tyson đã cho xâm những thứ ấy trong khi đang ở tù. Để nguyên Mike Tyson đã là một người dễ sợ rồi, nay thêm vài ba hình xâm trên người thì lại càng dễ sợ hơn.

Người thanh niên mà tôi vừa nhắc kể trên tên là Nguyễn Viết Dũng trong khi ở trong tù đã nhờ xâm một hàng chữ Anh và một hàng chữ Việt trên cánh tay trái. Hàng trên nguyên văn: Governments should be afraid of their people. Đây là câu của Alan Moore, một nhà văn người Anh: chính phủ phải sợ người dân. Người dân không nên sợ chính phủ. Chính phủ là công bộc, người dân là chủ. Đầy tớ thì phải sợ chủ. Chủ không phải sợ đầy tớ. Như vậy mới là dân chủ. Không có thừ dân chủ nào mà người dân phải sợ nhà nước. Nhưng ở Việt Nam thì nhà cầm quyền vẫn ngồi lên đầu lên cổ người dân. Nguyên tắc dân chủ được gói trong hàng chữ xâm trên tay của Nguyễn Viết Dũng, người thanh niên vừa ra khỏi nhà tù sau hơn một năm bị giam. Hàng chữ này được xâm trong khi Dũng đang ngồi tù. Đó là một việc làm can đảm của một thanh niên chủ trương rõ ràng: Nhà nước phải sợ người dân. Dũng đã không hề tỏ ra khiếp sợ nhà nước. Thích treo cờ Việt Nam Cộng Hòa thì Dũng treo một lá cờ ngay trên nóc nhà của mình. Thích quân lực Việt Nam Cộng Hòa thì anh kiếm cái field jacket của lính dù có đính cả phù hiệu của nhảy dù mặc vào xuống đường đi biểu tình ở Hà Nội. Thích cái phù hiệu của quân đội Việt Nam Cộng Hòa thì người thanh niên này kiếm mấy cái t-shirt gắn phù hiệu con ó có nền là cờ Việt Nam Cộng Hòa cùng mấy người bạn biểu tình ở bờ hồ Hoàn Kiếm.

Những việc làm ấy của Dũng đã thể hiện đúng ý nghĩa của câu tiếng Anh mà Dũng xâm trên cánh tay trong lúc đang ở tù.

Và dưới hàng chữ tiếng Anh là hai chữ SÁT CỘNG rất lớn, lớn hơn hàng chữ tiếng Anh. Hàng chữ lớn và dễ đọc, không thèm che dấu bất cứ ai. Muốn đọc thì đọc đi.

Mùa nực mặc chemisette ngắn tay hay chemise dài tay xắn lên một chút là để các anh công an đọc cho dễ.

Ôi sao mà trò xâm mình lại hay đến là như thế. Thành ngữ “xâm mình” lại càng rõ nghĩa trong trường hợp mấy dòng xâm trên cánh tay của Dũng: Liều mạng và không sợ bất cứ một thứ gì trên đời này. Đúng là ... xâm mình!

__._,_.___

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Tháng Tư, kẻ thắng sợ người thua

Tạp ghi Huy Phương
Ba mươi sáu năm sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, thực tế cho thấy rõ ràng đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ chiếm trọn lãnh thổ miền Nam, chứ không chiếm được lòng người từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam. Nhiều trăm nghìn người đã chấp nhận, kể cả cái chết, bỏ làng mạc, quê cha đất tổ, tài sản để ra đi, kể cả những người lớn lên ở miền Bắc, sau khi vào miền Nam, đã thấy rõ bộ mặt của chế độ hà khắc, toàn trị mà lâu nay họ phải chịu đựng. Dân chúng, kể cả những cán bộ Cộng Sản nằm trong gan ruột đảng đã tỏ thái độ bất bình, trở thành những cá nhân hay những thế lực chống đối, điều khiến cho Việt Nam ngày nay có nhiều nhà tù giam giữ những người bất đồng chính kiến, dù họ là những người, hay tập thể chủ trương bất bạo động, không hề có vũ khí trong tay.
Image
Nguyễn Viết Dũng trong bộ quân phục miền Nam Việt Nam. (Hình: danluan.org)

Khi không chiếm được lòng dân, thì chính thể cai trị phải sợ lòng dân, như người đi đêm sợ bóng ma. Những bóng ma đó được đặt tên là “thế lực thù địch,” “diễn tiến hòa bình,” “gián điệp nước ngoài.” Lực lượng công an, với khẩu hiệu “còn đảng, còn mình,” theo Giáo Sư Carl Thayer của Học Viện Quốc Phòng Úc, Việt Nam có lực lượng an ninh ít nhất là 6.9 triệu người. So sánh với tổng cộng những người đi làm khoảng chừng 43 triệu, thì cứ sáu người thì có một người làm việc cho các cơ quan an ninh.

Trang web chính thức của Bộ Công An trích lời ông Lê Duẩn, cố tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, có câu châm ngôn cho công an “Đảng lựa chọn công an trong những người trung thành nhất với đảng, những người chỉ biết sống chết với đảng, chỉ biết còn đảng thì còn mình!”

Phải chăng đảng Cộng Sản Việt Nam luôn luôn sợ thay đổi, sợ bị lật đổ nên trong xã hội này, nhân viên y tế, thầy cô giáo thì thiếu nhưng công an, chìm, nổi thì đứng đầy đường.

Mới vào Sài Gòn một ngày, đảng Cộng Sản đã bắt đầu sợ. Sợ người sống, khi họ còn súng trong tay đã đành, Cộng Sản còn sợ cả người chết. Không sợ người chết, cớ sao lại giật sập bức tượng “Tiếc Thương” và chở đem đi vứt chỗ khác, mồ mả người lính miền Nam thì được rào chắn vây quanh như trại tù, gọi là “Khu Quân Sự” không ai được vào, mà cũng không ai được đem xương cốt ra.

Không sợ người chết, tại sao trong khi tro cốt của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam được để ở chùa Quảng Hương Già lam, Gò Vấp, lại bị chính quyền Cộng Sản bắt phải di đời đi nơi khác, vì sợ đồng bào đến hương khói, chiêm bái.

Không những sợ người chết mà chúng còn sợ cả cái tên người chết, dưới thời Cộng Sản, sau khi thân nhân dời mộ cố Tổng Thống Ngô Đình Điệm và bào đệ của ông là ông Ngô Đình Nhu về Nghĩa Trang Gò Vấp, khi lập bia mộ, chỉ được đề “Huynh” và “Đệ,” mà không được đề tên thật của hai ông. Chính quyền nói đây là ý kiến của thân nhân Việt kiều về xây mộ, nhưng thử hỏi ai lại muốn bia mộ của thân nhân mình không tên, không tuổi.

Kẻ thắng sợ cả người thương binh bên thua trận, nếu không những lần phát quà, giúp đỡ cho thương binh VNCH ở chùa Liên Trì, Sài Gòn, vì sao lại bị công an, chặn đường, quấy nhiễu và cuối cùng phải chấm dứt công việc đầy tính nhân đạo này.

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, sinh viên phản chiến biểu tình đã trương cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, mà chính quyền Mỹ chưa sợ, sao nay đảng Cộng Sản Việt Nam lại sợ lá cờ của VNCH trong chiến tranh qua đã lâu và cuộc đối đầu không còn nữa.

Cộng Sản sợ luôn cả bộ quân phục của người lính miền Nam, nếu không làm sao có vụ kết án Nguyễn Viết Dũng, bị 12 tháng tù vì tội “gây rối trật tự công cộng” trong khi Dũng tham gia cùng với người dân ở Hà Nội phản đối việc chặt cây xanh, mà chỉ riêng mình anh bị bắt và đưa ra tòa.

Cộng Sản Việt Nam luôn luôn sợ những người có ảnh hưởng đến quần chúng, có đám đông hỗ trợ, tức là sợ bị lật đổ. Do vậy các vị lãnh đạo tôn giáo của Cao Đài, Hòa Hảo, Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành luôn luôn bị theo dõi và cô lập.

Không những Cộng Sản không được lòng dân mà luôn luôn đứng đối lập với dân, coi dân như kẻ thù, thậm chí coi dân như con cháu trong nhà, ngược với khẩu hiệu “đảng là đầy tớ của dân,” như giọng khinh bạc của bà Tôn Nữ Thị Ninh: “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi.” Phải chăng là theo cách đàn áp, bắt bớ tù đày.

Hồ Chí Minh là một tay mị dân đã từng nói “Nước lấy dân làm gốc,” nhưng thực sự đã hy sinh hạnh phúc của dân cho sự tồn vong của đảng. Xưa Nguyễn Trãi từng nói: “Đẩy thuyền đi là dân mà lật thuyền cũng là dân!” Ngày nay dưới chế độ Cộng Sản, người dân hết sợ kẻ cai trị dân rồi, nhưng chính phủ này đã bắt đầu sợ dân. Một thể chế mà sợ dân trước sau gì cũng đi đến chỗ diệt vong.

Ngày nay Cộng Sản đã thống trị được toàn bộ Việt Nam, nhưng trên thế giới ngày nay, lá cờ đỏ sao vàng chỉ thấy được treo, hay dám treo trước cổng tòa đại sứ Cộng Sản Việt Nam ở các nước, mà lá cờ này không thể treo bất kỳ ở đâu, dù ở một xó xỉnh nào.

Cộng Sản sợ hãi cả những người thua trận, ngày nay đã bỏ nước ra đi. Ở thủ đô Hoa Kỳ, nhân viên Tòa Đại Sứ CSVN không dám dùng xe ngoại giao (mang bảng số CD) đi vào khu Eden, hay Việt Cộng về Orange County chưa dám công khai đi uống cà phê hay ăn phở ở khu Bolsa.

Ngày Thứ Bảy, 23 Tháng Sáu, 2007, Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết tham dự một cuộc họp tại thành phố Dana Point, miền Nam California, đã phải vào phòng họp bằng... cửa sau. Vào ngày 17 Tháng Ba, 2015, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng được mời đến Quốc Hội New South Wales để dự họp, nhưng không được dùng cửa trước vì sợ trứng thối, cà chua, cũng đành nhịn nhục nhờ cảnh sát dẫn đi cửa sau.

Cái này không gọi bằng sợ, thì gọi bằng gì?

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Image


Vẫn chỉ là một tháng Tư đen
Vũ Đông Hà

(Danlambao) - Tháng Tư. Đã qua rồi những chiếc lá vàng rơi, những hàng cây khô trụi. Bầu trời cao và xanh trong.
Buổi sáng thức dậy, ráng xếp lại bóng đêm, gắng mở cửa cho nắng vào. Loay hoay với một ngày mới vẫn còn mãi ngổn ngang.

Tháng Tư, nhớ về những ngày tháng cũ bôn ba tìm gặp nhau.
Cũng vào buổi tối cuối tháng Tư này, các bạn, Sông Mây và tôi ngồi ở quán kem ven đường.
Tách cà phê đen không đường. Ngọt ngào ly kem dâu. Huế, Sài Gòn, Hà Nội, Bangkok, Manila, Phnom Penh...
và gặp nhau ở tỉnh lỵ nghèo nàn vùng Tam Biên. Nhìn ngược vùng quá khứ, mong ngóng cõi tương lai,
chúng ta hội ngộ ở một trạm dừng trên con đường đi tìm một cuộc đời có ý nghĩa, với hành trang là ước mơ vươn ra biển lớn.


Lũ chúng ta
rút mình vào riêng góc xó
Vẽ đời. Trắng khung vải chiêm bao
Chiêm bao.
Đong đưa.

Chiêm bao
Sợi dây đu cứu cánh
Cuộc đời ngắc ngoải thuở hai mươi.


Lũ chúng ta
những ly cà phê đắng
Đêm lạnh chia nhau nửa muỗng đường
im lặng nói.

Biển còn xa, ước mơ chưa đến, có bạn đã vào tù.
Một trạm dừng không thể tránh. Tôi về vẽ tiếp khung vải trắng và nhớ bạn...

Cụng ly giữa phố nam mô
a di đà phật bạn vô nhà tù
tụng kinh gõ mõ cho dù
cà sa chưa khoát gông cùm bạn mang.

Các bạn, Sông Mây, tôi, mỗi đứa lại một nẻo. Bao giờ ta gặp lại ta?

*

Bao giờ ta gặp lại ta?

Tháng ba đã qua. Gió mùa chưa rát mặt. Ban Mê và những hàng cà phê tôi nhớ. Vẫn ám ảnh cảm giác mất mát hụt hẫng của ngày thơ ấu.
Chiều thứ sáu tắm truồng ở hồ bơi ông Tỉnh. Thứ bảy xuống rừng Lao xao. Chủ nhật cùng nhau làm bài thuyết trình Đôi Mắt Người Sơn Tây.
Thứ hai bom đạn, cả nhà nằm dưới thang lầu nhà chú Kim Môn nghe tiếng đạn xuyên phá cửa sắt. Bên kia đường lửa ngùn ngụt cháy.
Thứ ba bị cộng sản bắt áp tải cả đoàn người vào rừng. Chủ nhật trốn về cùng ông Nội đi tìm xác Cha.
Những ngày trước tháng Tư dạo ấy vẫn lờn vờn trong trí óc mù sương...

Tháng Ba sấm gầm nắng quái
lâm râm mây tối phủ ngang mày
những con én hết mùa nhìn nhau bỡ ngỡ
về một màu đỏ rực cuối xuân

Lất phất hàng rào kẽm gai
tả tơi màu áo trận
người lính địa phương quân quần cháo lòng
hối hả
dông tố trùng trùng đàn kiến chạy quanh

Màu đất đỏ máu khô
bàn tay run lật ngược xác người
sình căng ngày đứng ngọ
môi thốc khô mếu máo gượng cười

không phải anh
không phải con
không phải ba


Tháng ba đi qua hàng cà phê đứng bóng
gió mùa chưa rát mặt,
lửa hừng hực vây quanh
hoa mắc cỡ đâm sâu ngày đau nhức

bước chân trần đêm tối loang xoang
(ôi đêm tối hắt hơi những khung trời kỷ niệm
ánh mắt nào lần cuối hồn nhiên)


Tháng ba đi qua những cột hàng cây số
về Đức Lập, Khánh Dương rải rác xác người
đường hy vọng em-bé-mắt-sâu tay ghì bình nước cạn
mẹ vẫn ngủ từ đêm qua
người vẫn cúi đầu lê bước
địa ngục sau lưng địa ngục phía trước
tiếng đạn cười tất bật ngược xuôi
mở toang lồng ngực
xoáy nát lưng cong
xé toạc trời vàng


Tháng Tư trở về ngôi nhà hương hỏa
con chó già nằm ngủ thiên thu
minô, minô gốc ổi vàng yên giấc
chiếc võng buồn tênh
không người đưa


Trang sách nằm im
nằm im
đôi mắt trong gương lặng lẽ buồn
bạn tôi ơi nói giùm nhau một tiếng
để biết còn nhau trong đớn đau

Bàn ghế nằm im
nằm im
nơi đây khung cửa tuổi thơ ngồi
tôi ơi nói giùm tôi một tiếng
mai này còn sống với đời câm


Tháng Tư đi qua
Cuộc đời đứng lại

Và bao giờ ta gặp lại nhau!?

Tháng Ba, tháng Tư, tháng Năm, tháng Sáu. Hàng ngàn tờ lịch rơi để không bao giờ nhìn lại được mặt nhau.
Một lần ngỡ gặp lại vào buổi tối ở bến xe Sài Gòn, ngồi bó gối chờ mua vé tuyến đường về Ban Mê buôn lậu cà phê.
Tiếng loa phóng thanh đánh thức cơn ngủ ngồi - cô Hồ Thị Bích Trâm đến phòng vé. Tên gọi người bạn cùng lớp lớn hơn tôi hai tuổi như thiên thu vọng về. Tôi chạy thốc tháo đến phòng vé vắng tênh.
Các bạn tôi ơi, giờ này bạn ở đâu? Có còn nhớ đến những bóng mát ngồi trên con đường đầy hoa trắng đầu mùa cà phê
của vùng Đạt Lý và quán nhỏ bên đường...

Một giờ ngồi quán mưa rơi
nhìn café giọt nhìn hồn chơi vơi
ngoài ô cửa nhỏ mù khơi
trong lòng ốc đảo tả tơi sóng trùng

Bàn ơi ghế hỡi hãy cùng
với ta ngậm đắng một giờ quạnh hiu
hết. còn. còn. hết. thương yêu
đưa người xuống mộ lại dìu người lên


Ngày dài buồn cứ gọi tên
hoang mang mộng mị chênh vênh mây ngàn
hao gầy vỡ nát vầng trăng
rớt trong nỗi nhớ chiều tàn mưa giăng

Ngày dài nặng trĩu hoang mang
café giọt ngắn mân mê giọt dài
đường một chiều xe chạy ngang
xé cơn mưa. gió. lạnh tanh cuộc đời


Buồn ơi
buồn đến bao giờ
Tôi ơi
buồn đến bao giờ...


Tháng Tư về. Tưởng bắt đầu bằng một ngày mới nhưng ngày cũ lại ghé thăm. Tương lai vẫn mãi là ước vọng.
Quá khứ ngừng lại trước ngày 30.04.1975 vẫn là chốn bình an chui rúc vào. Và hiện tại 365 ngày của hàng chục năm
vẫn chỉ là một ngày tháng Tư với bài ca xứ sở của ngàn năm man rợ: Những em bé đu sông.
Mẹ Cồn Dầu đốt xác. 1000 năm đào xới. Hoang địa Thăng Long thành. Bauxite và Biển Đông. Nam Quan và Bản Giốc.
Da thịt Mẹ chia lìa. Đất nước này, đêm ngàn năm man rợ. Bởi kẻ chửa thành người. Sau bài ca tháng mười. Sau mùa thu tháng tám.


Tháng Tư về. Nhớ lại những ngày tóc xanh, tim xanh, mơ xanh và ước nguyện ban đầu của tuổi đôi mươi.
Nhớ lại để biết đã có một thời mình đã sống, cố mà sống cho ra người giữa những điên đảo của cuộc đời, giữa những lần đổi tiền,
cải tạo tư sản mại bản, kinh tế mới, họp tổ dân phố, những chuyến vượt biên bị lừa trắng tay...


Có nguyên tờ giấy trắng
Có trái tim mặt trời
Phải gì lấy được tim ra
Gói tờ giấy trắng mà trao cho đời


Dang đôi tay ấu thời
Ôm nghìn thu lịch sử
Nhập dòng nhân thế tử sinh
Hằn lên đá tảng còn in nét cười


Mùa mưa đỏ. Tháng-Mười
Tháng-Tư. Trời tắt nắng
Tình người không đủ sắn khoai
Cuộc đời viên đạn bắn nhừ tim nhau


Đau một cuộc bể dâu
Máu rưng rưng vành mắt
Lằn roi chủ nghĩa cắt, in
Tìm người lấy lại tim tôi một ngày


Mang con tim lưu đày
Quăng vào dòng viễn xứ
Lọc lừa cấm đảo tứ tan
Soi hình bóng thấy nhân nhan mịt mù


Quắt quay sống lao tù
Nợ cơm áo không tên
Vòng tròn nhân nghĩa kên kên
Tìm người tri kỷ: tìm đêm mặt trời


Chôn dối trá gọi mời
Bới lên tờ kinh trắng
Một đời đội nắng tìm mưa
Bây giờ mới biết nắng mưa trong mình


Quay lại với bóng hình
Dẫm lên nghìn câu hỏi
Dốc đời chưa mỏi chân chim
Vì mình tôi gói tim lần thứ hai


Tháng Tư về... Viết lại những vần Tự Khúc, gửi mình, gửi bạn để nhắc nhau rằng - đất nước chúng ta không có 12 tháng,
chỉ có một tháng xoay vòng trong ranh giới của một sợi dây thòng lọng. Tháng Tư. Tháng Tư đen.


Vũ Đông Hà

danlambaovn.blogspot.com

Post Reply