Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

nhuvan
Posts: 383
Joined: Sun Mar 27, 2016 8:29 pm

Post by nhuvan »

Image

Tham nhũng là chủ nghĩa tân cộng sản
Jenny Phạm (dịch)
(Danlambao) - Khi nào cũng có tham nhũng. Ngay từ thời Cựu Ước, Kinh Thánh, sách Phục Truyền, chương 16 câu 19 chép rằng: “Ngươi chớ nhận hối lộ. Bởi, của hối lộ làm mờ mắt kẻ thông minh, làm rối lòng người khôn ngoan, làm thiên lệch người công chính.” Mức độ tai hại của tham nhũng đang càng ngày càng trầm trọng, nhất là khi bước vào thế kỷ 21.

Những cú tham nhũng khủng - sử dụng quyền lực để thâu tóm tài nguyên quốc gia phục vụ cho chính bản thân và phe cánh trên một quy mô lớn – đã thay đổi hẳn hệ thống chính trị của nhiều nước. Chính nó đã sinh ra và nuôi dưỡng độc tài. Rồi, những kẻ độc tài này sẽ nắm giữ quyền hành vô hạn định, để tiếp tục ăn cắp, giành ra một phần đồ ăn cắp đi đút lót, hoặc gây áp lực lên những viên chức khác.

Những vụ đại tham nhũng còn bóp méo nền kinh tế quốc dân, đến mức ảnh hưởng lớn đến đời sống của một cộng hay một dân tộc. Thí dụ, họ đã lái những nguồn đầu tư cho cả cộng đồng vào tài khoản riêng của băng đảng rồi phân bổ nguồn đầu tư này một cách bất công, theo hướng có lợi cho những kẻ cùng phe cánh.

Những phi vụ tham nhũng lớn đã sinh ra một hệ thống chính trị và kinh tế tương tự như sự ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản ở thế kỷ trước. Ở đâu có chủ nghĩa cộng sản là ở đó có nền chính trị đàn áp và một nền kinh tế đói nghèo.

Vào thế kỷ 21, tham nhũng chỉ là sự tiếp nối của chủ nghĩa cộng sản ở thế kỷ 20. Chính tham nhũng và cộng sản đã sinh ra những mâu thuẫn mang tính toàn cầu.

Liên Xô quảng bá rầm rộ và áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên nhiều nước. Đó là mối đe dọa chính cho hòa bình thế giới sau từ Thế chiến II cho đến kết thúc Chiến tranh Lạnh. Như vậy, đại tham nhũng là nguồn đe dọa lớn nhất tới hòa bình và ổn định trên thế giới hiện nay. Đánh tham nhũng cũng là một cách mang lại sự ổn định cho nhân loại.

Thử thách trước mắt tới từ ba quốc gia hiếu chiến. Ba quốc gia này muốn giành giật vai trò lãnh đạo địa chính trị. Họ sẵn sàng dùng vũ lực để thực hiện ý đồ riêng.

Tại Âu Châu là Nga – cướp bán đảo Crimea, xâm lược miền Đông Ukraine. Ở Á Châu là Trung Quốc – muốn cướp phần lớn Tây Thái Bình Dương, xây dựng đảo nhân tạo, thay đổi nguyên trạng, và lập căn cứ quân sự ở Biển Đông. Ở Trung Đông là Iran – đã xây dựng một lực lượng võ trang riêng sẵn sàng hành động dưới danh nghĩa Lebanon, Iraq, Syria, và Yemen.

Chính sách ngoại giao hung hăng của bộ ba Nga – Tàu – Iran đang là mối đe dọa tới những quốc gia lân cận. Đây cũng là mối quan ngại quốc tế của Hoa Kỳ.

Có nhiều nguyên nhân để những bộ ba Nga – Tàu – Iran theo đuổi chính sách ngoại giao hiếu chiến. Mỗi nước có động cơ riêng, nhưng đều có một điểm chung là: Bảo vệ chế độ.

Chính quyền Nga của Vladimir Putin, Đảng Cộng Sản Trung Quốc của Tập, và hàng giáo phẩm của Cộng hòa Hồi giáo Iran đều trở thành độc tài. Mặc dù nền dân chủ đương đại trên thế giới đang gặp khó khăn, nhưng nó vẫn đủ mạnh làm cho bộ ba Nga – Tàu – Iran phải run sợ. Bộ ba này chỉ còn cách níu bám quyền lực bằng đàn áp. Họ chẳng màng tới sự ủng hộ của dân chúng.

Không một ai trong bô ba: Nga – Tàu – Iran có ý muốn thiết lập lên một nền dân chủ hợp hiến mang tính chính danh. Bởi vì, dân chủ sẽ bóp chết họ.

Vào thế kỷ 20, chính phủ Nga và Trung Quốc giành được quyền lãnh đạo dựa trên nền tảng của ý thức hệ. Họ lãnh đạo quốc gia bằng tư tưởng cộng sản Mác – Lê có pha chủ nghĩa Mao ở Trung Quốc.

Vào thế kỷ 21, những môn đệ cộng sản đã loại bỏ ý thức hệ cộng sản một cách công khai như ở Nga, hay một các lén lút như ở Trung Quốc. Chính quyền Iran mang ý thức hệ tư tưởng dựa trên nền tảng của Hồi giáo hệ phái Shia. Nhưng có rất ít người tin vào những ý thức hệ này.

Nền độc tài hậu cộng sản ở Nga, và hậu Mao ở Trung Quốc chỉ còn biết bám víu vào sự phát triển kinh tế để giành lấy chút danh dự như họ đang có hiện nay. Công thức về sự thành công kinh tế của Nga là nâng giá dầu, của Trung Quốc là một món lẩu kết hợp cuộc di dân khổng lồ từ nông thôn vào thành thị, cuộc đầu tư lớn của chính quyền trung ương vào hạ tầng cơ sở, tăng xuất khẩu. Lòng tham của Trung Quốc là vô tận. Còn nền kinh tế Iran càng ngày càng lụi bại từ ngày thành lập nền Cộng hòa Hồi giáo. Nỗi bất mãn xã hội ngày một tăng.

Không thể áp dụng dân chủ, hay tăng trưởng kinh tế để vận hành xã hội, bộ ba chính quyền Nga – Tàu – Iran khích động vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan trong dân chúng để bám lấy tính chính danh.

Giành sự ủng hộ của dân chúng đóng vai trò quan trọng trong chính sách của mỗi thành viên trong bộ ba. Họ thường khuyếch trương những hoạt động quân sự vượt ra khỏi lãnh thổ để khẳng định vị trí phải được nể trọng trong vùng.

Những nhà lãnh đạo của bộ ba này thường cho rằng chính sách ngoại giao của họ là một cuộc đáp trả cần thiết tới đấu thủ Hoa Kỳ - kẻ đang làm suy yếu đất nước họ. Những thủ thuật này dường như cũng giành được chút thành công. Khá nhiều người Nga, người Tàu, người Iran tin như vậy. Chính quyền càng lao vào chính sách hung hãn, tạo ra những mối đe dọa nguy hiểm, đó là chiếc ô dù bao che tham nhũng.

Khi Putin, Tập Cận Bình, và giáo chủ Hồi giáo Iran thực hiện chính sách ngoại giao hung hăng; họ định hướng cho nỗi bất mãn xã hội vượt ra ngoài biên cương. Thực chất là họ bảo vệ chế độ - chế độ này bảo vệ cho tham nhũng. Cả bộ ba Nga – Tàu – Iran là ổ tham nhũng lớn nhất toàn cầu.

Chính quyền Nga và Tàu hiện tại là những thí dụ điển hình đến mức hoàn hảo về “kleptocracy” (ND: Từ gốc Hy Lạp chỉ chính quyền lãnh đạo quốc gia theo kiểu độc tài, băng đảng, đầu xỏ, tối cao, tuyệt đối đúng, sử dụng vũ khí, quân đội, cảnh sát điều hành chính trị, bóc lột và cướp đoạt tài nguyên quốc gia.) Chính phủ đã đánh cắp nguồn tài nguyên khổng lồ chia chác cho những kẻ cùng phe cánh núp dưới mọi danh nghĩa. Ngược lại những kẻ được thụ hưởng những ơn mưa móc phải bảo vệ chế độ.

Đó là cách điều hành của kẻ cầm quyền hậu cộng sản. Mục đích giành quyền bính là để biển thủ tài sản công thành tài sản riêng. Những kẻ phục vụ cho chế độ Putin và hầu hết đảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ tìm kiếm những vị trí thăng tiến nhanh để làm giàu. Ở Iran, có quan chức được đề cử, (còn phần lớn chẳng cần phải đề cử) chỉ cần trung thành với luận điểm tuyên truyền của Hồi giáo. Tham nhũng lan tràn khắp mọi nơi. Lãnh đạo dùng quyền lực để làm giàu cho riêng họ và thân hữu bằng cách sử dụng tổ chức bán võ trang, cảnh sát, hiến binh cách mạng.

Tham nhũng khủng góp phần đánh lạc hướng dư luận công chúng, bằng cách khuyếch trương chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Điều này cực kỳ quan trọng cho cả bô ba Nga – Tàu – Iran. Bởi vì, dân chúng rất căm phẫn tham nhũng.

Không một ai ưa tham nhũng, nhưng không một ai dám đứng lên công khai chống tham nhũng. Còn những chính quyền mang đậm mùi kleptocratic, cũng chỉ ra vẻ chống tham nhũng.

Liên bang Xô viết và Trung Quốc từng tuyên xưng vai trò lãnh đạo của họ là sứ mạng ý thức hệ cộng sản. Nhưng những môn đệ của họ không thể ngồi đó mà cạp lấy miếng ý thức hệ hão huyền và đói nghèo. Họ phải ăn cắp, và ăn cắp trên bình diện rộng lớn khủng khiếp.

Trong thời kỳ cộng sản chính thống, người Nga và người Tàu luôn bị đòi hỏi phải hy sinh, phải kiềm chế, phải chịu đựng, phải nhẫn nại, phải biết chờ đợi vì một tương lai sáng ngời đang chờ đợi phía trước. Ở Iran cũng đang làm như vậy.

Giờ đây, những nhà lãnh đạo Nga – Tàu không thể đòi hỏi môn đệ phải hy sinh, phải khiên nhẫn, phải chờ đợi. Nên họ đã biến những kẻ chỉ biết vâng lời thành những kẻ chỉ biết vơ vét, ăn không trừ một thứ gì. Đây mới là mục đích thực của họ.

Chủ nghĩa cộng sản cáo chung trên nhiều quốc gia nhưng cũng không mang lại sự tự do hơn, giàu có hơn, hay hòa bình hơn. Nhưng nếu kết liễu chính quyền kleptocracy đang vận hành ở Nga – Tàu – Iran sẽ mang lại những kết quả khả quan.

Sự cáo chung của bộ ba này sẽ loại bỏ những cuộc đàn áp chính trị, loại bỏ rào cản kìm hãm sự phát triển xã hội, giải phóng nguồn lực để phát triển kinh tế, và quan trọng hơn cả là loại bỏ nguyên nhân căng thẳng toàn cầu.

Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản là bài học đáng ghi nhớ về tương lai của nạn tham nhũng khủng. Chẳng có một quốc gia khác nào tham gia khéo đổ Liên Xô. Đó là công việc của người Nga và những người dân thuộc khối đế quốc Liên Xô cũ. Giờ đây chỉ chính người Nga, người Tàu mới đủ sức mạnh lật đổ được thể chế lớn tầm châu lục và có vũ khí hạt nhân.

Khá dễ để lật đổ chính quyền Hồi giáo Iran bằng quân sự trong khi chưa có vũ khí nguyên tử. Thế nhưng, thế giới rất ngần ngại. Hơn nữa, nếu kết liễu bộ ba chính quyền độc tài Nga – Tàu – Iran đã chắc gì bảo đảm có một thể chế tốt đẹp, ổn định, và dân chủ. Cộng sản Nga sụp đổ đã dâng hiến tất cả thành tựu cho riêng Putin. Dân chủ vẫn vô cùng mờ mịt với người Nga.

Thế giới chỉ góp phần làm suy yếu chính quyền độc tài, tham nhũng đang nắm giữ quyền hành ở Nga – Tàu – Iran và tăng cường ổn định của thế giới. Cuộc Chiến tranh Lạnh chống chủ nghĩa cộng sản từng trải qua hai giai đoạn quan trọng.

Hiệp ước Helsinki 1975, được ký kết giữa Liên Xô cùng đồng minh cộng sản và phương Tây. Hai phe cùng tôn trọng nhân quyền và quyền tự do căn bản.

Các chính quyền cộng sản có thói quen. Ký thì cứ ký, nhưng chẳng khi nào họ có ý định tôn trọng những điều khoản trong Hiệp ước mà họ đã hứa. Nhưng rồi, Hiệp ước đã đóng vai trò quan trọng để người dân đứng lên đòi quyền con người một cách ôn hòa ở Trung và Đông Âu vào năm 1989.

Tương tự như vậy, nhân loại đang chú ý tới vấn đề tham nhũng khủng xảy ra tại Nga – Tàu – Iran. Người Nga, người Tàu, và người Iran là nạn nhân chính. Những người dân ở ba quốc gia này không cảm thấy họ bị bỏ rơi. Họ phải chiến đấu với chính quyền độc tài, tham nhũng, để đưa đất nước hội nhập.

Việc thiết lập một Tòa án Quốc tế Chống Tham nhũng bởi thẩm phán người Mỹ Mark L. Wolf có thể là ngọn đèn soi rọi vào nới tăm tối của những chính quyền kleptocracies.

Trong suốt chiều dài của Chiến tranh Lạnh, phương Tây không hề có ý định lật đổ Liên Xô bằng quân sự. Phương Tây chỉ có thể làm được là giảm bớt cường độ lớn mạnh của cộng sản như giới hạn, hoặc không trao đổi kỹ thuật quân sự nhậy cảm. Giờ đây, phương Tây cũng nên làm như vậy để khuyến khích dân chủ trên quốc gia độc tài theo kiểu kleptocracies.

Những người đồng chí của chính quyền độc tài tham nhũng Nga – Tàu đang cố vơ vét tới những đồng xu cuối cùng rồi chuồn qua phương Tây mua bất động sản lớn.

Luật pháp nghiêm minh bắt buộc phải khai báo nguồn tài chính để chống rửa tiền đã được áp dụng ở phương Tây. Tổ chức Chống Độc tài Tham nhũng (Kleptocracy Initiative) có văn phòng tại Washington D.C. có thể là một giải pháp chống tham nhũng. Nhưng Tòa Chống Tham nhũng Quốc tế và bộ luật nghiêm minh ở phương Tây cũng không thể kéo đổ chính quyền độc tài tham nhũng của Nga – Tàu – Iran được.

Vẫn biết, tham nhũng lớn và nhỏ chẳng bao giờ có thể tiêu diệt được ngay cả xã hội khá trung thực phương Tây. Động lực giành lấy nguồn lợi lộc mãnh liệt hơn nhiều so với lòng trung thực. Nạn lạm quyền hiện hữu khắp mọi nơi. Nhưng định chế quốc tế vẫn có thể làm suy yếu những chính quyền độc tài tham nhũng, hay buộc họ phải thu nhỏ quy mô và thế giới bớt đi phần nào nguy hiểm.

Corruption Is the New Communism by Michael Mandelbaun; The Amrican Interest; March 25,2019

Michael Mandelbaun là giáo sư giảng dạy khoa Chính sách Ngoại giao Mỹ, Đại học Johns Hopkins. Ông là thành viên trong Bộ Biên tập của tạp chí The American Interest, và cũng là tác giả của cuốn The Rise and Fall of Peace on Earth; Oxford University Press.

Jenny Phạm

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Image

Đừng Hỏi Vì Sao Tháng Tư Buồn...
Thursday, March 28, 2019

Đó là điều tôi muốn nói với bạn. Sau ngày tàn cuộc chỉến, hình như gia đình tôi cũng như hầu hết bao gia đình Việt Nam trong giai đoạn ấy đều có những mất mát lớn lao. Bốn mươi năm kể từ tháng Tư năm 1975, bây giờ tôi mới viết được bài thơ cho người anh trong gia đình, đã mất tích trên đoạn đường từ Quảng Ngãi về Qui Nhơn.

Năm vừa qua, chuyến xe đưa chúng tôi từ Đà Nẵng về Qui Nhơn, tôi mới có dịp đi qua đoạn đường "máu đổ thây phơi" của 40 năm trước. Đi qua những địa danh quen thuộc miền Trung, từ Đức Phổ, Mộ Đức, những quận lỵ xơ xác đói nghèo vì chiến tranh đã được hồi sinh. Có lẽ 40 năm sóng biển Sa Huỳnh vẫn vỗ vào bờ một nỗi buồn xa vắng. Hai bên ruộng lúa vẫn xanh rờn, xa xa dải núi mờ sương lại khiến tôi thương cảm không cầm được giọt lệ. Tôi biết anh đã yên nghỉ, nhưng nắm xương tàn nằm ở đâu thì cho đến bây giờ vẫn chưa tìm lại được.

Tháng Tư. Đốt nén hương lòng tưởng nhớ anh, một người anh hiền hoà, luôn thương yêu các em. Sau 40 năm anh đã yên nghỉ, gửi nắm xương tàn nơi rừng sâu núi thẳm, nhưng nỗi thương nhớ vẫn còn ở lại với người thân trong gia đình.

Bốn mươi năm mới viết nổi bài thơ, “Đừng Hỏi Vì Sao Tháng Tư Buồn”, hay 40 năm nhìn lại với một nỗi buồn khó nguôi.

Đừng Hỏi Vì Sao Tháng Tư Buồn

Gần bốn mươi năm, một lần về
Ngỡ ngàng cứ tưởng lạc cơn mê
Tìm lại những hình xưa bóng cũ
Đường về sao chỉ thấy buồn hơn.

Chuyến xe Quảng Ngãi về Qui Nhơn
Hai bên ruộng lúa vẫn xanh rờn
Mới nghe chị kể: “con đường máu”
Máu đổ thây phơi suốt dọc đường.

Lạc nhau trên bước đường ly loạn
Chị về thành phố với con thơ
Còn anh theo toán quân lên núi
Từ đấy người đi, kẻ ngóng chờ.

Một năm, hai năm rồi ba năm…
Rặng núi mờ sương vẫn lặng câm
Người đi, đi mãi không về nữa
Cô phụ lòng đau chỉ khóc thầm…

Qua rồi chinh chiến bốn mươi năm
Đoàn quân lên núi vẫn xa xăm…
Tháng Tư chị chọn là tháng giỗ
Đốt nén trầm hương tưởng nhớ chồng.

Tháng Tư nến thắp trên ngọn thông
Vọng hồn tử sĩ khắp non sông
Ôi toán quân xưa không trở lại
Con vẫn chờ cha, vợ ngóng chồng…

Đừng hỏi vì sao tháng Tư buồn...
Khóc người nằm lại chốn rừng sâu
Lơ lửng mây vờn quanh đỉnh núi
Nhớ người lính cũ chết từ lâu.


Nguyên Nhung
(Đặc San Lâm Viên)

nhuvan
Posts: 383
Joined: Sun Mar 27, 2016 8:29 pm

Post by nhuvan »

Image

Kế hoạch nước rút của Tàu cộng trước khi sát nhập toàn bộ VN
Cánh Dù lộng gió
(Danlambao) - Thật ra từ khi Lê Khả Phiêu lên làm Tổng Bí Thư thì VN đã bị cắt đất cho Tàu Cộng khá nhiều để mua lại sự mê gái của LKP khi sang thăm Tàu Cộng.

Cái khôn nạn là cá nhân làm mà cả nước phải gánh chịu ảnh hưởng và thiệt thòi. Sau khi LKP rớt đài Nông Đức Mạnh lên thay thế, hắn tự nhận mình là dân tộc Choang một dân tộc thiểu số thuộc tỉnh Quảng Tây nên đã cấu kết với Nguyễn Tấn Dũng mời Tàu Cộng qua khai thác Bô Xít Tây Nguyên mà cho tới nay kết quả cho thấy báo cáo thua lỗ và gây ô nhiễm vì bùn đỏ tràn ra ngoài có nguy cơ gây nhiễm ung thư trong vùng.

Sau khi Nông Đức Mạnh xuống, Nguyễn Phú Trọng lên thay thế, từ đó tới nay nhờ cúc cung tận tụy bưng đóm điếu cho Tàu Cộng và được sự chống lưng của Tàu Cộng, Nguyễn Phú Trọng đã ngồi trên ghế Tổng Bí Thư khá vững chắc và loại trừ những phe cánh chống đối ra khỏi vòng chiến để sắp tới đây làm thái thú cho Tàu Cộng kiêm 2 chức vụ TBT và Chủ Tịch nước cho tới khi không còn kham nổi mới phải rời ghế quyền lực như quan thày Tập Cận Bình.

Nguyễn Phú Trọng là đứa con hoang đầu đàn của Tàu Cộng, gọi dạ bảo vâng, mọi cái đều ưu tiên cho Tàu Cộng, từ khi Trọng lên chức TBT hàng hoá Tàu Cộng tràn ngập trong nước, hầu như toàn bộ nhãn hiệu hàng hoá đều mang nhãn mác China. Lượn một vòng qua các chợ lớn từ Bắc chí Nam đâu đâu cũng xếp chật cứng hàng hoá của Tàu Cộng, họa huần lắm mới thấy hàng nước khác hay VN. Tàu Cộng âm mưu giết chết nền kinh tế VN từ trong trứng nước nên ồ ạt xâm nhập thị trường VN hàng hoá với giá rẻ mạt nhưng bắt mắt chất lượng thì miễn bàn, nội việc này đã ghìm chết hàng hoá và nền công nghiệp sản xuất trong nước rồi, mặt hàng hoá chất các loại tha hồ được nhập qua cửa khẩu tới các chợ và nhiều nhất là chợ Kim Biên.

Rượu cho vào nước lã ngay trong chợ Kim Biên chút hoá chất Tàu Cộng thành rượu ngon đủ đô cho dân ghiền, Phở nấu nước lã cho chút bột hoá chất sẽ bốc mùi phở như nấu xương bò thơm phúc, thịt heo biến thành thịt bò dễ ợt chỉ thoa đều chút hoá chất vào thịt heo thì Tôn Ngộ Không cũng chào thua không thể hơn được, heo hay gà chết muốn tươi lại, được thôi hoá chất "chú ba" sẽ tái sinh làm cho miếng thịt tươi rói lại, nước tương và nước mắm làm chi cho vất vả như nước mắm Phan Thiết hay Phú Quốc, chỉ nước lã một ít muối biển và chút hoá chất như Masan là thành nước mắm và nước tương hiệu Chinsu ngon và rẻ hợp khẩu vị dân VN ngay.

Những chuyện như thế Tàu Cộng cố ý đầu độc dân VN kèm theo những khu công nghiệp gần sông biển như Formosa và nhà máy nhiệt điện Bình Thuận xả cả ngàn tấn thải ra sông biển giết thuỷ hải sản và giết luôn cả dân VN một cách từ từ, cứ quan sát những bệnh viện Ung Bứu trong nước đầy chặt như nêm không còn chỗ chứa thì sẽ rõ kế hoạch của Tàu Cộng đang và đã thành công, chưa kể đến những quái thai do các bà mẹ dùng phải thức ăn có hoá chất gây ra.

Thanh niên thiếu nữ các làng quê giờ đã thưa thớt rất nhiều, lớp vào các thành phố lớn như Hà Nội Sài Gòn xin làm công nhân cho các nhà máy Tàu Cộng, lớp được khuyến khích đi làm osin cho các nước khu vực nên có những làng mạc chỉ toàn thấy trẻ con, ông già bà lão.

Cuối cùng Tàu Cộng áp dụng chiến thuật tằm ăn rỗi, nay ký hợp đồng đặc khu này, mai ký hợp đồng thuê đất chỗ kia, thuê người Việt đứng tên mua những khu đất đắc địa, cứ như thế Tàu Cộng đã gián tiếp sát nhập VN mà không gặp một sức phản kháng nào vì nó êm như tơ tằm Hằng Châu mà Tàu Cộng đã chỉ thị cho Nguyễn Văn Linh khi qua ký kết hiệp ước Thành Đô.

Cảnh một Tân Cương, Tây Tạng đang rên xiết dưới chế độ độc tài của Tàu Cộng không đánh thức được sự vô cảm của người dân VN nữa rồi, vì nỗi sợ hãi đàn áp của chế độ độc tài CSVN và phải ngửa cổ đóng thuế nặng và chịu sức ép tăng giá các mặt hàng nên không còn thì giờ, không còn hơi sức để mà phản kháng nữa đây cũng là một âm mưu trong những âm mưu mà Tàu Cộng đang áp dụng tại VN.

Hãy tỉnh táo trước những âm mưu sâu độc và cạm bẫy của Tàu Cộng trước khi quá muộn. Tổ Quốc VN là của người VN không phải là một tỉnh lẻ nào của Tàu Cộng. Người Việt hải ngoại và trong nước hãy nhớ điều này, bất cứ hiệp định ký kết nào của CSVN với Tàu Cộng đều bất hợp pháp vì chỉ có đảng CSVN ký kết với Tàu Cộng mà thôi người dân không biết những ký kết đó và phải được vô hiệu hoá trước luật pháp Quốc Tế.

Ngày 29/03/2019
Cánh Dù lộng gió

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Image

Theo dòng lũ đỏ
Bảo Giang
(Danlambao) - Có một điều mà ai cũng biết, một khi dòng nước đã chảy tràn qua bờ, làm vỡ đê, nước sẽ không tự ngừng lại để chờ người ta làm bờ đê khác. Trái lại, nó sẽ tiếp tục cuốn trôi đi những gì nằm trên dòng chảy.

Chuyện là thế, tuy nhiên, con người nhiều khi lại phạm một lỗi lầm lớn là không cùng nhau giữ cho đê khỏi vỡ. Hoặc giả, khi một mảng đê bị vỡ thì tất cả không cùng ra công ra sức. Trái lại, vẫn sống theo cảnh đèn nhà ai, nhà nấy rạng. Đến khi mở mắt ra, căn nhà của mình đã ngập nước đỏ rồi. Khi ấy, chạy đi đâu? Dầu có cả vợ chồng con cái thi nhau gào thét, khóc than, ai sẽ cứu đây? Đây là một câu hỏi không vui và câu trả lời trong hoàn cảnh này là một nỗi đau thấm thía. Ai gào thì cứ gào. Kẻ vui chơi, cười đùa vẫn không thay đổi. Kết quả, tất cả đều trắng mắt ra mà nhìn dòng nước đỏ nghiến nát đời dân tộc mình.

Đây là một câu chuyện buồn, thật buồn. Và còn buồn hơn thế nữa, nó là câu chuyện của người Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua! Tất cả chúng ta đều chìm trong một dòng chảy, nhưng người Việt lại mỗi người một phách, không biết nắm lấy tay nhau để cứu mình, cứu lấy gia đình và cứu lấy đất nước của mình. Cuối cùng, trơ ra trên cánh đồng trong cuộc bể dâu ấy là những thân cò mỏi cánh, rũ liệt và trên mảnh đất bùn lầy ấy là dăm ba cái cọc trơ thân, tróc vỏ và đầy tiếng oán than. Bên cạnh đó là một vài con lang sói no cành bụng.

Hẳn nhiên đây là những hình ảnh không đem lại cho chúng ta niềm vui, không ai muốn nhìn thấy. Tiếc rằng, nó không phải là hình ảnh xuông, nhưng lại là cảnh sống của người Việt Nam hôm nay. Ở đó, cái dòng nước đục đỏ hôi tanh kia vẫn cuồn cuộn trên đất nước này. Nó không chỉ phá nát căn nhà luân lý đạo đức của Việt Nam, nhưng còn là cuộc chia cắt đất đai của nhà Việt Nam ra từng mảnh để hiến dâng cho Tàu cộng phương bắc. Hỏi xem, rồi ra người dân Việt sẽ trôi dạt về đâu?

1. Tang thương, ly tán?

Ai cũng biết Việt Nam trải dài theo dòng sử hơn bốn ngàn năm, có lúc thịnh khi suy, nhưng xem ra chưa bao giờ gặp cảnh tang thương, ly tán và khốn cùng như thời Việt cộng. Bởi lẽ, từ xưa trong lịch sử nước ta chưa bao giờ có ghi chép về chuyện nhà nước giết người, đoạt của cải của người dân. Nhưng thời Việt cộng xem ra đây là một sách lược trường kỳ và chính yếu của chúng.

Khởi đầu, ngay từ những năm đầu của thập niên 1930, khi người dân chưa hề biết Việt Minh là cái gì thì họ đã bị khốn đốn vì chúng. Thời đó, với danh nghĩa “ủng hộ Việt Minh” những vùng thôn quê bị tạm chiếm, không có được một ngày yên. Nay chúng kéo về tra khảo của. Mai chúng bắt, lôi đi vài ba người có tên tuổi, có danh phận trong làng. Sáng hôm sau, cả làng, cả tổng đều vỡ mật khi thấy xác người thân quen trong làng bị chúng giết, và treo đầu lên trên cái cọc cắm giữa đường. Hoặc giả, giữa sân đình, miếu, trước cửa chợ hay nơi có nhiều người qua lại, với nét chữ nguệch ngoạc “mặt trận Việt Minh sử tử tên ác ôn”.

Từ đấy, cuộc sống của người dân nơi vùng thôn quê đã thực sự bị đẩy vào hoang mang, hoảng sợ. Ngày sợ quan về tuần tra. Đêm mất ngủ, mất mạng vì cái mã tấu của Hồ Chí Minh. Sự việc này đã đẩy người dân quê vào một trong hai bước đường bó buộc phải làm:

- Một là bỏ lại nhà cửa, tài sản, làng mạc và lặng lẽ đưa gia đình lên thành phố kiếm cuộc sống mới. Sau này, cuộc di cư vĩ đại của người dân miền bắc vào nam năm 1954 cũng được kể vào diện này.

- Hai là vì hoàn cảnh không thể rời bỏ làng quê thì đành cúi đầu vâng phục theo lệnh của cái mã tấu trong tay Việt cộng. Tự gom góp tài sản, tự bắt gà vịt và tích cóp gạo thóc dâng cho chúng.

Kịp đến những năm 1953-56, việc cướp của giết người của Hồ Chí Minh thêm nở rộ. Hơn thế, nó trở thành một chính sách lớn của nhà nước Việt cộng. Từ đây không một làng, xã, huyện, phủ hay thành thị nào trên đất bắc mà không bị Hồ Chí Minh chỉ tên, đấu tố. Kết quả, chỉ trong vòng gần 4 năm (1953-56), hơn 172000 ngàn người chủ nhà Việt Nam đã bị Hồ Chí Minh sát hại và tịch thu toàn bộ tài sản của gia đình họ. Tính theo tỷ lệ dân số lúc bấy giờ thì theo báo cáo chính thức của chúng: “các vùng đều đạt chỉ tiêu từ 5 đến 7% dân số” bị giết chết và bị tịch thu tài sản. Tuy nhiên, có nhiều vùng còn vượt xa chỉ tiêu này.

Bạn hỏi Hồ Chí Minh là ai mà độc ác, tàn bạo như thế ư? Cho đến nay, ngoại trừ tập đoàn Việt cộng cho Y là người Việt, là lãnh đạo và còn nâng Y lên hàng cha già của chúng. Trong khi đó, sách vở của người Việt lại có cái nhìn khác về hắn. Trước hết, bản thân Y có thể không phải là người Việt Nam. Bởi lẽ, lý lịch của Hồ có nhiều điểm dối trá, có những điểm không thể chứng minh. Ngay trong cách ăn mặc của Y đã là một khác biệt. Cả đời Y chỉ khoác trên người những bộ quần áo đại cán của CS Trung cộng. Đây cũng là một điểm hoàn toàn khác biệt với cung cách của Nguyễn Tất Thành, một người chỉ thích ăn mặc theo Âu tây.

Dĩ nhiên, đây chỉ là một khác biệt bề ngoài, không đáng quan tâm. Nhưng trong lịch sử hơn 4000 của Việt Nam, hầu như không có ghi lại một trang, một hình ảnh nào vô đạo, ác độc, dã nhân như Hồ Chí Minh. Nói thế, không có nghĩa là vua quan của Việt Nam từ xưa chưa từng giết người, hại dân. Trái lại, có nhiều. Nhiều vua quan vì quyền lợi cá nhân, phe đảng, họ cũng từng giết người đối kháng, hoặc giả, giết cả người theo đạo Giatô mặc dù họ chẳng phạm vào một loại tội đại ác nào. Tuy thế, không có một vua quan nào dựa vào thế lực của Tàu phương bắc để giết người và cướp đoạt tài sản của người dân như Hồ Chí Minh.

Trước hết, ngoài việc đưa ra khẩu lệnh “trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”, Hồ Chí Minh còn trổi vượt hơn tất cả mọi kẻ độc ác khác qua bài viết hướng dẫn cho cuộc đấu tố với tựa đề “địa chủ ác ghê”. Ở đó, Y đã kể tội bằng cách vu khống, giá họa cho một người đàn bà là Nguyễn Thị Năm với những dòng chữ mà khi đọc qua, ai cũng phải rùng mình và kinh tởm vì cái man rợ của nó. Tuy nhiên, Hồ rất hãnh diện vì bản văn, nên khi viết song Y ngầm trao tay cho hầu cận đem ra pháp trường đọc, kể tội bà. Phần cá nhân Hồ Chí Minh và viên phụ tá là Đặng Xuân Khu thì “kẻ bịt râu người đeo kính râm đến dự một buổi”. (Trần Đĩnh, Đèn Cù).

Thú thật, khi đọc đến đoạn này, tôi thấy rợn cả người. Từ đó, tôi có đủ lý do để cho rằng, dẫu Y là ai đi chăng nữa, chỉ cần một bài viết này và cung cách lén lút đi theo giám định cuộc đấu tố bà Nguyễn Thị Năm thì đủ biết Y là kẻ tồi bại, bất lương, đáng khinh bỉ như thế nào. Bởi lẽ, nó không chỉ là một hành động vô đạo, nhưng còn là sự bất giáo tự tâm nữa. Tuy thế, tập đoàn cộng sản lại hãnh diện, học tập theo gương của Y. Từ đó cho thấy tập đoàn CS trở thành cái tai họa cho dân tộc Việt Nam ra sao.

Rõ ràng, tôi đã viết về chuyện này nhiều lần, nhưng sẽ còn tiếp tục viết nữa. Bởi lẽ, không cần biêt Y là ai. Nhưng một khi đã xác định được Y là kẻ đã đẩy Việt Nam vào con đường vô đạo bằng cách cổ võ, hoặc giả, cưỡng bức xã hội thực hiện chủ trương con cái đấu tố cha mẹ, vợ chồng, anh em họ hàng thân tộc đấu tố nhau để triệt hạ, xóa bỏ nhân bản, luân lý của Việt Nam thì tôi còn phải viết. Lý do đơn giản là, bất cứ kẻ nào phá hoại nền luân lý, đạo đức của gia đình và xã hội Việt Nam thì phải bị lên án. Hơn thế, phải để cho người ngoài thấy rằng chúng ta, người Việt Nam có một cội nguồn thủy chung với Nhân Lễ Nghĩa, Trí Tín… Chúng ta không có cùng chung nguồn gốc bất lương, bất giáo như chúng.

Có thể, bạn không đồng thuận về điều tôi vừa viết. Hơn thế, còn phản kháng vì cho rằng nhờ Y mà Việt Nam mới đuổi Pháp, đuổi Mỹ ra khỏi nơi đây, nên Y có toàn quyền thực thi sách lược của CS trên đất nước này?

Nếu nghĩ như thế thì bạn là kẻ ấu trĩ lắm, bởi chính vua Bảo Đại đã công bố Việt Nam hoàn toàn độc Lập vào ngày 11/3/1945. Sử Việt còn đây, vua Bảo Đại ký đạo dụ: Tuyên cáo Việt Nam Độc Lập, “Tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884 cùng các hiệp ước nhận bảo hộ và từ bỏ chủ quyền khác, khôi phục nền độc lập của đất nước, thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ”. Cùng với đạo Dụ này là sự ra đời của chính phủ Trần trọng Kim với những con số của lịch sử ghi rõ:

1. Ngày 9-3-1945, Nhật chấm dứt 80 năm đô hộ của giặc Pháp trên toàn cõi Ðông Dương.

2. Ngày 25-8-1945 Nhật cáo chung quyền lực tại đây. Nhưng ngay khi việc nước chưa yên, Việt Minh đã nhảy vào cướp chính quyền nhân việc quân dân Hà Nội xuống đường tuần hành ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim vào ngày 17-8-1945.

Sử và thực tế là thế, tuy nhiên, lúc gần đây cơ quan truyền thông VC và nhiều “láo thành cách mạng” lại nêu ý kiến là không nên dùng cụm từ "cướp chính quyền" nữa. Báo tuổi trẻ online 08/10/2005 TTCN cho rằng: “Từ trước đến nay trên sách báo cũng như một số kênh thông tin đại chúng khi nói về cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám 1945 giành chính quyền về tay nhân dân, chúng ta thường dùng cụm từ: “tham gia cướp chính quyền”. Cụm từ “cướp chính quyền” này theo tôi không ổn. Bởi lẽ, Hằng ngày ta thường nghe nói tới từ “cướp” như “kẻ cướp”, “quân ăn cướp”, “bọn cướp nước”... Với cụm từ có dùng từ “cướp” bao hàm cử chỉ, hành động phi nghĩa, vô nhân đạo. Động từ “cướp” chỉ hành động xấu xa. Theo đó tại sao sách sử của ta mãi dùng cụm từ “tham gia cướp chính quyền”.? Phải chăng CS đã biết xấu hổ vì chữ cướp?

Hỏi vậy thôi, thực tế ai cũng biết, gắn liền với việc cướp chính quyền ở miền bắc là vụ đấu tố được cài cắm với cái tên như mơ là “cải cách ruộng đất”. Ở đó, nông dân miền bắc có ruộng đất thì bị vu khống là cường hào rồi bị bày trò đấu tố để VC giết họ một cách man rợ. Người thì bị chôn sống, kẻ bị treo lên xà nhà, bị đánh để tra khảo của. Kẽ bị chúng giam nơi hầm phân cho tới chết... Rồi nhờ sự tàn bạo này mà toàn bộ ruộng đất miền bắc bị Hồ Chí Minh cướp đoạt. Hỏi xem cái giải phóng ấy có là văn minh chưa nhỉ?

Có lẽ là chưa đủ văn minh nên gần đây họ đã biến thể từ “cải cách ruộng đất” sang một cụm từ mới là “cưỡng chế”. Chữ thì hơi khác xưa, cơ bản vẫn chỉ là cướp, cướp gọn nhẹ hoặc là cướp có võ trang. Ngày nay, từ vùng nông thôn nghèo khó đến thành thị, mỗi khi nghe vang lên từ “cưỡng chế” và nhìn đoàn lục lâm VC là người dân rùng mình. Tiếp theo là tiếng la hét, nguyền rủa, thậm chí chửi bới đoàn “cưỡng chế” đến thấu trời xanh. Mặc, cái mặt bọn cướp cứ trơ ra như mặt Hồ Chí Minh khi tố giác bà Nguyễn Thị Năm xưa.

2. Cơ hàn, nghèo đói.

Ai cũng biết, sau những năm 1954, khi dân đã bước vào đoạn đường cùng của nghèo đói. Ngửa lên, chỉ một mặt trời máu, cúi xuống là những dấu lệ rơi. Cộng sản hiểu rằng, cuộc nổi loạn có thể bùng phát bất cứ lúc nào trên đất bắc. Nhưng thay vì tháo bỏ xiềng xích cho người dân, cộng sản lại đẩy người dân đất bắc vào cuộc chiến tranh tương tàn với miền nam. Kết quả, có đến trên 3 triệu người dân mất mạng trong cuộc chiến phi lý này. Gọi là phi nghĩa lý là bởi vì sau hơn 20 năm nội chiến, người Việt Nam càng lúc càng cùng khổ trong cảnh mất đất, mất nhà, mất cả Độc Lập, Tự Do và Hạnh Phúc. Trong khi đó, không một tên cán bộ viên chức nào của cộng sản thờ Tầu mà không giàu có gấp hàng trăm, thậm chí hàng ngàn, hàng vạn lần nếu đem so sánh với những người giầu có đã bị chúng đấu tố, chém đầu năm xưa!

Để chứng minh cho những điều tôi vừa viết, bạn hãy nhìn thử xem: Căn nhà to lớn nhất làng và ruộng đồng thẳng cánh cò bay ở thôn quê ta hôm nay là của ai đó? Rồi căn nhà kín cổng, cao tường giữa phố xá kia là của ai? Những dãy dinh thự mà người dân khi đi qua chẳng dám đứng lại nhìn một lần kia là của ai? Của dân đen hay của cán bộ đỏ?

Rồi bạn hãy hỏi xem, có còn ngôn từ nào đểu cáng, bất lương hơn cái bản văn chúng gọi là hiến pháp trong đó có câu “đất đai thuộc về sở hữu toàn dân và do nhà nước quản lý” không? Và hãy hỏi xem, Nam Quan, Bản Giốc, Lão Sơn… cho đến rừng đầu nguồn, Bauxite Tây Nguyên, đến Formosa… rồi Hải Đảo, Bắc Vân Phong, Vân Đồn Phú Quốc… ra sao? Có nằm trong mục “đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do nhà nước… Trung cộng quản lý chăng? Xa hơn, hãy nhìn xem, trên quê hương ấy có còn một nơi nào thiếu bóng dáng bước chân Trung cộng nghênh ngang không?!

3. Tương lai về đâu?!

Người dân đã cùng khổ như thế, tập đoàn Hồ phỉ vẫn chưa vừa bụng. Mới hôm nào đây, chúng vung mã tấu lên ở phố Nhà Chung Hà Nội để đánh cướp Tòa khâm Sứ, rồi tiến chiếm Đồng Chiêm, Tam Tòa, Loan Lý, Cồn Dầu, Văn Giảng, Tiên Lãng... nay lại đến Lộc Hưng, Thủ Thiêm! Mai sẽ là đâu? Liệu có thể là ông Tạ, Gò Vấp, Tân sơn Nhì….? Hoặc giả, bất cứ một nơi nào đó mà chúng tìm được lợi nhuận thì đều có thể bị giải tỏa với đủ những lý do như lập vùng an toàn, phi trường, bến cảng… khi đó, thấy đều có chung một số phận như Lộc Hưng, Tiên Lãng! Bởi lẽ, “đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng do nhà nước quản lý”. Nó hoàn toàn đúng quy trình như trong hiến pháp của chúng đã quy định.

Hỏi xem, người dân còn gì để bám? Chúng ta đã bị chúng xô đẩy vào bước đường cùng chưa? Nhớ lại, vào thời Việt Nam Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã công bố những biện pháp để bảo vệ người dân của mình như sau:

1. Công bố hàng loạt ngành nghề kinh doanh chỉ dành cho người Việt Nam; người nước ngoài không được hành nghề.

2. Ngày 22-10-1956, Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh 143/VN “Thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam”.

Theo Sắc lệnh này, Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn đổi tên thành Đô thành Sài Gòn. Từ đây, tên gọi “Chợ Lớn” không còn được dùng chính thức trong các văn kiện hành chính nữa. Có chăng chỉ được dùng trong câu chuyện của người dân để chỉ một khu trong quận 5, quận 6, quận 11 và một phần quận 8 10 của đô thành Sài Gòn mà thôi. Phần dân quê thì có ruộng để cày bừa sinh sống.

Như thế, chính ông là người đã biến những ngôn từ thành chương trình cứu quốc và kiến quốc. Trong khi đó, Việt cộng dưới lớp áo của Hồ Chí Minh thì ngay từ năm 1958 đã trao tay hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam cho Tàu cộng bằng một lý lẽ của phường đá cá: "Mấy cái đảo hoang ngoài khơi đó của ai thì tôi không rõ lắm, nhưng cũng chỉ là mấy cồn đá hoang toàng phân chim ỉa. Nếu các đồng chí Trung Quốc muốn thì cứ cho họ đi." (Hồ Chí Minh, trong HCM toàn tập). Với lời công bố này, Việt Nam sẽ đi về đâu? Hỏi xem Y là ai đây? Nguyễn Tất Thành hay Hồ Tập Chương?

Để kết, tôi tin rằng những bài học từ TKS, Thái Hà rồi Tam Tòa, Đồng Chiêm, Cồn Dầu, Mỹ Yên, Văn Giảng, Tiên Lãng và nay là Thủ Thiêm, Lộc Hưng… không là vô ích. Trái lại, đó là những bài học bằng máu và nước mắt của người Việt Nam học được dưới ách cộng sản. Tuy thế, máu và nước mắt ấy chì là những đau thương, nhưng không là những hận thù. Trái lại, sẽ là một sức sống mãnh liệt đầy bao dung, nhân ái, có khả năng giúp dân tộc ta trưởng thành và vững mạnh trong việc quyết xây dựng lại đất nước và con người trong yêu thương, tự chủ, không cộng sản.

5-4-2019
Bảo Giang

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Những đoạn rời nhân Tháng Tư buồn
Nguyễn Mạnh An Dân
(Danlambao) - ...Ai biết được, về đâu, hàng hàng lớp lớp những xác thân quấn vội poncho để lại bên lề đường, dưới lùm cây, bên bờ suối, trong rừng, trên núi, giữa kinh rạch, trong bưng biền với bao cơm sấy có tấm giấy nhàu nát viết vội: Đây là binh nhì..., binh nhất..., hạ sĩ..., thiếu úy..., đại úy... nhờ quí vị hảo tâm nhắn tin về địa chỉ… như một cố gắng cuối cùng của đồng đội dành cho nhau. Ai biết được ra sao, những đơn vị, những người lính, chiến đấu đơn độc, và chết thầm lặng ở một nơi nào. Ai biết được ra sao, bây giờ, những mồ hoang bên bờ rào trại giam ở Cổng Trời, Sơn La, Vĩnh Phú, Kum Tum, La Hai, Đồng Phú... Nhiều lắm, nhiều lắm, những người lính không biết nghĩa trang, những người lính không kịp về nằm cạnh bạn bè ở quê hương cuối cùng của mình. Những người lính sống lặng lẽ và chết vô danh. Người lính. Bao năm qua, giờ này, anh ở đâu?...

1.
Ở đâu đó, tôi có đọc một mẫu tin nhỏ đăng mờ lấp trong vô số những tin tức khác trên một tờ báo Mỹ. Mẫu tin không phải là một loại Hot News gây sự chú ý của nhiều người nhưng chắc chắn nó có thể làm ấm lòng những người lính, làm ứa lệ những người từng là lính, nhất là những người lính của cái quân đội hào hùng và bi uất của chúng ta: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Mẫu tin cho biết đại khái là: Trên một chuyến bay dân sự từ phi trường của một quốc gia vùng Trung Đông về Mỹ, lúc phi cơ sắp cất cánh, có 11 binh sĩ Hoa Kỳ vừa hoàn tất nhiệm vụ ở chiến trường hồi hương lên tàu. Những người lính trẻ này lầm lũi đi qua khoang tàu "First Class" đắt giá dành cho những khách đặc biệt và hướng về phía cuối tàu, nơi mà họ nghĩ chỗ của họ đã được dành sẵn ở đó. Một người khách ở khoang đặc biệt rời chỗ ngồi, đứng lên tươi cười nắm tay một người lính trẻ và nói: Bạn trẻ, bạn xứng đáng ngồi ở đây. Ông hơi nghiêng người, tay phải đưa lướt qua chổ ngồi của mình trong tư thế mời, vừa lịch sự vừa trân trọng. Mười người khách khác cũng đứng lên và 11 người lính trẻ đã trở thành những VIP trên chuyến tàu hồi hương của mình. Thái độ của 11 vị khách kể trên thật ra không phải là điều gì lớn lao lắm nhưng nó mang một ý nghĩa tinh thần rất lớn: Sự trân trọng và lòng biết ơn của những người ở hậu phương đối với những chiến sĩ ngoài tiền tuyến, những người đã anh dũng chiến đấu và sẵn sàng hy sinh vì những mục tiêu cao cả mà tổ quốc và quân đội đã trao phó cho họ. Người lính không bao giờ bị lãng quên, họ xứng đáng để được nhớ tới, họ xứng đáng để có một chỗ đứng trang trọng trong lòng những chiến hữu và đồng bào họ.

Lại xin kể về một bản tin cũ: Rất muộn màng, 34 năm sau những gì đã làm trên chiến trường Việt Nam, vào những ngày cuối năm 2000, một cựu chiến binh Hoa Kỳ đã được Tổng Thống Bill Clinton trao tặng huân chương danh dự tại Tòa Bạch Ốc: Hạ sĩ quân y Alfred Rascon.

Ngày 16 tháng 3 năm 1966, tiểu đội của Hạ sĩ Rascon, thuộc lữ đoàn 173 Không vận Hoa Kỳ được điều động tới tăng viện cho một tiểu đoàn dù. Trong trận chiến này Hạ sĩ Rascon đã làm quá những gì mà đơn vị mong chờ và đòi hỏi ở một người lính. Vào đầu trận đánh, nghe tiếng kêu cứu, Rascon đã nhào lên và thấy binh nhì William Thompson, xạ thủ đại liên bị thương nặng. Rascon nằm phủ lên người thương binh và liền hứng một mảnh lớn của quả đạn pháo vào hông. Anh kéo Thompson lùi lại phía sau chỉ để nhận ra anh này đã chết. Khi biết binh nhất Larry Gibson hết đạn, Rascon bò lên kéo dây đạn của Thompson cho Larry, hai trái lựu đạn nổ trước mặt chát chúa, mảnh bay trúng mặt Rascon. Thấy binh nhất Neil Haffey bị trúng thương, Rascon lại nằm phủ người trên người thương binh và lãnh đủ phát nổ. Thấy quân địch bò đến gần khẩu đại liên và hai thùng đạn, mặc đầu đã bị thương nhiều chổ, Rascon lại vùng lên chạy tới kéo khẩu đại liên và số đạn còn lại cho đồng đội trước khi ngất đi. Thành tích của Alfred Rascon được phúc trình lên thượng cấp và được đề nghị Huân Chương Danh Dự (Medal Of Honor), huân chương cao quí nhất của quân đội Mỹ. Thật đáng tiếc, giấy tờ thất lạc và tấm huân chương đã không đến tay người lính can trường này. Tuy nhiên, hành động dũng cảm và sự hy sinh vô bờ của người lính luôn sống trong lòng các đồng đội của anh, và nhiều người đã vận động liên tục để sự hy sinh của người lính không bị lãng quên. Trong lễ tuyên dương, người lính già 54 tuổi Rascon đã nói: “Không có sự phân biệt sắc tộc, màu da trong tiểu đội sát cánh chiến đấu bên nhau. Trong quân đội, những gì anh làm mỗi ngày là nhiệm vụ, danh dự và can đảm.”

Nói sao hết về sự hy sinh và lòng can trường của người lính. Tác giả Kathy Trần, trong một bài viết của bà đã kể cho chúng ta nghe về một người lính khác: Cựu Thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến Mike Corrado, phục vụ quân đội từ năm 1992 đến năm 1997. Ông giải ngũ nhưng trái tim của ông luôn hướng về những anh em đồng đội của mình và với tư cách là một nhạc sĩ, ông đã thực hiện đĩa nhạc “My Watch” để nói về những người lính đang chiến đấu, về những đóng góp và hy sinh của họ đối với tổ quốc.

Nhiều đoạn trong bài hát đã làm chúng ta bồi hồi, xúc động:

“...And my blood runs red, white and blue.
I’ll brave the cold, the rain, the pain and the bullets, so you don’t have to”

Tạm dịch:

“...Và dòng máu tôi mang màu đỏ, trắng và xanh.
Tôi sẽ can đảm chịu đựng lạnh lẽo, mưa dầm, đớn đau và bom đạn để bạn được bình an.”

Hoặc

“...Don’t worry about me. I’ll be all right... Just care your children and sleep tight. I’ll keep you safe on my watch tonight...”

“...There’s a promise I need you to make. While I’m gone, you take care of the love and I’ll deal with the hate...”

Tạm dịch:

“...Xin đừng lo cho tôi, tôi sẽ bình yên. Hãy lo cho bầy trẻ và hãy ngủ ngon. Tôi sẽ giữ cho mọi người an toàn trong phiên gác đêm nay...”

“... Tôi chỉ muốn bạn hứa với tôi một điều: Khi tôi đi rồi, bạn hãy lo chuyện yêu thương, hãy để tôi chiến đấu chống hận thù...” (Kathy Trần).

Tôi đã viết khá nhiều về những người lính, nhưng tôi không có lời nào để nói về người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cả. Tôi muốn như vậy vì tôi biết những người lính đó đã ở trong lòng chúng ta, đang và sẽ mãi mãi như vậy và đó là điều trân quí nhất, trân quí hơn tất cả mọi lời nói. Dẫu sao cũng xin mượn mấy lời tâm huyết của cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng để kết luận cho đoạn viết ngắn này:

“Cám ơn anh, những người của từng thế hệ, những người đã chết trong quên lảng hay đang sống thiệt thòi trầm mặc trong nỗi đớn đau riêng.

Đừng đợi thấy vinh quang từ chiến thắng, xin hãy ngưỡng mộ và tri ân ngay từ buổi ban đầu của sự góp mặt đầy quả cảm...”

2.
Khá lâu trước đây, tôi có được nghe đâu đó một bản nhạc buồn, rất hay nhưng buồn. Bản nhạc đại khái có những câu như sau:

“Tôi biết tôi sẽ buồn, khi một mình lang thang trên đất khách, tôi biết tôi sẽ buồn, khi một mình sống với cô đơn...”
...
“...Đi, tôi vẫn đi, dầu gì tôi vẫn đi, đi để được nói tiếng yêu thương, đi để được nói những sự thật. Đi, dầu gì tôi vẫn đi...”

Đi, tôi vẫn đi, dầu gì tôi vẫn đi. Những lời xé lòng trên không chỉ của nhân vật xưng tôi trong bản nhạc mà nó là tiếng kêu trầm thống của ngàn người, vạn người, triệu người, của cả một dân tộc. Mới đây, tại thành phố Houston Hoa Kỳ, đã có hơn một trăm người tham gia vào đoàn quay phim của đài BBC để dựng lại cảnh ra đi nát lòng này vào những ngày cuối cùng của Sài Gòn trong cơn hấp hối.

Từng đoàn người hớt hải chạy vào phi trường Tân Sơn Nhất, tường đoàn người thất tán túa xuống bến Bạch Đằng; từng đoàn người chen lấn vào khuôn viên tòa đại sứ Hoa Kỳ. Những chiếc trực thăng cất lên, có người bám được lên tàu, có người kẹt lại thê thảm, cả người trên tàu và người ở lại đều chảy nước mắt. Chuyện đã cũ rồi, nhưng cảnh dựng lại cũng làm chảy nước mắt nhiều người. Nước mắt không chỉ có trên mặt những người Việt Nam chua xót với cuộc bể dâu mà chính mình là những nạn nhân trong cuộc, mà nước mắt còn ngập tràn trên mi những nhân viên ngoại quốc bàng quang. Nỗi đau quá lớn của cả một dân tộc đủ để làm mủi lòng tất cả mọi người hiện diện.

Đoạn phim tiếp nối với những đọa đày của người ở lại, những cô đơn, lạc lõng, những tất bậc áo cơm để xây dựng lại cuộc đời từ con số không, từ bàn tay trắng của những người di dân tỵ nạn lạc loài.

Hàng trăm “diễn viên” dù không chuyện nghiệp nhưng đã làm hết sức mình để làm sống lại những hình ảnh đau thương về một giai đoạn đầy bất hạnh của chính mình, của đồng bào mình, của dân tộc mình. Họ làm việc có lẽ không vì món thù lao khiêm tốn mà đoàn làm phim chi trả mà họ làm việc vì muốn góp phần nói lên cho toàn thế giới hiểu được người Việt Nam đã tha thiết với tự do như thế nào và đã phải trả những gì để đạt được điều đó.

Đời anh gắn liền đám đông.
Tự do hoặc chết chứ không cúi đầu
Người mà chẳng khác ngựa trâu
Hỏi em mơ ước sống lâu làm gì
Sống hèn thà chết ngay đi...
(Nguyễn Hữu Nhật)

Người tỵ nạn Việt Nam, những người có truyền thống lâu đời gắng liền với quê hương, nguồn cội đã đứt ruột lìa xa cố hương, làm thành một làn sóng tỵ nạn lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Họ cần cơm áo ư! Không phải. Họ cần ngọc ngà châu báu, nhà cao cửa rộng ư! Không phải. Cái mà họ cần quí giá hơn mọi giá trị vật chất trên cõi đời này: Tự Do.

Anh em chúng tôi
Những người Việt Nam mất nước
Chúng tôi mất quê hương nhưng thừa đảm lược
Chúng tôi mất tư do nhưng dư nhân phẩm làm người
Ôi! Những con người thừa mứa an vui
Hiểu sao được dân tôi khổ đau và kiêu hãnh
Chúng tôi có trái tim nồng nàn ngay thẳng
Chúng tôi có trái tim bất khuất quật cường
Có sá gì một chút áo cơm
Có tiếc gì một chút sống thừa nhục nhã
Ngày hôm nay chúng tôi muốn thét to cùng tất cả
Chúng tôi là con người
Bao năm rồi vì thế giới an vui
Đã nhận cho mình vòng gai khổ hận
Hai mươi năm đâu tiếc máu xương ngoài mặt trận.
Mười lăm năm nào thiếu hùng tâm ngay chốn ngục tù
Có ai như chúng tôi xứng đáng làm người
Có ai như chúng tôi dám đổi tự do bằng mạng sống
Chúng tôi ngẩn cao đầu giữa trời cao đất rộng.
Kiêu hãnh đạp lên dĩ vãng muộn phiền.
(Nguyễn Mạnh An Dân)

Hơn ba mươi năm đã qua kể từ ngày tháng tư bi thảm đó, cộng đồng người Việt ty nạn đã trở mình, đã lớn mạnh. Thế hệ thứ nhất đã ổn định, đã vươn lên trong mọi lãnh vực. Thế hệ thứ hai đã thành đạt và thăng tiến. Nhiều trăm ngàn chuyên viên ưu tú các ngành. Nhiều cơ sở sản xuất và kinh doanh to lớn và thịnh đạt do người Việt làm chủ ở khắp mọi nơi. Nhiều nhân tài người Việt đã góp mặt trong guồng máy chính quyền các cấp ở các quốc gia tạm dung. Người tỵ nạn Việt Nam đã có gần như đầy đủ những gì con người mơ ước nhưng họ vẫn thiếu một thứ mà họ cần: Quê hương và người tỵ nạn vẫn luôn là những người “di tản buồn” bởi quê hương họ, đồng bào họ không vui. Biết bao tiếng gọi thiêng liêng đã và đang thôi thúc người tỵ nạn nỗ lực hết sức mình để hy vọng một ngày quê hương thực sự có tự do, dân chủ và nhân quyền, khi ấy, niềm vui của người tỵ nạn mới trọn vẹn bởi đồng bào họ sẽ có những gì họ đã có.

Hãy ước mơ và hy vọng. Hãy cùng nhau biến ước mơ thành hiện thực.

3.
...Nhớ nghĩa trang quê bạn bè
Nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường
(Du Tử Lê).

Cô xướng ngôn viên còn trẻ, rất trẻ; chắc chắn cô chưa có mặt trên cõi đời này khi pho tượng tiếc thương được dựng lên trước nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Không chừng cô còn chưa có mặt khi bức tượng đó bị giật sập xuống. Tuy nhiên cô đã nhỏ lệ khi đọc hai câu thơ nhắc về pho tượng, nhắc về những người lính. Nét mặt cô, giọng nói của cô không mang vẻ nhập vai, đóng kịch, nước mắt có từ một đau xót thật, một tiếc thương thật từ tận trái tim người. Cảm ơn cháu gái, cảm ơn những tấm lòng Việt Nam. Cô xướng ngôn viên ngừng lại một chút, có lẽ để tự dằn cơn xúc động, có lẽ để nỗi xúc động đủ thời gian trùm tỏa trong lòng những người hiện diện rồi cô nghẹn ngào nói tiếp: Bức tượng ngày nay đã không còn, nó đã bị xóa đi sau tháng tư buồn nhưng hình ảnh những người lính luôn sống trong lòng chúng tôi, trong lòng quí vị, trong lòng mỗi chúng ta, những người Việt Nam.

Pho tượng đã không còn, nghĩa trang - quê của bạn bè ta - cũng không còn. Đau đớn lắm nhưng đó chưa phải là tất cả. Ai biết được, về đâu, những người lính nằm lại trên đỉnh đèo Hải Vân, trên đường 19, trên bờ biển Qui Nhơn, trên Tỉnh lộ 7, ở Phan Rang, ở Bình Long, ở Xuân Lộc, ở khắp các mặt trận lớn, nhỏ, có tên, không tên trong những giờ phút sinh tử cuối cùng. Ai biết được, về đâu, hàng hàng lớp lớp những xác thân quấn vội poncho để lại bên lề đường, dưới lùm cây, bên bờ suối, trong rừng, trên núi, giữa kinh rạch, trong bưng biền với bao cơm sấy có tấm giấy nhàu nát viết vội: Đây là binh nhì..., binh nhất..., hạ sĩ..., thiếu úy..., đại úy... nhờ quí vị hảo tâm nhắn tin về địa chỉ… như một cố gắng cuối cùng của đồng đội dành cho nhau. Ai biết được ra sao, những đơn vị, những người lính, chiến đấu đơn độc, và chết thầm lặng ở một nơi nào. Ai biết được ra sao, bây giờ, những mồ hoang bên bờ rào trại giam ở Cổng Trời, Sơn La, Vĩnh Phú, Kum Tum, La Hai, Đồng Phú... Nhiều lắm, nhiều lắm, những người lính không biết nghĩa trang, những người lính không kịp về nằm cạnh bạn bè ở quê hương cuối cùng của mình. Những người lính sống lặng lẽ và chết vô danh. Người lính. Bao năm qua, giờ này, anh ở đâu?

4.

“Hạ kỳ!’. Súng bắt đều tay
Xin chào đất nước lần này nữa thôi!...
(Nguyễn Tư - Hạ Kỳ Lần Cuối)

Nhiều chục năm trước, từ một doanh trại buồn thảm nào đó trong những giờ phút bi uất cuối cùng của đời binh nghiệp đang bị bức tử, người lính Nguyễn Tư đã nhỏ lệ. Rất nhiều người đã nhỏ lệ, cả một dân tộc đã nhỏ lệ và đều xé lòng trong giờ phút “Hạ Kỳ Lần Cuối”.

Quốc kỳ được hạ xuống nhưng nó không mất đi, nó luôn sống trong lòng, nó mãi bay trong tim mọi đứa con Việt Nam, như một lời hịch, như một tiếng gọi thiêng liêng, nó truyền lan từ thế hệ này đến thế hệ kế tiếp. Người trẻ Lữ Anh Thư, cô sinh viên dấn thân, một trong những người đầu tiên khơi dậy phong trào tranh đấu cho cờ Vàng trở thành biểu tượng của người Việt tự do trên thế giới; người trẻ Lê Cung, võ sĩ ba lần vô địch thế giới, luôn xuất hiện trong y phục cờ vàng và luôn khoát lá cờ biểu tượng của tổ quốc trong những giờ phút vinh dự nhận giải vô địch, người trẻ Bùi Thanh Thảo, người chiến binh trong quân lực Hoa Kỳ đã thượng cờ vàng trong ngày lễ Lao Động tại Thủ Đô Baghdah. Hiện đã có 8 tiểu ban, 56 thành phố, quận hạt thuộc 24 tiển ban khác nhau công nhận cờ vàng ba sọc đỏ như là biểu tượng của người Việt tự do.

Anh Nguyễn Tư, có lẽ sẽ có ngày chúng ta nhỏ lệ thêm một lần nữa trước lá cờ tổ quốc, không phải là giọt lệ buồn như ngày nào mà là giọt lệ vui mừng ngày được nhìn thấy biểu tượng của tự do, dân chủ và nhân quyền tung bay khắp trời quê hương. Chúng ta có quyền ước mơ và hy vọng. Phải không?

29.03.2017
Nguyễn Mạnh An Dân

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Image

Người Việt cái gì cũng dám làm trừ chính trị
Võ Ngọc Ánh
(Danlambao) - Người Việt chỉ sợ nói, hành động về chính trị để có một xã hội tốt đẹp hơn. Ngoài ra cái gì họ cũng dám làm bất kể chuyện xấu nào.

Học sinh đánh nhau, hạ nhục lẫn nhau; giáo viên dâm ô học trò, đừng chỉ đổ thừa cho giáo dục. Thanh niên cưỡng hôn cô gái trong thang máy, cựu quan chức sàm sỡ trẻ em, đừng đổ lỗi cho cá nhân. Trẻ mới lớn đâm chết người nhắc nhở mình vi phạm giao thông, đừng biện minh do tính cách…Tại sao người Việt Nam ngày một văn minh, tiền của nhiều, học hành không ít, luật pháp ngày càng chi tiết... mà chuyện đồi bại, việc xấu ở Việt Nam cứ ngày một nhiều hơn?

Luật pháp như đồ trang trí

Công an quận Thanh Xuân, Hà Nội đã xử phạt ông Đỗ Mạnh Hùng 200 nghìn đồng về việc ông này cưỡng hôn một nữ sinh trong thang máy.

Việc xử phạt quá nhẹ của tư pháp Việt Nam đã gây nên sự phẫn nộ trong xã hội. Đại đa số dân chúng có chung nhận xét, mức phạt như vậy không thỏa đáng, không đủ sự răn đe.

Mức phạt này chẳng khác nào nói toáng lên, mấy anh, mấy ông cứ vô tư cưỡng hôn, bóp vú, sờ chim... phụ nữ, chỉ cần chuẩn bị vài ba trăm nghìn đồng nộp phạt.

Và quả thật mức phạt không đủ làm cho người ta sợ.

Chưa đầy hai tuần sau vụ Đỗ Mạnh Hùng, ông Nguyễn Hữu Linh, cựu lãnh đạo ngành kiểm soát thành phố Đà Nẵng đã sàm sỡ, cưỡng hôn một bé gái khoảng bảy tuổi trong thang máy tại Sài Gòn.

Tư pháp Việt Nam sẽ xử phạt ông Linh thế nào đây?

Sự việc đang diễn tiến rất chậm chạp.

Ở một diễn biến liên quan, công an thành phố Đà Nẵng nhanh chóng xác định người xịt sơn lên nhà ông Linh vì phẫn nộ với hành vi của ông.

Ông Huỳnh Đức Thơ, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng kịp thời lên án, “Hành vi xịt sơn, bôi bẩn cổng nhà ông Linh là không văn minh".

Hắn ủng hộ việc nhanh chóng truy tìm thủ phạm xịt sơn lên cổng nhà ông Linh và phát biểu của chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng.

Nhưng hắn tự hỏi,

Tại sao những gia đình Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Hoàng Vi, Nguyễn Đại, Nguyễn Tín, Đoan Trang, Đỗ Minh Hạnh... bị đánh, bị ném mắm tôm, nhớt thải, chất thải... nhiều lần, sao chẳng thấy cơ quan nào đến điều tra?

Gia đình nạn nhân báo chính quyền, côn an cũng chẳng thèm đến, nên khó tìm kẻ ra tay. Tuy nhiên, dân thừa biết ai là thủ phạm.

Sao chỉ nhìn thấy ông Bộ trưởng?

Nền giáo dục Việt Nam hiện nay thật đúng có rất nhiều chuyện ngao ngán. Kêu gọi ông Bộ Trưởng Phùng Xuân Nhạ từ chức, la ó ông. Gọi dân dã chửi ông cũng không oan chút nào.

Nhưng bộ Giáo dục – Đào tạo đâu phải đến thời ông Nhạ mới hỏng. Nó hỏng bởi tổ chức và người thực sự có quyền quyết định cho việc đào tạo người Việt và triết lý giáo dục.

Bốn tháng trước, trả lời trước quốc hội về triết lý giáo dục của Việt Nam, phó thủ tướng Nguyễn Đức Đam cho biết: “Nước ta phát triển có triết lý, nền giáo dục cũng có triết lý. Chúng ta đang học để biết, học để làm việc, học để chung sống và học để khẳng định mình”.

Này ông phó thủ tướng, cái ông nói là mục đích của giáo dục, của người đi học. Nó không phải triết lý ông Đam nhé!

Triết lý nó phải bao gồm được cả nội dung, hình thức, phương pháp, mục tiêu... và kết quả của một nền giáo dục.

Chẳng hạn, triết lý giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa là “Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng”.

Kinh nghiệm thực tế hơn 16 năm đi học ở Việt Nam tôi hiểu. Nền giáo dục Việt Nam chỉ cố gắng đào tạo con người xã hội chủ nghĩa và có lý tưởng cộng sản chứ chẳng có thứ triết lý nào.

Nền giáo dục này trong định hướng chính trị cao cả đã và đang rất thành công trong việc đào tạo người Việt trong hơn 60 năm qua. Đào tạo người Việt thành những con biết nghe lời và biết sợ.

Chắc chắn cái định hướng kia không phải từ bộ Giáo dục và Đào tạo, mà bởi ước muốn của ‘ông kẹ’ ngồi trên ‘ngai vàng’ đề ra cho nền giáo dục Việt Nam. Mọi tai ương bắt đầu bởi ‘ông kẹ’.

Do đó, ông Nhạ có từ chức, ông khác lên thay vẫn không giải quyết được sự bế tắc, chậm chạp của nền giáo dục nước nhà.

Hãy chửi đúng chỗ. Mà muốn chửi đúng phải chửi đảng cộng sản Việt Nam đã tạo ra nền giáo dục như hôm nay.

Ngành giáo dục – đào tạo Việt Nam muốn làm khác để tốt hơn, nhưng đảng không muốn vậy liệu có được không?

Tuy nhiên, cũng đáng buồn, những người làm giáo dục ở đất nước tự cho mình có ngàn năm văn hiến chưa bao giờ đứng lên xây dựng, hay kêu gọi cần có một triết lý giáo dục đúng nghĩa cho người Việt.

Đừng đổ thừa cho tính cách

Bạn tôi, một cô giáo dạy văn lý giải cho việc Lê Văn Hoài (Quảng Trị) đâm chết người vì bị nhắc nhở khi tham gia giao thông, “Do tính cách”.

Có thể bạn đúng, nhưng xem ra có gì đó không ổn. Tại sao người Việt rất dễ vung dao, đưa nắm đấm ra giải quyết mọi việc. Đặc biệt trong các sự cố giao thông cứ ai to mồm, bạo lực hơn người đó sẽ đúng chứ không phải ở lẽ phải.

Bởi đơn giản bao năm qua, pháp luật ở cái thể chế này đã thể hiện không mang đến cho họ sự công bằng.

Cũng người Việt mình ở trong nước ngang nhiên vi phạm luật giao thông, nhưng sang Singapore, Úc, Mỹ... lại không dám vi phạm. Bởi họ biết bên ngoài Việt Nam luật pháp đâu thể chỉ cần vài trăm ngàn cho mấy anh công an sẽ xong chuyện như ở quê nhà.

Tất cả những bất cập, chậm tiến, xuống cấp ở Việt Nam chỉ có vận động thay đổi chính trị mới giải quyết được.

Người Việt hôm nay cần hành động chính trị chứ không phải đấm đá, nhậu nhẹt, rình mò, ngang nhiên vi phạm luật giao thông... Đừng thấy cái lợi dễ dãi trước mắt để rước mối nguy về lâu dài.

11/4/2019
Võ Ngọc Ánh

nhuvan
Posts: 383
Joined: Sun Mar 27, 2016 8:29 pm

Post by nhuvan »

Image

Người Việt đang "nhiễm virus" sợ hãi chính trị

Võ Ngọc Ánh
(Danlambao) - Nỗi sợ hãi về chính trị đang chi phối suy nghĩ, hành động… và cả ước muốn của người Việt. Nó đang làm cho người Việt trở nên nhu nhược, thờ ơ nhưng lại không thiếu ác tâm. Virus sợ hãi về chính trị đã làm cho cả dân tộc Việt Nam đang bị bệnh và ngày một trầm trọng hơn. Đảng cộng sản Việt Nam chính là đối tượng đang nuôi dưỡng, phát tán virus này để dễ bề cai trị.

Truyền cho nhau nỗi sợ

“Thôi Ánh à! Viết như vậy cũng không được chi. Chẳng làm được gì cộng sản đâu. Coi chừng bị bắt”. Người khác thờ ơ nhẹ nhàng hơn: “Nhìn những gì anh viết em không dám đọc”. Không ít người hù dọa thẳng thừng: "Nói thằng Ánh đừng về quê nữa”.…

Ngay cả khi đến vùng đất của tự do, hắn vẫn ‘được’ nhiều người vốn dân HO, vượt biên, tỵ nạn cộng sản... trong cộng đồng người Việt tại Mỹ nhắc nhở: “Đừng tham gia hội nhóm chống cộng, tránh chụp hình, quay phim với cờ vàng để còn đường về Việt Nam nha con!”.

Từ khi còn ở Việt Nam cho đến bây giờ không biết bao nhiêu lần hắn nhận được những lời nhắn nhủ và hăm dọa kiểu như vậy.

Có thể nhiều người quý trọng, lo lắng cho hắn thật sự. Nhưng cũng có không ít người đang thực hiện ‘sứ mệnh’ truyền ‘virus sợ hãi’ mà chính họ đã bị nhiễm từ lâu sang cho hắn khiến hắn cũng phải biết sợ giống họ.

Một khi ‘virus sợ hãi’ đã xâm nhập bất kỳ ai, nó sẽ chi phối, khống chế, khiến một người không còn đủ tỉnh táo để nhận thức. Virus sẽ làm con người từ chối tiếp nhận sự thật, lẽ phải, quyền chính trị căn bản, tự do, dân chủ… nói chi đến hành động cho điều thiết yếu này.

Họ lý giải đơn giản: "Chuyện chính trị nhạy cảm lắm, nói cũng có được chi đâu" và khuyên người khác cũng nên nhu nhược giống ta đây. Họ tự loại bỏ quyền căn bản, rước sự tuân phục vào thế chỗ.

Người Việt đang tự biến thành những ‘con cừu ngoan ngoãn’ ủng hộ theo sự đường lối luôn ‘sáng suốt’ của đảng dù có bị xén lông, làm thịt... và đảng cũng chỉ muốn thế.

Có lẽ đa số người Việt Nam không biết mình đang nhiễm phải căn bệnh sợ hãi dù sức tàn phá virus này thật ghê gớm. Nó không phải tàn phá một vài cá nhân, mà còn làm nhu nhược cả một dân tộc.

Những năm 2009, 2010 và sau đó, tại Sài Gòn diễn ra không ít cuộc biểu tình phản đối sự hung hăng, tham lam của Trung Quốc với vùng biển Đông. Nhiều lần hắn rủ bạn bè cùng đi. Và chưa bao giờ nhận được cái gật đầu.

Đứa đưa ra lời hứa, “Khi nào chính quyền tổ chức sẽ tham gia.”. Đứa tỏ ra tiếp nhận thông tin kịp thời từ sự tuyên truyền của nhà cầm quyền hỏi lại hắn: “Đi vậy được bao nhiêu tiền một lần anh?”.

Người ý thức được bệnh thì biện minh, đó là sự khôn ngoan, thức thời, sẵn sàng trực tiếp tham gia, tiếp tay, mặc cả, thỏa hiệp với cái ác, cái xấu để tiến thân, làm giàu, được thuận tiện… Họ trở thành người thờ ơ, kẻ có đầy ác tâm. Họ căm ghét, xa lánh những ai dám nói lên sự thật, kiềm hãm tự do, đứng về phía bất công.

Ai có ‘kháng thể’ tốt để không bị nhiễm ‘virus sợ hãi’, dám hành động theo lương tâm, biết trăn trở với dân tộc, thì xã hội đồng thanh la lên: “Nó là đứa phản động”.

Đa phần người Việt hiện nay nhận xét ai đó “phản động” thì chính họ cũng không hiểu đúng nghĩa của từ “phản động”. Rõ hơn, cộng sản đã làm cho người Việt hiểu hiểu sai, méo mó từ “phản động”. Dĩ nhiên nhà cầm quyền coi đây là thành công trong chính sách nhất quán ngu dân.

Mất tự do

Dân không dám nói về chính trị bởi họ sợ những đòn thù của cộng sản với chính bản thân, gia đình, dòng tộc. Những đòn thù chẳng trên một cơ sở luật pháp, mà theo lệ, thói lưu manh bởi nó được vận hành trong một xã hội cộng sản và thể chế XHCN của nó.

Nỗi sợ dẫn dắt họ không còn tự do, chẳng dám làm trái ý đảng.

Bởi thế, lâu lâu lại nghe một quan chức, cơ quan chức năng đưa ra số liệu nghe rất chi khoa học: “Đa số người dân đồng tình, ủng hộ”; “trên 90% ủng hộ”… cho một chính sách nào đó của nhà cầm quyền. Nhưng người dân nào tham gia khảo sát không dễ biết. Tổ chức nào thực hiện khảo sát? Khảo sát vào thời điểm nào? Nội dung bên trong phiếu khảo sát?...

Dân biết thừa đám người nhân danh lãnh đạo kia nói láo, nhưng vì nỗi sợ họ không dám phản đối, lên tiếng, để rồi phải đồng lòng, nhắm mắt bừa cho qua chuyện.

Dân có thật sự tin đảng như lời ông Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đầy lạc quan phát biểu tại cuộc họp, hội nghị trực tuyến giữa chính phủ với các địa phương vào cuối năm rồi: “Niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của đảng… chưa bao giờ lớn và sâu sắc như lúc này”.

Thực tế, trong sự sợ hãi chiếm ngự, dân vẫn có lúc ‘vượt rào’ không giấu nỗi vui mừng mỗi khi nghe một cựu nguyên thủ, lãnh đạo, cán bộ… chết vì tuổi già, bệnh tật, tai nạn.

Về phía đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước của nó có sợ dân không?

Phải khẳng định, rất sợ.

Bằng chứng, Luận an ninh được thông qua vào giữa năm 2018 và chính thức có hiệu lực từ đầu năm nay. Mục đích chính của luật này cấm người dân được thực hiện quyền tự do ngôn luận, tiếp cận thông tin, được nói thật (dù đã được khẳng định tại điều 25 theo Hiến pháp 2013). Nó không phải đảm bảo sự an toàn trên không gian mạng của Việt Nam trước sự tấn công từ bên ngoài.

Luật biểu tình, luật lập hội đặt nền tảng cho một quốc gia dân chủ, tiến bộ, dù được khẳng định trong các bản hiến pháp và tại điều 25 theo hiến pháp hiện hành, nhà cầm quyền vẫn cứ nợ dai dẳng nhiều chục năm qua.

Hắn không tin cái nhà nước cộng sản Việt Nam hiện nay không có đủ tiền, nhân lực để soạn thảo, công báo hai luật trên cho nhân dân. Thực chất đảng cố tình không có luật, dây dưa để dễ dàng sách nhiễu, bắt giữ, xử theo luật rừng.

Đảng dùng côn an, côn đồ với các công cụ bạo lực, bạo hành, tiểu xảo, không từ thủ đoạn để đàn áp với ai có ý không đồng tình, phản kháng. Những cá nhân được đảng chi tiền, những hội đoàn được đảng nuôi dưỡng (từ tiền thuế của dân) chỉ để hô hào, quy chụp, dán nhãn cho những người phản kháng là "phản động”, là "tên bị thần kinh”.

Khi nào người dân chưa chữa được ‘virus sợ hãi’ bản thân họ vẫn không có tự do. Dân chủ, văn minh…cho Việt Nam vẫn còn xa tầm với.

13/4/2019
Võ Ngọc Ánh

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Image

Sau 44 năm, “vết thương dân tộc vẫn chưa lành”
Ký Thiệt

Kể từ tháng tư đen 1975, khi cộng sản Bắc Việt dẫm nát bản Hiệp định Paris mà họ k‎ý trước đó hai năm, xua toàn lực, với sự chi viện tối đa của Nga cộng và Tàu cộng, “giải phóng” miền Nam, đến nay đã 44 năm trôi qua.

Cuộc “giải phóng” này đã khiến hơn một triệu người bỏ nhà, bỏ nước, bỏ ruộng vườn, vượt biển băng rừng, lội suối, bất chấp gian nguy đi tị nạn cộng sản. Theo ước tính, khoảng một phần tư trong số này đã không tới được bến bờ tự do. Những người đi tìm tự do bằng thuyền và bằng chân này bị những kẻ “đánh cho Liên-Xô, cho Trung Quốc” (lời Lê Duẩn) gọi là “những phần tử xấu, lưu manh, đĩ điếm” không thích ứng với đời sống mới xã hội chủ nghĩa.

Ba mươi năm sau, “những phần tử xấu, lưu manh, đĩ điếm” đó được “cách mạng” âu yếm gọi là “khúc ruột xa ngàn dặm”, và ngày 26.3.2004 đã cho ra đời Nghị Quyết 36 NQ/TW, thường được biết với cái tên vắn tắt là Nghị quyết 36, để “chăm lo” người Việt Nam ở nước ngoài.

Nguyễn Đình Bin là người được cử đặc trách thi hành Nghị quyết 36. Ngày 26.3.2019 vừa qua, để đánh dấu 15 năm thi hành Nghị quyết 36, Nguyễn Đình Bin đã viết một bài nhận định về việc “hàn gắn vết thương dân tộc”, trong đó có đoạn như sau:

“Sau 15 năm đi vào cuộc sống, Nghị quyết 36 NQ/TW đã được thực thi phần nào, được cộng đồng hoan nghênh, tạo ra khá nhiều đổi thay. Nhưng tôi vẫn buồn: vết thương dân tộc thực sự vẫn chưa lành!!! Với các nước ngoài đã từng đô hộ, xâm lược nước ta, gây ra biết bao tội ác tầy trời, biết bao đau thương, mất mát, hậu quả khủng khiếp, nặng nề… mà nhân dân ta vẫn còn phải gánh chịu, với truyền thống khoan dung, hòa hiếu, chúng ta đã gác lại quá khứ, bình thường hóa quan hệ và kết bạn, trở thành những đối tác chiến lược, hợp tác toàn diện… vì tương lai của mỗi quốc gia, vì hòa bình, hợp tác và phát triển trên thế giới. Vậy mà, vì sao, cuộc chiến ác liệt nhất đã kết thúc và đất nước đã thu về một mối hơn 4 thập kỷ mà dân tộc ta, nói cho cùng đều là nạn nhân của sự đô hộ và xâm lược của nước ngoài nói trên, vẫn chưa hòa giải được với nhau? Cũng chính sự đô hộ và xâm lược của nước ngoài đó đã chia ly bao gia đình Việt và cả dân tộc Việt, gây ra cảnh huynh đệ tương tàn trên đất nước ta. Thế mà ta đã hòa giải được với họ, còn chúng ta, anh em một nhà “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”, thì lại chưa hòa giải được với nhau?”

Bỏ qua những câu tuyên truyền rỗng tuếch mà bất cứ anh cộng sản nào cũng nhai đi nhai lai như con két, “đồng chí” Nguyễn Đình Bin không thể không biết vì sao “vết thương dân tộc thực sự vẫn chưa lành”. Nguyễn Đình Bin thừa biết cái gọi là Nghị Quyết 36 (36-NQ/TW) của Bộ Chính trị khóa IX CSVN về “công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” chỉ là âm mưu đen tối của đảng CSVN nhằm xâm nhập, khai thác, lũng đoạn các Cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Để chi tiết hóa và thi hành nghị quyết này, Nguyễn Tấn Dũng đã k‎ý Nghị quyết 27/NQ-CP ngày 5.4.2016 vạch rõ những “công tác” CSVN sẽ thực hiện đối với người VN ở nước ngoài trong giai đoạn 5 năm từ 2016 tới 2020, bao trùm mọi khía cạnh trong đời sống của người Việt (hay gốc Việt) ở hải ngoại: chính trị, kinh tế, văn hóa, văn nghệ, báo chí truyền thông, giáo dục, tôn giáo…Nguyên văn như sau:

Có kế hoạch, biện pháp cụ thể chủ động đấu tranh, phân hóa và đối phó với các đối tượng cực đoan quá khích, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, sắc tộc để gây chia rẽ trong cộng đồng, gây tổn hại quan hệ hợp tác và hữu nghị giữa Việt Nam và các nước, nhất là ở các địa bàn có đông người Việt Nam sinh sống, học tập và làm việc.
Huy động nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thu hút cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam.
Nghiên cứu và cung cấp cho các Bộ, ngành, cơ quan trong nước kinh nghiệm quốc tế về thu hút các chuyên gia, trí thức hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.
Xây dựng cơ sở dữ liệu về các nhà khoa học, nhà văn hóa, chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài.
Tăng cường kết nối doanh nhân Việt Nam trong và ngoài nước, xây dựng và vận hành kênh thông tin điện tử để phát huy khả năng của người Việt Nam ở nước ngoài trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Việt Nam, phát triển chương trình Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Ban hành cơ chế khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài trao đổi và cung cấp thông tin về thị trường, thị hiếu, tiêu chuẩn chất lượng của người tiêu dùng với các đại diện xúc tiến đầu tư và thương mại của Việt Nam ở các nước, đặc biệt là các địa bàn trọng Điểm có nhiều người Việt sinh sống. Tăng cường hỗ trợ hoạt động của Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài.
Tăng cường thông tin tuyên truyền đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
a) Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền đến kiều bào về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, công tác bảo vệ chủ quyền biển đảo, dạy và học tiếng Việt,…; tăng cường tuyên truyền, vận động, hỗ trợ các cá nhân, tổ chức người Việt Nam ở nước ngoài tuân thủ luật pháp và chính sách của nước sở tại.
b) Xây dựng, triển khai thực hiện Đề án cung ứng dịch vụ phát thanh, truyền hình qua mạng internet phục vụ người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2015 – 2020, Đề án “Quảng bá xuất bản phẩm Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2016 – 2020”, Đề án “Nâng cao chất lượng ấn phẩm, báo chí đối ngoại bằng tiếng nước ngoài” để tăng cường thông tin phục vụ người Việt Nam ở nước ngoài….
c) Lập kênh phát thanh, truyền hình phục vụ người Việt Nam ở nước ngoài bằng hệ thống truyền hình qua mạng IPTV hoặc hệ thống truyền hình của nước sở tại, nhất là tại các địa bàn tập trung đông người Việt Nam sinh sống; hỗ trợ cung cấp nội dung thông tin và hợp tác sản xuất chương trình với các báo, đài của người Việt Nam ở nước ngoài; tổ chức tập huấn và trao đổi nghiệp vụ báo chí với các phóng viên, biên tập viên kiều bào. Chủ động thiết lập quan hệ và tranh thủ các báo, đài có quan Điểm ủng hộ Việt Nam để đấu tranh phản bác lại luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của báo, đài, trang mạng nước ngoài có thái độ thù địch chống Việt Nam.
♦

Với những mục tiêu trên đây, Nghị quyết 36 và Nghị quyết 28 đã hoàn toàn thất bại, không những với “người Việt Nam ở nước ngoài” mà ngay tại Việt Nam “…chúng ta, anh em một nhà ‘nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng’, thì lại chưa hòa giải được với nhau?”

Vì sao thế?

Vì chính đảng Cộng sản Việt Nam chứ còn tại ai nữa mà “đồng chí” Nguyễn Đình Bin còn giả vờ thắc mắc! Đúng là giọng lưỡi của những kẻ vừa ăn cướp lại vừa la làng. Ngày nay, còn ai mà không biết năm 1945, Hồ Chí Minh và đồng đảng đem chủ thuyết Mác-Lê từ Liên-sô về Hang Pác-Bó đã che giấu cái đuôi cộng sản bằng cách đổi tên đảng cộng sản thành đảng Lao Động VN, kêu gọi dân Việt Nam đứng lên kháng chiến, đánh đuổi thực dân Pháp, do những người cộng sản tôn thờ Mác, Lê-nin và Mao núp dưới cái bảng hiệu Mặt trận Việt Minh lãnh đạo. Từ đó, những người cộng sản Việt Nam đã nhân danh đánh Tây, chống Mỹ, để giết “anh em một nhà”, “người trong một nước” suốt 30 năm (1945-1975), “gây ra biết bao tội ác tầy trời, biết bao đau thương, mất mát, hậu quả khủng khiếp, nặng nề…”.

Ngày 30.4.1975, VNCH sụp đổ. Quân đội Nhân Dân miền Bắc tiếp thu miền Nam và đặt các Ủy ban Quân quản với toàn quyền sinh sát. Không ai còn nhắc tới “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” và cái “Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam VN”, một trong “bốn bên” đã ký vào bản Hiệp Định Paris 1973. Giờ của sự thật về cái “Mặt trận” và “Chính phủ Lâm thời” cho thấy chỉ là một con ma do CS Bắc Việt vẽ ra.

Năm 1976, không cần núp sau tấm bình phong “Đảng Lao Động VN” như trong suốt thời chiến tranh, đảng Cộng sản thống nhất hai miền Nam-Bắc dưới ngọn cờ xã hội chủ nghĩa, và đặt tên nước là “Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam”, kèm theo nhãn hiệu “Độc Lập-Tự Do-Hạnh Phúc”. Đại Hội Đảng kỳ IV đã hạ quyết tâm “tiến mau tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội” dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng CSVN, ghi rõ trong hiến pháp (điều 4), khởi đầu với chính sách triệt để cải tạo xã hội nhằm xây dựng một nhà nước vô sản chuyên chính.

Với chính sách điên rồ, man rợ ấy, đảng CSVN đã lại gây ra “gây ra biết bao tội ác tầy trời, biết bao đau thương, mất mát, hậu quả khủng khiếp, nặng nề” hơn nữa. Cái nhãn hiệu “Độc Lập-Tự Do-Hạnh Phúc” đã trở thành “Nô lệ-Áp bức-Khổ đau”. Những người thù ghét đảng CSVN bây giờ không chỉ là những người tị nạn ở hải ngoại, không phải chỉ gồm những người có liên hệ tới “Mỹ-Ngụy”, nhưng cả những người đã sinh ra sau 1975, không phải chỉ có thường dân, nhưng có cả những đảng viên còn giữ được lương tâm, trong đó có ông Bùi Tín đã ra khỏi đảng và viết nhiều sách báo kể tội đảng CSVN. Nhân dịp 30.4.2015, ông Bùi Tín, lưu vong và đã qua đời tại Pháp, có viết một bản cáo trạng về tội lỗi của đảng CSVN mà ông đã tận tình phục vụ suốt 44 năm, hơn một nửa cuộc đời của ông. Bản báo trạng của ông Bùi Tín tựa đề là “Chỗ đứng của Đảng CSVN phải là vành móng ngựa”, trong đó có đoạn như sau:

Suốt 40 năm nay, tôi đã suy nghĩ, tìm hiểu. Từ đó tôi hoàn toàn tự tin để kết luận trong dịp này là trong 70 năm qua Đảng CSVN đã liên tiếp phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác:

đã chọn sai lầm học thuyết chính trị Mác – Lênin và chế độ toàn trị độc đảng cực kỳ tệ hại,
đã phạm tôị ác chồng chất trong việc chủ trương bạo lực vũ trang, chủ động gây nên cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn với hàng mấy triệu sinh mạng nhân dân, chủ yếu là thanh niên ưu tú thuộc cả 2 bên chiến tuyến,
đã tàn phá vô kể sức lao động và của cải xã hội trong thời gian dài, trong các cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc, cải tạo công thương nghiệp trong cả nước, đã vi phạm những hiệp định đã long trọng ký kết tại các Hội nghị Geneve năm 1954 và Hội nghị Paris năm 1973, đặc biệt là các điều khoản về «tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam», «không đe dọa dùng vũ lực và không dùng vũ lực», «thực hiện hòa hợp và hòa giải dân tộc», «không trả thù những người đã hợp tác với đối phương».
đã đày đọa, trả thù hàng chục vạn viên chức và sỹ quan VN Cộng hòa trong hệ thống nhà tù mang nhãn hiệu «các lớp học cải tạo» để đánh lừa dư luận thế giói.
Có thể nói trên đây là những tội ác hiển nhiên có suy tính theo hệ thống, không thể chối cãi của đảng CSVN, của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị, bằng chứng là các nghị quyết của Trung ương và Bộ Chính trị, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 15 khóa II đầu năm 1959 chủ trương đồng khởi và khởi nghĩa ở miền Nam, xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh từ Bắc vào Nam qua đất Lào và Campuchia, rồi Nghị quyết Trung ương 9 khóa III cuối năm 1963 chủ trương tăng cường chi viện quân sự quy mô của miền Bắc cho miền Nam, các quyết định về chiến lược của Bộ Chính trị năm 1974 và đầu năm 1975 dốc toàn bộ lực lượng để giải phóng miền Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Các văn kiện trên chứng tỏ Bộ Chính trị đảng CSVN đã sớm xé bỏ triệt để các Hiệp định Geneve và Hiệp định Paris, công khai vi phạm sự cam kết và phản bội chữ ký của chính mình, chà đạp thô bạo «quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN được tự do lựa chọn chế độ của mình», 2 lần gây nên thảm họa di cư quy mô lớn năm 1954-1955 từ Bắc vào Nam và thảm kịch thuyền nhân từ 1975 đến 1980, với biết bao sinh mạng bị biển cả cuốn đi, bộ máy công an còn thu cơ man nào là vàng của hàng triệu người vượt biên.

Tất cả những điều kể trên là tội ác đối với toàn dân tộc, đặc biệt là đối với nhân dân miền Nam Việt Nam đã bị thôn tính bằng vũ lực công khai, phi pháp, trắng trợn, cũng là tội ác chống nhân loại, vi phạm Hiến chương của Liên Hiệp Quốc chủ trương quyền Tự quyết của các dân tộc là bất khả xâm phạm. Do đó ngày 30/4 có thể gọi là ngày Đen Tối , ngày Tội Ác, từ đó cũng là ngày Ô Nhục của Đảng CSVN.

Nếu như nhân dân Việt Nam được sống dưới một chế độ pháp quyền đầy đủ thì Bộ Chính trị đảng CSVN tự nhận là cơ quan lãnh đạo thường xuyên, liên tục và toàn diện đất nước phải bị đưa ra vành móng ngựa của Tòa án Nhân dân và của Tòa án Quốc tế về những tội ác chồng chất trên đây.(ngưng trích)

“Đồng chí” Nguyễn Đình Bin đã hết “thắc mắc” chưa, hay cũng đã bán linh hồn cho loài quỷ đỏ để có nhà lầu, ô-tô và chờ ngày “ra trước vành móng ngựa” để trả lời về những tội ác chồng chất với “anh em một nhà”, “người trong một nước”?

Mùa Quốc Hận 2019

Ký Thiệt

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Từ chuyện Nguyễn Phú Trọng nhập viện, nghĩ về tương lai Việt Nam
Thứ Hai, 15 Tháng Tư 20192:00 SA
Trung Nguyễn ( Tiếng Dân )
Image
Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Nguồn: TN

Hôm qua 14/4/2019 dương lịch, tức 10 tháng 3 âm lịch, là ngày giỗ tổ Hùng Vương nhưng cũng là ngày sinh nhật chính thức của ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Ông Trọng sinh ngày 14/4/1944, như vậy hôm qua ông tròn 75 tuổi.

“Long thể” bất an?

Dân tình chẳng ai quan tâm tới ngày sinh nhật của ông Trọng như đối với các diễn viên, ca sĩ, người mẫu. Thế nhưng hôm qua tên ông Trọng là cái tên “hot” (nóng) nhất trên Google, được nhiều người tìm kiếm nhất. Lý do là theo một số Facebooker nổi tiếng trên Facebook, ông Trọng khi đang làm việc tại Kiên Giang đã nhức đầu dữ dội, phải nhập viện và được chuyển đến bệnh viện Chợ Rẫy tại Sài Gòn. Hiện tại vẫn còn nhiều nguồn tin đồn đoán về ông.

Rồi chúng ta sẽ còn phải xem diễn biến sắp tới về ông Trọng thế nào. Nhưng đến đây chúng ta có thể rút ra một vài điều về đảng cộng sản Việt Nam và người dân Việt Nam.

Đảng cộng sản không còn người tài

Thứ nhất, đảng cộng sản Việt Nam thực sự không còn ai tài giỏi đủ sức gánh vác giang sơn xã tắc. Tại sao một ông già 75 tuổi lại phải kiêm cả hai chức Tổng bí thư của đảng cộng sản và chức Chủ tịch nước của quốc gia? Hai chức đó vốn dĩ trước kia dành cho hai người, mà làm mới có một chức như Chủ tịch Trần Đại Quang mà còn phải “băng hà” trước khi hết nhiệm kỳ. Tại sao vị trí quan trọng như vậy lại do một ông già 75 tuổi, vượt tuổi về hưu đã lâu, đảm trách? Sức khỏe của ông già đó hầu như chắc chắn không thể đảm bảo xử lý việc quốc gia đại sự liên tục với cường độ cao.

Đến đây, tôi cũng phải bật cười khi nhớ lại quan chức nào khi lên chức cũng có bản khám sức khỏe tốt đẹp. Vậy mà khi bị còng ra trước tòa vì các tội tham nhũng thì lại xin thẩm phán ân xá vì ông bà nào cũng bệnh tật đầy mình, gần chết đến nơi.

Thật sự, trong hệ thống chức tước của đảng cộng sản, muốn leo cao thì một kỹ năng phải có là … nhậu giỏi để tạo quan hệ chứ không phải là làm việc giỏi để được dân bầu lên. Việc nhậu triền miên như vậy sau bao nhiêu năm thì các lãnh đạo đảng cộng sản không bị bệnh mới là điều lạ.

Việc một đảng cầm quyền thất bại trong việc lựa chọn lãnh đạo quốc gia xứng tầm thì việc đảng đó sụp đổ chỉ là vấn đề thời gian.

Dân Việt Nam rất quan tâm tới chính trị

Thứ hai, như BBC đưa tin, trong ngày hôm qua thì cái tên ông Nguyễn Phú Trọng được tìm kiếm nhiều nhất trên Google. Điều này cho thấy, hàng ngày người dân Việt Nam có thể không quan tâm tới chính trị, nhưng khi có sự kiện, ngay cả khi sự kiện đó không hề được báo chí trong nước loan tải, thì chính trị lập tức trở thành chủ đề thu hút người dân nhất.

Như thế, điều quan trọng mà các tổ chức chính trị đối lập ngầm (nếu công khai thì đã bị bắt rồi), các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam có thể làm là đưa ra được các chương trình, các mô hình hoạt động an toàn để người dân có thể đứng vô, cùng làm việc với nhau. Khi thời điểm thích hợp đến như khủng hoảng kinh tế thì người dân Việt Nam rất cần những lãnh đạo, những tổ chức tiên phong để dẫn dắt các cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, dân quyền. Các cuộc cách mạng đang diễn ra ở Venezuela, Algeria, Sudan đều diễn ra như thế.

Bài học từ các cuộc cách mạng đang diễn ra trên thế giới

Tại Venezuela, khi phe đối lập đã đoàn kết lại xung quanh Tổng thống tạm thời Juan Guaido, người dân và nhất là quốc tế liền lập tức ủng hộ ông, đẩy Tổng thống độc tài theo chủ nghĩa xã hội Maduro vào tình cảnh rất khó khăn và đang trên bờ vực sụp đổ toàn diện. Bài học ở đây là phe đối lập phải đoàn kết để chiến thắng chế độ độc tài, cũng như dân oan mất đất ở Đồng Tâm và Dương Nội đã kết nghĩa với nhau.

Tại Sudan, tổ chức xã hội dân sự tiên phong trong việc tổ chức cho người dân biểu tình lật đổ chế độ độc tài Omar el-Bashir là Hội nghề nghiệp Sudan (Sudanese Professionals Association). Hội này được thành lập ban đầu chỉ với mục tiêu tăng lương tối thiểu nhưng cuối cùng lại là một trong những hội quan trọng nhất dẫn tới việc chế độ độc tài sụp đổ.

Bài học rút ra là phe đối lập cứ xây dựng các tổ chức xã hội dân sự, nghiệp đoàn độc lập,… đáp ứng được quyền lợi của nhân dân, được nhân dân đi theo đông đảo thì đến thời điểm thích hợp, hội đoàn đó hoàn toàn có thể tham gia và ảnh hưởng tới chính trường. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – châu Âu có thể là chìa khóa để mở cánh cửa quyền lập hội và nghiệp đoàn độc lập.

Rồi sẽ tới cách mạng dân chủ ở Việt Nam

Để kết luận, xin được trích lời của một chàng thanh niên trẻ Toufik bán cờ tổ quốc Algeria cho người biểu tình phản đối chế độ độc tài Abdelaziz Bouteflika:

“Chúng tôi là những người quốc gia, chúng tôi yêu tổ quốc và chúng tôi sẵn sàng chết vì tổ quốc. Do đó tôi bán những lá cờ Algeria để chứng tỏ tình yêu của tôi với Algeria. Hình ảnh của những cuộc biểu tình của chúng tôi đã lan truyền khắp thế giới, điều quan trọng là ở nước ngoài người ta nhìn chúng tôi với lá cờ của chúng tôi và hiểu những người Algeria là như thế nào.”

Những gì đang diễn ra ở đây vào lúc này rất quan trọng. Chúng tôi không còn có thể quay lui. Chúng tôi muốn một tương lai tốt đẹp hơn cho chúng tôi và cho con cái chúng tôi. Đã đến lúc mọi thứ phải thay đổi.”

Một thanh niên bán cờ ở một quốc gia châu Phi còn biết phát biểu hùng hồn như thế, yêu nước như thế. Chẳng lẽ dân tộc Việt Nam lại kém dân tộc Algeria? Chắc chắn rằng không. Khi thời cơ đến, dân tộc Việt Nam sẽ còn làm tốt hơn thế, tôi tin chắc vào điều đó.

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Từ chuyện Nguyễn Phú Trọng nhập viện, nghĩ về tương lai Việt Nam
Thứ Hai, 15 Tháng Tư 20192:00 SA
Trung Nguyễn ( Tiếng Dân )
Image
Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Nguồn: TN

Hôm qua 14/4/2019 dương lịch, tức 10 tháng 3 âm lịch, là ngày giỗ tổ Hùng Vương nhưng cũng là ngày sinh nhật chính thức của ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Ông Trọng sinh ngày 14/4/1944, như vậy hôm qua ông tròn 75 tuổi.

“Long thể” bất an?

Dân tình chẳng ai quan tâm tới ngày sinh nhật của ông Trọng như đối với các diễn viên, ca sĩ, người mẫu. Thế nhưng hôm qua tên ông Trọng là cái tên “hot” (nóng) nhất trên Google, được nhiều người tìm kiếm nhất. Lý do là theo một số Facebooker nổi tiếng trên Facebook, ông Trọng khi đang làm việc tại Kiên Giang đã nhức đầu dữ dội, phải nhập viện và được chuyển đến bệnh viện Chợ Rẫy tại Sài Gòn. Hiện tại vẫn còn nhiều nguồn tin đồn đoán về ông.

Rồi chúng ta sẽ còn phải xem diễn biến sắp tới về ông Trọng thế nào. Nhưng đến đây chúng ta có thể rút ra một vài điều về đảng cộng sản Việt Nam và người dân Việt Nam.

Đảng cộng sản không còn người tài

Thứ nhất, đảng cộng sản Việt Nam thực sự không còn ai tài giỏi đủ sức gánh vác giang sơn xã tắc. Tại sao một ông già 75 tuổi lại phải kiêm cả hai chức Tổng bí thư của đảng cộng sản và chức Chủ tịch nước của quốc gia? Hai chức đó vốn dĩ trước kia dành cho hai người, mà làm mới có một chức như Chủ tịch Trần Đại Quang mà còn phải “băng hà” trước khi hết nhiệm kỳ. Tại sao vị trí quan trọng như vậy lại do một ông già 75 tuổi, vượt tuổi về hưu đã lâu, đảm trách? Sức khỏe của ông già đó hầu như chắc chắn không thể đảm bảo xử lý việc quốc gia đại sự liên tục với cường độ cao.

Đến đây, tôi cũng phải bật cười khi nhớ lại quan chức nào khi lên chức cũng có bản khám sức khỏe tốt đẹp. Vậy mà khi bị còng ra trước tòa vì các tội tham nhũng thì lại xin thẩm phán ân xá vì ông bà nào cũng bệnh tật đầy mình, gần chết đến nơi.

Thật sự, trong hệ thống chức tước của đảng cộng sản, muốn leo cao thì một kỹ năng phải có là … nhậu giỏi để tạo quan hệ chứ không phải là làm việc giỏi để được dân bầu lên. Việc nhậu triền miên như vậy sau bao nhiêu năm thì các lãnh đạo đảng cộng sản không bị bệnh mới là điều lạ.

Việc một đảng cầm quyền thất bại trong việc lựa chọn lãnh đạo quốc gia xứng tầm thì việc đảng đó sụp đổ chỉ là vấn đề thời gian.

Dân Việt Nam rất quan tâm tới chính trị

Thứ hai, như BBC đưa tin, trong ngày hôm qua thì cái tên ông Nguyễn Phú Trọng được tìm kiếm nhiều nhất trên Google. Điều này cho thấy, hàng ngày người dân Việt Nam có thể không quan tâm tới chính trị, nhưng khi có sự kiện, ngay cả khi sự kiện đó không hề được báo chí trong nước loan tải, thì chính trị lập tức trở thành chủ đề thu hút người dân nhất.

Như thế, điều quan trọng mà các tổ chức chính trị đối lập ngầm (nếu công khai thì đã bị bắt rồi), các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam có thể làm là đưa ra được các chương trình, các mô hình hoạt động an toàn để người dân có thể đứng vô, cùng làm việc với nhau. Khi thời điểm thích hợp đến như khủng hoảng kinh tế thì người dân Việt Nam rất cần những lãnh đạo, những tổ chức tiên phong để dẫn dắt các cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, dân quyền. Các cuộc cách mạng đang diễn ra ở Venezuela, Algeria, Sudan đều diễn ra như thế.

Bài học từ các cuộc cách mạng đang diễn ra trên thế giới

Tại Venezuela, khi phe đối lập đã đoàn kết lại xung quanh Tổng thống tạm thời Juan Guaido, người dân và nhất là quốc tế liền lập tức ủng hộ ông, đẩy Tổng thống độc tài theo chủ nghĩa xã hội Maduro vào tình cảnh rất khó khăn và đang trên bờ vực sụp đổ toàn diện. Bài học ở đây là phe đối lập phải đoàn kết để chiến thắng chế độ độc tài, cũng như dân oan mất đất ở Đồng Tâm và Dương Nội đã kết nghĩa với nhau.

Tại Sudan, tổ chức xã hội dân sự tiên phong trong việc tổ chức cho người dân biểu tình lật đổ chế độ độc tài Omar el-Bashir là Hội nghề nghiệp Sudan (Sudanese Professionals Association). Hội này được thành lập ban đầu chỉ với mục tiêu tăng lương tối thiểu nhưng cuối cùng lại là một trong những hội quan trọng nhất dẫn tới việc chế độ độc tài sụp đổ.

Bài học rút ra là phe đối lập cứ xây dựng các tổ chức xã hội dân sự, nghiệp đoàn độc lập,… đáp ứng được quyền lợi của nhân dân, được nhân dân đi theo đông đảo thì đến thời điểm thích hợp, hội đoàn đó hoàn toàn có thể tham gia và ảnh hưởng tới chính trường. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – châu Âu có thể là chìa khóa để mở cánh cửa quyền lập hội và nghiệp đoàn độc lập.

Rồi sẽ tới cách mạng dân chủ ở Việt Nam

Để kết luận, xin được trích lời của một chàng thanh niên trẻ Toufik bán cờ tổ quốc Algeria cho người biểu tình phản đối chế độ độc tài Abdelaziz Bouteflika:

“Chúng tôi là những người quốc gia, chúng tôi yêu tổ quốc và chúng tôi sẵn sàng chết vì tổ quốc. Do đó tôi bán những lá cờ Algeria để chứng tỏ tình yêu của tôi với Algeria. Hình ảnh của những cuộc biểu tình của chúng tôi đã lan truyền khắp thế giới, điều quan trọng là ở nước ngoài người ta nhìn chúng tôi với lá cờ của chúng tôi và hiểu những người Algeria là như thế nào.”

Những gì đang diễn ra ở đây vào lúc này rất quan trọng. Chúng tôi không còn có thể quay lui. Chúng tôi muốn một tương lai tốt đẹp hơn cho chúng tôi và cho con cái chúng tôi. Đã đến lúc mọi thứ phải thay đổi.”

Một thanh niên bán cờ ở một quốc gia châu Phi còn biết phát biểu hùng hồn như thế, yêu nước như thế. Chẳng lẽ dân tộc Việt Nam lại kém dân tộc Algeria? Chắc chắn rằng không. Khi thời cơ đến, dân tộc Việt Nam sẽ còn làm tốt hơn thế, tôi tin chắc vào điều đó.

Post Reply