Góc nhỏ của anh 3 Giang

Tung cánh chim tìm về mái trường xưa. Mong tìm bạn học cũ, nay ở đâu xin nhắn đôi lời!!!

Moderator: CNN

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Vụ An Siêu Nghiêm Trọng Trong Cung Dình Hànội : Cuộc Đọ Sức Bước Vào Keo Then Chốt

Bùi Tín, Paris, 03.08.2005.
Image *những đòn hiểm * hoãn binh chi kế ? * thế và lực các bên * cắt u hay chịu chết * keo vật cuối thường là hấp dẫn.

Hội nghị lần thứ 12 ban chấp hành trung ương đảng CS khoá IX đã xong. Về hình thức là để thông qua các văn kiện sẽ đưa ra Đại hội toàn quốc lần thứ X vào quý 2 năm 2006; nhưng trước dư luận xã hội, “cái đinh nhọn” của cuộc họp lại ở chỗ : xem cái tập thể 150 người, - mà điều lệ đảng giao cho quyền lực lớn nhất giữa 2 kỳ đại hội - giải quyết ra sao “vụ án siêu nghiêm trọng” kéo dài 15 năm nay trong cung đình Hànội.

* Mấy miếng võ hiểm

Rất nhiều người quan tâm đến “cuộc họp 12“ vì nó sẽ tác động đến sự sắp xếp nhân sự ở chóp bu, -- hiện nay để ngỏ cho mọi sự phán đoán rất trái ngược, đến sự cấu tạo của ban chấp hành trung ương mới khoá X, đến đường lối đổi mới sẽ chững lại hay nhích lên, đến quan hệ đối ngoại vẫn quay về quá khứ hay có thể hé nhìn ra hiện tại và hướng tới tương lai ?

Ban chấp hành TW hiện nay do bộ chính trị cũ chỉ định theo hình ảnh và tiêu chuẩn của họ (bỏ phiếu chỉ là để quay phim), nên luôn “khiêm tốn” học thuộc bài và vâng lời, ít khi dám cãi lại bộ chính trị. Nhưng “cuộc họp 12” không còn y như trước nữa. Hàng chục bản kiến nghị của các nhân vật hệ trọng trong đảng từ hơn một năm nay đều tập trung vào yêu cầu gay gắt bộ chính trị không được tự đặt mình cao hơn ban chấp hành trung ương, không được che dấu, không được “bịt kín”,”bóp chết”,”khoanh lại” vụ án siêu nghiêm trọng này. Ngay trước cuộc họp, 3 cụ lão thành Hai Xô, Bảy Cống và Năm Thi đưa ra lá thư thứ hai dứt khoát yêu cầu bộ chính trị không được ỉm vụ án này.[Xin nhớ cụ Hai Xô 95 tuổi là uỷ viên trung ương cựu trào duy nhất còn sống, được bàu tại đại hội I vào tháng 3-1935 tại Ma Cao]. Cuộc họp bô lão tháng 4-2005 được gọi là “Diên Hồng” thời mới để góp ý cho các văn kiện Đại hội X cũng chỉ xoáy vào vụ án mà bộ chính trị muốn khoanh lại, với các tướng Võ Nguyên Giáp, Chu Huy Mân, Nguyễn Quyết, các nhân vật kỳ cựu Nguyễn Đức Tâm, Nguyễn Văn Trân, Hoàng Tùng nhao nhao chỉ thẳng vào cặp bài trùng lỳ lợm ”Anh - Mười”; thế rồi nhà trí thức hàng đầu Lê Đăng Doanh và nhà lý luận mác-xít đầu đàn Hoàng Tùng vào trận đúng lúc, nêu cao sự cấp bách cải tổ cơ cấu chính trị độc đoán vì con đường “mác-xít” và “chủ nghĩa xã hội” trên thực tế đã rời quá xa và đi ngược con đường của nền văn minh nhân loại; không dừng lại và bẻ lái sang hướng khác thì đâm xuống vực ! Cũng đúng lúc, cựu phó thủ tướng Đoàn Duy Thành phóng ra tập hồi ký dài, khá nặng cân, được giới sành mộ bình luận chính trị ở Câu lạc bộ Ba đình coi là quả “nốc ao“ làm đo ván hung thần ĐM, khi vạch trần bộ mặt lá mặt lá trái, ác độc, thâm hiểm của ông này với vô vàn dẫn chứng, đến mức cho rằng “nêu còn chút liêm sỷ ông Đỗ Mười ắt phải cắn lưỡi mà chết !”.

* Hoãn binh chi kế ?

Phải hàng loạt đòn hiểm trên đây mới đủ sức làm lung lay cái lô cốt cố thủ trong bộ chính trị. Họ đành phải báo cáo 2 lần trước “cuộc họp 12”, cả 2 lần đều ấp úng sơ lược, rồi bày mưu chia ra 12 tổ để “trao đổi” về vụ án, sợ rằng cuộc thảo luận toàn thể sẽ dễ bùng nổ. Hai ông Trần Đình Hoan và Nguyễn Khoa Điềm ra sức hù doạ cuộc họp là cần rất thận trọng, khoanh chặt vụ này trong nội bộ trung ương, nếu cứ lơi lỏng để lọt ra ngoài thì kẻ thù của đảng bới ra, tai hại khôn lường, chìm tàu thì chết cả nút. Họ khám kỹ không cho vị nào dấu máy ghi âm trong túi áo. Dù vậy, hơn 10 vị uỷ viên trung ương vẫn không chấp nhận việc giải quyết “hời hợt, phủi bụi “ của bộ chính trị, đòi đưa ra thảo luận rộng rãi, đòi xử lý ngay vụ án trong lần họp này. Người phát biểu mạnh nhất, dứt khoát nhất là bà Võ Thị Thắng tổng cục trưởng du lịch, vạch trần thủ đoạn vu cáo của tổng cục 2 đối với bà, ca ngợi thái độ công khai nhận sai lầm của nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký nghị định mở rộng quyền lực của tổng cục 2, thẳng thừng chỉ rõ vai trò đầu sỏ và ngoan cố của cặp “Mười+Anh “, kiên quyết đòi vụ án phải được giải quyết triệt để trong năm nay, trước khi vào Đại hội X. Trong cơn bí, bộ chính trị đành xoa dịu cuộc họp bằng cách cử ra một Ban điều tra mới do bộ trưởng công an Lê Hồng Anh cầm đầu, có trưởng ban nội chính trung ương đảng, viện trưởng kiểm sát tối cao và 2 thứ trưởng công an tham gia, hứa rằng sẽ báo cáo đầy đủ trước cuộc họp trung ương lần thứ 13 vào tháng 11 tới.

Mấy tháng nay, một nét biến chuyển đáng chú ý là bộ chính trị đã phân hóa hẳn thành 2 nhóm, một nhóm cố kết quanh 2 “hung thần Anh+Mười “, gồm Phạm Văn Trà, Nguyễn Khoa Điềm và Trần Đình Hoan, và một nhóm gồm 11 vị còn lại tách khỏi 2 hung thần nói trên. Các ông Trần Đức Lương, Lê Hồng Anh, Phan Diễn và cả tổng bí thư Nông Đức Mạnh trước đây rất do dự đã chuyển sang phía phải công nhận vai trò của ban chấp hành trung ương và chịu một cuộc mổ xẻ cục u ác tính ngay trong đầu não của đảng. Do vậy mới có cuộc trình bày ra trước “cuộc họp 12”.

Cuộc đấu tranh trong 3, 4 tháng tới giữa 2 thế lực: khoanh lại để bóp ngẹt và mổ xẻ ra để giải quyết vụ án sẽ gay gắt, thậm chí còn gay gắt hơn trước để đi đến có thể ngả ngũ trong “cuộc họp 13”. Phải sau đó mới xác định tên các vị chóp bu mới ( tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng ) là ai. Nhóm “hung thần”, được các nhà bình luận ở Câu lạc bộ Ba Đình gọi là “nhóm lưu manh chính trị”, quán càphê phố Lý Nam Đế đặt tên là “băng M+A “,”đảng M+A”, còn nhiều mưu chước kiểu mafia trong bước đường cùng. Việc hoãn thảo luận và hoãn kết luận vụ án sang cuộc họp sau chỉ là “hoãn binh chi kế” của nhóm này để tìm một lối thoát khác.

* Hai cách nhìn về một chuyến đi

Chuyến đi của ông Khải sang Mỹ được ông Vũ Khoan trình bày trước cuộc họp lần thứ 12 như “một thắng lợi to lớn về nhiều mặt, vượt quá cả dự kiến”. Một số uỷ viên trung ương tỏ ra hoài nghi, sao không có kết quả gì rõ trong hoà giải với cộng đồng hải ngoại? việc tôn giáo là chuyện nội bộ, sao phải ký cam kết với Mỹ?. Nhưng phản ứng dữ dội là tại Học viện chính trị quốc gia do ông Trần Đình Hoan làm giám đốc.Họ kể ra 5 tội của ông Khải trong chuyễn Mỹ du. Sao lại để cho Mỹ làm nhục ta đến vậy! Không có một lá cờ đỏ sao vàng nào dù nhỏ nhất xuất hiện tại Nhà Trắng. Một phó tỉnh trưởng (phó thống đốc bang) ra đón! Cam kết ký giữa tổng thống họ với thủ tướng ta là một chiều: chỉ có ta cam kết tôn trọng tự do tôn giáo ở nước ta, còn Mỹ không có cam kết gì hết! Sao Bush không đứng lên bắt tay mà ngồi với dài tay ra nhìn đi nơi khác để bắt tay thủ tướng ta; sao “nỏ “ dám khiêu khích đưa thủ tướng ta ra trước Nhà Trắng chỉ đám cờ vàng mà nhạo báng! Lại còn trò rung chuông và sờ chân tượng Mỹ thì quá đáng! Hãy giở “Mác toàn tập”, tập 37 ra mà đọc: tư bản cá mập tàn bạo nhất là tập đoàn tài chánh, với công cụ tiêu biểu là chứng khoán để lưu chuyển tư bản khắp nơi … Thế là đảng ta đầu hàng tư bản tài chánh, là hồi chánh chúng nó rồi !

Thế nhưng phần lớn cán bộ, đảng viên coi chuyến đi của ông Khải là một chỉ dấu tích cực đáng khích lệ. Từ đây nảy ra nhiều ý kiến mới mẻ, có tính xây dựng. Cam kết với Mỹ nhưng chính là cam kết với dân mình; là đổi mới nhích lên, là tăng khả năng vào WTO, là tiếp cận hơn với xa lộ của nền văn minh nhân loại; cần mạnh dạn hơn nữa, có dịp nên “xin lỗi “ bà con ta ở hải ngoại từng bị đối xử không hay sau 30 tháng tư, nên chăm lo sửa sang nghĩa trang cũ của miền Nam theo “nghĩa tử là nghĩa tận”; hãy sớm trả tự do cho các anh Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn…; hãy nhích lại với các nước dân chủ và phát triển cao, trong khi vẫn giao hảo bình thường với ông láng giềng lớn phương Bắc nhưng không thể quỵ luỵ họ, tìm cách bứt lên đi nhanh hơn họ, không thể cứ lẽo đẽo theo họ… Ngày càng có thêm người hy vọng ở Đại hội X một bước đổi mới đồng bộ hơn, mà việc cho đảng viên kinh doanh và kết nạp các doanh nhân vào đảng chỉ là một biện pháp “khai vị”, khởi đầu; việc xây dựng pháp luật và nếp tuân thủ pháp luật cần thực hiện khẩn trương; tính công khai, minh bạch và trong sáng trong điều hành công việc nhà nước, chi tiêu ngân sách, trong thống kê…phải có một bước chuyển biến rõ.

* Những chỉ dấu cần ghi nhận

Việc cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi thư phê bình rất mạnh “trùm cảnh sát tư tưởng” Nguyễn Khoa Điềm là một chỉ dấu của thời cuộc. Tiếp theo nhà báo quân đội Trần Đình Bá công khai tố cáo Nguyễn Khoa Điềm bênh vực bọn Năm Cam và che chở tên dâm ô Lương Quốc Dũng. Các cụ lão thành Hànội và Hải phòng kiến nghị đòi trung ương “phải gạt gấp 3 tên trong bộ chính trị: Trà+Điềm+Hoan” tay chân nguy hiểm nhất của 2 hung thần đang cản phá hướng tiến tới Đại hội X. Các cụ lập luận: Trung quốc hồi 1976 có “lũ 4 tên”,“tứ nhân bang“ được chính Mao đưa vào bộ chính trị; Giang Thanh đang mong leo lên chức tổng bí thư, Diêu Văn Nguyên nhấp nhỏm chức thủ tướng thì cả 4 tên uỷ viên bộ chính trị bị còng tay ra toà lãnh án tử hình (riêng Vương Hồng Văn bị tù chung thân), dọn đường cho Trung quốc bước vào đổi mới năm 1978. Các cụ đang lập hồ sơ đen của “lũ 3 tên”: Trà là tướng không có chiến công, 3 vợ, 3 nhà, dám gọi tướng Giáp là thằng; Điềm khi ở Huế dám chủ trương phá Thiên đàn Nam giao nơi linh thiêng thờ Trời và Đất để dựng đài liệt sỹ, bênh bọn mafia, khủng bố các nhà báo ngay thẳng, bênh che kẻ phạm pháp Trần Mai Hạnh, Lương Quốc Dũng; Hoan dạm rao bán chức tước một cách tinh vi, mọi chức đều định giá, chức giám đốc hải quan Hànôị lên đến 20 tỷ đồng, phó chủ tịch tỉnh là 12 tỷ đồng, bộ trưởng 30 tỷ …

Một chỉ dấu khác là cuộc họp về đổi mới giữa trí thức trong và ngoài nước trước kia làm ở ngoài nước hè năm nay làm tại Đà nẵng vào 3 ngày cuối tháng 7; ngoài vài tham luận nhạt nhẽo vô thưởng vô phạt như về “Việt kiều yêu nước” với không yêu nước (!), nhiều bài khá sâu sắc, đặc biệt là bài của nhà toán học Phan Đình Diệu, chỉ ra 8 tiêu chí của nền dân chủ đích thực, thuyết lý rằng độc quyền độc đảng làm nghèo tư duy, nghèo sự lựa chọn, nghèo cảm hứng, nghèo của cải, trái lại dân chủ đa nguyên dẫn đến ganh đua cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển, quá trình nổi trội, sự sinh sôi, nảy nở, giải phóng mọi năng lực, ít thành nhiều, rồi thành nhiều hơn mãi , phong phú mãi lên tư duy và của cải … Nhiều tham luận đề ra yêu cầu cấp bách thay đường lối “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” sang “kinh tế thị trường“(chấm hết), hoặc “kinh tế thị trường theo định hướng bình đẳng, văn minh …”( ngụ ý tránh cách biệt giàu nghèo quá lớn, chống tham nhũng lãng phí ). Cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” dứt khoát cần cắt bỏ vì mơ hồ, chưa ai hình dung được “chủ nghĩa xã hội” ra sao, còn đi tìm hình thù của nó; cái hại thì rõ ràng, các nhà kinh tế và luật học quốc tế tóm ngay cái đuôi ấy để “huýt còi” chỉ ra sự can thiệp quả tang của nhà nước xã hội chủ nghĩa!

Một điều rất mới là cuộc họp hè Đà nẵng được sự bảo trợ kín đáo của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt, được nhiều trí thức trẻ trong bộ máy nhà nước hoan hỷ tham gia và theo dõi, trong khi cái Học viện chính trị quốc gia (trương Nguyễn Ái Quốc cũ) của ông Trần Đình Hoan ở Nghĩa đô (Từ liêm - Hànội) được anh chị em trí thức gọi là trung tâm “lý luận – lú lẫn”, u mê hóa trí thức, đứng ngoài cuộc, ra chỗ khác chơi .

* Trận này là trận cuối cùng ?

Khi thảo luận về đạo luật chống tham nhũng, nhà sử học ngoài đảng / đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc hóm hỉnh dẫn ra câu cuối bài Quốc tế ca “trận này là trận cuối cùng!”, để nói rằng lần này mà không đẩy lúi nổi tham nhũng thì đảng CS cũng tắt luôn!

Ông yêu cầu 150 vị uỷ viên trung ương đảng gương mẫu kê khai tài sản một cách nghiêm chỉnh trước, gần 500 đại biểu quốc hội tiếp theo luôn; còn ngụ ý là Đại hội X có thể là đại hội cuối nếu như giữ nguyên nội dung các văn kiện đã công bố. Rất nhiều trí thức, đảng viên lão thành, nhà nghiên cứu kinh tế, chính trị, luật học, văn học … không nuốt nổi cái lưỡi gỗ, công thức đến lẩm cẩm, lỗi thời của các văn kiện dự thảo, “bốc lên mùi mốc meo “, cổ lỗ đến kinh người, tưởng như còn ở giữa thế kỷ trước !

Có nhà kinh tế nhắc lại câu thơ Nguyễn Duy : “ Máu nhiễm trùng rồi có thay thế được chăng ? “, và đề xướng một cuộc thay máu ngay trước đại hội X, không thì …tắc ! Tất cả vấn đề là rồi đây người dự đại hội đảng các cấp, nhất là từ cấp quận/huyện, lên cấp tỉnh/thành, rồi cấp ngành ở trung ương (ngành cơ quan trung ương, quân đội, công an, ngoại giao) vẫn sẽ chỉ là nghị gật để kiếm chiếc ghế ngồi, hay là tỏ ra con người tự do có trí tuệ và lương tâm. Một số nhân vật vừa thức tỉnh như Hoàng Tùng vào tuổi 90 còn đòi đổi mới cơ cấu chính trí, gia nhập nền văn minh trí tuệ của loài người, từ bỏ độc quyền, như Trần Văn Hà lên án quyết liệt chế độ toàn trị, như Đặng Quốc Bảo vạch rõ sự lãnh đạo cần có nhiều tưởng tượng, dám đột phá tìm cái mới, tránh đường mòn xưa cũ, như Phan đình Diệu chỉ rõ con đường nhập vào đại lộ văn minh nhân loại trong thế kỷ mới, như Nguyễn Trọng Vĩnh yêu cầu tại ngay đại hội X từ cơ sở phải bàu cử có lựa chọn những đại biểu có tư duy mới, số ra ứng cử phải gấp đôi gấp ba số cần bầu, phải dưới chọn bầu lên chứ không thể trên chọn dưới bầu, trên đưa 12 để bầu 10, như lão tướng Võ Văn Kiệt công khai cho rằng khoe khoang chiến thắng quá lố chỉ gây nên phản cảm, phản tác dụng, khẳng định công tích của tướng Dương Văn Minh đã góp phần sớm chấm dứt chiến tranh, giữ cho Sài gòn nguyên vẹn, cần từ bỏ những từ :”ngụy quân, nguỵ quyền “, như các tướng Lê Tự Đồng, Hoàng Minh Thảo, Đồng Văn Cống, Đoàn Y Thanh, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Nam Khánh cũng như “lão tướng đường số 4” Đặng Văn Việt … đều cổ vũ cho sự ngay thật, trong sáng và minh bạch, lên án sự bao biện, độc đoán của bộ chính trị, đòi thay đổi tận gốc tư duy lãnh đạo, như 2 nhà lão thành uy tín nhất của đảng - Hai Xô ở Sàigòn, Cao Hồng Lãnh ở Hànội,- ngày đêm tiếp khách để khuyên bảo thế hệ sau tìm ra con đường sáng của trí tuệ, pháp luật và dân chủ … Họ đang vào trận, huy động anh em cựu chiến binh và tuổi trẻ có tâm huyết, đảng viên có đầu óc và công tâm cùng mình vào trận, đi dọc ngang đất nước, nói lên điều hay, lẽ phải, phổ biến tài liệu tin tức để cố tác động vào đại hội đảng các cấp, ngay từ đại hội các chi bộ cơ sở vào đấu tháng 9 này.

* Ngả ngũ ra sao ?


Cuộc họp 12 tỏ ra lấp lửng; vụ án siêu nghiêm trọng chỉ nhích lên một chút; các văn kiện đại hội chỉ sửa vài câu văn. Đại hội X vẫn theo đường mòn các đại hội trước, được gọi trệch đi là “đại hội bậy, tạm và chịn “. Cuộc họp 13 tới mới thật là “tiền đại hội X“. Việc giải quyết vụ án TC2+T4 là chất xúc tác, là cửa mở để bước vào Đại hội. Xuất hiện thêm vụ “lũ 3 tên“ được coi là là chìa khóa để mở cửa; 11 vị trong bộ chính trị có dám làm một cuộc mổ xẻ nội bộ, để làm gương cho một cuộc mổ xẻ vụ án tại cuộc họp trung ương 13, trước khi căn bệnh ung thư chính trị do con vi-rút “độc quyền” gây nên có thể lan ra toàn cơ thể của đảng đang ở độ thoái trào và rơi tự do ? ông Tổng bí thư họ Nông có trở nên Sâu không, sâu sắc để tự tin sắn tay áo làm một cuộc giải phẫu ngoạn mục, như một bác sỹ tài năng có công tâm, ra tay nhằm cứu nhân độ thế.

Hai thế lực đối lập của vụ án đều hao mòn sức lực, mỏi mệt, già nua, thở hổn hển, tuy bên đòi công lý đòi công khai có ghi vài điểm trội.

Bên có lẽ phải, có luật pháp, có lý lẽ tuy yếu về bạo lực gian manh, nhưng nếu biết thừa thắng xông lên, không chủ quan thoả mãn, liên kết với xu thế đổi mới toàn diện, xu thế dân chủ hóa và chủ động hội nhập với thế giới dân chủ của thời đại, đi theo quyền lợi của đất nước và nguyện vọng của nhân dân thì có thể giành phần thắng và tạo cục diện mới, thậm chí có thể vỗ bụng đối thủ. Hãy chờ xem, hiệp vật cuối bao giờ cũng hấp dẫn.

Anh chị em dân chủ trong và ngoài nước luôn coi xu hướng đòi dân chủ đa nguyên, pháp trị nghiêm, công khai và trong sáng, đòi mổ xẻ nhanh gọn “vụ án siêu nghiêm trọng” là bạn đường cùng chung mục tiêu: kết thúc chế độ độc quyền, độc đoán, độc đảng, và độc ác trên đất nước ta.

Nhà báo Bùi Tín.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Tôi Trở Về Thành Phố

Nhạc và Lời : Y Vân
Tiếng Hát : Lệ Thu ,Khánh Ly , Thanh Phong


Tôi trở về thành phố làm khúc hát một mình,
buổi chiều chưa ngã xuống bóng đêm còn viễn chinh.
Tôi trở về thành phố, làm tuổi thơ một mình.
Mỗi ngày đi ngả trái, bờ sông nước mênh mông.
Tôi trở về thành phố, một ngày chưa thấy em,
ba ngày chưa thấy nốt, bây giờ tôi bỏ đi.........

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Những Bài Thơ của Cộng Sản



1.
Năm 1950, ông Hồ Chí Minh viếng thăm đền thờ Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn (1226-1300) và 'xuất khẩu thành thơ':

Bác anh hùng tôi cũng anh hùng,
Tôi, bác cùng chung nghiệp kiếm cung.
Bác thắng quân Nguyên thanh kiếm bạc,
Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng.
Bác đưa một nước qua nô lệ
Tôi dắt năm châu đến đại đồng.
Bác có linh thiêng cười một tiếng
Rằng tôi cách mạng đã thành công

Ông Trần Gia Phụng, nguyên cựu giáo sư sử của trường trung học Phan Châu Trinh - Ðà Nẵng, đã phê bình ông Hồ là người tự cao, ngạo mạn vì gọi vĩ nhân của lịch sử sống cách đây hơn 600 năm bằng 'bác' là một sự vô lễ chưa bào giờ xảy ra trong lịch sử Việt Nam. Ðã vậy ông Hồ còn tự phong mình là một anh hùng, một chuyện lạ chưa hề có trong lịch sử các anh hùng Việt Nam.

Tuy nhiên, đứng trên 'quan điểm Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa' thì Hồ Chí Minh là 'Cha già của dân tộc' mà gọi Trần Quốc Tuấn là 'bác' phải chăng quá khiêm nhường và lễ độ!!!

2.
Ông tướng Ðinh Ðức Thiện nổi tiếng nói tục và ngang bướng (chắc ỷ anh em, họ hàng làm lớn) đến độ có lần cùng đi công tác chung với Tố Hữu, ủy viên bộ chính trị kiêm bí thư trung ương cộng đảng phụ trách ủy ban tuyên huấn trung ương, tướng Thiện vẫn chửi lính nói tục, khiến Tố Hữu quê với thuộc hạ. Tố Hữu lựa lời nói với tướng Thiện :”Bao giờ anh mới bớt nói tục hả anh Thiện ?” Tướng Thiện cười vào mặt Tố Hữu mà rằng :”Bao giờ anh thôi làm thơ thì tôi bớt nói tục”. Tố Hữu bẻ mặt, đánh bài lờ. Và để chứng minh tính cách độc đáo của mình, khi trở về qua Nam-Hà gặp một cuộc họp báo của tỉnh, tướng Thiện cười khà khà :- Tụi mày chỉ dám đăng thơ của anh Tố Hữu, còn thơ của tao có báo nào dám đăng không ?

Rồi Tướng Thiện đọc luôn :

“Thế gian nhất đẹp là l...
Nhất ngon là muối, nhất khôn là tiền.”

Và thấy cái ảnh của lão nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ An Ninh chụp các nữ xã viên đang hái chè trên đồi chè Ðào Giã (Phú Thọ) tướng Thiện đề nghị nên chú thích vào tấm ảnh đó như sau :

“Em đi lên núi hái chè
Gặp thằng bỏ mẹ nó đè em ra
Nó bóp rồi nó lại xoa
Ngoảnh đi ngoảnh lại nó đút cái mả cha nó vào !”

Tất nhiên cả hội nghị cười hề hề, kể cả Lê Ðiền, bí thư tỉnh ủy Nam-Hà, người đang chủ trì cuộc họp báo.

3.
Xuân Diệu yêu Bác Hồ da diết
Nhà thơ ca ông Hồ Chí Minh:

Gió sương bốn biển pha hơi ấm
Trong máy truyền thanh tiếng Cụ Hồ
(Dưới sao vàng, 1949)

Và yêu ông Hồ như cha của mình:

Mỗi lần tranh đấu gay go
Chúng con đã được bác Hồ đến thăm
Chúng con dưới vực sai lầm
Ðang vươn mình được Bác cầm tay lên.
Lời Cha rất mực dịu hiền
Như là thấm nhẹ mà xuyên vào lòng.
Con ngồi trước Bác mênh mông
Tội nhiều chưa dám ngẩng trông Cha già!
(Thơ Dâng Bác Hồ, 19-5-1953)

Vì yêu 'cha già dân tộc' như thế nên nhà thơ theo đúng sự chỉ dạy của Cha già mà thương yêu những người khác cũng 'da giết' không kém!!!

Anh em ơi! Quyết chung lưng
Ðấu tranh tiêu diệt tàn hung tử thù
Ðịa hào, đối lập ra tro
Lưng chừng phản động đến giờ tan xương.
Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay
Lôi cổ bọn nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống, đọa đày chết thôi!
(Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, trang 22 và 23)

Tử thù thì tiêu diệt. Ðịa hào và đối lập thì ra tro. Lưng chừng (chưa biết phe ai) thì cũng bị tan xương. Nói một cách khác: 'tất cả mọi thành phần không theo Bác đều phải bị đọa đày chết thôi'.!!!

4.
Cha già dân tộc đã biến nhà thơ Xuân Diệu thành một con người khát máu ghê tởm, đặc biệt là trong cuộc chiến với miền Nam:

Máu kêu máu trả thù
Súng đâu, anh em đâu
Bắn nó thủng yết hầu
Bắn tỉa bắn dài lâu
(Lửa của người da đen)

Ôi êm ái khi tay cầm vũ khí
(Chuyên chính vô sản)

Ném lựu đạn cho người vui, vật sướng
(Xuân Việt nam)

Căn cứ đổ nhào, lửa reo đồn bót
Quân ta, dân ta, quân ta đạn rót
Trộn xác quân thù vào với bê tông.
(Tôi lắng nghe những phố hè trong ấy)

5.
Ðàn em Xuân Diệu thì như thế còn đàn anh Tố Hữu có nhẹ nhàng hơn chăng?!

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ Tịch, thờ Sít -ta-lin bất diệt

Ai nói người cộng sản vô thần nhỉ! Vừa thờ Mao chủ tịch của Tàu, vừa thờ Sít ta lin của Nga thì đa chứ vô làm sao được!! Thật quái ác, thờ thiên hạ nhưng lại giết người Việt không phút nghỉ. Như vậy người cộng sản thờ yêu tinh chăng?!

Ác độc và nịnh bợ là bản chất của Tố Hữu:

Hoan hô Sta lin
Ðời đời cây đại thọ
Rợp bóng mát hoà bình
Ðứng đầu sóng ngọn gió!

Hoan hô Hồ Chí Minh
Cây hải đăng mặt biển
Bão táp chẳng rung rinh
Lửa trường kỳ kháng chiến
(Bài ca tháng mười) 1950

Thời phong kiến chúng ta có nịnh thần. Thời cộng kiến chúng ta có nịnh sĩ:

Ðời đời nhớ ông

Bữa trước mẹ cho con xem ảnh
Ông Sta lin bên cạnh nhi đồng
Áo ông trắng giữa mây hồng
Mắt ông hiền hậu, miệng ông mỉm cười

Trên đồng xanh mênh mông
Ông đứng với em nhỏ
Cổ em quàng khăn đỏ
Hướng tương lai
Hai ông cháu cùng nhìn

Sta -lin! Sta-lin!
Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Sta-lin!

Mồm con thơm sữa xinh xinh
Như con chim của hoà bình trăng trong

Hôm qua loa gọi ngoài đồng
Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao
Làng trên xóm dưới xôn xao
Làm sao, ông đã làm sao, mất rồi!

Ông Sta-lin ơi! Ông Sta-lin ơi!
Hỡi ôi Ông mất! Ðất trời có không ?

Thương cha thương mẹ thương chồng
Thương mình thương một thương Ông thương mười

Yêu con yêu nước yêu nòi
Yêu bao nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu
Ngày xưa khô héo quạnh hiu
Có người mới có ít nhiều vui tươi
Ngày xưa đói rách tơi bời
Có người mới có được nồi cơm no

Ngày xưa cùm kẹp dày vò
Có Người mới có tự do tháng ngày
Ngày mai dân có ruộng cày
Ngày mai độc lập ơn này nhớ ai
v Ơn này nhớ để hai vai
Một vai ơn Bác một vai ơn Người
Con còn bé dại con ơi
Mai sau con nhé trọn đời nhớ Ông

Thương Ông mẹ nguyện trong lòng
Yêu làng yêu nước yêu chồng yêu con
Ông dù đã khuất không còn
Chân Ông còn mãi dấu son trên đường

Trên đường quê sáng tinh sương
Hôm nay nghi ngút khói hương xóm làng
Ngàn tay trắng những băng tang
Nối liền khúc ruột nhớ thương đời đời
Tố Hữu
5-1953

Nịnh Bác Hồ:

Bác bảo đi là đi
Bác bảo đánh là thắng

Vuốt Bác Hồ:

Bác Hồ đó là lòng ta yên tĩnh

Bợ Bác Hồ:

Ở đâu u ám quân thù
Trông về Việt Bắc cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền

Phong thánh cho Bác Hồ:

Tiếng của người như sấm dậy trên cao

Tố Hữu chẳng những là ác sĩ, nịnh sĩ mà còn là gian sĩ. Hãy đọc những vần thơ bịa đặt dối trá dưới đây để thấy con người Tố Hữu gian manh và xảo quyệt ra sao:

Biết không anh ? Giồng Keo, giồng Trôm
Thảm lắm anh à. Lũ ác ôn
Giết cả trăm người trong một sáng
Máu tươi lênh láng đỏ đường thôn
Có những ông già, nó khảo tra
Chẳng khai, nó chém giữa sân nhà
Có chị gần sinh, không chịu nhục
Lấy vồ nó đập, vọt thai ra
Có em nhỏ nghịch ra xem giặc
Nó bắt vô vườn, trói gốc cau
Nó đốt, nó cười em nhỏ hét:
Má ơi, nóng quá, cứu con mau
(Lá thư Bến tre) 1962

Tất cả nói một lời: Giải phóng!
Cứu miền Nam! Cứu miền Nam!
Ôi cửa Phật cũng dầu sôi lửa bỏng
Dẫu tiêu mình làm đuốc, vẫn cam!
(Miền Nam)

Cho ta lại trở về quê cu
õ Bờ sông Hương hay bến sông Bồ
Cùng các mẹ, các o, các chú
Giành lại từng mảnh đất thành đô!
Cho ta được làm kho mìn nổ
Ðèo Hải vân quật đổ quân thù
Cho ta được làm cây chông miệng hố
Ðâm chết bầy giặc bố chiến khu!
(Có thể nào yên ?)

Giống như ông Hồ đã coi thường Hưng Ðạo Vương - một danh nhân nước Việt , đồng chí Tố Hữu khinh bỉ tất cả những danh nhân, anh hùng Việt Nam đã trị vì, đã hy sinh cho dân tộc, cho đất nước Việt trước 'Cách mạng Tháng 10 Nga':

Thuở anh chưa ra đời
Trái đất còn nức nở
Nhân loại chưa thành người
Ðêm ngàn năm man rợ!

Gọi làm sao cho đúng con người của Hữu nhỉ?! Trước khi được nhân dân đặt một cái tên thật chính xác cho nhà thơ lớn cộng sản này, chúng ta tạm gọi ông ta là Bác sĩ vậy!!!

* Bác sĩ: Thi sĩ được nặn ra từ Bác Hồ.

6.
Tại sao XHCNViệt Nam tạo ra quá nhiều nịnh sĩ? Ðể thăng quan tiến chức đó mà. Hãy xem trường hợp dưới đây của Trưởng ty Thông tin tỉnh Nghệ An.

Minh Huệ, giáo viên tiểu học của huyện Nam Ðàn có khiếu làm thơ. Không biết dựa vào cốt chuyện nào mà hắn ngồi ở tận Nghệ An lại có thể hư cấu bài thơ tự do "Ðêm nay bác không ngủ" trên dưới 50 câu, tả "bác Hồ" trên đường ra mặt trận. Vào 1 đêm mưa, Hồ vào lán nghĩ với lính. Vì hành quân quá mệt, lính ngủ say, đạp chăn rơi xuống đất. Hồ đi nhặt chăn đắp lại cho TỪNG ÐỨA. Một tên thức giấc thấy vậy, kỳ kèo "mời bác đi ngủ", nhưng "bác" không chịu ngủ và đáp rằng :

"Bác thức thì mặc bác
Bác ngủ không yên lòng
Bác thương đoàn dân công
Ðêm nay ngủ ngoài rừng
Trải lá cây làm chiếu
Áo quần cũng là chăn
Trời thì mưa lâm râm
Làm sao cho khỏi ướt ....

Có bao nhiêu đó thôi mà giáo viên tiểu học Minh Huệ nhảy tót lên ghế Trưởng ty Thông tin tỉnh Nghệ An đấy.

7.
Trưởng ty thông tin tỉnh Vĩnh Phúc, 1 đảng viên quê ở tận Nam Ngãi nhưng cũng muốn tranh đua với trưởng ty thông tin tỉnh Nghệ An xem ai nịnh hay hơn ai:

Trên rừng con khỉ đánh đu
Thằng Ngô Ðình Diệm mút cu cụ Hồ

Mặc dù sau đó tập thơ bị đốt sạch nhưng sự lưu truyền trong dân gian vẫn còn mãi

8.
Còn thi sĩ Nguyễn Bính có thoát ra khỏi vòng kim cô nịnh sĩ hay không?
Ít nhưng vẫn có:

... con lùi, cha dắt con lên
Con hư cha mắng, con nên cha mừng...
(Nhân ngày sinh ông Hồ 19/5/1952)

9.
Việt Phương, thư ký riêng của thủ tướng Phạm Văn Ðồng còn trắng trợn ngâm:

Trăng Trung Hoa tròn hơn trăng nước Mỹ
Ðồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ

Tại sao miền Bắc lại sản sinh ra nhiều nịnh sĩ thế nhỉ? Phải chăng 'Người cộng sản mắc chứng bệnh ung thu óc' (như nhà văn Duyên Anh nhận xét) nên đã đẻ ra những quái sĩ cộng sản!!!



3G cốp pi

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Lâu lâu gặp được chiện vui , gởi cho Ba Giang và Toàn Năng thưởng thức nhưng cấm cười đó nha !!!!!!


Con lỡ...............!!!!!!!

Một cha xứ người Scotland sửa cái bóng đèn trên trần nhà, ông bắc ghế đứng lên, nhờ cô soeur ở dưới đưa giúp cái búa ( đàn ông Scotland thường mặc váy và ko mặc quần lót ) . Cô soeur đứng ỡ dưới mắc cỡ quá, ko dám ngẩng mặt lên cứ thế đưa cái búa lên cho cha , lúc cha xứ làm xong đưa trả cái búa, cô soeur tiếp tục nhắm mắt và nắm cái cán búa rất chặt, nhưng cầm mãi mà ko sao kéo xuống được!!!!! :(
:( :(
Bỗng nhiên nghe tiếng cha xứ bão rất nhõ nhẹ:
- Này con, con lỡ cầm nhầm cái búa của ta rồi ................Ha..Ha...Ha......
:D :D :D

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

History Lesson


Have a history teacher explain this----- if they can.

Abraham Lincoln was elected to Congress in 1846.
John F. Kennedy was elected to Congress in 1946.

Abraham Lincoln was elected President in 1860.
John F. Kennedy was elected President in 1960.

Both were particularly concerned with civil rights.
Both wives lost their children while living in the White House.

Both Presidents were shot on a Friday.
Both Presidents were shot in the head.

Now it gets really weird.

Lincoln 's secretary was named Kennedy.
Kennedy's Secretary was named Lincoln.

Both were assassinated by Southerners.
Both were succeeded by Southerners named Johnson.

Andrew Johnson, who succeeded Lincoln, was born in 1808.
Lyndon Johnson, who succeeded Kennedy, was born in 1908.

John Wilkes Booth, who assassinated Lincoln, was born in 1839.
Lee Harvey Oswald, who assassinated Kennedy, was born in 1939.

Both assassins were known by their three names.
Both names are composed of fifteen letters.

Now hang on to your seat.

Lincoln was shot at the theater named 'Ford.'
Kennedy was shot in a car called ' Lincoln' made by 'Ford.'

Lincoln was shot in a theater and his assassin ran and hid in a warehouse.
Kennedy was shot from a warehouse and his assassin ran and hid in a theater.

Booth and Oswald were assassinated before their trials.

And here's the kicker...

A week before Lincoln was shot, he was in Monroe, Maryland
A week before Kennedy was shot, he was with Marilyn Monroe.

Creepy huh? Send this to as many people as you



Giang già sưu tầm

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

khieulong wrote:Lâu lâu gặp được chiện vui , gởi cho Ba Giang và Toàn Năng thưởng thức nhưng cấm cười đó nha !!!!!!


Con lỡ...............!!!!!!!

:( :(
Bỗng nhiên nghe tiếng cha xứ bão rất nhõ nhẹ:
- Này con, con lỡ cầm nhầm cái búa của ta rồi ................Ha..Ha...Ha......
:D :D :D

Mắc cỡ bỏ Bu

He he he

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Ba Mươi Năm Xa Xứ



Nguyễn Quý Đại


Quả địa cầu chứa nhiều tỉ người sinh sống khắp năm châu bốn bể. Đời sống thường bị thiên tai, chiến tranh, nên có những đổi thay trong sinh hoạt như tị nạn, di cư và định cư giống như chim én tìm mùa xuân. Nguồn gốc người Việt ở miền Bắc tiến về phương Nam lập quốc từ Nam Quan đến Cà Mau, dù dân tộc Việt Nam bị ngàn năm Bắc thuộc, gần trăm năm nô lệ giặc Tây, nhưng người Việt đoàn kết chống ngoại xâm dành lại độc lập và giữ gìn bờ cõi, người Việt yêu ruộng lúa bờ dâu, đình làng, lăng miếu.. không ai muốn rời quê hương, nhưng có nhiều trường hợp phải bỏ nước ra đi.


Biến cố lịch sử Việt Nam, đã có những đợt người Việt phải đành xa quê hương! Đầu thế kỷ thứ 13 đời Lý có hoàng tử Lý Long Tường con vua Lý Anh Tông (1138-1175), em vua Lý Cao Tông (1176-1210) và chú của vua Lý Huệ Tông (1211-1224). Vì sự ngược đãi của Trần Thủ Độ, con cháu nhà Lý bỏ trốn, trong đó có Lý Long Tường ra đi không phải để cầu viện như vua Lê Chiêu Thống. Ra đi để bảo tồn sinh mạng lo việc thờ cúng tổ tiên.


Ở Thụ Hàn Môn (Bắc Cao Ly) còn lưu lại năm Bính Tuất 1226 niên hiệu Bảo Khánh (đời Tống) trong nước có loạn, việc thờ cúng tổ tiên nhà tông miếu bị hủy bỏ, ông là chú vua, khóc ở miếu Nam Binh, rồi đem đồ tế khí ở bàn thờ tổ tiên cùng 40 người chạy về hướng đông đến Nam Kinh, sau đó sang Cao Ly, Đại Hàn ngày nay lập nghiệp. Lý Long Tường đã có công giúp Cao Ly chống lại quân Mông Cổ, năm 1253 (Quý Sửu). Để tưởng nhớ chiến công của vị hoàng tử Việt Nam. Năm 1711, người Cao Ly dựng tấm bia ghi công trạng họ Lý, nhờ thế 800 năm sau con cháu mới biết được tổ tiên mình là một hoàng thân họ Lý từ Việt Nam tị nạn. Con cháu họ Lý có nhiều người học giỏi đỗ đạt làm quan như Lý Huyền Lương, giữ chức lễ Bộ Tham Nghị Thượng Thư, Lý Long Tuyền làm Giám Tu Quốc Sử... Sau khi Cao ly chia đôi 1953 . Con cháu họ Lý chia làm hai. Một nhánh ở tỉnh Hoàng Hải. Một di cư xuống phiá Nam vĩ tuyến 38 lập nghiệp Hán Thành, và Đông Hòa


Trước năm 1975 ông Lý Khánh Huân đời thứ 25 về Sàigòn để tìm lại cội nguồn tổ tiên, thời chiến tranh chính quyền Việt Nam, không giúp đỡ được cho đến năm 1994 ông Lý Xương Căn con Lý Khánh Huân đời thứ 26 đến Việt Nam tìm được nguồn gốc ở làng Đình Bảng Bắc Ninh.(1) Hàng năm những ngày tế lễ cổ truyền người Đại Hàn gốc Việt thường đánh những hồi chiêng trống quay đầu về hướng Nam để tưởng nhớ nguồn gốc của mình.


Năm Canh Thìn 1400, Lê Qúy Ly đảo chánh nhà Trần, lên ngôi lấy lại họ Hồ và lập ra nhà Hồ (1400-1407), dưới triều họ Hồ có thể trong thời gian này con cháu nhà Trần sang Trung Hoa lánh nạn. Khi nhà Minh xâm lăng nước ta năm 1407 với danh hiệu "phù Trần diệt Hồ" bắt gia đình họ Hồ và các quan như Nguyễn Phi Khanh (1355-1428) đưa về nước? Nhà Minh đặt ách cai trị nước ta, con thứ Trần Nghệ Tông (1370-1372) nổi lên chống quân Minh ở Ninh Bình, và Trần Quý Khoách cháu nội Trần Nghệ Tông khởi nghiã ở Nghệ An (1409), cả hai đều bị bắt năm 1413 giải về Tàu. Bác sĩ Trần Đại Sĩ định cư Pháp, sang Trung Hoa làm việc có cơ hội tìm lại con cháu họ Trần vì lý do chính trị đến sinh sống nhiều thế kỷ ở Trung Hoa, không có cơ hội trở về cố quốc.


Thời kỳ chống Tây, nhiều nhà cách mạng Việt Nam lánh nạn ở Trung Hoa, mưu cầu ngày khôi phục quê hương. Tôn Thất Thuyết (1835-1913) quan đại thần dưới triều vua Hàm Nghi (Nguyễn Phúc Ưng Lịch 1872-1943), khởi nghiã chống Pháp đêm ngày 4.7.1885 thất bại, ông phải đến Long Châu và chết già ở đó. Phạm Hồng Thái (1896-1924) ám sát tên thực dân Pháp Toàn Quyền Đông Dương Martial Merlin ngày 18.6.1924 tại khách sạn Victoria phiá bắc thành phố Sa Diện thất bại phải gieo mình xuống dòng Châu Giang.


Nhiều nhà cách mạng Việt nam như Phan Bội Châu (1867-1940), Cường Để (Nguyễn Phúc Hồng Dân 1882-1951) đến Hoành Thân Yokohama, Trần Trọng Kim (1882-1953) sang Singapore và Thái Lan... Năm 1933 ở Đức thì nhà khoa học Albert Einstein (1879-1955) sang New york. Brandt Willy (1913-1992) chạy sang Na Uy tị nạn chính trị, sau này về làm thủ tướng Đức nhiệm kỳ (1969-1974)


Thời thuộc điạ, người Việt từ miền Bắc sang Lào sinh sống ở thủ đô Vientiane, họ làm việc cho Tây hay kinh doanh thương mại, bản tính người Lào hiền nên đời sống người Việt ở đó an cư lập nghiệp. Ở Campuchia cũng có cư dân người Việt phần đông các tỉnh phiá Nam, sinh sống trên biển Hồ Tonlé Sap hay thủ đô Phnom Penh. Bị nạn chặt đầu "cáp duồn" thời Lon Nol phải hồi hương phần lớn về Tân Châu Hồng Ngự Kiến Phong, và một số người Việt đến Thái Lan các vùng gần biên giới Lào Campuchia lập nghiệp. Những nhóm người trên có thể vì nhu cầu đời sống "tha phương cầu thực".


Từ năm 1914 -1954, hơn 50.000 thanh niên Việt nam phần lớn là nông dân miền Bắc, bị bắt đi lính cho Pháp gọi là lính thợ (Soldats ouvriers) phục vụ cho chiến trường Âu Châu chống Đức. Chiến tranh chấm dứt, những người lính thợ ở lại làm việc trong các ngành dệt, hay xe hơi.


Những ông Vua chống Tây bị bắt đày sang các đảo ở châu Phi như: Hàm Nghi (1872-1943), Duy Tân (1900-1945) Thành Thái (1879-1954) và vua cuối cùng Bảo Đại (1931-1997) đã mất trên đất Pháp. Phần lớn các nhà trí thức khoa học gia Việt Nam được đào tạo tại Pháp thành tài ở lại Pháp, hay về phục vụ đất nước... đặc biệt cụ Phan Châu Trinh (1872-1926) đến kinh thành ánh sáng Paris với mục đích đấu tranh đòi hỏi dân quyền cho Việt Nam...


Hiệp định Genève năm 1954, gần một triệu người Bắc di cư vào Nam lập nghiệp, nhưng cuộc di tản lớn nhất trong lịch sử từ ngày 28.4.1975 cho đến sau ngày 30.4.1975 hàng triệu người Việt bất đắc dĩ bỏ nước ra đi tìm tự do. Bởi vì mọi người sợ cảnh đấu tố, cải cách ruộng đất (1949-1956) và vụ án Nhân Văn giai phẩm (1956). Chiến tranh Việt Nam chấm dứt, nhưng chính quyền CSVN thời đó ra lệnh bắt hàng trăm ngàn Công chức, Sĩ quan, Giáo viên, Chuyên gia chế độ cũ (VNCH) vào các trại tập trung cải tạo, máu không đổ nhưng mồ hôi, nước mắt đã âm thầm đổ ra trong các trại cải tạo hà khắc... Người giàu, có tài sản như thương gia, thầu khoán... bị kết tội "tư sản mại bản" tài sản bị tịch thu đuổi họ đi vùng kinh tế mới, cải tạo Công Thương Nghiệp, đổi tiền hai lần 1975 và 1978.



Thanh niên bị bắt đi nghiã vụ quân sự sang chiến trường Campuchia... Người miền Nam phải trải qua giai đoạn cực kỳ khó khăn khốn khổ, trại cải tạo mở rộng, cánh cửa tự do bị khép kín, tình người bị lãng quên, miền Nam không thiếu gạo, nhưng phải ăn hột bo bo (thức ăn cho gia súc)... Người dân hết tin tưởng vào chính quyền nên bỏ nước ra đi đến các nước láng giềng ở Á Châu bằng ghe thuyền, "Boat people" cập bến xin tị nạn các đảo như Galang (Indonesia) Songkla, Sikiew Thái Lan, Bidong (Malaysia), Palawan, Malia (Philippin), Hongkong.


Cao Ủy Tị Nạn UNHCR (United Nations High Commissionner for Refugees) phân phối thuyền nhân định cư phần lớn các quốc gia như: Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Úc, Canada, Nhật, Ý, Hoà Lan, Tây Ban Nha .v v... Thuyền nhân Việt Nam làm lại cuộc đời bằng đôi bàn tay trắng với bản tính người Việt luôn tranh đấu để sinh tồn và phát triển khắp nơi trên thế giới.


Sau khi an cư lạc nghiệp, người Việt tị nạn được phép bảo lãnh thân nhân đoàn tụ gia đình, từ đó có thêm hàng trăm ngàn người ra đi chính thức bằng máy bay. Thêm các chương trình ra đi có trật tự ỌD.P (Oderly Departure Program) diện con lai (Amerasians) nhờ sự đấu tranh của Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị VN của bà Khúc Minh Thơ và nhiều đoàn thể người Việt tị nạn ở Hoa Kỳ cho Tù Nhân Chính Trị Nam. Năm 1989 Tổng thống Reagan phê chuẩn cho chương trình H.Ọ Tù cải tạo được phóng thích (Released Reeduction Detainees program) năm 1990 từ HỌ1 đến HỌ 32 đã hơn 300 ngàn tù nhân chính trị và gia đình đến Hoa Kỳ


Biến cố 30 năm về trước dù đất nước thống nhất, nhưng hơn 2 triệu người miền Nam đành bỏ nước ra đi, không tính diện thanh niên phần lớn ở miền Bắc sang Nga và các nước cộng sản Đông Âu lao động trả nợ chiến tranh, Từ năm 1990 khi chủ tịch Gorbatschow thay đổi chính sách cai trị Glasnost/ openness/Offenheit, (cởi mở) Perestrojka/Ungestaltung/ remodelling (tái phối trí) thì Liên Bang Nga Sô đổi mới.


Ngày 02.05.1989 Ungarn mở cửa biên giới thông thương với Tây phương. Hàng ngàn người Đông Đức hướng về Budapest của Ungarn, chạy vào tòa Đại sứ Tây Đức để xin tị nạn... Các nước Đông Âu thay đổi chính sách cai trị, kéo theo sự sụp đổ thiên đường cộng sản.. người Việt Nam lao động, sinh viên và du học sinh chạy sang các nước phiá Tây xin tị nạn.


Nhìn lại lịch sử thế giới như cuộc nội chiến Hoa Kỳ, miền Bắc chiến thắng miền Nam ngày 9.4.1865 tướng Ulysses không giữ quân nhân nào phiá bại trận làm tù binh mà còn tuyên bố "những người trước đây gọi là phiến loạn, nay tất cả đều là đồng bào của chúng ta". Đệ nhị thế chiến (1939-1945) Đức-Ý-Nhật đầu hàng. Quân đội Đồng Minh đưa ra tòa án ở Nürnberg một số người cầm đầu xét xử phân minh.. Cuộc cách mạng các nước Đông Âu thay đổi từ chế cộng sản sang tự do, Những cựu Công chức, Quân đội.. không bị trả thù và không trại tập trung cải tạo.


Những thập niên qua chính phủ Việt Nam cho xuất cảng người sang Đại Hàn, Mã Lai, Nhật, đến các nước Á Rập làm khách thợ.., những cô gái quê theo phong trào lấy chồng ngoại quốc, phẩm giá đàn bà Việt Nam giống như mua bán nô lệ... đây là thảm cảnh trong trăm ngàn thảm cảnh của dân Việt Nam, phải sống trong hoàn cảnh xã hội quá đổi mới sau 30.4.75. Ba mươi năm qua, tưởng chừng là một giai đọan lịch sử đủ để phân giải được rõ ràng cái thắng bại, đúng sai.


Dân tộc ta đã từng khóc hận nước mắt ngập tràn biển đông, bị Tàu đô hộ, đến thực dân Tây rồi chia đôi đất nước. Nội chiến Quốc-Cộng kéo dài hơn 20 năm bom đạn tàn phá quê hương. Thanh niên hai miền Nam Bắc phải hy sinh quá nhiều. Lịch sử Việt Nam là những chuỗi ngày đau thương, cuộc sống còn đối diện với một tương lai mù mịt ! Tôi nhắc lại hoàn cảnh khổ đau không phải khơi lại niềm đau sầu hận, Ngày nay ở Việt nam giới trí thức nhiệt tình yêu nước, lên tiếng đòi tự do dân chủ, bị công an theo dõi bắt bớ tù đày, nhưng họ không chùn bước thật đáng kính phục. Mong chính quyền Việt Nam phải ý thức việc cai trị. Chính sách đảng trị, độc tài không còn phù hợp nưả. Phải cần nhiều người tài giỏi giúp nước, xây dựng quốc gia giàu mạnh và phú cường


Bỏ quê hương âm thầm ra đi, không hận thù mong tìm được tự do, thời đó bị rượt bắt đánh đập cầm tù... hàng trăm ngàn người đã chết trên biển, ra đi với đôi bàn tay trắng. Người Việt với bản tánh cần cù chịu khó cầu tiến, làm việc chuyên cần, đã thành công trên mọi phương diện từ Khoa học, Kinh Tế, Thương mãi... Người Việt thành công nhất ở Hoa Kỳ, trong 186 ngành thương mãi lớn nhỏ, từ việc cho thuê quần áo cưới, du lịch, pháp lý di trú, địa ốc, giặt ủi, tang chế, tắm hơi, dọn nhà, chuyên chở, thợ mộc, thợ hồ, bác sĩ, luật sư, phòng thẩm mỹ ở khắp nơi đều có người Việt hành nghề.


Sự nghiệp người Việt trên nước Mỹ không phải tự nhiên mà có. Không ai dâng hiến cho mình. Tất cả được làm nên bằng mồ hôi và lòng kiên nhẩn, những hy sinh cực nhọc nơi ghế nhà trường, những giờ phút bù đầu làm bài trong đêm khuya, sau một ngày làm việc mệt mỏi. Có người làm hai công việc sau giờ làm thường lệ, còn phải đi hút bụi, lau nhà, cắt cỏ mướn, cào lá, tỉa cây, khòm lưng, vẹo cạnh sườn, mỏi cánh tay, để tạo cho mình một tương lai, cố gắng hết khả năng trời cho. Không ai ngồi không há miệng chờ sung rụng, tiền không thể từ trên trời rơi xuống, họ không than thân trách phận nuối tiếc thời vàng son bởi vì nó chỉ là bóng mờ dư âm. Người tị nạn Việt Nam làm việc không ngại nắng mưa, đêm, ngày để xây dựng đời sống, lo cho con cái có tiền học hành nên người hữu ích cho xã hội, dành dụm tiền bạc gởi về giúp đỡ thân nhân bên quê nhà mong đợi !!


Chương trình nhạc Asia do nhạc sĩ Trúc Hồ thực hiện DVD giới thiệu nhiều danh tài trẻ người Việt Nam như: khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, Dương Việt Quốc, luật sư Trần Văn Thái, nữ tài tử Lê Thị Hiệp, xướng ngôn viên đa tài Lyna Nguyễn, bà Lữ Anh Thư, luật sư Trịnh Hội... đã thành công trên vùng đất hứa, đó là một niềm tự hào dân tộc. Nhớ ơn tiến sĩ Nguyễn Hữu Xương và những người có công vận động trong Ủy Ban Báo Nguy cứu người Vượt Biển, giúp thuyền nhân Việt Nam, cũng không quên vinh danh những người đã dấn thân cho tự do: Hoàng cơ Minh, Trần Văn Bá, Võ Đại Tôn, Nguyễn Hữu Luyện...


Tựa đề "Keeping up with the Nguyen" trên tờ Mercury News mô tả sự thành công của người Việt, theo bản thống cơ quan thống kê "Data Quick Information Systems" những người họ Nguyễn thành công nhiều. Nhưng theo tôi, những người mang họ khác cũng thành công, có thể họ Nguyễn nhiều hơn nên dễ so sánh.. Tôi từng đến các tiểu bang ở Hoa Kỳ ngợp mắt với những bảng hiệu bằng tiếng Việt Nam, những thương xá, buôn bán sầm uất đầy đủ các mặt hàng trái cây miền nhiệt đới, đến khu Phước Lộc Thọ, nghe nhạc Việt nam, cải lương cho đến vọng cổ, hương vị cafe, thức ăn thơm phức làm lưu chân người lữ khách..


Nghề thịnh hành nails làm móng tay giả học 6 tháng hành nghề, nghe nói lương trung bình 4000$, tương đương kỹ sư ở Đức, công ty Orchid do người Việt làm chủ khá thành công. Theo bộ Lao Động Hoa Kỳ (US Department of Labor), đời sống người Việt khởi sắc ít thất nghiệp, dù làm bán thời gian (part time) hay làm toàn thời (full time)



Những ngành nghề phổ thông làm việc trong các hãng xưởng như ráp nối (assemblers), cán sự điện (electronic technicians) chuyên viên (drafter) kỹ sư điện (electrical engineers) vùng thung lũng hoa vàng nắng ấm San Jose thành công, nhưng vùng giá lạnh như Alaska cũng không thiếu người Việt Nam trên những con tàu ra khơi đánh cá.
Người Việt sống ở Đức khí hậu lạnh, khoảng hơn 1 trăm ngàn người, sống rải rác khắp nơi không thể nào tìm sinh hoạt phong phú như ở Hoa Kỳ., tuy nhiên thế hệ thứ II trưởng thành ở Đức thành công hơn. Người Việt tị nạn Thuyền nhân, Tường nhân dù không giàu nhưng đời sống ổn định và thăng tiến



Hơn 300 ngàn người Việt Nam lâu đời ở Pháp tập trung buôn bán quận 13 Paris, không trù phú như người Việt ở Hoa Kỳ. Năm 2003, Thủ tướng Pháp trao tặng huy chương giáo dục cho nhà văn Nguyễn Phú Thứ "Chevalier dans l’ordre des Palmes Académiques". Có thể quốc gia Hoa Kỳ đa Văn hoá, dễ hội nhập hơn, những người có bằng cấp chuyên môn ở Việt Nam cần tu nghiệp và hành nghề trở lại, trong khi ở Đức thì khó có cơ may làm lại ngành cũ, phải học lại từ đầu.



Chính phủ tiểu bang California đề cử cựu học sinh Phan Châu Trinh bạn Nguyễn Đức Chương lãnh giải thưởng về doanh thương. Chương sinh năm 1955 đến định cư California Los Angeles năm 1975, anh đi làm đi học khá vất vả trải qua nhiều giai đoạn thất bại về thương mãi, Furniture, bán bảo hiểm Nhân Thọ, mở nhà hàng cuối cùng là Văn phòng Employment Agency, từ thất bại anh đã thành công vẻ vang với nghề Doanh thương nhỏ (Small Business), anh trả lương cho nhân viên hơn 4,5 triệu trong năm 2004. Nên Tiểu Bang California đề cử Chương với The NRCC’s Business Advisory Council giải thưởng "Businessman Of The Year 2004" ngày 15.3.2005 mời về Washington DC nhận giải thưởng do tổng thống Bush trao tặng. Đây cũng là vinh dự cho người Việt Nam và cựu học sinh Phan Châu Trinh Đà Nẵng.


Ở Úc, Cộng Đồng người Việt cũng khá thành công trên mọi lãnh vực. Thế hệ trẻ như đạo diễn Đỗ Khoa được giải thưởng "young Australian of the Year". Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến được Hội Đồng Huy Chương Úc Châu (Council for the Order of Australia) trao tặng huy chương OAM (Medal the Order of Australia). Sự thành công nhanh chóng của Cộng Đồng Việt Nam là một hiện tượng mới của lịch sử Việt Nam.


Người Việt tị nạn, sống độc lập với các quyền tự do, không lệ thuộc thế lực chính trị nào cả nên văn học, nghệ thuật, báo chí, truyền thông tự do phát triển. Các bộ sử trước 1975 được tái bản, Sử gia Trần Gia Phụng, Vũ Ngự Chiêu, cố luật sư Hoàng Cơ Thụy viết những bộ Sử giá trị, và nhiều người khác viết, dịch tài liệu về cuộc chiến tranh Việt Nam, để con cháu mai sau nghiên cứu và học hỏi khách quan, hơn ca tụng một thần tượng. Giới trẻ Việt Nam khá thành công ở hải ngoại, học và làm việc nghiên cứu không cần phải sự chỉ đạo của một đảng phái chính trị nào. Người tài thì trọng dụng không bị phân biệt lý lịch, thân thế theo kiểu con ông cháu cha. Ngày nay Việt nam cho phép sinh viên du học các nước Tây phương nhưng phần lớn ra nước ngoài họ không muốn trở về Việt Nam?


Nếu chính phủ Việt Nam thay đổi như Nhật Bản thời Minh Trị Thiên Hoàng (Mutsu Hito 1852- 1912), sẽ có hàng trăm ngàn chuyên viên tài giỏi ở các quốc gia trên thế giới tình nguyện về xây dựng, để canh tân hiện đại hoá quê hương, phát triển kinh tế cũng như nhân quyền, đáp ứng nhu cầu toàn dân Việt Nam theo văn minh của nhân loại, với con đường Dân-Chủ, Đa-Nguyên và tự do Tôn giáo phải được tôn trọng


Tôi mong ước và hy vọng những người đang lãnh đạo đất nước hãy thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm trong quá khứ, và rút ra từ đó những bài học trong tương lai, từ bỏ chủ trương độc tài đảng trị. Để giới trẻ trí thức trong và ngoài nước có quyền tham gia đóng góp tài trí trực tiếp, độc lập vào khoa học, kinh tế cũng như chính trị của Việt Nam. Đó là ước mơ chung của người Việt trong và ngoài nước.


Nguyễn Quý Đại

Kỷ niệm 30 năm người Việt rời bỏ quê hương.

30.4.1975 - 30.04.2005


Tài liệu tham khảo
1/Phóng viên Minh Nguyệt phỏng đài Úc Châu phỏng vấn nhà văn Trần Gia Phụng trên đài Úc Châu
2/ Những câu chuyện Việt sử tập 2 nhà văn Trần Gia Phụng
3/ Từ Điển Nhân Vật NM của Nguyễn Quyết Thắng
4/ Universal Lexikon

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Ten cua mot cươc chien-tranh

Post by linhgia »

Ba mươi năm - Gọi tên gì cho cuộc chiến?


Lê Xuân Khoa


Cuộc chiến 1945-1954 giữa thực dân Pháp và các phong trào kháng chiến giành độc lập của các dân tộc Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào thường được các nhà viết sử gọi chung là chiến tranh Đông Dương.


Đối với từng quốc gia Đông Dương, cuộc chiến này còn mang những tên khác nhau nhưng cùng một ý nghĩa.


Chẳng hạn trong trường hợp Việt Nam, đây là chiến tranh giành độc lập, chiến tranh chống đế quốc Pháp hay ngắn gọn hơn, chiến tranh Việt-Pháp. Tất cả những cách gọi tên này đều đúng và không có gì cần phải tranh luận. Khi cuộc chiến 1955-1975 tiếp diễn trên lãnh thổ Đông Dương được gọi là chiến tranh Đông Dương lần thứ hai thì cách gọi không sai nhưng nội dung của nó không đơn giản như lần trước, vì thành phần tham chiến và thời gian chiến tranh ở mỗi quốc gia Đông Dương không giống nhau.


Trên chiến trường Đông Dương, Hoa Kỳ thay thế Pháp nhưng chỉ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam từ 1965 đến 1972 và hỗ trợ những lực lượng chống cộng sản ở Lào và Cam-pu-chia. Ngay cả những cuộc giội bom ở hai quốc gia này cũng không ngoài mục đích chính là ngăn chặn Bắc Việt sử dụng lãnh thổ hai nước láng giềng làm căn cứ tiếp viện cho bộ đội côïng sản ở miền Nam.


Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất được giải quyết chính thức và toàn bộ bởi Hiệp định Genève 1954 với Việt Nam là trọng điểm. Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, tình trạng ba nước Lào, Việt Nam và Cam-pu-chia được quốc tế giải quyết vào ba thời điểm cách xa nhau: Lào bằng Hiệp định Genève năm 1962, Việt Nam bằng Hiệp định Paris năm 1973, và Cam-pu-chia bằng Hiệp định Paris năm 1991. Mặc dù những đặc tính khác biệt đó, gọi cuộc chiến tranh 1955-1975 là chiến tranh Đông Dương lần thứ hai cũng vẫn đúng trong ý nghĩa tổng quát của chiến trường.


Trong trường hợp Việt Nam, vấn đề gọi tên cuộc chiến sau hiệp định Genève 1954 đã được tranh cãi dai dẳng cho đến nay, ba mươi năm sau chiến tranh, vẫn chưa đạt được đồng thuận. Những quan điểm bất đồng được xoay quanh nhiều tên gọi: chiến tranh chống cộng, chiến tranh chống Mỹ- Nguỵ, nội chiến, chiến tranh của Mỹ, chiến tranh Việt Nam, chiến tranh uỷ nhiệm. Bỏ qua một bên chiến tranh "chống cộng" và "chống Mỹ- Nguỵ " chỉ thích hợp trong thời chiến, ở đây chỉ cần thảo luận về bốn tên gọi còn lại thường được tranh cãi nhiều nhất.


Cuộc chiến 1955-1975 ở Việt Nam được gọi là nội chiến vì sau khi đất nước bị chia đôi, chính quyền miền Bắc đã để lại cán bộ, chôn dấu vũ khí và hoạt động bí mật đàng sau các phong trào tranh đấu ở miền Nam; trong khi đó, chính quyền Ngô Đình Diệm cũng phát động chiến dịch tố cộng sâu rộng và mãnh liệt. Đảng cộng sản phản công bằng những hành động khủng bố và ám sát các viên chức Việt Nam Cộng Hoà. Đầu năm 1959 thì miền Bắc bắt đầu mở đường xâm nhập bộ đội và vũ khí vào miền Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh và phát động công cuộc đấu tranh vũ trang với phong trào "Đồng khởi".


Năm 1960, Mặt trận Giải phóng miền Nam ra đời được miền Bắc hỗ trợ kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang ở các tỉnh miền Nam. Năm 1963, sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, tình hình chính trị và quân sự ở miền Nam càng ngày càng tồi tệ dẫn đến việc Mỹ quyết định đưa quân vào yểm trợ quân đội VNCH nhưng thực tế nắm vai trò chủ động. Đây là giai đoạn "Mỹ hoá" cuộc chiến cho tới năm 1969 thì chính quyền Nixon trở lại chương trình "Việt Nam hoá" chiến tranh và bắt đầu rút quân về nước. Trận chiến quốc-cộng tiếp tục cho tới khi miền Nam hoàn toàn sụp đổ vào tháng Tư 1975.


Cuộc nội chiến vì lý tưởng khác biệt, cộng sản và không cộng sản, có mầm mống từ những năm cuối thập kỷ 1920 khi Việt Nam Quốc Dân Đảng do Nguyễn Thái Học cầm đầu được thành lập năm 1927 và Đảng Cộng Sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Hong Kong năm 1930. Sự khác biệt ban đầu về chủ trương chỉ trở thành đối nghịch (nhưng chưa giết hại nhau) sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái của VNQDĐ bị thất bại năm 1930 và phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh của ĐCSVN bị Pháp dẹp tan năm 1931 khiến những người còn sống sót của hai đảng đều phải bỏ chạy sang Tàu.


Vì sống chung dưới chính thể Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch, các đảng viên cộng sản Việt Nam đều phải hoạt động âm thầm trong khi các lãnh tụ không cộng sản thì hoạt động công khai với sự giúp đỡ của Trung Hoa Quốc Dân Đảng (THQDĐ), một số còn được đào tạo tại trường quân sự Hoàng Phố ở Quảng Châu và lên đến cấp tướng trong quân đội Trung Hoa.


Nhược điểm của các đảng phái quốc gia là không có tổ chức qui củ và đường lối minh bạch, chỉ trông cậy vào sự che chở của THQDĐ để chống Pháp trong khi Trung Hoa dù không ưa Pháp nhưng đang là đồng minh của Pháp chống Nhật ở Đông Dương. Các lãnh tụ quốc gia lại không đoàn kết được với nhau trong khi không có hoạt động gì đáng kể ở trong nước.


Tình trạng đó kéo dài cho đến khi THQDĐ quá thất vọng với các phe nhóm quốc gia nên đã giúp cho Hồ Chí Minh đại diện Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội đưa người về Việt Nam tăng cường hoạt động chống Nhật năm 1944. Nhân dịp này Hồ Chí Minh củng cố được Mặt Trận Việt Minh thành lập từ năm 1941.


Cuộc tranh chấp giữa các đảng phái quốc gia và Việt Minh trở thành những cuộc thanh toán đẫm máu giữa đôi bên trong năm 1946 và lực lượng quốc gia đã bị tiêu diệt gần hết trước khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ trên toàn quốc vào cuối năm đó. Việt Minh hoàn toàn lãnh đạo cuộc chiến chống Pháp và cuộc xung đột quốc-cộng chỉ tái diễn chính thức và qui mô sau khi đất nước bị chia đôi và chính thể Việt Nam Cộng Hoà được thành lập ở miền Nam.


Mặc dù cuộc xung đột 20 năm giữa những người Việt Nam cộng sản và không cộng sản đã rõ ràng là một cuộc nội chiến có gốc rễ sâu xa, tên gọi này vẫn không được giới lãnh đạo miền Bắc chấp nhận. Để xây dựng và bảo vệ chính nghĩa của mình, nhà nước cộng sản đã gọi cuộc chiến này là chiến tranh chống Mỹ cứu nước hay chiến tranh chống Mỹ- Nguỵ. Sau chiến tranh, vì nhu cầu bang giao, thì gọi là chiến tranh của Mỹ hay do Mỹ gây ra (American war), nhất là trong trường hợp sử dụng tiếng Anh. Cách gọi "American war" còn có ngụ ý nhắc nhở lỗi lầm của Hoa Kỳ và phủ nhận cách gọi của người Mỹ là "Vietnam war" (chiến tranh Việt Nam).


Trong một cuộc trao đổi ý kiến gần đây giữa một số học giả quốc tế gồm cả người Mỹ và Mỹ gốc Việt, có người đã dùng tên gọi "American war" để chỉ định cả hai cuộc chiến trong thời gian từ 1945 đến 1975, vì ngoài việc viện trợ và tham chiến trực tiếp trong cuộc chiến lần thứ hai, chính phủ Mỹ đã viện trợ tiền bạc và vũ khí cho Pháp trong suốt cuộc chiến lần thứ nhất. Nhưng nếu đặt tên chiến tranh bằng tên của quốc gia viện trợ thì cũng phải gọi tên cuộc chiến này là chiến tranh của Liên Xô và Trung Quốc vì hai nước này đã viện trợ kinh tế và quân sự rất quan trọng cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.


Cũng hiểu theo cách rộng rãi như thế thì cuộc chiến lần thứ hai phải được gọi là chiến tranh của Mỹ và các đồng minh Úc, Tân Tây-Lan, Đại Hàn, Phi- Luật-Tân và Thái Lan. Bởi vậy không nên đặt tên chiến tranh bằng tên của những quốc gia viện trợ hay dự phần vào cuộc chiến, mặc dù có lý do chính đáng để gọi giai đoạn Mỹ hoá chiến tranh (1965-1972) là "American war".


Cũng nên ghi nhận là Mỹ bắt đầu rút quân từ 1969, và tên gọi "Vietnam war" chỉ có nghĩa là chiến tranh ở Việt Nam chứ không phải là "Vietnamese war" tức là chiến tranh của Việt Nam hay do Việt Nam gây ra.


Đáng chú ý là phần lớn các tổ chức chính trị trong cộng đồng người Việt hải ngoại cũng không chấp nhận tên gọi cuộc chiến 1955-1975 là "nội chiến", khẳng định rằng đây là cuộc chiến của dân tộc Việt Nam chống lại chủ nghĩa và chế độ cộng sản độc tài.


Như trên đã nói, đây là cách gọi tên theo lập trường chính trị chẳng khác gì phía cộng sản đã gọi đây là cuộc chiến tranh nhân dân chống nguỵ quân nguỵ quyền. Những tên gọi này chỉ có giá trị nhất định đối với mỗi bên trong những năm đang có chiến tranh mà thôi.


Sau hết, cần bàn về "chiến tranh uỷ nhiệm". Tên gọi này phản ánh một sự thật hoàn toàn khách quan nhưng không một quốc gia tham chiến nào, trực tiếp hay gián tiếp, muốn chấp nhận nó để phải mang tiếng xấu.


Gọi là uỷ nhiệm vì từ cuộc xung đột về ý thức hệ, hai phe Việt Nam đã bị các cường quốc lãnh đạo hai khối tư bản và cộng sản sử dụng như những công cụ đua tranh thế lực trong thời Chiến tranh Lạnh. Hoa Kỳ đã dùng chiến trường Việt Nam để thí nghiệm và tiêu thụ các loại vũ khí kể cả chất độc da cam, trong khi Liên Xô và Trung Quốc đã nhiệt tình giúp đỡ và thúc giục Bắc Việt tận lực hi sinh và chiến đấu trường kỳ.


Các quan sát viên quốc tế hồi đó đã có một nhận xét rất đúng về dụng ý của Trung Quốc khi viện trợ cho Việt Nam: "Trung Quốc đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng."


Quả thật, giải pháp chấm dứt chiến tranh Đông Dương đều do các nước lớn sắp đặt sẵn với nhau rồi ép buộc đồng minh Việt Nam, cộng sản hay quốc gia, phải chấp thuận.


Các nhà ngoại giao Hà Nội tại những phiên họp hậu chiến Việt-Mỹ từ 1995 đến 1998 cũng như các sách vở lịch sử ở Việt Nam đều xác nhận điều này. Cố ngoại trưởng Trần Văn Đỗ cũng than phiền rằng tại hội nghị Genève 1954, Pháp đã không cho phái đoàn quốc gia biết cuộc thảo luận của các nước lớn về việc chia cắt Việt Nam và ông đã được Phạm Văn Đồng mời họp riêng để tìm giải pháp giữa hai bên người Việt với nhau nhưng không thực hiện được. Nhờ mâu thuẫn Liên Xô-Trung Quốc, nhờ phong trào phản chiến rầm rộ của dân chúng Mỹ và lợi thế chính trị đặc biệt sau khi Tổng thống Johnson tuyên bố không tái ứng cử năm 1968, Việt Nam cộng sản đã tránh được sự áp đặt của "các nước bạn" trong tiến trình hội nghị "hai phe bốn phái đoàn" ở Paris (1968-1973).


Như vậy, sau khi đã gạn lọc lập trường chính trị của mỗi bên để xác định bản chất thật sự của nó trong lịch sử, cuộäc chiến 1955-1975 phải được gọi là một cuộc nội chiến đồng thời là chiến tranh uỷ nhiệm.


Con dân một nước cùng một dòng giống-thực tế thì hầu như gia đình nào cũng có bà con gần hay xa ở phía bên này hay/và bên kia- đã tàn sát lẫn nhau ít nhất là trong hai mươi năm, vì lý tưởng khác nhau mà không hoàn toàn do mình chủ động.


Tổng số người Việt Nam thiệt mạng riêng trong cuộc chiến này, kể cả quân và dân của cả hai bên, lên tới gần bốn triệu người. Riêng bộ đội cộng sản còn có khoảng 300,000 người chưa tìm được xác. Đất nước và tài sản của dân chúng cả hai miền đều bị chiến tranh tàn phá đến mức độ chưa từng thấy trong lịch sử, cho đến nay vẫn còn những di hại của bom, mìn chưa nổ và chất thuốc khai quang.


Trong chiến tranh uỷ nhiệm, phía Việt Nam quốc gia phải chịu sức ép của đồng minh Hoa Kỳ cho tới những ngày chót của hội nghị Paris. Từ 1965, Hoa Kỳ hoàn toàn lãnh đạo cuộc chiến cho tới 1969 mới bắt đầu giai đoạn chuyển tiếp Việt Nam hoá chiến tranh, nhưng vẫn nắm quyền định đoạt các phương tiện chiến đấu, không theo nhu cầu của giới chỉ huy quân sự Việt Nam.


Từ sau hiệp định Paris 1973 thì Quốc Hội Hoa Kỳ lại mạnh tay cắt giảm viện trợ kinh tế và quân sự khiến cho miền Nam phải sụp đổ mau chóng hơn cả kế hoạch dự liệu của các chiến lược gia Hà Nội.


Trong khi đó, mặc dù khéo khai thác mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc để được cả hai đồng minh lớn đua nhau viện trợ, Việt Nam cộng sản cũng không tránh khỏi áp lực của mỗi "nước bạn", nhất là sự kiểm soát và ngăn chặn của Trung Quốc đối với những toan tính ngoại giao độc lập của Việt Nam. Hà Nội dứt khoát đi với Liên Xô khi ký Hiệp ước Hợp tác và Hữu Nghị với Aleksei Kosygin vào tháng Mười Một năm 1978 và gần như hoàn toàn trông cậy vào viện trợ của Liên Xô cho đến khi Mikhail Gorbachev và những chính quyền kế tiếp không còn có mối quan tâm chiến lược ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.


Người Việt Nam cộng sản và không cộng sản đều đã có quá nhiều kinh nghiệm về quan hệ hợp tác với các đồng minh của mình để thấy rằng đồng minh nào cũng chỉ ủng hộ một nước bạn chừng nào sự ủng hộ ấy phù hợp với lợi ích riêng của họ chứ không phải vì cùng theo đuổi một lý tưởng chung.


Sau chiến tranh, bài học ấy có thể là một động cơ cho phe thắng trận tập hợp được khả năng của toàn dân vào công cuộc tái thiết và phát triển đất nước thời hậu chiến. Nhưng chính sách sai lầm của các nhà lãnh đạo miền Bắc đối với miền Nam đã làm tê liệt những đóng góp quan trọng của một nửa dân số toàn quốc trong mười mấy năm cho đến đầu thập kỷ 1990 mới thực sự chuyển hướng.


Riêng đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nhà cầm quyền trong nước đã sớm nhận ra khả năng đóng góp to lớn của tập thể này vào công cuộc phục hồi kinh tế cũng như những tiềm năng trí tuệ có thể đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.


Thái độ đối với tập thể này thay đổi hẳn, từ việc kết tội người tị nạn là "những kẻ phản bội" đến sự công khai nhìn nhận họ là "một nguồn lực phát triển quan trọng của dân tộc." Tuy nhiên, trong khi kêu gọi cộng đồng hải ngoại dẹp bỏ quá khứ, hướng tới tương lai để cùng chung sức xây dựng và bảo vệ quê hương, Nhà nước vẫn chỉ ban hành những biện pháp cởi mở hạn chế nhằm đáp ứng lợi ích vật chất nhỏ nhặt mà chưa thật tình hoà giải trong tinh thần bình đẳng.


Vì thế những đóng góp chất xám của công dân ngoại quốc gốc Việt chưa vượt qua mức tối thiểu và các phong trào chống đối chính quyền trong các cộng đồng ở hải ngoại vẫn còn rất mạnh.


Lịch sử Việt Nam là một thiên hùng sử của một dân tộc hàng ngàn năm tranh đấu chống ngoại xâm và bảo vệ độc lập cho tổ quốc. Cho đến đầu thế kỷ 20, do ảnh hưởng của Tây phương, các đảng phái quốc gia và cộng sản ra đời cũng đều hoạt động chống đế quốc thực dân để giành lại độc lập. Biết bao nhà cách mạng, cộng sản hay không cộng sản, trí thức hay lao động, đã bị chính quyền Pháp bắt bớ, tù đày và sát hại. Chỉ đến khi tranh giành quyền lãnh đạo dân tộc thì hai bên mới lâm vào cảnh huynh đệ tương tàn và bị các nước lớn sử dụng trong một cuộc chiến tranh uỷ nhiệm.


Trong cuộc chiến này, phe cộng sản vì nhiều lý do đã thắng phe quốc gia nhưng điều đó không có nghĩa là chỉ có kẻ thắng trận mới là người yêu nước. Gần đây, một nhà sử học ở Hà nội đã nhắc đến những nhân vật yêu nước không cộng sản như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, và đã có những nhận định xác đáng: "Chủ nghĩa yêu nước thì khác nhau nhưng lòng yêu nước thì ai cũng có. . . . Tôi nghĩ rằng con người rất phức tạp, hoàn cảnh lịch sử càng phức tạp. Nếu chúng ta không đánh giá lòng yêu nước rạch ròi, chúng ta sẽ ngộ nhận, chúng ta sẽ độc quyền yêu nước."


Ba mươi năm sau chiến tranh, đã đến lúc chính quyền trong nước và cộng đồng hải ngoại cần phải nhận ra thực chất của cuộc chiến, ôn lại những bài học quá khứ và nhìn nhận nhau với những trao đổi bình đẳng hai chiều để có thể cùng góp công xây dựng một nước Việt Nam giàu, mạnh và dân chủ, hội nhập thành công vào cộng đồng thế giới và có đủ khả năng đối phó với những đe doạ mới từ phương Bắc.


Giữa hai bên, những bước đầu tiên cần phải được thực hiện bởi chính quyền trong nước một cách thật tình và cụ thể. Một khi thiện chí ấy đã được chứng tỏ, cộng đồng hải ngoại cũng cần phải đáp ứng tích cực.


Trở lại vấn đề gọi tên cuộc chiến 1955-1975, để các phe liên hệ có thể vượt lên khỏi những ám ảnh tiêu cực của quá khứ và chấm dứt những cuộc tranh luận do tình cảm chủ quan, cuộc chiến này nên được gọi đơn giản là "chiến tranh Việt Nam" với ý nghĩa khách quan phi chính trị là chiến tranh xảy ra trên đất nước Việt Nam. Nội dung phức tạp của nó sẽ được lịch sử ghi chép một cách đầy đủ và trung thực.



Lê Xuân Khoa


Về tác giả: Giáo sư Lê Xuân Khoa là cựu Chủ tịch Trung Tâm Tác Vụ Ðông Nam Á (SEARAC) và là giáo sư thỉnh giảng tại trường Cao học Nghiên cứu Quốc tế thuộc Ðại học Johns Hopkins, Washington, D.C.


Tác phẩm nghiên cứu của ông, "Việt Nam 1945 - 1995: Chiến tranh, tị nạn, bài học lịch sử", đã ra mắt tập Một vào năm ngoái.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Thi Vẽ Táo

Một hôm THƯỢNG ĐẾ buồn quá mới tổ chức ra cuộc thi vẽ táo giữa Adam và Eva.

THƯỢNG ĐẾ:
- hai con hãy vẽ táo thế nào mà nhanh nhất, đẹp nhất, ta sẽ cho xuống trần gian. Bắt đầu đi.

Adam và Eva cùng vẽ. Để cho mau, cả hai nhúng mông mình vào thùng màu, sau đó họ chấm mông vào trang giấy, thế là có hai quả táo.

THƯỢNG ĐẾ:
- Táo của hai con đều đẹp, nhưng giải thưởng thuộc về Adam.

EVA:
- Sao vô lý thế ạ?

THƯỢNG ĐẾ:
- Cái tính hay nạnh, ngu thế, táo của con vẫn bị thiếu, chứ con không thấy táo của Adam có thêm cái cuống nữa à.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Thứ tư, 24/8/2005, 11:18 GMT+7
Trái cây và khuôn ngực Nếu bạn nghĩ rằng trái cây và khuôn ngực người phụ nữ không hề có mối liên hệ nào là nhầm to đấy. Trắc nghiệm dưới đây sẽ đem đến cho bạn những so sánh và kết luận thú vị.

ImageImageImageImageImageImageImage
To tròn Dưa gang

Bạn là người rất thích ăn uống và muốn được người khác ngưỡng mộ, thán phục. Bạn không thích sự lãng mạn, tình cảm.

Vừa phải, chắc và tròn Bưởi

Bạn thuộc tuýp người đa tình, lãng mạn nhưng lại nhút nhát, hay mắc cỡ, thích sự nhẹ nhàng. Bạn dễ dàng thu phục người đối diện bởi tính cách đặc biệt này.

Nhỏ, chắc và tròn Cam

Bạn là người rất tự tin và biết rõ những việc mình làm. Bạn thích được tranh luận và hoà hợp với người ấy trong chuyện tình cảm.

To, hình oval Dứa

Bạn là người rất thông minh, chung thuỷ, thích sự lãng mạn. Ai muốn chinh phục bạn chắc sẽ mất nhiều công sức và thời gian. Bạn cũng là người coi trọng sự nghiệp.

Vừa phải, đứng Chanh

Bạn thuộc dạng người vui vẻ, yêu đời, có thể cười nói suốt ngày. Bạn muốn có một cuộc sống giản dị, không thích sự bất ngờ.

Hơi xệ Lê

Bạn yêu điều kỳ diệu của tình yêu. Bạn thuộc dạng người sùng đạo, tin có thần linh bởi bạn e ngại khi cuộc sống có nhiều điều bí ấn.

Nhỏ Sơ-ri

Bạn là người vui tính, năng động, thông minh và hoạt bát. Bạn luôn tạo cho cuộc sống của mình sự vui vẻ, thoải mái, thú vị.

(Theo Thời Trang Trẻ)
vnexpress

Post Reply