Góc nhỏ của anh 3 Giang

Tung cánh chim tìm về mái trường xưa. Mong tìm bạn học cũ, nay ở đâu xin nhắn đôi lời!!!

Moderator: CNN

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

phu_de wrote:Thứ tư, 24/8/2005, 11:18 GMT+7
Trái cây và khuôn ngực Nếu bạn nghĩ rằng trái cây và khuôn ngực người phụ nữ không hề có mối liên hệ nào là nhầm to đấy. Trắc nghiệm dưới đây sẽ đem đến cho bạn những so sánh và kết luận thú vị.


(Theo Thời Trang Trẻ)
vnexpress
Anh Phu De,

Khi nào có bưởi đẹp đẹp làm ơn gủi cho tôi thưởng lãm nhé

Cám ơn anh trước, He he he

Giang già mắc dịch mắc gió

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Sự đời giống cái Lá Đa

Sự đời giống cái lá đa
Đen như mõm chõ ,chém cha sự đời
Bắc thang lên hỏi ông giời
Tại sao sợ vợ qúa chời, hơn ông
Trời bảo này cái thằng này ngông
Vợ mày,mày sợ, vợ ông , ông thờ
Cái thằng đến là ngây thơ
Mày không sợ nó là trơ thân ...cò
Nổi sùng, nó sẽ hổng cho
Con "ngao "nó giữ "cò "mày mổ đâu
Cũng chỉ vì cái con ...sò
Thằng lớn, thằng bé ,nhỏ to kêu trời
Cỗ đó mà chẳng được xơi
Tao đâu cùng loại ...dở hơi như mày
Muốn khôn thì hãy nghe đây
Hễ nghe vợ bảo,từ rày xin ...."vâng "
Cơm bưng,nước rót xin dâng
Quần áo giặt giũ,rửa chân cho nàng
Cửa nhà thu quén gọn gàng
Nó về đến cửa , dịu dàng kiu ..."em "
Được vậy mỗi khi mày thèm
Thì nó mới "hưỡn " cho xem ...nợ đời
Rồi thì tha hồ mà xơi
Không phải canh mánh ,chờ thời như xưa
Nhưng mà tao hổng có ưa
Những lúc mày sướng thì ...chừa tên tao
Hổng phải bất cứ lúc nào
Tầm bậy , tầm bạ ,tên tao .."..kêu trời "
Bây giờ mày hiểu tại sao
Trời cũng sợ vợ như bao người trần
Ai cũng có nợ đồng lần
Đến phải sợ vợ vì cần ...."lá đa "


3G sưu tầm .

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Thảm Kịch Việt Nam Hôm Nay Hay Bài Học Lịch Sử, Do Chính Trí Thức Tạo Thành


Hồ Đinh, Xóm Cồn 4-2005


Trước cách mạng 1789, nước Pháp dưới triều vua Louis XVI, lúc nào cũng tự coi mình là đấng con trời, vì nắm hết moi quyền lực trong nước, lại thêm có sự tiếp tay của ba thế lực đương thời, đó là giai cấp tăng lữ, quí tộc và bọn trí thức giàu có, sống nhờ hút máu đồng bào hèn nghèo bé miệng...

...Có thể coi xã hội Pháp thời đó, y chang như thiên đàng Việt gian CSVN ngày nay, quyền lực do đảng nắm giữ, đứng vững nhò sự tiếp tay của một thiểu số trí thức sa đọa vì quyền lực và phù phiếm cuộc đời. Đó là lý do, khiến cho mọi tầng lớp xã hội, mà hầu hết là giới nông dân thợ thuyền, qua luồng gió dân chủ, tự do của Montesquieu, Jean Jacques Rousseau, Voltaire, đã đứng dậy đập tan chế độ bạo tàn, đưa cuộc cách mạng 1789 đến chỗ thành công. Ngày nay người Pháp, không ai quên được cái đêm 14-7, cảnh dân chúng Ba Lê phá vỡ ngục Bastille, kế tiếp là ngày 21-1-1793 đã bắt vua Louis lên đoạn đầu đài xử tử, vì tội rước giặc về, để bảo vệ cái ngai vàng của mình, mà dày xéo quê hương tiên tổ. Do kết quả trên, từ đó về sau, thế giới coi cuộc chính biến năm 1789, là một cuộc cách mạng vĩ đại. Nước Pháp sau đó, đã đổi mới toàn diện về chính trị, thay đổi hiến pháp, cải cách xã hội... mở đường cho cuộc cách mạng 1848 tại Âu Châu, hoàn thành chủ thuyết Dân Tộc Tự Quyết, cải thiện đời sống củagiới lao động, thợ thuyền.

Tại Châu Á, năm 1888, Minh Trị Thiên Hoàng, cũng đã làm một cuộc cách mạng cho nước Nhật, sau khi bị Mỹ làm nhục. Năm 1853, Nhật đã canh tân đất nước toàn diện, thay đổi một quốc gia phong kiến lạc hậu, chia năm xẻ bảy bởi nạn sứ quân, thành hợp nhất, cải tổ kinh tế, quân sự, chính trị, làm cho nước Nhật trở thành một cường quốc. Nhờ vậy, chẳng những người Nhật được thế giới, trong đó có Hoa Kỳ kính nể, mà còn chiến thắng Trung Hoa năm 1894, buộc người Tàu phải ký hiệp ước Simonoseki (Mã Quan), trả độc lập cho bán đảo Triều Tiên, đồng thời nhường cho họ, quần đảo Bành Hồ và đảo Đài Loan. Tiếp đến Nhật còn thắng Nga năm 1905, ở biển nam đảo Sakhaline, chiếm Mãn Châu, Triều Tiên và đường xe lửa trong vùng.

Như vậy, cách mạng qua các thành tựu trên là một sự bỏ cũ thay mới, loại cái xấu cái tồi để thực hiện những điều hay tốt, làm cho an dân lợi nước. Trong dòng lịch sử VN cận đại, tài liệu có nhắc tới cách mạng mùa thu tháng 9-1945, cộng sản đệ tam quốc tế, qua bình phong Việt Minh, đã cướp được chính quyền, lúc đó đang bị rơi rải ngoài đường vì cả Nhật-Pháp, hai chủ nhân ông củaVN đã buông tay, còn Chính phủ đương thời Trần Trọng Kim, lại bị bọn Việt Gian nằm vùng lúc đó, đoạt quyền... cho nên cũng hữu danh vô thực. Tại VNCH, ngày 1-11-1963 cũng có một cuộc cách mạng, lật đổ nhà Ngô. Như vậy, nếu từ căn nguyên và ý nghĩa của cách mạng, mà tượng trưng là những năm 1789, 1848, 1853..chúng ta sẽ không bao giờ dám nghĩ rằng, những biến cố chính trị vào năm 1945 hay 1963 tại miền Nam VN, là một cuộc cách mạng như một vài người đã tự gán. Đúng hơn, đó chỉ là những biến cố quân sự để cướp quyền lực, dành địa vị,thay vua, đổi màu cờ, tên nước... Bởi vì sau đó, mọi sự cũng chẳng có gì mới mẻ, ngoài các nhân vật cũ nhưng mới nhờ có kèm theo chức vụ hay lon lá to hơn, khi còn trong chế độ cũ, tạo nên một cuộc đổi đời long trời lở đất, mở đường đưa lối, giúp VC cưỡng chiếm được toàn thể VN, tạo nên những thảm kịch thiên cổ, có một không hai trong dòng sử Việt.

‘Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đan tâm, chiếu hãn thanh...’

Hai câu thơ cổ trên, được trích từ bài thơ ‘chính khí ca’ của Văn Thiên Tường (1236-1282), một đại quan thời mạt Tống cũng là một sĩ phu trí thức, một nhà nho lỗi lạc, có tình yêu nước nồng nàn. Khi đất nước lâm nguy, dù làm quan tột đỉnh tới Thừa tướng Khu Mật Sứ, người trí thức sĩ phu, đã quên mình, dấn thân ra chiến trường, cầm quân chống kẻ thù Mông Cổ. Cuối cùng ông và vua Tống Đoan Tông, đều bị bắt tại Quảng Đông vào năm 1278. Tại Yên Kinh, người sĩ phu trí thức, thà chịu tù đầy, hận nhục nhưng lòng băng sơn son sắt, quyết không hàng giặc. Vì vậy Ông bị giặc giết, trước khi lìa đời, đã viết bài ca chính khí, cảm động và rung động lòng người.

‘Thâm tâm nhất phiến, từ châm thạch
bất chỉ nam phương, bất khẳng hưu
tòng kim biệt khúc Giang Nam lộ
hóa tác Đổ Quyên, đái huyết quy...’

Tại miền Nam VN, từ 1960-1975, trong lúc Việt gian cộng sản Bắc Việt ngày đêm không ngớt tấn công gây chiến khắp mọi miền đất nước, làm cho đồng bào lầm than, người lính trường sa ngày đêm thương vong, chết tủi. Rồi cũng nhờ máu xương của lính, mua thêm thời gian tồn tại của VNCH, nên mới có phản chiến, xuống đường, đêm bàn thờ ra phố chợ, làm ô uế bậc thần linh tôn kính. Tóm lại chính vì miền Nam quá tự do, cho nên mới có đất, để bọn Hippy tại Mỹ, qua cái gọi là The Beatles, múa may cuồng ngạo. Mới có trí thực, vô hồn không óc, chạy theo Bertraud Russell, Jean Paul Sartre, Herbert Marcuse... tuy ăn cơm và sống nhờ bàn tay che chở củangười lính Quốc Gia, lại lợi dụng tự do, dân chủ, công khai tán tụng cộng sản xâm lăng Hà Nội, hô hào hòa bình giả mạo, bắt quân dân miền Nam buông súng đầu hàng kẻ thù. Cũng vì tự do dân chủ, mới có thơ văn và âm nhạc phản chiến, công khai chống lại chính phủ mình. Mới có Trịnh Công Sơn, Thích Nhất Hạnh, Nguyễn Văn Trung, Thế Nguyên, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Trọng Văn, Lữ Phương, Chân Tín, Lý Chánh Trung... Mới có Hành Trình, Đất Nước, Tin Văn, Trình Bày, Đối Diện, Vấn Đề... mới có một số lớn con cái của các cán bộ tập kết ra Bắc, để vợ con ở lại sống bằng sự chắt chiu đùm bọc của người Miền Nam. Tới khi trưởng thành, lại trở mặt, nằm vùng chống lại người ơn của mình, mà điển hình nhất là Phi Công Nguyễn Thành Trung trong KQ/VNCH, hiện đang múa may quay cuồng, không có một chút gì là hổ thẹn và hối hận.

Ngày 22-5-1974, Hạ Viện Mỹ phủ quyết đề nghị gia tăng ngân sách viện trợ, cho VNCH năm 1975. Cuối tháng 10-1974, trước bất lợi của VNCH, nên Việt gian CSBV quyết định cưỡng chiếm miền Nam bằng quân sự. Và trong lúc non nước nguy khốn với thù trong giặc ngoài, thì trí thức miền nam, qua báo chí, rầm rộ biểu tình chống chính phủ, đòi tổng thống từ chức. Ngày 10-10-1974, lại ký giả đi ăn mày, do Vũ Hạnh, Kiên Giang, Nguyễn Văn Bổng, giựt dây xúi giục. Trong lúc giặc Bắc đã mở màn cuộc xâm lăng, bằng trận đánh lớn đầu tiên, chiếm Thượng Đức (Quảng Nam) sau khi đã cùng Mỹ, trân trọng ký vào bản hiệp ước ngưng chiến, để hòa bình tại hai miền VN.

‘Không ai có thể tắm hai lần dưới cùng một dòng sông‘. Bởi vậy, sau ngày 30-4-1975, VN hoàn toàn bị cộng sản nhuộm đỏ, đã không còn biểu tình, chống đối, cho nên đảng cầm quyền, một trời một chợ, bán đất nhượng biển, tham nhũng, gây nên đại họa thiên cổ, mà không một sử gia hay chữ nghĩa nào, ghi cho hết được.

1-NHỮNG LỜI NÓI DỐI CỦA LỊCH SỬ :

Chiến tranh VN xưa nay là một đề tài, cũng như phương tiện, giúp cho nhiều người nổi tiếng và làm giàu. Tại Hoa Kỳ, có giáo sư sử học Joseph. J. Ellis, củaTrường Đại Học Mount Holyoke, nức tiếng trong ngành sử học, nên đã nhận được giải văn chương báo chí Pulitzer vào tháng 4-2001. Tuy nhiên trên đời này, không điều gì có thể dấu được, khi hầu hết các bí mật lịch sử, gần như đã được khai quật. Cho nên, sự việc thần tượng Joseph, bị nhà báo Walter V.Robinson hạ bệ, qua bài báo mang tựa ‘Professor’s past in doubt ‘, đăng trên tờ Boston Globe, số ngày 18-6-2001. Qua đề tài ‘quá khứ hoài nghi một giáo sư sử học‘, đã vạch trần những hồi ức, mà nhà sử học dùng làm tài liệu, để chứng thực rằng ông ta có chiến đấu tại VNCH. Thế nhưng qua lời bạn bè, một thời từng chiến đấu trong thập niên 1960, đều xác nhận đượng sự, tuy có ở trong quân đội Hoa Kỳ nhưng chưa bao giờ tới VN chiến đấu, mà chỉ phụ trách dạy lịch sử, tại Học Viện Quân Sự West Point. Tóm lại nước Mỹ sẽ còn phải đối mặt với nhiều năm tháng, qua những ám ảnh về chiến trường VN, mà nhiều nhà báo trước đây, vì háo danh và vô nhân đạo, đã bẻ cong ngòi bút, khi viết sự thật lịch sử.

Chưa hết việc làm và ghép ảnh giả, để khai thác cái hồn và làm tăng độ tin của những bài viết bôi lọ, nhục mạ QLVNCH, cũng được nhà báo Mỹ và Tây Phương khai thác một cách tận tuyệt. Mới đây trong tác phẩm ‘những lời khoắc lác’ củaCustis Mc Dougall, gần như vạch trần những sản phẩm, một thời được rêu rao, bây giờ bị lật mặt nạ là bịp bợm.

Nói chung sự bưng bít lịch sử, trong thế giới cộng sản thật là dễ sợ. Bởi ngay bây giờ, vẫn còn nhiều nhà báo quốc tế, như đang ngủ trong mây, qua những vấn đề có liên quan tới VN. Tóm lại, chẳng những cả nước bị bịt mắt bắt dê, mà ngay tới những thành phần trí thức tại Bhutan, Panama, Nigeria... gần như không hiểu một chút gì về cái chế độ độc tài, đảng trị, có một không hai trong lịch sử Việt.

Cho nên cũng đừng lạ, khi biết được mới đây, đài CBS lại bị tố cáo là loan tin thất thiệt, qua một bài tường thuật về đời quân ngũ của đương kim tổng thống Hoa Kỳ G.B.Bush. Sự kiện quan trọng trên, khiến cho thiên hạ giờ đây hết tin nổi, những cái gọi là truyền thông nước Mỹ như NBC, CNN, The New Republic, The Washington Post, USA Today, The New York Times, và những đài ngoại quốc có chương trình Việt Ngữ như BBC Luân Đôn, RFA, VOA... Một tổng thống quyền hành bao trùm cả thế giới, mà còn bị báo và truyền hình bôi nhọ, chụp mũ, thì cái sự Lịch sử thời VNCH bị dựng đúng, bẻ cong, cũng là điều bình thường.

A-TỔNG THỐNG THIỆU VÀ 16 TẤN VÀNG :

Căn cứ vào một số tài liệu mật được giải mã tại các văn khố quốc tế cũng như của Hoa Kỳ, đã khẳng định được một điều, là trong suốt cuộc chiến Bắc Việt xâm lăng VNCH, hầu hết tầng lớp người Việt sống tại Miền Nam VN, nếu không bị áp buộc, gây nguy hiểm đến mạng sống và gia đình họ, thì chẳng có ai ưa thích VC, ngoài một số trí thức no cơm ấm cật, giàu sang thừa mứa, nhờ gốc gác từ địa hào, địa chủ thời Pháp thuộc, quen đứng núi này nhìn non nọ, ngủ trên mây, nên bị cộng sản tuyên truyền lừa phỉnh, đi vào bước đường cùng sau ngày 30-4-1975, tàn mùa chinh chiến. Chính những trí thức thiên tả trên, đã lợi dụng tự do dân chủ của chế độ, để biểu dương lập trường đối lập của mình, đã vô tình hay cố ý tiếp tay với giặc, mang ách nô lệ Mác-Lê từ Nga-Tàu, về dày xéo quê cha đất tổ.

Sau ngày 30-4-1975, qua phút huy hoàng ngắn ngủi, cũng là thời gian mặt nạ những kẻ nằm vùng, đâm sau lưng người lính VNCH được lột, cũng là sự kết thúc vai trò làm hề của trí thức miền nam. Từ đó, tất cả đều chung niềm tân khổ, nhưng người dân và lính chỉ hận hờn vì đầy đoạ, trái lại người trí thức phản bội năm nào, mới là thành phần bị thiệt thòi nhất, vì vừa bị mất hết những đặc quyền đặc lợi mà chế độ cũ dành cho lớp người khoa bảng, luôn được ngồi trên đầu dân đen miền Nam, lại phải mang thêm sự bóp nát lương tâm vì hối hận và trên hết đã thấu rõ nguyên tắc của xã nghĩa:’ TRÍ THỨC THUA CỤC PHÂN VÌ VÔ DỤNG VÀ PHẢN TRẮC LẬT LỌNG.

Nhưng người trong nước thì an lòng chịu đựng, ngược lại có một số loạn thần, nhanh chân chui được vào lòng máy bay Mỹ, chạy ra hải ngoại lúc đó, hay mới đây qua các diện vượt biên, đoàn tụ, tù nhân chính trị... vẫn tiếp tục to miệng làm hề, dù rằng nay đã biển dâu, ông bà sư cố... cũng y chang xếp hàng như me Mỹ, Ba Tàu Chợ Lớn và bần dân xóm biển. Màn chửi rủa, đổ tội, vu khống Miền Nam vì tham nhũng bất tài, nên thua VC... được chấm dứt, khi thành đồng tổ phu Mac Lê, tan hoang, sụp nát vào năm 1990, chẳng những ở Đông Âu, khắp năm châu, mà còn ngay tại Tổng Đàn Nga Sô Viết. Cũng từ đó, xã nghĩa thiên đàng thu gọn tại Tàu Cộng, Viêt Cộng, Hàn Cộng và Cu Ba. Rồi các dĩnh cao tại Bắc Bộ Phủ vì cái ăn bản thân cùng sự sống của đảng, đã muối mặt, mở cửa đổi mới, trải thảm đỏ, lạy mời những kẻ thù năm nao như Mỹ, Pháp, Nhật, Nam Hàn, Đài Loan... kể cả Liên Xô, Âu Châu... vào, để cùng nhau hợp sức, kết đoàn, làm nhanh sự sụp đổ của một quốc gia mang tên VN, từng liệt oanh lừng lẫy dưới trời Đông Nam Á.

Cũng nhờ mở cửa, những tin tức bán nước, hại dân và đại họa tham nhũng cả nước, từ lớn tới bé của Cộng Đảng... bị quốc dân rõ rỉ phanh phui, tràn lan khắp chân trời góc biển và ngay trên mạng truyền thống quốc tế từng giờ, đã khóa kín những cái miệng thúi của bọn trí thức bợ bưng VC, vẫn còn lẩn quẩn, trong tập thể người Việt hải ngoại, đợi dịp và cơ hội, đâm sau lưng đồng bào, như chúng từng làm, khi còn sống tại VNCH, trong cảnh no cơm ấm cật, ai chết mặc bay, vô luân vô tích sự.

Theo tin của Nguyễn Hữu từ Paris, được đăng trên tờ Việt Nam Hải Ngoại, số 132 ngày 31-1-1983, thì Nguyễn Văn Hảo, nguyên phó thủ tướng trong triều vua Dương văn Minh hai ngày, nhờ bảo vệ được ‘16 Tấn Vàng, tài sản của quốc dân Miền Nam’, để dâng cho tập đoàn Lê Duẩn, Lê Đức Thọ,Phạm văn Đồng... ngay khi chúng vào được Sài Gòn, buổi trưa ngày 30-4-1975. Theo nguồn tin từ các hàng thần VC, ngay khi vào Sài Gòn trưa đó, thì 16 tấn vàng trên, được Duẩn-Thọ, dùng máy bay chở về dấu tại Côn Sơn-Hải Dương. Sau đó đảng nhóm, tự chia chác ăn xài. Cũng nhờ công lao hãn mã trên, nên Hảo Tiến Sĩ, được VC cho xuất ngoại công khai sang Pháp. Tại Ba Lê, Y ngự trong một khách sạn sang đẹp, mà chủ nhân cũng là chủ của Nhà Hàng Đồng Khánh tại Chợ Lớn năm nào.

Sự việc Nguyễn Văn Hảo xuất ngoại bằng thông hành chính thức và liên hệ thường trực với tòa đại sứ VC tại Pháp, cho thấy Y ra ngoại quốc với sứ mạng bí mật. Hiện nay Hảo được Cao Thị Nguyệt, vợ góa của tướng Hòa Hảo Ba Cụt, bảo lãnh sang Mỹ, trước đó ở Texas.

Tuy VC đã cưỡng chiếm được miền Nam gần 30 năm qua, nhưng duới đống tro tàn của quá khứ, vẫn còn âm ỷ các sự kiện nóng bỏng của cận sử VN, trong đó ác nhất là chuyện ‘Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, tẩu tán 16 tấn vàng y của Ngân Hàng Quốc Gia VN, khi chạy ra ngoại quốc, vào những ngày cuối thàng 4-1975‘. Đây là một sự kiện lớn của người Việt Quốc Gia, trong và ngoài nước. Và dù nay mọi sự đã được sáng tỏ, số vàng trên được Nguyễn Văn Hảo giữ lại và chiều ngày 30-4-1975, đem dâng cho Lê Duẩn, chở ngay về Bắc.

Theo tài liệu của Nguyễn Tiến Hưng, trong tác phẩm ‘Bí Mật Dinh Độc Lập‘, cũng là người chủ xướng trong việc, dùng 16 tấn vàng dự trữ tại Ngân Hàng Quốc Gia, theo thời giá lúc đó là 120 triệu Mỹ Kim, để mua vũ khí đạn dược, cung cấp cho QLVNCH tiếp tục chiến đấu, chờ xin viện trợ của nước khác, vì Hoa Kỳ qua đảng Dân Chủ phản chiến, đã chấm dứt giúp đỡ miền Nam.

Ai cũng biết, từ tháng 4-1975, miền Nam đã mất tinh thần, vì sự tan rã của hai quân đoàn 1 và 2 khi triệt thoái, theo lệnh củaTT Nguyễn Văn Thiệu. Thêm vào đó là sự việc Hoa Kỳ cố ý cắt đứt hết viện trợ, trong lúc đồng minh của mình đang dần mòn thoi thóp chiến đấu trong tuyệt vọng, vì cạn kiệt đan súng, nhiên liệu. Do trên, liên tiếp qua nhiều phiên họp tại dinh Độc Lập, Nguyễn Tiến Hưng đề nghị dùng số vàng dự trữ, để mua súng đạn. Song song là việc tăng cường canh gác, bảo vệ trụ sở Ngân Hàng trung ương, tại Bến Chương Dương-Sài Gòn, đề phòng cộng Sản Bắc Việt thừa dịp đánh cướp, vì tin tức các cuộc họp kín, chắc chắn đã bị điệp viên nằm vùng ngay dinh tổng thống, báo về Bắc Bộ Phủ. Và lần này, VC đã xuống tay trước, để chúng không bị hố như hồi tháng 8-1945, để mất toi số vàng bạc châu báu dự trữ, tại Viện phát hành giấy bạc Đông Dương (Institut d’Emission) ở Hà Thành.

Như vậy theo kết quả buổi họp, có đủ các tướng Thiệu, Khiêm, Viên, Quang... số vàng trên sẽ được gởi ra ngoại quốc. Người nhận chỉ thị thi hành là Lê Quang Uyển, Thống Đốc Ngân Hàng VNCH. Ông có nhiệm vụ thuê mướn may bay chuyên chở (hàng hàng không Mỹ TWA,Pan Am) và hãng bảo hiểm quốc tế Lloyd’s tại Luân Đôn, Anh Quốc. Nhưng kế hoạch bất thành, vì tin mật bị lộ ra ngoài, với sự xuyên tạc đầy ác ý: ‘Thiệu mang 16 tấn vàng theo ra ngoại quốc, sau khi từ chức’. Tin trên khiến các hãng máy bay cũng như công ty bảo hiểm từ chối chuyên chở, vì sợ bị phạm pháp.

Cuối cùng Chính Phủ VNCH phải nhờ Bộ Ngoại Giao Mỹ, qua Đại Sứ Martin giúp. Sự việc kéo dài tới khi TT Thiệu từ chức và Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay thế. Ngày 26-4-1975, Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn, mới cho biết, đã tìm được một hãng bảo hiểm số vàng trên nhưng giá trị chỉ còn 60.240.000 Mỹ kim, mất đi nữa nếu tính theo thời giá. Riêng việc chuyên chở, cũng phải hoàn tất trước ngày 27-4-1975 vì phi cơ đang đậu sẵn tại phi trường Clark, Manila, Phi Luật Tân, sẵn sàng tới Sài Gòn chuyển vàng.

Nguyễn Văn Hảo bấy giờ là Phó Thủ Tướng, phụ trách kinh tế, được ủy nhiệm thi hành công tác trên. Nhưng Y đoán biết VNCH sẽ thất thủ trong nay mai. Do trên đã manh tâm phản bội, thừa cơ hội lập công dâng cho VC, để mong vinh thân phì gia. Y vào gặp thẳng TT.Trần Văn Hương, hăm đoạ và áp lực đủ điều. Rốt cục Hương vì sợ trách nhiệm, nên đành giao số 16 tấn vàng trên cho Nguyễn Văn Hảo giữ lại, chờ giao nạp cho VC. Nhờ thế, sau ngày 30-4-1975, tên trí thức trở cờ, ăn cơm quốc gia lật lọng, hàm tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo, được những người chủ Rừng Xanh, trả ơn cho chức ‘Cố Vấn Kinh Tế’, trong chính phủ Ma Miền Nam. Sau đó không lâu, tiến sĩ giấy cũng theo vận nước, tàn với mặt trận. Rồi cũng như bao kẻ khác, bò tới Mỹ, trốn nhủi tại một vùng nào đó ở TX, ôm hận và xú danh muôn thu ngàn kiếp trong sử Việt.

B-KHẮP THẾ GIỚI THAM NHŨNG-CHẲNG RIÊNG VNCH :

Thì ra không riêng gì VNCH, mà hầu như tất cả các nước trên thế giới, kể cả đại siêu cường Hoa Kỳ, hiện luôn phải đối diện với nạn tham nhũng hoành hành. Nói chung tham nhũng ngày nay không phân biệt giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triển, đều là mối đại họa, từng làm sụp đổ nhiều chính quyền, đảng phái. Đặc biệt tại VC ngày nay, ngoài việc cướp hết tài sản cả nước, còn công khai bán đất dọc biên giới, nhường biển, chia cắt vùng đánh cá cho Trung Cộng, để vừa có thưởng lại được che chở, bảo vệ cái ngai vàng từ bảy mươi năm qua, xây trên núi xương biển máu.

Tại các nước Nam Á, do nạn tham nhũng bòn rút hằng triệu triệu Mỹ kim, khiến cho nền kinh tế Ấn Độ, Pakistan, Bangadesh... bị điêu đứng, làm hằng trăm triệu người đói chết. Tại Philippine, qua báo cáo của Ngân Hàng Thế Giới (WB), nạn tham nhũng đã làm thủng một nửa ngân khoản thu nhập của nước này. Cuối cùng ngày 7-12-2000, Tổng thống Phi Estrada, đã bị Thượng viện truất phế và giam giữ chờ đền tội. Tại Thái Lan, theo Ủy Ban Phát Triển Xây Dựng, thì khoảng 10% ngân sách, tức từ 5-8 tỷ đô la, đã lọt vào túi tham quan. Theo cưụ chủ tịch thượng viện Thái là Ruchupan, cho biết chính Hải Quan nước này, mới chính là ổ tham nhũng lớn nhất với 60 tỷ Bath. Riêng nước Indonesia thì càng kinh khiếp, tham nhũng vì chẳng những đã làm cho đảng cầm quyền Golka mất địa vị, mà ngay chính TT Suharto, cũng bị kết tội tham nhũng tới 10 tỷ đô la, mất chức, đền tội. Tiếp tới TT Wahid cũng thân bại danh liệt vì tham nhũng.

Nước Nhật giàu có văn minh, cũng không thoát khỏi nạn tham nhũng tàn phá, mà tai tiếng nhất là sự vỡ nợ gần 1000 tỷ đô la, tiền đầu tư xây dựng tại các Ngân hàng, đã lọt vào tay các băng đảng Mafia Nhật Bản. Đặc biệt nhất là Đại Hàn, hai cựu tổng thống Chu Đô Hoan và Rô The U, cùng nhiều cựu viên chức của chính phủ, cựu chủ tịch tập đoàn Kim Woo Choong của tập đoàn Daewoo, cũng ra tòa vì dính líu tới tham nhũng. Tuy nhiên tất cả các nước trên, nếu so sánh với tệ nạn tham nhũng củaTrung Cộng, thì chẳng nhằm nhò gì. Tính chung từ năm 1990 đổi mới mở cửa, đã có 277.000 vụ tham nhũng lớn nhỏ. Những nhân vật chóp bu tại Bộ Chính trị như Trần Hy Đồng, Thành Khắc Kiệt, Từ Bỉnh Tùng, Dương phương Lâm... là chánh phạm, đại diện chế độ. Ngay tại Mỹ, chính cựu TT Bill Clinton, cũng bị mang tiếng rất nhiều vì tiền bạc khi còn tại chức, nhất là vụ biến Tòa Bạch Ốc, thành khách sạn, để lấy tiền.

** VỤ RỬA 10 TỶ ĐÔ LA CỦA NGA **

Tháng 8-1999, cơ quan FBI của Mỹ đã khám phá được một vụ án có liên quan tới chuyện rửa tiền, do mafia Nga và đường dây tội phạm quốc tế chủ xướng. Trong vụ này, cơ quan điều tra đã khẳng định là bọn tội phạm Nga đã lọt được vào cơ cấu tài chánh của Tây Âu. Nhờ vậy, chỉ trong vòng 1 năm từ tháng 3-1998 tới tháng 3-1999, qua Ngân Hàng Âu Châu, Mafia đã chuyển rửa hàng tỷ đô la vào Ngân Hàng Bank Of New York. Do số tiền rửa lên tới 10 tỷ đô la, nên cả TT Clinton và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), cũng phải nghi ngờ, đó là số ngân khoản của chính phủ Nga, đã vay từ Qũy IMF, để hồi phục và cải cách kinh tế NHƯNG chính miệng tổng thống Nga lúc đó là Eltsin phủ nhận và cho rằng tin đồn, chỉ là một âm mưu chính trị.

Tại Mỹ, ngân khoản trên thuộc về công ty Venex do một người Nga có quốc tịch Hoa Kỳ là Peter Berlin làm chủ. Theo báo cáo, chỉ từ tháng 10-1998 tới tháng 3-1999, đã chuyển tiền vào Bank Of New York, gần 4,2 tỷ đôla. Điều lạ, là ngân hàng này không bao giờ báo cáo chuyện chuyển tiền nghi ngờ này, cho cơ quan Bài Trừ Tội Phạm của chính phủ Mỹ. Theo hồ sơ của FBI, giám đốc công ty Venex là Peter Berlin, chỉ là thuộc hạ của Trùm Mafia Nga là Semen Mogilevich. Số tiền rửa gần 10 tỷ đô la, bằng nửa ngân sách của Liên Bang lúc đó. Nội vụ được điều tra và cũng chìm dần vào bóng tối, không thấy báo chí Hoa Kỳ nhắc tới khi Putin lên chức TT Nga.

** CHUYỆN TÀI SẢN CỦA MARCOS **

Trước khi bị hạ bệ vì tham nhũng, TT Philippine là Estrada do lợi nhuận, đã ra lệnh ngưng chiến dịch của chính phủ, đã kéo dài từ 12 năm qua, trong việc di tìm chứng cớ để thu hồi lại kho tàng của Marcos, tích lũy từ những năm làm tổng thống Phi. Do sự cố trên, mà vợ của Marcos là Imelda, không còn phải đóng kịch, trái lại to miệng xác nhận là vợ chồng bà ta đã có một tài sản rất lớn tới vài trăm tỷ, hiện do bằng hữu thân tín, đứng tên giùm. Đã vậy, Imelda còn lớn lối cho biết, đã đệ đơn đòi hợp thức hóa và thu hồi số kho tàng trên. Hành động trên, đã được nhiều quan tòa tại Manila xem đây là trò điên loạn, của một người đàn bà đang dựa vào quyền lực của TT Estrada, để làm sống lại một bi kịch của đất nước, bị bọn sâu bọ đục khoét tận tuyệt.

Mới đây trên tờ The Philippine Daily Inquirer: ’nếu còn đếm được tiền, thì đừng nói là mình giàu‘. Ngoài ra còn công khai cho báo chi biết, mình có cổ phần 12,8 tỷ đô la, đã đầu tư trong các đại công ty lớn của nước Phi như Manila Electric Co, Philippine Airlines và Tập đoàn San Miguel Corp. Tất cả cũng đều do bàn tay cuả TT Estrada tạo thành, vừa để trả ơn cho Imelda cũng như Chủ tịch tập đoàn San Miguel Conjuangco, qua những số tiền to lớn ủng hộ, giúp ông ta thắng cử. Tóm lại, TT Estrada đã lợi dụng quyền lực của mình, đã làm không biết bao nhiêu tội ác, nhỏ là bao che cho tập đoàn bọn nhà giàu trốn thuế, chạy tội ác. Nhưng quan trọng nhất là Y vì lợi nhuận được hứa hẹn chia chác, đã nhắm mắt làm càn, bao che cho tội ác, giúp cho Imelda Marcos công khai, lấy lại kho tàng, mà chồng Y thị đã ăn cắp trong khi làm tổng thống. Cuối cùng Estrada đã đền tội cũng nhu thân bại danh liệt một đời.

** SĂN TÌM HÀNG TỶ ĐÔ LA CỦA BẠO CHÚA NIGÉRIA **

Sani Abacha là tổng thống của Nigéria, một quốc gia ở Tây Phi, có nhiều dầu lửa. Trong 5 năm cầm quyền, Abacha gần như là một bạo chúa, độc tài và tham ô, đã vơ vét gần hết tài sản của đất nước, lên tới 5 tỷ đô la. Số tiền tham nhũng trên, bạo chúa đả tẩu tán khắp các ngân hàng phương tây và được bao che can thận.

Ngày 8-6-1998, lúc mới 53 tuổi, Abacha đã bị chết bất đắc kỳ tử, vì dâm dục quá độ. Theo tài liệu Abacha chết vì thượng mã phong, trong lúc hành lạc với ba kỷ nữ người Ấn Độ. Sau đó, Abacha bị dân chúng Nigéria tố cáo vì tội tham nhũng, đánh căp tài sản của đất nước. Tháng 7-1998, Maryam là vợ góa của Abacha, muốn đi cầu nguyện cho chồng tại thánh địa Saudi Arabia. Nhưng cuối cùng Y thị đã bị chận bắt tại phi trường Kano, với 39 valy đầy bạc. Theo báo chí quốc tế, đây là một cuộc săn tìm kho tàng lớn nhất của tên bạo chúa Abacha.

Đây cũng là hậu quả sai lầm của người Mỹ, quen dùng tiền để nuôi dưỡng những tên hôn quân bạo chúa, cúi đầu làm theo ý mình. Tại VNCH, suốt 20 năm chinh chiến, cứ nói là chính quyền bợ đít Mỹ nhưng thật ra, tất cả cũng vì muốn có viện trợ, có súng đạn, có gạo cơm, để chống cuộc xâm lăng của cộng sản đệ tam quốc tế. Thảm kịch tháng 4-1975, Hoa Kỳ bán đứng miền Nam bằng cách cúp viện trợ và VNCH mất nước. Bài học của lịch sử còn đó, chẳng lẽ không làm xúc động và thức tỉnh người Việt Quốc Gia, trước đại họa thiên cổ của Dân Tộc Hồng Lac hay sao?

2-TỪ HỒ CHÍ MINH TỚI NĂM CAM, BẢN CHẤT củaMỘT CHẾ ĐỘ HUNG TÀN

Theo tổ chức phi chính phủ Transparency International, có trụ sở tại Berlin, thủ đô của nước Đức, qua báo cáo cho thấy VN xã nghĩa hiện nay, bị xếp gần mức chót của những nước mang tiếng tham nhũng nhất thế giới hiện nay như Bangadesh, Nigéria, Trung Cộng và thu nhâp bình quân đầu người, dưới Kampuchia chỉ ngang hàng với Lào, là quốc gia coi như nghèo nhất thế giới. Như Peter Eigen, chủ tịch tổ chức trên, thì tham nhũng hiện nay tại Cộng Hòa Xã Nghĩa VN, đã trở thành một đại dịch, không biên giới, không chừa bất cứ một ai, từ những đỉnh cao nhất trong Bộ Chính Đảng VC, cho tới hàng cán bộ thôn xã, kể luôn những thành phần chầu rìa bưng bợ. Nói chung tham nhũng bây giờ, không phân biệt món hàng, đối tượng. Cho nên tại VN ngày nay, những người có quyền trao đổi hay bán buôn tất cả mọi thứ trong tầm tay. Vì vậy, không mấy ai ngạc nhiên thấy đảng VC ngang nhiên đem đất đai biên giới, cũng như hải phận, đảo biển vùng đánh cá của Dân tộc VN, để trao đổi với Trung Cộng lấy lợi nhuận và chỗ dựa cho đảng cũng như địa vị của một vài cá nhân trong chính trị bộ.

Chống tham nhũng hiện nay là quốc sách sinh tử của hầu hết mọi quốc gia trên thế giới mà điển hình nhất là Trung Cộng, cũng là quốc gia bị tham nhũng hành hạ tận tuyệt. Trái lại tại VN, cái gọi là chánh phủ được cầm đầu bởi những người vốn xuất thân từ giới bần cùng trong xã hội. Cho nên thay vì chịu chết đói, họ đã đi làm giặc, để cách mạng cuộc sống bản thân. Bởi vậy lúc nắm được quyền lực quyền hành, những Nam Cam ngày nay, đâu có khác gì hiện thân của Nguyễn Tất Thành, Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, Tô Ký, Đồng văn Cống... dựng sự nghiệp bằng cái đấm và sự hung tàn của hành động. Đảng tính chỉ là phương tiện để thực hiện nhưng chính cái chất du côn, coi thường mạng người như lá rụng, tàn nhẫn thà giết oan 3000 người hơn tha lầm 1 mạng sống và ghê gớm nhất là lời tuyên bố của Võ nguyên Giáp: ‘hy sinh vài triệu bộ đội miền Bắc, để đốt rụi dãy Trường Sơn, dọn đường vào cưỡng chiếm miền Nam, thì đảng VC cũng làm’. Đó mới là cứu cánh để VC trở thành Trùm cả nước tới nay.

Nhìn chung, những năm đổi mới tại VN từ 1990 tới nay, chỉ tạo đuợc một nếp sống mới cũng như một giai cấp đỏ giàu có, nổi bật trong hàng hàng lớp lớp phận nghèo khắp nước, chẳng những tại miền quê, xóm biển, vùng sơn cước, hải đảo... mà ngay chính trong lòng các đô thị lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẳng, Cần Thơ, Phan Thiết... Đó cũng là sự mâu thuẫn giữa cái mới lố lăng đước vá viu vội vàng từ cặn bã của nền văn minh thừa mứa Âu Mỹ, và nếp cũ tạp bánh lù, trong nền văn hóa cổ của VN, suốt mấy chục năm qua, bị VC nấu cháo heo, từ chủ nghĩa Mác Lê vô thần và tư tưởng Hồ Ly Tinh lượm nhặt khắp các hè phố, bến tàu, trên mọi nẻo đường tha phương cầu thực. Nói chung đổi mới từ những con số tăng trưởng trong việc xuất khẩu gạo, nông phẩm, hải sản, dầu khí và người, để đảng trao đổi, bán chát, làm giàu. Đổi mới cũng được tính bằng số lượng tỷ triệu phú VN trong giới mafia đỏ, hiện có mặt khắp các ngân hàng thế giới. Nói chung nhờ đổi mới, mà người VN đã có mặt khắp mọi nẻo đường, trong các động đĩ tại Kampuchia, Thái Lan, Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao, Hải Nam. Nhờ đổi mới mà phụ nữ VN bị bán làm vợ hờ rất nhiều tại Vân Nam, Quảng Tây, Đài Loan và thảm nhất là việc người phụ nữ VN bị triển lãm chung với thú vật, trong hồ cá tại Tân Gia Ba, để gạ bán rẻ rúng còn hơn giá trị của hàng gại gọi tính bằng phút của Mỹ. Làm công ở đợ cho Đại Hàn, Mã Lai và ngon nhất là con cái cán bộ đảng, du học trên giấy tờ nhưng thực tế là ra nước ngoài mua chồng tậu vợ, chuẩn bị mái ấm, chuyển rửa bạc vàng, lo cho cái ngày đổi đời sắp kế, im re, không sợ bị ai trả thù. Riêng đồng bào cả nước, đổi mới cũng là đổi đời lần nữa, sạch nhà sạch đất vì các lần theo đảng nuôi tôm, nuôi cá, trồng cao su, cà phê, nuôi gà... rốt cục món nào cũng sạch tiệm, vì không ai tắm hai lần trong một dòng nước, nên đâu gạt được ai nhiều lần.

Trong nước, từ khi cải cách và đổi mới, đã có một luồng gió mới từ phương tây thổi vào làm sống dậy một nền kinh tế, đã say ngủ giấc cô miên trong vũng bùn xã nghĩa từ mấy chục năm qua nhưng đồng thời cũng đã làm băng hoại truyền thống tư tưởng quốc gia dân tộc, đã ngự trị trong tư tưởng và tâm hồn người Viêt, suốt mấy ngàn năm qua.

Những năm gần đây, do đảng và nhà nước, nhắm mắt chạy theo lợi nhuận, kiếm tiền bỏ túi, bừa bãi cấp giấy phép hay cho nhập lậu thực phẩm, đồ uống từ Trung Cộng, thiếu vệ sinh, được tạo từ những hợp chất hóa học, gây cho con người nhiều bênh nan y, trầm kha như ung thư, sinh non, dị tật... khiến cho nhiều người phải thảng thốt, tự hỏi đến bao giờ VC mới chấp nhận sự thật, để cứu mạng người?

Theo dư luận quốc tế cũng như người trong nước, tất cả đều biết tham nhũng ngày nay là một đại họa của dân tộc VN, không ai chế ngự nổi, trừ phi đập tan cái chế độ cũ, để thay vào đó một xã hội mới có công pháp và nhân tính. Dù hằng ngày, ai cũng nghe bộ máy tuyên truyền củađảng, không ngớt lên án, tố cáo, đưa ra tòa, thậm chí còn xử bắn những kẻ bị tội tham nhũng. Mặt thật đó chỉ là tuồng hát ‘đem dê tế thần’, trét phấn bôi son’ vào cái thần tượng của đảng VC, đả bị mục rữa bao năm, che lấp những tội lỗi hại dân bán nước, ức hiếp tầng lớp người nghèo khắp nước hiện nay. Nói như Lý Quang Diệu, thì tham nhũng ngày nay tại VN, không còn thuộc phạm trù về mặt đạo đức, nghĩa là không ai còn phải sợ xấu hổ về hành vi tham nhũng của mình. Trái lại người ta còn công khai khoe thành tích, bởi vì cả nước ai cũng giống nhau, cán bộ thường thì đầy túi, cán bộ có chức, địa vị thì tham nhũng theo chức địa vị..

Tất cả cũng đều do độc quyền độc đảng, lạm quyền và tham nhũng tràn lan, không cần hậu quả. Tại VN, đãng là thần linh tối cao, đứng ngoài pháp luật và lãnh đạo truyền thông báo chí, nên đảng viên lớn nhỏ, còn sợ gì ai, mà không dám tham nhũng? Người dân sống trong xã nghĩa thiên đàng, vì muốn yên thân để sống, nên chỉ còn một cách là đi cửa hậu, bắt giò và chung tiền cho cửa quyền. Nói chung VN ngày nay chống tham nhũng một mất một còn, như đảng đã chống diễn biến hòa bình nhưng đến nay chỉ mới thấy có Năm Cam và băng đảng cùng một ít cán thấp đem ra làm vật bung xung thế thôi, khiến cho trời có mắt cũng phải nhắm lại, kẻo bị đâm mù.

Nhiều câu chuyện tham nhũng làm rơi nước mắt người đọc, như vụ mới xảy tai nghĩa trang VC ở Quảng Bình, san bằng mộ thật của người chết, để lấy ngân khoản làm ma giả và mua quan tài. Tất cả chỉ có tiền, không cần biết đó là đê điền, kinh đập, cầu cống, kể cả nhà máy điện nguyên tử, xưởng lọc dầu... những nhu cầu cấp thiết, nếu cẩu thả sẽ đưa tới những đại họa cho đồng bào. Thế nhưng ngày thứ bảy 17-8-2002, tổng thanh tra nhà nước cho biết, chỉ mới ghé mắt vào 20 dự án, trong số 427 công trình, thuộc 57 tỉnh, đã khám phá ra cán bộ đảng, đã nuốt tài sản củađồng bào, hơn 4,691 tỉ đồng, tương đương khoảng 305 triêu đô la. Cho nên những vụ cầu hầm chui Văn Thánh 2 ở Sài Gòn bị sập vào tháng 7-2002 hay vụ Đập ngăn nước Hàm Thuận-Bình Thuận, chưa bàn giao đã bể..chỉ là chuyện nhỏ, đối với vấn đề tiền triệu kiếm được ở các mỏ dầu hay qua công trình xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất-Quảng Ngãi.

Kiểm tra, thanh tra, báo cáo ghê gớm như vậy nhưng rồi đâu cũng vào đó, vì bức giây động rừng, thanh tra đúng mức, sẽ lòi ra tất cả bê bối và những số tiền khổng lồ, thuộc ngân quỹ nhà nước hay tiền viên trợ, từ năm này sang năm khác, đã là một đại dịch tàn khốc, không bút mực nào ghi cho trọn vẹn. Riêng đời sống của người dân, từ nghề biển, trang trại cho tới ruộng đồng, ngoài thuế má ngập đầu phải đóng cho nhà nước, còn phải điêu đứng khổ sở vì vật giá leo thang. Trong lúc đồng lương cố định, giá thành sản phẩm tuỳ tiên qua sự định đoạt của đảng, khiến cho đồng bào ngày nay, làm thì mệt mà cái ăn không biết ở đâu mà mò.

Cá, tôm, cà phê xuất khẩu lận đận lao đao tại thị trường Mỹ, chưa giải quyết xong, thì mới đây lại khám phá đường dây, bắt giò quota dệt may, làm cho Hoa Kỳ vốn đã mất niềm tin về VN, lại càng có cớ kiếm chuyên, gây thêm khổ cho đồng bào. Lạ nhất là không thấy trí thức khoa bảng nói gì.

Ngày 1-7-2004, Việt gian CSVN tuyên bố Việt Kiều hải ngoại đã gởi về nước gần 2,7 tỷ đô la. Số tiền trên tuy to nhưng cũng vẫn là riêng tư của thân nhân họ và thành phần may mắn này cũng chỉ là thiểu số, giống như hạng con ông cháu cha bác đảng. Trong lúc đó, gần như cả nước ngày nay từ nam tới bắc, đầy rẩy triệu triệu nhà nông ngoài đồng, trên nắng mưa, dưới đĩa mòng, vậy mà thu nhập cả tháng có là bao. Người làm biển Bình Thuận ngày nay, hải sản khô hạn, muốn câu mực phải ra tận đảo Phú Quý, cách bờ Phan Thiết hơn 100 hải lý. Còn cá, tôm, mon ngon thứ lạ, thì phải sắm tàu to, máy lớn, để tới Trường Sa mới có.

Còn mấy ai biết tới những bà già còm cõi, mà ngày ngày phải buôn gánh bán bưng, moi bao bì rác rưởi, để bán ký mà sống. Có ai biết tới cảnh đoạn trường của những cô gái quê, gái biển, bỏ nhà lên tỉnh làm điếm giúp cha mẹ già, mặc cho tấm thân vàng ngọc bị dầy vò trong nỗi mưa gió cuộc đời. Có những đứa trẻ bơ vơ không nhà cửa, hành khất, trộm cướp, hút sách... để mà sống... Hỡi ơi tất cả những bi kịch đời hôm nay, do ai gây ra, lại bắt đồng bào VN vô tội gánh chịu?

Thế giới ngày nay đã mỏi mệt quá rồi về những câu chuyện nhân đạo, có liên quan tới VN, ngoài sự tới đó để kiếm ăn, chia phần. Riêng người trong nước cũng quá mệt mỏi vì miếng ăn cái mặc, còn nước mắt đâu mà khóc cho thân phân mình. Bởi vậy nay đã đến lúc mọi người phải đoàn kết thực sự, chứ không phải bằng miệng.

‘Không ai có thể tắm hai lần trong một dòng nước’ nhưng cảnh đổi đời lần nữa tại VN, chắc chắn phải có. Lần này do đồng bào quyết định bằng trái tim và linh hồn, chứ không phải như những bóng ma trơi, trước ngày 30-4-1975, mang tiếng là trí thức nhưng thật ra chỉ là những kẻ bội bạc, ăn cơm quốc gia, làm đầy tớ cho giặc. Rốt cục chỉ vì một chút hư danh hẻo, mà làm cầu rước VC qua sông, gây thảm kịch đoạn trường, cho cả một dân tộc.

Cái lạ của những tượng đá vô tri này, là đến nay vẫn sống trên mây và cứ ngỡ mình còn là những kẻ danh giá như khi chưa bị đời lột mặt nạ.

‘Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh ‘






Hồ Đinh, Xóm Cồn 4-2005

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Thiên tai và loài người

Thursday, September 01, 2005

--------------------------------------------------------------------------------



Ngô Nhân Dụng

Bão Katrina gây ra những thiệt hại về vật chất chưa biết sẽ lên mấy chục tỷ Mỹ kim. Nhưng khi nhìn thấy những cảnh cướp bóc xảy ra sau trận cuồng phong, khi chứng kiến cảnh những xác chết nằm chờ chôn cất bên ngoài sân vận động chứa 20, 30 ngàn người tị nạn, và những người tị nạn còn sống tranh giành nhau miếng ăn, nước uống, chúng ta thấy những tai hại về vật chất không đáng lo bằng sự suy sụp về tinh thần. Loài người có thể sống với nhau theo cách tử tế hơn. Nên tạo nên một xã hội trong đó mọi người đều có thể sống tử tế, ngay cả lúc gặp thiên tai.

Thiên tai có thể tạo cơ hội cho loài người biết giúp đỡ nhau, thương yêu, đùm bọc nhau hơn. Ở những xứ hay bị bão tuyết, người lái xe thường dừng lại hỏi thăm và giúp những người bị hư xe dọc đường ngay cả trong mùa ấm áp, vì người ta đã tập được thói quen tương trợ. Những thói quen tốt đó, có thể gọi là tinh thần công dân, là một thứ hợp đồng xã hội. Mọi người ngầm ký kết với nhau là phải tương trợ, vì không ai biết đến lúc nào mình sẽ là nạn nhân cần giúp đỡ. Những người sống ở nơi đô thị ít khi biểu lộ tinh thần tương trợ như những người ở thôn quê hay ở miền rừng núi. Vì ở thành phố người ta có một hệ thống tương trợ gồm những cảnh sát, xe cứu thương, cứu hỏa rất gần; còn ở miền đồng quê không có.

Nhưng thiên nhiên và khung cảnh sống không phải là những nguồn gốc duy nhất tạo nên óc tương trợ trong xã hội. Văn hóa cũng đóng một vai trò quan trọng. Nhiều nền văn hóa coi trọng tinh thần phục vụ tập thể, nơi khác thì óc độc lập và tự lập cá nhân được đề cao. Có nền văn hóa đề cao Nghĩa, có chỗ hay nói đến Lợi, nhấn mạnh chuyện phân chia quyền lợi công bằng. Cả hai khuynh hướng đó đều có giá trị, nhưng khi đứng trước một thiên tai, khi mọi người đều là nạn nhân, thì không còn ai phải bàn về cách phân chia quyền lợi nữa. Lúc đó mọi người phải làm việc Nghĩa. Việc Nghĩa, tức là làm những bổn phận luân lý, không do một bản hợp đồng hay những điều luật nào bắt buộc. Một điều người ta ca ngợi dân chúng ở thành phố Kobe Nhật Bản là sau một trận động đất tàn phá kinh hoàng, mọi người vẫn sống trong trật tự và tìm cách giúp đỡ lẫn nhau một cách hữu hiệu. Trong khi đó chính phủ Nhật Bản bị chê cười vì tổ chức việc cứu trợ rất vụng về, luộm thuộm.

Những hình ảnh cướp của, hôi đồ ở New Orleans, Louisiana, làm chúng ta nhớ lại những vụ hỗn loạn xảy ra ở Los Angeles hơn 10 năm trước, khi người dân nổi giận đốt phá, cướp bóc, chỉ vì tòa án tha bổng cho mấy cảnh sát viên đã đánh đập tàn nhẫn một người da đen. Hay cảnh cướp bóc ở thành phố New York sau khi bị cúp điện. Hầu như trong xã hội đã chứa chất sẵn những mầm mống bạo loạn, chỉ chờ có cơ hội là bùng lên. Cơ hội tới khi mạng lưới bảo vệ trật tự chung bị hư hại. Sự hư hại có thể bắt đầu rất nhỏ nhưng sẽ được xé ra to, guồng máy bảo vệ trật tự bị phá, giống như một vết nứt tạo thành nạn vỡ đê. Một xã hội sống với nhau tương đối trong trật tự và bình an, vì bị ràng buộc trong một mạng lưới luật pháp và những phong tục, tập quán do văn hóa tạo ra. Khi điện tắt làm cả thành phố tối om và cảnh sát phải đi canh các ngả đường, hay khi bão lụt làm cảnh sát bận rộn cứu người, chỉ cần một nhóm kẻ gian nhỏ bắt đầu đi cướp phá, đám cướp ngày càng lớn, lôi kéo đến những người bình thường vẫn sống lương thiện, thế là tạo thành một tình trạng vô chính phủ. Không còn trật tự xã hội, guồng máy giữ trật tự trở thành bất lực, không còn ai lo giữ trật tự nữa. Ðám đông đi cướp bóc tự phát sinh, cũng giống như thú tính bên trong một con người bùng lên khi không còn hệ thống luật pháp nào trừng trị được nữa.

Tại sao trận động đất ở Kobe không sinh ra một vụ cướp bóc, đốt phá tương tự? Có lẽ vì sau khi guồng máy cảnh sát giữ trật tự mất hiệu lực, thì vẫn còn một hệ thống hỗ trợ, là luân lý. Ðây không phải là những bài học luân lý người ta dạy trong trường học, trong chùa hay nhà thờ. Mọi người sống chung với nhau đã chia sẻ những giá trị luân lý chung, khi không còn ai lo bảo vệ luật pháp nữa thì mỗi người vẫn bảo vệ hệ thống giá trị luân lý đó. Luân lý của các xã hội loài người, trên căn bản thường bảo chúng ta phải cộng tác với nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Nhu cầu cộng tác để sống chung đó mới xác định những quy tắc, những tiêu chuẩn để thể hiện ra, như phải hiếu thảo, trung thành, nghĩa hiệp, bác ái, thương yêu, vân vân. Một xã hội không đề cao đạo nghĩa, không bảo vệ các quy tắc đạo nghĩa, thì không có mạng lưới an toàn để bảo vệ trật tự, mỗi khi mạng lưới luật pháp bị hư hại - chẳng hạn vì thiên tai gây hư hại. Thiên tai là một thử thách cho sự chuẩn bị sẵn sàng cứu trợ của chính quyền địa phương và trung ương ở nước Mỹ. Thiên tai cũng là một thử thách cho cả guồng máy đạo lý xã hội Mỹ nữa.

Cảnh hỗn loạn ở trong và ngoài sân vận động có mái che Louisiana Superdome thật đau lòng. Vài chục ngàn người đổ vào sống trong đó nhưng không ai có thể chuẩn bị cho họ sống như thế nào; bây giờ phải chuyên chở về sân vận động Astrodome ở Houston, Texas. Khi đoàn xe di tản đến chậm vì bị kẹt xe mấy giờ, nhiều người muốn nổi loạn vì nghĩ họ bị bỏ rơi! Có những trẻ em thiếu thức ăn, thiếu nước uống; có những người tị nạn đốt rác trong nhà vì giận cá chém thớt hay vì nổi khùng sau khi chờ đợi và thất vọng; có người bắn nhau và bắn cả cảnh sát; những chiếc trực thăng tải thương trên mái sân vận động cũng bị bắn phải ngưng hoạt động; có xác người chết ngồi giữa đám người sống; một phóng viên làm mọi người nổi giận khi tính chụp hình một xác chết. Bao nhiêu cảnh đau lòng. Một người đã than: Người ta đối xử với súc vật khá hơn. Khi con chó của tôi chết, tôi đem nó đi chôn. Ở đây, người ta nằm chết như vậy đó!

Rõ ràng là chính quyền nước Mỹ, từ cấp liên bang đến tiểu bang, thành phố, không sẵn sàng đối phó với trận thiên tai lớn như bão Katrina. Khi đã có những kế hoạch phòng ngừa, thì việc thi hành cũng thất bại vì thiếu phối hợp. Ngay cả hệ thống thông tin liên lạc cũng không cập nhật, gây ra những trở ngại. Bây giờ, các cấp chính quyền bắt đầu đổ lỗi cho nhau. Không biết cơ quan nào chịu trách nhiệm về những hư hỏng trong hệ thống các đê và tường ngăn nước, dài 125 dặm, trong thành phố New Orleans. Dân biểu tiểu bang Louisiana, Bobby Jindal, thuộc đảng Cộng Hòa, lên tiếng trên ti vi trách chính phủ George W. Bush vì trước đây đã không chú ý đến các chương trình bảo vệ vùng bờ biển Vịnh Mexico. Ba năm trước, một cuộc nghiên cứu của Công Binh Mỹ đã báo cáo là hệ thống đê và tường ngăn nước ở vùng này còn thô sơ, cổ lỗ, cần được tu bổ. Quốc Hội Mỹ đã đưa ra nhiều dự án, trong đó có dự án 188 triệu để thiết lập hệ thống bơm nước thoát ra, tránh cảnh ngập lụt cho vùng hạ lưu sông Mississippi. Tổng Thống George W. Bush đã cho dân biểu Michael Parker nghỉ việc, không được đứng đầu đạo công binh Army Corps nữa, vì ông ủng hộ các dự án của Hạ Viện. Army Corps đã đệ trình những dự án tốn 18 tỷ Mỹ kim trong đó có dự án cải tổ hệ thống đê phòng lụt cho New Orleans. Vào Tháng Sáu vừa qua, đội Army Corps ở New Orleans biết tin ngân sách năm 2006 của họ bị Hạ Viện cắt 20 phần trăm, và sau khi Thượng Viện chống lại, sẽ được tăng lên chút đỉnh trong phiên họp Tháng Chín tới.

Nhiều người trách chính phủ Bush đã cắt bớt ngân sách trong nước vì phải chi phí cho cuộc chiến ở Iraq. Người ta còn nói vì chính phủ đã đưa một phần ba số Vệ Binh Quốc Gia sang Iraq nên không đủ nhân lực đối phó với những thiên tai lớn như bão Katrina. Bộ Quốc Phòng Mỹ tăng gấp đôi số vệ binh gửi tới vùng bão lụt, và lại tăng gấp đôi nữa, lên trên 20,000 người. Họ cho biết trong nước còn hơn 300 ngàn vệ binh khả dụng; nhưng một nửa số đó thuộc quyền điều động của các thống đốc tiểu bang.

Nước Mỹ cũng bị người ngoại quốc chỉ trích. Như ông Jurgen Trittin, bộ trưởng Môi Trường sống trong chính phủ Ðức. Ông cho đây là một bài học cho chính phủ Bush về thái độ lơ là đối với nạn khí quyển nóng dần lên, mà một nguyên nhân là do người Mỹ đốt nhiều nhiên liệu quá. Một hiện tượng đáng ngạc nhiên là thái độ lạnh lùng của dân chúng Anh Quốc. Sau vụ bom nổ ở London ngày 7 Tháng Bảy vừa qua, chính phủ và dân chúng Mỹ đều bày tỏ sự cảm thông và chia buồn với nước Anh. Nhưng sau cơn bão Katrina làm chết hàng ngàn người, không thấy nhiều người dân London tới đặt vòng hoa chia buồn trước tòa đại sứ Mỹ. Có tờ báo Anh còn chế giễu rằng chắc Tổng Thống Bush sẽ đổ lỗi bọn khủng bố thời tiết gây ra cơn bão này! Nhưng phải công bình với chính quyền Mỹ. Không thể quả quyết là trận bão Katrina do bầu khí quyển nóng hơn trước mà sinh ra. Năm 1900 trận bão ở Galveston, Texas, đã làm chết 8,000 người. Lúc đó chưa ai báo động bầu khí quyển đang nóng cả!

Nhưng những thiệt hại về vật chất và nhân mạng có thể sẽ quên dần, người ta sẽ học kinh nghiệm đề phòng các thiên tai sắp tới. Năm 1953, một trận lụt khủng khiếp đã làm chết 1,800 người Hà Lan. Sau đó, nước Hà Lan đã mất mười năm sửa sang lại hệ thống đê điều cố hữu của họ. Người Mỹ cũng sẽ rút lấy bài học đó từ Âu Châu.

Còn những thiệt hại về tinh thần thì không biết nước Mỹ có sẵn sàng để chuẩn bị đối phó với tương lai hay chưa. Dân chúng Mỹ là những người sùng đạo nhất trong số các nước tiến bộ về kinh tế; gần 70 phần trăm người Mỹ có tín ngưỡng vững vàng, so với dưới 30 phần trăm ở Âu Châu. Ngay sau khi cơn bão Katrina tấn công, bà Kathleen Blanco, thống đốc Lousiana, đã lên ti vi hướng dẫn mọi người cùng tham dự 30 phút cầu nguyện. Bây giờ là lúc những nhà lãnh đạo tinh thần ở Mỹ hoạt động mạnh hơn nữa, để cùng tạo một nền đạo lý có tính cách xã hội, có tính chất cộng đồng nhiều hơn. Óc vị lợi và đề cao quyền lợi cá nhân cần được giảm bớt. Cần đạo công bằng, nhưng cũng cần tấm lòng trọng nghĩa. Trẻ em cần được dạy những bài công dân giáo dục ngay từ nhỏ. Ðó không phải chỉ là những bổn phận đối với Thượng Ðế mà thôi, mà chính là những bổn phận của con người đối với con người. Ngay cả những người không có tôn giáo cũng phải học và tập thực hành những bổn phận thế tục đó.

Ðây là một điểm mà các nền văn hóa Á Ðông có thể đóng góp cho loài người nói chung, nước Mỹ nói riêng. Nền văn hóa tôn trọng tập thể và có tính cách thế tục đó đã có từ mấy ngàn năm. Ngày nay, các di dân Á Châu ở Mỹ phải thể hiện các bài học cổ truyền đó, sống với truyền thống đó, giữa lòng xã hội nước Mỹ.


Ngô Nhân Dụng

--------------------------------------------------------------------------------

Copyright © 2002 by Nguoi Viet, Inc.
Nguoi-viet Online
http://www.nguoi-viet.com/

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Tinh Thần Cách Mạng Tháng Tám Sau 60 Năm Còn Lại Gì?








Xuyên qua Hội Nghị Trung Ương 12 nghĩ gì về nhóm cầm quyền hiện nay ?

TS Âu Dương Thệ, 02.09.2005

LÒNG DÂN Ý ÐẢNG!

"Tôi thật sự lấy làm xấu hổ và vô cùng nhục nhã cho cái Ðảng và Nhà nước mà tôi và đồng chí đồng đội của tôi đã cống hiến trọn đời không tiếc máu xương để xây dựng và bảo vệ nó. Thế mà bây giờ nó biến chất thoái hóa thối nát, gây ra những Quốc nạn, Ðảng nạn, Quốc nhục, Ðảng nhục cực kỳ nghiêm trọng, càng chống càng phát triển và vô phương cứu chữa như hiện nay!”

Trên đây là lá thư gởi những người còn lương tri và danh dự trong bộ máy lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước Việt Nam” của cụ Trần Bá, một người đã có mặt từ những ngày Cách mạng tháng 8 (CMT8) gởi cho nhóm lãnh đạo hiện nay để tỏ lòng uất ức và khinh bỉ. Không những thế cụ Trần Bá đã tuyên bố dứt khoát:

Tôi xin gửi trả lại cho Ðảng và Nhà nước đã biến chất: Huy hiệu 40, 50 tuổi Ðảng, Huy chương Quân kỳ quyết thắng và toàn bộ Huân, Huy chương chống Pháp, Mỹ mà Ðảng và Nhà nước tặng thưởng trên 40 năm qua, để cực lực phản đối và nghiêm khắc lên án cái Chủ trương Bảo vệ, bênh che trọng tội của Tổng cục II-T4 cùng với những tên Chỉ huy, Lãnh đạo, Thống lĩnh bọn tội phạm của những người đứng đầu bộ máy lãnh đạo Ðảng và Nhà nước hiện nay!”

Ðây là những lời đanh thép nhất đại biểu cho nhiều cách mạng lão thành (CMLT) nói cho nhóm cầm đầu chế độ hiện nay vào dịp kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng 8.

Trước đây 60 năm với khẩu hiệu đánh đổ thực dân giành độc lập, tự do và dân chủ, một số người cầm đầu CSVN đã thuyết phục được đa số quần chúng ủng hộ những cuộc tiếp thu chính quyền cho Việt minh ngay tại Hà Nội. 60 năm về sau, trong những ngày gần đây nhiều CMLT - trong đó có cả một số người đã từng tham gia hoặc có mặt trong những ngày tháng 8 1945 - đã nhận thấy những người cầm đầu chế độ, nhất là vài người đứng đằng sau chỉ huy, đã không còn giữ mục tiêu của CMT8, thậm chí từ nhiều năm qua họ đã coi mục tiêu thu vén quyền tiền cho riêng mình là chủ trương ưu tiên số một. Nghĩa là những người này, dưới quan điểm của nhiều CMLT, đã phản lại mục tiêu và tâm huyết ban đầu của CMT8!

Cụ thể nhất là vụ việc tướng Lê Ðức Anh đã lợi dùng chức quyền trong thập niên 90 để thành lập Tổng cục 2 và dàn dựng ra vụ T4 đế ám hại những nhân vật trong Bộ chính trị (BCT) và Trung ương đảng (TUÐ), nhiều tướng lãnh không theo vây cánh. Mặc dầu có sự tố cáo và dẫn chứng của đại tướng Võ Nguyễn Giáp, thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, cụ Phạm Văn Xô và nhiều CMLT, nhưng tới nay ông ta vẫn bình chân như vại và còn đang cùng với Ðỗ Mười chuẩn bị cho thân tín giữ các chức vụ then chốt trong Ðại hội (ÐH) 10 sắp tới.

Cũng chính vào ngày Cách mạng tháng 8, 19.8, nhà thơ Bùi Minh Quốc qua thơ ngỏ gởi những người trẻ VN đã nhắn nhủ cho nhóm Lê Ðức Anh-Ðỗ Mười về những âm mưu “vỡ nợ tự do”, “vỡ nợ dân chủ” của họ đối với nhân dân:

Sau bao nhiêu năm chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do, nay chỉ xin cái mức tự do ngôn luận như thời thực dân mà cũng không được. Xưa là nô lệ cho ngoại bang, nay lại làm nô lệ cho một nhúm cầm quyền nhân danh Ðảng. Nhục quá!...”

“Nhân đây tôi muốn gửi một lời nhắn hỏi: Nguyễn Khoa Ðiềm à, anh có chia sẻ nỗi nhục này của chúng tôi không? Và nếu chia sẽ thì anh làm gì cho khỏi nhục?”

Bùi Minh Quốc đã kết luận đanh thép:

“Rõ ràng trong bộ phận đảng viên cầm quyền đã có một thế lực cố ý vỡ nợ dân chủ, phản bội nhân dân, lừa dối nhân dân, miệng nói dân chủ mà tay thì nắm hết quyền vơ hết lợi của dân.

Bọn vỡ nợ dân chủ với bọn tham nhũng là một.

HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 12 VÀ VIỆC THÔNG QUA TOÀN BỘ CÁC VĂN KIỆN CHUẨN BỊ CHO ÐẠI HỘI 10

Ai theo dõi Hội nghị trung ương (HNTU) 12 vừa qua và những hoạt động gần đây của một số Ủy viên BCT vây cánh của Lê Ðức Anh và Ðỗ Mười càng thấy rõ hơn các thủ đoạn của họ đang tìm cách thi thố. Câu hỏi cho những người quan tâm là, nhóm người có thế lực trong và ngoài BCT hiện nay đang mưu đồ gì trong ÐH 10 vào đầu năm 2006 và trong HNTU 12 vừa qua họ đã khởi động thực hiện được những bước nào cho mưu đồ đó?

HNTU 12 đã được tổ chức từ 4-13. 7.05 tại Hà Nội để chuẩn bị cho Ðại hội 10 vào đầu năm 2006. Trong diễn văn khai mạc, TBT Nông Ðức Mạnh đã cho biết hai điểm chính của HNTU này là thảo luận và thông qua các dự thảo văn kiện và thảo luận và thông qua phương hướng công tác nhân sự BCHTU khóa 10. Theo Thông báo của Hội nghị thì tất cả các dự thảo văn kiện về ÐH 10 (Báo cáo chính trị, báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010, báo cáo xây dựng Ðảng và bổ sung sửa đổi Ðiều lệ Ðảng - do ba Ủy viên BCT Nguyễn Phú Trọng, Trần Ðình Hoan và Nguyễn Khoa Ðiềm chỉ đạo) đều đã được thông qua.

Nhưng trong mấy tháng gần đây, khi các dự thảo này được đem ra thảo luận để xin ý kiến của các CMLT và một một số cơ quan hay tổ chức chính của chế độ như Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch đoàn Mặt trận Tổ quốc đã có những phê bình rất quyết liệt về tư duy cũ trong các lãnh vực tư tưởng, chính trị và kinh tế vẫn còn tràn đầy trong các dự thảo này. Vậy tại sao các dự thảo này vẫn được thông qua ngay trong HNTU 12?

Không phải chỉ một số CMLT không còn vướng móc với đường quan đã bài bác những luận điểm cũ rích và lạc hậu về chủ nghĩa Mác-Lê và con đường định hướng XHCN. Nhưng ngay cả một số cán bộ còn đang tại chức cũng dám can đảm phê bình thẳng thắn những vấn đề đã được nêu ra trong dự thảo của các báo cáo. Ở đây chúng tôi chỉ đơn cử hai người đã nói việc này. Ðó là ông Trần Quang Thuận, Phó Chủ nhiệm Văn phòng QH và GS Trần Văn Hà, Ủy viên Trung ương MTTQ.

Phát biểu tại Hội nghị của Ủy ban Thường vụ QH góp ý các văn kiện chuẩn bị trình Ðại hội đảng lần thứ 10 (ngày 24. 4.2005), ông Thuận đã phê bình việc tiếp tục duy trì tư duy bảo thủ và sai lầm trong dự thảo Báo cáo kinh tế-xã hội:

“Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, như vậy ở trên chúng ta bảo rằng kinh tế thị trường còn có nhiều vấn đề chưa cụ thể và thể chế kinh tế thị trường vẫn chưa rõ. Nhưng dưới này chúng ta khẳng định con đường đi lên cơ bản là phát triển nền kinh tế định hướng XHCN. Như vậy chúng ta phát triển một cái mà rõ ràng chúng ta chưa hiểu rõ đó là thế nào, đi trên con đường mà chúng ta không biết là con đường đó có chông gai, có mìn, có bom hay không? Có hố gì không? Tôi nghĩ vấn đề này tôi rất băn khoăn ở phía trước thì chúng ta lại băn khoăn mà chưa giải mã, thì phía sau chúng ta lại bảo đi tới theo con đường này?”

Trong khi đó Trần Văn Hà chỉ trích thẳng thái độ thổi phồng tô hồng trong “Báo cáo về kết quả 20 năm đổi mới” cũng sẽ được trình bày tại ÐH 10:

“Việt Nam đã có 30 năm độc lập thống nhất tự do và đã trải qua 20 năm đổi mới 1986-2005, tại sao Việt Nam vẫn thuộc loại nghèo nàn và lạc hậu nhất trên thế giới, với khoảng 500 USD GDP/người, trong khi đó Hàn Quốc đạt 11,000 USD GDP/người; Ðài Loan 17,000, Singapore 23,000; Thái Lan 2,500. Riêng Sài Gòn trước năm 1975 gấp khoảng 2 lần Bangkok, thì nay 2005, Bangkok gấp hơn hai lần Thành phố Hồ Chí Minh.”

Về việc trong bản dự thảo Báo cáo chính trị lại nói tới chuyện ? đổi mới hệ thống chính trị ? Trần Quốc Thuận đã vạch ra cho mọi người biết là, nhóm lãnh đạo chỉ nói lừa dối dân mà thôi:

“Như vậy chúng ta bảo rằng là chúng ta đổi mới hệ thống chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế. Như vậy nội hàm của đổi mới hệ thống chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế là như thế nào?”

Cả về tiêu chí “dân chủ” đã được nêu ra trong các văn kiện của ÐH 9 trước đây và được nhắc lại trong dự thảo của ÐH 10 sắp tới, ông Thuận cũng đã vạch thái độ giả đối và đánh lừa người dân của nhóm cầm đầu:

“Trong đại hội trước chúng ta nói dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Thì đại hội vừa qua chúng ta thêm được chữ dân chủ. Chữ dân chủ của chúng ta là dân chủ XHCN và khác dân chủ tư bản, dân chủ XHCN là dân chủ có sự lãnh đạo của Ðảng, còn dân chủ tư bản thì không có dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Có phải như thế không? Như vậy đại diện dân chủ ở đây là như thế nào, ai là người đại diện dân chủ này, một dân chủ được thể hiện thông qua tổ chức thế nào?”

Về tệ trạng tham nhũng, trong các dự thảo cũng tiếp tục hô hoán đến việc chống các tệ trạng tham nhũng đang bung ra. Nhưng Trần Quốc Thuận đã vạch cho biết, đây chỉ là những bánh vẽ, tắm không dám gội đầu, cho nên tham nhũng do các người có quyền lực chủ mưu ngày càng trắng trợn và khủng khiếp:

“Vừa qua tôi nghe một số đồng chí nói với tôi, trong Tết vừa qua có người đến tặng quà cho một đồng chí đứng đầu ngành thì đồng chí đó không nhận, trả lại không được, rồi đem định giá sau đó đem tiền lại đóng vào Công đoàn để lo đời sống cho anh em cơ sở. Nhưng mà đồng chí đó lại nhận cái nhà, nhà ấy có người nói 40-50 tỷ, nhưng có người bảo không có đâu chỉ trên 10 hoặc 20 tỷ thôi. Tôi coi là không có đâu cứ trên 10 hay 20 tỷ, nhưng đồng chí đó sẽ mua hóa giá nhà đó rồi nói, tôi sẽ khổ lắm tôi mua cái nhà tới 2-3 tỷ, nhưng đương nhiên là lời 15-16 tỷ. Như vậy nó là cái gì, chỗ này là cái gì, đồng chí không bao giờ nhận quà cáp khác, bởi quà cáp tối đa cũng vài trăm ngàn thôi. Nhưng nhà thì hàng triệu đô la.”

Trong khi đó GS Trần Văn Hà đã chỉ ra rằng, trái với những nội dung các dự thảo báo cáo chỉ thổi phồng thêu dệt phát triển kinh tế, đấy lùi nghèo đói và chống tham nhũng của những người cầm đầu, thực trạng xã hội VN 60 năm sau của XHCN chỉ là:

“Rất đau lòng mà phải nhận xét một thực tiễn là chưa thấy có nước nào trên thế giới ở đầu thế kỷ 21 mà lại giống như Việt Nam phải sống trong trạng thái hai quốc nhục (nghèo nàn, lạc hậu nhất, tệ nạn tham nhũng nhất làm suy thoái đất nước) và phải đương đầu hàng ngày với 5 quốc nạn!”

Vì thế Trần Văn Hà đã nói thẳng không úp mở, đòi phải từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin trong các Báo cáo dự thảo:

“Chủ nghĩa Mác - Lê nin không thể là kim chỉ nam cho Việt Nam ở thế kỷ 21 trong điều kiện Việt Nam đã thừa nhận nền kinh tế thị trường, đã gia nhập khối ASEAN, đang phấn đấu để gia nhập WTO năm 2005-2006.”

Câu hỏi trung tâm ở đây là, tại sao HNTU 12 đã thông qua toàn bộ các dự thảo Báo cáo của ÐH 10, mặc dầu nhiều CMLT và nhiều cán bộ tại chức đã tố cáo việc duy trì tư duy bảo thủ, sai lầm và bệnh tự tâng bốc thành tích? Có phải những lời kêu gọi hồ hởi các CMLT, các tổ chức nhân dân tham gia đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện cho ÐH 10 vẫn chỉ là chiếu lệ như từ trước tới nay, mọi việc quan trọng đã được độc quyền “định hướng” của một vài người rồi?

Gần 150 Ủy viên Trung ương (UVTU) đã có mặt trong HNTU 12, nhưng qua đó có thể thấy, đại đa số đã tỏ sự đồng thuận với thành phần bảo thủ trong BCT, hoặc họ giữ thái độ im lặng. Số UVTU lên tiếng chống đối hoặc đòi sửa đổi những vấn đề căn bản đã trở thành thiểu số, không đủ cân lượng để đương đầu có hiệu quả với thành phần bảo thủ ở trung ương.

Ðiều này lại càng dễ xẩy ra trong thời gian tiền ÐH 10. Từ trước tới nay trước các ÐH hầu hết các phần tử muốn bảo vệ bổng lộc đều giữ thái độ cầu an, nghe gió ăn phần, thường chọn tác phong im như thóc, không hỏi, không nói, không đưa ra ý kiến riêng trong thời gian tiền ÐH. Thái độ hành sử rất có tính toán này của đại đa số UVTU là để cố đấm ăn xôi. Những người đang là UVTU thì làm sao ngồi lại thêm một nhiệm kỳ nữa để có dịp hốt bạc; còn những ai chưa được vào thì làm sao cố vận động để được cử làm đại biểu dự ÐH 10 để được bầu vào BCHTU, từ đó sẽ được cử vào những chức vụ quan trọng trong đảng, chính phủ, nhất là ở những cơ quan đang hái ra tiền!

PHƯƠNG ÁN NHÂN SỰ CHO ÐẠI HỘI 10 VẪN CÒN LÀ MỘT ẨN SỐ

Trong các chính đảng ở các xã hội dân chủ đa nguyên người ta thường biết được những ứng cử viên trong chức vụ Tổng bí thư hay Chủ tịch đảng cho nhiệm kỳ mới cả hàng năm trước ngày Ðại hội. Nhưng trong Thông báo kết quả HNTU 12 chỉ nói về phương án nhân sự cho ÐH 10 một cách rất chung chung, như việc chọn các UVTU trong ÐH 10 sẽ theo các tiêu chuẩn về lập trường, tài, đức, tuổi tác và lãnh vực. Nghĩa là chỉ đưa ra những nguyên tắc chung như các Ðại hội trước đây. Nhưng nhóm có quyền lực biết thừa rằng, trong chính sách nhân sự giữa nguyên tắc và thực tế, từ bao nhiêu năm nay, đã khác nhau như đêm với ngày, trắng với đen. Các ÐH trước đây họ cũng từng nói, tuyển chọn những người có đạo đức, trong sạch, không tham nhũng và có thành tích chống tham nhũng vào TUÐ. Nhưng thực tế phần lớn những người nhảy được vào TUÐ đều là các quan tham nhũng trực tiếp hay đã tiếp tay cho bọn tham nhũng. Việc này chính nguyên TBT Lê Khả Phiêu, nhiều cán bộ đương nhiệm đã tố cáo và các CMLT cũng đã chỉ tên!

Tuy chỉ còn khoảng trên nửa năm sẽ tới ÐH 10, nhưng HNTU 12 chưa bàn thẳng và cũng không có quyết định những ai sẽ là những nhân vật chính trong tương lai. Mặc dù đây là điểm chính thứ hai đã được ghi trong nghị trình làm việc của HNTU 12. Có phải điều đó giải thích là chưa có thống nhất về phương án nhân sự, và có nghĩa là các phe đang đấu tranh giành giựt nhau?

Tình hình nội bộ trong ÐCSVN những năm gần đây cho thấy có một số lí do giải thích sự bế tắc về một giải pháp nhân sự ở cấp cao nhất hiện nay: 1. Ðang có những mâu thuẫn rất lớn trong TUÐ về đường lối, bước đi trong kinh tế, chính trị và ngoại giao. Vì sau gần 20 năm “đổi mới” và mở cửa với phương Tây, dù muốn dù không xã hội VN đã khác hẳn trước, sự hội nhập của VN vào dòng chảy của giai đoạn toàn cầu hóa là một tất yếu. Nhưng các phần tử bảo thủ lại muốn kìm hãm, cản trở bước đi này, chiều hướng này. Vì họ sợ mất phần, mất địa vị. 2. Theo các tin bán chính thức, do những đòi hỏi của nhiều tướng lãnh, CMLT có uy tín trong đảng và nhiều cán bộ đang chức cũng như dư luận chung nên trong HNTU 12 nhóm bảo thủ đã bắt buộc phải cho thành lập “Ban đặc trách công tác xử lý những vụ án Sáu Sứ, T4, Tổng cục II Bộ Quốc phòng”. Phụ trách Ban này gồm: Ðại tướng Lê Hồng Anh (UV BCT, Bộ trưởng Bộ công an) làm Trưởng ban, Trương Vĩnh Trọng (Ủy viên Ban Bí thư, Trưởng ban Nội chính Trung ương), Hà Mạnh Trí (UVTUÐ, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao), Thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn (UVTUÐ, Thứ trưởng Thường trực Bộ công an) và Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng (UVTUÐ, Thứ trưởng Bộ công an phụ trách an ninh). Nhiệm vụ của Ban này là hoàn chỉnh hồ sơ các vụ án trên, đề nghị các biện pháp xử lý giải quyết nghiêm minh và triệt để theo Ðiều lệ ÐCSVN, theo kỷ luật của Quân đội Nhân dân VN và khởi tố hình sự theo pháp luật Nhà nước CHXHCNVN. Ban này phải làm việc khẩn trương để lập ra phương án giải quyết các vụ án trên và trình BCT quyết định việc xử lý dứt điểm trước khi tiến hành Ðại hội 10 của Ðảng vào đầu năm 2006.

Tin còn cho biết, trong HNTU 12 lần đầu tiên UVTU bà Võ Thị Thắng (Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam), một nạn nhân của vụ T4 do nhóm Lê Ðức Anh dựng lên, vì thấy đại đa số những vị mày râu giữ thái độ im thin thít nên bà đã phải nhẩy vào tiếp sức một số UVTU có can đảm. Trong tình hình căng thẳng ở TUÐ như vậy thì khó có thể bàn trực tiếp và có một thỏa hiệp rộng rãi về phương án nhân cho cấp cao nhất trong đảng được. 3. Nếu ai theo dõi sát nội tình của ÐCSVN thì sẽ thấy, việc nhân sự ở cấp cao nhất bị bế tắc không phải là hiện nay mà đã trở thành căn bệnh từ suốt ÐH 7 (1991). Thường chỉ vài tuần trước, có khi chỉ vài ngày trước khi ÐH khai mạc ai ở ai đi trong BCT mới được giải quyết, và cách giải quyết hoàn toàn không phải đo sự đồng thuận và dân chủ, mà thuần là sự quyết định độc đoán của một vài người có quyền lực nhất vào giai đoạn đó. Thậm chí đã từng có những đòn thanh toán nhau trong thời gian trước các ÐH 7, 8 và 9. Hai nhân vật có quyền thế nhất từ cuối thập niên 80 tới nay là Ðỗ Mười và Lê Ðức Anh. Từ 1997 tuy không còn trong BCT, nhưng trước sau hai người này, qua một số thân tín trong các BCT kế tiếp, đang tiếp tục thao túng đường lối và nhân sự ở cấp trung ương. Sự can thiệp lộ liễu nhất của họ mà về sau bên ngoài biết được đã diễn ra vài tuần lễ trước ÐH 9 (2001). Hai người này đã âm mưu đảo chánh Lê Khả Phiêu vào phút chót và đã đưa Nông Ðức Mạnh, một người ba phải lên thay.

Trong những tuần lễ vừa qua, nhất là kể từ sau HNTU 12, đang có những dấu hiệu cho thấy Lê Ðức Anh và Ðỗ Mười đang mưu tính lập một phương án nhân sự với mục tiêu là duy trì những người thân tín của họ đang giữ những lãnh vực chính trong BCT. Muốn như thế thì họ phải tìm cách vô hiệu hóa những chống đối họ ở trong và ngoài đảng!

Phe bảo thủ và lộng quyền trong BCT biết rằng, họ không được lòng trong đảng cũng như trong nhân dân, cho nên tạm thời họ chưa thể công khai đòi ghế này hay ghế khác. Nhưng họ cũng thấy rằng, những người chống họ ở TUÐ và BCT không có “quân” và không liên kết được với nhau. Trong khi đó, ba lãnh vực quan trọng vẫn nằm trong sự kiểm soát của họ là quân đội, tổ chức và tư tưởng (báo chí).

Chính vì thế họ đang tìm cách thực hiện sách lược trước thềm ÐH 10 là mua chuộc, áp lực những người đứng giữa; và phân hóa, nếu cần cả đàn áp những ai chống đối ở trong TUÐ. Họ biết thời gian tới ÐH 10 không còn bao lâu, cho nên họ chia nhau đi đây đi đó để thực hiện mưu đồ này. Thậm chí cả Lê Ðức Anh và Ðỗ Mười cũng bắt buộc phải nhập cuộc tiếp tay với một số Ủy viên BCT trong cánh. Ðặc biệt Lê Ðức Anh không chỉ xuất hiện liên tục sau HNTU 12 trong những buổi lễ quan trọng từ ÐH 8 nhà báo, lễ kỉ niệm 60 năm thành lập ngành CA ở HN, lễ Quốc khánh ở Tân trào, lễ kỷ niệm ngày thành lập Bộ Tổng tham mưu... Trong những dịp này Lê Ðức Anh thường đứng bên cạnh người cầm đầu đảng Nông Ðức Mạnh, hay Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An để cố tình làm cho dư luận biết là trước sau ta và phe ta vẫn bình chân như vại.

Không những thế, khi HNTU 12 vừa kết thúc với tin bán chính thức là BCT đã phải thành lập “Ban đặc trách công tác xử lý những vụ án Sáu Sứ, T4, Tổng cục II Bộ Quốc phòng” thì tờ Hà Nội Mới ngày 14.7.05 đã tung tin Lê Ðức Anh thân hành thăm Phạm Văn Xô đang nằm bệnh viện Thống nhất ở Sài gòn, mặc dầu cuộc thăm này đã diễn ra từ ngày 27.6. Việc Tờ Hà Nội Mới, cơ quan báo chí của Thành ủy Hà nội dưới quyền của UV BCT và Bí thư thành ủy Nguyễn Phú Trọng (cùng cánh Lê Ðức Anh), đã hâm nóng tin này là nhằm lung lạc dư luận, cho rằng cụ Phạm Văn Xô đã xí xóa cho Lê Ðức Anh! Người ta được biết, chính ba CMLT nổi tiếng nhất của đảng ở miền Nam là Phạm Văn Xô, Ðồng Văn Cống (hai người vừa mất vào 8.05) và Nguyễn Văn Thi đã hai lần viết thơ cho TUÐ và BCT (3.2.05 và 11.4.05) tố cáo đích danh Lê Ðức Anh đã dối trá và lộng quyền.

Việc Lê Ðức Anh xuất hiện nhiều hội nghị hay các cuộc mít tinh lớn và thân hành thăm cả một số CMLT từng lên tiếng chống đối mình là dùng đòn đánh động tâm lí, gây hoang mang cho các đối thủ chính trị của ông Anh ở trong TUÐ, tướng lãnh và giới CMLT. Sách lược hiện nay của nhóm này làm người ta nhớ lại việc Ðỗ Mười và Lê Ðức Anh ít tuần lễ trước ÐH 9 (2001) cũng đã từng phân công nhau gặp các cựu UVBCT, tướng lãnh có uy tín để thuyết phục ủng hộ âm mưu hạ bệ Lê Khả Phiêu. Chính điều này đã bị tướng Võ Nguyên Giáp và cựu UVBCT kiêm Trưởng ban Tổ chức Nguyễn Ðức Tâm tố cáo! Trong thơ gởi TUÐ và BCT ngày 1.3.01 ông Tâm đã tố cáo sự lộng quyền của hai người này:

“Nhưng những hoạt động gần đây của các đồng chí đó, chính là đồng chí Ðỗ Mười và đồng chí Lê Ðức Anh, xung quanh vấn đề nhân sự của Ðại hội IX đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều, nên tôi không thể không phát biểu ý kiến để đấu tranh với những hoạt động mà tôi cho là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức của Ðảng, là lộng quyền, là đặt mình lên trên Ðảng.”

Cho tới nay hơn một tháng sau HNTU 12. Nhưng BCT vẫn chưa công bố chính thức việc thành lập “Ban đặc trách công tác xử lý những vụ án Sáu Sứ, T4, Tổng cục II Bộ Quốc phòng”. Việc này có thực hay chỉ là tin đồn để làm dịu sự chống đối phe Ðỗ Mười và Lê Ðức Anh, nhờ đó họ có thì giờ vận động lung lạc hòng quay mũi giáo chống các đối thủ ở trong và ngoài TUÐ?

Có dư luận e ngại rằng, ngay cả trường hợp Ban này được thực sự thành lập thì những câu hỏi quan trọng là, Ban này liệu có đủ quyền lực để điều tra những người đang có quyền lực lớn nhất ở trong và ngoài BCT? Và Ban này dám xử lí nghiêm minh những kẻ có tội không? Những câu hỏi vô cùng quan trọng này rất thích hợp vào thời điểm này. Vì chính tướng Võ Nguyên Giáp đã từng cho biết, các đòi hỏi điều tra và xét xử tương tự về những vụ việc lộng quyền của Lê Ðức Anh không chỉ mới đây, mà đã từng có trong một số quyết định của TUÐ giao cho BCT từ cuối khóa 6 đến nay. Nhưng vì được sự bảo vệ của những người có thế lực mạnh nhất trong BCT, nên cho tới nay BCT vẫn phớt lờ các quyết định của TUÐ. Trong thư gởi cho Nông Ðức Mạnh và TUÐ ngày 3.1.04 trước cuộc họp HNTU 9 (5-12.1.04) chính tướng Võ Nguyên Giáp đã tố cáo sự dung túng và bất lực của BCT:

“Ðề nghị Hội nghị Trung ương lần này cần kiểm điểm nghiêm khắc, vì sao tình trạng vi phạm nguyên tắc tổ chức và kỷ luật Ðảng kéo dài ở cấp Trung ương mà Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị đã thấy rõ và đã có nghị Nghị quyết khẳng định phải giải quyết nhưng cho đến nay vẫn để tồn tại không giải quyết.”

Ðặc biệt nghiêm trọng là vụ Sáu Sứ diễn ra cuối khóa VI trước thềm Ðại hội VII mà Hội nghị Trung ương 12 và 13 khóa VI đã bàn giao cho Trung ương khóa VII giải quyết.

Nghiêm trọng hơn nữa là vụ T4 mà Bộ Chính trị khóa VIII đã bàn giao lại cho Bộ Chính trị khóa IX. Bộ Chính trị khóa IX đã chỉ đạo Ban điều tra liên ngành tiến hành điều tra và Bộ Chính trị đã kết luận. T4 là một vụ án chính trị “siêu nghiêm trọng” vi phạm kỷ luật của quân đội.

TẠI SAO VẤN ÐỀ TƯ TƯỞNG VÀ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG LẠI BẤT NGỜ TRỞ THÀNH ÐỀ TÀI QUAN TRỌNG TRONG HNTU 12?

Ngoài các tín hiệu cho thấy nhóm Lê Ðức Anh đang tìm cách đánh lạc hướng dư luận trong và ngoài đảng, họ còn tìm cách ngăn chặn làn sóng bất mãn đang ngày càng lên cao trong các giới CMLT, tướng lãnh và sĩ quan cao cấp, giới chuyên viên, trí thức và báo chí của đảng và nhất là của những người dân chủ ở trong nước về sự lộng quyền của Lê Ðức Anh cùng với sự tiếp tay của một số người trong BCT. Chính vì thế, vào các ngày chót của HNTU 12 nhóm này đã tìm cách quật lại phe chống họ ở trung ương bằng cách làm sống dậy khẩu hiệu “diễn biến hòa bình”. Họ kết án việc phát tán, phổ biến các thơ ngỏ của các CMLT và các tài liệu chống nhóm lộng quyền trên các mạng Internet, báo... là một sự tiếp tay cho các “thế lực thù địch”. Vì thế nhóm vây cánh của Lê Ðức Anh và Ðỗ Mười trong BCT đã đưa vấn đề “tình hình tư tưởng và công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay” là một đề tài mới và quan trọng trong HNTU 12. Mặc dầu đề tài này không có ghi trong nghị trình làm việc của HNTU 12. Ý đồ này thể hiện rất rõ trong Thông báo kết thúc HNTU 12 và nhất là trong diễn văn bế mạc HNTU 12 của Nông Ðức Mạnh:

“HNTU 12 đặc biệt quan tâm đến tình hình tư tưởng và công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay”. Trong đó nhấn mạnh đặc biệt tới việc Hội nghị đã đề ra các giải pháp gọi là “chống lại các âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình, kích động bạo loạn, lật đổ của các thế lực lực thù địch”. Ðồng thời trong Thông báo của HNTU 12 còn nói tới “khắc phục những biểu hiện dao động và thiếu ý thức tổ chức kỷ luật của một số cán bộ, đảng viên...”

Việc một số người này vào phút chót đã có thể thay đổi trọng tâm chương trình nghị sự của HNTU 12 cho thấy hai sự kiện đáng chú ý: 1. Sự lo ngại rất lớn của họ từ nay cho tới Ðại hội 10 và 2. Nhưng mặt khác việc này cũng còn cho thấy, họ vẫn còn nắm phần chủ động trong BCT.

Sự kiện Nông Ðức Mạnh trong diễn văn bế mạc HNTU 12 đã dùng các ngôn ngữ mạnh bạo để chụp mũ và kết án các ý kiến đóng góp xây dựng của nhiều CMLT và các đòi hỏi chính đáng của nhiều tướng lãnh tên tuổi đòi thanh lọc, làm trong sạch BCT và TUÐ đã cho thấy nhóm Lê Ðức Anh và Ðỗ Mười đang tìm cách phản công.

Một số sự kiện mới đây liền sau HNTU 12 đã chứng minh việc này. Trong Ðại hội 8 Hội nhà báo VN vào giữa tháng 8 hầu hết các tổng biên tập và các cán bộ quản lí báo chí toàn quốc đã được triệu tập về Hà Nội để nhận những chỉ thị của Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương dưới quyền của Nguyễn Khoa Ðiềm, thuộc vây cánh của Lê Ðức Anh và Ðỗ Mười. Tại Ðại hội 8 họ đã công khai tước bỏ quyền tự do báo chí bằng việc bắt các người cầm bút phải “Tuyệt đối trung thành” với nhóm có quyền lực trong BCT. Cũng trong dịp này với sự có mặt của Lê Ðức Anh, Nông Ðức Mạnh còn chỉ thị trực tiếp cho các cơ quan phụ trách công tác tư tưởng và báo chí trong thời gian tới phải tăng cường công tác quản lý những người viết báo:

? Sự lãnh đạo của Ðảng đối với báo chí phải bảo đảm các khâu, từ định hướng phát triển, định hướng thông tin tuyên truyền, công tác cán bộ, cho đến định hướng trong hoạch định chính sách, xây dựng các chế độ, kiểm tra thường xuyên...

? Muốn thực hiện tốt sự lãnh đạo của Ðảng đối với báo chí, phải nâng cao vai trò và trách nhiệm của các cơ quan chủ quản. Quan điểm Ðảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý báo chí cần được mỗi nhà báo nhận thức sâu sắc, trở thành ý thức nghề nghiệp của mình. Mỗi cấp ủy đảng cần coi việc lãnh đạo, chỉ đạo báo chí là một nhiệm vụ công tác quan trọng, biết khai thác, sử dụng báo chí phục vụ đắc lực việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị.

Trước đó ít ngày Ban bí thư Trung ương còn ra Chỉ thị số 52-CT/TW có hiệu lực từ 30.7.05 kiểm soát nghiêm ngặt hơn nữa việc sử dụng các mạng internet ở VN. Chỉ thị này còn chụp mũ là “thông tin phản động” việc phát tán các tin và tài liệu liên quan tới sự chống đối nhóm lộng quyền và tham nhũng trong BCT. Kế hoạch đe dọa và chụp mũ này hiện đang được đẩy mạnh trong những ngày gần đây. Một số cán bộ tư tưởng văn hóa đầu đàn đã viết một số bài đăng tên các báo chính của đảng để mạ lị và đe dọa dưới những tựa đề như: “Ba mũi tiến công - Một giấc mơ phi hiện thực” hay “Báo chí với cuộc đấu tranh chống âm mưu diễn biến hòa bình.”

Nói tóm lại, những quyết định và các hoạt động của nhóm thân Lê Ðức Anh, Ðỗ Mười trong BCT từ HNTU 12 đã cho thấy mưu đồ hai mặt của họ: Thứ nhất là tìm cách vô hiệu hóa các quyết định của TUÐ nhằm xử lí những sự lộng quyền của Lê Ðức Anh. Hai là, dùng mọi cách để mua chuộc, áp lực và đe dọa để cho một số thân tín tiếp tục giữ các chức vụ then chốt trong BCT vào Ðại hội 10 sắp tới.

Liệu lần này họ có tiếp tục qua mặt được các CMLT, các tướng lãnh và đa số quần chúng đảng viên hay không? Kết quả như thế nào sẽ là thước đo ý nghĩa còn lại của cuộc Cách mạng Tháng 8 trước đây 60 năm, trong đó bao nhiêu triệu người đã phải hy sinh. Nhưng cuối cùng đúng như nhà thơ Bùi Minh Quốc nhận xét:

“Rõ ràng trong bộ phận đảng viên cầm quyền đã có một thế lực cố ý vỡ nợ dân chủ, phản bội nhân dân, lừa dối nhân dân, miệng nói dân chủ mà tay thì nắm hết quyền vơ hết lợi của dân. Bọn vỡ nợ dân chủ với bọn tham nhũng là một!”

Hình (Time Magazine): Ô. Hồ Chí Minh, tháng 11, 1954 sau khi Hội Nghị Geneva kết thúc.

Bài Báo Nào Được Chú Ý Nhiều Nhất?

Vietnam Review được cập nhật hóa mỗi ngày. Một số bài đăng trên Vietnam Review do các độc giả hoặc các e-groups gửi đến. Vietnam Review thành thật cáo lỗi nếu có sự nhầm lẫn về nguồn gốc của các bài báo ngoài ý muốn. Chúng tôi sẵn sàng sửa chữa khi được thông báo.

Dưới đây là 8 bài được nhiều người đọc nhất. Tuy nhiên theo thiển ý của chúng tôi, bài có nhiều người đọc không nhất thiết là bài có giá trị nhất.

Tiêu Chuẩn Thảo Luận

Tác giả và Ban Biên Tập Vietnam Review mong nhận được ý kiến của quý độc giả về mỗi bài hoặc mỗi bản tin. Tuy nhiên Vietnam Review dành toàn quyền xóa bỏ những ý kiến thiếu xây dựng, thiếu sự tương kính (không được dùng những danh từ như thằng, mày, tao, đồ chó đẻ,v.v.), không được chê người khác ngu, nhưng có quyền nói ngưới ta thiếu khôn ngoan. Tuyệt đối không được chỉ trích cá nhân. Chúng tôi thành thật cám ơn sự hiểu biết và hợp tác của độc giả. Nếu có nhiều vi phạm, Vietnam Review có thể bị bắt buộc phải cho ngưng phần thảo luận cho từng bài báo hoặc toàn thể mạng tin tức VietnamReview.com. Trong mọi trường hợp, Vietnam Review không chịu trách nhiệm về những lời phê bình của độc giả cũng như nội dung và sự chính xác của các bài báo đăng trên VietNamReview.com.

Chúng tôi đề nghị quý độc giả nên giới hạn cuộc thảo luận về những vấn đề liên quan trực tiếp đến chủ đề của bài báo liê hệ. Theo thiển ý của chúng tôi, có như vậy cuộc thảo luận mới hữu ích và mang lại kết quả cụ thể và giúp tác giả cũng như những độc giả khác hiểu biết thêm về đề tài chính.

Chủ trương của Vietnam Review

Nhóm Vietnam Review gồm một số thiện nguyện viên thuộc nhiều lớp tuổi. Chúng tôi chủ trương tự do ngôn luận, tôn trọng những quan điểm khác nhau. Ý kiến của tác giả không nhất thiết phản ảnh lập trường của Vietnam Review hay của từng cá nhân trong nhóm.

Vietnam Review hỗ trợ khát vọng tự nhiên của con người là yêu chuộng công bằng, tự do, và dân chủ. Chúng tôi chủ trương tôn trọng nhân quyền, tự do tín ngưỡng, và tự do ngôn luận. Chúng tôi tin tưởng rằng đây là cách hữu hiệu để phát huy sự hoà đồng trong xã hội, phát triển kinh tế quân bình và duy trì nền hòa bình của nhân loại.

Vietnam Review tiếp tục phát triển

Vietnam Review tiếp tục phát triển trong những tháng sắp tới. Ưu tiên là phần Việt ngữ. Kế tiếp là phần Anh ngữ. Chúng tôi mong độc giả cảm thông nếu thấy có những mục chưa hoàn tất. Vietnam Review nhận bảo trợ của độc giả để có thêm phương tiện phát triển và trang trải phí tổn bảo trì mạng lưới. Mọi chi tiết xin vui lòng liên lạc với Info@VietnamReview.com. Đa tạ.



3G co^'p pi

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Trò Chuyện Với Ông Hà Sĩ Phu


Tiết mục Người Việt Đó Đây (của chương trình Chân Trời Mới phát thanh về Việt Nam mỗi tối từ 8:30 đến 9:30 trên làn sóng 1503AM) cách đây hai tuần đã trân trọng giới thiệu đến quý thính giả Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, một nhân vật tiêu biểu của tầng lớp trí thức tiến bộ hiện nay tại Việt nam. Cũng trong chương trình đó, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang chia sẻ về cuộc gặp gỡ với ông Hà Sĩ Phu, tức Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ, tại Đà Lạt.

Hôm nay Nguyệt Như rất hân hạnh được tiếp chuyện với ông Hà Sĩ Phu. Ông Hà Sĩ Phu là một nhà khoa học về Sinh học, nhưng nhiều người cho rằng ông cũng là một nhà khoa học Nhân văn, dù không tốt nghiệp trường lớp Nhân văn nào cả. Những công trình nghiên cứu qua các tác phẩm của ông đã minh chứng được những lý luận sâu xa, vững chắc, có tính triết học và khoa học của thời đại.

Ông Hà Sĩ Phu là người góp công rất lớn đánh đổ cả học thuyết Mác-Lê và những huyền thoại chung quanh các lãnh tụ nào núp sau học thuyết này.

Vậy ông Hà Sĩ Phu là ai mà vừa có khả năng, vừa cả gan đánh đổ cả một học thuyết như thế ?




1. Nguyệt Như: Nguyệt Như xin kính chào ông Hà Sĩ Phu. Thưa ông, nói đến tên tuổi Hà Sĩ Phu thì đa số những người quan tâm đến Việt Nam, dù là người Việt hay không phải Việt đều biết. Thế nhưng người ta biết đến các tác phẩm của Hà Sĩ Phu thì nhiều, xong lại biết rất ít về cá nhân Hà Sĩ Phu. Vậy Nguyệt Như xin phép ông cho biết vài nét chính về tiểu sử của mình.

Hà Sĩ Phu: Chào chị Nguyệt Như. Tôi tên thật là Nguyễn Xuân Tụ, sinh năm 1940, người xã Song Hồ là xã có nghề vẽ tranh Đông Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ tôi học chữ nho. Trước 1954 học Trung học ở Hà nội. Giai đoạn sau 1954, tôi tốt nghiệp Khoa Sinh vật học trường Đại học tổng hợp Hà Nội, giảng dạy tại trường Đại học Dược khoa Hà Nội, nghiên cứu tại Viện Dược liệu Hà Nội. Sau 4 năm nghiên cứu và bảo vệ Luận án Phó tiến sĩ về nuôi cấy tế bào tại Viện Hàn lâm khoa học Tiệp Khắc, tôi về nghiên cứu tại Viện Khoa học Việt Nam - Phó giám đốc Phân viện Khoa học Đà Lạt, ... rồi về hưu. Tham gia Hội Văn học ở Lâm Đồng do nhà thơ Bùi Minh Quốc làm Hội trưởng, từ đấy viết văn thơ và lý luận.

2. Nguyệt Như: Xin ông cho biết vài nét về lĩnh vực chuyên môn mà ông có trách nhiệm, trước khi ông ngừng hẳn công việc nghiên cứu này ? Và theo ông thì lĩnh vực khoa học này tại Việt Nam so với tầm nghiên cứu và phát triển của thế giới thì như thế nào ?

Hà Sĩ Phu: Từ năm 1970, tôi thuộc những người đầu tiên ở Việt nam nghiên cứu về nuôi cấy mô và tế bào thực vật để nhân giống cây thuốc quý và sản xuất "sinh khối" nhằm thu hoạch các chất thuốc quý cũng bằng phương pháp nuôi cấy tế bào. Ngoài những đề tài nghiên cứu về sự phân hóa tế bào và quy luật tổng hợp các sản phẩm của tế bào dưới ảnh hưởng của các chất điều khiển sinh trưởng, tôi đã tạo ra một phương pháp định lượng mới, cho phép chỉ dùng 20mg sinh khối mà cùng một lúc định lượng đồng thời được cả 3 nhóm chất (sterol, sapogenin và glycoalcaloid), quy trình này là công cụ phân tích rất thuận tiện trong lĩnh vực này. Một số phòng thí nghiệm đã áp dụng.

Lĩnh vực nuôi cấy mô và tế bào thực vật ở nước ta mới xuất hiện từ những năm 1970 còn rất mới mẻ so với thế giới. Những năm gần đây nước ta đã có nhiều thành tựu trong việc nhân giống, nhưng trong việc sản xuất "sinh khối" và hoạt chất thì chưa có thành tựu gì đáng kể, vì cần đến sự phối hợp của nhiều ngành khoa học và công nghệ tiên tiến khác, mà ta chưa có điều kiện.

3. Nguyệt Như: Được biết ông đã từng đi du học tại Tiệp Khắc. Thời kỳ đó Đông Âu vẫn còn thuộc khối Cộng sản. Ông có cơ hội đi thăm viếng các quốc gia trong vùng này không ? Và chuyến đi du học này có góp phần nào trong những suy tư của ông về Chủ nghĩa Cộng sản không ?

Hà Sĩ Phu: Trong những năm du học ở Tiệp Khắc, tôi đã đi qua Trung Quốc, Mông Cổ, Ba Lan, Liên Xô và đã sang thăm Cộng hòa Dân chủ Đức. Ngoài lĩnh vực chuyên môn, những điều tôi thu hoạch được trong cuộc viễn du này là: Nhân dân ở đâu cũng rất nhân hậu, nhưng dưới chế độ Cộng sản nhân dân bị nhồi sọ và bị phân hóa sâu sắc, làm khổ lẫn nhau. Khắp nơi trong phe XHCN đều thể hiện tính chất nhồi sọ bằng tuyên truyền và sự áp đặt bằng bạo lực. Đặc biệt là ở Tiệp Khắc tôi còn thấy rõ sự áp đặt bằng bạo lực của Liên Xô; sự ôn hòa nhưng rất thông minh của người Tiệp và sự nung nấu ngấm ngầm chống lại sự bất công và phi lý. Điều này đã củng cố cho những nghi ngờ của tôi đối với chủ nghĩa Mác từ khi tôi còn là sinh viên. Cho nên sau này, tôi đặc biệt kính trọng cuộc "Cách mạng nhung", kính trọng tổng thống Vaclav Havel, người trí thức anh hùng của nhân dân Tiệp Khắc.

4. Nguyệt Như: Bài Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của Trí tuệ được hoàn tất ngày 2-9-1988, tức ngày Độc lập (Quốc khánh) của CHXHCNVN. Trước hết ông nghĩ sao mà chọn ngày 2 tháng 9 làm ngày hoàn tất bài tham luận của mình? Và ông mất bao lâu để biến những trăn trở, suy tư này trở thành những cuộc nghiên cứu tìm hiểu chủ nghĩa Mác-Lê, để rồi kết luận rằng con đường đi tới, con đường tiến hóa phải bằng Trí tuệ ?

Hà Sĩ Phu: Bài Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của Trí tuệ tôi hoàn tất trước ngày mồng 2-9-1988 khoảng vài ngày, nhưng tôi quyết định đề đúng ngày kỷ niệm đó cho dễ nhớ. Vả lại nội dung bài viết của tôi về một ý nghĩa nào đó cũng liên quan đến ngày này.

Tôi là người vốn nặng tư duy lý luận, nên tôi trăn trở về học thuyết tiến hóa Mác xít từ khi tôi học nó cùng với học thuyết tiến hóa Darwin. Tôi thấy Mác trái với Darwin, mà Darwin mới là khoa học, là quy luật tự nhiên. Suy tư "bất đồng" của tôi với Mác cứ được thực tế củng cố dần, nhưng tôi bận nhiều việc chuyên môn nên mãi đến năm 1988, tức là 25 năm sau, sau một buổi chuyện trò của tôi với một số bè bạn và nhà văn tôi mới quyết định cầm bút viết.

Hạt nhân suy tư lúc đầu của tôi gồm 3 điểm: Điểm thứ nhất là mô hình xã hội Mác xít khử mất yếu tố tự do cạnh tranh là nhân tố căn bản thúc đẩy tiến bộ, thay vào đó lại muốn sắp xếp xã hội theo sự chỉ huy chủ quan. Điểm thứ 2 là Mác coi nhẹ vai trò của cạnh tranh Trí tuệ là nhân tố tiến hóa đặc trưng ở loài người. Điểm thứ 3: tôi thấy phải chia mọi người thành 3 loại Duy lý, Duy tín và Duy lợi. Những người Mác xít tuy gọi Chủ nghĩa Xã hội là khoa học, là thuận quy luật, ... Nhưng thực tiễn cho thấy họ không phải những người Duy lý, mà luôn Duy lợi và Duy tín. Xã hội chủ nghĩa khử mất yếu tố Duy lý nên khó phát triển và khó lòng đối thoại với nhau. Phải viết để phát triển tính Duy lý của xã hội. Khi trong đầu hình thành rõ rệt 3 hạt nhân ấy, tôi bắt đầu tập trung suy nghĩ và viết.

5. Nguyệt Như: Chủ thuyết Cộng sản thì không mấy coi trọng trí thức hay tư duy của thời đại. Trong khi đó hầu hết các bài viết của ông đều đề cao Trí tuệ như là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình canh tân đất nước. Có phải vì thế mà ông thẳng thắn phê bình chủ thuyết Mác-Lê hay có lý do nào khác ?

Hà Sĩ Phu: Lúc đầu tôi viết bài vì thấy cần vạch rõ nhân tố quyết định sự tiến hóa là "sự Cạnh tranh Trí tuệ" chứ không phải sự "đấu tranh Giai cấp, một mất một còn" như hòn đá tảng của chủ nghĩa Mác khẳng định. Tôi muốn sửa chữa một sai lầm về lý luận để xã hội bớt đi tính giai cấp cực đoan và trở nên nhân ái và hợp lý hơn. Việc này hầu như thuần lý luận, xuất phát chủ yếu từ khoa học thôi.

Nhưng rồi tôi nhận ra tính cách rất thấp về Văn hóa của trào lưu Cộng sản và việc đổi mới Kinh tế nhưng vẫn cố thủ, giữ chủ nghĩa Mác-Lê làm bình phong lại càng làm đạo đức xã hội thoái hóa, nhân cách suy đồi thì tôi thấy việc viết lý luận đã trở thành sự thôi thúc của lương tâm, cần viết để dóng lên tiếng chuông, góp phần đấu tranh chống lại hiểm họa thoái hóa xã hội. Và tôi nhận ra tiếng nói nhỏ bé của mình là cùng với mọi người lương thiện và tiên tiến, góp sức đưa xã hội ra khỏi một chủ nghĩa ảo tưởng một cách êm ả, một cách văn hoá.

6. Nguyệt Như: Đến năm 1993, ông hoàn tất bài Đôi điều suy nghĩ của một công dân. Phần kết ông nói: Đảng đã đưa dân tộc sang bờ Độc lập, và đang cùng dân tộc dấn bước trên con đường đến Tự do, Hạnh Phúc. Ta biết ơn chiếc thuyền đã đưa ta sang sông, nhưng sang bờ rồi mà cứ cắm cúi mang chiếc thuyền "Mácxít chỉ huy" trên lưng như cái mai rùa thì tránh sao khỏi người ngoài đàm tiếu và người thân nghi ngờ rằng có sự che đậy hoặc cất giấu cái gì trong đó". Nói cách khác thì chủ nghĩa Mác-Lê không còn ích lợi gì cho con đường canh tân đất nước Việt Nam. Lời kết luận này có vẻ rất có lý, có tình, rất hiền lành nhưng cũng rất vững chắc.

Cho đến 2 năm sau, bài Chia tay Ý thức hệ thì hoàn toàn dứt khoát, nội cái tựa đề không thôi cũng đủ nói lên tính không khoan nhượng đối với Ý thức hệ này. Xin ông cho biết những dòng suy nghĩ tư tưởng của ông trong khoảng thời gian 1993 đến 1995 ? Những yếu tố chính yếu nào đã tạo nên nhân vật Hà Sĩ Phu qua các tác phẩm mà thế giới biết đến hôm nay ?

Hà Sĩ Phu: Do điều kiện rất ngặt nghèo, hạn chế, tôi không tiên liệu được rằng mình sẽ viết một mạch 3 bài lý luận ấy. Viết bài nào cũng nghĩ rằng xong bài ấy là thôi. Nhưng viết xong một bài lại nghĩ kỹ thêm, lại muốn bổ sung cho rõ. Bài thứ 2 (năm 1993) đã khá hệ thống, đến bài thứ 3 Chia tay Ý thức hệ thì suy tư mới thật chín và rõ. Từ 1993 đến 1995 với tôi rất quan trọng; khó khăn của tôi là một bài viết hệ trọng như thế nhưng viết buông tay là gặp rắc rối ngay, rắc rối liền 10 năm trời, không có điều kiện xem lại, sửa lại gì hết. Có gì sai sót do mình, sai sót do "tam sao thất bản" tôi cũng không biết nữa. Về phần mình tôi nghĩ những nhân tố chính yếu đã gắn với bút danh Hà Sĩ Phu của tôi gồm:

a) Thứ nhất, vạch rõ tính phản khoa học, phản quy luật của Chủ nghĩa Mác :

Nhân tố quyết định sự tiến hóa của Nhân loại là sự tích lũy và cạnh tranh Trí tuệ chứ không phải sự đấu tranh giai cấp.
Bất công xã hội là do quan hệ tương sinh giữa chiếm hữu quyền lực và chiếm hữu tư liệu sản xuất. Dùng sự chiếm hữu quyền lực của Đảng cộng sản để diệt sự chiếm hữu tư liệu sản xuất là sai lầm tai hại. Nó vừa làm mất dân chủ, lại kìm hãm sản xuất, rốt cuộc đâu vẫn hoàn đấy, lại còn xấu hơn. Mác quá chú ý đến quan hệ giầu - nghèo, mà không quan tâm đến một quan hệ gốc rễ hơn là quan hệ 2 cực thống trị và bị trị, nên không phát hiện ra nhu cầu dân chủ. Mác đã hiểu lầm mâu thuẫn cơ bản và giải nhầm bài toán cơ bản của nhân loại. Vấn đề là phải đấu tranh để Dân chủ hóa xã hội chứ không phải lật đổ Tư bản để thiết lập chuyên chính Vô sản.
b) Thứ hai, Vạch rõ công và tội của chủ nghĩa Mác-Lê :

Công: Đã phê phán những bất công tàn bạo của xã hội tư bản thời ấy, đã kích thích khát vọng giải phóng, đã tập hợp được lực lượng bị áp bức, giúp nhiều dân tộc thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang, phát xít, đã tạo ra một "phe" mới tạm thời làm đối trọng với khối tư bản độc quyền, kích thích để chế độ tư bản tự hoàn thiện.
Tội thứ nhất : Tạo ra một hệ thống quyền lực tuyệt đối, chặn đứng con đường dân chủ hóa là một nội dung căn bản của tiến hóa nhân loại.
Tội thứ hai : Giai cấp thống trị mới được Mác dán cho nhãn hiệu giai cấp bị trị. Mâu thuẫn "thống trị - bị trị" muôn đời vẫn còn nhưng lại bị xóa sổ trong xã hội đảng trị, thế là Mác đã khử mất chỗ đứng của người bị trị, tước hết vũ khí vốn có của họ.
Tội thứ ba : Sau một giai đoạn quá độ thực thi chủ nghĩa Mác-Lê tất yếu sẽ hình thành giai cấp tư bản mới. Giai cấp tư bản này mọc ra từ quyền lực chứ không phải từ cạnh tranh kinh tế và sản xuất. Xã hội tư bản kiểu này rất tai hại cả về kinh tế, chính trị và văn hoá. Chủ nghĩa Mác chỉ tạo thêm một con đường để lên tư bản, mà con đường này tai hại hơn con đường tư bản hóa truyền thống.
Tội thứ tư : Tạo ra một tập đoàn thống trị đặc quyền, đặc lợi tuyệt đối, nên khi quy luật buộc phải quay ngược hướng đi, thì họ nhất định không chịu "đằng sau quay" mà lại duy trì trật tự để đi vòng, mỗi bước trên con đường vòng này là một cơ hội kiếm chác thêm lợi nhuận siêu ngạch, và thêm một bước làm suy thoái đạo đức xã hội và nhân cách. Tội thứ tư này chỉ xảy ra ở những nước lạc hậu nhất, chưa có nền tảng dân chủ.
c) Thứ ba, về Văn hóa, tôi luôn quan tâm đặc biệt đến khía cạnh Văn hóa của mọi vấn đề lớn nhỏ; đào sâu tính cách Việt Nam, tính cách quân tử và tiểu nhân, những mưu mẹo và ngụy biện, khái quát một Tiến trình 4 bước để đoạt lấy "tiền phong", dự đoán một trào lưu tổng khủng hoảng Nhân cách, ... Có thể đó cũng là những ấn tượng của người đọc về tôi chăng ?

7. Nguyệt Như: Sau khi bài tham luận Chia tay Ý thức hệ được nhiều người biết đến, hàng trăm bài viết và các tác giả thuộc các ngành nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lê trên các tờ báo lớn, nhỏ khác nhau của Đảng và Nhà nước đã phản luận và phần nhiều là tấn công cá nhân ông, nhưng kết quả vẫn không bẻ gẫy được những lý luận của các bài này. Nguyệt Như muốn hỏi ông là các bài viết của ông có được phổ biến ở trên báo chí nào ở trong nước không, hay có được chuyền tay không? Và cuộc tranh luận này có mang tính khoa học gì không thưa ông ?

Hà Sĩ Phu: Chỉ bài đầu tiên, ngắn nhất Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của Trí tuệ là tôi được hưởng tý chút cái không khí của tranh luận. Tuy không được đăng, không được cãi lại, nhưng dù sao cũng được bị đánh một cách công khai và bị đánh về tư tưởng và lý luận. Nhưng sang đến bài thứ hai, thứ ba thì chút may mắn ấy cũng không còn, chỉ còn sự hỏi cung của Công an và hoảng nhất là sự giúp đỡ "chân tình", "trên tình làng nghĩa xóm" của những cuộc họp dân phố. Như tôi đã nói ở trên, nếu không có tinh thần Duy lý, mà chỉ Duy tín và Duy lợi thì làm gì có tranh luận khoa học, mà cần gì đến tranh luận khoa học nữa ?

Nhưng niềm an ủi cho tôi đã lớn hơn mọi điều bất hạnh, nhiều người vẫn chuyền tay nhau đọc; không có "kẻ địch" nào đọc tôi cả, hầu hết người đọc trong nước là những cán bộ, đảng viên, cựu chiến binh, trí thức, văn nghệ sĩ, v.v ... và bây giờ cả những đảng viên cao cấp nữa cũng ngày càng phát biểu giống tôi. Gian nan càng làm tôi yên tâm rằng mình đã viết đúng và viết trúng. Việc ngăn cấm chỉ gây tác dụng ngược.

8. Nguyệt Như: Từ khi bài Chia tay Ý thức hệ được phổ biến trong phạm vi nhỏ hẹp ở trong nước và rộng rãi ở hải ngoại, đời sống của ông được biết là gặp rất nhiều khó khăn. Ông đã bị bắt, bị bỏ tù, bị quản thúc, bị sách nhiễu. Nhà thì bị cắt điện thoại, quán hàng để kiếm sống thì bị gây khó khăn, quyền đi đứng cũng bị tước đoạt, v.v... Nhiều người cho rằng ông là kẻ thù số 1 của chế độ, nên chế độ thù dai là vậy. Tại sao một người ốm yếu như ông, trong tay không có gì khác ngoài vốn liếng trí tuệ, mà lại làm cho cả một hệ thống và guồng máy cai trị to lớn phải ngại đến như vậy thưa ông ?

Hà Sĩ Phu: Quả thực tôi không động đến một vụ chính trị nào, nhưng tôi lại bị quy kết chính trị nặng nề nhất, dai dẳng nhất, quy đến tội "phản bội Tổ quốc" là nặng nhất trong tội hình sự rồi. Tôi đã viết đơn yêu cầu được xử công khai và yêu cầu được xử bắn nếu có tội, mà không được xử, cứ lai rai mãi. Có ai vì những bài viết ấy mà bị thù dai đến thế không thì không rõ. Riêng phần tôi, viết được ra là tôi thanh thản, là tôi trả được món nợ với cuộc đời, nợ với quê hương. Tôi không thù ghét ai cả.

9. Nguyệt Như: Vợ ông, tức bà Đặng Thị Thanh Biên là người đã chia sẻ mọi khó khăn gian truân và thử thách mà cá nhân ông phải gánh chịu một thời gian dài như thế. Bây giờ thì hoàn cảnh sống của gia đình ông như thế nào ?

Hà Sĩ Phu: Bà Biên nhà tôi chỉ vì một lòng thương yêu tôi mà phải nhẫn nhục, chịu hy sinh bao nhiêu quyền lợi thông thường, mà bất cứ người phụ nữ nào xung quanh cũng có. Tôi thương nhà tôi và nhiều khi thấy mình mắc nợ lớn với vợ. (nợ với đời thì trả được, mà nợ với vợ thì mắc nợ hoài). Nhưng nghĩ đến tấm gương của những người hơn tuổi vợ tôi như bà Hoàng Minh Chính, bà Phùng Quán, bà Phùng Cung và những người trẻ tuổi như chị Nguyễn Vũ Bình, chị Phạm Hồng Sơn, v.v... thì tôi thấy những người phụ nữ đáng kính phục cũng còn nhiều lắm. Chuyện bị quy chính trị làm vợ chồng tôi khốn khổ về nhà cửa, gần hết đời vẫn chẳng có mảnh đất hay mái nhà nào là của mình. Nhưng bù lại, chúng tôi có tình thương của bè bạn, đó là mái nhà của chúng tôi. Chúng tôi sống bên nhau vui vẻ, kiên nhẫn và yêu đời.

10. Nguyệt Như: Ông đã gặp được Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang trong một chuyến du hành từ Bắc vào Nam vừa qua. Ông có ngạc nhiên khi Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang ghé thăm ông không? Xin ông cho biết vài cảm nghĩ về cuộc gặp gỡ đó.

Hà Sĩ Phu: Tôi biết ông Nguyễn Thanh Giang từ năm 1963, khi cùng ở trong ban Hợp xướng của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nhưng lúc ấy chưa có ấn tượng gì, ngoài giọng hát rất hay của anh bạn sinh viên khoa Lý ấy. (cả ông Hoàng Tiến và Bùi Minh Quốc cũng từ trường Đại học này). Về sau biết nhau qua các bài viết và do vụ hoạn nạn của tôi năm 1995. Trong anh em dân chủ chỉ có tôi, ông Thanh Giang và ông Phan Đình Diệu là dân Khoa học tự nhiên. Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang ghé qua Đà Lạt tháng 4/2004 vừa rồi thăm anh em chúng tôi chẳng có gì là ngạc nhiên. Đó là một kỷ niệm. Nhưng ngạc nhiên ở chỗ chỉ vì ghé thăm chúng tôi mà chuyến đi của ông gặp trắc trở nặng nề. Sao sự thăm hỏi nhau của những người bình thường như chúng tôi lại được quan tâm đến thế, lại khó khăn đến thế ?

11. Nguyệt Như: Ông nghĩ sao về việc họ bắt giam các ông Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, v.v... rồi lại thả Lê Chí Quang, giảm án Linh mục Nguyễn Văn Lý, ... rồi lại tiếp tục đàn áp người Thượng, bắt giam Mục sư Nguyễn Hồng Quang, ... Tại sao cái trò bắt rồi thả này liên tục xảy ra như vậy ? Phải chăng không thể không bắt và không thể không thả được ? Tại sao vậy ?

Hà Sĩ Phu: Chị vừa dùng hai lần ba chữ "không thể không", không thể không bắt và không thể không thả là đúng lắm đấy. Cũng như không thể không đổi mới, rồi lại không thể không kìm hãm đổi mới vậy. Cái ý đồ bên trong mãnh liệt quá cũng bất khả kháng, mà cái sức ép của quy luật từ bên ngoài cũng mạnh đến bất khả kháng. Thành ra tiến thoái lưỡng nan. Đi thì cũng dở mà ở thì không xong. Chừng nào cuộc đổi mới chưa phải là tự giác thì hành vi chưa thể nhất quán, sự lúng túng ấy không thể tránh được. Khi sức ép bên ngoài yếu đi là cái ham muốn bên trong lại phình trở lại. Vì bản chất không có gì thay đổi.

12. Nguyệt Như: Có người nói Việt Nam bây giờ thay đổi nhiều lắm. Theo ông thì những thay đổi đó chính yếu là gì? Phục vụ cho ai ?

Hà Sĩ Phu: Hơn mười năm trước, thấy tôi phê phán chủ nghĩa Mác, nhiều người bảo tôi: Xã hội bây giờ thay đổi nhiều lắm rồi ông ạ, người ta có như trước đâu mà ông phê phán. Tôi nói: tôi phê phán chính vì "nó" thay đổi nhiều quá đấy ông ạ! Trong bài Chia tay Ý thức hệ tôi đã phân tích rằng một cuộc thay đổi vì lợi ích của Đảng đã được áp đặt cho dân tộc. Trong tính toán ấy không thấy dân tộc đâu cả. Tôi vẫn giữ ý kiến ấy. "Đổi mới hay không" không quan trọng bằng "Đổi mới như thế nào, theo chiều hướng nào, vì ai mà đổi mới ?".

Nhớ lại bài Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của Trí tuệ năm 1988, khi ấy phe XHCN còn nguyên, tôi đã vẽ một sơ đồ, dự đoán thế nào cũng có sự đổi mới Kinh tế nhưng không đổi mới về Chính trị và Tư tưởng. Có lẽ thế thật.

13. Nguyệt Như: Có khuynh hướng cho rằng dùng kinh tế để thay đổi chính trị. Ông nghĩ sao về nhận định này ?

Hà Sĩ Phu: Dùng kinh tế để thay đổi chính trị, tức là thay đổi hạ tầng thì thượng tầng ắt sẽ phải đổi. Nói như thế là nêu một mảng của quy luật chung. Cũng như nói: Việt Nam tất cũng phải đi theo thế giới, cứ hòa nhập là khắc phải thay đổi; cứ chơi với Mỹ là Mỹ nó không để như thế này đâu. Họ ngoan cố cũng chẳng chống được quy luật; thế hệ trẻ sau này họ sẽ làm khác đi chứ lo gì, v.v ....

Những điều ấy là những mảng của quy luật chung, nói thế không sai. Nhưng chân lý mà nói vắn tắt, nói nửa vời, quên đi sự nỗ lực chủ quan, có định hướng thì vô cùng nguy hiểm và không hiểu quy luật. Mọi điều đều có tính hai mặt: có quy luật ắt có lợi dụng quy luật và phản quy luật. Quy luật vừa rất chung lại vừa cụ thể, rất riêng. Dừng ở cái chung là vô cùng nguy hiểm. Kết cục có thể là những cái riêng hoàn toàn ngược với dự tính, ngược với lý thuyết chung.

14. Nguyệt Như: Theo ông thì thành phần nào sẽ góp phần đem lại thay đổi tích cực cho Việt Nam ? Thanh niên, sinh viên ? Thương gia ? Trí thức ? Các nhà văn hóa ? Chính trị gia ?

Hà Sĩ Phu: Thưa chị Nguyệt Như, chính trị - xã hội xưa nay vẫn phân biệt hai yếu tố: Nền tảng và Thời cơ. Dân trí là nền tảng, tất cả những ai góp phần nâng Dân trí đều là tích cực, có công. Kinh tế cũng là nền tảng. Thanh niên, sinh viên vừa là yếu tố nền vừa là yếu tố thời cơ, rất quan trọng. Thế hệ trẻ bây giờ phải khắc phục rất nhiều trở ngại mới xứng đáng với thiên chức của mình. Nhưng trực tiếp thay đổi xã hội thì thời cơ mới là quan trọng. Chính trị gia sẽ biến thời cơ thành sức mạnh. Giữa Doanh gia và Chính trị gia có thể chuyển hóa nhau và hỗ trợ nhau. Ở Việt Nam ngày nay, tôi nghĩ trí thức và các nhà văn hóa đã đi tiên phong, nhưng chủ yếu họ thuộc yếu tố nền, ít có khả năng chuyển hóa trực tiếp thành nhà chính trị.

15. Nguyệt Như: Ông nghĩ sao về viễn ảnh của Việt Nam trong 5 hoặc 10 năm tới nếu vẫn còn chế độ độc tài ? Còn nếu Việt Nam có tự do dân chủ thì theo ông sẽ như thế nào ?

Hà Sĩ Phu: Trước hết chữ "độc tài" có thể làm người cầm quyền khó chịu, nhưng Đảng cộng sản đã tự nhận là Chuyên chính Vô sản kia mà, Chuyên chính với Độc tài thì cùng một nghĩa (vẫn là một chữ Dictator!).

Trong hai lá thư trước đây gửi các ông Đỗ Mạnh Tri và Nguyễn Gia Kiểng tôi đã bộc lộ những suy nghĩ của mình về tích chất đặc thù của xã hội Việt Nam. Việt Nam không có hệ tư tưởng nào hết, cũng không cứng nhắc, không giáo điều, trái lại khả năng thực dụng và thích nghi rất cao. Cả người lãnh đạo và bị lãnh đạo đều như vậy. Mà dân chủ thì chủ yếu là quan hệ giữa lãnh đạo và bị lãnh đạo; hai bên cùng thực dụng và tìm được cách thích ứng với nhau thì sẽ khó có đột biến. Chữ "thời cơ" tôi dùng ban nãy cũng chỉ có ý nghĩa vừa phải thôi. Tôi không tin có một mốc thời gian cho một biến cố đột biến nào cả. Độc tài không thể cực đoan, mà dân chủ cũng không chính thống gì. Nghĩa là độc tài cũng nửa vời, dân chủ cũng nửa vời; kiểu Việt Nam là vậy: cứ dần dà, rỉ rả. Một thể bùng nhùng vô định hình, một hợp kim, một hợp chất. Tính chất của hợp chất này thế nào là do tương quan, tỷ lệ các hợp phần trong đó, không có hình mẫu tiền định nào cả. Một hợp chất không có tên trong tự điển.

Chỉ có một điều đáng mừng là xu thế hòa nhập vào cái chung chắc chắn ngày càng tăng lên. Và một điều đáng buồn tôi đã nói từ lâu: Cái gì rồi cũng có cả, xin đừng lo, có thiếu chăng là thiếu một sự tử tế, một phong thái quân tử. Tòa nhà Dân chủ, Nhân quyền Việt Nam hiện nay cũng đủ mọi phòng ốc như các Tòa nhà khác trên thế giới. Chỉ có điều mọi chìa khóa trong tòa nhà Nhân quyền này đều do một bộ máy "Quản trị" tối cao nắm giữ, độc quyền phân phối và thưởng - phạt (phân phối Nhân quyền cũng như phân phối tem phiếu theo tiêu chuẩn); độc quyền mở ra - khóa lại. Trên nguyên tắc quyết không trao chìa khóa cho ai, nhưng thực tế chợ đen luân chuyển trong nội bộ thế nào thì có trời mà biết.

16. Nguyệt Như: Xin ông cho biết những ước nguyện và hoài bão trong quãng đời còn lại ?

Hà Sĩ Phu: Những điều mà lương tâm và đầu óc tôi bắt tôi phải viết, tôi đã viết rồi. Những điều tôi nói hôm nay với chị cũng là nói lại những điều đã viết trước đây thôi. Tôi thanh thản. Nhưng đã hơn một năm nay đầu óc tôi sa sút lạ thường, cứ quên và nhầm lẫn, quên cả những điều rất thông thường, gần như mất khả năng làm việc. Tôi không phải nhà chính trị, tôi thấy thế là đủ. Về hạnh phúc chung, tôi chỉ mong cái Tốt sinh đẻ ra nhanh hơn cái Xấu; của cải của đất nước không bị cướp vào túi riêng hoặc bán đi; người oan khuất không còn oan khuất; mọi người có nhu cầu lắng nghe nhau vì lợi ích chung. Tôi mong thực tiễn sẽ tốt hơn những điều tôi đã viết, tức là mong được ân hận rằng mình đã viết quá tay. Về đời riêng, ngoài câu thơ, câu phú thù tạc, nếu có một lần lại được ra nước ngoài, thăm lại đất nước Tiệp Khắc đầy ân tình của tôi, gặp bè bạn khắp nơi để học thêm những người tài, người tốt để thêm tự hào về Con Người và cuộc sống Con Người. Thế là mãn nguyện.


3G sưu tầm

User avatar
Dau Do
Posts: 445
Joined: Sat Dec 11, 2004 3:00 am

Post by Dau Do »

Anh Linh già ơi, Cám ơn anh đã ghé thăm và mang quà tặng. Hôm nay Đ Đ khệ nệ rinh qua bình hoa cô em Đ Mỹ gởi tặng anh linh già đây, Đ D chưng nó trong góc nhỏ của anh nha . Chúc anh 1 ngày chúa nhật vui vẽ.
Image
Triệu người quen có mấy người thương

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image.
Bác Giang Già ơi , Hình này có bị cấm không? Nếu bị cấm thì bác làm ơn xoá nó đi hộ nhé ! Lâu quá mới vào thăm các bác có tí quà gọi là lấy thảo.Bây giờ phải đi ngủ vì trời đã khuya rồi. :roll: :roll: :roll:

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Thế là đã tạm biệt Cao Lynh trong một buổi chiều vắng lặng . Tạm biệt con chim én dễ thương mà mỗi khi xuất hiện đều mang cho bạn bè những nụ cười rạng rỡ như mùa xuân mới . Tạm biệt những buổi sáng trong quán Càphê mấy đứa cùng nhau nghe kể chuyện ngày xưa , cái thưở học trò và cả những ngày làm thân lính trận . Tạm biệt ngôi nhà thật ấm cúng với cáì không khí gia đình mà những chiều cuối tuần ba bốn thằng ngất ngây ly rượu ấm nồng tình bằng hữu . Tạm biệt cái computer di động vì Cao Lynh có một trí nhớ lạ thường và đặc biệt là những câu chuyện văn chương hầu như mãi mãi không hề chấm dứt .......

Tạm biệt Cao Lynh trong nỗi buồn trống vắng lạ lùng như mất mát một cái gì thân qúy lắm . Nhưng mà Cao Lynh ạ , không sớm thì muộn sẽ có ngày chúng ta lại tái ngộ cùng nhau và ngày đó sẽ thật là vui Cao Lynh nhỉ . Hãy bình thản lên đường và hãy nhớ rằng nơi thành phố này trong những cuộc vui , những nỗi buồn vẫn có những người bạn luôn nhớ về Cao Lynh với những gì thân mến nhất . Hãy bay cao con chim én của mùa xuân !!!Anh em luôn nhớ đến những ngày tháng bên nhau !!!!!

Sáu Long


Image

Image

Image

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Ới Bác Lính Già ít tuổi !
Bác hỏi thử bác Phạm Vũ Kim có biết anh chàng HNC đứng giữa trong hình này hay không? Bạn cũ của Phạm Vũ Kim và cùng chung đơn vị với bác Phạm Vũ Kim đó !!!

SLong

Post Reply