Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Một mồm hai lỗ của Nguyễn Phú Trọng và những ngòi bút bẻ cong, những đỉnh cao bợ đỡ

Vũ Đông Hà
(Danlambao) - Vào tháng 5, 2015 khi Nguyễn Tấn Dũng còn đang ở thế thượng phong, Nguyễn Phú Trọng tuyên bố "Bí thư kiêm chủ tịch thì to quá, ai kiểm soát ông?". Tháng 10, 2018, Nguyễn Tấn Dũng đã rớt xuống ruộng làm "người tử tế", Nguyễn Phú Trọng leo lên nóc nhà đại hội 8 giơ tay đồng thuận cho chính mình để có đúng con số 100% BCHTƯ nhất trí đồng ý với ông "Bí thư kiêm chủ tịch to quá"!

Cái mồm "to quá" của 2015 và cánh tay làm tròn con số "100%" của 2018 tự khẳng định: Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng là một tên cộng sản láo khoét, Bắc kỳ có lý luận... lật lọng và say mê, tham vọng quyền lực.

Nếu lấy câu "Bí thư kiêm chủ tịch thì to quá, ai kiểm soát ông?" làm "khuôn vàng thước ngọc" thì tất cả những bài viết, phát biểu của những kẻ được cho (hay tự cho) là trí thức, chuyên gia ủng hộ Nhất Thể Hoá chính là những kẻ chống NPT-2015. Nhưng NPT-2015 khác với NTP-2018. Cũng cái mồm nhưng khác chất thải. Cũng chiếc ghế TBT nhưng khác ở sức mạnh quyền lực.

Do đó, mọi lý luận, diễn giải ủng hộ cho Nhất Thể Hoá chỉ là những nguỵ biện, xảo trá, khiên cưỡng nhằm để thực hiện mục tiêu: bưng bô cho NPT-2018 ngồi vào cái "to quá" mà NPT-2015 đã từng lắc đầu nguầy nguậy.

Mao Trạch Đông từng khinh miệt: "trí thức không bằng cục phân". Câu này quá đáng khi cào bằng mọi trí thức theo đúng nghĩa của nó. Nhưng nếu áp dụng vào những "trí thức XHCN" và "trí thức CS" thì cục phân cũng phải vươn mình lên hố xí để giơ tay nhất trí đồng ý: tụi nó không bằng chúng em!

Thế nhưng, ở đất nước sẽ mang tên mới "Bán" cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt cộng, những thứ không bằng cục phân đã trở thành "bên thắng cuộc". Sau khi đóng chặt phòng với 99% cùng nhau hãi hùng với phù thuỷ bắt ấn quan tài, với 1% tự sướng nhìn xuống đám âm binh, sau khi "to quá" đã vào tay ta, cánh cửa WC Ba Đình được mở tung và các lâu la của ông "to quá" xếp hàng leo lên đỉnh cao bợ đỡ để bưng lên đầu cái bô nhất thể:

"100% UVTƯ thống nhất giới thiệu TBT Nguyễn Phú Trọng để QH bầu giữ chức vụ CTN chính là thể hiện "ý đảng, lòng dân".

"Nó thể hiện được lòng dân, các Ủy viên Trung ương chắc chắn đã thâm nhập vào tâm tư nguyện vọng đời sống của cán bộ đảng viên ở địa phương mình và trên cả nước và thể hiện mong muốn đó qua lá phiếu của mình."

"Đến lúc này theo như những bình luận và thu thập ý kiến ở nhiều nơi, nhân dân và các cán bộ và Đảng viên ai cũng cho rằng việc TBT làm CTN là thích hợp. Thời gian qua Tổng Bí thư đã có nhiều đóng góp cống hiến, thể hiện phẩm chất đạo đức của mình, xứng đáng vào vị trí đấy".

Những cái bô này tự nó bốc mùi, tự nó diễn đạt mùi "hương" Ba Đình. Không cần phải vô công rồi nghề để bình luận độ thối của nó. Chỉ bịt mũi, nín thở và kết luận:

Nguyễn Phú Trọng không chỉ là kẻ đứng đầu quyền lực của một đảng cướp; Trọng còn là biểu tượng của dối trá, lưu manh; là thủ lãnh của một bầy đàn có phẩm chất không bằng sản phẩm cuối cùng của quá trình tiêu hóa thông qua hậu môn. Và Tớ sao thì Chủ vậy. Phẩm chất của Nguyễn Phú Trọng cũng nằm trong đoạn cuối của quy trình xả thải. Nhưng vĩ đại hơn, nồng mùi hơn vì là... ông "to quá".

05.10.2018

Vũ Đông Hà

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Image


Phải sử dụng chính danh: “Đảng tang chứ không phải Quốc tang”!
Âu Dương Thệ
(Danlambao) - Nguyên Tổng Bí Thư Đỗ Mười vừa mất ở tuổi 101, hiếm có! Làm người ai cũng phải chết, đó là luật tạo hóa. Nhưng khi sống và nắm quyền thì Đỗ Mười làm gì, có làm lợi cho nhân dân và đất nước không, hay chỉ bo bo lo cho đảng? Suốt từ thập kỷ 70 của thế kỷ trước Đỗ Mười đã giữ nhiều chức vụ quan trọng, từ Phó Thủ tướng, Thường trực Ban bí thư trung ương, Thủ tướng, Tổng bí thư và làm Thái thượng hoàng chỉ huy Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh. Các “thành tích” của ông là: Cúi đầu thần phục Bắc Kinh tại Hội nghị Thành Đô 1990, phá tan hoang kinh tế tư nhân miền Nam và đày ải hàng triệu tư thương và gia đình phải đi các vùng rừng thiêng nước độc làm “kinh tế mới”, đòi phải để Doanh nghiệp nhà nước làm chủ đạo toàn bộ huyết mạch kinh tế và giành ưu đãi cho các Tập đoàn và Tổng công ti Nhà nước tự do bòn rút ngân sách quốc gia!

Tất cả những chủ trương này của Đỗ Mười là chỉ nhằm phục vụ và bảo vệ độc quyền cho Đảng Cộng sản, trong đó đặc biệt là thành phần bảo thủ cực kỳ giáo điều; bất kể những nguy hại cho nhân dân, tụt hậu của đất nước và nguy cơ lệ thuộc phương Bắc. Những việc làm của Đỗ Mười trong suốt mấy thập niên vừa qua chỉ có lợi cho nhóm độc tài giáo điều CS, nhưng hoàn toàn bất lợi cho nhân dân và và nguy hiểm cho tổ quốc. Vì thế Đỗ Mười không xứng đáng để hưởng “quốc tang”. Để cho chính danh Nguyễn Phú Trọng không được lạm quyền, chỉ được phép tổ chức “Đảng tang” cho Đỗ Mười!

Dưới đây là trích một phần viết về một số hoạt động của Đỗ Mười trong tập sách của tác giả sẽ xuất bản:

“Tại sao sau 32 năm “đổi mới” ĐCS đang bị biến thể thành các nhóm tham nhũng quyền lực và tiền bạc và xâu xé nhau?

Viễn tượng chuyển thành độc tài cá nhân như thế nào?

***

Đỗ Mười cực kỳ giáo điều và vô kiến thức nắm ghế Tổng bí thư

Toàn bộ văn kiện Báo cáo Chính trị Đại hội (ĐH) 7 (6.1991) phản ảnh trung thực cả trình độ nhận thức và khả năng ý thức trách nhiệm như thế nào của nhóm cầm đầu toàn trị. Nó chứng minh rõ ràng về sự thiếu kiến thức căn bản nên không thể có tầm nhìn cần thiết để hiểu được lòng dân và biết được trào lưu quốc tế chính của thời đại. Vì thế họ lại bỏ lỡ một cơ hội tốt cả cho đảng lẫn đất nước. Việc quay lại với quan điểm và lập trường cực kỳ bảo thủ chứa đựng trong các văn kiện chính của ĐH 7 cho thấy, những cán bộ đảng viên muốn có đổi mới, dù chỉ là nửa vời, đã mất hậu thuẫn trong đảng; các thành phần giáo điều bảo thủ nắm thượng phong trở lại.

Trong điều kiện đó Nguyễn Văn Linh, con người ba phải, không còn chỗ đứng. Thứ nhất là lý do sức khỏe. Đỗ Mười cho biết, trong suốt nhiệm kỳ 5 năm (1986-91) một nửa thời gian ông Linh đã bị ốm đau, phần lớn thời gian ông làm việc ở ngay Sài gòn chứ không ở trụ sở Trung ương đảng(TUĐ) ở Hà nội như các Tổng bí thư (TBT) từ trước tới nay. Nhiều khi các cuộc họp của Bộ Chính trị (BCT) cũng được tổ chức ở Sài gòn, nhiều cuộc tiếp khách quốc tế của ông Linh cũng diễn ra ở đây. Thậm chí nhiều chuyến đi nước ngoài ông Linh đã cho chuyên cơ cất cánh và hạ cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất. Trong những dịp như thế các ủy viên BCT và Ban bí thư (BBT) không thể thường xuyên và đông đủ tới chào và tiễn người cầm đầu chế độ. Điều này trái với thông lệ và gây khó khăn không chỉ trong làm việc, mà còn cả trong dư luận. Vì thế báo đài trong thời gian này đã cố tình đưa tin tiễn-đón Nguyễn Văn Linh hoàn toàn sai. Việc này chính tờ Đoàn kết, tờ báo của “Hội Việt kiều yêu nước” của Hà nội ở Pháp, cũng đã xác nhận.

Ngoài trở ngại sức khỏe, tính tình thiếu cương quyết và bất định của Nguyễn Văn Linh cũng không tạo lợi thế cho ông trong giai đoạn đảng đang rơi vào hoàn cảnh sợi chỉ treo ngàn cân như từ cuối thập niên 80. Đây là thời gian dụng võ của những người bảo thủ kiên định. Vì thế vào giai đoạn cuối nhiệm kỳ của Nguyễn Văn Linh, vai trò của Đỗ Mười ngày càng nổi bật, như trình bày ở trên. Tuy đối với bên ngoài cho tới những ngày chót trước khi khai mạc ĐH 7, Nguyễn Văn Linh vẫn là người đứng đầu. Mãi tới ngày thứ 2 của ĐH trên trang nhất tờ Nhân dân đăng hai ảnh lớn song song của Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười đang gặp các đại biểu dự ĐH 7. Điều này là chỉ dấu về sự thay nhân sự ở cấp cao nhất.

Mãi ngày thứ ba (26.6) 1176 đại biểu về dự ĐH mới bầu 146 ủy viên TUĐ (không có ủy viên dự khuyết) và sau đó Ban Chấp hành trung ương (BCHTU) mới bầu BCT và BBT. Nhưng báo và đài chưa được lệnh đưa tin kết quả. Mãi tới buổi chiều ngày cuối 27.6 dưới sự chủ tọa của Lê Đức Anh mới công bố TBT, BCT và BBT mới. Trong diễn văn bế mạc tân TBT Đỗ Mười (1917) mới thông báo, Nguyễn Văn Linh (1915) và Võ Chí Công (1912) đã không ứng cử vì “tuổi cao, sức yếu” và làm “Cố vấn BCHTU” cùng với Phạm Văn Đồng. Buổi sáng cùng ngày Đào Duy Tùng đã đọc kết quả các văn kiện chính đã thông qua tại ĐH 7, như “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội (CNXH)”; trong đó “97% số đại biểu đã nhất trí ruộng đất thuộc quyền sở hữu toàn dân” và “89,7% số đại biểu nhất trí “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí minh (HCM) làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Các kết quả bỏ phiếu như thế đã nói rất rõ tư duy và trình độ của ĐH như thế nào. Ngoài Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Đào Duy Tùng là những người nổi trội trong các ngày họp ĐH. Võ Văn Kiệt không đóng vai trò chính.

BCT khóa 7 gồm 13 người, đứng đầu Đỗ Mười. Những người chính đã trên hoặc xấp xỉ 70 (tuổi chính thức): Đỗ Mười (1917), Lê Đức Anh (1920), Võ Văn Kiệt (1922), Đào Duy Tùng (1924), Đoàn Khuê (1923). Người trẻ nhất và lần đầu tiên được vào BCT là Nông Đức Mạnh cũng vừa 51 tuổi (1940). Như vậy cho thấy nhân sự chính Khóa 7 chỉ đóng vai giao thời. Điều rất đáng chú ý là cách đưa tin rất tùy tiện về tiểu sử của tân TBT Đỗ Mười. Trong đó các hoạt động và chức vụ của ông được ghi chi tiết cho tới ĐH 3 (1960); nhưng từ ĐH 4 (1976) chỉ ghi rất tóm lược, hoàn toàn không nhắc tới các chức vụ như “Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa (XHCN), phụ trách vấn đề cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam” Có phải như vậy là cố tránh những dư luận rất ác cảm với Đỗ Mười. Trong hơn hai thập niên làm Phó thủ tướng phụ trách các lãnh vực kinh tế, nếu không phải là thủ phạm, thì ít ra ông là người chỉ đạo trực tiếp các mô hình kinh tế cứng nhắc XHCN các thập niên 60 ở miền Bắc và từ 1975 trên toàn quốc và đã đưa tới những hậu quả vô cùng khốc hại cho dân và nước!...

Hội nghị Đại biểu toàn quốc 1. 1994: Phe giáo điều được tăng cường cả trong BCT lẫn BBT

Chỉ một năm sau ĐH 7 đã có hai thay đổi nhân sự quan trọng trong BBT. Tại Hội nghị trung ương (HNTU) 3 (6.92) Ủy viên BCT Nguyễn Đức Bình kiêm nhiệm Bí thư TU và Thượng tướng Lê Khả Phiêu cũng được bầu bổ túc vào Ban này, một cơ quan triển khai hàng ngày các quyết định của BCT. Việc đề cử hai nhân vật này cho thấy một số chiều hướng, cả hai người này đều thuộc khuynh hướng giáo điều bảo thủ ở TU. Trong khi Nguyễn Đức Bình được coi là thân tín của Đỗ Mười thì ông Phiêu đã từng nhiều năm dưới quyền trực tiếp của tướng Lê Đức Anh khi ông cầm đầu quân đội VN chiếm đóng Campuchia. Đặc biệt nay ông Bình phụ trách công tác tư tưởng-văn hóa, tức là chiến lược gia trong BCT; có chân cả trong hai cơ quan cao nhất lo hoạch định, quyết định và thi hành các chính sách của Đảng về lãnh vực tư tưởng, cho thấy vai trò của ông đang lên và thế của phe bảo thủ trong hai cơ quan này lại càng mạnh thêm. Đáng lưu ý nữa là Nguyễn Đức Bình không ưa Võ Văn Kiệt. Ông từng được BCT giao chức “cố vấn” cho Võ Văn Kiệt trong chuyến đi Âu châu của ông Kiệt vào cuối tháng 6.1993, tức là kiểm soát các tuyên bố của ông Kiệt. Ít năm sau Nguyễn Đức Bình đã từng ám chỉ Võ Văn Kiệt thuộc thành phần “cơ hội chính trị” tìm cách gây uy thế ở miền Nam.

Chiều hướng gia tăng ảnh hưởng của cánh giáo điều càng gia tăng với cao điểm là Hội nghị Đại biểu Toàn quốc vào cuối tháng 1.1994. Tại HNTU 6 “kéo dài” (17-18.1.1994) để chuẩn bị cho Hội nghị Đại biểu toàn quốc có 4 người được bầu bổ túc vào BCT là Lê Khả Phiêu, Nguyễn Mạnh Cầm (bộ trưởng Ngoại giao), Đỗ Quang Thắng và Nguyễn Hà Phan. Trong đó ba người đang có chân trong BBT là các ông Phiêu, Thắng (Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra TU) và Phan (Trưởng ban Kinh tế TU kiêm Phó chủ tịch Quốc hội (QH)). Trong số này Nguyễn Hà Phan cũng thuộc thành phần bảo thủ. Ngược lại, Hội nghị đã cách chức Vũ Ngọc Hải ra khỏi TUĐ và Bộ trưởng Năng lượng với lý do dính lýu vào vụ tham nhũng trong công trình “đường dây 500kV”, một công trình trọng điểm của Võ Văn Kiệt để chuyển điện từ Thủy điện Hòa bình từ miền Bắc vào miền Nam. Ông Hải (sinh năm 1931) là kỹ sư điện, Ủy viên trung ương (UVTU) dự khuyết từ khóa 5 và UVTU chính thức từ khóa 6, là người tin cậy của Võ Văn Kiệt, từ nhiều năm làm bộ trưởng Năng lượng và từ 1987 được ông Kiệt giao cho phụ trách các công tác này và bị cách chức từ 9.92 và bị tù 3 năm. Nhưng sau một năm trong nhà tù thì được thả. Trong thời gian ở tù Thủ tướng (TT) Võ Văn Kiệt, Phó TT Phan Văn Khải và nhiều bộ trưởng đã lại trại giam thăm ông; một việc chưa từng thấy dưới chế độ CSVN. Sau khi được tha Vũ Ngọc Hải lại được Võ Văn Kiệt cử làm “Đặc phái viên của TT”. Đây là một trường hợp hiếm có, nó nói lên sự phản đối của Võ Văn Kiệt đối với các đồng liêu trong BCT.

Nhân sự cấp cao thay đổi theo thế thượng phong cho phe bảo thủ, điều này tạo dấu ấn rất rõ trong các đường lối lớn tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc được tổ chức từ 20-25.1.1994, chỉ trước Tết Giáp Tuất ít ngày. Đây cũng là Hội nghị Đại biểu toàn quốc lần đầu tiên của ĐCSVN từ khi được thành lập 1930 với 647 đại biểu tham dự. Trong số 4 nhân vật chính là cái đinh của Hội nghị là TBT Đỗ Mười, CTN Lê Đức Anh, TT Võ Văn Kiệt và Thường trực BBT Đào Duy Tùng. Trong số này ông Kiệt chỉ là thiểu số.

Hội nghị này đóng một vai trò rất quan trọng, nhằm thẩm định lại tình hình trong đảng và xã hội sau 5 năm “đổi mới” thời Nguyễn Văn Linh, đồng thời nhận định tình hình thế giới sau khi Liên xô và các nước CS Đông Âu tan rã và bình thường hóa quan hệ với TQ. Từ đó đề ra các mục tiêu, đường lối và đề án nhân sự trong thời gian tới. Hội nghị đã nêu ra cảnh báo về “bốn nguy cơ” về chính trị, kinh tế, an ninh và xã hội. Đó là “nguy cơ chệch hướng XHCN”, “nguy cơ tụt hậu xa về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới”, “âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch” và “nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác”. Sau này khi nói tới Hội nghị Đại biểu toàn quốc người ta thường gọi là “Hội nghị về bốn nguy cơ”. Nhưng thực sự phe giáo điều chỉ lo ngại về hai nguy cơ là “nguy cơ chệch hướng XHCN” và nguy cơ về “diễn biến hòa bình”. Trong khi đó thành phần cấp tiến trong Đảng và dư luận xã hội lại quan tâm tới hai nguy cơ cho VN, đó là “tụt hậu về kinh tế” và “nạn tham nhũng” bùng nổ. Những khác biệt này dẫn tới những tranh cãi gay gắt ở trong Trung ương và dư luận trong các năm sau này. Vấn đề quan trọng này sẽ được đề cập tới ở phần sau.

Trong Báo cáo Chính trị (BCCT) của Hội nghị này do TBT Đỗ Mười đọc trong buổi khai mạc sáng 20.1.1994 đã cho biết, lập trở lại các Ban cán sự đảng và đảng đoàn ở các cơ quan Nhà nước và các đoàn thể. Đây là cách gia tăng vai trò kiểm soát của đảng trong các cơ quan chính quyền, QH và các tổ chức xã hội. Lý do được giải thích là, “Trong sáng tác và lý luận, phê bình đã nẩy sinh một số khuynh hướng lệch lạc như phủ nhận thành tựu cách mạng và văn hóa, tách văn nghệ khỏi đường lối chính trị của Đảng, khuynh hướng thương mại hóa, truyền bá văn hóa lai căng, lối sống sa đọa.” Lời lẽ vừa đe dọa vừa xuyên tạc này là nhằm tấn công vào những đòi hỏi của nhiều đảng viên tiến bộ và nhiều chuyên viên và người cầm bút khi ấy đang công khai chỉ trích những sai lầm của ban lãnh đạo mới. Tiêu biểu như Trung tướng Trần Độ, GS Hoàng Minh Chính, GS Phan Đình Diệu, Hồng Hà, Hà Sĩ Phu (TS Nguyễn Xuân Tụ)...

Ngày 25.1.94 trong ngày cuối, Đào Duy Tùng, một ngôi sao chính trị mới rất giáo điều, đã thay mặt Đoàn Chủ tịch trình bày và giải thích một số vấn đề chính đã được Hội nghị thảo luận. Nửa năm sau BBT đã cho mở “Lớp giáo viên Mác-Lênin lớn nhất từ trước tới nay” với 1460 cán bộ để học tập và quán triệt các Nghị quyết của Hội nghị Đại biểu toàn quốc và TBT Đỗ Mười đã đọc diễn văn chỉ đạo.

Báo cáo Chính trị trước Hội nghị Đại biểu toàn quốc đã liệt kê những thành tích kinh tế từ ĐH 7; như giảm lạm phát từ 67% (1991) xuống chỉ còn 5,2% (93); sản lượng lương thực 1993 xấp xỉ 25 triệu tấn đã “vượt mức đề ra cho năm 1995”; sản xuất công nghiệp cũng tăng bình quân 13%/năm, “vượt mức đề ra cho năm 1995”; tăng trưởng công nghiệp 13% (kế hoạch 8-10%), kim ngạch xuất khẩu cũng tăng 20%/năm và vốn đăng kí đầu tư của nước ngoài ở VN lên tới 7,5 tỉ USD. Nếu các con số trên chính xác thì mức tăng trưởng cao trong nhiều lãnh vực kinh tế có thể giải thích theo nhiều cách: Một nền kinh tế đã phải trải qua thời gian tăng trưởng âm trong nhiều năm thì khi tăng trưởng dương thường cao; đây là kết quả của chính sách chấm dứt các biện pháp kiềm chế sản xuất ở trong nước và chính sách phong tỏa của Tây phương giai đoạn trước đây.

Như thế phải nói là, chính nhiều chính sách phi XHCN đã giúp kinh tế phát triển nhanh. Có nghĩa là, sự tăng trưởng kinh tế của VN hoàn toàn có thể diễn ra ở mức cao ngay từ sau 1975, nếu mô hình Kinh tế Thị trường được triển khai, thay vì mô hình CNXH. Nhưng điều này đã không diễn ra, vì từ sau 1975 các chính sách từ nông nghiệp, công nghiệp trới thương nghiệp đều theo mô hình XHCN xơ cứng. Trong đó chính Đỗ Mười là một trong những người chính phải chịu trách nhiệm. Chẳng những không dám nhìn nhận những sai lầm căn bản này, trong Báo cáo Chính trị lại ca tụng các thành quả này là sáng tạo của Đảng và đặc biệt trong đó nhờ giữ sự độc tôn tiếp tục cho Đảng: “Đổi mới là sự nghiệp khó khăn, chưa có tiền lệ, nhưng chúng ta đã mạnh dạn tìm tòi, dũng cảm tiến hành và giành thắng lợi rất quan trọng. Nguyên nhân cơ bản nhất, quyết định nhất là Đảng ta đã giữ vững vai trò lãnh đạo, không chấp nhận đa nguyên đa đảng.”

Thổi lên lạc quan này để họ biện minh phải trở lại mô hình đặt trọng tâm trong phát triển công nghiệp. Vì thế trong Báo cáo Chính trị nhóm lãnh đạo đưa ra chủ trương đầy tham vọng là, “thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa... đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới”. Tuy nhiên dịp này Đỗ Mười đã tìm cách đánh tan những nghi ngại còn lởn vởn trong đảng và ngoài xã hội thời sau 1975 cũng từng chủ trương “tiến nhanh tiến mạnh lên CNXH” với đặt trọng tâm phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp nặng, để tới năm 2000 VN sẽ trở thành một nước công nghiệp. Chính khi ấy Đỗ Mười đã được giao thực hiện công tác này, nhưng chỉ ít năm sau tình hình ngành công nghiệp đã trở thành ác mộng. Có lẽ vì thế nên trong Báo cáo Chính trị lần này Đỗ Mười đã trấn an “đương nhiên chúng ta tiến hành công nghiệp hóa không theo kiểu cũ, không lập lại sai lầm nóng vội...”

Nhưng đó chỉ là cách đáng lừa dư luận, dối trá với nhân dân. Vì cũng trong Báo cáo Chính trị Đỗ Mười lại chủ trương, trong thời gian tới phải “cấp bách” tăng cường vai trò của Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) để nó “đảm nhận vai trò chủ đạo”: “Tiếp tục chấn chỉnh và xây dựng khu vực DNNN hoạt động có hiệu quả, đảm nhận được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế là một việc hết sức quan trọng và cấp bách. Vai trò đó thể hiện ở chỗ mở đường và hỗ trợ cho các thành phần khác phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và lâu bền của nền kinh tế, là một công cụ có sức mạnh vật chất để Nhà nước điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.”

Như trên đã trình bày, sự thay đổi nhân sự ở các cấp cao nhất thuận lợi cho cánh giáo điều, nên họ đã tạo những dấu ấn ngay trong các đường lối chính tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc. Các lý luận để DNNN làm chủ đạo và nó sẽ làm cho toàn bộ kinh tế tiến nhanh lên chỉ là lập lại một cách máy móc mô hình phát triển kinh tế XHCN xơ cứng từ thời Stalin ở cựu Liên xô và Mao ở Trung quốc giai đoạn nhẩy vọt. Nhưng đối với những người CSVN giáo điều thì phải công nghiệp hóa nhanh với quốc doanh làm “chủ đạo” thì mới là tiêu biểu và đúng với chủ nghĩa Marx-Lenin.

Quyết định giao cho các DNNN “đảm nhận vai trò chủ đạo” trong kinh tế của Đỗ Mười mang tính cách cực kỳ quan trọng. Từ sau khi đưa ra khẩu hiệu đổi mới từ ĐH 6 đây là lần đầu tiên đã công khai trở lại để DNNN giữ vai “chủ đạo”, tức là nắm quyền sinh sát trong mọi sinh hoạt kinh tế. Đây là cách phục hồi mô hình phát triển kinh tế theo XHCN, trong đó phát triển công nghiệp là trọng tâm. Chủ trương này đã được thực hiện từ ĐH 4 sau khi đất nước thống nhất và nhóm lãnh đạo khi đó quyết áp dụng mô hình phát triển XHCN theo kiểu Liên xô để đưa VN tiến nhanh, tiến mạnh. Khi đó trong vai trò Phó TT chính Đỗ Mười là người chỉ huy và đôn đốc chủ trương này. Điều này còn có nghĩa là, từ Hội nghị Đại biểu toàn quốc tháng 1.1994 phe giáo điều đã toàn thắng trong BCT cho nên họ đã từ bỏ chủ trương nửa nạc nửa mỡ trong kinh tế của ĐH 6.

Quyết định này của Đỗ Mười sẽ có những tác động trực tiếp và lâu dài không chỉ trong kinh tế mà toàn bộ các lãnh vực khác trong xã hội các thập niên tiếp theo. Nó cho thấy, bằng mọi giá nhóm lãnh đạo giáo điều, đứng đầu là Đỗ Mười, một người trình độ học vấn và kiến thức rất thô cạn chỉ muốn chủ quan thực hiện niềm tin riêng của mình bất chấp sự thực và tinh thần khoa học, quyết giữ độc quyền cho đảng!

Đúng ra nếu thông minh và khách quan, biết rút kinh nghiệm thất bại kinh tế của nhiều nước CS, nếu muốn đạt mục tiêu nước giầu dân mạnh thì phải đặt sự phát triển kinh tế VN theo các qui luật của kinh tế thị trường; trong đó qui luật cạnh tranh, vai trò của tư nhân, công nhận quyền tư hữu và một nền pháp luật công minh phải là nồng cốt. Nhưng Đỗ Mười trong thực tế, với các chủ trương để DNNN làm chủ đạo và nắm các huyết mạch chính trong kinh tế thì đúng lại vẫn như con ngựa theo đường cũ!

Quan điểm bảo thủ trở về với mô hình phát triển XHCN như Đỗ Mười nói trong Báo cáo Chính trị tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc cũng được Đặng Xuân Kỳ, con trưởng của cựu TBT Trường Chinh và một trong hai lý thuyết gia của đảng, ủng hộ. Để đề cao thành quả phát triển kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng qua đổi mới ông ta đã không ngại ngùng tô hồng chế độ, nhưng xuyên tạc và tô đen tình hình ở nhiều nước cựu CS Đông Âu vừa chuyển sang dân chủ đa nguyên: “Ở các nước mà chế độ XHCN đã bị lật đổ [Đông Âu], khi cuộc cuồng phong chính trị đã đi qua và chỉ còn để lại những đổ vỡ ngổn ngang và những rối loạn triền miên, những tâm trạng hoang mang dao động xen lẫn bi quan thất vọng, thì VN vẫn đứng vững và vượt lên phía trước. Cái gì là cốt lõi để VN làm được điều đó, để cả thế giới ngạc nhiên và vui mừng? Đó là bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng ta... chính là chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng HCM”.

Vào ngày cuối của Hội nghị Đại biểu toàn quốc đã bầu bổ xung 20 Ủy viên tung ương (UVTU) mới với lý do, một số UVTU đã xin rút lui vì “lý do sức khỏe”, nhưng không thấy nêu tên những người rút lui khỏi UVTU. Trong số những người mới được bầu có một số người đóng vai trò quan trọng về sau này, như Nguyễn Phú Trọng (Tổng biên tập Tạp chí CS), Phan Diễn (Chánh văn phòng TUĐ), Hồ đức Việt, Đào Trọng Lịch.…

Trình độ hiểu biết và thế giới quan của Đỗ Mười

Nhìn một cách tổng thể, có thể thấy rằng, từ ĐH 7 và nhất là từ Hội nghị Đại biểu toàn quốc khuynh hướng giáo điều bảo thủ đã hoàn toàn nắm thượng phong so với ĐH 6. Nói một cách khác, nếu ĐH 6 đổi mới chỉ nửa vời thì nay đã hoàn toàn tắt lịm! Cho nên nguyên tắc đảng lãnh đạo tuyệt đối, nhất là trong lãnh vực tư tưởng, càng được tăng cường hơn và cả trong cách thi hành tỏ ra xảo quyệt hơn. Các biện pháp kiểm soát tư tửơng các chuyên viên và những người cầm bút của những người cầm đầu chế độ tỏ ra gian xảo hơn, nhưng cũng thô bạo hơn. Cơ chế xin-cho đã đựơc áp dụng bằng cách ban phát các chức vị, học hàm viện trưởng, giám đốc, giáo sư, tiến sĩ cho các đảng viên thân tín trong các viện nghiên cứu và đại học. Xuyên qua các phần tử này những ngân sách lớn hàng tỉ đồng cho các công trình nghiên cứu được gọi là “khoa học”, nhưng kỳ thực chỉ là để tìm ra cách minh họa lãnh đạo và bảo vệ chế độ. Trong số này có cả những đề tài nghiên cứu “cấp Nhà nước” về tư tưởng HCM, như đã trình bày.

Tháng 5. 1997 tại “Hội nghị triển khai các chương trình và đề tài khoa học xã hội cấp Nhà nước giai đoạn 1996-2000”, trong tư cách là TBT, Đỗ Mừơi, một người chưa học hết trình độ tiểu học, đã ra lệnh cho những nhà khoa bảng “trí thức XHCN”, trong đó có các viện trửơng, giám đốc và giáo sư các đại học và viện nghiên cứu phải chứng minh “con đường XHCN” là “cơ sở khoa học”, tức là đưa ra kết luận trước khi có chứng minh!: “Những người làm công tác lý luận cần phát triển lý luận cách mạng VN lên một bước mới, chứng minh được con đường XHCN chúng ta đi là cơ sở khoa học và nhất định sẽ thắng lợi.”

Chính sách ban phát địa vị, học hàm và bỏ tiền bạc rộng rãi vào các chương trình nghiên cứu còn là cách mua chuộc để nắm lấy các giới chuyên viên và trí thức. Một thành phần từ khi có “đổi mới” ngày càng muốn cách xa đảng. Chính nguy cơ này nên vài năm sau Nguyễn Khoa Điềm, ủy viên BCT và Trửơng ban Tư tưởng văn hóa trung ương, đã phải báo động: “Nếu Đảng không lãnh đạo được trí thức thì trí thức sẽ nằm trong tay người khác. Công tác khoa giáo nắm bộ phận trí thức khoa học, bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn. Nếu chúng ta nắm được lực lượng này thì sẽ là chỗ dựa trong quá trình xây dựng CNXH. Còn nếu chúng ta để họ rơi vào tay người khác chi phối thì bài học thất bại của Liên xô khiến chúng ta phải suy nghĩ.”

Thái độ ngạo mạn, khinh miệt chuyên viên và trí thức và tinh thần phản khoa học của những người cầm đầu chế độ toàn trị hiện nay cũng vẫn giống hệt như nhóm cầm đầu đảng sau chiến thắng chống Pháp và cai trị miền Bắc 1954. GS Trần Văn Giàu, một nhà khoa bảng hàng đầu của chể độ đã kể rằng, có lần một trong những lãnh đạo chính khi đó đã trả lời cho các “trí thức XHCN” về triết học như sau: “Làm triết học khó gì, các anh cứ xách cặp theo tôi, tôi đi đến đâu, tôi nói cái gì thì các anh cứ nghe, đó là triết học.”

Riêng với Đỗ Mười, một người không có học vấn nhưng chỉ biết trung thành, suốt mấy thập kỷ đã nắm nhiều trọng trách cuối cùng leo lên làm TBT. Nhưng chưa bao giờ ông nhận ra sai lầm, hoặc xin lỗi công khai về những biện pháp làm cho kinh tế quốc doanh bị phá sản và kinh tế tư nhân bị hủy giệt. Cho tới khi làm TBT ông vẫn tin vào mô hình phát triển của CNXH. Tại sao? Thông thường một người có trình độ văn hóa thấp thường hay cả tin và một khi đã tin thì như đinh đóng cột! Đây là tâm lý trung thành mù quáng không dám nghe khác và nói khác. Về tính khí và thái độ của ĐM từ khi ông làm Phó TT, Chủ nhiệm Văn phòng kinh tế Phủ Thủ tướng cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, rồi Phó TT kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa ở miền Nam sau khi VN thống nhất, Thường trực Ban Bí thư khóa VI từ giữa thập niên 80, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1988-91) và từ 1991 trở thành TBT cho tới cuối 1997, sau đó suốt 10 năm trở thành nhân vật điều khiển ở đằng sau TBT Nông Đức Mạnh trong hai nhiệm kỳ.

Suốt trên 4 thập niên, đặc biệt từ giữa thập niên 80, Đỗ Mười đã lãnh đạo trực tiếp hay gián tiếp chính trị VN trên mọi lãnh vực từ chính trị, kinh tế, ngoại giao, an ninh quốc phòng tới văn hóa-xã hội. Suốt trong thời gian rất dài này ông đã lãnh đạo trực tiếp hoặc đứng đằng sau giựt dây và luôn luôn khẳng định những quyết định của mình là đúng, hoặc bắt những người trong phe cánh phải thực hiện những ý kiến của mình. Cụ thể như chủ trương triệt hạ tư thương ở miền Nam sau 1975, dùng Doanh nghiệp Quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong kinh tế, ruộng đất là công hữu, cầu thân với BK từ Hội nghị Thành đô 1990, coi chuyên viên, các nhà khoa bảng và báo chí chỉ là công cụ chỉ giữ vai trò tô hồng và vẽ rồng phượng cho nhóm lãnh đạo. Những đồng liêu nào chống lại đều bị Đỗ Mười trực tiếp hay để vây cánh cách chức, cô lập, như UVBCT Trần Xuân Bách, Phó Chủ tịch QH tướng Trần Độ, bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, TT Võ Văn Kiệt, Lê Khả Phiêu…Trái lại, lại ủng hộ triệt để tướng Lê Đức Anh và Nông Đức Mạnh. Đồng thời Đỗ Mười còn dùng quyền lực và uy tín ngăn cản không để BCT điều tra và thảo luận các vụ tố cáo và khiếu nại của nhiều UVBCT, UVTU về các vụ “Năm Châu, Sáu Sứ”, “Tổng cục 2”, nhất là về hồ sơ lý lịch liên quan tới tướng Lê Đức Anh…

Trong những vụ này Đỗ Mười luôn luôn tìm cách đề cao rất tùy tiện và vô giới hạn các chủ trương và quyết định của mình theo ý muốn rất chủ quan, bất chấp sự thật, nếu cần sẵn sàng nói không thành có, có thành không, miễn là thỏa mãn những khẳng định của mình. Trong đó ông sẵn sàng lợi dụng quyền lực và quyền uy bắt những đồng liêu phải chiều theo ý định của mình. Thái độ bấp chấp sự thực, dựng lên những dối trá, bắt mọi người phải thực hiện, không nhận ra được đâu là giới hạn và không được phép vượt qua, đây là thể hiện một tâm lý của một người không bình thường. Những người bị bệnh nặng tâm lý này thường mất khả năng nhận thức đúng về các sự việc, do đó không ý thức được mức độ nguy hại của việc mình làm. Trong phân tâm học thường xếp loại những người như vậy là bị chứng bệnh Narzist.

Đối với một cá nhân bình thường mắc bệnh này thì những hành động của họ chỉ gây nguy hiểm hay tại hại cho chính mình hay một vài người. Nhưng một chính trị gia cầm đầu cả một nước mà bị bệnh này thì là một nguy hại khủng khiếp không lường hết được. Thái độ và tình trạng tâm thần không ý thức được sự việc và nhận ra giới hạn cần phải có thể hiện ngay cả sau này khi rời chức TBT, ông vẫn coi tự coi như một người cha trong gia đình sai bảo đàn con. Chính thái độ này đã đưa Đỗ Mười chọn Nông Đức Mạnh làm TBT suốt hai nhiệm kỳ dưới sự chỉ bảo của ông. Nếu đứng về phương diện giữa cá nhân với nhau thì là chuyện riêng. Nhưng trên quyền lợi chung của một nước thì khi chính quyền rơi vào một người có tâm thần bất ổn như vậy suốt cả môt thời gian dài mấy chục năm là một thảm họa chung cho cả một dân tộc!

Thái độ và hành động cực kỳ quá đáng của Tổng thống Trump, được nhiều nhà quan sát xếp ông cũng thuộc bệnh này, đã gây những tác hại rất lớn cho Hoa kỳ và đồng minh trong thời gian vừa qua, mặc dầu Hoa kỳ là một xã hội Dân chủ Đa nguyên ở mức cao và ông Trump mới chỉ nắm quyền gần hai năm. Ở trong một xã hội độc tài như ở VN và nắm quyền suốt mấy chục năm thì sức tàn phá do người cầm đầu toàn trị bị rối loạn tinh thần còn khủng khiếp như thế nào. Vì ở đó không có những lực cản, không có cơ chế kiểm soát và chế tài như trong một xã hội đa nguyên.

Theo Đỗ Mười, sở dĩ đạt tới những thành quả trên là do tiếp tục chế độ độc đảng dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN: “Đổi mới là sự nghiệp khó khăn, chưa có tiền lệ, nhưng chúng ta đã mạnh dạn tìm tòi, dũng cảm tiến hành và giành thắng lợi rất quan trọng. Nguyên nhân cơ bản nhất, quyết định nhất là Đảng ta đã giữ vững vai trò lãnh đạo, không chấp nhận đa nguyên đa đảng...”

Từ lập trường trên, trong Báo cáo Chính trị người cầm đầu Đảng đã nêu ra “4 nguy cơ” cho ĐCSVN và đề ra các biện pháp. Đó là “Những thách thức là: nguy cơ tụt hậu xa về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới”...; ”nguy cơ chệch hướng XHCN nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chỉ đạo thực hiện; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác; âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.”

Ở đây do căn bệnh không thể nhận ra sự thực khách quan nên Đỗ Mười đã không thấy được nguyên nhân đích thực gây ra những hậu quả rất xấu trong chính trị, kinh tế và xã hội dưới sự lãnh đạo theo chế độ toàn trị và mô hình phát triển XHCN (Lenin-Mao). Ông đã không dám nhìn thẳng là sự “tụt hậu kinh tế” không chỉ diễn ra dưới chế độ toàn trị ở VN mà là bức tranh thê thảm chung của các nước CS từ Liên Sô (cũ), Đông Âu, Trung Quốc, Bắc Hàn và Cuba từ suốt nhiều thập kỷ. Vì ở đấy Nhà nước xuyên qua ĐCS độc quyền từ ruộng đất, xí nghiệp tới các phương tiện sản xuất khác, nên không có cạnh tranh lành mạnh và vì thế các hoạt động kinh tế thiếu những động lực thúc đẩy phát triển và canh tân trong kỹ thuật sản suất lẫn quản trị. Họ cũng không nhìn nhận tình trạng tham nhũng và các tệ trạng xã hội thường bung ra mạnh nhất tới mức không thể kiểm soát được dưới các chế độ toàn trị. Tham nhũng bắt nguồn từ các cán bộ có quyền lực nhưng tham lam. Quyền lực ví như một động cơ chạy mà không có thắng (phanh), không có sức kiềm chế thì vô cùng nguy hiểm. Vì các chế độ toàn trị là phản ảnh của trận đá banh, cầu thủ cũng là trọng tài -vừa đá banh vừa thổi còi- Đảng thông qua QH của Đảng ban bố luật, viện kiểm sát nhân dân tối cao (của Đảng), Tòa án Nhân dân tối cao (của Đảng), cảnh sát điều tra (cũng của Đảng). Trong tình trạng như thế thì làm thế nào giữa các đồng chí có quyền lực lại có thể thẳng thừng với nhau, điều tra nghiêm túc, xét xử nghiêm và công bằng được!

Cho nên giữ vững nguyên tắc tiếp tục duy trì chế độ toàn trị thì hoàn toàn mâu thuẫn với mục tiêu chống tụt hậu và chống tham nhũng! Vì vậy hai mục tiêu quan trọng này không thể nào đạt được. Tình hình trong các thập niên sau chứng minh qui luật này.

Có lẽ hai mục tiêu chống “nguy cơ tụt hậu trong kinh tế” và “nguy cơ tham nhũng” đề ra tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc chỉ muốn tạo ra tâm lý hi vọng trong nhân dân và đồng thời biện minh cho mục đích thực sự của nhóm cầm đầu bảo thủ khi đó là tránh và chống “nguy cơ chệch hướng XHCN” và “diễn biến hòa bình”. Qua đó họ tìm cách thuyết phục dư luận là, không thể theo chế độ Dân chủ Đa nguyên với các chính đảng đối lập, trái lại chỉ có chế độ độc đảng theo chủ nghĩa Marx-Lenin mới giải quyết được các khó khăn của đất nước. Theo họ vì thế trong việc thực hiện đổi mới phải giữ đúng nguyên tắc ĐCSVN tiếp tục độc quyền và cương quyết chống lại các ảnh hưởng và sự can thiệp của phương Tây, đứng đầu là Mĩ đang ra sức tìm cách tạo các “diễn biến hòa bình” để làm “chệch hướng XHCN” cuối cùng là phá hủy sự độc quyền của ĐCS.

Trong thực tế, để củng cố vai trò của đảng từ khi làm TBT Đỗ Mười đã tìm cách tăng cường trở lại vai trò lãnh đạo của Đảng đối với chính phủ, các cơ quan nhà nước và các đoàn thể. Đó là việc “lập lại ban cán sự và Đảng đoàn ở cơ quan Nhà nước và các đoàn thể” như trong Báo cáo Chính trị của Hội nghị Đại biểu toàn quốc xác nhận. Không những thế Đỗ Mười còn tấn công cả trong lãnh vực tư tưởng, văn hóa và nghệ thuật. Chính nơi này mặc dù chủ trương “cởi trói cho người cầm bút” đã sớm bị dập tắt, nhưng dư âm của nó vẫn rất đáng ngại. Vì khi ấy chính Tướng Trần Độ đã không chỉ là người ủng hộ mà còn là nhân vật đi đầu chống lại việc kiểm soát tư tưởng và bẻ cong ngòi bút từ phía Đảng. Vì thế Đỗ Mười đã cảnh báo: “Trong sáng tác và lý luận, phê bình đã nẩy sinh một số khuynh hướng lệch lạc như phủ nhận thành tựu cách mạng và văn hóa, tách văn nghệ khỏi đường lối chính trị của Đảng” (BCCT).

Nếu theo dõi diễn biến tư tưởng và lập trường của những người trong BCT, đứng đầu là Đỗ Mười, về vai trò của Đảng đối với bộ máy nhà nước từ ĐH 7 tới ĐH 8 thì rõ ràng đã đi giật lùi. Trong Báo cáo Chính trị ĐH 7 (1991), mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước đã được giải thích: “Đảng lãnh đạo phải bảo đảm phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước. Tính hiệu lực và sức mạnh của Nhà nước chính là thể hiện tính hiệu quả lãnh đạo của Đảng. Ở đây hoàn toàn không có sự đối lập giữa nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng với tăng cường hiệu lực của Nhà nước, không có sự hi sinh cái này cho cái kia...” Xét về mặt lý thuyết thì quan điểm cân bằng quyền lực giữa Đảng và Nhà nước như trên là cần thiết, để Nhà nước vẫn có thể chủ động thực hiện đúng được vai trò của mình, không chỉ là cánh tay dài của BCT trong một chế độ toàn trị. Trên cơ sở này họ biện minh là không cần đa đảng, không cần đối lập:

“Có ý kiến cho rằng, chỉ có cơ chế chính trị đa nguyên với sự tồn tại của đảng phái đối lập thì mới có dân chủ. Thật ra dân chủ hay không dân chủ điều đó không tùy thuộc ở chế độ một đảng hay nhiều đảng.” (Nay Nguyễn Phú Trọng cũng lập lại!)

“Trong điều kiện nước ta hiện nay không có sự cần thiết khách quan để lập nên cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Thừa nhận đa đảng đối lập có nghĩa là tạo điều kiện cho sự ngóc đầu dậy ngay tức khắc và một cách hợp pháp các lực lượng phản động, phục thù trong nước và từ nước ngoài trở về hoạt động chống tổ quốc, chống nhân dân, chống chế độ.” (BCCT ĐH 7)

Nhưng ở đây họ không biết - hay giả vờ không biết- qui luật của quyền lực trong chính trị từ Đông sang Tây từ cổ chí kim. Ở đâu quyền lực càng nhiều, càng lớn và càng lâu thì ở đó người có quyền lực càng tìm mọi cách lợi dụng, dù đó là độc tài cá nhân như thời phong kiến, hay độc tài đảng trị như ở nhiều nước CS. Nhưng chỉ hơn hai năm sau với quyết định “lập lại ban cán sự và Đảng đoàn ở cơ quan Nhà nước và các đoàn thể” Đỗ Mười đã vất vào sọt rác quyết định của ĐH 7 để trở lại vai trò Đảng là người chỉ huy duy nhất và Nhà nước chỉ là cơ quan thừa hành! Vì khi đó Đỗ Mười đã nắm vững quyền lực trong tay!...

5.10.2018
Âu Dương Thệ

nhuvan
Posts: 383
Joined: Sun Mar 27, 2016 8:29 pm

Post by nhuvan »

Image

Do không tu thân cho nên cán bộ quan chức đã “ăn” của dân không từ một thứ gì!
Nguyễn Văn Nghệ
(Danlambao) - Trong Thư gửi các sinh viên, học sinh Công giáo dịp đầu năm học 2018-2019, Giám mục Giuse Đinh Đức Đạo có kể về nội dung khắc trên tấm bia của một ngôi mộ đơn sơ ở nghĩa trang Westminster (Anh quốc): “Khi tôi còn trẻ, còn tự do, trí tưởng tượng của tôi không bị giới hạn, tôi đã mơ ước thay đổi cả thế giới. Khi lớn hơn, khôn ngoan hơn, tôi phát hiện ra là tôi không thay đổi được thế giới, nên tôi thu nhỏ ước mơ của tôi lại và quyết định chỉ thay đổi đất nước của tôi. Nhưng đất nước tôi, tôi đã không thể thay đổi được gì. Khi bước vào những năm cuối đời, trong những cố gắng cuối cùng, tôi chỉ quyết định thay đổi gia đình và những người thân của tôi. Nhưng than ôi, điều này cũng chẳng làm được và bây giờ, khi nằm trên giường bệnh, chuẩn bị lìa đời, tôi chợt nhận ra: Nếu như tôi bắt đầu thay đổi bản thân mình trước, lấy mình làm tấm gương thì có thể thay đổi được gia đình mình; và với sự giúp đỡ và động viên của gia đình, tôi hy vọng có thể làm điều gì đó thay đổi đất nước và biết đâu, tôi thậm chí có thay đổi cả thế giới”.

Giám mục đã viết tiếp: “Những dòng chữ khắc trên bia mộ này có cùng ý nghĩa với câu nói các con thường nghe: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Tất cả phải lấy việc tu thân làm gốc...”.

Muốn tu thân, trước tiên ta phải “cách vật, trí tri” tức là phải học hỏi (học ở trường lớp, học ở trường đời…), phải có tri thức, tiếp đến là “chính tâm, thành ý” rồi mới nói đến vấn đề tu thân. Sau khi tu thân xong mới nói đến việc “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.

Cách vật, trí tri, chính tâm, thành ý, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ là “bát điều mục” trong Nho giáo. Vấn đề tu thân không trừ một ai trong xã hội. Sách Đại học viết: “Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân nhất thị giai dĩ tu thân vi bản” (Từ vua cho đến dân thường đều phải lấy tu thân làm gốc).

Nếu ai không chịu tu thân tức là chấp nhận làm thân con giun, con dế. Giám mục Đinh Đức Đạo khuyên các sinh viên, học sinh: “Vì vậy các con đừng mãn nguyện làm những con giun, con dế, nhưng hãy nuôi ước vọng cao thượng, có chí lớn, tung cánh như chim đại bàng, bay lên cõi trời mênh mông bát ngát. Mỗi khi các con luồn cúi, hay gian dối để được điểm cao, được lợi lộc ích kỷ hay các con dùng bạo lực để giải quyết vấn đề là các con trở thành con giun, con dế. Ngược lại, khi các con dám trung thực cho dù có bị thiệt thòi và dám quên lợi ích riêng của mình vì lợi ích của tha nhân là các con đang tung cánh đại bàng để bay bổng lên cõi mênh mông của Thiên Chúa” (1).

Thượng đế (còn gọi là Ông Trời, là Thiên Chúa) là cùng đích là cứu cánh để con người hướng tới. Sách Trung dung viết: “Cố quân tử bất khả dĩ bất tu thân. Tư tu thân, bất khả dĩ bất sự thân. Tư sự thân, bất khả dĩ bất tri nhân. Tư tri nhân bất khả dĩ bất tri Thiên” (Cho nên bậc quân tử cần phải tu thân. Muốn tu thân cần phải biết phụng dưỡng cha mẹ. Muốn biết phụng dưỡng cha mẹ, cần phải biết đến người khác (tha nhân). Muốn biết đến tha nhân cần phải biết đến Thượng đế).

Người cộng sản luôn đề cao “tu dưỡng đạo đức cách mạng”, nhưng họ không thể “tu thân” theo đúng ý nghĩa đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam được, do họ phủ nhận thần thiêng tức là phủ nhận Thượng đế. Cụ Trần Trọng Kim viết: “Còn về đường tín ngưỡng, thì đạo cộng sản đã là đạo hoàn toàn duy vật, tất không ai thờ phụng thần thánh nào khác nữa, nhất thiết nghĩ phải sùng bái những người như Các Mác, Lê Nin, Sử Ta Lin để thay những bậc thần thánh cũ đã bị truất bỏ”. Cụ Trần Trọng Kim đã nhận xét tiếp về người theo cộng sản: “Vậy những tín đồ cộng sản phải là những người cuồng tín và chỉ biết đời sống vật chất mà thôi, ngoài ra không có gì nữa. Sống có một đời rồi hết, nên ai nấy chỉ lo làm cho mình được mọi điều thắng lợi, sá chi những điều phúc họa thiện ác” và “Về đường thực tế, cái đặc sắc của cộng sản là không nhận có luân thường đạo lý, không biết có nhân nghĩa đạo đức như người ta vẫn tin tưởng. Người cộng sản cho cái điều đó là hủ tục của xã hội phong kiến thời xưa, đặt ra để lừa dối dân chúng, nên họ tìm cách xóa bỏ hết. Ai tin chỗ ấy là người sáng suốt, là người giác ngộ, ai không tin là mờ tối, là người mê muội. Vì có tư tưởng như thế, cho nên cha, con, anh em bè bạn không có tình nghĩa gì cả, chỉ biết tôn trọng chủ nghĩa cộng sản và phục tòng những người cầm quyền của đảng, ngoại giả, giết hại lẫn nhau, lừa đảo nhau: hễ ai làm những việc mà lợi cho đảng là người giỏi, người tốt. Gia đình, xã hội, phong tục, chế độ cũ đều bỏ hết, bỏ đến tận cội rễ, để lập thành xã hội mới theo chủ nghĩa cộng sản” (2).

Không tu thân, con người sẽ trở thành kẻ vô liêm sỉ: “Liêm sỉ là nền tảng của đạo làm người. Ở đời còn có sỉ, thì hiếu, để, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm còn được, chớ liêm sỉ đã mất, nhất là sỉ, thì còn gì là luân thường đạo lý và mong cậy vào đâu nữa. Con người mà đến vô sỉ thì tuy mặc áo, đội mũ mà như con chim, con muông, còn cái gì kiêng nể mà không dám làm”.

“Người không có liêm đụng cái gì cũng lấy, không sỉ thì việc gì cũng làm”. Bà cựu Phó Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Nguyễn Thị Doan đã thốt lên: “...Đến tiền của các cháu dân tộc thiểu số mà hiệu trưởng cùng với một số cán bộ còn biển thủ đến gần 3 tỷ vừa rồi mới khởi tố. Cái liều vacxin tiêm cho một cháu lại san ra tiêm cho hai cháu ngay tại Hà Nội. Tôi càng đi càng thấy buồn, “ăn” của dân không từ một cái gì”(3).

Ngay trong ngành giáo dục là nơi giáo dục đào tạo con người cho xã hội cũng xảy ra không biết bao nhiêu là tiêu cực: “học giả” mà “bằng thật” lan tràn; nào là tiến sĩ “giấy”, giáo sư “ma” đầy dẫy. Trong kỳ thi tốt nghiệp Trung học Phổ thông Quốc gia năm 2018 xuất hiện một công nghệ chấm thi kiểu mới mà dân gian gọi là “ Công nghệ 1.9” (một chấm chín), có nghĩa là bài làm của thí sinh đúng ra là được 1 điểm nhưng lại được chấm thành 9 điểm.

Thi cử như vậy rất là nguy hại đến sự tồn vong của dân tộc. Ông Nelson Mandela, cố Tổng thống Nam Phi tuyên bố: “Để phá hủy bất kỳ quốc gia nào, không cần phải sử dụng đến bom nguyên tử hoặc tên lửa tầm xa. Chỉ cần hạ thấp chất lượng giáo dục và cho phép gian lận trong các kì thi của sinh viên. Bệnh nhân chết dưới bàn tay của các bác sĩ của nền giáo dục ấy. Các tòa nhà sụp đổ dưới bàn tay của các kỹ sư của nền giáo dục ấy. Tiền bị mất trong tay của các nhà kinh tế và kế toán của nền giáo dục ấy. Công lý bị mất trong tay các thẩm phán của nền giáo dục ấy. Sự sụp đổ của giáo dục là sự sụp đổ của một quốc gia” (4).

Cán bộ, quan chức hãy mau tỉnh ngộ mà tu thân theo đạo đức truyền thống dân tộc, nếu không: “Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh/ Anh không biết, em làm sao biết được/ Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước/ Ai trả lời giùm đất nước sẽ về đâu...” (5)

Phú Lộc Tây- Diên Khánh
Nguyễn Văn Nghệ
danlambaovn.blogspot.com

_________________________

Chú thích:

1- Vietcatholic.org/Media/18thu.pdf

2- Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi (Kiến văn tiểu lục), Việt Books- 2010, trg. 114-115

3- Baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/chinh-tri-viet-nam/cai-nhin-thang-cua-pho-chu-tich-nuoc-nguyen-thi-doan-3290000/

4- https://baotiengdan.com/2018/08/27/am-m ... -ngoc-dai/

5- Bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh” của tác giả Trần Thị Lam - Trường Phổ thông Trung học Chuyên Hà Tĩnh.

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Image

Nhà hát Thủ Thiêm chỉ là khúc giao hưởng đổi chác giữa các đồng chí heo và lợn
Vũ Đông Hà
(Danlambao) - Tại sao một dự án 1508 tỷ vừa mới đưa ra là cả nước lên tiếng phản đối nhưng lại được 100% đại biểu HĐND thông qua? Tại sao "phía" HĐND thành phố phải "họp bất thường" để tung ra nhà hát giao hưởng nhưng "phía" Bí thư thành Hồ Nguyễn Thiện Nhân lại tuyệt đối im lặng giữa cơn sóng phẫn nộ của dư luận xã hội? Câu trả lời là: đây là một cuộc đổi chác giữa những kẻ đã ăn nhưng rời ghế như Lê Thanh Hải, Tất Thành Cang, Nguyễn Văn Đua, Lê Hoàng Quân... và thế lực chính trị đang ngồi tại ghế nhưng chưa muốn được chia phần.

Nhìn lại sự việc:

Vào ngày 4 tháng 9, Phó Tổng thanh tra chính phủ là Đặng Công Huẩn ký thông báo kiểm tra Thủ Thiêm dài 10 trang (1) và kết luận đây là những vi phạm rất nghiêm trọng. Nhưng hoàn toàn không có tên bất kỳ lãnh đạo nào của thành Hồ. Không có tên Lê Thanh Hải, Tất Thành Cang, Nguyễn Văn Đua, Lê Hoàng Quân... là những kẻ từng đứng đầu cơ quan quyền lực thành Hồ, là thủ phạm chính đứng đằng sau ra lệnh, điều khiển những phi vụ biến đất dân thành tiền chùa bỏ túi tại Thủ Thiêm nói riêng và thành Hồ nói chung trong nhiều năm qua.

Trước tình trạng vi phạm không... người lái đó, ngày 20/09/2018, Bí thư Nguyễn Thiện Nhân thuộc phía Thành ủy dùng "Hội nghị sơ kết việc thực hiện Quy chế phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Thành ủy TP HCM và Thanh tra thành phố về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng" để khai pháo tấn công vào những thủ phạm quá khứ:

"Không có ai, lĩnh vực nào được coi là 'bất khả xâm phạm" và "các cơ quan kiểm tra của thành phố cũng quyết liệt, nghiêm khắc trong kỷ luật cả cán bộ đương chức và người đã nghỉ hưu, làm nghiêm từ trên xuống dưới, không có ai, lĩnh vực nào được coi là “vùng cấm”, là “bất khả xâm phạm”." (2)

Ngay sáng hôm sau, 21/09/2018, phía "Ủy ban Nhân dân" đứng đầu là Nguyễn Thành Phong ra lệnh cho đàn em phó chủ tịch UBND và cũng là tay chân của Lê Thanh Hải là Trần Vĩnh Tuyến, tổ chức họp báo và tuyên bố: “UBND TP.HCM cam kết sẽ thực hiện giải quyết những sai sót mà kết luận của Thanh tra Chính phủ nêu, còn đối tượng ngoài kết luận thì không xem xét.” (3)

Từ một vài dữ kiện này, chúng ta có thể thấy được phần nào bức tranh đấu đá nội bộ thành Hồ liên quan đến cục mỡ Thủ Thiêm mà các quan này đã nuốt và các quan khác đòi móc họng lấy ra. Giữa những tranh chấp đó là viễn cảnh vào lò của những quan "nguyên" thành Hồ tay đã nhúng chàm, miệng đã đầy mỡ trong vụ ăn tạp Thủ Thiêm.

Do đó, cuộc họp bất thường và khẩn cấp vào sáng ngày 08/10/2018 đã được tiến hành để nhanh chóng để thông qua kết quả của cuộc thương lượng đổi chác.

Trong phiên họp này, toàn bộ các "đại biểu" chỉ cần ngồi nghe đọc "tờ trình" cho một dự án tốn đến 1.508 tỷ, nghe xong là giơ tay 100% nhất trí đồng ý theo... đúng quy trình.

100% nhất trí đồng ý cho một dự án ngàn tỷ mà bất kỳ người dân nào cũng phản đối!?

Do đó, chỉ có thể giải thích rằng: vấn đề không nằm ở chỗ có lợi cho người dân, ở chỗ những "đại biểu của dân" này có đọc, có nghiên cứu, có tìm hiểu, có thảo luận rốt ráo trong một thời gian nhiều ngày, qua nhiều buổi họp về lợi ích của dự án so với những nhu cầu xã hội khác của thành phố. Nhà hát 1.508 tỷ chỉ được sử dụng như là một cơ hội rút ruột công trình để nhét vào mồm 100% các quan chức đang ngồi ở ghế mà chưa có cơ hội được ăn nhiều, ăn lớn như các quan chức đã rời ghế.

Mọi lý luận nên hay không nên, lợi ích hay tai hại của dự án nhà hát Giao hưởng, Nhạc và Vũ kịch ở Thủ Thiêm đối với tập đoàn ăn tạp này đều vô ích. Vì mục tiêu chính của chúng là để giao, để hưởng, để đóng kịch và để múa may và đồng ca nhạc khúc cùng nhau ăn tạp.

*

Chú thích:

(1) http://img.vietnamfinance.vn/upload/new ... 7/1483.pdf

(2) http://daidoanket.vn/lanh-dao-dang/bi-t ... ntuc417656

(3) http://danlambaovn.blogspot.com/2018/09 ... -uong.html

10.10.2018
Vũ Đông Hà

nhuvan
Posts: 383
Joined: Sun Mar 27, 2016 8:29 pm

Post by nhuvan »

Image

Mẹ Nấm được tự do
VNCH- Ngọc Trương
(Danlambao) - Dù chưa một lần gặp, tôi ngưỡng phục ý chí kiên cường của chị tranh đấu cho lẽ phải và công lý cho đất nước Việt Nam, đang rên siết dưới ách thống trị của cộng sản. Ít người như chị dám hy sinh lợi ích cá nhân, đứng lên, cất vang tiếng nói đã phá âm mưu của ngụy quyền Hà Nội tàn phá lãnh thổ Việt Nam, và dâng tặng giang sơn gấm vóc cho ngoại bang TC. Không dễ gì có ý chí can đảm và tinh thần sắt đá như chị, giữa xã hội đang bị ru ngủ bởi sự hào nhoáng bên ngoài, chạy đua khoe khoang giàu sang, ăn chơi trụy lạc, và tự gọi đó "khôn ngoan", "quý tộc"! Xin ngã nón kính phục sự hy sinh của chị và gia đình. Mong chị bình an, thành công trong việc định cư, hít thở không khí tự do, nhiều hy vọng thành đạt cho các cháu.

*

Sáng sớm hôm nay đọc tin Mẹ Nấm Nguyễn ngọc Như Quỳnh có thể được thả và đi tỵ nạn tại Hoa kỳ. Lúc ấy hãy còn là nghi vấn, bài báo cẩn thận đặt dấu chấm hỏi.

Mười lăm phút sau, tin trở thành sự thật qua AFP được BBC, RFA tiếng Việt đăng lại. Vội báo tin cho các chiến hữu và bạn đọc DLB hay tin mừng bất ngờ giữa lúc ai cũng ưu phiền vận mạng Việt Nam sẽ rơi vào tay TC.

Search thêm vài lần nữa, tin mừng quả có thật. Cả hãng tin Aljazeera Á rập cũng loan báo qua bản tin tiếng Anh.

Đọc lại 2 lần bài Cuộc vận động Tự Do cho Mẹ Nấm - Nguyễn Ngọc Như Quỳnh của Mạng Lưới Blogger Việt Nam, tôi mới tin đây không phải là "fake news" (tin dởm/rởm) phá chơi của bọn ác quỷ nào đó.

Trong lòng thấy vui và nhẹ đi một chút. Có lẽ tôi không phải là người duy nhất, tuy không nói ra, nhưng thấy hy vọng mẹ Nấm được phóng thích rất xa vời, mỏng manh.

Dù chưa một lần gặp, tôi ngưỡng phục ý chí kiên cường của chị tranh đấu cho lẽ phải và công lý cho đất nước Việt Nam, đang rên siết dưới ách thống trị của cộng sản.

Ít người như chị dám hy sinh lợi ích cá nhân, đứng lên, cất vang tiếng nói đã phá âm mưu của ngụy quyền Hà Nội tàn phá lãnh thổ Việt Nam, và dâng tặng giang sơn gấm vóc cho ngoại bang TC. Không dễ gì có ý chí can đảm và tinh thần sắt đá như chị, giữa xã hội đang bị ru ngủ bởi sự hào nhoáng bên ngoài, chạy đua khoe khoang giàu sang, ăn chơi trụy lạc, và tự gọi đó "khôn ngoan", "quý tộc"!

Xin ngã nón kính phục sự hy sinh của chị và gia đình. Mong chị bình an, thành công trong việc định cư, hít thở không khí tự do, nhiều hy vọng thành đạt cho các cháu.

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tất cả các anh, chị, già, trẻ, mọi giới, mọi lứa tuổi ở Việt Nam đang trong vòng tù tội vì chống lại bọn cộng sản, hay đang tranh đấu công khai hoặc bí mật cho quê cha đất tổ.

Tôi cảm thấy được an ủi rất nhiều, vì biết rằng ngay trên lãnh thổ hình chữ S vẫn còn, và sẽ còn mãi những trái tim đầy nhiệt huyết sẵn sàng bảo vệ tự do, dân chủ và công bằng xã hội cho Việt Nam.

Đả đảo cộng sản.

Việt Nam muôn năm.

2018.10.17
VNCH- Ngọc Trương

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image


Nụ cười Việt Nam
Vũ Đông Hà
(Danlambao) - Giữa những hận thù của chế độ, đứng trước bản án 20 năm tù khắc nghiệt và bất công, nổi lên nụ cười Lê Đình Lượng. Tôi không biết nên dùng tính từ nào để nói về nụ cười lịch sử này. Hiền hoà, đôn hậu, nhân ái, tự tại, thảnh thơi... Anh đi vào lao tù của chế độ độc ác bằng một nụ cười như vậy. Xin được gọi đó là Nụ cười Việt Nam.

Lịch sử Việt Nam lưu lại nhiều câu nói hào hùng của tiền nhân. Như Triệu Nữ Vương, Phạm Ngũ Lão, như Trần Quốc Toản, Trần Thủ Độ... đã để lại cho những nhiều thế hệ Việt Nam niềm hãnh diện giống nòi bằng những câu nói lưu danh sử sách.

Nhưng ở thế kỷ này, trên trang sử đấu tranh chống Việt gian cộng sản và quân xâm lược Tàu cộng, một hình ảnh đã khắc sâu vào lòng người, đã đi vào lịch sử: nụ cười của Lê Đình Lượng.

Lê Đình Lượng đã cho chúng ta thấy thật rõ sự khác biệt giữa những con người đấu tranh đầy nhân ái với chế độ bạo tàn, của hiền hoà giữa người và người với hận thù giai cấp, chủ nghĩa. Và đằng sau nụ cười đôn hậu đó lại là một ý chí sắt đá, một tinh thần bất khuất, một lòng một dạ sắc son với con đường lý tưởng, với đức tin:

“Khi chúng ta đã xác định con đường chúng ta chọn, thì dù bản án có như thế nào chăng nữa cũng không làm cho chúng ta run sợ, vì chính chúng ta đang sống, đang hành động là sống và hành động trong lý tưởng, trong Đức Tin cho một quê hương Việt Nam trường tồn thịnh trị, một đất nước không có cộng sản, thay vào nơi đó là tình yêu, lòng khoan dung và hòa bình cho mỗi người dân Việt”.

"Tình yêu, khoan dung và hoà bình cho mỗi người dân Việt..." Còn mục đích nào, khát vọng nào đẹp hơn như vậy!?

"Việc của tôi làm sẽ do lịch sử phán xét. Tôi sẽ vui khi phải vào lao tù nếu dân tộc này được lớn mạnh trong tự do dân chủ".

Anh Lê Đình Lượng kính mến, đối với tôi, dân tộc này đã lớn mạnh lên theo nụ cười của anh tại phiên toà ngày 18 tháng 10, năm 2018.

Chắc chắn những kẻ bán nước sẽ không thể cầm tù anh 20 năm. Chắc chắn chế độ hèn với giặc ác với dân này sẽ phải ra đi trước ngày anh mãn án. Chắc chắn dân tộc này sẽ cùng anh nở một nụ cười nhân ái - nụ cười Việt Nam - trong độc lập, tự do và dân chủ.

Cảm ơn anh Lê Đình Lượng, người tù đôn hậu và bất khuất đã gieo yêu thương và hãnh diện tôi là người Việt Nam.

21.10.2018
Vũ Đông Hà

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Cám ơn những tấm chân tình

Image

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh

737 ngày xa nhà, xa Ngoại, xa Mẹ, xa con, xa bạn bè và khi có cơ hội để viết những dòng này là lúc tôi phải rời khỏi Việt Nam một cách bất đắc dĩ.

Xin cám ơn tất cả những nỗ lực không mệt mỏi của gia đình, anh chị em, bạn bè, cộng đồng trong nước và quốc tế. Cám ơn đồng đội Mạng Lưới Blogger Việt Nam và đặc biệt là chị Đặng Thanh Chi đã miệt mài tranh đấu và vận động cho người em của chị trong suốt 2 năm qua.

Xin cám ơn sự quan tâm và tình cảm yêu thương mà tất cả mọi người đã dành cho tôi và gia đình trong thời gian qua. Cám ơn thật nhiều sự bao dung của mọi người vì đã bỏ qua những thiếu sót, những nông nổi nóng nảy của tôi trước đây để mở rộng con tim và vòng tay hỗ trợ, đùm bọc cho gia đình tôi trong lúc tôi đang bị tù đày.

Tôi đã trải qua 737 ngày buộc phải sống chung với sự dối trá, chịu nhiều áp lực về tinh thần nhưng tôi biết tôi không hề cô đơn vì xung quanh tôi vẫn còn có rất nhiều người đang chung tay nỗ lực vì nhân quyền cho Việt Nam. Tôi tin rằng nếu chúng ta luôn bền bĩ đấu tranh cho tự do, luôn giữ ngọn lửa khát vọng dân chủ cho nhau, cùng nhau nuôi dưỡng ý chí bảo vệ Tổ Quốc, chúng ta sẽ chiến thắng độc tài cộng sản.

Sau những gì đã trải qua tôi tin rằng còn rất nhiều điều phía trước đang đợi chúng ta cùng nỗ lực thực hiện để biến giấc mơ tự do cho Việt Nam thành hiện thực. Mục tiêu tự do không thể và không bao giờ cho riêng tôi hay gia đình tôi mà phải cho tất cả 90 triệu công dân Việt Nam.

Ở trong tù sống cùng Nguyễn Đặng Minh Mẫn, ra ngoài được biết chị Trần Thị Nga và nhiều người khác phải nhận những bản án quá nặng nề. Nhìn lại hình ảnh công an khám xét nhà, tịch thu những biểu ngữ tôi viết "Cá cần nước sạch - Nước cần minh bạch", "Yêu cầu khởi tố Formosa", "Formosa get out!"... Tôi biết mình sẽ phải làm gì khi đã được tự do.

Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn các anh chị, bạn bè và mọi người đã thương yêu đùm bọc mẹ và hai con của tôi khi tôi bị cầm tù. Cám ơn tất cả những nỗ lực tranh đấu và sự quý mến của mọi người dành cho tôi trong suốt thời gian qua. Cám ơn các bác, cô chú, anh chị đã đến phi trường chào đón gia đình tôi thật nồng ấm khi chúng tôi vừa đặt chân đến Houston, Texas, Hoa Kỳ.

19.10.2018
Nguyễn Ngọc Như Quỳnh

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Tuyên thệ của Kỳ Nhông

Phạm Văn
(Danlambao) - Sau bài viết “Tột đỉnh vinh quang hay đáy cùng ô nhục?” tôi có ý định sẽ không viết bài nào “dành riêng cho” cá nhân ông Nguyễn Phú Trọng nữa. Nhưng vì rốt cuộc sự lựa chọn của con người phần nhiều không do ý muốn cá nhân họ, mà do cuộc sống thực tế quyết định. Vì thế, sau khi xem livestream của những kẻ “chống cộng” ở hải ngoại, nghe và liếc qua phần nói về lễ nhậm chức “Chủ tịch nước CHXHCN” ở Việt Nam của ông Trọng, thấy ông trịnh trọng cúi đầu trước lá cở đỏ sao vàng, tay trái đặt lên quyển Hiến pháp nước CHXHCN ở Việt Nam màu đỏ, còn tay kia giơ lên hướng lòng bàn tay về phía các đại biểu quốc hội bù nhìn và nói lời thề thiêng, tôi lại thấy không thể không viết “cho” ông.

Tuyên thệ của ông Trọng khẳng định sẽ “tuyệt đối trung thành với Tổ Quốc, nhân dân Việt Nam và với Hiến pháp nước CHXHCN ở Việt Nam!”. [Lưu ý: Tôi thường dùng chữ “ở” (ở Việt Nam) vì cho rằng đảng cộng sản, những người cộng sản, chế độ đảng cộng sản trị và những gì liên quan đến những tổ chức, con người này như bản Hiến pháp và hệ thống luật pháp v.v..., đều về căn bản, thiếu, thậm chí không có phẩm tính Việt Nam, trái lại còn phá hoại phẩm tính ấy, thực ra chúng chỉ hiện diện, tồn tại ở Việt Nam thôi. Thêm nữa, tôi cũng muốn nói ở đây rằng trước đây tôi hay viết cộng sản là “cộng sản” (trong ngoặc kép), ý muốn nói là cộng sản hiện nay không còn như thời kỳ đầu tiên của nó nữa. Nhưng bây giờ tôi viết là cộng sản (không trong ngoặc kép) với nghĩa cộng sản là sai lầm, ngu tối, dối trá và tàn ác. Ở Việt Nam cộng sản còn có những thuộc tính khác nữa. Tùy mọi người bổ sung thêm].

Trở lại tuyên thệ của ông Nguyễn Phú Trọng đảng trưởng, giờ đã thành Chủ tịch của nước CHXHCN ở Việt Nam. Có lẽ cũng như tôi, nhiều người thấy rằng không thể cùng một lúc lại có thể “trung thành” với cả hai cái, hai điều không tương xứng với nhau, thậm chí rất khác nhau, khác nhau, đối lập nhau như trời cao và vực thẳm. Tổ Quốc, đất nước, dân tộc, giống nòi, nguồn cội, tổ tiên, quê hương, con người, nhân dân Việt Nam, đó là tất cả những gì vô cùng cao quý, hết sức thiêng liêng trong mỗi con người Việt Nam yêu nước thương nòi, đó là những gì mà ta không thể đánh đổi chúng cho bất cứ thứ gì, điều gì khác. Dù cho cơ thể, thân xác ta mất đi, tan nát vào đất, thành cát bụi, nhưng tất cả những điều ta có này vẫn luôn tồn tại, sẽ được truyền lại cho muôn đời và vĩnh viễn sống.

Nhưng đảng cộng sản là ai mà Hiến pháp nước CHXHCN ở Việt Nam, cụ thể là điều 4 Hiến pháp, đã đặt nó lên trên tất cả? Đảng chỉ có hơn 4 triệu người là đảng viên của đảng so với hơn 90 triệu người dân Việt Nam. Vậy, đảng nhất định không thể là, không bao giờ là dân tộc, nhân dân Việt Nam. Mọi ý định đồng nhất đảng với dân tộc, với đất nước đều là sự điên rồ, xảo trá và độc ác. Đảng là tinh hoa, là tiêu biểu cho đạo đức, trí tuệ của dân tộc, giống nòi, nhân dân Việt Nam? Không, từ khi nắm-cướp được chính quyền của nhân dân, đảng đã biến bộ máy công quyền-chính quyền thành bộ máy quyền lực của riêng mình và dùng hệ thống này để cai trị nhân dân, thao túng toàn bộ đời sống xã hội. Đảng đã tạo nên sự sợ hãi trong nhân dân, trong xã hội để bảo vệ địa vị và thực hiện những lợi ích của riêng mình. Nhưng sự tuyên truyền dối trá đã cố tình che đậy sự thật này và thay vào đó, ép nhân dân và xã hội phải tin rằng đảng là “đạo đức”, là “sáng suốt”, “văn minh”, là đại diện cho giai cấp, dân tộc và toàn thể nhân dân. Đảng sẽ tiếp tục tồn tại?

Bao nhiêu năm nay ông Nguyễn Phú Trọng đã chọn đảng, chọn Hiến pháp nước CHXHCN ở Việt Nam. Ông đã từng tuyên bố: "Mất đảng, mất chế độ chúng ta mất tất cả". Dường như tuyên bố của ông có cội nguồn-tiền thân là lời của nguyên TBT Nguyễn Văn Linh: "Biết rằng đi với Trung Quốc sẽ mất nước, nhưng đi với Mỹ thì mất đảng. Vậy thà mất nước còn hơn mất đảng"? Rõ ràng với những tuyên bố-lựa chọn như thế, Tổ Quốc, dân tộc, nhân dân Việt Nam chẳng là gì hết. Có cần phải chứng minh không? Có, xin được chứng minh bằng vài sự thật sinh động và hùng hồn là ông Trọng, đảng ông, cả chế độ của ông, vì lựa chọn ấy đã bị chói mắt, hoàn toàn mù lòa, nên đã không thể nhìn thấy hàng ngàn người dân yêu nước đã nổi dậy biểu tình-đấu tranh vì môi trường, chống lại, đòi loại bỏ nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh, đặc biệt chống lại âm mưu, bước chân xâm lược của Tàu Cộng trong những ngày tháng 6 sục sôi vừa qua. Không những thế, các ông còn bắt bớ, đàn áp, giam cầm dã man, trái phép những người biểu tình-đấu tranh. Đặc biệt, cũng với sự mù lòa ấy các ông đã không thấy được dã tâm của kẻ thù xâm lược, cho nên có thể từ chỗ “ngây thơ” và lòng tham, các ông dần dần trở thành những kẻ, hơn thể trở thành một chế độ tiếp tay-bán nước từng phần cho Tàu Cộng. Cả một chế độ tiếp tay-bán nước! Thật là một điều chưa từng có trong lịch sử Việt Nam.

Nhưng trên đây là sự “lựa chọn” khi ông Trọng còn là, chỉ là TBT đảng. Còn bây giờ ông vừa là đảng trưởng lại vừa là Chủ tịch nước CHXHCN ở Việt Nam. Ông có thể lựa chọn cả hai: Tổ Quốc, nhân dân và Hiến pháp? Không, ông chỉ có MỘT và chỉ MỘT mà thôi. Hoặc ông phải lựa chọn “trung thành” với Hiến pháp, nghĩa là trung thành với đảng cộng sản, với chế độ của ông, cũng có nghĩa là trung thành với những lợi ích ích kỷ, tanh tưởi của đảng, của chế độ này và xem đó là cái “nguyên tắc” cơ bản để tiếp tục đu dây trong mọi hoạt động xã hội, trong các quan hệ quốc tế, kể cả việc sẵn sàng bán đứng Tổ Quốc, dân tộc, nhân dân cho kẻ thù. Nhưng đây là sự lựa chọn của sự ô nhục và cái chết. Hoặc ông phải lựa chọn trung thành với Tổ Quốc và Nhân dân. Đây là lựa chọn của sự sống, là con đường sống. Bởi vì, chỉ có Tổ Quốc, dân tộc, giống nòi, nhân dân Việt Nam mới có thể sống, vĩnh viễn sống, còn đảng cộng sản ở Việt Nam có thể chết và chắc chắn sẽ chết.

Tuy nhiên, ông Trọng, đảng ông và chế độ của ông đừng nhầm lẫn rằng chính việc có địa vị mới đã đưa ông đến những sự lựa chọn, mà cần hiểu cuộc sống đang thay đổi nhanh chóng, quyết liệt và khó lường (như chính ông cũng đã nói trong bài phát biểu nhậm chức) đã đặt ông lên địa vị với những lựa chọn ấy. Rất may cho ông về điều này. Ông có thể lựa chọn con đường sống cho ông và có thể cho cả đất nước, dân tộc, nhân dân? Tôi biết rõ, sau khi ông trở thành Chủ tịch nước CHXHCN ở Việt Nam, thậm chí trước đó, rất nhiều người chỉ muốn ông chết, tôi cũng muốn thế, vì tôi rất khinh ông, căm ghét ông. Nhưng nhiều khi thấy “thương” ông, cho nên tôi vẫn muốn ông sống. Tôi nói thật đấy.

Vả lại, trong phát biểu nhậm chức của mình, ông nói rằng ông tuổi cao, sức yếu, trình độ, năng lực có hạn, nhưng vì trách nhiệm đảng, nhà nước và nhân dân giao cho và vì vẫn được tín nhiệm, nên phải cố gắng làm, như thế, thực ra không phải ông khiêm nhường như bậc thánh Lão Tử (“công thành thì lui về”), mà trái lại rất kiêu căng, tự phụ. Hẳn ông muốn nói: trong số 4 triệu đảng viên, hàng trăm đại biểu quốc hội kia, chẳng còn ai có thể hơn ta, thay ta, chúng chỉ như những đống thân xác trần trụi không linh hồn mà thôi! Ông còn lẩy Kiều: “Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn, Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay?”. Nhưng nếu cùng ông đọc tiếp các câu sau đó: “Anh hoa phát tiết ra ngoài, Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa”, sẽ thấy ông hoặc đúng là năng lực văn chương “rất có hạn”, vì cụ thể, phải hiểu chỉ có Thúy Kiều tài hoa mới có thể nói câu “phận mỏng cánh chuồn” được và nói với ai chứ, hoặc ông rất kiêu căng, nghĩ mình là đấng tài hoa! Vì thế, nghĩ về tình thế của ông hiện nay, tôi nghĩ đến câu: “Cờ đến tay ai người ấy phất!”.

Nhưng ông Trọng ạ! Như đã nói, Tổ Quốc, đất nước, dân tộc, giống nòi, nguồn cội, tổ tiên, quê hương, con người, nhân dân Việt Nam, đó là tất cả những gì vô cùng cao quý, hết sức thiêng liêng trong mỗi con người Việt Nam yêu nước thương nòi. Chắc chắn đó không phải là cái ở trên lá cờ đỏ sao vàng năm cánh đã từng “nhuộm” rất nhiều máu con dân Việt Nam, không ở hành vi trịnh trọng cúi đầu trước là cờ ấy, không ở hành vi đặt tay lên cuốn Hiến pháp (mà dưới nó còn cả một hệ thống luật pháp) không bao giờ là của nhân dân và ở việc giơ tay tuyên thệ trước các đại biểu quốc hội bù nhìn, trái lại, đó là tình cảm, ý chí, tinh thần, cả thân xác và hành vi được rèn dưỡng bền bỉ, chuyên cần và dạn dày không ngừng trong cuộc sống và đấu tranh vì đức tin, chính nghĩa, vì những giá trị chân-thiện-mỹ cao quý ở đời. Nhưng ở ông những điều thiêng liêng ấy đã nhường chỗ cho toàn bộ cuộc đời tư tưởng, lý luận giáo điều-đu dây. Vậy, có chăng ông có thể làm được một sự nghiệp KỲ NHÔNG?! Ông hãy cố nuốt giận thì may ra còn cơ hội.

Ngày 25 tháng 10 năm 2018
Phạm Văn

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Cuộc đấu tranh này
Trần Trung Đạo

“…Trên chặng đường tranh đấu gian nan, có những người đứng chờ ở mỗi sân ga để bước lên cùng đi với đất nước. Cũng ngay tại sân ga đó lại có người bước xuống theo chọn lựa riêng của mình…”

cungnhau_dautranh“…Trên chặng đường tranh đấu gian nan, có những người đứng chờ ở mỗi sân ga để bước lên cùng đi với đất nước. Cũng ngay tại sân ga đó lại có người bước xuống theo chọn lựa riêng của mình…”

Một câu hỏi mà người viết thường được hỏi và cũng thường được nghe tranh luận là “Việt Nam có nhiều trăm tù nhân lương tâm bị CS bỏ tù với những bản ác khắc nghiệt nhưng tại sao nỗ lực của người Việt, trong cũng như ngoài nước, chỉ tập trung vận động cho một vài người?”

Câu hỏi đúng về mặt tình cảm nhưng có lẽ nên phân tích sâu thêm về lý luận. Cuộc đấu tranh nào cũng thế, có những người tranh đấu, có phong trào tranh đấu nhưng trên hết phải có biểu tượng của cuộc đấu tranh.

Việt Nam có một phong trào dân chủ chưa?

Định nghĩa một cách tổng quát, phong trào là tập hợp của những người cùng chia sẻ một niềm tin, một ước muốn, một mục tiêu nhất định nối kết nhau bằng tình cảm và sự tin cậy. Đặc điểm để hình thành một phong trào xã hội là các thành viên tham gia sở hữu những nhận thức căn bản về những bất công xã hội họ đang chứng kiến, có khả năng hành động tập thể, có không gian thông tin, có cơ hội bày tỏ quan điểm.

Bốn mươi ba năm trước, Việt Nam chìm sâu trong bóng tối của chủ nghĩa CS. Không có không gian và thời gian như dừng lại. Nhưng ngày nay điều kiện thế giới và cuộc cách mạng tin học đã ít nhiều làm thay đổi nhận thức nhiều người Việt. Tuy chưa đủ lớn mạnh như tại các nước độc tài CS trước 1991 hay độc tài không CS như Miến Điện, Ai Cập nhưng qua định nghĩa rộng đó, Việt Nam đã có phong trào dân chủ.

Biểu tượng của phong trào thường là một hay một số người có những hoạt động nổi bật, gây được tiếng vang quốc tế, được nhiều người biết đến và thu phục được cảm tình của các thành viên trong phong trào.

Nelson Mandela không phải là người sáng lập nên tổ chức Nghị Hội Toàn Quốc Nam Phi (African National Congress) và chỉ là một trong tám người bị kết án chung thân trong phiên xử ngày 12 tháng Sáu năm 1964. Chuyến bay đêm ra nhà tù trên đảo Robben Island có bảy tù nhân chứ không phải một mình Nelson Mandela. Tuy nhiên, thế giới gần như không biết gì nhiều về Walter Sisulu, Govan Mbeki và năm người khác mà chỉ biết Nelson Mandela. Lý do, Nelson Mandela là biểu tượng đấu tranh của phong trào chống kỳ thị chủng tộc tại Nam Phi.

Tương tự, thế giới nỗ lực vận động cho bà Aung San Suu Kyi và gần như bỏ qua số phận của nhiều ngàn tù chính trị bị giam giữ tại nhà tù Insein Prison ở Rangoon suốt từ năm 1962 khi tướng Ne Win đảo chánh chính phủ dân chủ và thiết lập bộ máy độc tài quân phiệt.

Trong 15 năm, ngoại trừ một thời gian ngắn bị giam trong một căn nhà nhỏ nằm trong khu vực nhà tù Insein, bà Aung San Suu Kyi sống trong một biệt thự, có khu vườn rộng, không phải lao động khổ sai, không đói khát, an nhàn đọc sách. Lý do thế giới tập trung ủng hộ bà vì bà là biểu tượng cho cuộc đấu tranh chống độc tài quân phiệt Miến Điện.

Nelson Mandela và Aung San Suu Kyi là tù nhân, nhưng quan trọng hơn là tù nhân biểu tượng của cuộc đấu tranh. Ủng hộ Nelson Mandela và Aung San Suu Kyi là một cách ủng hộ cho phong trào dân chủ tại Nam Phi và Miến Điện.

Phong trào dân chủ Việt Nam thiếu những biểu tượng đấu tranh có nhiều tiện nghi, tầm mức và lâu dài như Nelson Mandela hay Aung San Suu Kyi. Nhưng nếu chưa có chẳng lẽ ngồi chờ một lãnh tụ anh minh xuất hiện dẫn dắt phong trào hay sao. Không. Thay vào đó, trong mỗi giai đoạn, phong trào dân chủ có một hay hai biểu tượng tính theo thời gian họ có những hoạt động nổi bật và bị CSVN kết án.

Nguyễn Đan Quế (1978, 1990), Hà Sĩ Phu (1996), Lê Chí Quang (2002), Phạm Hồng Sơn (2003), Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân (2007), Nguyễn Văn Hải (2008), Đoàn Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng (2010), Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long, Trần Huỳnh Duy Thức (2010), Cù Huy Hà Vũ (2010), Tạ Phong Tần (2012), Lê Quốc Quân (2012), Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha (2013), Nguyễn Văn Đài (2015), Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (2016). Đó là chưa nhắc đến các vị lãnh đạo tôn giáo và một số khá đông cá nhân và đoàn thể khác.

Báo chí và dư luận thế giới, cả người Việt ở hải ngoại, khó có thể biết hết và dành những quan tâm đúng mức cho một danh sách dài những tù nhân lương tâm đang bị CS bỏ tù tại Việt Nam, do đó, biểu tượng đấu tranh là cần thiết. Vai trò của một biểu tượng không chỉ đúng cho trường hợp Việt Nam mà là một nguyên tắc cách mạng đã chứng minh tại hầu hết các cuộc cách mạng dân chủ trên thế giới.

Những người được xem là biểu tượng của một giai đoạn đấu tranh dân chủ tại Việt Nam trước hết là vì lòng can đảm. Họ được vinh danh, ca ngợi cũng chỉ vì họ đã dâng hiến tuổi thanh xuân cho tương lai tự do dân chủ của đất nước. Mọi ca ngợi hay vinh danh dành cho họ đều chỉ giới hạn trong không gian và thời gian họ hoạt động và bị tù. Nếu họ được tự do, cám ơn họ đã đi một chặng đường cùng với phong trào dân chủ nói riêng và đất nước nói chung, sau đó nên để họ bình yên với chọn lựa của mình.

Phần đông trong số họ chẳng phải là Nelson Mandela, Aung San Suu Kyi, Václav Havel hay Andrei Sakharov. Họ đứng lên chỉ vì bất bình trước một xã hội bất công và chấp nhận tù đày. Đừng kỳ vọng quá nhiều vào họ và cũng đừng đặt họ vào những vị trí mà họ chưa thể đứng vững để rồi thất vọng, chán chường, trách móc và quay sang hằn học.

Ngay từ thời Lenin, ba phương pháp chính trị học đã được các chế độ CS dùng để vô hiệu hóa một đối tượng: cô lập hóa, trung lập hóa và thỏa hiệp. Trong tuyển tập Mao Trạch Đông, họ Mao từng nói nhiệm vụ của đảng CS không chỉ thắng kẻ thù nhưng quan trọng hơn là phân hóa kẻ thù. “Phân hóa kẻ thù” trong trường hợp đang bàn là làm cho mọi người chung quanh ghét bỏ, khinh bỉ và xa lánh một đối tượng.

Gắn cái nhãn “dân chủ cuội” hay “đấu tranh để được ra nước ngoài” là cách dễ nhất để cô lập một đối tượng. Với suy nghĩ nặng cảm tính của nhiều người Việt, không cần phải lập lại ba lần như trong chuyện “Tăng Sâm giết người” mà chỉ chụp mũ một lần cũng đủ làm mọi người xa lánh đối tượng mà chế độ CS cần cô lập. Rất buồn, cho tới nay đảng CSVN chứng tỏ rất thành công với chiến thuật rất căn bản, quen thuộc nhưng hữu hiệu này.

Đừng tự nguyện thực thi chính sách phân hóa kẻ thù giùm cho đảng CS. Đừng để lòng yêu nước bị CS khai thác như CS đã từng làm khi đẩy nhiều triệu tuổi trẻ miền Bắc vào lò lửa chiến tranh và dụ dỗ nhiều tuổi trẻ miền Nam trở thành những tay sai cho đảng lũng đoạn xã hội miền Nam trước năm 1975.

Còn những kẻ cơ hội thì sao? Vâng, những kẻ cơ hội bao giờ cũng có, ở đâu cũng có, lãnh vực nào cũng có. Trong phong trào dân chủ Việt Nam còn non trẻ, phân tán, lỏng lẻo và phải đương đầu với khó khăn từ mọi phía cũng vậy, khó có thể tránh khỏi những người núp dưới chiếc dù lý tưởng tự do dân chủ để kiếm sống hay trục lợi bằng việc lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người khác. Tuy nhiên, không nên từ vài kẻ cơ hội để suy ra hay đánh mất niềm tin vào cả một phong trào.

Trong danh sách người viết kể ở phần trên, có ai biết Lê Chí Quang, người một thời đã đánh thức bao nhiêu triệu người với bài viết “Hãy cảnh giác với Bắc Triều” bây giờ đang ở đâu, làm gì và còn có mặt hay không trên hành trình tranh đấu hôm nay? Chắc không nhiều người còn nhớ. Nhưng điều đó không quan trọng. Trên chặng đường tranh đấu gian nan, có những người đứng chờ ở mỗi sân ga để bước lên cùng đi với đất nước. Cũng ngay tại sân ga đó lại có người bước xuống theo chọn lựa riêng của mình. Họ mệt mỏi, họ chán nản, họ hết năng lực, họ thỏa hiệp hay có thể vì bất cứ lý do nào. Dù chọn lựa của họ là gì đi nữa vẫn cám ơn những cống hiến của họ và có họ hay không con tàu vẫn tiếp tục băng trên đường lịch sử mang theo những hành khách mới.

Hành khách mới hôm nay là Lê Đình Lượng 20 năm tù, Đào Quang Thực 14 năm tù, Hoàng Đức Bình 14 năm tù, Nguyễn Trung Trực 12 năm tù, Nguyễn Đình Thành 7 năm tù, Lưu Văn Vịnh 15 năm tù, Nguyễn Quốc Hoàn 13 năm tù, Từ Công Nghĩa 10 năm tù, Nguyễn Văn Đức Độ 11 năm tù, Phan Trung 8 năm tù.

Ngoài ra, một danh sách trên 200 tù nhân khác trong đó có những tên tuổi quen thuộc như Trần Anh Kim 14 năm tù, Trần Thị Nga 9 năm tù, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng 9 năm tù, Nguyễn Trung Tôn 12 năm tù, Trương Minh Đức 12 năm tù, Nguyễn Bắc Truyển 9 năm tù, Phạm Văn Trội 7 năm tù.

Tất cả hiện đang sống trong địa ngục trần gian ở Việt Nam. Hãy làm quen và cùng đi với họ trong cuộc đấu tranh này.

Trần Trung Đạo

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Thông điệp của tân thái thú
Tháng Chín
(Danlambao) - Từ trước đến nay nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn phủ nhận chuyện chia rẽ, phe cánh và đấu đá nội bộ trước công luận. Trong hàng loạt bài báo Nhân Dân, các chương trình tuyên truyền lề đảng, ban Tuyên giáo Cộng sản luôn cho rằng các thế lực thù địch có "âm mưu chia rẽ đảng và nhân dân". Đảng CSVN cũng phủ nhận chuyện lựa chọn đồng minh chính trị khi có dư luận "thân Mỹ hay thuộc Tàu". Tuy nhiên, bất cứ người dân nào quan tâm đến các tin tức chính trị - xã hội cũng có thể thấy rằng, các lãnh đạo của đảng CSVN luôn có thông điệp gửi đi cho Bắc Kinh mỗi khi có một động thái thuần phục. Vậy lần này, khi Tổng bí Thư Nguyễn Phú Trọng chính thức ngồi vào ghế Chủ tịch nước trong một cuộc bầu cử kín không có đối thủ, đảng CSVN muốn thưa gì cùng đàn anh Trung Cộng?

Ngày 23/10/2018, ông Nguyễn Phú Trọng - Tổng bí thư đảng - chính thức đắc cử chức vị Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trong một cuộc bầu cử không có đối thủ.

Trước đó, sau tang lễ của cố Chủ tịch nước Trần Đại Quang một tuần, hàng loạt hãng tin, báo chí lề đảng đồng loạt đưa tin Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng được "đề cử" ngồi vào ghế chủ tịch với sự đồng thuận 100% của ban chấp hành trung ương đảng (bao gồm luôn cả phiếu tự đồng thuận của Nguyễn Phú Trọng).

Ông Trọng điềm nhiên, chễm chệ bước vào một cuộc chạy đua không cần phí sức. Trong cuộc đua này người thắng nằm ở tận nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa còn người thua là người dân Việt Nam, những người hoàn toàn không có quyền quyết định.

Trước đó, trên con đường thuần phục của mình, đảng CSVN đã ban hành Luật Đặc khu và nhận được sự phản ứng dữ dội từ phía người dân. Sự phẫn nộ của hàng triệu trái tim Việt Nam đã làm chậm tiến trình thuần phục một chút nhưng với sự chuẩn bị kỹ càng từ việc mở thẳng đường bay đến các thành phố đặc khu như Nha Trang, Phú Quốc, mở đường xe hơi lái thẳng đến Quảng Ninh thì dường như việc Luật đặc khu được thông qua chỉ là vấn đề về thời gian.

Ngày 28/8/2018, hai tháng sau các cuộc biểu tình phản đối Luật đặc khu của người dân Việt Nam và Luật Đặc khu bị hoãn, để vuốt ve và "tạ lỗi" thiên triều, thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký ban hành Thông tư số 19/2018/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động thương mại biên giới Việt Nam-Trung Quốc. (1) Thông tư vừa được ban hành và đã chính thức đi vào thực thi vào ngày 12.10.2018 đã làm dấy thêm lên sự nghi ngờ về các cam kết từ Hội nghị Thành Đô 1990.

Ngày 23/10/2018, ngày tân thái thú Nguyễn Phú Trọng chính thức lên ngôi, báo lề đảng đưa tin "Anh thợ điện bị phạt 90 triệu vì đổi 100 USD tại tiệm vàng (2). Những tưởng đây chỉ là một bản tin bình thường nhưng thật ra nó có thông điệp chính trị trong đó khá rõ ràng. Ai cũng biết nhắc đến đồng đô la người ta nghĩ ngay đến nước Mỹ. Và ở Việt Nam, khi có hoạt động mua bán trao đổi ngoại tệ người dân thường chọn giao dịch tại các tiệm kinh doanh vàng bạc đá quý.

Thông điệp mà tân thái thú Nguyễn Phú Trọng gửi đến cho đảng mẹ Trung Cộng đã quá rõ ràng: "Đảng Cộng sản Việt Nam không chấp nhận nước Mỹ và các giá trị tự do của người Mỹ". Tương lai của Việt Nam gần như đã được quyết định.

Đảng Cộng sản đã đưa ra sự lựa chọn của mình, vậy thì 90 triệu con dân Việt Nam liệu có chấp nhận vận mệnh, tương lai của đất nước sẽ phủ bóng cờ Phúc Kiến hay không?

24.10.2018
Tháng Chín

Post Reply