QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Re: QUÁN BIÊN THUỲ

Post by saohom »

NGƯỜI NỮ TU TRONG CÔ NHI VIỆN PLEIKU...

Image
Hơn sáu tháng sống chết với chiến trường và giữ vững được Kontum, đầu tháng 10 1972, đơn vị tôi được kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt dành cho một đơn vị đã tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẫm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”. Một tháng đóng trên Đồi Đức Mẹ lại là một tháng gió mưa lầy lội. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa hy sinh trên chiến trường Kontum lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những vết chém đang còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên trong chốc lát đã là một điều không dễ. Bọn tôi thèm những cơn say. Rất may, tôi có một anh bạn, phải nói là ông anh mới đúng, là Liên Đoàn Trưởng của một Liên Đoàn Biệt Động Quân, có căn cứ tại Biển Hồ. Vợ và hai đứa con bị chết thảm tại Quảng Đức hơn một năm trước, khi xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ còn làm người tình với rượu. Những ngày không bận hành quân, anh đến đón tôi đi uống rượu trong một cái quán nằm trong Khu Chợ Mới, đã vậy mỗi khi trở về, anh còn dúi cho tôi một chai Hennessy. Trước kia anh từng là một cấp chỉ huy có tiếng trong binh chủng này, nhưng vì bản tính ngang bướng bất cần, nên nhân một lý do phe phái chính trị nào đó, anh bị ngồi tù một thời gian ngắn. Ra tù, anh bị thuyên chuyển về đơn vị tôi với cái lệnh “không được giữ bất cứ chức vụ chỉ huy nào”. Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ, an ủi anh và kéo anh về ở chung nhà trong khu cư xá, vợ tôi lo chuyện cơm nước cho anh. Một thời gian sau, bỗng dưng anh được xét cho “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một liên đoàn Biệt Động Quân. Do cái ân tình đó mà anh quý mến tôi, kéo tôi theo các cuộc giải sầu này.

Dường như ngoài quán rượu ra, thỉnh thoảng anh chỉ ghé đến thăm một cô nhi viện. Nói là viện nhưng thực ra đây chỉ là một ngôi trường cũ, được chỉnh trang lại, tạm đáp ứng nhu cầu cần thiết cho một trại cô nhi. Có lẽ anh muốn tìm lại bóng dáng của hai đứa con đã phải chết oan một cách đau đớn qua hình ảnh các cháu cô nhi mà đa số là con của tử sĩ, có cả con của những người lính Biệt Động Quân của anh, mà cả người mẹ cũng chết, hay vì một lý do nào đó không có khả năng nuôi dưỡng, nên đành phải gởi lại nơi đây, nương nhờ vào bàn tay và tấm lòng nhân ái của những bà sœur. Anh bảo là từ sau trận chiến Tân Cảnh và Kontum, cô nhi viện này nhận thêm khá nhiều cô nhi. Hằng tháng, anh ghé lại đây thăm và tặng cho viện một số tiền, bởi bây giờ anh sống độc thân, không còn phải chu cấp cho ai. Biết điều này, tôi càng kính quí anh hơn. Một người ngang tàng không biết sợ ai, sống bất cần đời, nhưng bên trong là cả một tấm lòng vị tha nhân ái.

Một hôm theo anh đến đây, chúng tôi được một bà sœur ra tiếp và mời vào văn phòng uống trà. Anh bạn tôi thì đã là người quen biết từ lâu, trong cách giao tiếp, anh được các sœur xem như một ân nhân bảo trợ, chỉ có tôi là người lạ. Nhưng khi chào tôi, sœur bảo thấy tôi giống một người thân quen nào đó. Còn tôi, thì cũng mơ hồ như đã từng gặp người nữ tu này ở đâu rồi. Cũng có thể vì khuôn mặt khả ái, hiền thục của sœur phảng phất gương mặt của Đức Mẹ Maria mà tôi thường thấy trên các bức ảnh hay bức tượng trong các nhà thờ. Được giới thiệu là sœur Anna, tôi biết đây chỉ là tên thánh của bà. Khi tôi vừa ngồi xuống phía đối diện, sœur nhìn chăm chú vào cái bảng tên của tôi trên nắp tùi áo, bỗng mắt sœur như sáng lên:

– Có phải lúc trước đại úy ở Tiểu Đoàn 3/44?

Tôi khựng lại, ngạc nhiên:

– Dạ, đúng là trước kia có mấy năm tôi ở tiểu đoàn này. Nhưng cách nay đã 6, 7 năm rồi!

– Đại úy còn nhớ trận Quảng Nhiêu. Hình như đại úy suýt chết trong trận ấy?

Tôi càng ngạc nhiên hơn, không hiểu tại sao người nữ tu này biết rõ mình như thế. Tôi vừa trả lời vừa nghĩ ngợi, thăm dò:

– Dạ đúng, nhưng sao sœur biết. Chuyện đã xảy ra lâu lắm rồi mà.

Sœur Anna không trả lời mà hỏi lại tôi:

– Đại úy thoát chết, nhưng người nằm hố bên cạnh thì bị nguyên một quả đạn súng cối 60 hay 80 gì đó, phải không?

Tôi giật mình, từ ký ức hiện ra rất nhanh hình ảnh hãi hùng này, và ngay lúc ấy, trước mắt tôi sœur Anna cũng phảng phất bóng dáng của một người con gái khác.

***

Vào khoảng đầu mùa hè năm 1966, tôi đang làm đại đội phó Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 3/44. Thời gian này hậu cứ tại Ban Mê Thuột, nhưng tiểu đoàn được chọn làm đơn vị trừ bị lưu động cho Sư đoàn và Khu 23 Chiến Thuật. Thời ấy chưa có các đại đội trinh sát. Đơn vị tôi có mặt gần như trên khắp lãnh thổ Khu 23 Chiến Thuật, kéo dài từ vùng cao nguyên có biên giới với Cam Bốt cho đến tận miền duyên hải. Có khi hôm trước còn hành quân ở Quảng Đức, Lâm Đồng, hôm sau lại có mặt ở Bình Tuy, Tuy Hòa, Phan Thiết…

Một hôm, sau cuộc hành quân dài hạn ở khu Cà Ná, thuộc tỉnh Ninh Thuận, tiểu đoàn được lệnh di chuyển về Cam Ranh, vừa nghỉ dưỡng quân vừa giữ an ninh các đảo ngoài khơi để lực lượng Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân xuống đây thiết lập căn cứ.

Trong một đợt bổ sung quân số, đại đội tiếp nhận ba hạ sĩ quan và gần hai mươi tân binh vừa rời khỏi quân trường. Tôi đến bộ chỉ huy tiểu đoàn nhận lãnh và đưa về trình diện anh đại đội trưởng. Trong ba trung sĩ, một anh có dáng dấp, nói năng hiền lành như một thầy tu. Xem qua lý lịch và nhất là sau khi nói chuyện, tôi biết anh là thầy giáo một trường dòng và cũng là trưởng ca đoàn của một nhà thờ ở ngoại ô thành phố Nha Trang, quê hương tôi. Tôi không phải là người Công giáo, nên không mấy am tường các sinh hoạt này, nhưng biết chắc một điều, trưởng ca đoàn phải là một người hát hay và giỏi về nhạc lý. Vốn có máu văn nghệ, lại là người đồng hương, nên tôi dễ thân tình và thường bắt anh hát cho cả đại đội nghe. Tôi đề nghị anh đại đội trưởng cho anh làm Hạ Sĩ Quan Tâm Lý Chiến của đại đội. Từ đó chúng tôi rất thân nhau, ăn cơm chung và treo võng ngủ gần nhau dưới một vòm cây dương liễu.

Thấy anh có cái tên hơi lạ, Nguyễn Phú Hùng Em, tôi đoán và hỏi anh có phải anh có người anh tên Nguyễn Phú Hùng Anh. Anh cười mà nét mặt không vui:

– Dạ, đúng là có một người là Nguyễn Phú Hùng Anh, nhưng không phải là anh ruột. Chúng tôi lớn lên trong viện mồ côi, vì trùng tên, và anh ấy lớn hơn tôi ba tuổi, nên các sœur đặt lại tên chúng tôi như thế. Bọn tôi cũng rất thân nhau và xem như anh em. Điều buồn, là anh ấy đi lính trước, vào Trường Sĩ QuanThủ Đức và tử trận cách nay hơn một năm rồi.

Thời gian này, đơn vị chúng tôi rất may mắn, chẳng khác nào được đi nghỉ mát. Hải đảo lại là nơi thực tập cho các toán Biệt kích của Trung Tâm Huấn Luyện Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Bà Thìn, nên khá an toàn. Suốt ngày bọn tôi chỉ tắm biển, câu cá, ban đêm nằm nghe sóng vỗ, đàn hát nghêu ngao. Có lẽ đây là thời gian đặc biệt thoải mái nhất trong cuộc đời làm lính của tôi. Nhân cơ hội hiếm hoi này, ông Tiểu đoàn trưởng cho phép binh sĩ được luân phiên đón vợ con ra thăm và được ở lại trong hai tuần lễ.

Một hôm anh Trung sĩ Hùng Em xin tôi cho được đón người yêu mà anh cho biết, nếu anh không bị động viên thì chắc hai người đã làm đám cưới. Tôi sắp xếp, dọn sang nằm với người lính ô-đô và nhường chiếc võng lại cho anh. Cả bọn tôi khá bất ngờ khi anh đưa người yêu đến chào. Là một cô con gái đẹp, làn da trắng, khuôn mặt phúc hậu, đôi môi mọng đỏ với nụ cười hiền lành, lễ độ. So với anh, cô còn khá trẻ. Cô có cái tên cũng rất khả ái: Thụy Khanh. Đặc biệt còn có giọng hát rất hay. Mỗi lần cô hát, cả đám lính tráng bọn tôi ngồi nghe mê mẩn.

Sau đó, cô đến đảo thăm anh vài lần nữa. Những ngày có cô, núi rừng trên đảo dường như bỗng trở nên đẹp, thơ mộng và vui vẻ hơn, sóng biển thì êm ả hơn như để cùng hòa theo tiếng hát của cô. Ngoài ra cô còn có tài nấu ăn, thường đãi bọn tôi những bữa cơm rất ngon miệng. Tất cả đơn vị, từ quan tới lính ai cũng nghĩ anh Trung sĩ Hùng Em thật là tốt phước, ông trời đã cho anh một người tình, một người vợ lý tưởng sau này. Qua tâm tình, chúng tôi được biết, hai người quen biết nhau trong viện mồ côi từ khi còn rất nhỏ. Sau này anh vừa là thầy dạy học, dạy nhạc vừa là trưởng ca đoàn của cô trong cùng một nhà thờ. Hai người đều chơi dương cầm và hát hay nhất trong ca đoàn. Tình yêu bắt đầu nẩy nở từ môi trường cô nhi và âm nhạc. Và cuộc tình của hai người được các vị linh mục cùng các sœur đồng tình, khuyến khích, như là một sự kết hợp nhiệm mầu của Thiên Chúa.

Hơn ba tháng thần tiên ở đảo Cam Ranh, khi các đơn vị tiền trạm của Hoa Kỳ được ào ạt đổ xuống thành lập “Cam Ranh Air Base”, tiểu đoàn tôi có lệnh rời khỏi đảo, di chuyển để tiếp tục lưu động khắp nơi. Lâm Đồng, Bình Thuận rồi Ninh Thuận, Sau những cuộc hành quân dài hạn trong rừng, mỗi lần đơn vị được về phố ít ngày hoặc đóng quân trong các làng mạc nằm khu ngoại ô, chúng tôi lại thấy người con gái xinh đẹp Thụy Khanh đến thăm và ở lại với người yêu. Đó là một đôi tình nhân gắn bó, đẹp và lãng mạn nhất mà bọn tôi chứng kiến, và có lẽ ai cũng thèm thuồng có được một hạnh phúc như thế.

Tháng bảy năm 1966, khi đơn vị nghỉ quân ở Tháp Chàm – Phan Rang, Trung sĩ Hùng Em xin một tuần phép đặc biệt để về Nha Trang làm đám hỏi. Anh bảo cả hai người đều không có cha mẹ anh em, nên lễ đính hôn đều do các vị linh mục và các sœur đỡ đầu tổ chức.

Đúng lúc anh vừa mãn phép trở lại, thì đơn vị có lệnh không vận khẩn cấp lên Ban Mê Thuột để tiếp viện cho một đơn vị Biệt Động Quân và Thiết Giáp bị thiệt hại khá nặng tại trận chiến Quảng Nhiêu, nằm phía Tây Bắc, cách thành phố Ban Mê Thuột khoảng hơn mười cây số. Trận chiến khá cam go, ác liệt. Một lực lượng địch cấp trung đoàn, sau khi tổ chức phục kích gây tổn thất cho chi đoàn Thiết Quân Vận và một đại đội Biệt Động Quân tùng thiết, bọn chúng đào nhiều giao thông hào và hầm hố cá nhân kiên cố trong các vườn cà phê, để chặn đánh các cánh quân của ta tiếp viện. Tiểu đoàn tôi cùng một chi đoàn Thiết Vận Xa khác được tăng phái cho Trung Đoàn 45, đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Võ Văn Cảnh, đảm trách cuộc hành quân phản công, bao vây tiêu diệt địch.

Địch chiếm ưu thế về vị trí, chuẩn bị trận địa, bên ta có sức mạnh của thiết giáp và không yểm. Sau suốt năm ngày đêm không ngủ, lăn mình trong mịt mù lửa đạn quần thảo với địch, cuối cùng chúng tôi đã đạt được chiến thắng. Một số lớn địch quân bị tiêu diệt và bắt sống, nhưng bên ta cũng phải trả một cái giá không nhỏ. Đại đội tôi may mắn, chỉ có ba quân nhân tử trận và khoảng mười người bị thương, trong đó có anh đại đội trưởng. Tôi được chỉ định tạm thời chỉ huy đại đội.

Cuộc hành quân vẫn chưa kết thúc, một số đơn vị tiếp tục truy kích địch, riêng tiểu đoàn tôi được lệnh ở lại Quảng Nhiêu. Ban ngày tung các cuộc hành quân tảo thanh chung quanh, ban đêm phòng thủ bảo vệ khu vực dân cư, mà đa số là người Công giáo, đề phòng địch quay lại quấy rối, phục thù. Đại đội tôi được chỉ định bảo vệ một Pháo đội Pháo Binh 105 ly. Điều tồi tệ là vị trí Pháo đội này nằm trên một khu đất trống trải, trong phòng tuyến và cả phía bên ngoài cũng không có một cành cây, dưới đất chỉ toàn là bụi đỏ, dày cả một gang tay. Mỗi lần Pháo binh tác xạ, cả đất trời gần như chỉ toàn là bụi. Đám lính chúng tôi từ đầu tới chân cũng phủ đầy bụi đỏ. Đơn vị Pháo Binh thì đã có sẵn hầm hố kiên cố từ trước, còn đại đội tôi phải tự đào lấy những hố cá nhân, nhưng không thể đào sâu được, vì dưới đất chỉ toàn bụi và bụi, đào đến đâu bụi đỏ tràn theo tới đó, và mỗi lần Pháo Binh tác xạ, những cái hố này bị bụi lấp cạn thêm. Ban đêm, chúng tôi nằm trong những chiếc hố ấy, nhưng không che đủ nửa thân người. Cái hố của tôi dành cho hai người nằm, tôi và anh Hạ sĩ mang máy truyền tin. Hố kế bên trái là Trung sĩ Hùng Em và anh lính ô-đô của tôi.

Một hôm, khoảng hai giờ sáng, khi tôi đang ngủ chập chờn, bỗng một tiếng nổ chát chúa ngay bên cạnh, mảnh đạn và bụi phủ đầy người, tôi bật dậy chụp vội cây súng chạy ra hàng rào phòng thủ, nơi vọng gác có đặt khẩu đại liên. Rờ nắn vội qua khắp người xem có thương tích gì không, tôi thở phào vì không thấy dấu hiệu đau đớn nào, nhưng khi các trái sáng bắn lên, nhìn bụi đỏ phủ đầy người tôi giật mình cứ ngỡ là máu. Địch quân đã pháo kích chúng tôi hơn 10 quả bằng hai khẩu súng cối 61 ly từ hai địa điểm khác nhau. Pháo Binh đã phản pháo chính xác làm bọn chúng câm họng. Khi tình hình ổn định, trở về hố, tôi bàng hoàng nghe anh lính ô-đô báo là Trung sĩ Hùng Em đã chết. Anh đã lãnh nguyên một quả đạn 61 ly, rớt ngay sát bên cạnh, ruột đổ ra ngoài và thân thể nhuộm đầy máu. Điều kỳ lạ, là anh lính ô-đô của tôi nằm ngay một bên mà không hề hấn gì, chỉ có áo quần dính đầy máu và thịt của người đồng đội xấu số. Tôi theo hai người lính khiêng thi thể Trung sĩ Hùng Em, được gói tạm trong tấm poncho, vào hầm cứu thương của Pháo Đội. Anh chết thật thê thảm. Tôi đứng lặng người, sau khi vuốt đôi mắt cho anh. Từ khi ấy cho đến sáng, tôi không hề chợp mắt. Tôi nghĩ đến Thụy Khanh, cô con gái xinh đẹp hiền thục, có giọng hát khuấy động cả trái tim người, vừa trở thành vị hôn thê của anh chỉ mới hai tuần trước. Trưa hôm qua, khi rủ nhau vào thăm ông cha xứ trong xóm đạo và để xin được tắm giặt ở cái giếng sâu phía sau nhà thờ, anh đã khoe tôi tấm hình anh chị chụp chung trong lễ đính hôn, và bảo rằng cuối năm này hai người sẽ làm đám cưới. Anh còn nói nhỏ với tôi, ông cha xứ của anh hứa sẽ giới thiệu anh với vị Linh mục Tuyên Úy của Sư Đoàn để xin anh về làm ở Phòng Tuyên Úy, vì hai ngài là bạn tu với nhau và được thụ phong cùng một ngày.

Nhớ tới hai khuôn mặt hiền lành với nụ cười rạng rỡ trong tấm hình đính hôn, lòng tôi se lại. Chiến tranh tàn ác quá, đã chia ly biết bao nhiêu người, và làm dang dở biết bao mối tình đẹp đẽ như anh Hùng Em và cô gái Thụy Khanh. Tôi bỗng chạnh lòng, nhớ tới người yêu, cũng là vị hôn thê của chính mình, hằng đêm cầu nguyện cho tôi, từ một thị trấn nhỏ, mà giờ đây đang xa tít mịt mùng.

Một năm sau đó, tôi được nghỉ mười lăm ngày phép về Nha Trang làm đám cưới. Nhớ đến Hùng Em, tôi rủ vợ cùng tìm đến nhà thờ gần khu Đồng Đế để hỏi thăm tin tức về nơi chôn cất anh. Chúng tôi được một vị linh mục trẻ đón tiếp niềm nở và hướng dẫn đến thăm mộ Hùng Em, nằm trong một nghĩa trang nhỏ của giáo xứ, gần biển. Từ đó, tôi có thể nhìn thấy Hòn Chồng, nơi chôn giấu nhiều hang động của tuổi thơ tôi. Đọc trên tấm bia, tôi thấy tên người lập mộ được ghi vỏn vẹn hai chữ: Thụy Khanh.

Nhớ tới người con gái xinh đẹp, phúc hậu, có giọng hát rất hay ấy, tôi hỏi vị linh mục:

– Thưa cha, chị Thụy Khanh, vị hôn thê của anh Hùng Em có khỏe không, và bây giờ chị đang ở đâu?

Vị linh mục buồn bã:

– Chị ấy đã di chuyển đến một nơi khác, khoảng ba tháng sau khi anh Hùng Em qua đời, nhưng thi thoảng chị có ghé về đây ít hôm thăm giáo xứ và viếng mộ anh ấy.

Tôi không dám tò mò thêm nữa. Cám ơn cha và đưa ngài về lại nhà thờ rồi xin phép cáo từ.

Sau đó, cuộc chiến ngày càng khốc liệt, tôi theo đơn vị hành quân liên miên, bao nhiêu lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Người lính chiến, chuyện sống chết chỉ tùy vào số mệnh, không ai có thể tránh được lằn tên mũi đạn. Đồng đội tôi đã có biết bao người ngã xuống. Có những cái chết còn thê thảm hơn cả cái chết của anh Trung sĩ Hùng Em lúc trước. Tôi đã chứng kiến cảnh một người vợ trẻ ngất xỉu khi đến nhận xác chồng mà không tìm thấy cái đầu, một bà mẹ đã lăn đùng ra chết ngất khi thi thể đứa con hy sinh chỉ còn lại một phần và bà không thể nhận diện được con mình. Những khủng khiếp của chiến tranh sau này, cùng với thời gian, dần dà làm tôi tạm quên nhiều chuyện đau đớn cũ.

– Ông Trung úy Điệp, người Huế, làm đại đội trưởng lúc ở ngoài Cam Ranh, bây giờ ra sao rồi, đại úy?

Câu hỏi của sœur Anna làm tôi giật mình, trở về thực tại:

– Dạ, anh Điệp đã chết lâu rồi. Anh tử trận tại Thiện Giáo – Phan Thiết, chỉ sau hai tuần làm đám cưới với cô giáo Diệu, cũng người Huế, nhưng sống ở Ninh Hòa. Hai người quen nhau khi đơn vị tôi về thụ huấn bổ túc tại TTHL Lam Sơn. Không ngờ sœur vẫn còn nhớ tên anh ấy.

Sœur cúi xuống, trầm ngâm giây lát. Khi ngước lên, bà lấy khăn tay lau nước mắt.

– Tôi và anh Hùng Em cũng làm đám hỏi đúng hai tuần. Cô giáo Diệu nào đó không biết may mắn hay là bất hạnh hơn tôi khi đã được làm vợ, cũng chỉ mới hai tuần?

Vừa nói xong, sœur vội vàng nói lời xin lỗi, bảo đúng ra, một người đi tu, không nên suy nghĩ đến những điều như thế.

Bốn tháng sau lần gặp gỡ bất ngờ đó, tôi đến thăm cô nhi viện môt lần nữa, nhưng lần này, tôi cùng đi với cô trung úy Trưởng Ban Xã Hội, để giới thiệu với sœur Anna, nhờ cô nhi viện tạm chăm sóc hai đứa bé, con của một anh chuẩn úy. Cả hai vợ chồng bị chết bởi đạn pháo ở Kontum. Sœur Anna rất vui vẻ, ân cần, sẵn sàng nhận giúp và bảo tôi bất cứ khi nào có dịp về Pleiku, nhớ ghé lại thăm. Chúng tôi cám ơn, biếu cô nhi viện một ít tiền, và hứa nhất định sẽ trở lại thăm sœur và hai đứa bé.

Nhưng rồi tôi đã không giữ được lời hứa ấy. Từ đầu năm 1973, sau khi Mỹ ký hiệp định Paris trên xương máu của người bạn đồng minh, những người lính VNCH đã phải chống đỡ làn sóng xâm lăng của Cộng sản phương Bắc, ồ ạt đưa đại quân, xe pháo vào quyết chiếm miền Nam, tôi đã cùng đồng đội miệt mài với chiến trường, súng đạn, mà sự viện trợ ngày một cạn dần, nên xương máu anh em lại càng đổ ra nhiều hơn nữa.

Ngày 11.3.75, Ban Mê Thuột thất thủ. Đơn vị tôi đang hành quân ở khu vực Tây Nam Pleiku, có lệnh kéo về Hàm Rồng để được trực thăng vận xuống Phước An, quân lỵ cuối cùng còn lại của tỉnh Đắc Lắc, nhằm tái chiếm Ban Mê Thuột, nơi có bản doanh Sư Đoàn và hậu cứ của đơn vị chúng tôi. Khi BCH Trung Đoàn và một tiểu đoàn cùng đại đội Trinh Sát vừa được đổ xuống Phước An thì Pleiku có lệnh di tản. Hai tiểu đoàn còn lại của chúng tôi phải di chuyển theo đoàn quân di tản trên Tỉnh Lộ 7B. Một kế hoạch triệt thoái tồi tệ đã đưa đến thất bại nặng nề bi thảm. Cả hai tiểu đoàn khi về đến Tuy Hòa chỉ còn lại một phần tư quân số, hai anh tiểu đoàn trưởng đã phải tự sát để không lọt vào tay giặc.

Cuối cùng, miền Nam cũng mất. Tôi và cả cha tôi đều bị tù đày khốn khổ. Cha tôi, tuổi già sức yếu, không đủ sức để chịu đựng bao đòn thù tra tấn, hành hạ, nên đã chết trong trại tù Đá Bàn vào tháng 6 năm 1976, còn tôi bị đày ải qua nhiều trại tù, từ Nam ra Bắc. Sau gần tám năm tôi được thả về để chứng kiến một quê hương nghèo khổ điêu tàn, vợ con nheo nhóc. Tôi quyết định vượt biên, dù có phải chấp nhận bao hệ lụy khôn lường. Tôi rủ vài người bạn tù cùng tổ chức vượt biển, trong số này có một anh bạn nguyên là sĩ quan Hải quân có nhiều kinh nghiệm hải hành. Nơi bọn tôi hẹn gặp gỡ là một cái quán nhỏ của gia đình người bạn tù khác nằm gần khu Hòn Chồng. Một hôm, sau khi bàn công việc và ăn uống xong, tôi bỗng nghĩ tới anh Trung sĩ Hùng Em, khi nhớ ngôi mộ của anh cũng nằm gần nơi này. Tôi nhờ anh bạn chở tôi đến đó. Vì nghĩa trang nhỏ, nên tôi dễ dàng tìm ra ngôi mộ của anh Hùng Em. Điều làm tôi sửng sờ là ngôi mộ nằm bên cạnh có tấm bia ghi đậm tên người quá cố: Sœur Anna Phan Thụy Khanh, được Chúa gọi về ngày 15.3.1975. Tôi không biết vì sao cô chết, chỉ còn nhớ thời gian này đã từng xảy ra cuộc di tản kinh hoàng trên Tỉnh Lộ 7B. Chúng tôi tìm đến nhà thờ với ý định hỏi thăm cha xứ, nhưng rất tiếc ngài đi vắng, trong nhà thờ chỉ có hai thiếu niên rất trẻ, không hề biết sœur Anna là ai. Khi rời khỏi nơi này, trong cái man mác buồn tôi bất chợt thấy vui vui, và buột miệng như để nói với chính mình:

- Cuối cùng thì hai người cũng được ở bên nhau.
Image Tôi chưa (và có lẽ không) có cơ hội nào để trở lại Pleiku. Ngày xưa, tôi chỉ ghé lại thành phố bụi đỏ này một đôi lần ngắn ngủi, như chỉ một thoáng chợt đến chợt đi, chưa hề làm quen với một “em Pleiku má đỏ môi hồng”nào. Ngoài Đồi Đức Mẹ, nơi đơn vị đóng quân một tháng, cả một tháng “gió lạnh mưa mùa”, tôi chỉ còn nhớ cái quán rượu trong Khu Chợ Mới, nơi anh bạn Biệt Động Quân đưa tôi đến để tìm những cơn say, và một ngôi trường được dùng làm cô nhi viện, nơi có sœur Anna xinh đẹp, đã gợi lại trong tôi hình ảnh của những đồng đội đáng mến mà vắn số như Nguyễn Phú Hùng Em. Tôi da diết nhớ đơn vị xưa, thời chúng tôi còn trai trẻ, nhớ từng khuôn mặt bạn bè đã nằm lại trên các chiến trường xưa hay đang lưu lạc muôn phương, tiếc thương cho cuộc tình đẹp của những người lính trẻ, lãng mạn, thơ mộng, nồng nàn nhưng sớm chia lìa đớn đau bởi cuộc chiến tranh oan nghiệt.

Phạm Tín An Ninh

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Re: QUÁN BIÊN THUỲ

Post by langbat »

Thắp nén hương lòng: Giữa núi rừng Việt Bắc.... Buồn !

(Viết để tưởng nhớ quý chiến hữu Quân, Cán, Chính VNCH đã gục chết tủi hờn và oan khiên trong lao tù khổ sai của bọn cộng sản vô nhân, và cũng để tuyên dương những người vợ lính VNCH, đặc biệt là chị quả phụ của cố Đại úy Cảnh Sát QG Trần Thiên Thọ Hải. ….)

… Tình hình sức khỏe anh em khi còn ở các trại do quân đội Việt cộng quản lý đã tồi tệ, thì nay càng tồi tệ hơn dưới sự hà khắc dã man của bọn công an, mà anh em tù quen gọi là bọn “chó vàng”. Tiêu chuẩn ăn uống thì bị bọn chúng cắt xén ăn bớt. Mỗi bữa ăn chỉ được một thìa cơm với hai khúc sắn tươi, hoặc gần chục lát sắn khô hay một chén sắn duôi (loại sắn được nạo thành sợi hay xắt thành cục phơi khô), vài muỗng canh đại dương (nước muối với vài cọng rau già), hoặc một vài miếng sắn được nấu với muối cho nhừ để làm canh. Họa hoằn, một đôi ba tháng vào các ngày lễ,

Tết thì được một chén cơm trắng với hai ba miếng thịt heo to bằng đốt ngón tay, hoặc một vài miếng thịt trâu từ một con trâu già đã không còn kéo cày nổi hay bị chết vì không chịu nổi cái lạnh mùa đông. Với chế độ ăn uống vô cùng thiếu thốn như vậy mà phải làm việc khổ sai cực nhọc, dẫn đến tình trạng kiệt lực, người nào cũng chỉ còn da bọc xương. Mỗi buổi chiều, hết giờ lao động, anh em tù cởi áo xuống ao tắm, trông như một bầy khỉ ốm đói tội nghiệp.

Tình trạng bệnh tật và không có thuốc men thật là đáng sợ, bệnh kiết lỵ, phù thủng và thổ huyết rất phổ biến. Đã có một số anh em chết mà anh em tù quen gọi là “quay đầu về núi” vì hầu hết tù nhân chết đều được chôn trên các sườn đồi.

Xin đơn cử một vài cái chết của vài anh mà tôi có dịp ở chung.

Thiếu Tá Hà Sỹ Phong, Phó Giám Đốc Đài Phát Thanh Tự Do, anh ở cùng đội với tôi, mấy ngày trước anh bị bệnh nên cho nghỉ ở nhà trực phòng, sau đó 2 ngày anh được mẹ ở miền Bắc lên thăm. Buổi tối anh cho tôi nửa chén cơm vắt và hai miếng thịt gà kho mặn, anh thì thầm tâm sự:

– Năm 54 tôi di cư vào Nam chỉ có một mình, ông bà cụ luyến tiếc tài sản không chịu đi, bố tôi bị đi tẩy não (tù cải tạo) trong đợt cải cách ruộng đất và chết trong tù, bây giờ mẹ tôi đã ngoài 70 tuổi lại phải đi thăm con ở tù. Đây là lần đầu gặp lại mẹ tôi sau hơn hai mươi năm xa cách.

Nói rồi hai hàng nước mắt anh lăn dài trên má. Tôi lí nhí cám ơn anh về món quà anh đã cho tôi. Sau gần 3 năm tù, đây là lần đầu tiên tôi được thưởng thức một món ăn quá sang trọng như vậy. Tôi xé từng sớ thịt, rồi lại liếm mấy ngón tay, tận hưởng cái hạnh phúc to lớn ấy rồi thiếp dần vào giấc ngủ.

Sáng hôm sau, khi ra khỏi phòng để điểm danh thì thiếu một người, tên thường trực thi đua (một tên tù được đưa lên phụ việc đóng mở cửa và kiểm soát anh em) đi vào thì phát hiện anh Phong đã mê man. Chúng tôi vội cõng anh lên trạm xá nhưng anh đã chết vài giờ sau đó.

Ít ngày sau lại đến anh Trung Tá Lạc, Phòng 2 Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II. Một buổi chiều sau khi lao động về, anh Lạc ghé sang khu tôi ở, móc trong túi ra một cái bánh chưng đưa cho tôi và nói:

– Hai cháu nó mới ra thăm, cả hai đều được đi dậy học lại và là “giáo viên tiên tiến” nên được cho ra thăm “lăng Bác”. Nó tìm lên thăm mua cho ít quà, chú dùng cái bánh chia vui với tôi, mấy ngày nữa các cháu sẽ lại lên thăm tôi lần nữa. Tôi đón cái bánh chưng to bằng cái bánh trung thu và lí nhí cám ơn anh rồi vội chia tay, vì sợ tụi cán bộ trông thấy sẽ ghép tôi quan hệ trái phép .v.v…

Quả thật, những lúc đói khát khó khăn thế này mới thấy cái tình dành cho nhau nó to lớn và sâu đậm. Nhưng rồi không may cho anh, hai hôm sau anh đã chết ngay tại hiện trường lao động không kịp gặp lại các con.

Giữa năm 78, vì đói khát suy dinh dưỡng, cộng thêm cơn sốt vàng da đã khiến tôi kiệt lực, thân thể chỉ còn trên 30kg. Tôi không còn bước đi được nữa, mà chỉ có thể bò được vài ba thước, tôi được đưa xuống trạm xá nằm trong “danh sách chờ”. Tại đây đã có anh Tư, anh là người hạm trưởng đã sang đến Singapore rồi lại quay về, anh bị bệnh phù thủng lại thêm phần ân hận vì đã quay về để rồi bị đi tù mút chỉ, nên chỉ ít ngày thì anh chết.

Rồi đến Trung Tá Mai Xuân Hậu, Tỉnh Trưởng Kontum, Thiếu Tá Đặng Bình Minh lái trực thăng cho Tổng Thống Thiệu, Trung Tá Lý. Dường như chẳng còn ai quan tâm đến cái chết, chả thế mà vẫn còn nói đùa: “Đ.M. mày qua mặt tao mà đíu bóp còi!”.

Cũng thời gian này, có một bài hát đã được anh sáng tác tôi vẫn còn nhớ được ít câu:

“Rồi một ngày mai không có anh, em không còn phải nhớ phải mong

– Rồi một ngày mai thân xác anh quay đầu về núi

– Cô đơn ngồi khóc một mình

– Không một lần kịp vuốt mắt anh

– Ôi mây lang thang về phía trời xa vời,

nhìn trông theo cánh chim từng đàn,

để mình ta với bao ngày tháng xanh rêu,

bụi thời gian lấp kín hồn mình,

đớn đau trong lòng mà nhớ về nơi xa,

ôi ngày về còn dài bao lâu

– Rồi một ngày mai anh chết đi, em không còn phải khóc phải thương

– Rồi một ngày mai thân xác anh đi vào lòng đất, cô đơn phủ kín đời mình.

– Không một lần kịp nói tiếng yêu.”

Nhưng rồi may mắn hơn, số tôi chưa tới, nên căn bệnh sốt vàng da không biết có phải nhờ ba cái lá ổi, lá xoan hay không, mà tự nhiên biến mất. Và may mắn thay, nhờ mảnh giấy tôi gửi lén về qua một chị ra thăm chồng, tuy bị tụi công an phát giác, nhưng chị cũng đã nhớ cái địa chỉ ở Biên Hòa, nên chị đã đi tìm báo cho gia đình tôi biết. Nhờ vậy, cuối năm 79, mẹ tôi và vợ con tôi ra thăm, tên Vinh, cán bộ giáo dục của trại, trước khi tôi ra gặp đã chỉ cho tôi gặp 5 phút vì tôi đã gửi lén thư, nhưng tên công an dắt tôi ra đã cho tôi gặp gần một giờ.

Gặp lại mẹ và vợ con sau hơn 4 năm chỉ biết khóc. Chỉ nói được vài câu thì đã hết giờ, tôi đứng dậy chào từ biệt, lòng buồn rã rượi, rồi chống gậy lom khom lết về trại, một tên tù hình sự được chỉ định giúp tôi đẩy cái xe cải tiến chở đồ thăm nuôi vào trại. Nhờ chuyến ra thăm này mà tôi dần dần hồi phục, lúc này mỗi tuần đều có một vài anh em “quay đầu về núi”. Cái đồi sắn ở phía đội 12 sau hơn hai năm đã có gần 300 anh em tù chính trị được chôn ở đó.

Gần tết năm 79, tôi chuyển sang đội 17 lâm sản, chuyên đi lấy củi để sử dụng cho bếp trại. Thời gian này, do áp lực của quốc tế, nên chúng buộc phải cho gia đình những người tù VNCH đi thăm nuôi, nên sức khỏe của đa số anh em đã dần dần hồi phục. Một số anh em “con bà phước” cũng được anh em đùm bọc, nên cái bóng thần chết đã bị đẩy lùi.

Hàng đêm tại các phòng, anh em lại tụ tập quanh ngọn đèn dầu với ấm trà cặm tăm, loại trà thật đặc được pha hoàn toàn bằng búp trà “hai tôm một tép” sao sấy cẩn thận, do anh em đội trà lén mang về. Các tay văn nghệ lại bắt đầu tổ chức ca hát nhạc vàng hàng đêm, khiến tụi cán bộ trại điên đầu, chúng bắt đầu cảm thấy hoang mang vì thấy tù càng bị nhốt lâu lại càng ung dung tự tại, không còn hoang mang lo sợ, lại thêm đám cán bộ nhí bắt đầu bị anh em tù thu phục.

… Anh em đã san sẻ thuốc men cho dân ốm đau trong vùng, khi đi lao động ngoài Bến Ngọc. Anh em thường gọi đây là công tác dân sự vụ. Một buổi tối cuối năm, sau khi đã điểm danh vào phòng, anh em đang tụ tập đàn hát như thường lệ, lúc kẻng báo tắt đèn đến giờ ngủ thì tên cán bộ trực tại trại đến cửa phòng nói vọng vào yêu cầu Phan Thanh đội trưởng lâm sản cử 4 người đi “lao động đột xuất”. Thanh, Diệp, Tân và tôi mặc quần áo cho thật ấm và cũng không quên mang theo tấm nylon đề phòng mưa, vì mùa đông miền Bắc thật lạnh, lại thường có mưa phùn.

Chúng tôi được lệnh xuống chỗ đội 12 lấy cuốc xẻng và thùng xách nước bỏ lên xe cải tiến đi về phía khu nhà tiếp tân. Tên cán bộ đi theo đưa cho tôi cái đèn bão leo lét. Ngang khu nhà tiếp tân thì đã thấy một thiếu phụ trong bộ đồ tang trắng đang đứng đợi.

Dường như đã được sắp xếp, người thiếu phụ lặng lẽ đi theo, tên cán bộ ra lệnh cho chúng tôi đi ra khu nghĩa địa. Đến nơi, hắn bảo chúng tôi đi tìm mộ của Trần Thiên Thọ Hải. Chúng tôi nhớ ra Đại Úy Hải đã chết vào đợt những anh em đầu tiên năm 1977, như vậy là nằm ở sâu trong cùng sát chân đồi. Sau gần 15 phút, chúng tôi đã tìm được ngôi mộ của anh với tấm bia chỉ nhỏ bằng tờ giấy học trò ghi lờ mờ, còn nắm đất thì chỉ cao hơn mặt đất chừng một tấc.

Chúng tôi được lệnh là đào để bốc cốt cho chị mang về trong Nam. Việc đầu tiên là tìm một ít cành khô để đốt một đống lửa sưởi ấm và lấy ánh sang. Chị bắt đầu lấy ra môt bó nhang đốt lên rồi quỳ xuống vái ba lạy. Cầm nguyên bó nhang chị thổn thức khóc và nằm phủ phục lên ngôi mộ. Dưới ánh lửa tôi thấy thiếu phụ còn rất trẻ chỉ khoảng dưới 30, nét mặt xương xương.

Chúng tôi đứng lặng yên tôn trọng nỗi đau của chị, cho đến khi tên cán bộ yêu cầu chúng tôi “khẩn trương” bắt tay vào việc, vì trời đã lâm râm mưa phùn. Chúng tôi dìu chị đứng dậy sang bên cạnh và bắt đầu đào. Chỉ không đầy 20 phút, chúng tôi đã đụng lớp ván đã mục, vì khi tù nhân chết thì chỉ được bỏ vào cái quan tài nhỏ vừa khít người được đóng bằng loại gỗ bạch đàn hay bồ đề, một loại cây được trồng để làm giấy, nên rất nhẹ xốp, được xẻ thành từng thanh và đóng hở như cái vạt giường, nên thấy cả xác nằm bên trong và đám tù hình sự khi đi chôn thì chỉ đào sâu khoảng 4 tấc rồi vùi lấp qua loa.

Gỡ lớp ván trên mặt, bên trong là bộ quần áo tù đã rữa nát. Tôi đi xách một thùng nước ở dưới ruộng để rửa cho sạch đất, người thiếu phụ cũng đã lấy ra một cái thau nhựa và đổ vào đó một ít rượu. Chúng tôi cẩn thận nhặt từng cái xương rũ cho bớt đất, rửa cho sạch rồi trao cho chị. Chị cầm từng cái rửa trong rượu, rồi bỏ vào cái bịch nylon hai lớp. Chị đưa cho chúng tôi mỗi người một gói thuốc Tam Đảo rồi vừa làm chị vừa tâm sự:

– Giữa năm 79, em có xin phép ra thăm, nhưng khi đến trại thì họ nói là không có anh Hải ở đây, nhưng ít tháng sau thì em được tin anh Hải đã chết từ năm 77, do một chị bạn ra thăm chồng về cho biết.

Như vậy là họ đã dấu nhẹm không báo cho gia đình. Mới đây, một người mách bảo cho em ra Bộ Nội Vụ ngoài Hà Nội làm đơn xin bốc cốt. Sau mấy lần làm đơn, cuối cùng họ đã phải cho. Nhưng khi đến đây thì họ chỉ cho làm vào ban đêm và sau khi xong, họ không cho em ở lại nhà tiếp qua đêm với lý do là ô uế.

Sau gần một giờ, thấy có thể đã không còn sót cái xương nào, chúng tôi bảo chị để tránh rắc rối chị không nên mặc bộ đồ tang này. Chúng tôi lấy bộ quần áo tang quấn quanh cái bao nylon đựng cốt bỏ vào cái bị cói lớn rồi lấy sợi dây chuối khô khâu miệng lại để không ai nhìn thấy.

Trên đường về trại, lúc đến chỗ rẽ, chị lý nhí vừa thổn thức khóc vừa cám ơn rồi dúi vào tay chúng tôi mấy gói thuốc còn lại. Nhìn người thiếu phụ tay xách cái bị cói đựng cốt chồng, lặng lẽ đi trong đêm, trên con đường rừng cô quạnh, khiến chúng tôi vô cùng thương cảm, ngậm ngùi, đứng trông theo. Bỗng, sự uất ức trào lên rồi không nén lại được, tôi thốt lên trong kẽ răng:

– Đ.M.! Rồi có ngày chúng mày sẽ phải trả giá cho hành động này! Chúng mày sẽ bị quả báo!

Chúng tôi đi vào theo cửa hông của cổng trại, rồi lặng lẽ đi về phòng. Tên thường trực thi đua đã đứng đợi sẵn để mở cửa.

Đã quá nửa đêm, cái lạnh của núi rừng Việt Bắc đã thấm sâu vào người, nằm co quắp dưới lớp chăn mỏng, tôi thầm ái ngại cho số phận của người đàn bà bất hạnh.

Chị mang hài cốt chồng đi giữa đêm trời giá lạnh rét mướt của vùng rừng núi Việt Bắc; như người vợ, người mẹ Việt Nam đang phải oằn mình mang nặng nỗi đau, nỗi bất hạnh của cả một dân tộc đi trong đêm tối bão bùng về một phương vô định…

Ôi, Dân Tộc tôi sao lắm nỗi đọa đày !!!

ĐTH

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Re: QUÁN BIÊN THUỲ

Post by hoangphong »

Image

TRẬN ĐÁNH THÁNG 3/75 QUÂN KHU I.
MX Phạm Vũ Bằng.
(Viết cho mùa Đại Tang).
Từ trên 10 năm nay, tôi đã khuyến khích các đồng đội TQLC viết một bài hồi ký tương tự như bài này, nhưng tiếc thay họ là những quân nhân thuần túy coi trọng kỷ luật quân đội không muốn phê bình thượng cấp cho nên họ đã im lặng…Tôi lại có cơ duyên trong tháng 3/1975 đã theo đơn vị chiến đấu từ Bắc đến Nam tỉnh Quảng Trị-Nam Thừa Thiên-Đà Nẵng, trên mỗi bước đi tôi đều đã ghi chép vào quyển nhật ký hành quân mà tôi còn giữ cho đến bây giờ, ngoài ra Đại Úy Nguyễn Quang Đan-Chánh Văn Phòng Tư Lệnh TQLC- là bạn học của tôi thời niên thiếu, ông đã cho tôi biết nhiều chi tiết, và rất đặc biệt là trong những năm cuối đời của Thiếu Tướng Tư Lệnh TQLC Bùi Thế Lân, tôi đã là bác sĩ riêng của Ông, chính Ông đã cho tôi biết những chi tiết của Trận Đánh Tháng 3/75 Quân Khu I và khuyến khích tôi viết ra. Ngoài ra xin chân thành cám ơn Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và các chiến hữu trong và ngoài binh chủng đã kiên nhẫn trả lời những thắc mắc liên quan đến bài viết của tôi.

Sau mấy tháng làm Địa Phương Quân "trấn thủ lưu đồn" tại xã Triệu Phong, Đông- Bắc tỉnh Quảng Trị, TĐ9/TQLC di chuyển tới làng Gia Đẳng-Quảng Trị để dưỡng quân. Gia Đẳng là một làng đánh cá ven biển vì vậy khí hậu ấm áp khô ráo khiến chúng tôi thoải mái hơn là tại Triệu Phong, tuy nhiên một tuần lễ sau, khoảng đầu tháng 3/1975 tôi nhận lệnh thuyên chuyển về Bệnh Viện Dã Chiến Sư Đoàn TQLC và bàn giao chức Trung Đội Trưởng QY TĐ9/TQLC cho một bác sĩ mới ra trường.

Vì không thích về Bệnh Viện Dã Chiến Sư Đoàn TQLC và hơn nữa vì cảm nhận được tình hình chiến trận đã đến lúc căng thẳng, tôi tình nguyện về Đại Đội Quân Y Lữ Đoàn 258/TQLC và được tạm thời bổ nhiệm làm y sĩ điều trị tại Lữ Đoàn này vào ngày 08/3/1975 mà không ngờ tôi sắp bước vào một cuộc gió tanh mưa máu đang ập đến toàn thể Quân Đoàn I.

Ngày 8/3/1975, tôi trình diện Đại Đội Quân Y Lữ Đoàn 258/TQLC, đại đội này đóng chung với Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 258/TQLC tại làng Mỹ Thủy- Quảng Trị. Làng Mỹ Thủy tọa lạc tại phía Nam Gia Đẳng mấy cây số, cũng giống như tất cả các làng đánh cá ven biển tỉnh Quảng Trị, làng này có những hàng dương liễu yểu điệu trong gió, cát trắng, biển xanh hiền hòa, nước trong nhìn tận đáy, nếu không có chiến tranh thì nơi đây sẽ là một điểm du lịch nên thơ, chỉ huy Đại Đội Quân Y là Y Sĩ Đại Úy Nguyễn Lê Minh, dưới quyền ông là BS Nhi và BS Duy. Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 258/TQLC là Đại Tá Nguyễn Năng Bảo, Lữ Đoàn Phó Trung Tá Huỳnh Văn Lượm, nguyên Tiểu Đoàn Trưởng TĐ9/TQLC của tôi.
Phòng thủ tỉnh Quảng Trị lúc đó gồm có:

- Phía Bắc có Lữ Đoàn 369/TQLC.
- Phía Tây có Lữ Đoàn 147/TQLC.
- Phía Đông là Lữ Đoàn 258/TQLC.

Ngày 8/3/1975, Trung Đoàn Bình Trị Thiên Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) tấn công một vị trí của của Tiểu Đoàn 4 TQLC- Đồi 51 phía Tây Bắc Sông Bồ, đồng thời một lực lượng Việt Cộng (VC) khác uy hiếp ấp Hiền Lương khoảng 2 cây số Tây Bắc Mỹ Chánh, sáng hôm sau, ngày 9/3/1975, Tiểu Đoàn 4 TQLC và Thiết Kỵ phản công, chỉ trong một buổi sáng, hai lực lượng CSBV bị đẩy lụi, chạy trốn về phía núi để lại hơn 100 xác chết cùng vũ khí, phe ta có 10 TQLC hy sinh, hôm đó chúng tôi đứng tại cổng Lữ Đoàn 258/TQLC để xem Thiết Kỵ xuất quân buổi sáng, cứ tưởng sẽ có một trận đánh gây cấn không ngờ buổi trưa đã thấy họ đi về.

Ngày 13/3/1975, được tin Ban Mê Thuột thất thủ, tôi buồn bực đi lên BCH/LĐ thì gặp Trung Tá Huỳnh Văn Lượm, ông mời tôi ăn trưa và tâm sự:

-“Cái” chiến lược đem 2 Sư Đoàn Tổng Trừ Bị ra Quân Khu I để giữ đất không khá được, VC gom quân để đánh chỗ này chỗ khác mà Tổng Trừ Bị lại bị giam tại Quân Khu I cho nên ta mất Phước Long và Ban Mê Thuột, đất QK I có mất một phần mà quân còn thì mình chiếm lại được, quân mất thì làm sao giữ đất!”.

Trầm ngâm rồi Tr/Tá Lượm giải thích thêm:

-“Hai SĐ Dù và TQLC có hậu cứ tại Saigon và Thủ Đức nơi gần phi trường và hải cảng, nếu VC tập trung quân đánh ở bất cứ nơi nào tại Miền Nam thì chỉ vài ngày đến 1 tuần là cả 2 SĐ có thể tăng viện cho vùng đó. Từ sau năm 1972 cả 2 Sư Đoàn Dù và TQLC bị giam tại Quân Khu I vì vậy khi VC đánh Phước Long tháng 12/74 và Ban Mê Thuộc 3/10/75 mình không có quân Tổng Trừ Bị tiếp viện cho nên mất 2 nơi này”.

Ông tiếp:

-“Sử dụng Tổng Trừ Bị như Địa Phương Quân làm tinh thần chiến đấu binh sĩ sa sút, hơn nữa Tổng Trừ Bị đang ở thế chủ động trên chiến trường trở thành thế bị động trên những cứ điểm mà địch biết rõ, và khi một đạo quân đã căng ra để giữ đất muốn rút đi tiếp viện một chỗ khác thì rất khó vì địch sẽ truy kích, cản đường nhiều khi không rút được, mình đã bị trúng kế “diệu hổ ly sơn” rồi!”.

Trung Tá Lượm còn nói về nhiều vấn đề khác nhưng không liên quan đến bài viết này, riêng câu “mình bị trúng kế điệu hổ ly sơn rồi” làm tôi suy nghĩ suốt 40 năm qua, không biết ai là kẻ tung kế này!?

Trong những năm 1966, 1967, 1968 CSBV mỗi năm đều tung quân ra quấy phá Quân Khu I, chúng đã bị các đơn vị Tổng Trừ Bị Dù và TQLC từ hậu cứ tại Saigon và Thủ Đức tới Quân Khu I trong thế chủ động đánh đuổi chúng vào rừng núi, sau chiến thắng Tổng Trừ Bị rút về hậu cứ để nghỉ và bổ xung quân số và sẵn sàng cho những trận chiến khác.

Năm 1968 (Mậu Thân) chúng đánh lớn và thua lớn, thiệt hại nặng nề. Theo wikia.org thì trong năm 1968 có 181.149 tên VC và CSBV bị giết, khiến chúng phải dưỡng quân 3 năm, đến năm 1972 CSBV gom góp đám thanh niên mới lớn tại Miền Bắc rồi nướng trên 100.000 quân trong trận 1972 Mùa Hè Đỏ Lửa tại Miền Nam.

Tóm lại từ 1966 đến 1972 với chiến pháp Tổng Trừ Bị sẵn sàng tại hậu cứ chờ quân CSBV xuất đầu lộ diện bất cứ nơi nào tại Miền Nam VN thì ta mang quân Tổng Trừ Bị khỏe mạnh, trong thế chủ động đến tiêu diệt quân CSBV đang mệt mỏi, đã lộ diện và ở thế bị động, chiến pháp này đã thành công, VNCH đã chiến thắng CSBV tại khắp mặt trận. Vì vậy muốn để CSBV chiếm Miền Nam thì phải “giam giữ” hai Sư Đoàn Dù và TQLC, điều này người “bạn đồng minh” Mỹ biết rất rõ.

Năm 1971, tên Kissinger bí mật đến Tầu, dọn đường cho năm 1972, Kissinger và Nixon qua thăm Trung Cộng chính thức, không biết chúng ăn bả gì của Tầu mà sau đó ngoài mặt Mỹ vẫn là đồng minh của VNCH nhưng sau lưng họ đã bí mật liên kết với Tầu Cộng và tay sai là CSBV để triệt hạ Miền Nam VN, sự phản bội này đã dần dần được giải mã. Theo Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng trong chương “Mở Cửa Bắc Kinh, Đóng Cửa Saigon” của cuốn sách “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” thì từ năm 1971, sau khi qua Trung Cộng tên Kissinger đã xui Nixon bán đứng VNCH cho Trung Cộng và tay sai là CSBV, khi Nixon sợ mất mặt nước Mỹ, tên Kissinger đã hiến kế: “Cứ đổ cho VNCH là bất lực và yếu kém (incompetence)”, và từ đó chúng đã thực hiện dần dần âm mưu và kế hoạch làm suy yếu VNCH!.

Bước đầu tiên là “giam” 2 Sư Đoàn Dù và TQLC tại Quân Khu I, Tổng Trừ Bị VNCH đang ở thế chủ động biến thành bị động giữ đất trong các cứ điểm đã lộ rõ. Thật vậy, sau chiến thắng của VNCH trong Mùa Hè Đỏ Lửa, CSBV bị kiệt quệ, chúng đã phải ký Hiệp Định Paris 1973, Quân Khu I yên tĩnh, vậy thì cớ sao lại phải giữ 2 Sư Đoàn Tổng Trừ Bị tại đây? Tổng Thống Thiệu, người có thẩm quyền điều động Tổng Trừ Bị và Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (Tư Lệnh Quân Khu I) người nhận và có thể cũng là người đã yêu cầu giữ Tổng Trừ Bị tại Quân Khu I, là 2 người có liên quan, không biết trong bóng tối Người Mỹ có dính dáng gì đến quyết định này không?

Sau khi mất Phước Long và Ban Mê Thuột, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu họp với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Khu I hai lần vào ngày 13/3 và 19/3/1975 tại Saigon để tái phối trí lực lượng. Không ai biết rõ nội dung hai buổi họp này! Đã có nhiều bài viết về các buổi họp, nhưng không sát với thực tế, cho nên tôi đã lấy tin tức từ Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải là người gần với Tướng Trưởng nhất và Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, Tổng Trưởng Kế Hoạch và Cố Vấn của Tổng Thống Thiệu, cả hai đều viết giống nhau, và theo hai nhân chứng này thì Quân Khu I (QKI) đã được tái phối trí như sau:

1.QKI trả Sư Đoàn Nhẩy Dù lại cho Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH.
2.QKI giữ lại Sư Đoàn TQLC để cùng với 3 Sư Đoàn Bộ Binh cơ hữu 1, 2, 3 và Biệt Động Quân- Thiết Kỵ co cụm tử thủ 3 cứ điểm Huế, Đà Nẵng, Chu Lai, nếu vì lý do gì không giữ được cả 3 cứ điểm trên thì bằng mọi giá phải giữ Đà Nẵng.

Hồi ký của Đại Tướng Cao Văn Viên TTMT/QL/VNCH viết về phiên họp ngày 19/3/1975 giữa Tổng Thống Thiệu và Trung Tướng Trưởng như sau:

“Tướng Trưởng trình bày kế hoạch với hai giải pháp:

Kế hoạch thứ nhất:
Nếu Quốc lộ 1 (QL1) còn sử dụng được, quân ông sẽ rút từ Huế về Đà Nẵng và từ Chu Lai về Đà Nẵng.

Kế hoạch thứ hai:
Nếu QL1 bị cắt, các lực lượng sẽ rút vào ba cứ điểm là Chu Lai, Huế, và Đà Nẵng, nhưng Huế và Chu Lai chỉ là hai nơi tập trung quân để cuối cùng thì rút về Đà Nẵng bằng đường biển. Đà Nẵng sẽ là điểm phòng thủ chính do bốn Sư Đoàn Bộ Binh và bốn Liên Đoàn BĐQ đảm nhận”.

Trong tinh thần trên, Sư Đoàn Nhẩy Dù rời Quân Khu I vào hạ tuần tháng 3/1975.

Ngày 16/3/1975 LĐ369/TQLC rời Quảng Trị đến Thượng Đức Quảng Nam để thay thế Nhẩy Dù.

Ngày 18/3/1975 LĐ258/TQLC (trong đó có tôi) rời Mỹ Thủy-Quảng Trị đến Nam Thừa Thiên để bảo vệ Quốc Lộ 1 Huế-Đà Nẵng.

PHÒNG THỦ CỨ ĐIỂM THỪA THIÊN- HUẾ:

Để viết phần này, tôi dựa vào tài liệu từ phỏng vấn và hồi ký của:
- Đại Tá TQLC Nguyễn Thành Trí-Lư Lệnh Lực Lượng Tây Bắc Huế.
- Wipekida Sư Đoàn 1 Bộ Binh VNCH.
- Y Sĩ Đại Úy Ngiêm Ngọc Đỉnh Y Sĩ Trưởng Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh.
- Và phỏng vấn những người liên quan khác thuộc SĐ TQLC, LĐ 15 BĐQ, SĐ 1BB.

Lưu ý: Tôi chỉ kể quân chính quy của 2 bên, không nói đến các lực lượng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cảnh Sát của VNCH, các lực lượng Du Kích, Đặc Công của CSBV.

Lực Lượng VNCH Tại Thừa Thiên-Huế:
1-Tây Bắc: LĐ147/TQLC, LĐT là Đại Tá Nguyễn Thế Lương, gồm 4 Tiểu Đoàn 3, 4, 5, 7/TQLC, 1 Đại Đội Viễn Thám, TĐ 2 Pháo Binh TQLC, Liên Đoàn 14 BĐQ gồm 3 tiểu đoàn và 1 Đại Đội Viễn Thám.
Tất cả các lực lượng trên được chỉ huy bởi Đại Tá TLP/TQLC Nguyễn Thành Trí.

2-Tây Nam: SĐ1BB gồm 4 trung đoàn và 1 Đại Đội Hắc Báo, 1 Đại Đội Trinh Sát, các thành phần yểm trợ như 3 tiểu đoàn pháo binh 105 ly, 1 tiểu đoàn pháo binh 155 ly, Thiết Đoàn 7 Kỵ Binh.

3-Yểm Trợ: Yểm trợ cho toàn mặt trận Thừa Thiên-Huế là Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh gồm Thiết Đoàn 20 Chiến Xa có 51 chiến xa M48 mới tinh, (nên nhớ chiến xa M48 là khắc tinh của chiến xa CSBV T54), Thiết Đoàn 17 Kỵ Binh gồm khoảng 100 chiếc M113 và M41, các Tiểu Đoàn Pháo Binh 155 Ly. Về Hải Quân VNCH có Duyên Đoàn 12, Duyên Đoàn 13, Giang Đoàn 60, Giang Đoàn 92, các giang-duyên đoàn này được trang bị các chiến hạm nhỏ với những dàn hải pháo tự động rất hùng hậu.

Các lực lượng kể trên được gọi là Quân Đoàn I Tiền Phương và được chỉ huy bởi Trung Tướng Lâm Quang Thi, ông cũng là Tư Lệnh Phó Quân Đoàn I. Đây là 1 đạo quân thiện chiến hàng đầu của Quân Lực VNCH, đạo quân này sẽ đánh bại bất cứ lực lượng CSBV nào.

4-Nam Thừa Thiên và Quốc Lộ 1:
-Liên Đoàn 15 BĐQ gồm các Tiểu Đoàn 60, 61, 94 BĐQ. Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 15 BĐQ đóng tại Phú Bài. Liên đoàn này trải quân sâu về phía Tây-Nam Thừa Thiên cách Quốc Lộ 1 khoảng 5 cây số.
-Lữ Đoàn 258/TQLC gồm TĐ1 và TĐ8 ém quân ven QL1 từ Bắc Cầu Truồi đến Cầu Đá Bạc- Phú Lộc. BCH LĐ258 đóng tại phía Bắc Sông Truồi cùng với Đại Đội B Viễn Thám, Tiểu Đoàn trừ 1 Pháo Binh 105 Ly.

Lực Lượng CSBV Tại Thừa Thiên-Huế:
Lưu ý: Tôi chỉ kể quân chính quy, không kể du kích địa phương, đặc công.
Theo tài liệu Wikipedia CSBV thì lực lượng Chính Quy CSBV tấn công vùng Huế-Thừa Thiên gồm:
-Sư Đoàn 324 với 3 trung đoàn, Sư Đoàn 325 với 2 trung đoàn, 1 trung đoàn đã tăng phái cho mặt trận Ban Mê Thuột và yểm trợ cho cả 3 mũi tấn công Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam có Lữ Đoàn Xe Tăng 203 tập trung tại Quảng Trị và Quảng Ngãi, Lữ Đoàn Pháo 164, Sư Đoàn Phòng Không 673.

TƯƠNG QUAN QUÂN SỐ CỦA HAI BÊN TẠI CHIẾN TRƯỜNG HUẾ THỪA THIÊN:

Tôi chỉ kể những tiểu đoàn chính quy tác chiến. Nên nhớ 1 tiểu đoàn Bộ Binh quân số khoảng 500-600 binh sĩ. Tiểu Đoàn TQLC có quân số khoảng 700. 1 tiểu đoàn CSBV quân số khoảng 300-400 binh sĩ.

-VNCH: Tổng cộng 24 tiểu đoàn tác chiến gồm: .
LĐ147/TQLC (4 tiểu đoàn).
Liên Đoàn 14BĐQ 3 tiểu đoàn.
SĐ1BB gồm 4 trung đoàn mỗi trung đoàn có 3 tiểu đoàn như vậy là 12 tiểu đoàn.
LĐ258/TQLC có 2 tiểu đoàn.
Liên Đoàn 15BĐQ 3 tiểu đoàn.

-CSBV:Tổng cộng 15 tiểu đoàn gồm Sư Đoàn 324 có 3 trung đoàn mỗi trung đoàn 3 tiểu đoàn, Sư Đoàn 325 có 2 trung đoàn, mỗi trung đoàn có 3 tiểu đoàn.

TRẬN ĐÁNH TRÊN QUỐC LỘ 1 HUẾ-ĐÀ NẴNG NAM THỪA THIÊN.

(Từ phần này đến những đoạn sau, tôi viết dựa theo kinh nghiệm của chính tôi, phỏng vấn những quân nhân tham dự trận chiến thuộc Lữ Đoàn 258 TQLC và Liên Đoàn 15 BĐQ, Y Sĩ Đai Úy Nguyễn Trung Tín Y Sĩ Trưởng LĐ 2 BĐQ, riêng với Thiếu Tá Đỗ Thanh Quang-Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 61BĐQ và Đại Tá TQLC Nguyễn Năng Bảo-LĐT/LĐ258/TQLC lúc đó. Tôi đã phỏng vấn họ 10 năm trước, khi tôi viết bài “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”.

Phía CSBV tôi dựa theo hồi ký của tên Thiếu Tướng Nguyễn Đức Huy lúc đó là Phó Tư Lệnh-Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 325 CSBV và tài liệu trên Wikipedia CSBV, điều cần phải nêu ra là hồi ký của tất cả bọn cán binh CSBV đều được viết theo đơn đặt hàng của Ban Chính Huấn CSVN, nên có nhiều khoác lác bịa đặt, cho nên tôi chỉ lấy ra những phần hợp lý)

Ngày 18/3/1975, LĐ258/TQLC rời Mỹ Thủy- Quảng Trị, đoàn xe dài đưa chúng tôi ra QL1, khi qua cầu Mỹ Chánh thì “được” CSBV chào đón bằng mấy trái cối 82 ly, nhưng không có thiệt hại. Chúng tôi qua Huế mà lòng bồi hồi thương tiếc vì linh cảm rằng đây là lần cuối cùng.

Địa điểm đóng quân mới của LĐ258 tại phía Nam Tỉnh Thừa Thiên, từ phía Bắc Cầu Truồi đến Phú Lộc.
Tr/Tá Huỳnh Văn Lượm-Lữ Đoàn Phó cho biết Lữ Doàn có nhiệm vụ:
-Bảo vệ giao thông và tiếp tế trên Quốc Lộ 1 phía Nam Thừa Thiên.
-Làm thành phần cản hậu nếu Quân Đoàn I Tiền Phương rút về Đà Nẵng.

Cùng nhiệm vụ với LĐ258/TQLC có Liên Đoàn 15BĐQ, bộ chỉ huy đóng tại Phú Bài các tiểu đoàn đóng sâu trong núi phía Tây còn, TQLC thì ém quân ven Quốc Lộ 1, tuyến phòng thủ từ Bắc Sông Truồi đến Phú Lộc.

Tuyến phòng thủ của Lữ Đoàn 258/TQLC

Quân rút thì dân cũng chạy theo, người dân Quảng Trị-Huế đã có quá nhiều kỷ niệm đau thương với CSBV, năm Mậu Thân 1968 CSBV đã chôn sống trên 5.000 người dân Huế bao gồm cả đàn bà và học sinh. Năm 1972 CSBV đã xả súng tàn sát mấy ngàn dân Quảng Trị gồm thường dân, đàn bà trẻ em khi họ bỏ trốn khỏi vùng giao tranh trên “Đại Lộ Kinh Hoàng”, chiến pháp của CSBV là “Tam Dân”- dùng dân lành làm bia đỡ đạn, dùng dân để lấy lương thực, dùng dân để lấy tin tình báo, vì vậy khi dân chạy trốn thì bị chúng khủng bố và tàn sát dã man.

Từ ngày 18/3/1975 đến ngày 21/3/1975, người dân Quảng Trị-Huế đã bỏ nhà cửa ruộng vườn, theo Quốc Lộ 1 chạy về Đà Nẵng, họ dùng tất cả phương tiện xe hơi, xe gắn máy, xe đạp và đi bộ để chạy giặc đầy trên Quốc Lộ 1, bất kể ngày đêm. CSBV không bỏ lỡ cơ hội này nên các dàn đại pháo 130 ly của chúng đã xả đạn không thương tiếc vào đoàn người, nhiều người trúng đạn ngã gục nhưng những người phía sau vẫn hoảng loạn đạp lên những người xấu số để đi, chính quyền địa phương Quân Đoàn I hầu như bỏ rơi họ, tôi không thấy các toán y tế săn sóc sức khỏe cho dân, tôi cũng không thấy các toán an ninh cảnh sát thanh lọc lũ đặc công CSBV đang trà trộn trong dân để lọt vào Đà Nẵng, những TQLC của Lữ Đoàn 258/TQLC đã tự động làm công tác “dân sự vụ”, các toán Quân Y săn sóc sức khỏe, cứu thương, cung cấp lương thực cho dân, các binh sĩ thì mai tang những người xấu số.

Trái-Quân Y Lữ Đoàn 258 TQLC săn sóc đồng bào trên QL1. Phải-Cầu Truồi trước khi bị QĐI phá

TRẬN ĐÁNH TẠI NAM THỪA THIÊN:

Trước khi nói về trận đánh tôi xin làm một bản so sánh quân đội hai bên tại Mặt Trận Nam Thừa Thiên:

- CSBV: Sư Đoàn 325 có hai trung đoàn bộ binh bí số 18 và 101, (Trung Đoàn 95 đã tăng phái cho mặt trận Ban Mê Thuột), như vậy là 6 tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn CSBV có quân số từ 300 đến 400 vậy thì tổng cộng CSBV có khoảng 2400 quân bộ binh.

- VNCH: 3 Tiểu Đoàn BĐQ, mỗi tiểu đoàn quân số khoảng 500, như vậy khoảng 1500 BĐQ, 2 tiểu đoàn TQLC quân số khoảng 600- 700 mỗi tiểu đoàn như vậy là 1400 TQLC, 1 đại đội viễn thám khoảng trên 100 TQLC, vậy thì VNCH có khoảng 3000 Quân.

Theo binh thuyết thì lực lượng tấn công phải có quân số và hỏa lực gấp 3 lực lượng phòng thủ, nhìn bản so sánh trên ta đã thấy lẽ hơn thua rồi!

Từ ngày 21/3/1975, CSBV nổ súng tấn công tuyến của Liên Đoàn 15BĐQ phía Tây cách QL1 từ 3-5km, chúng có gây một số thiệt hại cho BĐQ nhưng không chọc thủng được phòng tuyến này và chúng cũng không biết đằng sau BĐQ có Lữ Đoàn 258 TQLC ém quân. Riêng tuyến Cầu Đá Bạc-Phú Lộc có nguyên cả Tiểu Đoàn 8 TQLC bảo vệ, vài nhóm quân CSBV cấp trung đội bị BĐQ đánh tan tác chạy dạt tới gần Quốc Lộ 1 đã bị TQLC tiêu diệt. Tại Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 258 TQLC phía Bắc Sông Truồi, tôi nhận được nhiều thương binh, đa số thương binh TQLC bị thương vì đạn pháo kích còn BĐQ bị thương do đạn súng bắn thẳng.

Sáng ngày 24/3/1975, Đại Úy Q… Trưởng Ban 2 Lữ Đoàn mang đến một tên tù binh CSBV, tên tù binh ốm yếu vàng vọt bị thương tại chân cần tiểu giải phẫu, khi y tá bầy ra bộ tiểu giải phẫu gồm dao kéo, kìm kẹp, kim chỉ, thằng CSBV hoảng hốt tưởng là tôi sắp tra khảo, nó quỳ xuống đất lạy như tế sao miệng lắp bắp: “Lậy quan, xin quan tha cho con, con xin khai hết”.

Theo lời khai thì hắn là trung úy đại đội trưởng thuộc Trung Đoàn 101, ngày 23/3/1975, thủ trưởng của hắn cho biết Phú Lộc đã được giải phóng, sai hắn mang quân đên tiếp thu, khi đến gần vòng đai Phú Lộc đại đội của hắn bị phục kích (Tiểu Đoàn 8 TQLC) cả đại đội bị tiêu diệt, hắn bị thương nhưng giả chết nên bị bắt làm tù binh.

Từ ngày 18/3/1975 đến 24/3/1975, CSBV pháo rất nhiều vào Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 258/TQLC tại ven Quốc Lộ 1, chúng pháo bằng đại bác tầm xa 130 Ly, không có súng cối, điều này cho chúng tôi biết chúng đã bị chận từ xa quốc lộ ngoài tầm của súng cối.

Trận chiến tại Quốc Lộ 1 Nam Thừa Thiên có 3 đặc điểm sau đây:

1-Sáng ngày 23/3/1975 đài phát thanh CSBV loan tin chúng đã chiếm được Phú Lộc và cắt QL1 tại đây. Hình như có sự ước hẹn với nhau như một vở kịch nên liền sau đó đài BBC và VOA đồng loan tin y hệt như vậy. Hai đài này không có ký giả tại đây tại sao chúng lại loan tin thất thiệt? Chúng tôi liên lạc với Bộ Chi Huy Tiểu Đoàn 8 TQLC tại Phú Lộc thì được biết quân ta vẫn bình yên. Tin “mất Phú Lộc” tuy không đúng sự thật nhưng đã gây đau thương cho Quân Đoàn I, vì nếu muốn rút Quân Đoàn I Tiền Phương về Đà Nẵng trên Quốc Lộ 1 thì phải qua Phú Bài, Cầù Truồi, Cầù Đá Bạc, Phú Lộc. Cái tin “mất Phú Lộc” không hề được Quân Đoàn I kiểm chứng nhưng đã khiến Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn I Ngô Quang Trưởng và Trung Tướng Tư Lệnh Phó Lâm Quang Thi quyết định rút Quân Đoàn I Tiền Phương qua ngả Thuận An để gây bao đau thương cho đạo quân thiện chiến này.

2-Xin nhắc lại: “Cái tin thất thiệt CSBV chiếm Phú Lộc làm rung động cả Quân Đoàn I vậy mà Quân Đoàn đã không kiểm chứng” và đính chính để nâng cao tinh thần quân dân Vùng I Chiến Thuật.

3-Trong suốt trận chiến tại Nam Thừa Thiên, chúng tôi như một đạo quân bị bỏ rơi, mặc dù đây là một trận đánh cấp sư đoàn quan trọng đến sự sống còn của cả quân đoàn nhưng không có một cấp chỉ huy Quân Đoàn I nào đến thăm, không có một máy bay nào bay trên trời, không có ký giả chiến trường, hoàn toàn không có ai, mặc dù Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 258 TQLC trên Quốc Lộ 1 chỉ cách Huế có 20km, và cách Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn I tại Đà Nẵng 30 phút trực thăng. Ngay cả khi có tin “vịt” Phú Lộc thất thủ cũng không có cấp chỉ huy Quân Đoàn nào gọi máy hỏi thăm kiểm chứng, làm như mọi chuyện đã được an bài.

5 giờ sáng ngày 25/3/1975, Lữ Đoàn 258 TQLC được lệnh bỏ tuyến phòng thủ Quốc Lộ 1 phía Nam tỉnh Thừa Thiên để rút về Đà Nẵng, theo Trung Tá Lữ Đoàn Phó Huỳnh Văn Lượm thì lệnh này do đích thân Tướng Ngô Quang Trưởng ra lệnh. Vì Cầu Truồi đã bị Công Binh Quân Đoàn I phá trước đó nên quân xa không sử dụng được, chúng tôi được lệnh đi bộ. Chúng tôi ra đi trong lòng buồn bực vì đang chiến thắng mà phải rút đi, đồng thời cũng lo lắng cho quân bạn tại Thừa Thiên-Huế vì đoạn đường này là huyết mạch duy nhất để tiếp tế hoặc rút lui về Đà Nẵng của đạo quân Tiền Phương Quân Đoàn I. Cùng rút với TQLC có một số BĐQ của Liên Đoàn 15, vì Cầu Truồi bị phá nên tất cả quân xa và pháo binh TQLC đều bị bỏ lại sau khi phá hủy.

Đến Sông Truồi, chúng tôi thấy Cầu Truồi đã bị phá, Cầu Truồi gồm 2 cầu, cầu sắt cho xe lửa đổ gục xuống sông, cầu cho xe hơi bị mìn thủng một lỗ lớn bằng 2 cái bàn. Để tránh pháo của CSBV, chúng tôi lội qua Sông Truồi nước trong vắt và chỉ sâu đến đầu gối. Cả Lữ Đoàn 258 TQLC đi bộ trên Quốc Lộ 1 qua Cầu Đá Bạc và Phú Lộc mà không thấy một tên CSBV nào và cũng không có một phát súng của CSBV bắn về phía chúng tôi. Qua khỏi Phú Lộc cả Lữ Đoàn được xe GMC Quân Vận đón, đoàn xe đưa chúng tôi qua Đèo Hải Vân rồi về đến Căn Cứ TQLC tại Non Nước Đà Nẵng khoảng 10 giờ tối cùng ngày 25/3/1975.

Viết đến đây chúng tôi lại có một thắc mắc mà suốt 40 năm không có câu trả lời. Chúng tôi đã giao tranh với Sư Đoàn 325 CSBV từ 18/3/1975 đến 25/3/1975 tại Nam Thừa Thiên mà không thấy chúng có chiến xa, có thể vì địa thế núi rừng tại đây nên chúng không mang được chiến xa đến. Đơn vị chiến xa gần nhất là Lữ Đoàn 1 Thiết Kỵ VNCH gồm 51 chiếc M48 mới tinh và trên 100 chiếc M41, M113 của Quân Đoàn I Tiền Phương còn đơn vị chiến xa CSBV lúc đó còn tại Quảng Trị. Như vậy tại sao phải phá Cầu Truồi? Tôi nghĩ mãi mà chỉ thấy có 2 giả thuyết:

1-Cấp chỉ huy QĐI quá hoảng hốt và không nắm vững tình hình chiến trường.

2-Cấp chỉ huy QĐI vì một lý do gì không muốn Đoàn Quân Tiền Phương VNCH về Đà Nẵng với đầy đủ khí cụ và chiến xa vì nếu vậy thì cuộc chiến tại Quân Khu I sẽ kéo dài rất lâu…

Cách đây trên 10 năm, tôi có gặp Thiếu Tá Đỗ Thanh Quang, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 61BĐQ tại Las Vegas, lúc đó ông chưa qua đời, ông cho biết:

Tối ngày 25/3/1975, Thiếu Tá Quang rút Tiểu Đoàn 61 BĐQ từ đồi 500 phía Tây Quốc Lộ 1 về Phú Lộc, từ đấy Tiểu Đoàn 61BĐQ đi ngược về Phú Bài-Huế rồi ra Thuận An, ông có tả Cầu Truồi bị phá giống như tôi viết phía trên, ông cho biết từ Phú Lộc đến Huế đường đi an toàn không gặp CSBV. Khi đến Thuận An thì đơn vị của ông mới gặp Quân CSBV.

Như vậy trong ngày 25/3/1975 từ Phú Lộc TQLC xuôi Nam về Đà Nẵng, BĐQ từ Phú Lộc lên Bắc tới Huế an toàn. Vậy thì Quốc Lộ 1 Huế Đà Nẵng trong thời gian từ 18/3/1975 đến tối ngày 25/3/1975 đã không bị CSBV cắt đứt.

Đại Tá TQLC Nguyễn Năng Bảo Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 258 TQLC lúc đó cũng đã khẳng định:

-Quốc Lộ 1 Huế-Đà Nẵng cho đến ngày 25/3/1975 vẫn an toàn để rút Quân Đoàn I Tiền Phương về Đà Nẵng và Lữ Đoàn 258 TQLC có thể giữ đoạn đường này thêm nhiều tuần lễ nữa.

Khi viết các dòng chữ kể trên, tôi đã tham khảo nhiều tài liệu về Trận Chiến Trên Quốc Lộ 1 Nam Thừa Thiên tháng 3/1975 của nhiều tác giả không tham chiến trong trận đánh này, hầu hết đều lấy tài liệu của CSBV hoặc của Mỹ viết rằng Phú Lộc bị CSBV chiếm trong ngày 23/3/1975!

Tôi khẳng định rằng từ ngày 18/3/1975 đến ngày 25/3/1975, Cầu Đá Bạc và Phú Lộc được Tiểu Đoàn 8 TQLC bảo vệ, không hề lọt vào tay quân CSBV. Nếu mất Phú Lộc trong ngày 23/3/1975 thì Lữ Đoàn 258 TQLC, trong đó có tôi đã không thể về Đà Nẵng trên Quốc Lộ 1 an toàn trong ngày 25/3/1975.

Tên tướng Nguyễn Đức Huy tư Lệnh Phó Sư Đoàn 325 CSBV khi khoác lác viết rằng đã chiếm được Phú Lộc và 10 km Quốc Lộ 1 Nam Thừa Thiên vào ngày 23/3/1975 đã không biết rằng có 1 Lữ Đoàn 258 TQLC ém quân tại đây. Hắn còn láo khoét là đã bắt được Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 61 BĐQ (Thiếu Tá Quang) trong ngày 3/23/1975.

SỐ PHẬN CỦA QUÂN ĐOÀN I TIỀN PHƯƠNG.

Để viết đoạn này, tôi đã phỏng vấn Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải và trước đó Thiếu Tướng Bùi Thế Lân Tư Lệnh TQLC khi tôi viết hồi ký “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”, Đại Úy Chánh Văn Phòng Tư Lệnh TQLC. Ngoài ra tôi cũng tham khảo hồi ký của Ông Nguyễn Tiến Hưng, Tổng Trưởng Kế Hoạch Và Phát Triển kiêm Cố Vấn của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, hồi ký của Đại Tá TLP/TQLC Nguyễn Thành Trí lúc đó là Tư Lệnh Mặt Trận Tây Bắc Huế, hồi Ký của Thiếu Tá Phạm Cang Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 7 TQLC, hồi ký của các TQLC Phan Văn Đuông, Cao Xuân Huy là các quân nhân tham dự trận đánh…

Nói chung thì tình hình Huế-Quảng Trị không sôi động, quân CSBV bám sát quân ta nhưng đã không có trận nào lớn hơn cấp đại đội. Tại tuyến Tiểu Đoàn 7 TQLC có 5 chiếc T54 của CSBV xâm phạm, liền bị M48 của ta bắn hạ 3 chiếc 2 chiếc còn lại bỏ trốn, ngoài ra có một đoàn tầu CSBV xâm nhập hải phận của ta, chúng bị M48 bắn và bỏ chạy, quân ta vô sự, ngoài Huế thì CSBV dùng pháo tầm xa 130 Ly pháo khích.

Theo Đại Tá Nguyễn Thành Trí thì Tướng Tư Lệnh Lâm Quang Thi nhận thấy khó giữ được Huế và tin rằng Phú Lộc bị thất thủ do đó không dùng được Quốc Lộ 1 để lui quân về Đà Nẵng cho nên Tướng Tư Lệnh Lâm Quang Thi triệu tập phiên họp ngày 24/3/1975 tại Căn Cứ Hải Quân Thuận An lúc 14.30, phiên họp này gồm có:

-Trung Tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh QĐI Tiền Phương
-Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Điềm, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh.
-Đại Tá Nguyễn Thành Trí, Tư Lệnh Mặt Trận Tây Bắc Huế.
-Đại Tá Hy, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn I Tiền Phương
-Đại Tá Duệ Tỉnh Trưởng Thừa Thiên.
-Trung Tá Chỉ Huy Căn cứ Thuận An

Buổi họp này kéo dài không lâu và kết quả là:

1-Bỏ Huế-Quảng Trị.

2-Lực Lượng Tây Bắc Huế bỏ chiến xa, đại bác, chiến cụ nặng trang bị nhẹ rút về Cù Lao Thuận An rồi xuôi Nam đến cửa Tư Hiền. Sư Đoàn 1 Bộ Binh cũng bỏ chiến xa, đại bác, chiến cụ nặng trang bị nhẹ rút về cửa Tư Hiền.

3-Hải Quân và Công Binh Quân Đoàn I sẽ lập cầu phao tại cửa Tư Hiền để Đạo Quân Tiền Phương băng qua, sau đó xuôi Nam. Hải Quân sẽ bốc quân từ từ, phần còn lại sẽ quay trở lại Quốc Lộ 1 về Đà Nẵng.

Kế hoạch rút quân này được Chuẩn Tướng Điềm và Đại Tá Hy mang về Đà Nẵng trình Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, được chấp thuận và sau đó được mang về Thuận An lúc 17.30 cùng ngày 24/3/1975. Lệnh rút quân được thi hành lúc 1800 cùng ngày 24/3/1975.

Như vậy chỉ trong mấy tiếng đồng hồ từ 2.30PM đến 6PM ngày 24/3/1975 số phận của Đạo Quân Tiền Phương Quân Đoàn I đã “được” định đoạt!

Rút một đạo quân cấp quân đoàn cần sự điều nghiên tính toán và thiết kế của Bộ Tổng Tham Mưu, Hội Đồng An Ninh Quốc Gia với sự hợp tác của Tư Lệnh Không Quân và Hải Quân. Lệnh rút quân này đã được thiết kế bởi 2 ông tướng và mấy ông tá trong vòng vài tiếng đồng hồ nên đã đưa đến thảm họa cho Đạo Quân Tiền Phương QĐ I.

Vứt súng bỏ chạy ra biển không phải là một cuộc rút quân, quân ta mạnh hơn địch và đang chiến thắng tại sao phải rút? Phiên họp ngày 24/3/1975 của Quân Đoàn I Tiền Phương chẳng qua chỉ là màn kịch để cấp chỉ huy Quân Đoàn I Tiền Phương bước lên tầu về Đà Nẵng một cách hợp pháp.

Đà Nẵng: Chiều ngày 24/3/1975, sau khi họp với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng về lệnh rút quân của Quân Đoàn I Tiền Phương, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải bàn luận với ban tham mưu của ông gồm 3 vị Hải Quân Đại Tá mưu lược, đó là các Đại Tá: Nguyễn Xuân Sơn, Phạm Mạnh Khuê và Nguyễn Công Hội, đã nhận ra những điều bất lợi của lệnh rút quân này, ông vội mời Thiếu Tướng Bùi Thế Lân Tư Lệnh TQLC cùng đến gặp Trung Tướng Trưởng.

Buổi họp lúc 6 PM ngày 24/3/1975 tại Đà Nẵng, có Thiếu Tướng Hoàng văn Lạc-Tư Lệnh Phó Quân Đoàn I, Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Phó Đề Đốc Thoại trình bày lên Trung Tướng Trưởng những điều sau đây:

1-Vì thời gian cấp bách chỉ có 12 tiếng, vì Hải Quân đang bận lấy quan tại Chu Lai, vì thời tiết khí tượng xấu cho nên Hải Quân không thể tổ chức hoàn hảo để bốc 1 đạo quân trên 20.000 quân vào ngày 25/3/1975, và cũng vì khí tượng xấu và thời gian cáp bách nên Hải Quân và công binh không thể thực hiện được cầu phao qua cửa Tư Hiền.

2-Vứt bỏ súng đại bác và chiến xa để bỏ Huế-Thuận An sẽ có một phản ứng dây truyền làm mất tinh thần binh sĩ không những tại Đà Nẵng, toàn thể Quân Khu I mà còn lan tới Quân Khu 3 và Quân Khu 4, hơn nữa khi ta rút bỏ Huế-Thuận An thì CSBV sẽ rảnh tay để mang 2 Sư Đoàn 324, 325 cùng với súng đạn, chiến cụ chiếm được về đánh Đà Nẵng

Vì vậy Phó Đề Đốc Thoại đề nghị với Trung Tướng Trưởng:

1-Tử thủ Huế-Thuận An vì quân ta mạnh hơn CSBV tại đây. (đọc phòng thủ Huế Thừa Thiên phần trên) Hải Quân sẽ lo phần tiếp tế, yểm trợ vì ta vẫn làm chủ trên biển và bầu trời, như vậy ta sẽ cầm chân lực lượng phía Bắc QKI của CSBV và có nhiều khả năng sẽ tiêu diệt chúng tại đây vì lực lượng của chúng không mạnh và đã lộ diện sẽ là mục tiêu cho Hải-Phi Pháo.

2-Nếu vì lý do gì phải bỏ Huế-Thừa Thiên thì tập trung quân gồm 4 trung đoàn của SĐ1BB, 2 Liên Đoàn 14,15 BĐQ, Lữ Đoàn 147 TQLC, Lữ Đoàn 1 Kỵ Kinh với 51 chiếc M48 và hàng trăm chiếc M41, M113 giữ thế chủ động đánh thẳng vào hậu cứ của 2 sư đoàn 325, 324 CSBV đã lộ diện gần QL1, rồi về Đà Nẵng trong tinh thần quyết chiến quyết thắng

Tướng Bùi Thế Lân cũng nhiệt liệt đồng ý với Phó Đề Đốc Thoại, Tướng Lân cũng cho biết là ông có 1 Lữ Đoàn 258 TQLC đang ém quân trên Quốc Lộ 1 phía Nam Thừa Thiên sẵn sàng yểm trợ trận đánh, ông nói tiếp: “Đi phía biển tôi sợ sẽ mất hết”

Trung Tướng Trưởng suy nghĩ một lúc rồi nói với 2 ông tướng là ông không thể thực hiện được kế hoạch này mà không cho biết lý do. Phó Đô Đốc Thoại kết luận: “Có thể Trung Tướng Trưởng biết những điều chúng tôi không biết”!

6 PM ngày 24/3/1975, Đạo Quân Tiền Phương được lệnh bỏ vị trí chiến đấu, bỏ vũ khí nặng, bỏ chiến xa đại bác, bỏ lương thực, trang bị nhẹ để đến điểm hẹn là Cù Lao Thuận An, họ tin rằng khi lên tầu thì họ sẽ có lương thực, nước uống và đạn dược. Dọc đường họ thấy chiến xa, xe cộ và đại bác vứt đầy đường,

Ngày 25/3/1975 là một ngày dài nhất của Quân Khu I nên tôi viết lại những diễn biến tình hình xẩy ra trong cùng một thời gian tại 3 nơi khác nhau: Thuận An-Huế, Đà Nẵng-Bộ Tư Lệnh TQLC, Saigon-Dinh Độc Lập:

-Sáng 25/3/1975 tại Thuận An-Huế:

8AM ngày 25/3/1975, cả đạo quân đã có mặt tại Thuận An, 9.30 AM ngày 25/3/1975 họ được lệnh chờ tại chỗ vì không có cầu phao tại Cửa Tư Hiền.

-Sáng 25/3/1975 tại Đà Nẵng-Bộ Tư Lệnh TQLC,

Trước khi viết đoạn này tôi đã bàn luận rất nhiều lần với Thiếu Tướng Tư Lệnh TQLC Bùi Thế Lân, ông cho biết lệnh rút Quân Đoàn I Tiền Phương có nhiều khuyết điểm có thể mang đến thất bại hoàn toàn mà ông đã trình bầy với Trung Tướng Trưởng vào chiều ngày 24/3/1975, rất không may là Tướng Trưởng đã không nghe lời, Tướng Lân còn cho biết Ông là Tư Lệnh của một sư đoàn tăng phái cho QKI nên không có quyền điều động TQLC nếu không được sự chấp thuận của Tư Lệnh QKI và trong cuộc rút quân này Ông đã không được lệnh điều động TQLC của Ông.

Sáng 25/3/1975, Thiếu Tướng TQLC Bùi Thế Lân ra lệnh cho Đại Úy Nguyễn Quang Đan, Chánh Văn Phòng Tư Lệnh dùng trực thăng của Tướng Lân bay ra Thuận An gặp Đại Tá Nguyễn Thế Lương Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 147TQLC để trao cho ông 1 lá thư kèm theo lời dặn: “Tìm ra Quốc Lộ 1 mà đi”. Đại Úy Đan còn bay đi và về Thuận An-Đà Nẵng thêm 2 lần nữa để tiếp tế cho Lữ Đoàn 147 TQLC. Trên đường về Đà Nẵng lần thứ 3 ông đã cứu được Tướng Nguyễn Văn Điềm, Tư Lệnh SĐ1BB khi trực thăng của Tướng Điềm trục trặc máy trên đường về Đà Nẵng bị rơi trên Quốc Lộ 1.

-Sáng 25/3/1975 tại Dinh Độc Lập-Saigon:

9.30 AM ngày 25/3/1975, tại Dinh Độc Lập, Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, Tổng Trưởng Kế Hoạch kiêm Cố Vấn Tổng Thống họp Nội Các và Hội Đồng An Ninh Quốc Gia với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Sau khi Tướng Khuyên trình bày tình hình QKI và QKII, trước mặt mọi người, Tổng Thống Thiệu nhấc máy gọi cho Trung Tướng Trưởng tại Đà Nẵng. Sau đây là nguyên văn cuộc đối thoại:

Tổng Thống Thiệu hỏi Tướng Trưởng:

-“Có giữ được Huế hay không?”. (Rồi ông nhắc lại câu trả lời từ đầu giây bên kia):

Trung Tướng Trưởng: “Nếu có lệnh, thì giữ.”

Tổng Thống Thiệu: “Liệu giữ được bao lâu?”

Trung Tướng Trưởng: “Ngày một ngày hai.”

Tổng Thống Thiệu: “Vậy nếu không giữ được, phải quyết định ngay, và nếu quyết định (bỏ Huế) thì phải làm cho lẹ.”

Trở lại Thuận An: Vào cùng thời điểm của phiên họp nội các tại Dinh Độc Lập, lúc 9.30 AM ngày 25/3/1975, Đội Quân Tiền Phương được lệnh chờ tại chỗ để tầu Hải Quân vào đón vì không có cầu phao tại cửa Tư Hiền. Theo hồi ký của những Mũ Xanh Lữ Đoàn 147 TQLC thì trước mặt họ có rất nhiều tầu Hải Quân nhưng không có chiếc tầu nào vào đón, giải thích lý do tầu không vào lấy quân được, Phó Đô Đốc Thoại cho biết: “Vì sương mù, vì biển động, vì sóng ngầm”!

Chiều ngày 25/3/1975, quân Việt Cộng bắt đầu truy kích, từ những bụi cây, mô cát, chúng tác xạ vào đoàn quân trên bãi cát trống trải, với số lượng đạn ít ỏi mang theo Đạo Quân Mũ Xanh vẫn anh dũng chiến đấu.

Sáng ngày 26/3/1975, có 1 chiếc LCU liều mạng vào cứu được thương binh, Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 147 TQLC và khoảng vài trăm binh sĩ, chiếc LCU này cũng bị trúng 1 hỏa tiễn tầm nhiệt AT3 làm Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng Nguyễn Thế Lương bị thương, chiếc LCU thứ hai bị mắc cạn và từ đó không có tầu nào vào đón, các chiến sĩ Mũ Xanh tiếp tục chiến đấu cho đến rạng sáng ngày 27/3/1975 sau khi uống những giọt nước cuối cùng, bắn những viên đạn cuối cùng và ném quả lựu đạn cuối họ mới chợt nhớ là phải dành cho riêng họ 1 quả lựu đạn. Đây là tâm sự của một MX thuộc LĐ147. MX Đoàn Văn Tuấn viết:

- "Một mùa đại giỗ nữa của gia đình anh em Mũ Xanh lại đến. Đã trên bao năm trôi qua mà sao vẫn nhớ mãi cái cảnh những người lớn chơi trò trẻ con! Họ ngồi quây quần bên nhau, úp lá khoai môn lên trái mãng cầu. Những lời bình thản:“Ê, từ từ đã mày, chờ thằng Toàn đang chạy đến tham gia kia kìa.”. Rồi sau đó... “bùm”!!!

Trời ơi! Đó là thực tế của bạn bè anh em chúng tôi, những người lính Mũ Xanh kiêu hùng nhưng họ đã phải đi nhặt những viên đạn để chống trả với quân thù! Dùng hàm răng làm vũ khí và sau cùng thì đành trở về với tuổi thơ, ngồi xúm lại trên bãi cát trắng bờ biển Thuận An miền Trung thơ mộng. Trời vẫn xanh, biển vẫn rì rào lời mời gọi. Đường về! Ôi quá xa. “Bùm” những thân người đổ vật ra! Anh em ta đã về nhà, về với đất mẹ thân yêu. Một thực tế mà trên thế giới ít một nước nào có. Sự tự sát tập thể không khác gì với những huyền thoại của những người võ sĩ đạo của xứ Phù-Tang. Tinh thần bất khuất ấy vẫn sống mãi trong ký ức những người còn lại."

Hôm nay ngồi đây, tôi viết những dòng này gửi đến các anh, đến bạn bè, những người lính MX năm xưa để chúng ta cùng cúi đầu dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ những người đã nằm xuống tháng 3, tháng gió lớn của gia đình Mũ Xanh.

Còn đây là tâm sự của MX Cao Xuân Huy trong Tháng Ba Gẫy Súng:

-“Ngày 26 Tháng Ba là ngày Người Cày Có Ruộng.

Ngày 26 Tháng Ba là ngày cả một Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến bị khoảng một đại đội du kích Việt Cộng bắt sống.
Chuyện không bao giờ tin được đã xảy ra.”.

Như vậy thì rạng sáng ngày 27/3/1975 toàn thể Đạo Quân Tiền Phương Quân Đoàn I đã tan rã trên bãi biển Thuận An.

Đặc điểm của cuộc rút quân của Quân Đoàn I Tiền Phương:

1-Quân ta đang chiến thắng tại sao phải vội vã rút quân? Theo Đại Tá TQLC Nguyễn Thành Trí, Tư Lệnh Mặt Trận Tây Bắc Huế thì: “Chưa có một vị trí nào đã bị mất trên hành lang Sông Bồ hay Hiền Sĩ, Cổ Bi…Địch chưa hề thực hiện nổi mộng cắt ngang An Lỗ để ngăn đôi Quảng Trị-Huế”.
Và hồi ký tôi đã viết ở phần trên tại mặt trận Nam Thừa Thiên quân ta đã đang toàn thắng!

2-Kế hoạch rút quân được thiết kế vội vã, thiếu sót, khiến Hải Quân và Công Binh không kịp chuẩn bị.

3-Các cấp chỉ huy cao cấp của Đạo Quân Tiền Phương đã bỏ rơi quân lính để về Đà Nẵng: Trung Tướng Lâm Quang Thi và Bộ Tham Mưu Tiền Phương bỏ về Đả Nẵng ngày 25/3/1975 bằng tàu Hải Quân. Chuẩn Tướng Điềm, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh cũng bỏ về Đà Nẵng trong ngày 25/3/1975 bằng trực thăng.

4-Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đã được Thiếu Tướng Bùi Thế Lân và Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại báo trước là Hải Quân và Công Binh sẽ gặp khó khăn, và rút quân theo ngả Thuận An có thể sẽ mất hết, còn rút quân bằng đường bộ sau khi đánh tan hậu cứ của 2 sư đoàn CSBV-đã lộ diện gần QL1- là khả thi, mà Tướng Trưởng không nghe.

5-Trong lúc Đạo Quân Tiền Phương bị vây hãm tại Thuận An chỉ có Đại Tá TQLC Nguyễn Thành Trí còn ở lại ngoài khơi Thuận An, ngoài ra đã không có một cấp chỉ huy cao cấp của Quân Đoàn I nào, từ Trung Tướng Trưởng đến Trung Tướng Thi, hay Đại Tá Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn I bay thị sát mặt trận để trực tíếp tìm phương cách cứu nguy cho Đạo Quân Tiền Phương.

6-Không Quân, Hải Quân của Quân Đoàn I còn nguyên vẹn nhưng đã không can thiệp cứu nguy. Theo Phó Đề Đốc Thoại thì vào thời điểm 24/3/1975 đến 27/3/1975, Hải Quân có sẵn 12 chiến hạm tại ngoài khơi Thuận An sẵn sàng yểm trợ hỏa lực nhưng không được lệnh và cũng theo Phó Đề Đốc Thoại thì tại Đà Nẵng Không Quân có trên 40 oanh tạc cơ A.37 còn tốt khiển dụng, nhưng đã không được lệnh can thiệp để cứu Đạo Quân Tiền Phương, tóm lại đạo quân này đã bị bỏ rơi.

7-Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã không biết về lệnh rút bỏ Huế lúc 6 PM ngày 24/3/1975?, mãi đến 9.30 AM ngày 25/3/1975 trong phiên họp Nội Các và Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, khi Tổng Thống Thiệu gọi Trung Tướng Trưởng thì ông vẫn chưa biết. Tổng Thống Thiệu còn hỏi Tướng Trưởng: “Có giữ được Huế không?”.
Tuy nhiên, đây là sự thật hay chỉ là màn dàn cảnh cho lịch sử thì không ai biết.

8- Nếu rút quân theo Quốc Lộ 1, chúng ta sẽ có thể mang về Đà Nẵng toàn thể Quân Đoàn 1 Tiền Phương gồm lính, chiến xa, đại bác, nếu quân CSBV chặn đường thì với địa thế trống trải, Hải, Không Quân VNCH còn nguyên vẹn, quân ta thiện chiến và đông hơn địch, chúng ta sẽ tiêu diệt bất cứ đạo quân nào chặn đường, tất cả đạo quân Tiền Phương sẽ về để giữ Đà Nẵng một thời gian dài. Rút quân bằng Hải Quân thì, nếu may lắm, cũng chỉ mang về Đà Nẵng quân lính và vũ khí cá nhân, còn chiến cụ nặng phải bỏ lại.

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THẤT THỦ:

Lực lượng chính quy hai bên tại chiến tuyến Đà Nẵng:
-VNCH:
Bắc: Lữ Đoàn 468TQLC tại Đèo Hải Vân.
Tây: Lữ Đoàn 369TQLC tại Đại Lộc- Thượng Đức.
Lữ Đoàn 258TQLC làm trừ bị tại Căn Cứ Non Nước-Đà Nẵng.
Tây Nam: Sư Đoàn 3 Bộ Binh với 14.000 quân.
Nam: Sư Đoàn 2 Bộ Binh và Liên Đoàn 12 BĐQ.
-CSBV:
Bắc: Sư Đoàn 324, 325. Hai sư đoàn này sau khi tiến vào Huế đã bị bỏ ngỏ, chúng tịch thu được một số lượng vũ khí đạn dược khổng lồ của Đạo Quân Tiền Phương gồm Đại Bác 105, 155 ly, 51 Chiến Xa M48 còn mới và hàng trăm Chiến Xa M41, M113, chúng đã trở thành một lực lượng quân sự hùng mạnh.
Tây: Sư Đoàn 304. Tháng 8/1974, sư đoàn này cùng với Sư Đoàn 324B CSBV và các thành phần tăng phái yểm trợ của Quân Đoàn 5 và Quân Đoàn 2 CSBV chiếm Quận Thường Đức, chúng đã bị Lữ Đoàn 1 và Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù đẩy lui, trận chiến kéo dài đến đầu năm 1975, kết quả CSBV bị thiệt hại 2,000 quân chết và 5,000 quân bị thương, CSBV giấu xác chết rất giỏi, nếu Nhảy Dù đếm được 2000 xác địch thì con số thực tế phải cao hơn nhiều, như vậy thì SĐ 304 CSBV chỉ còn cái tên thôi. Khi Lữ Đoàn 369 TQLC đến thay Nhẩy Dù từ ngày 16/3/1975 đến 29/3/1975, theo Đại Úy Kiều Công Cự Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn 2 TQLC thì không có hoạt động nào của CSBV tại vùng này.
Nam: Sư Đoàn 2 CSBV và 1 trung đoàn của SĐ 3 CSBV.

Diễn Tiến Tình Hình:

Phần này tôi viết theo chi tiết từ phỏng vấn Phó Đô Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, phỏng vân Thiếu Tướng Bùi Thế Lân lúc tôi thực hiện hồi ký: “Trình Tổng Thống Tôi Quyết Định Theo Tình Hình”, Y Sĩ Đại Úy Nguyễn Trung Tín-Y Sĩ Trưởng LĐ 2 BĐQ, các MX Nguyễn Bác Ái, MX Nguyễn Thế Thụy là những người có mặt cùng với Thiếu Tướng Lân và từ kinh nghiệm của người viết.

LĐ 258 TQLC về đến đỉnh Đèo Hải Vân vào 7pm ngày 25/3/75, tôi được lệnh mang thương binh về Tổng Y Viện Duy Tân. Tại đây tôi gặp Niên Trưởng Phạm Văn Lương, ông hứa sẽ săn sóc thương binh của tôi, và cho tôi biết tình hình phía Nam Đà Nẵng bắt đầu rối loạn. Sau đó khoảng 10 PM ngày 25/3/1975, tôi được lệnh trình diện Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Văn Thế tại Bệnh Viện Dã Chiến Sư Đoàn TQLC tại căn cứ Non Nước Đà Nẵng, trên đường đi tôi thấy thành phố Đà Nẵng rất hỗn loạn, đầy dân tỵ nạn, quân nhân rã ngũ và có thể rất nhiều đặc công VC trà trộn.

Trưa ngày 26/3/75, tôi được lệnh ra bến Thương Cảng Đà Nẵng đón tàn quân của Lữ Đoàn 147 TQLC. Cả 1 Lữ Đoàn gần 4000 TQLC về Đà Nẵng chỉ trên 1 chiếc LCU duy nhất, gồm Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn, trên 1 trăm thương binh và khoảng vài trăm binh sĩ. Ông Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 147 TQLC Đại tá Nguyễn Thế Lương bị thương tại đầu gối do hỏa tiễn tầm nhiệt của VC bắn lúc di tản khỏi bãi Thuận An và tôi đã được lệnh săn sóc ông từ đây.

Ngày 27/3/75, toàn là tin xấu, Quảng Ngãi thất thủ, ½ Sư Đoàn 2 Bộ Binh được tầu Hải Quân cứu mang về Cù Lao Ré, BĐQ tan hàng phần còn lại rút về Đà Nẵng. Thiếu Tá Trần Vệ ban 3 SĐ/TQLC có việc phải lên Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I thì không thấy ai, như vậy sĩ quan và binh sĩ trong Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn đã bỏ đi nhiều, dân chúng tranh nhau ra phi trường Đà Nẵng để về Saigon, các bến tầu đông đúc hỗn loạn.

Căn Cứ Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải- Đà Nẵng.

Ngày 28/3/75 buổi sáng chúng tôi nhận được lệnh tử thủ Đà Nẵng, trên trời máy bay L19 phát thanh kêu gọi các quân nhân bộ binh và BĐQ rã ngũ về trình diện đơn vị, và bây giờ tôi mới được biết Trung Tướng Trưởng đang ở Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC tại Căn Cứ Non Nươc.

Tại Bệnh Viện Dã Chiến Sư Đoàn TQLC, tôi và Bác Sĩ TQLC Nguyễn Quang Khoa, với tinh thần tử thủ, đã thong thả đốt từng lá thư tình và từng hình ảnh của các “em gái hậu phương”, để nếu chúng tôi có hy sinh thì lũ “cán ngố” sẽ không xem đọc được.

Buổi Trưa 28/3/1975, có một khách không mời là Tổng Lảnh Sự Mỹ tại Đà Nẵng AL Francis cùng 2 người da trắng tự nhận là nhà báo ngoại quốc, chúng trang bị vũ khí cùng mình, đến Căn Cứ Non Nước để xin gặp Trung Tướng Trưởng, không biết tên Al Francis này đã nói gì với Trung Tướng Trưởng để ông đổi ý định tử thủ Đà Nẵng, theo hồi ký của Phó Đề Đốc Hồ Văn Ký Thoại thì sau khi gặp Al Francis vào buổi chiều 28/3/1975 Tướng Trưởng đã quyết định bỏ Đà Nẵng và không còn nghe lệnh của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nữa, tên Al Francis sau đó dùng trực thăng đi về căn cứ Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải tại Tiên Sa- Đà Nẵng, Chúng tôi cũng nhận được tin tình báo là CSBV sẽ pháo kích căn cứ Hải Quân và phi trường Đà Nẵng lúc 11pm đêm ngày 28/3/1975.

Chiều ngày 28/3/1975, tôi được lệnh mang Đại Tá Nguyễn Thế Lương đến căn cứ Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải để tìm thêm phương tiện về Bệnh Viện Cam Ranh điều trị cho ông, chúng tôi quá giang trực thăng của Thiếu Tướng Bùi Thế Lân đến Căn Cứ Hải Quân vì Tướng Lân cũng đến đó để họp Quân Đoàn.

Chúng tôi đên căn cứ Hải Quân lúc 7pm, Đại Tá Lương được khiêng vào 1 căn hầm nổi kiên cố xây bằng nhiều bao cát, căn hầm này là Trung Tâm Chỉ Huy Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải. Trong hầm có Trung Tướng Trưởng, tôi đã xúc động vì đây là lần đầu tiên được gặp vị tướng huyền thoại này. Tuy nhiên, chưa kịp chào kính ông thì tôi đã phải săn sóc Đại Tá Lương đang kêu đau, vết thương rỉ máu. Trong căn hầm này còn có Phó Đề Đốc Hô Văn Kỳ Thoại Tư Lệnh Hải Quân, Thiếu Tướng Bùi Thế Lân Tư Lệnh TQLC.

Đại Tá Lương ngồi bệt xuống đất, dựa trên chiếc bàn có điện thoại viển liên và tôi, bác sĩ của Đại Tá Lương, đang băng bó cho ông, tôi thấy Trung Tướng Trưởng gọi điện thoại cho Tổng Thống Thiệu. Tướng Trưởng muốn cho 2 ông tướng kia cùng nghe nên không áp sát điện thoại. Tướng Trưởng xin bỏ Đà Nẵng, Tổng Thống Thiệu không chấp nhận và lệnh cho ông phải tử thủ Đà Nẵng*.

(*sau này tôi có hỏi Thiếu Tướng Lân và Phó Đề Đốc Thoại về cuộc điện đàm này và cả hai đều xác nhận những điều tôi vô tình nghe là đúng).

Trung Tướng Trưởng trả lời: “Trình Tổng Thống, tôi quyết định theo tình hình”, rồi cúp máy. Sau đó ông nói với Thiếu Tướng Lân: “Mình rút đêm nay”.

Trong bài hồi ký trước, tôi đã viết về phiên họp này nhưng vì không liên quan, nên tôi đã không đề cập đến chi tiết cuộc điện đàm này.

Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại cho biết: Trong cuộc họp Quân Đoàn I sáng ngày 28/3/1975 các đơn vị trưởng đã được lệnh giữ Đà Nẵng bằng mọi giá, chỉ sau khi gặp tên Al Francis chiều ngày 28/3/1975 Trung Tướng Trưởng không còn nghe lời Tổng Thống Thiệu nữa, quyết định bỏ Đà Nẵng là của Trung Tướng Trưởng, thậm chí sáng ngày 29/3/1975 khi Trung Tướng Trưởng đang ở trên Tầu HQ 404 trên đường rời Đà Nẵng, Tổng Thống Thiệu còn gửi Trung Tướng Trưởng một công điện xác nhận lệnh tử thủ Đà Nẵng vẫn còn hiệu lực.

7.30 PM ngày 28/3/1975, Trung Tướng Lâm Quang Thi, Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh và một số sĩ quan cấp tá đến họp, trong phiên họp Trung Tướng Trưởng ra lệnh bỏ Đà Nẵng đêm nay. Thiếu Tướng Hinh xin 3 ngày để rút quân, Trung Tướng Trưởng không chấp nhận. Trong lúc 2 ông đang thảo luận về thời gian rút quân, tôi bỏ ra ngoài phòng họp, đi tìm tầu Hải Quân để gửi Đại Tá Lương về Cam Ranh thì biết lúc chiều vì có tin CSBV sẽ pháo kích căn cứ Hải Quân lúc 11pm, nên Phó Đề Đốc Thoại đã ra lệnh cho tầu Hải Quân ra khơi để tránh pháo kích, còn 1 chiếc tầu riêng của Phó Đề Đốc Thoại thì đã bị tên Al Francis mượn để ra tầu HQ5, sau đó tầu không trở về.

Theo nhận xét của Thiếu Tướng Bùi Thế Lân thì: “Trung Tướng Trưởng chỉ họp các đơn vị trưởng tối ngày 28/3/75 tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải để ra lệnh rút quân ngay lập tức trong đêm, không có bàn thảo kế hoạch và phương cách rút quân”. Như vậy thì chỉ có những người có mặt tại buổi họp rút được nếu may mắn, còn binh sĩ trong các cộng sự phòng thủ xung quanh Đà Nẵng không thể nào rút ngay lập tức được, cuộc rút quân khỏi Đà Nẵng sáng ngày 29/3/1975 đã đẫm máu và hỗn loạn.

9pm ngày 28/3/1975, trong khi Thiếu Tướng Hinh đang xin Trung Tướng Trưởng thêm thời gian rút quân cho Sư Đoàn 3 Bộ Binh thì CSBV bắt đầu pháo kích vào Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải bằng đại bác 130 ly. Chúng pháo kích rất chính xác và nhắm vào hầm chỉ huy nơi các ông tướng đang họp.

Khoảng 10.30 pm, người nhái Hải Quân và TQLC bắt được mấy tên tiền sát viên VC nên chúng pháo kích rời rặc và không còn chính xác. Trận pháo kích này đã phá hủy 2 trực thăng của Tướng Trưởng và Tướng Lân.

Lúc 10.30pm ngày 28/3/1975, buổi họp kết thúc, Tướng Lâm Quang Thi dùng trực thăng bay ra Soái Hạm HQ5, Tướng Trưởng được 1 trực thăng khác đến đón.

Vì trực thăng của TQLC bị phá hủy nên Tướng Lân và chúng tôi phải theo Phó Đề Đốc Thoại và cận vệ của ông.

Lúc 11pm CSBV pháo kích căn cứ Hải Quân rất nặng nề, chúng tôi phải bỏ căn cứ di chuyển bộ quanh chân núi Sơn Trà và mãi đến sáng ngày 29/3/1975 mới đến một bãi biển hoang vắng, lúc đó Tướng Thoại mới gọi được một tầu nhỏ vào đón và đưa ra Chiến Hạm 802.

Theo các TQLC tại Trung Tâm Hành Quân tại căn cứ Non Nước thì lúc 12am ngày 29/3/1975 Trung Tướng Trưởng đã bay đến Bộ Chỉ Huy TQLC để qua đêm, 6am ngày 29/3/1975, khi có tầu HQ vào bờ biển căn cứ Non Nước đón TQLC, Tướng Trưởng cùng những quân nhân TQLC thuộc Trung Tâm Hành Quân TQLC lội ra tàu.

Cũng từ giờ phút này, Quân Dân Quân Khu I như rắn mất đầu tìm đường “tự thoát” và lũ cán binh CSBV trước đó một tuần đã bị chúng tôi đánh chạy “vắt giò lên cổ” trốn trong lùm rừng khe núi, giờ thì ngoi ra, chỉ trời vạch đất huênh hoang khoác lác.

Vì lệnh rút quân quá bất chợt và gấp rút nên quân sĩ trong các vị trí phòng thủ quanh Đà Nẵng không thể đến các bến tầu được và nhất là không có cấp chỉ huy cao cấp nên cuộc rút những đơn vị còn lại của Quân Đoàn I trong ngày 29/3/1975 tại các bến tầu Đà Nẵng đã diễn ra trong hỗn loạn và đẫm máu.

Riêng Sư Đoàn TQLC, quân số lúc ra Vùng I Chiến Thuật là trên 12 ngàn người về đến Vũng Tầu chỉ còn 4 ngàn TQLC. Tính từ lúc CSBV bắt đầu nổ súng trên Quốc Lộ 1 Nam Thừa Thiên ngày 21/3/1975 đến lúc Đà Nẵng thất thủ ngày 29/3/1975 thì Quân Đoàn I đã tan rã chỉ trong 8 ngày.

TQLC đang chờ tầu quân tại Căn Cứ Non Nước Đà Nẵng ngày 29/3/1975.

Đặc Điểm Của Cuộc Rút Bỏ Đà Nẵng:

1-Chưa có một trận đánh lớn nào quanh Đà Nẵng mà cấp chỉ huy Quân Đoàn I đã quyết định rút.

2-Theo Phó Đề Đốc Thoại thì sáng ngày 28/3/1975, trong cuộc họp Quân Đoàn, Trung Tướng Trưởng cương quyết bảo vệ Đà Nẵng, chỉ sau khi họp với tên Al Francis với vỏ bọc là Tổng Lãnh Sự Mỹ, trưa ngày 28/3/1975 tại căn cứ TQLC Non Nước- Đà Nẵng, ông mới đổi ý và quyết định rút bỏ Đà Nẵng khẩn cấp.

3-Bỏ Đà Nẵng là quyết định của Trung Tướng Trưởng, Tổng Thống Thiệu hoàn toàn bị bất ngờ. Tôi viết câu này dựa theo phỏng vấn Thiếu Tướng TQLC Bùi Thế Lân, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và Hồi Ký của ông Nguyễn Tiến Hưng Cố Vấn Tổng Thống Thiệu.

4-Lệnh bỏ Đà Nẵng quá đột ngột, thời gian rút quân quá vội vã cho nên các đơn vị trưởng bị bất ngờ không kịp

nhuvan
Posts: 383
Joined: Sun Mar 27, 2016 8:29 pm

Re: QUÁN BIÊN THUỲ

Post by nhuvan »

Tháng Ba Buồn… Hiu !

- Tiểu Cần Nguyễn Thế Thụy -


Thời gian 35 năm, từ 3/75 tới 3/2010, là một nửa đời người nếu tôi chỉ xin được sống bình an đến 70 tuổi thôi là đủ rồi, vậy mà hằng năm cứ đến tháng 3 là lòng tôi lại nao nao buồn bã, bao hình ảnh của chiến trận năm xưa, vào hạ tuần tháng 3/75, lại hiện về khiến tôi giảm tuổi thọ! Cuộc chiến “không chiến*” ấy chỉ xảy ra trong vòng một tuần lễ trên một đoạn đường không xa, từ cửa Thuận An, Huế đến bờ biển Non Nước Đà Nẵng mà có quá nhiều đổi thay, quá nhiều điều khó hiểu luôn dày vò tâm can khiến tôi lại ngậm ngùi nghĩ về Tháng Ba Buồn Hiu! (* Tôi gọi cuộc chiến “không chiến” không có nghĩa là máy bay ta và địch đấm đá nhau trên trời mà là quân ta ở dưới đất chưa có đánh nhau thực sự với địch mà đã phải rút theo lệnh, theo lệnh vào ngõ cụt khiến quân ta bị đẩy vào cửa tử! Tôi còn nhớ như in những ngày buồn thảm ấy, như mới xảy ra ngày hôm qua mà thôi!

Ngày 25/3/1975

Mới 6.30 sáng, Đại Úy Nguyễn Quang Đan, danh hiệu Đại Dương, chánh văn phòng Tư Lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, đã gọi tôi trình diện gấp, vừa gặp anh, Đại Dương vội vã nói với tôi như có việc khẩn cấp:

– “Tiểu Cần mang PRC.25 ra ngay bãi trực thăng TL/SĐ chờ tôi”.

– “Nhận rõ, tôi chờ Đại Dương tại bãi trực thăng của TL”.

Theo kinh nghiệm, tôi lập lại khẩu lệnh cho chắc ăn để không hiểu lầm rồi làm sai lệnh của cấp trên, chào Đại Dương xong là tôi mang máy PRC25, ba chân bốn cẳng chạy thẳng ra chỗ trực thăng của Tư Lệnh đang đậu, nhưng trong đầu không khỏi thắc mắc về cử chỉ vội vã khác thường này của Đại Úy Đan. Nhưng cũng không còn thì giờ để nghĩ tiếp vì xe jeep của TĐ/THD chở phi hành đoàn cũng vừa tới, hai phi công phóng vội lên trực thăng và cho nổ máy. Khoảng 5 phút sau thì Đại Úy Đan đi tới cùng với Đại Tá Tham Mưu Trưởng/SĐ Lê Đình Quế, danh hiệu Quang Trung tất tả đến, chúng tôi tôi cùng leo lên trực thăng ngay.

Cất cánh lên cao, trực thăng trực chỉ hướng Bắc, dọc theo bờ biển, khi vừa qua khỏi Lăng Cô, Đại Úy Đan ghé sát miệng vào tai tôi gần như hét lên để át tiếng cánh quạt máy bay:

– “Tiểu Cần gọi LĐ.147 để Quang Trung nói chuyện với Long Mỹ”

Long Mỹ là Đại Tá Nguyễn Thế Lương Lữ Đoàn Trưởng LĐ.147/TQLC. Khoảng 30 phút sau, trực thăng đến vùng bờ biển Thuận An, nơi tập trung quân của Lữ Đoàn, theo lời yêu cầu của Đ/Úy Đan, trực thăng giảm độ cao, bay rất thấp, thấp đến độ tôi có thể nhìn rõ màu bảng tên của tiểu đoàn các anh TQLC ở dưới đất, thấy rõ các anh ngước lên đưa tay vẫy mỗi khi trực thăng bay qua phạm vi đóng quân của từng đơn vị, những gương mặt vui tươi với những nụ cười hy vọng dù rằng cả một ngày và đêm các anh phải đi bộ từ tận cùng phía Bắc Huế về đây theo kế hoạch lui binh. Nhưng các anh vui tươi và hy vọng điều gì khi chỉ một chiếc trực thăng bay ngang? Hẳn nhiên là mong thẩm quyền “cõi trên” nhìn thấy và biết rõ những gì các anh đang cần để mà đáp ứng hầu tiếp tục chiến đấu.

Là lính truyền tin mang máy đi theo Tư Lệnh nhiều năm, loáng thoáng nghe qua cuộc điện đàm giữa Quang Trung và Long Mỹ nên tôi hiểu được tình hình và những chuyện gì đang xảy ra dưới bờ biển kia! Tôi thông cảm với nụ cười và hy vọng của các anh mỗi khi trực thăng bay qua, dù rằng không biết là giới chức nào ngồi trên đó, nhưng ít nhất “trực thăng” cũng đã thấy tận mắt hoàn cảnh bi đát của các anh, “kìa đoàn quân chiến thắng” không phải trở về mà bị buộc lui binh, lui binh trên lộ trình “rút cầu”! Cầu phao ở cửa Tư Hiền, trên đường lui binh đã không được thực hiện theo kế hoạch Alfa!

Trực thăng bay dọc theo bờ biển theo hướng Nam Bắc và ngược lại nhiều lần để Quang Trung nói chuyện với Long Mỹ, khoảng 30 phút sau thì trực thăng quay về BTL/SĐTQLC trong căn cứ Non Nước.

Về đến BTL/SĐ chưa đầy 10 phút, đang uống ly nước lạnh do T/S Hòa, văn thư của TL cho để dằn “bụng đói” thì Đại úy Đan gọi vào văn phòng:

– “Tiểu Cần, tụi mình sẽ bay ra Thuận An nữa để tiếp tế gạo cho anh em, chúng ta vẫn dùng trực thăng của Thiếu Tướng Tư Lệnh”.

– “Tôi luôn sẳn sàng, chúng mình sẽ bay ra tiếp tế gạo cho anh em, tôi ra trực thăng trước để chờ thẩm quyền”.

Khi tôi đến nơi thì một số anh em thuộc TĐ/THD đang chất những thùng gạo sấy lên chiếc trực thăng, tôi phụ một tay để cố sắp xếp sao cho càng nhiều càng tốt, nhưng khoang tàu chỉ có sức chứa 10 thùng là tối đa. Vậy với chỉ một chiếc như thế này thì chở không được bao nhiêu, và phải bao nhiêu chuyến trong lúc hơn 3000 người đang “bụng không, bãi cát trống”?

Vẫn bay dọc theo bờ biển lên hướng Bắc, khi gần đến vị trí LĐ.147 thì phi công hỏi Đại Úy Đan kế hoạch tiếp tế những thùng gạo sấy này thì anh Đan cho lệnh đáp xuống bãi cát, anh em dưới đất phụ vào để giải tỏa rất nhanh cho trực thăng cất cánh làm chuyến khác. Nơi đầu tiên nhận được gạo sấy là một đơn vị PB.

Qua chuyến thứ hai, theo tính toán của anh Đan và phi công thì đáp và cất cánh tốn nhiều thời gian nên các anh cho trực thăng bình phi cách mặt đất chừng 10m rồi chúng tôi xô các thùng gạo sấy xuống, làm cách này rất nhanh, nhưng sau đó thì được biết một vài anh em bị thương vì thùng gạo rơi trúng người!

Xin lỗi các anh, cái khó nó bó cái khôn, chúng tôi không biết làm gì hơn. Chuyến thứ ba đã hoàn tất, như vậy chúng tôi đã thẩy xuống được tất cả 30 thùng gạo sấy, nhưng một thùng có bao nhiêu bịch gạo thì khó mà biết. Vội vã quay trở lại Non Nước để làm chuyến thứ tư trước khi phi cơ phải đi đổ xăng thì một bất ngờ, hết sức bất ngờ xảy ra.

Phi công báo cho Đại Úy Đan (K21VB) biết là trực thăng của Chuẩn Tướng Điềm, TL/SĐ.1/BB lâm nạn, rớt xuống đất, hiện ông Tướng Tư Lệnh, sĩ quan tùy tùng và phi hành đoàn đang trong tình trạng hết sức nguy hiểm, lại chưa liên lạc được với giới chức nào để tiếp cứu, phi công xin ý kiến Đại Úy Đan.

Nên nhớ trực thăng Đại Úy Đan đang sử dụng là trực thăng chỉ huy của TL/SĐTQLC và được Thiếu Tướng TL cho dùng để tiếp tế gạo cho lính của ông, vì không còn bất cứ phương tiện nào khác, nên trong trường hợp cần thiết và nguy hiểm này Đại Úy Đan hiểu được Chuẩn Tướng Điềm cũng sẽ không còn “chuồn chuồn” nào tới cứu ông! Đại Dương Đan OK với phi công đi cứu người ngay trước khi thông báo về BTL/SĐTQLC để xin “hợp thức hóa” sự liều mạng này.

Trực thăng đang xuôi Nam liền “quẹo” phải về hướng Tây (Trường Sơn) rồi “quẹo” phải một lần nữa về hướng Bắc, bay chừng 5 phút thì chúng tôi phát hiện trực thăng của Tướng Điềm nằm nghiêng đằng sau hàng dương liễu gần QL1, khoảng 10 km phía Bắc Lăng Cô.

Chúng tôi vừa đáp xuống cách trực thăng bị nạn chừng 150m thì phi hành đoàn, Chuẩn Tướng Điềm và một vị thiếu tá rời khỏi trực thăng chạy về hướng chúng tôi. Lập tức toán VC ở bìa làng gần QL1 cũng đang tiến đến chỗ trực thăng bị nạn liền khai hỏa về phía chúng tôi.!

Có lẽ trước khi chúng tôi đáp xuống cứu chuẩn tướng thì toán VC này còn ở xa hoặc đang thăm dò tình hình và xin lệnh “thủ trưởng” là bắt sống hay giết chết! Nhất định phải bắt sống, vì VC nghĩ những “địch quân” ngồi trên “máy bay lên thẳng” ắt phải là cấp “sư”. Nay thấy chúng tôi đến cứu vớt, “hớt tay trên” những nhân vật quan trọng từ “trời rơi xuống”, những mồi ngon của chúng nên chúng vội vã xả súng để hy vọng gỡ gạc may ra gây cho địch “từ chết tới bị thương”.

Nhìn thấy Chuẩn Tướng Điềm khập khiễng khó khăn chạy trên cát mà VC thì bám sát bắn rát sau lưng ông, tôi tự động không cần đắn đo suy nghĩ mà phóng ào ra khỏi trực thăng, chạy thật nhanh đến ông, dìu tiếp sức giúp ông chạy nhanh hơn. Ông và tôi là hai người cuối cùng còn “đầu đội trời, chân đạp đất”, vừa chạm tay vào mép sàn trực thăng thì trên máy báy bao cánh tay của các “thượng đế” đưa ra nắm lấy chúng tôi, người túm áo, người nắm vai, thậm chí còn có thượng đế dám nắm cổ ông tướng kéo lên, miễn sao thoát khỏi bàn tay của quỷ dữ.

Trực thăng bốc lên ngay khi hai chân tôi còn đang tòng-teng phía ngoài, vài tràng súng bắn theo, tôi lạnh giò đúng nghĩa, nhưng khi đã an vị trên sàn thì tôi đưa tay vẫy vẫy chọc quê mấy cháu “baác”, giã từ vũ khí AK. Cùng lúc một bàn tay vỗ nhẹ vai tôi, tôi quay lại, ông tướng mỉm cười nói:

– “Cám ơn em, em tên gì?”

Trực thăng của TL/SĐTQLC đưa TL/SĐ.1BB và phi hành đoàn bị nạn về đến phi trường Đà Nẵng (SĐKQ) là Đại Úy Đan cho quay trở về BTL/SĐ ở Non Nước ngay. Tôi chuẩn bị sẵn sàng chất gạo xấy lên máy bay cho chuyến tiếp tế thứ tư, nhưng khi anh Đan và tôi vừa nhảy ra khỏi thì trực thăng bốc cao, tôi hỏi:

– “Trực thăng đi đâu vậy Đại Dương?”

– “Đi đổ xăng”. Anh Đan lắc đầu đáp gọn, giọng nói như nghẹn họng!

Sau ba phi vụ tiếp tế, tôi không còn nhận được lệnh gì nữa, coi như chuyện bay ra Thuận An để thả những thùng gạo sấy xuống cho anh em nhai chấm dứt, tôi xin nhấn mạnh chữ “nhai”, vì anh em có còn giọt nước nào đâu để đổ vào gạo sấy cho gạo sẽ thành cơm! Dù xung quanh các anh là những đầm nước, là đại dương mênh mông, vì người ta có thể uống nước tiểu chứ không thể uống nước biển. Quả thật anh em LĐ.147 đang chết “vì nước” trước biển cả! Nếu anh em ăn được cát thì đâu cần trực thăng tiếp tế lương thực! Không ăn được cát thì “cát ăn”, cá ăn kiến, kiến ăn cá mà, đã có nhiều xác phải vùi vội vàng xuống cát vì không có tiếp tế! Chết vì không có trực thăng tiếp tế đạn dược, thuốc men, nước uống và lương thực dưới bầu trời đầy “chuồn chuồn” đang xuôi Nam!

Vị danh tướng tiền phương QĐ.1 khi ra mắt cuốn sách viết về trận chiến Bình Long Anh Dũng “Hell In An Lộc” đã trả lời phóng viên báo Người Việt:

– “Trận An Lộc chứng tỏ một cách hùng hồn rằng QLVNCH nếu được yểm trợ đầy đủ về hỏa lực và tiếp liệu thì có thể đánh bại các sư đoàn thiện chiến nhất của Bắc Việt, dù chúng được pháo binh và thiết giáp yểm trợ” (NV 8803).

Vậy mà khi điều binh cuộc chiến “Tháng Ba Buồn Hiu 3/75” này, dưới tay Tướng Tư Lệnh có SĐ.1/KQ và HQ vùng I Duyên Hải, PB đủ loại mà ngài lại quên sử dụng để yểm trợ hỏa lực và đạn được khiến quân dưới quyền của ngài, cụ thể là LĐ.147/TQLC thiếu đạn để bắn quân thù, anh em chúng tôi bèn dùng lựu đạn M26 để ôm nhau rút chốt!

Ba mươi năm năm sau hay 70 năm thì vẫn thắc mắc suông vậy thôi chứ nào dám hỏi ai đâu! Ngay việc muốn hỏi Đại Úy Đan là tại sao không tiếp tục tiếp tế gạo sấy cho LĐ.147 mà tôi còn không dám hỏi thì nói chi tới chuyện lấy “sào khều mặt trời”, dám thắc mắc với Trung Tướng Tư Lệnh Tiền Phương QĐ.1, tác giả “Hell In An Lộc” rằng sao ông không cho lui binh theo QL.1 mà lại điều quân ra bờ biển, bảo quân đi qua cầu phao ở cửa Tư Hiền, nhưng ngặt nỗi cầu phao thì không bắc mà những con thuyền (tàu) thì cũng “viễn xứ”! Thôi thì đành anh em ta ôm “em 26” vào lòng cho sướng!

Đại Tá Nguyễn Thành Trí TLP, chỉ huy lực lượng TQLC tại mặt trận Quảng Trị Huế đã ghi lại lệnh rút lui của Tướng Tiền Phương Lâm Quang Thi như sau:

– “Lực lượng Tây Bắc Huế do tôi (Tướng Thi) chỉ huy sẽ rút về Thuận An, sau đó di chuyển về cửa Tư Hiền. Tại đây Hải Quân và Công Binh QĐ.1 sẽ thiết lập cầu phao để các cánh quân vượt sông nhanh chóng và dễ dàng. LĐ.468/TQLC từ đèo Hải Vân sẽ cử một đơn vị đến chiếm núi Vĩnh Phong để bảo vệ điểm vượt sông đồng thời làm thành phần tiếp đón. SĐ.1/BB do Tướng Điềm chỉ huy sẽ rút theo trục QL1 và sẽ tập trung về điểm vượt sông (cửa Tư Hiền), song song cùng với cánh quân TQLC…”.

Hay quá! Nhưng chỉ kẹt một sợi tóc là “cóc có” cầu phao nên SĐ.1 tan hàng và LĐ.147/TQLC bị đưa ra “pháp trường cát Thuận An”! Tại sao không có cầu phao? Câu trả lời thuộc về HQ vùng I và CB/QĐ.1, cao hơn là TL Tiền Phương.

Ngày 26/3/1975

Phạm vi trú đóng của TL/SĐ yên lặng, mọi người làm việc bình thường, cái bình thường hình như không yên ổn. Tôi chỉ loanh quanh trong vị trí đóng quân, sẵn sàng xách máy chạy theo TL bất cứ lúc nào ông đi bay. Thỉnh thoảng tôi lên TOC (TTHQ/SĐ) để kiểm soát lại hệ thống liên lạc, mật hiệu, tần số xem có gì thay đổi hay không rồi trở về ngay chốn cũ “bến đò xưa”.

Ngày 27/3/1975

Tin LĐ.147 bị hốt trọn gói, bị bắt hết (trừ một số thương binh đã được LCM vào bốc từ hôm trước) chỉ vì hết đạn và tàu HQ không vào đón theo kế hoạch lui binh Alfa khiến chúng tôi rụng rời tay chân. Trời hỡi, trời ơi! Tôi thực sự bàng hoàng sửng sốt, không tin là sự thật! Mới chỉ hôm qua hôm kia thôi, các anh còn cười đùa “vẫy tay chào nhau” với chúng tôi để đón những bịch gạo sấy. Cái kết thúc quá tàn nhẫn và đau thương!.

Các anh còn đội ngũ đội hình vững vàng, còn đầy đủ cấp chỉ huy can trường luôn sát cánh cùng quân sĩ của mình, các anh vẫn còn đầy đủ hay dư thừa sự gan lì và kỷ luật của một đoàn quân luôn chiến thắng và chưa bao giờ chưa bao giờ biết lùi bước. Nhưng các anh lại thiếu đạn dược lương thực và đau đớn là bị bỏ rơi chỉ vì bờ biển “cạn” tàu không vào được! Các anh bị bắt chỉ vì cầu phao tại cửa Tư Hiền không được HQ và Công Binh thiết lập theo lệnh của Trung Tướng TL/TP. Ai là người gây ra thảm họa này. Nếu TL/QĐ.1/TP chọn lui binh theo QL1 thì chắc chắn không có thảm cảnh cá nằm trong rọ. Ai đã đơm LĐ.147? Lữ đoàn 147/TQLC gồm các Tiểu Đoàn 3,4,5 và 7 chính là những tiểu đoàn tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị thì nay những tiểu đoàn ấy lại bị bỏ rơi một cách khó hiểu.

Trận chiến năm 1972 và tái chiếm Cổ Thành, chỉ một đoạn đường không bao xa, từ ngã ba Tri Bưu đến chân thành Đinh Công Tráng, các anh đã phải bò, trườn, lăn có ngày chỉ tiến được 50m với hằng trăm đồng đội bị gói trong “poncho”. Trung Tá Nguyễn Văn Cảnh TĐTr/TĐ.3, một trong mũi tấn công đã nói rằng ngày nào tiểu đoàn chỉ hy sinh dưới 20 mạng là “may mắn” lắm rồi! Vì thế trong 55 ngày đêm từ khi khởi sự cho đến lúc ngọn cờ quốc gia phất phới bay trên đống gạch vụn thành Đinh Công Tráng theo lệnh của Tổng Tư Lệnh tối cao thì binh chủng TQLC chúng tôi đã phải hy sinh hơn 3000 tay súng, mà một người hy sinh thì 4 người bị thương! Nhưng ngày đó chúng tôi không khóc, vậy mà hôm nay 27/3/1975, cũng hơn 3000 tay súng TQLC phải “chết đứng” trên bãi cát chỉ vì súng họ không còn đạn khiến anh em chúng tôi khóc!

Chúng tôi khóc vì thương cho đồng đội bị dồn vào lưới, tống vào rọ ở bờ bên kia cửa Tư Hiền, ngăn sông chỉ vì thiếu một cái cầu phao!Tôi thương cho thằng Hùng, thằng Lý, thằng Đức v.v.. Tôi nhớ đến Cam Ranh, Thiếu Tá Phạm Cang TĐTr/TĐ.7, một thần tượng của tôi, anh là xử lý Lữ Đoàn 147 sau khi LĐT bị thương, anh đã ở lại để cùng bị trói với đồng đội Lê Quang Liễn, Phạm Văn Tiền, Nguyễn Văn Sử với hơn ba ngàn thuộc cấp!

Ngày 28/3/1975

Như thường lệ, cứ 6 giờ sáng là tôi đã quân phục chỉnh tề, kiểm soát máy PRC25, pin, hệ thống liên lạc v.v.., nếu có một trục trặc nhỏ là tôi được ưu tiên đổi máy mới toàn hảo, mang máy theo Tư Lệnh thì mọi thứ mọi điều phải 5/5. Tánh của ông nghiêm nghị ít nói, suốt 3 năm mang máy theo ông tôi chỉ một lần bị sao “quả tạ” chiếu mạng. Ngày N, trên đường bay đến LĐ.258, TL muốn nói chuyện với Đồ Sơn, Đại Tá Ngô Văn Định, Lữ Đoàn Trưởng, nhưng không hiểu vì sao mà tôi không thể liên lạc được với BCH/LĐ dù máy móc OK, thời tiết tốt.

TL nhắc lần thứ nhất với Đại Úy Đan, chánh văn phòng TL, rồi lần thứ 2, thứ 3, anh Đan nhìn tôi lo lắng thương hại, còn tôi thì hồn vía “lên mây”! Lần thứ 4 TL quay sang “gõ” vào đầu tôi và nói tiếng Đức, chỉ có vậy thôi, rồi trực thăng cũng đáp tại LĐ.258 và đã có Đại Bàng Đồ Sơn ra đón TL. Có điều nghĩ lại cũng buồn cười, TL là “Bắc Kỳ” 100% mà lại nói tiếng Đức theo lối “Nam Kỳ” nên nghe lạ tai và kỳ-kỳ làm sao ý. Một kỷ niệm khó quên.
Đã 10 giờ sáng rồi mà không thấy động tĩnh gì cả, thường thì TL đi thăm các đơn vị vào lúc 8 giờ sáng. Tôi lò mò đến gặp đầu bếp của TL, Tr/S Nam để thăm dò tin tức chứ trong lòng đầy mối lo nhưng lại “bụng không dạ trống”, anh Nam luôn cưu mang tôi mỗi khi túi không tiền, mà túi tôi không tiền gần như suốt 25 ngày trong tháng.

Vừa trông thấy tôi mang bộ mặt rầu rĩ, anh Nam tưởng lầm tôi đói nên cho một chén cơm nguội đỡ lòng. Kể ra sự “hiểu lầm” của anh Nam cũng rất dễ thương và ước mong ai cũng hiểu lầm nhau theo phong cách này. Vừa nhai lưng chừng nửa chén cơm nguội thì Tr/Hòa vào gọi bảo tôi đi gặp Đại Úy Đan gấp! Thế là đành bỏ dở chừng chén cơm nguội đang ngon miệng, rồi ba chân bốn cẳng chạy đi, lòng thầm nhớ câu cải lương “tình chỉ đẹp khi còn dang dở”.

Tôi không còn nhận ra Đại Úy Đan của ngày hôm qua nữa, trông anh tựa như người vừa bị VC bắt, hẳn là anh đã thức trắng đêm, tôi nào có hơn gì anh, quanh đây đầy một không khí tang tóc, hình như ai cũng khóc cho đồng đội vừa mới…! Không phải như lời ca Cờ Bay “vừa mới chiếm lại đêm qua bằng máu” mà các anh “vừa mới bị trói đêm qua đầy máu”! Đại Úy Đan nhỏ nhẹ bảo tôi:

– “Tiểu Cần đến TĐ truyền tin SĐ nhận 2 bộ antena trời, 2 âm thoại viên và 2 máy PCR25 rồi sang BTL/Hải Quân bên Sơn Chà gặp Đ/Úy (?) Hải Quân trực TOC, ông ấy sẽ hướng dẫn địa điểm để Tiểu Cần thiết lập hệ thống liên lạc dã chiến cho Tư Lệnh”.

– “Thưa Đại Dương, anh em tôi đi bằng phương tiện gì?”

– “Tiểu Cần đi bằng xe của TL, Tài xế Ngọc đã sẵn sàng rồi”

– “Sau khi xong rồi tôi phải làm gì tiếp, thưa Đại Dương?”

– “Standby, chú ở đó để chờ lệnh mới”

– “Nhận thẩm quyển 5/5, ở tại đó để nhận lệnh mới”.

Tôi đến TĐTT thì gặp Đai Úy Trần Văn Viễn (ĐĐT/ĐĐKTHQ) đang chờ tại văn phòng, Đ/U Viễn là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi, anh em tôi làm việc với nhau lâu rồi và có thật nhiều kỷ niệm êm đềm, anh luôn hướng dẫn và giúp đỡ mỗi khi tôi cần đến. Sau khi trao cho tôi 2 bộ antena trời và những gì cần thiết cùng 2 âm thoại viên, T/S Tân, H/S Mạnh, Đ/U Viễn nắm chặt tay tôi nhắn nhủ:

– “Sang bên đó nếu có gì trở ngại, chú gọi cho tau ngay, đi bình an”

– “Cám ơn anh, tôi sẽ…”

Theo đúng nhà binh thì phải gọi là “đại úy”, nhưng đối với tôi, gọi cấp bậc tuy đúng nhưng họ chỉ là cấp chỉ huy, còn khi tôi gọi anh Viễn, anh Cang, anh Đan ở chỗ riêng tư thì các anh vừa là cấp chỉ huy vừa là vai anh về mọi phương diện trong một gia đình. Tôi không ngờ đó là lần cuối củng chào anh! Chúng tôi gặp lại nhau sau 33 năm trên đất tạm dung nhân dịp đại hội TQLC 2008 tại Nam CA.

Chúng tôi đến BTL/HQ vào lúc 12 giờ 15 và đã gặp ngay vị Đ/U HQ (quên mất tên rồi), ông dẫn tôi đến địa điểm đã chỉ định sẵn, đó là một “bunker”, hầm nổi bằng bao cát 10m x 6m, nằm cách hầm TOC/HQ chừng 5m. Sau khi quan sát, tôi quyết định dựng antena trên nóc hầm. Sau hơn một giờ làm việc, tôi,TS Tân, HS Mạnh và cả TS Ngọc tài xế đã dựng xong antena, bắt đầu vào hệ thống liên lạc để thử từ QĐ, SĐ, các đơn vị bạn được 5/5, tôi gọi về báo cho Đ/U Đan bằng tần số riêng thì vẫn nhận được lệnh y như cũ, có nghĩa là “standby”, chờ lệnh mới.

Ngồi tựa vào tường cát của hầm trú ẩn để nghỉ cho bớt mệt, khi hăng say làm việc thì quên đói, giờ đây ngồi không, bao tử trống réo gọi! Đói cồn cào, từ sáng sớm đến giờ mới chỉ có nửa chén cơm nguội, nghĩ đến nửa chén còn bỏ dở mà vị chua tiết ra càng làm bao tử sót! Chính lúc này tôi lại nhớ đến cái đói của anh em trên bãi cát Thuận An mà cách nay 3 hôm mới chỉ nhận được 30 thùng gạo xấy cho hơn 3000 người, nếu chia đều, mỗi TQLC được 1 thìa café! Ê chề quá!

Mặt trời khuất bóng về hướng Tây, cái váng vàng úa của buổi chiều tàn phản chiếu lại lên bầu trời một màu ảm đạm thê lương! Hay tại tôi “lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ”! Màn đêm bắt đầu bao phủ cũng là lúc Tư Lệnh TQLC đến rồi lần lượt các vị TL quân binh chủng khác đáp trực thăng về đây mở cuộc họp ngay tại TOC/HQ (Trung Tâm Hành Quân Hải Quân).

Ngồi ở cửa hầm TOC với Tr/Uy Tạ Hạnh, chúng tôi nhận diện được quý tướng lãnh vào họp trong TOC là Trung Tướng Tư Lệnh QĐ.1 Ngô Quang Trưởng, Trung Tướng Tư Lệnh Tiền Phương QĐ.1 Lâm Quang Thi, Thiếu Tướng TL/TQLC Bùi Thế Lân, Tướng Nguyễn Duy Hinh TL/SĐ.3/BB, Tướng TL/HQ Hồ Văn Kỳ Thoại, tôi không biết rõ cấp bậc Hải Quân nên cứ gọi là ông Tướng cho chắc ăn, cùng khoảng năm sáu vị đại tá, trong đó có Đại Tá Nguyễn Thế Lương LĐT/LĐ.147, ông bị thương nên Th/Tá Phạm Cang TĐT/TĐ.7 được chỉ định xử lý LĐT/LĐ.147).

Cũng cần nói thêm là trong các vị tướng Tư Lệnh đến họp, tôi không thấy 2 vị tư lệnh “không quân”, (nói lại cho rõ là tôi không thấy chứ chưa hẳn là nhị vị này vắng mặt), Đó là Tướng “không quân” TL/SĐ.1/BB, đại đơn vị của ông đã bị cái “cầu phao” lừa, còn Tướng Khánh TL Không Quân vùng 1 chả nhẽ cũng “không quân” nên không cần đến dự? Có cũng như không chăng? Vì mấy ngày này chẳng thấy phản lực bỏ bom đâu cả mà bỏ đi đâu! Chằng thấy chuồn chuồn chuyển quân, tiếp tế, tải thương đâu cả! Chẳng lẽ “mắng mí phí táy, thiểm zường tú lọoc tài zỉ”, có nghĩa là chuồn chuồn bay mất thì mưa ngập bờ ao!

Trong khi các vị tướng lãnh đang họp trong TOC thì CSBV bắt đầu pháo kích vào BTL/HQ, cường độ tăng dần, lúc đầu có những trái rớt ngoài vòng đai BTL/HQ nhưng rồi tiền sát viên của chúng nằm gần đâu đây để điều chỉnh dần vào mục tiêu, nhiều trái nổ gần chỗ chúng tôi, tài xế Ngọc báo cho biết xe jeep của Tư Lệnh bị pháo không còn sử dụng được nữa, môt số C&C bất khiển dụng.

Cuộc họp khoảng hơn một giờ thì chấm dứt, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đi ra trực thăng trước, Thiếu Tướng Tư Lệnh TQLC ngoắc tôi và bảo mang máy theo Trung Tướng TL/QĐ.1. A-lê-hấp, tôi quảy máy PRC25 lên lưng và tức tốc chạy theo, ra đến sân cờ, nơi trực thăng đậu, tôi còn đang chờ một vị thiếu tá lên trước rồi tôi mới lên. Ngồi trên trực thăng ngó xuống, thấy tôi Tr/Tướng hỏi:

– “Chú đi đâu đây?”

– “Thưa Trung Tướng, Th/Tướng TL tôi bảo tôi mang máy theo Tr/Tướng”.

Suy nghĩ trong giây lát rồi ông Tướng khoác tay bảo:

– “Thôi, không cần, chú trở lại với TL đi, cho tôi gửi lời cám ơn ông”.


Trở lại cửa TOC/HQ, Tr/Úy Tạ Hạnh vẫn còn ngồi đó, tôi trình bày tự sự nhưng cũng chẳng nghe TL hỏi han gì nữa. Rồi tất cả mọi người trong phòng họp lần lượt bước ra và rời BTL/Hải Quân, lúc đó vào khoảng gần 10 giờ đêm, VC vẫn còn pháo lai rai vào sân cờ.

Thiếu Tướng Tư Lệnh bước tới chỗ tôi và Tr/Úy Hạnh, gương mặt TL đăm chiêu, suy nghĩ, Tr/Úy Hạnh vội trình với Tư Lệnh:

– “Thưa Thiếu Tướng, mình phải bám theo Tư Lệnh HQ thôi, vì tất cả phương tiện không còn nữa, xe trúng pháo hư rồi, trực thăng cũng hư…”

Tư Lệnh suy nghĩ đôi phút rồi gật đầu, Tr/Úy Hạnh quay sang tôi:

– “Tiểu Cần, chạy sang gọi tất cả anh em lên đường”

Tôi vội chạy sang “bunker” gọi 2 ATV, TS Ngọc, HS Hương và vài người nữa rồi nối gót theo TL đi về hướng mà Tướng Thoại mới đi. Chúng tôi băng ngang sân cờ, vừa gần tới vọng gác thì có tiếng anh lính HQ la lớn:

– ”Ê, đề-lô VC, bắn nó, bắn nó”.

Sau tiếng la là một tràng M16 vang lên rồi tiếng người lính HQ:

– “Đ.M. ông hạ được mày rồi, thằng khốn nạn”.

Đến chân núi thì chúng tôi bắt kịp toán của TL/HQ, mọi người nối tiếp từng bước thật khó khăn ven theo chân núi Sơn Chà, những tảng đá to nhỏ bám đầy rong biển, lại thêm sóng đánh vào nên tạo ra đoạn đường rất ư là trơn trượt, chỉ sơ sẩy một tí thôi là sẽ bị té nhào hay bàn chân bị kẹt vào giữa 2 tảng đá thì gãy như chơi! Thỉnh thoảng tôi và Tr/Úy Hạnh phải kè hai bên TL để tiếp sức và giúp ông lấy lại thăng bằng. Lúc này mà gãy chân thì cuộc đời coi như đi đứt, cũng may là đêm nay “trăng sáng quá em ơi” nên cũng giúp cho chúng tôi thật nhiều.

Đi vòng dưới chân núi Sơn Chà chừng 2 tiếng thì chúng tôi ngồi nghỉ, TL/HQ làm tín hiệu bằng đèn pin cho tàu vào rước, có lẽ đến hơn 30 phút sau mà cá lớn cá nhỏ vẫn lặn mất tiêu, không có tàu nào vào đón cả nên TL/HQ nhờ tôi liên lạc bằng hệ thống TT.

Đà Nẵng – Những ngày cuối

Trời đất! Một giới chức đứng đầu vùng I Duyên Hải mà không có một ATV hay hệ thống L/L TT đi theo? Cũng may là trưa nay, trong lúc rỗi rảnh chờ lệnh mới, và qua nhiều năm tháng trong nghề đã dạy cho tôi những kinh nghiệm và lanh lợi nên tôi đã xin được tần số nội bộ của HQ nên bây giờ tôi vô tình lại kiêm nhiệm thêm vai trò một ATV của TL/HQ nữa, một ATV, hai TL! Chuyện hi hữu như các tướng lãnh họp hành quân mà không có tướng KQ (Tướng Khánh), như TL/HQ mà phải hành quân bộ trong đêm bên bờ biển!

Sau khi liên lạc được với HQ, họ gửi vào 2 tàu chiến, loại trang bị chiến cụ, không phải để chở quân, hình như là giang tốc đỉnh. Vì có nhiều đá ngầm và sóng biển nên tàu chỉ đậu cách xa bờ chừng 10m nên chúng tôi phải bơi ra. Muốn giữ cho máy PRC25 khỏi ướt, nên tôi phải đội máy lên đầu, vì vậy chuyện bơi ra tàu khá vất vả và mệt nhọc, và TL cũng gặp nhiều khó khăn, nhưng cuối cùng thì chúng tôi cũng an vị trên boong tàu.

Thiếu Tướng TL, Tr/Úy Hạnh và tôi ngồi trên boong, cuối đuôi tàu, bộ quân phục ướt sũng, gió thổi mạnh, hơi nước biển, sương đêm phủ trùm càng làm tăng thêm cái lạnh suốt một đêm dài, ba thầy trò bó gối nhìn nhau. Người ta thường nói “bụng đói cật rét” nhưng chúng tôi bụng đói thì có, nhưng không phải cật rét, rét bên ngoài mà là rét từ trong, tự đáy lòng. Hai hàm răng lập cập vào nhau, cố mím môi cắn lợi để kềm lại mà không được, vậy mà TL luôn nhắc tôi phải cố giữ liên lạc với Hải Quân, với HQ802, Tư Lệnh nói:

– “Tiểu Cần chú cố gắng giữ liên lạc với HQ802, không có tôi họ không vào bốc anh em mình đâu”.

Nhắc lại điều này chắc hẳn một số bạn lính biển không vui, nhưng sự thật nó là vậy mà. Điển hình là khi Phó Đề Đốc TL/HQ phải nói rõ tên thì “tầu trưởng” mới tin và cho tàu vào đón. Điển hình là sau khi họp xong, tại sao PĐĐ không đi ra hướng cầu tàu ngay trong BTL/HQ Sơn Chà mà lại phải đi bộ, mò mẫm trong đêm dưới chân núi Sơn Chà? Vì cầu thì có mà tàu thì không!

Theo lời yêu cầu của TL/TQLC, chiếc tàu chở TL và anh em chúng tôi cứ ngược xuôi ngoài khơi trước cửa bãi biển Non Nước. Mãi tới 8 giờ sáng ngày 29/3/75, sau khi được biết đã có 2 tàu vào đón TQLC tại bãi biển Non Nước thì giang tốc đỉnh mới chuyển chúng tôi sang tàu lớn HQ 802, đậu ở ngoài khơi để đón các TQLC chuyển đến. Tới xế chiều không còn thấy tàu thuyền nào từ trong bờ chuyển quân ra nữa thì HQ802 nhổ neo, trực chỉ hướng Nam, nối đuôi nhau vượt trùng dương! Vĩnh biệt vùng đất địa đầu giới tuyến! Vĩnh biệt anh em LĐ.147/TQLC nằm lại hay bị bắt trên bãi cát Thuận An!

Để chấm dứt ở đây bài viết ghi lại những gì tôi chứng kiến, những gì một quân nhân nói chung và một ATV cho Tư Lệnh nói riêng đã hoàn thành nhiệm vụ, tôi xin được mượn lời của Đại Tướng Cao Văn Viên khi được báo chí phỏng vấn:

– “Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng, 100 chứng nhân có 100 sự thật. Định kiến làm cho lịch sử sai lệch”.

Vì thế tôi đã hết sức cố gắng loại bớt những chi tiết không cần thiết để tránh suy diễn bàn cãi mất thì giờ, nhưng cũng sẽ không thể tránh được một số sự kiện khác với cái nhìn của người khác. Nhưng cái chính xác không thể phản bác được mà ai cũng phải công nhận là SĐ.1/BB đã bị tan hàng bất đắc dĩ một cách đau khổ bệnh tr.. LĐ.147/TQLC với hơn 3000 quân đã bị lùa vào bước đường cùng, đã bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn. Và cuộc lui binh này nếu dựa theo trục chính là QL1 thì hẳn sẽ tránh được những thảm họa và không có thảm họa tiếp theo ở Đà Nẵng.

Tiểu Cần tôi ước mong được đọc những sự thật về “Hell on Thuận An Beach” của Lâm Tướng Quân trước khi (tôi) nhắm mắt.

MX Tiểu Cần
10 tháng Hai 2015



-----------------------------------------------

Những dòng chữ tô đỏ ở trên là chi tiết Trung Tướng Ngô Quang Trưởng lên trực thăng bay ra hạm đội 7.

Còn Lực Lượng CSQG chúng tôi: Đại Tá Lộc CHT/BCH/ CSQG/Khu 1 và các sĩ quan thuộc cấp như Đại úy Lê Hà Dũng, Trung Uý Đoàn Văn Sang... ( nhiều nữa mà không nhớ hết). Và, chúng tôi gồm Trung Tá Vinh CHT/BCH/CSQG/ĐN. Đại Uý Võ Như Lăng, Đại Uý Hà Thức, Đại Uý Nguyễn Ngọc Tiến, Đại Uý Đinh Banh, Trung úy Trần Văn Lâu... và cả chục sĩ quan khác nhận lệnh tử thủ cho đến tối 28/03/1975 mới biết là Quân Đoàn 1 đã tan hàng!!! Trung Tướng TL đã cao bay. Và, sáng 29/-3/10975 VC vô tiếp thu thành phố ĐN.

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Re: QUÁN BIÊN THUỲ

Post by hoangphong »

BA DÒNG NƯỚC MẮT

Phạm Tín An Ninh

Tôi vô cùng ngạc nhiên khi nhận được thư Bình, thằng bạn thân tình từ thời nối khố. Nó là đứa cuối cùng trong đám bọn tôi rời xa đất nước, vừa mới được sang định cư bên Mỹ theo diện HO 31.

Lá thư chỉ vỏn vẹn mấy dòng:
“Tao đã đến Mỹ vừa đúng hai tuần. Ở đây ồn ào và ngột ngạt quá, tao muốn tìm một chỗ bình yên. Mày có cách nào giúp tao sang Bắc Âu với mày. Bởi tao nghe mày kể bên ấy dù có buồn và mùa đông khá lạnh, nhưng cuộc sống yên bình, thích hợp cho những người cần một nơi để chữa trị những vết thương khó lành được trong lòng.

Tao đang có nhiều vết thương, và cũng đang có nhiều điều rối ren không giải quyết được. Rồi có dịp tao sẽ tâm tình với mày sau. Bây giờ, bằng mọi cách mày giúp tao sang đó với mày. Càng sớm càng tốt”.

Hơn một tháng trước, Định đã báo cho tôi biết việc Bình sẽ sang Mỹ. Nó đã phụ giúp vợ Bình sẵn sàng tất cả mọi thứ để đón Bình.
Định còn bảo khi nào Bình đến Mỹ rồi, nó sẽ báo để tôi sang thăm. Ba thằng gặp lại, tha hồ mà kể chuyện xưa.
Vậy sao bây giờ vừa mới đoàn tụ vợ con, Bình lại muốn sang Bắc Âu với tôi, một nơi xa tít mịt mùng?
Gọi điện thoại cho vợ Bình và Định nhiều lần, nhưng không ai bốc máy. Hôm sau tôi vào sở xin lấy trước một tuần hè, và đặt vé máy bay sang Mỹ.

Bọn tôi là ba thằng bạn thân từ những ngày mới lớn. Cùng học một lớp ở trường làng, rồi lên trường huyện.
Điều đặc biệt là tên của ba thằng đều có vần “inh”. Trong lớp bạn bè thường gọi bọn tôi là Ninh-Bình-Định, mặc dù cả ba thằng chưa hề biết quê quán của Quang Trung Đại Đế, cái nơi nổi tiếng “con gái cầm roi đi quyền” đó nó ra sao.

Tuổi thơ ở nhà quê khá nhọc nhằn, nhưng lại có biết bao kỷ niệm êm đềm của những ngày câu cá tắm sông, những trận bóng sôi nổi trước nhiều khán giả là đám con gái cùng trường, mà trái banh chỉ là những trái bưởi rụng nhặt được phía sau hè.
Rồi cả ba thằng được may mắn vào thành phố Nha Trang học trung học. Dù khác lớp nhưng cùng vào một đội bóng của trường. Đội bóng bao lần chiếm giải quán quân.

Sau khi đậu tú tài, nhìn thấy con đường học hành sao mà xa xăm diệu vợi quá. Muốn học thêm phải khăn gói vào tận Sài Gòn, trong lúc kinh tế gia đình đang lúc khó khăn. Không đành lòng bắt cha mẹ phải còng lưng thêm chút nữa, ba thằng rủ nhau vào lính.
Làm đơn tình nguyện vào binh chủng không quân, bởi hình ảnh những chàng phi công hào hoa đi mây về gió, trong bộ đồ bay, khăn quàng cổ tím, đã là thần tượng của bọn tôi từ lâu lắm.

Vậy mà chỉ có riêng tôi là mộng ước không thành, vì thiếu thước tấc, bị loại ngay vòng khám sức khỏe đầu tiên. Hai thằng bạn được toại nguyện, nhưng không vui.
Vì kể từ hôm nay, không còn “chúng mình ba đứa” nữa. Tôi tiễn hai thằng đến Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân nằm bên bờ biển Nha Trang, rồi một mình khăn gói vào Sài Gòn học tiếp.

Khi bọn nó sang Mỹ học phi hành, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Cứ vài tuần tôi nhận thư từ bên Mỹ. Nhìn tấm ảnh hai thằng chụp trước cổng trường, hoặc đứng bên cạnh một chiếc F5, tôi thấy thèm cái oai phong của tụi nó.
Sau khi về nước chỉ có thằng Bình được lái phản lực A-37 cho một phi đoàn đóng ở Biên Hòa, còn thằng Định thì ra phi đoàn trực thăng tận ngoài Vùng 1.

Tôi ra trường, được bổ sung về một tiểu đoàn tác chiến đang làm lực lượng lưu động cho quân đoàn, rày đây mai đó, gần như chỗ nào có trận chiến là tôi có mặt.
Vậy mà so với mức độ hiểm nguy, chết chóc, chẳng nhằm nhò gì với cái chuyện đi bay của thằng Định. Bởi phi đoàn của nó chuyên thả và bốc những toán biệt kích delta trong các vùng địch.

Sau một chuyến công tác, nếu may còn sống, được thưởng một số tiền và mấy ngày phép xài chơi. Bao nhiêu lần nó thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Nó bảo đúng là đạn tránh nó. Nhờ vậy mà nó là thằng thường có mặt ở thành phố Nha Trang.
Cứ sau một lần thoát chết, nó trở về đây, còn tôi và thằng Bình, cả năm chỉ được một tuần “anh về với em rồi anh lại đi”. Có lẽ nhờ vậy mà nó có khá nhiều mối tình để kể cho bọn tôi nghe mỗi lần có dịp gặp nhau, hay bất ngờ liên lạc được trên các tần số không lục.

Nhưng rồi trong ba thằng, tôi lại là thằng bước lên xe hoa trước nhất. Thằng Định vẫn muốn thoải mái đi mây về gió, không bị vướng chân vướng cẳng, còn thằng Bình thì khá kín miệng nên chuyện tình duyên của nó bọn tôi cũng mờ mịt lắm.
Một lần tiểu đoàn đổ quân xuống Ninh Hòa lúc hai giờ sáng, khi cả cái thị trấn nhỏ này còn đang say ngủ. Đại đội tôi được chỉ định vào đóng quân trong sân vận động.
Sáng hôm sau, quần áo chỉnh tề, tôi rủ thêm hai thằng bạn lính vào một ngôi nhà phía trước “thăm dân cho biết sự tình”, không ngờ “hồn lỡ sa vào đôi mắt em”, đôi mắt nai tơ của cô bé chủ nhà.
Đám cưới tôi có mặt cả hai thằng bạn nối khố, và hai thằng đều tình nguyện làm phụ rể.

Ba năm sau, Định lên chức quan ba, được thuyên chuyển về một phi đoàn đóng ở Pleiku làm trưởng phòng hành quân, nên chúng tôi có nhiều dịp gặp nhau, khi ở thành phố, khi thì trong các cuộc hành quân trực thăng vận.

Lâu lâu nó tình nguyện bay tiếp tế cho đơn vị tôi, thả cho tôi vài ký thịt tươi và chai rượu đế.
Mùa hè 72, tôi bị thương ở căn cứ Võ Định, Kontum. Suốt hơn hai tuần bị địch bao vây và pháo kích nặng nề, tôi nhận lệnh phải mở đường máu rút quân ra, nhưng vết thương nặng ở chân phải của tôi là một trở ngại lớn cho đơn vị.
Trong lúc Định đang bay chiếc CNC (trực thăng chỉ huy), nhưng đã điều động hai chiếc võ trang (gunship) bắn nghi binh và yểm trợ, rồi một mình nhào xuống bốc tôi trong lưới đạn phòng không dày đặc.

Chiếc trực thăng bị nhiều vết đạn mà bọn tôi vẫn an toàn. Mặc dù nó dày dạn kinh nghiệm và bay rất tài ba, nhưng đúng là đạn đã tránh nó, như nó vẫn thường ba hoa với đám bạn bè.
Chỉ có thằng Bình là “số đẻ bọc điều”. Từ A-37 nó chuyển sang lái F-5, nhưng vẫn quanh quẩn ở Biên Hòa, rồi Cần Thơ. Nó là thằng đẹp trai và ít nói.

Trước đám con gái, tôi và thằng Định thì líu lo chuyện dưới biển trên trời, còn nó chỉ ngồi cười mỉm. Có lẽ nhờ vậy, mà sau này nó âm thầm về Nha Trang và cua dính Mỵ Khê, một cô bé răng khểnh khá xinh ở trường Nữ, mà ngày xưa cả ba thằng đều quen biết, bởi đã từng thách nhau cùng đạp xe theo “tán”, sau các buổi tan trường.

Mỗi lần về Nha Trang thăm bồ, nó đều rủ tôi và Định bay về Nha Trang với nó một vài hôm.
Lúc này chiến trường Tây Nguyên khá sôi động, Phi Đoàn Thần Tượng ở Nha Trang có một biệt đội trực thăng tăng cường cho Pleiku, mà hầu hết các chàng pilot đều là bạn thân của Định, nhờ vậy mà tôi và Định về Nha Trang dễ dàng như đi chợ.

Có khi chỉ ở Nha Trang một đêm, rồi sáng hôm sau lại có mặt ở chiến trường. Những lần gặp nhau, đều có mặt Mỵ Khê. Cô bé học trò trường nữ ngày xưa bây giờ đã là cô giáo. Nhưng có lẽ đi dạy học chỉ để làm kiểng, bởi cô ta là con nhà giàu.
Ông bà già có mấy tiệm buôn trên đường Độc Lập. Mỵ Khê được nuông chiều, nên ngay cả chuyện bếp núc cũng không rành.
Lần nào gặp nhau ở nhà nàng, bọn tôi cũng chỉ được mời một món duy nhất mà nàng rất tự hào do chính tay mình nấu: Cháo trắng ăn với hột vịt muối.

Cuộc tình này cũng kéo dài đến mấy năm. Không phải để tập làm sao “đừng nhìn nhau mà cùng nhìn về một hướng” như lời khuyên trong sách, mà vì cha mẹ Mỵ Khê rất tin vào bói toán. Tuổi tác của hai người chưa thể kết hôn.

Cuối cùng, đến mùa hè 73, thì cuộc tình dài này cũng kết thúc bằng một cái đám cưới khá linh đình ở nhà hàng La Frégate.
Khách khứa lên đến trăm người. Lần này chỉ có thằng Định được làm phụ rể, còn tôi bị loại khỏi vòng chiến bởi “xác thân đã nhuốm mùi trần tục”, một vợ mấy con, nên được thằng Bình giao cho cái chức tiếp tân, chỉ đứng mỉm cười đón khách.

Đúng là thằng Định có số đào hoa. Không biết tài tán gái thế nào mà sau đám cưới, tôi đi tìm nó khắp nơi, cuối cùng bất ngờ gặp nó ôm chặt cô bé phù dâu xinh đẹp, ngồi ngoài bờ biển.
Có lẽ đúng như mấy ông bà già thường nói “lắm mối tối nằm không”, đến ngày mất nước thằng Định đào hoa nhất bọn vẫn cứ còn độc thân.

Tháng 3-75, miền Trung mất vào tay giặc, Định theo phi đoàn di tản về Nha Trang rồi Biên Hòa.
Trong cái cảnh dầu sôi lửa bỏng này nó gặp lại vợ chồng Bình. Sau một ngày với bao nhiêu phi vụ hiểm nguy, tối đến hai thằng lại bù khú mày tao mi tớ với nhau như cái thời còn đi học.
Mỵ Khê, bà xã của Bình, cũng vừa sinh được cô con gái đầu lòng, nên căn cư xá lúc nào cũng rộn rã tiếng cười hòa lẫn tiếng khóc của trẻ thơ.
Nhờ vậy mà hai thằng phi công cũng bớt được phần nào những ưu tư lo lắng trong giờ phút lâm nguy của chính mình và đất nước.

Sau những trận đánh lẫy lừng của các đơn vị ở Long Khánh, cũng chỉ có khả năng cầm chân địch hơn một tuần.
Biên Hòa bỏ ngỏ. Phi đoàn của Bình nhận lệnh đem máy bay xuống phi trường Trà Nóc tránh pháo.
Bình nhờ Định đưa vợ con về Tân Sơn Nhất, cùng ở tạm trong cư xá, nhà của một thằng bạn cùng khóa, sau mấy lần bị thương, không còn khả năng phi hành nên về làm trong Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân.

Ngày 29/4, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích liên tục. Tình hình nguy ngập, cả phi đoàn của Định chỉ còn lại vài chiếc trực thăng. Anh em trong phi đoàn ngồi lại tính chuyện bay ra hạm đội Mỹ đang chờ ngoài biển.
Trong lúc bạn bè chạy ngược xuôi tìm chỗ cho vợ con, chỉ có Định là một thân một mình nên chẳng lo lắng gì, ngoài cái tâm trạng bực tức, chán chường.

Định liên lạc với Bình, báo cho biết việc phi đoàn của nó sẽ bay ra hạm đội, bảo Bình thu xếp gấp về Sài Gòn để kịp đưa vợ con đi.
Định bảo là nó được dành ba chỗ trên tàu, vừa đủ cho vợ chồng Bình và một đứa con nhỏ. Nhưng Bình từ chối, bảo là Vùng 4 còn an toàn, phi đoàn phản lực của nó được đặt dưới quyền của Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam.
Bình chỉ nhờ Định lo cho vợ con nó đi cùng. Tùy tình hình nó sẽ đi sau.
Khi Định và vợ con Bình đến đảo Guam hai ngày, thì biết tin Sài Gòn thất thủ. Định đi tìm Bình khắp nơi nhưng không thấy. Người ta bảo có lẽ Bình đã bay sang Thái Lan.

Ngày tôi khăn gói đến địa điểm trình diện “học tập cải tạo” bất ngờ gặp Bình.
Trong cái cảnh “nước mất nhà tan” này mà có được một người bạn thân thì cũng vơi được nỗi buồn.
Nó kể là anh em trong phi đoàn không đành rời căn cứ trong lúc hai ông tướng quân đoàn vẫn còn ở lại sống chết với anh em.
Sau khi hai ông tự sát, thì tình hình đã quá muộn màng, địch quân bao vây, pháo kích dữ dội vào phi trường, nên anh em chỉ còn kịp phá hủy một vài hệ thống trên phi cơ.

Ở tù chung trong trại tù An Dưỡng Biên Hòa gần một năm, khi chuyển ra ngoài Bắc mỗi thằng bị chia mỗi ngả.
Ra tù, tôi ghé lại thăm gia đình Bình. Ông già nó qua đời, chỉ còn bà mẹ và cô em gái, nhưng nhà cửa được xây lại khang trang và cuộc sống khá sung túc so với những người khác trong vùng.
Mẹ nó bảo tiền bạc do vợ Bình gởi về đều đặn. Bà còn khoe mấy tấm ảnh của vợ con Bình được phóng lớn treo trên vách.

Đúng một năm ra khỏi tù, tôi vượt biên.
Trong trại tị nạn Bataan, bên Phi, khi chuẩn bị lên đường định cư thì nhận tin Bình được thả về. Nhưng chỉ vài tháng sau thì lại được tin nó bị bắt khi tổ chức vượt biên.
Mãi đến tám năm sau nó mới lên đường sang Mỹ theo diện HO. Tôi định chờ một vài tuần để nó tạm ổn định cuộc sống và gia đình, tôi sẽ bay sang thăm vợ chồng nó và thằng Định, thì bất ngờ nhận lá thư này của nó.

Máy bay đáp xuống phi trường Fayetteville, North Carolina, lúc 9 giờ rưỡi tối. Một phi trường nhỏ ở một nơi tôi hoàn toàn xa lạ.
Anh tài xế taxi người da đen chở tôi chạy lòng vòng qua những rừng thông hoang vắng càng làm đầu óc tôi căng thẳng, lúc nào cũng trong tư thế “ứng chiến” để đối phó với những điều bất trắc.
Cuối cùng thì anh ta cũng tìm tới được địa chỉ nhà Bình. Trong nhà tối om. Cổng khóa chặt. Tìm chuông cửa nhưng không thấy. Tôi mở bóp tìm địa chỉ của Định, nhưng lâu nay viết thư cho tôi, Định chỉ dùng P.O.Box.
Tôi hỏi anh tài xế taxi tên một motel gần nhất. Tôi viết vài chữ lên tấm giấy nhỏ, bảo Bình đến tìm tôi ở motel ấy, rồi gắn lên cửa.

Trưa hôm sau, người đến tìm tôi không phải là Bình, nhưng là ông già vợ của Bình. Tôi chỉ gặp và nói chuyện với ông vài lần trong ngày đám cưới của Bình, nhưng nhận ra ngay. Mặc dù bây giờ ông già hơn xưa, nhưng có tướng đẹp lão. Và vẫn còn hàng ria mép.
Ông bảo chính Mỵ Khê nhờ ông đi đón tôi. Trên đường đưa tôi về nhà, ông cho biết là ông đang làm chủ một khách sạn nhỏ và một nhà hàng. Ở cách xa nhà vợ chồng Bình chừng hai mươi phút lái xe.

– Tội nghiệp, vợ chồng nó đang có chuyện buồn. Chuyện phức tạp quá nên hai bác đã cố gắng hết sức nhưng không giải quyết được. Cháu là bạn bè thân, hy vọng cháu nói bọn nó nghe.
– Cháu muốn được nói chuyện riêng với bác trước khi gặp vợ chồng Bình.
Tôi muốn biết rõ ràng việc gì đã xảy ra với vợ chồng Bình, để biết cách ứng xử sao cho thích hợp.
Ông già của Mỵ Khê quay xe lại, tìm đường rẽ sang một hướng khác. Hơn mười phút sau, ông dừng xe trước một nhà hàng Á Châu.
– Cháu vào đây với bác. Nhà hàng này là của bác.

Ông bảo người con gái đứng trong quầy mang cho tôi một phần ăn, và một tách trà cho ông, rồi kéo tôi ngồi xuống một cái bàn nằm riêng trong góc. Ông bảo tôi cứ dùng cơm tự nhiên, rồi bắt đầu tâm sự:
– Hai bác thật là buồn và khó xử, chẳng biết phải tính làm sao. Khi thằng Định đưa con Mỵ Khê, vợ thằng Bình, sang Mỹ với đứa con chưa tròn một tuổi. Một thân một mình nơi xứ lạ quê người, tất cả từ việc lớn đến việc nhỏ gì nó cũng trông cậy vào thằng Định. Mà Định quả là thằng chí tình với bạn bè. Nó hết lòng lo lắng cho vợ con thằng Bình, mê chuyện học hành mà đành phải bỏ, đi làm hai ba ca để vừa có đủ tiền lo cho mẹ con Mỵ Khê, mà còn gởi về Việt Nam giúp gia đình thằng Bình sau tháng 4/75 trải qua bao năm túng quẩn.
Rồi cũng chính nhờ thằng Định giúp việc bảo lãnh gia đình bác từ Việt Nam sang Mỹ đoàn tụ với mẹ con Mỵ Khê. Nhưng rồi tất cả cũng vì bác mà gây nên cớ sự.

Trước khi rời Việt Nam, hai bác có ra chào vợ chồng anh chị sui gia, là ba má của thằng Bình. Ông bà khóc lóc kể cho bác biết là có tin do vợ một người bạn cùng tù với Bình vừa ra thăm chồng ngoài Bắc về, bảo là Bình đã bị bắn chết trong một lần trốn trại với mấy người bạn tù khác nữa ở biên giới Lào.
Chính vì vậy mà hai bác khuyên con Mỵ Khê nên tiếp nối với Định, bởi bao nhiêu năm nay nó đã hy sinh ở vậy để tận tình lo lắng cho mẹ con Mỵ Khê, và cháu Lina, con của Bình cũng xem Định như là cha của nó.

Hai bác tâm tình khuyên mãi, tụi nó mới làm đám cưới. Sống với nhau hơn mười năm, tụi nó có hai đứa con, thì mới nhận được tin là thằng Bình vẫn còn sống, chỉ bị thương nhẹ, rồi đem đi biệt giam ở một trại tù nào khác, không ai biết.
Từ ngày ấy thằng Định buồn ghê lắm và lúc nào cũng ngồi thơ thẩn một mình. Nó giấu việc này không dám nói với thằng Bình, và cũng chính nó phụ với hai bác gởi tiền về giúp đỡ gia đình Bình và lo cho Bình sang Mỹ theo diện HO.
Tôi đưa tay xin ngưng lời bác:
– Bây giờ thằng Định đang ở đâu thưa Bác?
– Trước ngày thằng Bình sang đây, thằng Định mang hai đứa con của nó với Mỵ Khê sang đây nhờ hai bác mướn người giữ hộ, rồi “mu” qua Hawaii.
Con Mỵ Khê khóc lóc, bảo nó cứ ở lại đây, khi nào thằng Bình sang Mỵ Khê sẽ nói chuyện với thằng Bình, thằng Bình sẽ hiểu được bao điều khúc mắc và chắc sẽ không buồn.
Hai bác cũng giải thích cho nó biết, dù sao thằng Bình với con Mỵ Khê cũng đã xa cách quá lâu, và sự việc xảy ra là do bao nhiêu nghịch cảnh đẩy đưa, chứ Định là một thằng tốt bụng, hết lòng chung thủy với bạn bè.
Hai bác cũng sẽ nhận trách nhiệm này trước mặt thằng Bình, khi nó tới đây.
– Rồi cuối cùng ra sao, thưa Bác?
– Vợ chồng bác khuyên giải suốt cả mấy ngày liền, nhưng nó vẫn không nghe, nó xin lỗi hai bác và con Mỵ Khê, rồi nhờ bác trao lại cho thằng Bình một lá thư.
Nó xin được phép dán lá thư lại nên hai bác cũng chẳng biết nó viết cái gì trong đó.
Khi đến Hawaii, nó có gọi phôn về cho bác, bảo đang chạy taxi với một thằng bạn cũ. Chút nữa bác sẽ cho cháu số phôn của nó, để cháu liên lạc khuyên giải nó hộ bác.

Bác chở tôi lại trước nhà vợ chồng Bình, bỏ tôi trước cửa, chỉ tôi cái chuông điện nằm kín phía bên trong cánh cửa, rồi lái xe về. Bác bảo là để đám trẻ bọn tôi gặp nhau sẽ được tự nhiên hơn.
Người ra mở cửa là Mỵ Khê. Vừa nhận ra tôi, Mỵ Khê nắm chặt tay tôi, nhoẻn miệng cười, nhưng lại bật khóc ngay sau đó.
Mỵ Khê đưa tôi vào nhà, chỉ cho tôi nơi Bình ở, căn nhà sau, chung vách với gara xe. Tôi gõ mấy lần, cửa mới mở.

Sau bao nhiêu năm hai thằng bạn thân từ thời nối khố gặp lại nhau, nhưng đều không vui, ôm lấy nhau mà lòng dạ bùi ngùi.
Suốt đêm hôm ấy tôi ở trong phòng Bình, nhưng hai thằng không ngủ, nằm tâm sự thâu đêm.
Tôi chưa biết phải nói điều gì với Bình, thì Bình mở đầu tâm sự:
– Khi biết việc này, tao có bất ngờ, và dĩ nhiên cũng buồn ghê lắm. Nhưng chỉ sau một đêm suy nghĩ, tao lấy lại được sự bình thản, và nghĩ là Mỵ Khê đã thuộc về Định, và hai người rất xứng đáng trong tình yêu, trong cuộc hôn nhân mới này.
Tao phải cám ơn thằng Định, đã hết lòng cưu mang vợ con tao và cho Mỵ Khê một gia đình hạnh phúc, một chỗ dựa vững chắc trên xứ lạ quê người.

Hơn nữa tao và Mỵ Khê xa cách khá lâu, trong lúc nàng đã hội nhập vào xã hội Mỹ này từ lâu rồi, còn tao bây giờ cũng đã già, lại là một thằng quê mùa, bệnh hoạn, mà vết thương trên thân xác cũng như trong lòng tao vẫn chưa lành được.
Tao tự biết mình thực tình không còn thích hợp, không còn xứng với nàng. Tao cũng đã tâm tình với Mỵ Khê và điện thoại cho thằng Định, nói hết nỗi lòng. Mong nó trở về đây.
Cháu Lina, con gái của tao, cũng nhớ nó mà khóc cả ngày. Tao hiểu, con bé còn xa lạ với tao lắm. Mà nó xa lạ là phải. Không dễ dàng gì cho một cô con gái đã hơn 20, không hề biết mặt cha từ lúc mới năm tháng tuổi, bây giờ phải chấp nhận một ông cha bất ngờ từ trên trời rơi xuống.
– Thế rồi vợ mày và thằng Định tính sao?
– Mỵ Khê thì chỉ khóc và im lặng, còn thằng Định thì nhất quyết trả Mỵ Khê lại cho tao. Nó còn bảo là nó nhớ tao lắm, nhưng không muốn gặp tao.
– Bây giờ mày tính sao? Tao sẽ giúp được gì cho tụi mày?
– Tao nhờ mày. Chỉ có mày có thể giúp tao trong lúc này. Mày đưa tao qua Hawaii gặp thằng Định và tâm tình giải thích để nó trở về với vợ con tao.
– Còn mày thì sao?
– Tao một thân một mình. Nếu mày kéo tao sang Na Uy ở với mày là phúc cho tao.
Có mày tao sẽ dễ quên bao nhiêu chuyện đau lòng. Còn nếu không được thì tao lang thang đâu cũng được. Lâu lâu kiếm được tiền tao lại ghé về đây thăm cháu Lina, cho dù trong lòng nó, có lẽ tao chưa hề là cha của nó.
Ba thằng bọn tôi lại gặp nhau, qua bao nhiêu năm chia cách cùng những giông tố trong đời.
Ôm nhau mừng rỡ mà sao nghẹn ngào, không ai nói nên lời, chỉ có nước mắt chảy dài trên má.

Ngày xưa, thằng Định là đứa ba hoa, khôi hài nhất trong bọn, vậy mà cũng không mở miệng để nói một lời, dù chỉ là một chữ ‘hello’, mà nó đã thường xài từ lúc còn ở Việt nam, mỗi khi gặp bạn bè.
Không biết lúc này trong đầu hai thằng bạn đang nghĩ điều gì. Riêng tôi đang hình dung tới cuộc chiến bi thảm mà kẻ chiến thắng lại là những con người tàn ác nhất đã tạo nên bao chia ly tan tác.

Sáng nay, Chủ Nhật, mùa đông Bắc Âu khá lạnh. Tôi thức giấc đã lâu nhưng còn đang trùm chăn nằm nán trên giường thì nghe điện thoại reo. Bốc ống nghe chưa kịp hỏi là ai, thì nghe bên kia đầu dây giọng nói quen thuộc của thằng Định:
– Hello! Ninh ơi. Có thằng Bình đây, nó muốn nói chuyện với mày.
Tôi nghe giọng nói yếu ớt nhưng rất vui của Bình:
– Bình đây. Gọi thăm vợ chồng mày và báo cho mày một tin vui. Tao đang ở nhà vợ chồng thằng Định đây.
Vừa từ bệnh viện về. Vợ chồng Định lên tận Houston tìm thăm tao, báo tin cháu Lina bị bệnh rất nặng cần phải thay gấp một quả thận.
Bác sĩ cho biết cách tốt nhất là lấy thận của người cùng huyết thống, nên tao theo Định và Mỵ Khê bay xuống North Carolina ngay để kịp thời lo cho cháu.
Bác sĩ bên này giỏi thật. Mọi việc tiến hành nhanh chóng. Bây giờ đã xong xuôi. Cháu Lina cũng đã khỏe lại. Đáng lẽ tao đã về lại Houston, vì tao vừa mới mở cái tiệm giặt ủi, do vợ chồng thằng Định giúp vốn, vợ chồng nó cũng vừa mua cho tao một ngôi nhà nhỏ, ở bên cạnh hai thằng bạn cùng phi đoàn với tao ngày trước, nhưng vợ chồng nó nhất định giữ tao lại. Cả cháu Lina nữa. Nó cũng muốn có nhiều thời gian để tâm tình với cha của nó. Mày cố gắng bay sang đây với tụi tao cho vui.

Chưa kịp trả lời, tôi lại nghe giọng nói của đàn bà:
– Ông bà qua đây để tôi còn đãi món cháo trắng ăn với hột vịt muối.
Tôi nghe những tiếng cười khúc khích, rồi giọng đùa nghịch của thằng Định xen vào:
– Hello, Ninh! Mỵ Khê bây giờ nấu ăn nghề lắm đó, biết nấu cả cháo trắng tới bảy món. Vợ chồng mày nhớ bay qua sớm, không thì mất phần đó nghe chưa.

Tôi buông ống nghe, thẫn thờ nhìn ra ngoài cửa sổ như muốn tìm kiếm một điều gì. Trời mùa đông Bắc Âu phủ đầy tuyết trắng, nhưng sao trước mắt tôi đang lung linh bầu trời xanh bao la của cả một thời tuổi thơ.
Cái thuở ba thằng chúng tôi vui đùa nghịch ngợm, trong lòng chưa hề vướng bận chuyện chiến tranh kéo theo bao cay đắng cuộc đời.

Phạm Tín An Ninh

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Re: QUÁN BIÊN THUỲ

Post by cuoigia »

Người Hạ Sĩ Nhứt
Nguyễn Vô Danh

Mọi chuyện dường như là có sự sắp đặt. Trong cuộc đời tui, bao nhiêu lần vào sanh ra tử, cứ tưởng là sắp đi thăm ông bà ông vải, nhưng lại chưa. Bà xã, thỉnh thoảng vẫn chọc quê, "Nghèo mà ham; anh tưởng muốn đi là đi hả? Tui chưa cho anh đi thì hổng được đi đó. Nghe chưa?". Chuyện tình duyên thì cũng rụp, rụp, rụp - ý tui muốn nói là xuông xẻ đó. Còn chuyện người anh kết nghĩa thì như trên trời rớt xuống. Đúng là người tính hổng bằng Trời tính mà. Tía hay nói như dzậy.
Nói xa nói gần hổng bằng nói thiệt tui là con một trong gia đình nông dân nghèo. Nghe Má kể lại thì lúc được 1 tuổi rưỡi, tui bị bịnh ban gì đó, mà hai thầy thuốc Nam trong miệt cồn Dừa (tỉnh Phong Dinh) này đều bó tay. Tía bằng lòng bán miếng ruộng duy nhất của gia đình để có tiền đưa tui lên Sài Gòn chữa bịnh, nhưng đường đi quá cực khổ, và có thể tui sẽ chết trên đường trước khi tới nhà thương, thành ra lại phải trở về khi đi chưa được một phần năm đường. Hổng lẽ ngồi khoanh tay nhìn con mình chết, Tía nghe người ta mách hái mấy lá gì đó trộn với xả nấu cho tôi uống. Uống xong, nghe Má kể lại, tôi giựt giựt mấy cái rồi nằm xụi lơ, rồi ngủ luôn 2 ngày. Khi tui thức dậy, Má khóc quá trời vì quá mừng. Qua được cơn bịnh này thì tui hơi chậm lớn và cũng hơi chậm nói - nghe Má nói như dậy. Giờ ngồi nghĩ lại thấy thương ổng bả quá trời.

Khi được 5 hay 6 tuổi tui hay theo Tía ra đồng coi dùm Tía mấy cái cần câu trong lúc ổng làm ruộng. Ngồi hổng có gì làm, tui thường lượm gạch hay sỏi để chọi chim, rắn hay chuột đồng. Nhiều hôm tui chọi trúng được vài con chuột hay chim đem về cho Má nướng. Còn cá trê Tía câu Má kho tiêu ngon lắm. Thỉnh thoảng Tía uống rượu đế với mồi cá kho tiêu, và khi uống rượu Tía nói nhiều hơn mọi ngày. Phải nói là cuộc sống khá êm đềm.

Tới 8 tuổi tui mới đi học, nhưng tui học dở lắm, chắc là tại quá ham chơi. Khi rảnh tui làm ná bắn chim (thay vì chọi đá như hồi nhỏ). Tui cũng hay chơi bắn bi với tụi nhỏ hàng xóm. Phải nói là tui dùng ná rất giỏi vì ngày nào tui cũng đem chim, vịt trời hay chuột về cho Má làm đồ ăn. Khi bắn bi cũng vậy, tụi bạn thua tui dài dài, thành ra có tiền mua bánh tráng, xôi với cà lem ăn. Chỉ có học là tui dở thôi. Học đó rồi quên đó. Phải học lớp Năm đến 2 hay 3 lần mới được lên lớp Tư.

Có lần tan học, trên đường về, tui theo bạn bè vào vườn mía đỏ bỏ hoang (thân mía màu ưng đỏ hồng, mềm và ngọt khỏi chê luôn). Muốn được mía lớn tui phải đi tuốt vô trong sâu. Đang kéo chiến lợi phẩm ra, thì tui thấy đau điếng dưới chưn. Nhìn xuống thì trời ơi, một con trăn bự đang cắn chặt vô cái bắp chuối. Tui cố kéo chưn ra nhưng hổng xong vì con trăn mạnh quá. Thân nó trườn tới và quấn luôn chưn kia. Biết là hổng xong nếu tiếp tục cá đà này, tui la cầu cứu nhưng vì ở tuốt trong sâu, hổng ai nghe. Hai chưn bị trăn cột xiết rồi, tui ngã xóng xoài - chuyện đi thăm ông bà là cầm chắc trong tay. Hai chưn đã tê cứng. Chợt nghĩ tới Tía và Má, tui như bừng tỉnh và quơ đại cái cặp táp. Đang dùng cái cặp táp da đập vô đầu con trăn, cây viết văng ra. Tui dùng cây viết đâm túi bụi vào mắt con trăn. Đâm hết mắt này rồi đâm qua mắt kia. Chắc là bị tui đâm khá sâu vào mắt, con trăn tự nhiên nhả chưn ra, lăn lộn, hổng xiết nữa, và bò đi nơi khác. Hôm đó Má khóc nhiều lắm. Má cứ lẩm bẩm cám ơn ông bà che chở. Má nói là cái số tui chưa rụng. Tía tới vườn mía hoang và bắt được con trăn mù cổ bà chảng. Đem ra chợ bán thịt được gần hai chục đồng. Lúc đó 1 lượng vàng chỉ có 65 đồng. Tía nói sẽ dùng tiền này cho tui khi đi học xa, hay lúc cưới vợ. Tía cấm hổng được đi vô rừng mía đó nữa. Nói cho cùng, sau cái vụ trăn quấn thì có cho tiền tui cũng hổng dám vô.

Tui học ạch đụi tới năm 15 tuổi mới học xong lớp Nhứt. Thấy tôi học chậm, Tía cho tui ở nhà phụ làm rẫy. Mùa hè năm sau nhóm trẻ tụi tui đá banh thắng nhóm bên cồn Cát 3-2. Tui đá vô gôn luôn 2 trái trong vài phút chót vì tui chạy lẹ lắm. Được 80 đồng phần thưởng, tui dẫn "đội banh nhà" ra chợ ăn gỏi đu đủ và uống nước mía. Thắm, cô bán nước mía, nhận ra tui, nhưng tui hổng nhận ra cổ. Hỏi ra mới hay là tui học cùng lớp với Thắm 6 năm trước. Cổ khác hẳn con nhỏ ốm nhom, đen thui hồi đó. Thắm giờ có da có thịt, da bánh mật, nói chuyện có duyên, và biết buôn bán. Sau lần đó, tụi tui kết nhau. Đưa Thắm về nhà, Tía và Má mừng lắm. Má nói là Má luôn muốn tui có người anh để giúp đở bảo bọc vì tui chậm chạp và thật thà. Nay có người bạn đời giỏi như Thắm đến với tui, Má vui lắm. Tám tháng sau, tụi tui lập gia đình. Khoảng 1 năm sau khi cưới vợ thì tui phải nhập ngũ.

Chỉ sau vài tháng trong Quân Trường Quang Trung, vì được nhiều sự chú ý của các huấn luyện viên cao cấp bởi tui chạy đua rất mau (chắc vì muốn thắng đá banh để có tiền mua nước mía), và tui bắn súng hết xẩy (hay là vì chọi đá bắt chuột, dùng ná bắn chim, bắn bi kiếm tiền mua đồ ăn ... hồi nhỏ), tui được huấn luyện đặc biêt để trở thành xạ thủ. Khi mãn khóa ở Quang Trung, tui được chuyển đi Kontum với cấp bực binh nhì trong đội Biệt Kích. Nhiệm vụ của tui là trốn trên những đồi cao có nhiều cây, quan sát, truyền tin và bắn tẻ khi được lịnh. Có khi tui đi chung nhóm 3 hay 5 người, và có khi chỉ có mình ên. Thường được thả trên rặng Trường Sơn vào những đêm sương mù dầy đặc. Những lúc đi xa, tui nhớ Thắm, nhớ Má và Tía lắm. Cái sướng của công việc này là tui dùng sở trường của mình (chạy mau và bắn giỏi) để phục vụ đất nước. Tui cũng khoái vụ trốn trên núi cao vì hồi nhỏ thích chơi Năm Mười. Xếp tui dặn là bất cứ ai hỏi thì tui phải nói tui là lính kiểng gác kho gạo trên Đà Lạt. Mà cũng hay, vì sau khi núp trên núi vài tháng nên da trắng và tóc dài, tui dòm cũng giống lính kiểng lắm chớ bộ. Sau mỗi lần đi công tác vài tháng tui được nghỉ phép cả tháng với rất nhiều tiền (hình như là tiền tử) khi về thăm gia đình. Tiền bạc dồi dào, tui mua đồ cho mọi người mút chỉ. Vì vậy bạn bè, hàng xóm thương, che chở và giúp đỡ tui.

Lần đó sau khi về thăm nhà chưa được 2 tuần lễ, tui bị gọi về gấp vì có chuyện lớn. Đi lẹ ra Ô Môn, vô sân bay Trà Nóc, bay thẳng về KonTum để nhận lịnh. Trước khi được điều động lên một địa điểm bí mật trên rặng Trường Sơn để thăm dò như các lần trước, tui được dặn là phải cố gắng nhiều vì 2 đồng nghiệp Biệt Kích (BK) đã mất tích trong vùng đó. Điều may mắn lần này là tui tìm được 2 người BK kia không xa nơi đáp xuống. Một người đang bị bịnh. Máy truyền tin bị hư, và đạn dược thiếu thốn tại một số lớn quân nhu bị rớt mất khi thả dù. Tụi tui núp trong 1 hang núi có nhiều cây rậm rạp. Điều không may mắn lần này là tụi Việt Cộng biết được sự có mặt của nhóm BK vì họ tìm ra số quân nhu và dụng cụ bị rớt. Họ lùng kiếm ráo riết. Để được an toàn, tụi tui im hơi lặng tiếng và chỉ bắn khi thiệt cần. Sau cùng cũng phải bắn trả vì tụi nó tới quá gần, nhưng tụi tui bắn thật ít vì thiếu thốn đạn dược. Tụi Việt Cộng dù đông hơn, nhiều đạn hơn, nhưng hổng dám mạnh dạn tiến lên vì họ ở vị trí dưới thấp, trong khi nhóm tụi tui phía trên cao bắn xuống phát nào trúng phát nấy. Cầm cự được hơn 6 tiếng đồng hồ, thì nhóm tui gần như hết đạn. Chỉ còn vài trái lựu đạn để tử thủ. Tui không nghĩ là mình qua được con trăng này. Nghĩ tới Thắm, Tía và Má, tui chạnh lòng. Trong cơn nguy hiểm như chỉ mành treo chuông, bỗng nhiên máy bay trực thăng tiếp cứu tới. Máy bay phải đánh đông phạt tây (điệu hổ ly sơn) và dùng hỏa mù để cứu nhóm tui. Trong phi vụ này, tui bị thương vì té gẫy tay và được đưa về Chẩn Y Viện Cộng Hòa điều trị. Sau thời gian dưỡng thương, tại tay hổng còn khỏe và chính xác như ngày trước, tui được chuyển về 1 quận lỵ nhỏ gần Suối Dây, tỉnh Tây Ninh với cấp bực Hạ Sĩ Nhứt và giã từ cuộc sống BK Đặc Biệt từ đó.

Khoảng 4 tháng sau thì Thiếu Úy Đức (TUĐ) người Bắc tới làm Phó quận trưởng. Tui được lựa làm gạc đờ co (bảo vệ) cho ông Phó. Vài lần đang lái xe jeep chở ông Phó đi quan sát ngoài biên giới quận thì tụi Việt Cộng bên kia rừng Tràm bắn lén. Vừa nghe tiếng nổ là tui phản xạ đẩy TUĐ nằm xuống, che cho ông, và cùng lúc tui nhả hàng loạt đạn về phía tiếng nổ. Sau vài lần như vậy, tui được tin cẩn hơn và trở thành cánh tay trái của ổng. Tui luôn khuyên ổng phải cẩn thận, vì đây là vùng xôi đậu không biết ai là địch, ai là thù. TUĐ là thượng cấp, nhưng ổng cũng xem tui như người nhà. Một lần đưa ổng đi xem nhà cửa của dân làng do nhóm lính sửa chữa, TUĐ gặp cô Hân (con gái bà chủ căn nhà ở cuối quận, kế bên con sông nhỏ ngăn cách khu rừng Tràm âm u bên kia). Theo như tui thấy thì hình như lúc gặp cô Hân, TUĐ bị tiếng sét ái tình hay sao đó vì ổng đứng như trời trồng và nói năng lắp bắp. Thấy kỳ quá, thêm nữa khu này nguy hiểm khi trời sâm sẩm tối, tui nói thay cho ổng:

- Trễ rồi, Thiếu Úy. Mình phải đi dzề. Chào cô.
Cô Hân đẹp, ăn nói khéo léo, ... chắc là người bên kia, gài lại đây. Tía của cô vắng mặt. Hay là ông ta đã tập kết ra Bắc? Thêm nữa, tên Ba Thọt (ở đối diện nhà cô) - một người có tiểu sử và hành động rất khả nghi - thường qua lại nhà cô thăm viếng.
Mỗi sáng khi cô Hân đi làm ngang văn phòng quận, tui thấy cô cố tình đi chậm lại. Hay là cô đang nghe ngóng tin tức? hay là xem cá có cắn câu chưa? hay là đang dò sét tình hình trong văn phòng quận để tường trình cho phe bên kia?... Hàng trăm câu hỏi, nhưng hổng có câu trả lời. Thôi, tốt nhứt là đề phòng thì vẫn hơn.

Vài tháng sau, Kontum, Ban Mê Thuột và nhiều vùng cao nguyên thất thủ. Rồi Bảo Lộc-Madagui vào tay bọn qủy đỏ, ... Một buổi chiều tháng tư, tụi Việt Cộng đem xe tăng, súng lớn tới tấn công quận. Đại Úy Long quận trưởng mất tích. TUĐ và các anh em quân đội tụi tui liều chết bắn chặn quân địch. Trước hỏa lực quá mạnh của địch, lực lượng tiểu đoàn phòng thủ quận tan rã. Kẻ chết, người bị thương, người chạy trốn. Tui và TUĐ đều bị thương nhẹ. Cùng đường, hai thầy trò chạy về phía cuối quận. Đinh ninh là Ba Thọt hay cô Hân sẽ chờ để bắt sống hay thanh toán tụi tui ở đó, tui cầm chắc khẩu tiểu liên sẳn sàng mạng đổi mạng. Khi chạy tới gần con sông cuối quận (gần nhà cô Hân), TUĐ ngã quỵ vì kiệt sức. Đang đỡ TUĐ lên, thì cô Hân chạy ra mở cửa rào ra dấu cho tụi tui vào nhà gấp. Khi vào trong, cô băng bó cánh tay của TUĐ. Cô đưa cho tụi tôi 2 nắm cơm và ít nước lạnh để ăn cầm hơi. Trong lúc tui và TUĐ ăn, cô lấy 2 ruột xe đạp, bơm lên, và đưa cho tụi tui. Cô ta chỉ tay vào con sông sau nhà:

- Hai anh thả nổi chừng 8 hay 9 cây số tới nhà thờ Suối Dây. Nhớ tìm người linh mục gốc Nam Định xin giúp đỡ. Chừng nào khỏe lại thì đi. Nếu tình hình lộn xộn quá, thi trốn qua Kampuchia. Hai anh đi cho lẹ trước khi họ tới đây.
Lúc đó tui mới biết là mình sai. Cô Hân là người ơn, chứ không phải là vẹm như tui nghĩ. Món nợ cứu mạng này lớn lắm.

Khi tụi tôi xuống sông thì trời đã tối. Nương theo dòng nước hai thầy trò tới nhà thờ Suối Dây khoảng 2 giờ sáng. Người Linh Mục dấu tụi tui ở đó gần 3 tuần lễ dưỡng thương. Khi gần như hồi phục hoàn toàn, TUĐ và tui chia tay. Hôm đó cả hai đều khóc. TUĐ nghẹn ngào:

- Hạ Sĩ Nhất Sơn. Tôi bao giờ cũng xem chú ... như người nhà. Cám ơn chú ... đã làm việc với tôi trong 2 năm qua, và ... đã giúp đỡ tôi trong cơn hoạn nạn này. Nếu còn duyên thì anh em mình sẽ gặp lại.

Sau khi từ giã TUĐ và người Linh Mục, tui về Cần Thơ đoàn tụ với gia đình. Mất mấy ngày mới về tới Sài Gòn. Thành phố giờ có tên mới -cái tên của kẻ sát nhơn. Tui hổng quen dùng cái tên mới đó. Phải mất thêm cả tuần nữa mới quá giang về đến cồn Dừa vì xe cộ bị đình trệ sau ngày đổi đời - cái ngày mà hàng vạn người vui, nhưng hàng triệu người buồn. Khi bước vô nhà, Má bật khóc vì quá mừng. Thắm thấy tui tiều tụy quá cũng khóc. Tía thì nhờ người hàng xóm đi mua ít đồ ăn mừng ngày đoàn tụ.

Hai hôm sau, 3 người Công An tới nhà chỉa súng bắt tui đi lên xã. Xã trưởng là 1 tên Bắc Kỳ răng hô mã tấu với khuôn mặt khắc khổ nhăn nheo như cái mền rách. Hắn đập bàn đánh phủ đầu với giọng Bắc đặc sệt:

- Mày có biết tội phản động làm việc cho CIA cũa Mỹ Ngụy nặng như thế nào không? Tội ác của mày lớn lắm. Mày có nợ máu với nhân dân.
- Thưa đồng chí xã trưởng ...
- Ai là đồng chí với bọn phản động như mày.
- Dạ thưa xã trưởng. Tui chỉ là lính khiểng gác kho ở Đà Lạt. Tui có bắn giết ai đâu?
- Tao có hồ sơ của mày. Đừng chối cãi nữa. Nhận tội đi. May ra được Đảng khoan hồng.
- Thưa Xã Trưởng, chắc là có người trùng tên, chứ tui đâu có làm gì như dậy.
- Giam thằng này lại. Đồ ngoan cố, mất dạy. Tuần tới đưa nó lên phòng Công An tỉnh để giải quyết.

Tui bị nhốt 8 ngày trước khi bị chuyển lên ty Công An tỉnh Cần Thơ. Khi vào gặp Trưởng phòng Công An, tui không dè đó là thằng Huân trong đội đá banh ngày nào. Nó ăn gỏi đu đủ bò khô và uống nước mía với tui sau các trận đá banh vài lần. Thêm nữa mỗi lần tui về thăm nhà, tui đều có mua đồ cho thằng Huân và cho dì Tám má nó. Tui cũng nói là làm lính kiểng trên Đà Lạt, khi nó hỏi.

Thằng Huân nhận ra tui ngay. Tui chỉ trả lời bằng những gì mà Xếp cũ của tui dặn nói. Tui đổ thừa là có người trùng tên. Nhờ thằng Huân dễ dãi, tui thoát nạn.

Tui đi cải tạo mấy ngày dành cho Hạ Sĩ Quan. Sau đó được "khoan hồng" về làm rẫy với gia đình ở cồn Dừa.

Xã hội dưới tay đảng CSVN xuống dốc như xe hổng thắng. Ai cũng nghèo, đói, và khổ cực. Gia đình tui làm rẫy, cũng bữa đói, bữa no, nhưng đỡ hơn nhiều người. Tui lại bắn chim sẻ, vịt trời như hồi nhỏ. Tiếp tục bắt chuột đồng, bắt cá lóc hay cá trê dưới ruộng làm khô lén để dành cho những ngày mưa gió. Hai năm sau Thắm cho gia đình tui 1 tin vui là thằng con trai đầu tiên. Rồi năm sau nữa thì thằng thứ hai. Khi miếng ruộng duy nhất của gia đình bị xung công, Tía rầu rĩ sanh bệnh và ra đi năm sau đó. Mất đất trồng trọt, gia đình dọn về Ô Môn năm 1979. Vợ chồng tui làm công làm mướn bất cứ thứ gì ở chợ Ô Môn để kiếm tiền.

Đã 8 năm từ ngày rời Suối Dây, tui hổng có tin tức gì về Thiếu Úy Đức (TUĐ). Tình cờ năm 1983 khi đi mua bán đồ ở chợ Cái Răng, tui gặp Đại Úy Long (ĐUL) Quận Trưởng năm nào. ĐUL mới được thả về từ trại cải tạo trước đó 6 tháng, và còn đang bị quản chế. Đi đâu cũng phải xin phép và trình diện mỗi tuần. Thấy tình trạng ĐUL thảm quá, tui cho ổng 1 con khô mực và nửa ký gạo dấu trong sách tay. ĐUL nói là có gặp TUĐ trong tại cải tạo mùa thu năm 1977. Khoảng 2 năm sau, nghe nói là TUĐ vượt ngục rồi bị bắn chết ở gần biên giới Lào làm gương cho kẻ khác. ĐUL cũng cho biết là khi được thả, trên đường về ổng nghỉ 1 đêm tại quận lỵ ngày xưa vì không còn xe về Sài Gòn. Quận tiêu điều lắm. Tui hỏi về mấy người ở cuối quận kế bên con sông nhỏ. ĐUL nói là 2 căn nhà đó đã bỏ hoang, xiêu vẹo, không người ở. Nghe làng xóm nói là bà già (má cô Hân) đã chết và chôn trong ngôi mộ nhỏ sau nhà. Đứa con gái (cô Hân) thì biệt tăm. Hình như đã chết trôi vì người ta tìm thấy dép của cổ và cục xà bông ở bờ sông sau nhà. Tui nghe xong cảm thấy choáng váng như bị trúng gió. Hôm đó tui về nhà khóc. Vợ tui hỏi. Tui kể lại sự tình. Tội nghiệp vợ tui. Thắm làm 1 bàn thờ cho TUĐ trên nóc tủ kế bên bàn thờ của Tía và Má, và tối đó cúng 1 chén cháo trắng.

Làm ăn ở chợ Ô Môn khó khăn, gia đình tui mướn 1 miếng đất cách Ô Môn 20 cây số để trồng khoai mì và khoai lang. Tui dậy 2 đứa nhỏ làm bẫy bắt chuột đồng, làm ná bắn chim, ... Vợ chồng tui thì quen cảnh nghèo rồi. Chỉ tội 2 đứa nhỏ thiếu ăn và tương lai mù mịt. Nhiều đêm nóng nực hổng ngủ được, tui cứ nhớ lại những ngày tui ở Suối Dây. Nhớ TUĐ và nhớ cả người đã cứu hai thầy trò. Chỉ biết chắc lưỡi thở dài cho người vắn số.

Sau nhiều kế hoạch kinh tế đảng CS đưa ra đều thất bại, chính quyền thả lỏng và có ý muốn đi theo kinh tế thị trường tự do. Cuộc sống dân nghèo trở nên dễ thở hơn một chút. Gia đình tui bắt đầu nuôi heo để thanh toán số khoai lang ung thúi khi bán hổng hết.
Làm sao tui quên được buồi chiều hôm ấy. Đó là một buổi chiều đầu tháng Tư năm 1995, khi tui đang làm rẫy, ngăn nước không cho vào đất trồng trọt quá nhiều, thì Thắm ra rẫy gọi về nhà có khách. Khi về nhà thì thấy 2 người ăn mặc sang trọng có vẻ đàng hoàng. Tui không nhận ra người đàn bà, nhưng người đàn ông thì nhìn quen lắm. Sau vài giây ngỡ ngàng, người đàn ông nhìn tui và nói một cách ngậm ngùi trong nước mắt:

- Chú Sơn có nhận ra tôi không? ... anh Đức đây?
- "Hả, ... ôi trời, Thiếu Úy Đức, ... ông Phó!..."; Tui trả lời khi nước mắt bắt đầu ứa ra vì quá mừng.
- Đừng gọi như vậy. Gọi là anh hay anh Đức vì chú là em của tôi mà.
- Dạ, dạ ... ông Phó, à quên, ... anh Đức. Tưởng là anh đã ... Gia đình tui làm bàn thờ cho anh mười mấy năm nay.
- Thắm ơi, đây là anh Đức. Thằng Tân, thằng Hoàng, ra chào Bác Đức.
- Còn đây là bà xã của anh.
- "Dạ, chào chị. Dạ, chị tên gì?"; Tui hỏi.
- "Chú nhìn kỹ xem ai ? Cô Hân ở Suối Dây đó"; TUĐ trả lời.

Tui lặng cả người và đứng chết trân. Người ơn của tui bằng xương bằng thịt ngay trước mặt. Thời gian như dừng lại. Nước mắt bắt đầu chảy tràn trên mặt, và giọng nói lạc đi:

- Tui hổng có dè có ngày này... 20 năm rồi. Cám ơn anh chị ... đã nhớ đến tui... Tui mừng quá. Sao ... tới bây giờ anh chị mới tới ? Tui có nằm mơ hông ?
TUĐ lau nước mắt, rồi chậm rãi nói:
- Chuyện dài lắm. Sẽ kể sau. Bây giờ anh chị mời cả nhà đi ăn mừng. Tốn cả tuần đi kiếm cô chú đó.

* * *
Nghe anh kể lại chuyện trốn khỏi trại tù năm 1979, và bao nhiêu lần vượt biên hụt, tui nể quá. Chuyện chị giả chết trôi để trốn khỏi Suối Dây và những lần vượt biên bị bắt thì cũng ly kỳ quá trời. Rồi đến khúc hai người gặp lại nhau bên Mỹ, tui mừng như là chuyện của mình. Tui hãnh diện có được ông anh và bà chị dâu giỏi như vậy.

Mấy bữa sau, vợ chồng anh mướn xe đưa gia đình tui đi thăm Suối Dây. Trên đường về, có ghé Vũng Tàu tắm biển. Thấy thương bà xã và 2 đứa con tui quá. Lần đầu tiên vợ con tui được đi xe hơi, được đi ra khỏi Cần Thơ, được lên Sài Gòn, được đi Suối Dây, được ra tắm biển Vũng Tàu, được đi ăn nhà hàng, được uống nước ngọt cô ca cô la, ...

Trước khi về Mỹ, tui hổng dè vợ chồng anh lại giúp một số tiền lớn để mua một cửa hàng gần chợ Ô Môn buôn bán nông phẩm cho gia đình tui đỡ cực. Anh chị nói sẽ về thăm thường xuyên hơn.

Tối hôm đó tui thắp nhang cho Tía và Má. Tui thì thầm "Má ơi, Má luôn muốn là con có người anh để che chở cho con. Má ơi, điều Má muốn đã xẩy ra. Con cám ơn Tía và Má"

Như tui đã nói, cuôc đời tui như có sự an bài hay sắp xếp. Vào sanh ra tử bao lần, mà hổng sao. Duyên phận củng thẳng tắp. Khúc sau cuộc đời, cực thiệt, nhưng lại có thêm người anh nuôi và chị dâu hổ trợ. Bây giờ tui hổng có kỳ vọng nào hơn là sẽ có một ngày cái nhóm mắc dịch, khốn nạn, vô thần, vô đạo đức này tan rã cho tui nhờ và cho người dân bớt khổ.
Ngày đó chắc là phẻ re, há?

Nguyễn Vô Danh

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Re: QUÁN BIÊN THUỲ

Post by lequyen »

Nữ sĩ Lê Thị Ý: ‘Người lính và chiến tranh chưa bao giờ rời xa tôi’
Apr 29, 2021

Kalynh Ngô/Người Việt
FALLS CHURCH, Virginia (NV) – Mỗi khi Tháng Tư đến, những câu chuyện về người lính Việt Nam Cộng Hòa lại cuồn cuộn tuôn chảy trong ký ức của những ai đã đi qua cuộc chiến. Trong đó, hình ảnh người góa phụ, hay một cô gái có yêu tử trận, trong cuộc chiến Việt Nam, trong ca khúc “Tưởng Như Còn Người Yêu,” do Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ “Thương Ca 1” của nhà thơ Lê Thị Ý, sau hơn nửa thế kỷ, vẫn còn gây nhiều xúc động cho mọi người.
Image
Nữ sĩ Lê Thị Ý, tác giả bài thơ “Thương Ca 1,” mà nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát “Tưởng Như Còn Người Yêu.” (Hình: Kalynh Ngô/Người Việt cung cấp)
“Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình…”

Một cuộc đời bình lặng

Cuối Tháng Ba, trời Virginia vẫn còn se lạnh. Người phụ nữ với vóc dáng nhỏ bé, khoác chiếc áo lạnh vừa người, bước vào quán. So với cuộc gặp gỡ chớp nhoáng sáu năm trước, bà, nữ sĩ Lê Thị Ý, không thay đổi nhiều. Vẫn mái tóc đơn giản đó, vẫn nụ cười hiền lành, vẫn giọng nói thấm đậm âm hưởng của người Hà Nội “một ngày năm bốn, cha bỏ quê xa.”

Như hàng triệu người Việt Nam khác, bà là nhân chứng trong hai cuộc di tản vĩ đại của dân tộc. Nhưng nếu ai có hỏi, cuộc “chạy trốn” nào để lại trong bà nhiều dấu ấn nhất? Bà sẽ trả lời: “Đó là chuyến vượt biển năm 1981.”

Sau khi ra khỏi hải phận Việt Nam, tàu của bà lênh đênh trên biển ba ngày. Sau đó, tàu cập vào đảo Songkhla, Thái Lan. Chỉ trong ba ngày thôi, con tàu đó gặp hải tặc sáu lần. Không một ai trên con tàu, kể cả đứa bé chỉ mới tám tuổi, có thể thoát khỏi hành động hãm hiếp của hải tặc, trừ bà.

“Nói thì không ai tin, nhưng đó là sự thật. Chỉ một mình tôi may mắn thoát. Có đôi vợ chồng đó, người chồng đau đớn nhìn vợ mình bị hãm hại ngay trước mắt. Nhưng khi đến đảo rồi, họ lại quyết định chia tay. Có lẽ họ không thoát ra được cơn ác mộng đó, tôi nghĩ vậy.” bà nói.

Đặt chân đến Mỹ, bà định cư tại Maryland cho đến tuổi về hưu thì về Virginia sống đến hôm nay. So với những cuộc đời tị nạn khác, năm tháng tha hương của bà có phần nhẹ nhàng hơn, dù cũng trải qua nhiều công việc làm để tồn tại. Bà từng học để lấy bằng kỹ thuật viên máy tính, nhưng do giới hạn ngôn ngữ, nên cũng phải dở dang, chuyển sang công việc khác.

Những năm tháng đó, thơ vẫn là gia tài lớn nhất người nữ sĩ có được. Bà đã âm thầm cho ra đời bốn, năm tập thơ, chỉ dành tặng cho người quen, thân hữu.

“Cuộc đời của tôi khá đơn giản, nếu không muốn nói là ‘hạn hẹp.’ Viết văn thì tả cảnh, tả tình. Thơ thì từ cảm xúc. Mà cuộc đời tôi thì bình dị, chỉ chất chứa toàn hình ảnh lính và chiến tranh,” bà nói với nụ cười thật hiền.

“Người lính và chiến tranh chưa bao giờ rời xa tôi”

Nữ sĩ Lê Thị Ý là “con nhà nòi” của thi ca. Bà xuất thân trong một gia đình văn nghệ. Người anh lớn là nhà thơ Vương Ðức Lệ, người chị lớn là nhà văn Phượng Kiều, và cô em gái là nhà văn Lê Thị Nhị.

Bà đến với thơ rất sớm, từ lúc còn học trung học. Khi cùng gia đình di tản vào Nam năm 1954, nữ sĩ Lê Thị Ý sống cùng một người anh là sĩ quan. Đến năm 1960, bà về Pleiku, làm việc cũng trong một trại lính. Cũng chính vì vậy, theo lời bà, “Người lính luôn luôn trước mặt. Chiến tranh luôn luôn ở trước mặt. Không bao giờ rời xa tôi.”

Cả cuộc đời của nữ sĩ Lê Thị Ý được bao phủ bằng hình ảnh kiên cường, oai hùng của người lính Việt Nam Cộng Hoà. Bà như con chim nhỏ bay nhảy trong không gian khép kín của cuộc chiến. Thế giới của bà là những bộ quân phục màu lá rừng, những đôi mắt sáng ngời ý chí, những vầng trán cao kiên cường của tuổi trẻ lấy tình yêu đất nước làm lẽ sống. Có phải nữ sĩ thần tượng và thần tượng hóa hình ảnh người lính trong cuộc chiến không?

“Tôi vừa thương vừa thần tượng. Tôi yêu nhất là bộ quân phục của người lính. Cuộc đời của họ là anh hùng, là sự dấn thân,” bà nói.
Image
Thủ bút của nhạc sĩ Phạm Duy trong bài “Tưởng Như Còn Người Yêu,” phổ từ bài thơ “Thương Ca 1” của Lê Thị Ý.
(Hình: Lê Thị Ý cung cấp)
Trong câu chuyện bà kể, khi ở chiến trường, người lính là anh hùng, là dấn thân. Ngày về phép, hoặc cuối tuần, cởi bỏ bộ quân phục, họ là người lính chân tình, dễ thương. Bà kể, nếu người lính ấy có 500 đồng để tiêu xài trong một tuần, thì họ sẽ không dùng. Họ để dành cuối tuần gặp người yêu, cả hai cùng đi dạo phố.

Hướng tầm mắt ra cửa, bà nói nhẹ: “Tôi vừa thương vừa thần tượng. Khi người lính vừa ra khỏi cửa, là tôi lại nghĩ ngay đến những hiểm nguy có thể xảy đến với họ. Tôi có những liên hệ lạ lùng lắm. Nếu nói tôi tưởng tượng, cũng được.”

Người anh cả của nữ sĩ là một sĩ quan. Lúc nào bà cũng mang tâm trạng lo sợ anh mình đi trận không trở về. Người yêu đầu đời của bà, là một người lính. Người yêu thứ hai trong đời, vẫn là một người lính – người đã tử trận trong một trận đánh.

“Thương Ca 1”

Năm 1965, nữ sĩ rời Sài Gòn. Bà về Pleiku làm việc trong một trại lính. Năm năm ở phố núi bé nhỏ này, mỗi một ngày bà đối diện với vô vàn những câu chuyện không tên về cuộc đời người lính. Lúc này, cũng là thời điểm khốc liệt nhất của chiến tranh. Thế giới xung quanh bà khi ấy chỉ toàn lính, và lính. Lính và vợ. Lính và vũ khí. Lính và đạn bom. Lính và tử trận. Từ đó, tình yêu bà dành cho người lính, cuộc đời người lính, càng thêm cao dầy. Đôi khi, chỉ những câu chuyện trò ngắn ngủi đời thường với vợ lính cũng làm cho trái tim nữ sĩ chạnh lòng.

Bà nhớ lại, rồi kể:

“Chúng tôi, những người phụ nữ nói chuyện vui đùa với nhau. Có người nói:

-Trời lạnh thế này mà được ở nhà ôm ông xã thì sướng biết mấy.

-Thế ông xã đâu?

-Ông xã đi đánh trận.”

Chỉ đơn giản thế thôi, nhưng cũng đủ làm tâm hồn người nữ sĩ bồi hồi xúc động.
Hình bìa tuyển tập thơ văn “Quê Hương và Kỷ Niệm” trong đó có tác phẩm của Lê Thị Ý. (Hình: Kalynh Ngô/Người Việt)

Thời gian trong trại lính ở Pleiku, nữ sĩ chiêm nghiệm rõ như nhật nguyệt sự vô thường của đời người trong chiến tranh. Những người ở đó, gặp đó, rồi mất đó. Một câu chuyện được bà nhớ và kể lại:

“Tôi nhớ vào Giáng Sinh năm đó, có một người lính đến cửa hàng của tôi mua quà lưu niệm gửi cho gia đình. Anh ấy xin cho khất lại tiền, đến đầu Tháng Giêng, dịp Tết Tây, anh về trại sẽ gửi trả. Nhưng lần ra trận đó, người lính mãi mãi không quay về. Sau đó, người em của anh ấy ra nhận trả số tiền đó. Nhưng tôi không nhận.”

Nữ sĩ đa cảm “thương vay khóc mướn” (theo lời bà tự nhận) nói rằng, những năm tháng đó, bà rất gần gũi với cái chết của mọi người. Không biết bao nhiêu lần bà chứng kiến người phụ nữ, những đứa trẻ, những cô gái tuổi xuân đến mở chiếc “poncho” quấn xác để nhận xác chồng, cha, người yêu. Bà đau với nỗi đau của họ. Nước mắt của bà rơi cùng tiếng khóc của họ.

“Tôi đi ngang nhà xác, nghe tiếng khóc vọng ra. Tôi nhìn vào thấy người ta đang nhận xác… đau lắm. Không phải chỉ khi của mình, mình mới đau…” bà kể. “Nó (nỗi đau) không phải là của mình nhưng đã hóa thành của mình.”

Và bài thơ “Thương Ca 1” ra đời từ đó.

“Tôi làm bài thơ đó rất nhanh. Tôi làm một mạch, không sửa gì cả. Tôi làm xong cất vào trong bàn học. Ngày xưa, anh tôi, nhà thơ Vương Đức Lệ, không muốn các em mình theo nghiệp thơ văn, nên tôi làm xong toàn là giấu đi. Nhưng hôm đó, bạn của anh tôi đến nhà chơi, vô tình thấy bài thơ đó. Ông nói ‘thơ hay thế này mà không đi đăng.’ Thế là ông xé tờ giấy tập có bài thơ, đưa cho cụ Nguyễn Ðức Quỳnh, là người trụ trì sinh hoạt Ðàm Trường Viễn Kiến. Cụ Quỳnh đọc rồi lại chuyển cho cho ông Phạm Duy phổ nhạc,” nữ sĩ kể lại quá trình ra đời bài thơ “Thương Ca 1” và bài hát “Tưởng Như Còn Người Yêu.”

Nữ ca sĩ Julie Quang, con dâu nhạc sĩ Phạm Duy, là người đầu tiên hát ca khúc này.

Đã hơn 50 năm trôi qua kể từ khi “Thương Ca 1” ra đời, hình ảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa với bộ quân phục hiên ngang, dũng mãnh, vẫn mãi trọn vẹn trong trái tim và tâm hồn người nữ sĩ – nhà thơ Lê Thị Ý. [đ.d.]

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Re: QUÁN BIÊN THUỲ

Post by khieulong »

Image

Anh Hùng Tử Khí Hùng Bất Tử
HÀO KIỆT PHƯƠNG NAM

“Đạn bay, nợ trả hồn sông núi
Kiếm gãy, ơn đền chuyện sử xanh”


Image
Hào Kiệt Phương Nam - Hải Quân Trung Tá VNCH Hà Ngọc Lương
Anh dũng tự sát cùng vợ và 3 con tại Nha Trang

Hải Quân Trung Tá Kỹ Sư Hà Ngọc Lương sinh năm 1937 tại Hà Nội, cựu học sinh trường Trung Học Nguyễn Trãi, Hà Nội và Trung Học Chu Văn An, Sài Gòn, cựu sinh viên Đại Học Khoa Học Saigon. Vì lòng yêu nước tràn đầy, ông đã rời bỏ giảng đường để ghi tên vào Khóa 9 (Ðệ Nhất Nhân Mã) Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Liên tiếp trong 3 kỳ thi Alfa, Chuẩn Úy, và Mãn Khóa, ông đều đậu Thủ Khoa, nên được các chiến hữu mến mộ. Image

Sau khi mãn khóa vào tháng 05 năm 1961 với cấp-bậc Thiếu-Uý, ông đã phục vụ tại Hộ Tống Hạm Vân Đồn, Hộ Tống Hạm Đống Đa II. Sau đó, ông đi du học Hoa Kỳ, và trở về làm Hạm Trưởng Tuần Duyên Hạm Diên Hải, Hạm Trưởng Trợ Chiến Hạm Linh Kiếm, rồi về Bộ Tư Lệnh Hải Quân, phục vụ tại Khối Quân Huấn.
Ông đi du học Hoa Kỳ lần thứ hai và tốt nghiệp bằng Kỹ Sư Cơ Khí, trở về, ông được bổ nhiệm làm Quản Đốc công tác sửa chữa chiến hạm tại Hải Quân Công Xưởng. Sau cùng, ông làm Giám Đốc Quân Huấn, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang.
Ngày 4/4/1975, khi Nha Trang di tản vào Saigon, theo gương Phan Thanh Giản, Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương cùng phu nhân, Bà Lê Thị Kỳ Duyên, và 3 con đã tuẫn tiết ngay tại Phòng Văn Hóa Vụ.
Điều đau lòng nhất là khi bọn cộng sản đến tiếp thu, thấy 5 thi hài trong Phòng Văn Hóa Vụ, bọn chúng đã độc ác cho chôn vùi tạm bợ trên một mô đất cạnh bờ biển. Hải Quân Thiếu Tá Hà Tấn Thể đã cùng với vợ chồng Giáo Sư Lê Quốc Khánh và một đàn em, bốc mộ lên, tẩm liệm và đặt áo đại lễ cùng mũ Sĩ Quan trong quan tài người Anh Hùng rồi đem đi chôn tại nghĩa trang nằm dọc hai bên Quốc Lộ 1.
Để ghi dấu công ơn người Anh Hùng Việt Nam, chỉ có một tấm biển gỗ mang dòng chữ: “Nơi an nghỉ của gia đình Hà Ngọc Lương – Lê Thị Kỳ Duyên”.

***
Sáng ngày 01/4/1975 tại Cư Xá Sĩ Quan Hải Quân đường Lê Văn Duyệt, Nha Trang.
Trung Úy Gia vừa ngừng xe trong sân cư xá nói to:
– Di tản! Lệnh Đô Đốc: di tản vào Sàigòn!
Phu quân tôi (HQ Thiếu Tá Hà Tấn Thể, Khóa 12 Đệ Nhất Song Ngư) bước vội ra cửa. Hình như anh không muốn lệnh di tản đến sớm như vậy nên anh hỏi:
– Ngay bây giờ?
– Vâng, ngay bây giờ. Gia đình nào còn sót, chưa đi kịp chiều hôm qua, mau lên xe tôi chở xuống bến cảng. Tàu sắp nhổ neo.
Tôi từ trong nhà bước ra, đứng bên cạnh phu quân tôi. Tôi cố thuyết phục anh lần cuối:
– Anh nên di tản một mình vào Saigòn ngay. Đây là chuyến xe chót về chở những gia đình nào còn sót lại. Nếu không, anh sẽ bị kẹt lại. bọn công sản tràn vào sẽ bắn chết anh. Tin đồn em nghe chắc sẽ có “trung lập”, khi ấy anh lại về với mẹ con em.
Giọng anh buồn, trầm hẳn xuống:
– Em mang thai gần ngày sanh, sợ chen lấn xuống tàu có thể chết cả mẹ lẫn con, không dám theo anh di tản. Nhưng anh nỡ lòng nào bỏ em và các con mà đi cho đành. Thôi anh chấp nhận ở lại. Thà sống cực khổ với chế độ cộng sản còn hơn là không có em và con trong cuộc đời. Anh đã nói với em nhiều đêm rồi.
– Nhưng bọn cộng sản vào sẽ bắn chết anh!
– Chắc không đến nỗi vậy đâu em. Nếu giết hết quân cán chính thì chúng nó sống với ai ở miền Nam này.
Nói tới đây, tôi thấy Trung Tá Hà Ngọc Lương, vợ và ba đứa con bước ra khỏi nhà. Trong tay anh chị Lương, mỗi người một xách tay nhỏ. Anh Lương nhìn thấy vợ chồng tôi đang đứng yên lặng buồn rầu trước cửa nhà, anh ngạc nhiên hỏi:
– Sao Thiếu Tá và chị còn đứng đây không lên xe? Các cháu và túi xách đâu?
Giọng buồn nhưng dứt khoát, anh Thể nói nhanh:
– Gia đình tôi ở lại, không di tản, Commandant!
– Tại sao?
– Như Commandant thấy đó, vợ tôi mang thai gần đến ngày sanh, sợ chen lấn xuống tàu có thể nguy hiểm đến tánh mạng cả mẹ lẫn con, không dám đi. Tôi quyết định ở lại với vợ con tôi. Thôi gia đình Commandant đi bình yên.
Chị Lương đứng gần chồng. Chị nói gì bên tai anh Lương, tôi nghe không rõ. Tôi chỉ nghe anh Lương đáp lời vợ giọng hơi gắt:
– Anh bảo em lên xe!
Chị Lương miễn cưỡng lên ngồi băng ghế sau với các con, nét mặt hờn dỗi. Tôi bước đến bên xe, nắm bàn tay chị. Giọng tôi hơi nghẹn lại vì xúc động:
– Thôi anh chị và các cháu đi an lành. Nghe đồn chắc sẽ trung lập. Hy vọng sau này chúng mình sẽ lại gặp nhau.
Chị Kỳ Duyên (nhủ danh của chị Lương) gượng cười, siết chặt tay tôi:
– Vâng, hy vọng chị em mình sẽ gặp nhau!
Bỗng tôi thấy Trung Tá Lương cho tay vào túi rút chùm chìa khóa quăng về phía phu quân tôi. Anh Thể chụp lấy. Cả hai không nói một tiếng nào. Chiếc xe lao ra cổng.
***
Quân đội miền Nam đang di tản chiến thuật. Nha Trang bỏ ngỏ, bọn cộng phỉ sẽ tràn vào đây trong chốc lát. Chúng tôi đi tạm trú chỗ khác vì lẽ ấy. Ngồi trên xe với chồng và các con, bên cạnh chỉ 2 túi xách nhỏ. Một, đựng vài bộ quần áo cho cả nhà và túi kia đựng áo trẻ sơ sinh, khăn lông, tã lót cho đứa con tôi đang mang trong bụng. Từ lúc lên xe, chúng tôi không ai nói một lời. Trong lòng mỗi người đều có những ý nghĩ và cảm xúc riêng tư không muốn nói ra.
Ngoài đường phố, dân chúng vội vã, tấp nập đi lại. Trên mặt người nào cũng lộ vẻ hoảng hốt lo âu. Đó là những dân lành đã trốn chạy cộng sản từ các tỉnh miền trung và cao nguyên đổ về. Nhìn cảnh màn trời chiếu đất họ đang gánh chịu, tôi không cầm được nước mắt. Tôi đưa tay lên gạt nhanh hàng nước mắt đang chảy tràn trên má. Nhìn lại mình, tôi cũng đang chạy trốn cộng sản như họ. Chỉ khác một điều: chúng tôi chạy đến một nơi có chỗ tá túc chớ không phải ở đường, ở chợ như họ.
Chiều và tối đêm đó có nhiều tiếng súng nổ. Không phải tiếng súng bắn nhau giữa hai bên. Đó là tiếng súng của bọn người vô lương tâm, lợi dụng thời gian chưa có chính quyền và luật pháp, đi cướp bóc của người dân. Chúng tôi nhìn nhau thở dài.
Hôm sau, trưa ngày 2/4/75, lũ cộng phỉ tiến vào thành phố Nha Trang. Xe tăng đi trước bộ đôi đi sau. Tưởng đoàn quân chiến thắng oai hùng lắm. Té ra chỉ là một lũ thổ phỉ ô hợp toàn trẻ con mới lớn, gầy ốm xanh xao vừa mới từ trong rừng rú chui ra. Ôi, nếu chẳng phải nhờ may mắn và viện trợ hùng hậu của khối cộng sản quốc tế quan thầy thì làm sao bọn thổ phỉ ốm đói từ phương bắc đó có thể vào được thành phố này một cách dễ dàng như vậy!
Sáng ngày 4/4/1975, gia đình tôi dắt díu nhau về lại Cư Xá Sĩ Quan Hải Quân Lê Văn Duyệt. Chúng tôi về trông coi đồ đạc trong nhà kẻo bọn trộm cướp cạy cửa lấy đi.
Vừa bước chân vô cư xá, tôi cảm thấy rờn rợn thế nào ấy! Cách đây mấy ngày sân cư xá tưng bừng nhộn nhịp. Trẻ con chơi đầy sân, cười đùa vui vẻ. Giờ đây sao hoang vắng quá! Chúng tôi vào nhà, khóa trái cửa lại, dặn các con chỉ được chơi trong nhà, cấm không được mở cửa ra sân.
***
Trưa hôm sau, vừa về đến nhà, sau khi ra đường phố nghe ngóng tin tức, anh Thể nói với tôi:
– Anh vừa kéo dây kẽm gai cài cổng cư xá lại rồi đó em. Anh sợ bọn trộm cướp vào cạy cửa lấy trộm đồ đạc của các anh chị đã di tản. Nếu sau này, các anh chị về còn có quần aó đồ đạc dùng.
– Nhưng ban đêm khi chúng mình ngủ, chúng cạy cửa vào lấy trộm, làm sao mình giữ được hở anh?
– Ngoài khả năng của mình thì chịu chớ biết làm sao em!
Chợt nhớ ra, tôi nói với anh Thể:
– Ban nãy lúc anh đi vắng, có người vào căn nhà của anh Đặng Hữu Thân, chở đồ đạc đi.
Em tưởng bọn trộm cướp em sợ quá. Nhưng em cũng thương anh chị Thân, sợ mất đồ đạc của họ, tội nghiệp. Em ráng lấy can đảm ra can thiệp. Thì ra đó là ông cụ thân sinh của anh Thân. Cụ xuống chở đồ đạc của anh chị Thân về cất giữ dùm cho con đó mà.
Anh Thể tỏ ý mừng:
– Vậy à! Vậy thì anh bớt trách nhiệm giữ nhà cho một người bạn cùng khóa.
Tôi trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi nói:
– Đồ đạc trong cư xá này nếu mất mát, mình không chịu trách nhiệm với ai cả. Nhưng với anh chị Lương, mình có phải có chút trách nhiệm. Khi đi, anh Lương quăng chùm chìa khóa cho anh. Tuy anh Lương không nói tiếng nào, nhưng mình phải hiểu là anh anh ấy gởi nhà cho chúng ta. Nay mai bọn cộng sản vào tiếp thu cư xá này, đồ đạc trong tất cả mọi nhà đều thuộc về tay bọn chúng nó. Sẵn có chìa khóa anh Lương đưa, chúng ta nên lấy cất dùm anh chị một ít đồ đạc. Mai kia anh chị Lương về lại Nha Trang, anh chị còn có ít đồ đạc dùng. Khi đi, em thấy anh chị chỉ đem theo có 2 túi xách nhỏ.
Anh Thể thoáng suy nghĩ rồi nói:
– Ừ, em tính vậy cũng phải. Mình nên cất giữ dùm anh chị một ít đồ dùng như quần áo và ít đồ có giá trị tiền bạc.
Chúng tôi đem về cất giữ dùm anh chị Lương: 1 xe Honda, 1 Tivi, 1 đàn organ, một quạt máy và một vali đựng quần áo, mỗi người vài bộ. Tối hôm đó chúng tôi cảm thấy rất vui vì chúng tôi đã làm một việc tốt cho bạn bè.
Trung Tá Lương là một người bạn được chúng tôi thương mến và kính trọng nhất trong Cư Xá Sĩ Quan Hải Quân Lê Văn Duyệt. Anh trầm lặng hiền lành ít nói. Anh gốc người Bắc, giọng nói dịu dàng trầm ấm. Anh là một sĩ quan tài hoa tuấn tú. Anh đã đậu Thủ Khoa, Khóa 9 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang.
Sau khi đi du học Mỹ 2 năm, anh được điều về Trung tâm Huấn Luyện Hải quân Nha Trang, giữ chức Trưởng Phòng Văn Hóa Vụ. Chúng tôi mến anh vì nết, trọng anh vì tài. Anh Lương cùng họ Hà với anh Thể, nhưng không cùng chung một huyết thống. Hai anh chỉ là bạn, đúng ra là niên trưởng nhưng thương mến nhau như anh em trong nhà. Căn chung cư anh chị Lương và căn chung cư của chúng tôi ở cạnh nhau nên chị Lương và tôi thường xuyên qua lại với nhau.
Chiều ngày 5/4/75 trong lúc anh Thể ra ngoài nghe ngóng tin tức, tôi ở nhà với các con. Tôi đang nấu cơm dưới bếp thì có tiếng gõ cửa. Tôi bước lên mở cửa thì thấy một người đàn ông, trên mặt còn in nét kinh hoàng:
– Chào bà. Xin lỗi, ông nhà là sĩ quan làm việc trong Trường Sinh Viên Sĩ Quan NhaTrang phải không?
Tôi thận trọng, ngập ngừng:
– Xin hỏi.., ông là ai?
– Thưa bà, trước đây tôi là một người lính làm việc trong Trường Sinh Viên Sĩ Quan. Tôi vừa đến đó dò la tin tức thì tôi được biết một sĩ quan đã tự sát chết cùng với vợ và ba đứa con tại văn phòng Văn Hóa Vụ.
– Trời! Gia đình ai vậy, anh biết không?
– Thưa bà, tôi không nhận diện được ai vì xác chết đã sình lên. Ông ấy mang lon Trung Tá, ngồi chết gục trên ghế, vợ và các con nằm chết trên tấm thảm trải trên nền nhà.
Tôi kinh hãi kêu lên:
– Gia đình ai đã chết thảm như vậy hở trời! Phòng Văn Hóa Vụ, 3 đứa con …. chắc gia đình anh Lương!
– Thưa bà, tôi lên đây xem sĩ quan nào còn kẹt lại không. Nếu còn ở lại xin xuống nhận diện xem ai. Cùng là bạn bè, dễ nhận mặt nhau hơn.
– Nhà tôi, Thiếu Tá Hà Tấn Thể, còn kẹt lại. Anh ấy vừa di vắng. Khi nhà tôi về, tôi nói lại và anh ấy sẽ xuống sau. Cám ơn anh đã báo tin.
Người lính Hải Quân chào tôi rồi ra đi.
Anh Thể về, nghe tôi thuật laị, không chậm một giây, anh phóng Vespa ra cổng thẳng xuống Quân Trường Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang.
Vừa mở cửa văn phòng Văn Hóa Vụ của Trung Tá Hà Ngọc Lương, mùi tử khí của năm xác chết đã lâu ngày, tanh hôi nồng nặc đã làm cho anh Thể chóng mặt, buồn nôn, lảo đảo muốn té. Khắp người anh nổi da gà. Anh cố nén cơn buồn nôn, ráng giữ bình tĩnh, cố gắng tiến từ từ đến những người đã chết từ nhiều ngày trước.
Anh Thể chăm chú nhìn kỹ 5 xác chết. Xác đã sình, hơi khó nhận diện. Nhưng rồi anh cũng nhận ra. Anh Lương gục chết trên ghế, trong tư thế nửa nằm nửa ngồi, cây colt nằm gần bàn tay anh. Mặt anh Lương bị méo vì viên đạn đi xuyên qua. Mắt anh đã có dòi nhỏ đục khoét.
Chị Lương và 3 đứa con, nằm chết dưới tấm drap trải trên nền nhà. Tất cả đã bị bắn vào đầu. Có lẽ anh Lương đã bắn vợ con trong lúc họ đang ngủ. Trong phòng giấy tờ quan trọng của gia đình anh bị tung tóe vung vãi khắp nơi. Hai túi xách ngày anh mang theo, anh Thể không thấy đâu.
Vài người tò mò nhìn vào, nhưng mùi tanh hôi đã làm cho họ bước vội tránh đi.
Anh Thể phóng xe về báo tin cho tôi. Vừa nghe qua, tôi òa lên khóc nức nở:
– Trời ơi! sao lại chết thảm thế này! Tội nghiệp gia đình anh chị Lương qúa! Làm sao bây giờ đây anh?
Nãy giờ anh Thể ngồi hai tay ôm đầu gục xuống, nghe tôi hỏi, anh ngẩn đầu lên ôn tồn nói:
– Chúng ta phải chôn cất gia đình anh chị và các cháu, em à! Tình bạn bè, tình chiến hữu, chúng ta phải chứng tỏ trong lúc này. Anh biết thân nhân họ hàng anh Lương đều ở Saigòn. Nhưng bên chị Lương, có ai ở Nha Trang không em?
Nghe đến chữ họ hàng, tôi chợt nhớ ra. Tôi nói nhanh:
– A, chị Lương có người anh đang dạy tại Trường Võ Tánh, tên ông là Khánh.
– Vậy thì chúng ta tìm ông Khánh cho ông ấy biết tin ngay đi. Nhưng biết nhà ông Khánh ở đâu mà tìm đây?
– Việc ấy anh để em lo. Muốn tìm nhà thầy giáo thì phải hỏi học trò!
– Vậy em đi ngay đi! Còn phần anh, anh phải đi mua 5 cái hòm.
– Nếu tìm được ông anh chị Lương, anh sẽ phối hợp với ông lo việc chôn cất. Bằng không, chúng mình phải tự lo tất cả công việc thôi. Xác đang sình thối, phải chôn ngay mới được. Anh đi lo công việc đây!
Nói rồi anh Thể phóng vespa nhanh ra cổng.
Quá thương xót và hãi hùng cái chết của gia đình anh chị Lương, tôi quên mất mình đang mang thai gần ngày sanh, tôi phóng lên chiếc xe đạp mini lao đi tìm nhà ông Khánh. Dọc đường gặp em nào có dáng dấp học sinh, tôi đều dừng lại hỏi thăm nhà giáo sư Khánh đang dạy Pháp Văn tại trường Võ Tánh.
Sau gần một giờ tìm kiếm, tôi đã ở trong phòng khách nhà ông Khánh. Nhìn nét hãi hùng in trên mặt tôi, bà Khánh hỏi ngay:
– Chị đến đây chắc có việc quan trọng cần nói?
Tôi chưa kịp trả lời thì lúc đó ông Khánh từ phòng trong bước ra chào tôi. Tôi vắn tắt kể vụ tự sát của gia đình Trung Tá Lương. Vừa nghe qua ông Khánh đã oà lên khóc nức nở. Ông ôm đầu rên rỉ:
– Kỳ Duyên ơi, sao em lại bị chết thảm như vầy! Chú Lương ơi, sao chú nỡ bắn vợ con rồi tự sát như thế! Người ta sống được, mình sống được chớ! Cách đây một tuần chú nói với tôi “Nếu bọn cướp cộng sản tràn vào, em sẽ bắn vợ con rồi tự sát chứ em không sống với bọn nó đâu. Em đã lắp sẵn đạn trong khẩu Colt của em. Em thề không đội trời chung với bọn cộng sản”. Tưởng chú nói là nói vậy, ngờ đâu chú làm thật. Thảm thiết quá chú Lương ơi!
Trước hoàn cảnh này lòng tôi cũng đau xót lắm. Nhưng tôi cố gắng nuốt nuớc mắt chảy ngược vào trong, tôi ôn tồn an ủi ông:
– Xin ông bớt thương cảm. Dù ông có than khóc bao nhiêu, anh chị Lương và các cháu cũng không sống lại được. Xác đã sình chương, cần được chôn ngay. Anh Thể tôi đang đi mua hòm. Ông nên xuống ngay Trường Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân cùng với nhà tôi lo việc chôn cất.
Khi anh Thể cùng ông bà Khánh xuống phòng Văn Hóa Vụ, nơi gia đình Trung Tá Lương đã tự sát, thì phòng trống trơn! Phòng đã được dọn dẹp, khử trùng sạch sẽ! Anh Thể hỏi tụi bộ đội vừa mới tiếp thu trường thì được biết bọn nó tưởng xác chết vô thừa nhận, sợ dơ dáy truyền nhiễm nên chúng nó đã dem chôn ngoài bãi cát bên cạnh bờ biển.
Anh Thể và ông Khánh nhờ một tên bộ đội dẫn đi chỉ chỗ những thi thể bọn bộ đội cộng phỉ vừa mới chôn. Nhìn 5 nấm mộ mới lấp đất sơ sài, anh Thể thương bạn qúa, anh không nỡ để bọn cộng phỉ chôn gia đình bạn anh một cách cẩu thả sơ sài như vậy. Vả lại 5 chiếc hòm đã chở xuống, không đặt họ vào đó nằm cho ấm áp, đau xót buồn tủi cho họ biết chừng nào!
Anh Thể bàn với ông bà Khánh, đào xác lên, tẩm liệm sạch sẽ rồi đem ra nghĩa trang Đồng Đế chôn cho mỗi người trong gia đình có được một nấm mồ. Ông bà Khánh nghe anh Thể hết lòng với gia đình em mình như thế, mừng qúa đồng ý ngay. Ông bà Khánh đã tìm thuê người dến giúp, nhưng lúc đó nước mất nhà tan rồi, ai cũng chán nản đến tận cùng con tim khối óc nên chẳng ai nhận lời cả. Vậy là việc đào xác lên rồi tẩm liệm chôn cất chỉ có anh Thể, ông bà Khánh và một cậu thanh niên nhỏ tuổi. Chắc là con hay cháu của ông bà.
Giáo sư Lê Quốc Khánh là một người đàn ông thể chất yếu đuối nhưng tình cảm thì chứa chan. Mỗi lần đào một xác lên, vừa trông thấy mặt là ông Khánh qúa xúc động, đứng không vững, ông ngã qụy xuống, ôm mặt khóc nức nỡ. Bà Khánh thì cứng rắn hơn chồng. Bà là một người đàn bà lanh lợi, tháo vác, quyền biến. Có thể nói bà là một phụ tá đắc lực cho anh Thể trong việc chôn cất tập thể này.
Trong lúc đào xác lên để tẩm liệm, anh Thể quá kính phục sự can đảm bất khuất của Trung Tá Hà Ngọc Lương, nên anh quyết định an táng niên trưởng anh như một Chiến Sĩ Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân. Anh Thể về mở tủ áo anh Lương, lấy bộ đại lễ binh chủng Hải Quân đem xuống mặc cho bạn.
Nhưng lúc đó xác anh Lương đã chương lên, mặc không vừa. Quần thì mặc được nhưng nút quần cài không được, áo thì quá nhỏ so với thân xác. Anh Thể đành đắp chiếc áo đại lễ có gắn nhiều huy chương lên thi thể bạn. Chiếc mũ cát cấp tá, anh trang trọng đội lên đầu niên trưởng anh.
Thời điểm đó, NhaTrang đã rơi vào tay bọn giặc cướp cộng sản bắc việt nên anh Thể không tìm đâu ra được Lá Cờ Tổ Quốc Vàng Ba Sọc Đỏ phủ lên quan tài anh Lương. Chiến hữu anh sống chiến đấu cho lá cờ nào, màu áo nào thì, khi bạn anh nằm xuống, phải được chôn theo màu cờ và sắc áo đó. Ít ra Trung Tá Lương phải được tẩm liệm với bộ đaị lễ Hải Quân để khỏi tủi vong linh người quá cố.
Trong lúc anh Thể về lấy bộ đại lễ của anh Lương, tôi đã đưa them một ít quần áo của chị Kỳ Duyên và các cháu, gởi anh Thể đem xuống để bà Khánh “bỏ theo” trong quan tài họ.
Trên 5 nắm mồ mới lấp đất, anh Thể đóng tấm gỗ tạp trên viết hàng chữ bằng sơn
“NƠI AN NGHỈ CỦA GIA ĐÌNH HÀ NGỌC LƯƠNG & LÊ THỊ KỲ DUYÊN”
Ông bà Lê Quốc Khánh rất cảm động về tình bạn giữa anh Thể và anh Lương. Khi công việc tạm xong, ông Khánh ngỏ lời cám ơn anh Thể đã hết lòng hết dạ với gia đình người em gái và em rể ông. Anh Thể nghe vậy gạt đi, nói: “Nghĩa tử là nghĩa tận. Bạn bè cùng binh chủng, cùng đơn vị, chẳng giúp nhau vào lúc này thì còn lúc nào nữa đâu! Xin anh đừng nói đến lời cám ơn, chúng tôi buồn.”

Lối Thoát Cuối Cùng--

Ngày 19-5-1984, (trước 2 ngày gia đình chúng tôi trốn đi vượt biên), anh Thể và tôi từ Cam Ranh ra Nha Trang, đến nghĩa trang Đồng Đế viếng mộ anh chị Lương lần cuối. Tôi đã òa khóc khi thấy 5 nắm đất thấp lè tè đầy cỏ daị. Tấm bảng gỗ anh Thể đóng ngày nào trên hàng mộ, nay đã ngã xuống mục nát tự bao giờ. Chín năm trôi qua rồi còn gì! Chín năm dưới ngục tù cộng sản, sắt còn phải chảy, đá còn phải tan, huống gì một tấm gỗ tạp!
Với nén nhang trong tay, tôi đã thì thầm tâm sự với chị Kỳ Duyên: “Gia đình chúng tôi đã không đủ can đảm và gan dạ như gia đình anh chị nên chúng tôi đã trải qua 9 năm khổ đau cùng cực và trăm bề tủi nhục. Nay chúng tôi quyết ra đi tìm tự do và tương lai cho các cháu. Anh chị sống khôn thác thiêng, xin phù hộ cho chúng tôi trót lọt trên bước đường vượt thoát đầy nguy hiểm này. Nếu bị bọn phỉ quyền bắt lại, chúng tôi chắc phải tìm lối thoát cuối cùng như anh chị chứ làm sao sống nổi với lũ quỷ đỏ khát máu và man rợ này. Thôi trời đã về chiều, chúng tôi phải về Cam Ranh cho kịp chuyến xe đò. Anh chị và các cháu hãy nằm yên an nghỉ…”
Tôi gục xuống nấm mồ hoang vu thấp lè tè đầy cỏ dại của chị Lương khóc nấc lên....

Thắp nén hương lòng tưởng nhớ anh
Gương người chiến sĩ sáng long lanh
Đạn bay, nợ trả hồn sông núi
Kiếm gãy, ơn đền chuyện sử xanh

Cầu Đá ngàn năm con sóng vỗ
Nha Trang muôn thuở biển vinh danh
Khi về bến cũ dừng chân vái
Dân trí kiêu hùng sẽ tiến nhanh!


(Sài Gòn trong tôi/ Nguyễn Thi Thể Lý)

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Re: QUÁN BIÊN THUỲ

Post by nangchieu »


Người Hạ Sĩ Nhứt

Nguyễn Vô Danh
Mọi chuyện dường như là có sự sắp đặt. Trong cuộc đời tui, bao nhiêu lần vào sanh ra tử, cứ tưởng là sắp đi thăm ông bà ông vải, nhưng lại chưa. Bà xã, thỉnh thoảng vẫn chọc quê, "Nghèo mà ham; anh tưởng muốn đi là đi hả? Tui chưa cho anh đi thì hổng được đi đó. Nghe chưa?". Chuyện tình duyên thì cũng rụp, rụp, rụp - ý tui muốn nói là xuông xẻ đó. Còn chuyện người anh kết nghĩa thì như trên trời rớt xuống. Đúng là người tính hổng bằng Trời tính mà. Tía hay nói như dzậy.

Nói xa nói gần hổng bằng nói thiệt tui là con một trong gia đình nông dân nghèo. Nghe Má kể lại thì lúc được 1 tuổi rưỡi, tui bị bịnh ban gì đó, mà hai thầy thuốc Nam trong miệt cồn Dừa (tỉnh Phong Dinh) này đều bó tay. Tía bằng lòng bán miếng ruộng duy nhất của gia đình để có tiền đưa tui lên Sài Gòn chữa bịnh, nhưng đường đi quá cực khổ, và có thể tui sẽ chết trên đường trước khi tới nhà thương, thành ra lại phải trở về khi đi chưa được một phần năm đường. Hổng lẽ ngồi khoanh tay nhìn con mình chết, Tía nghe người ta mách hái mấy lá gì đó trộn với xả nấu cho tôi uống. Uống xong, nghe Má kể lại, tôi giựt giựt mấy cái rồi nằm xụi lơ, rồi ngủ luôn 2 ngày. Khi tui thức dậy, Má khóc quá trời vì quá mừng. Qua được cơn bịnh này thì tui hơi chậm lớn và cũng hơi chậm nói - nghe Má nói như dậy. Giờ ngồi nghĩ lại thấy thương ổng bả quá trời.

Khi được 5 hay 6 tuổi tui hay theo Tía ra đồng coi dùm Tía mấy cái cần câu trong lúc ổng làm ruộng. Ngồi hổng có gì làm, tui thường lượm gạch hay sỏi để chọi chim, rắn hay chuột đồng. Nhiều hôm tui chọi trúng được vài con chuột hay chim đem về cho Má nướng. Còn cá trê Tía câu Má kho tiêu ngon lắm. Thỉnh thoảng Tía uống rượu đế với mồi cá kho tiêu, và khi uống rượu Tía nói nhiều hơn mọi ngày. Phải nói là cuộc sống khá êm đềm.

Tới 8 tuổi tui mới đi học, nhưng tui học dở lắm, chắc là tại quá ham chơi. Khi rảnh tui làm ná bắn chim (thay vì chọi đá như hồi nhỏ). Tui cũng hay chơi bắn bi với tụi nhỏ hàng xóm. Phải nói là tui dùng ná rất giỏi vì ngày nào tui cũng đem chim, vịt trời hay chuột về cho Má làm đồ ăn. Khi bắn bi cũng vậy, tụi bạn thua tui dài dài, thành ra có tiền mua bánh tráng, xôi với cà lem ăn. Chỉ có học là tui dở thôi. Học đó rồi quên đó. Phải học lớp Năm đến 2 hay 3 lần mới được lên lớp Tư.

Có lần tan học, trên đường về, tui theo bạn bè vào vườn mía đỏ bỏ hoang (thân mía màu ưng đỏ hồng, mềm và ngọt khỏi chê luôn). Muốn được mía lớn tui phải đi tuốt vô trong sâu. Đang kéo chiến lợi phẩm ra, thì tui thấy đau điếng dưới chưn. Nhìn xuống thì trời ơi, một con trăn bự đang cắn chặt vô cái bắp chuối. Tui cố kéo chưn ra nhưng hổng xong vì con trăn mạnh quá. Thân nó trườn tới và quấn luôn chưn kia. Biết là hổng xong nếu tiếp tục cá đà này, tui la cầu cứu nhưng vì ở tuốt trong sâu, hổng ai nghe. Hai chưn bị trăn cột xiết rồi, tui ngã xóng xoài - chuyện đi thăm ông bà là cầm chắc trong tay. Hai chưn đã tê cứng. Chợt nghĩ tới Tía và Má, tui như bừng tỉnh và quơ đại cái cặp táp. Đang dùng cái cặp táp da đập vô đầu con trăn, cây viết văng ra. Tui dùng cây viết đâm túi bụi vào mắt con trăn. Đâm hết mắt này rồi đâm qua mắt kia. Chắc là bị tui đâm khá sâu vào mắt, con trăn tự nhiên nhả chưn ra, lăn lộn, hổng xiết nữa, và bò đi nơi khác. Hôm đó Má khóc nhiều lắm. Má cứ lẩm bẩm cám ơn ông bà che chở. Má nói là cái số tui chưa rụng. Tía tới vườn mía hoang và bắt được con trăn mù cổ bà chảng. Đem ra chợ bán thịt được gần hai chục đồng. Lúc đó 1 lượng vàng chỉ có 65 đồng. Tía nói sẽ dùng tiền này cho tui khi đi học xa, hay lúc cưới vợ. Tía cấm hổng được đi vô rừng mía đó nữa. Nói cho cùng, sau cái vụ trăn quấn thì có cho tiền tui cũng hổng dám vô.

Tui học ạch đụi tới năm 15 tuổi mới học xong lớp Nhứt. Thấy tôi học chậm, Tía cho tui ở nhà phụ làm rẫy. Mùa hè năm sau nhóm trẻ tụi tui đá banh thắng nhóm bên cồn Cát 3-2. Tui đá vô gôn luôn 2 trái trong vài phút chót vì tui chạy lẹ lắm. Được 80 đồng phần thưởng, tui dẫn "đội banh nhà" ra chợ ăn gỏi đu đủ và uống nước mía. Thắm, cô bán nước mía, nhận ra tui, nhưng tui hổng nhận ra cổ. Hỏi ra mới hay là tui học cùng lớp với Thắm 6 năm trước. Cổ khác hẳn con nhỏ ốm nhom, đen thui hồi đó. Thắm giờ có da có thịt, da bánh mật, nói chuyện có duyên, và biết buôn bán. Sau lần đó, tụi tui kết nhau. Đưa Thắm về nhà, Tía và Má mừng lắm. Má nói là Má luôn muốn tui có người anh để giúp đở bảo bọc vì tui chậm chạp và thật thà. Nay có người bạn đời giỏi như Thắm đến với tui, Má vui lắm. Tám tháng sau, tụi tui lập gia đình. Khoảng 1 năm sau khi cưới vợ thì tui phải nhập ngũ.

Chỉ sau vài tháng trong Quân Trường Quang Trung, vì được nhiều sự chú ý của các huấn luyện viên cao cấp bởi tui chạy đua rất mau (chắc vì muốn thắng đá banh để có tiền mua nước mía), và tui bắn súng hết xẩy (hay là vì chọi đá bắt chuột, dùng ná bắn chim, bắn bi kiếm tiền mua đồ ăn ... hồi nhỏ), tui được huấn luyện đặc biêt để trở thành xạ thủ. Khi mãn khóa ở Quang Trung, tui được chuyển đi Kontum với cấp bực binh nhì trong đội Biệt Kích. Nhiệm vụ của tui là trốn trên những đồi cao có nhiều cây, quan sát, truyền tin và bắn tẻ khi được lịnh. Có khi tui đi chung nhóm 3 hay 5 người, và có khi chỉ có mình ên. Thường được thả trên rặng Trường Sơn vào những đêm sương mù dầy đặc. Những lúc đi xa, tui nhớ Thắm, nhớ Má và Tía lắm. Cái sướng của công việc này là tui dùng sở trường của mình (chạy mau và bắn giỏi) để phục vụ đất nước. Tui cũng khoái vụ trốn trên núi cao vì hồi nhỏ thích chơi Năm Mười. Xếp tui dặn là bất cứ ai hỏi thì tui phải nói tui là lính kiểng gác kho gạo trên Đà Lạt. Mà cũng hay, vì sau khi núp trên núi vài tháng nên da trắng và tóc dài, tui dòm cũng giống lính kiểng lắm chớ bộ. Sau mỗi lần đi công tác vài tháng tui được nghỉ phép cả tháng với rất nhiều tiền (hình như là tiền tử) khi về thăm gia đình. Tiền bạc dồi dào, tui mua đồ cho mọi người mút chỉ. Vì vậy bạn bè, hàng xóm thương, che chở và giúp đỡ tui.

Lần đó sau khi về thăm nhà chưa được 2 tuần lễ, tui bị gọi về gấp vì có chuyện lớn. Đi lẹ ra Ô Môn, vô sân bay Trà Nóc, bay thẳng về KonTum để nhận lịnh. Trước khi được điều động lên một địa điểm bí mật trên rặng Trường Sơn để thăm dò như các lần trước, tui được dặn là phải cố gắng nhiều vì 2 đồng nghiệp Biệt Kích (BK) đã mất tích trong vùng đó. Điều may mắn lần này là tui tìm được 2 người BK kia không xa nơi đáp xuống. Một người đang bị bịnh. Máy truyền tin bị hư, và đạn dược thiếu thốn tại một số lớn quân nhu bị rớt mất khi thả dù. Tụi tui núp trong 1 hang núi có nhiều cây rậm rạp. Điều không may mắn lần này là tụi Việt Cộng biết được sự có mặt của nhóm BK vì họ tìm ra số quân nhu và dụng cụ bị rớt. Họ lùng kiếm ráo riết. Để được an toàn, tụi tui im hơi lặng tiếng và chỉ bắn khi thiệt cần. Sau cùng cũng phải bắn trả vì tụi nó tới quá gần, nhưng tụi tui bắn thật ít vì thiếu thốn đạn dược. Tụi Việt Cộng dù đông hơn, nhiều đạn hơn, nhưng hổng dám mạnh dạn tiến lên vì họ ở vị trí dưới thấp, trong khi nhóm tụi tui phía trên cao bắn xuống phát nào trúng phát nấy. Cầm cự được hơn 6 tiếng đồng hồ, thì nhóm tui gần như hết đạn. Chỉ còn vài trái lựu đạn để tử thủ. Tui không nghĩ là mình qua được con trăng này. Nghĩ tới Thắm, Tía và Má, tui chạnh lòng. Trong cơn nguy hiểm như chỉ mành treo chuông, bỗng nhiên máy bay trực thăng tiếp cứu tới. Máy bay phải đánh đông phạt tây (điệu hổ ly sơn) và dùng hỏa mù để cứu nhóm tui. Trong phi vụ này, tui bị thương vì té gẫy tay và được đưa về Chẩn Y Viện Cộng Hòa điều trị. Sau thời gian dưỡng thương, tại tay hổng còn khỏe và chính xác như ngày trước, tui được chuyển về 1 quận lỵ nhỏ gần Suối Dây, tỉnh Tây Ninh với cấp bực Hạ Sĩ Nhứt và giã từ cuộc sống BK Đặc Biệt từ đó.

Khoảng 4 tháng sau thì Thiếu Úy Đức (TUĐ) người Bắc tới làm Phó quận trưởng. Tui được lựa làm gạc đờ co (bảo vệ) cho ông Phó. Vài lần đang lái xe jeep chở ông Phó đi quan sát ngoài biên giới quận thì tụi Việt Cộng bên kia rừng Tràm bắn lén. Vừa nghe tiếng nổ là tui phản xạ đẩy TUĐ nằm xuống, che cho ông, và cùng lúc tui nhả hàng loạt đạn về phía tiếng nổ. Sau vài lần như vậy, tui được tin cẩn hơn và trở thành cánh tay trái của ổng. Tui luôn khuyên ổng phải cẩn thận, vì đây là vùng xôi đậu không biết ai là địch, ai là thù. TUĐ là thượng cấp, nhưng ổng cũng xem tui như người nhà. Một lần đưa ổng đi xem nhà cửa của dân làng do nhóm lính sửa chữa, TUĐ gặp cô Hân (con gái bà chủ căn nhà ở cuối quận, kế bên con sông nhỏ ngăn cách khu rừng Tràm âm u bên kia). Theo như tui thấy thì hình như lúc gặp cô Hân, TUĐ bị tiếng sét ái tình hay sao đó vì ổng đứng như trời trồng và nói năng lắp bắp. Thấy kỳ quá, thêm nữa khu này nguy hiểm khi trời sâm sẩm tối, tui nói thay cho ổng:

- Trễ rồi, Thiếu Úy. Mình phải đi dzề. Chào cô.

Cô Hân đẹp, ăn nói khéo léo, ... chắc là người bên kia, gài lại đây. Tía của cô vắng mặt. Hay là ông ta đã tập kết ra Bắc? Thêm nữa, tên Ba Thọt (ở đối diện nhà cô) - một người có tiểu sử và hành động rất khả nghi - thường qua lại nhà cô thăm viếng.
Mỗi sáng khi cô Hân đi làm ngang văn phòng quận, tui thấy cô cố tình đi chậm lại. Hay là cô đang nghe ngóng tin tức? hay là xem cá có cắn câu chưa? hay là đang dò sét tình hình trong văn phòng quận để tường trình cho phe bên kia?... Hàng trăm câu hỏi, nhưng hổng có câu trả lời. Thôi, tốt nhứt là đề phòng thì vẫn hơn.

Vài tháng sau, Kontum, Ban Mê Thuột và nhiều vùng cao nguyên thất thủ. Rồi Bảo Lộc-Madagui vào tay bọn qủy đỏ, ... Một buổi chiều tháng tư, tụi Việt Cộng đem xe tăng, súng lớn tới tấn công quận. Đại Úy Long quận trưởng mất tích. TUĐ và các anh em quân đội tụi tui liều chết bắn chặn quân địch. Trước hỏa lực quá mạnh của địch, lực lượng tiểu đoàn phòng thủ quận tan rã. Kẻ chết, người bị thương, người chạy trốn. Tui và TUĐ đều bị thương nhẹ. Cùng đường, hai thầy trò chạy về phía cuối quận. Đinh ninh là Ba Thọt hay cô Hân sẽ chờ để bắt sống hay thanh toán tụi tui ở đó, tui cầm chắc khẩu tiểu liên sẳn sàng mạng đổi mạng. Khi chạy tới gần con sông cuối quận (gần nhà cô Hân), TUĐ ngã quỵ vì kiệt sức. Đang đỡ TUĐ lên, thì cô Hân chạy ra mở cửa rào ra dấu cho tụi tui vào nhà gấp. Khi vào trong, cô băng bó cánh tay của TUĐ. Cô đưa cho tụi tôi 2 nắm cơm và ít nước lạnh để ăn cầm hơi. Trong lúc tui và TUĐ ăn, cô lấy 2 ruột xe đạp, bơm lên, và đưa cho tụi tui. Cô ta chỉ tay vào con sông sau nhà:

- Hai anh thả nổi chừng 8 hay 9 cây số tới nhà thờ Suối Dây. Nhớ tìm người linh mục gốc Nam Định xin giúp đỡ. Chừng nào khỏe lại thì đi. Nếu tình hình lộn xộn quá, thi trốn qua Kampuchia. Hai anh đi cho lẹ trước khi họ tới đây.
Lúc đó tui mới biết là mình sai. Cô Hân là người ơn, chứ không phải là vẹm như tui nghĩ. Món nợ cứu mạng này lớn lắm.

Khi tụi tôi xuống sông thì trời đã tối. Nương theo dòng nước hai thầy trò tới nhà thờ Suối Dây khoảng 2 giờ sáng. Người Linh Mục dấu tụi tui ở đó gần 3 tuần lễ dưỡng thương. Khi gần như hồi phục hoàn toàn, TUĐ và tui chia tay. Hôm đó cả hai đều khóc. TUĐ nghẹn ngào:

- Hạ Sĩ Nhất Sơn. Tôi bao giờ cũng xem chú ... như người nhà. Cám ơn chú ... đã làm việc với tôi trong 2 năm qua, và ... đã giúp đỡ tôi trong cơn hoạn nạn này. Nếu còn duyên thì anh em mình sẽ gặp lại.

Sau khi từ giã TUĐ và người Linh Mục, tui về Cần Thơ đoàn tụ với gia đình. Mất mấy ngày mới về tới Sài Gòn. Thành phố giờ có tên mới -cái tên của kẻ sát nhơn. Tui hổng quen dùng cái tên mới đó. Phải mất thêm cả tuần nữa mới quá giang về đến cồn Dừa vì xe cộ bị đình trệ sau ngày đổi đời - cái ngày mà hàng vạn người vui, nhưng hàng triệu người buồn. Khi bước vô nhà, Má bật khóc vì quá mừng. Thắm thấy tui tiều tụy quá cũng khóc. Tía thì nhờ người hàng xóm đi mua ít đồ ăn mừng ngày đoàn tụ.

Hai hôm sau, 3 người Công An tới nhà chỉa súng bắt tui đi lên xã. Xã trưởng là 1 tên Bắc Kỳ răng hô mã tấu với khuôn mặt khắc khổ nhăn nheo như cái mền rách. Hắn đập bàn đánh phủ đầu với giọng Bắc đặc sệt:

- Mày có biết tội phản động làm việc cho CIA cũa Mỹ Ngụy nặng như thế nào không? Tội ác của mày lớn lắm. Mày có nợ máu với nhân dân.
- Thưa đồng chí xã trưởng ...
- Ai là đồng chí với bọn phản động như mày.
- Dạ thưa xã trưởng. Tui chỉ là lính khiểng gác kho ở Đà Lạt. Tui có bắn giết ai đâu?
- Tao có hồ sơ của mày. Đừng chối cãi nữa. Nhận tội đi. May ra được Đảng khoan hồng.
- Thưa Xã Trưởng, chắc là có người trùng tên, chứ tui đâu có làm gì như dậy.
- Giam thằng này lại. Đồ ngoan cố, mất dạy. Tuần tới đưa nó lên phòng Công An tỉnh để giải quyết.

Tui bị nhốt 8 ngày trước khi bị chuyển lên ty Công An tỉnh Cần Thơ. Khi vào gặp Trưởng phòng Công An, tui không dè đó là thằng Huân trong đội đá banh ngày nào. Nó ăn gỏi đu đủ bò khô và uống nước mía với tui sau các trận đá banh vài lần. Thêm nữa mỗi lần tui về thăm nhà, tui đều có mua đồ cho thằng Huân và cho dì Tám má nó. Tui cũng nói là làm lính kiểng trên Đà Lạt, khi nó hỏi.

Thằng Huân nhận ra tui ngay. Tui chỉ trả lời bằng những gì mà Xếp cũ của tui dặn nói. Tui đổ thừa là có người trùng tên. Nhờ thằng Huân dễ dãi, tui thoát nạn.

Tui đi cải tạo mấy ngày dành cho Hạ Sĩ Quan. Sau đó được "khoan hồng" về làm rẫy với gia đình ở cồn Dừa.

Xã hội dưới tay đảng CSVN xuống dốc như xe hổng thắng. Ai cũng nghèo, đói, và khổ cực. Gia đình tui làm rẫy, cũng bữa đói, bữa no, nhưng đỡ hơn nhiều người. Tui lại bắn chim sẻ, vịt trời như hồi nhỏ. Tiếp tục bắt chuột đồng, bắt cá lóc hay cá trê dưới ruộng làm khô lén để dành cho những ngày mưa gió. Hai năm sau Thắm cho gia đình tui 1 tin vui là thằng con trai đầu tiên. Rồi năm sau nữa thì thằng thứ hai. Khi miếng ruộng duy nhất của gia đình bị xung công, Tía rầu rĩ sanh bệnh và ra đi năm sau đó. Mất đất trồng trọt, gia đình dọn về Ô Môn năm 1979. Vợ chồng tui làm công làm mướn bất cứ thứ gì ở chợ Ô Môn để kiếm tiền.

Đã 8 năm từ ngày rời Suối Dây, tui hổng có tin tức gì về Thiếu Úy Đức (TUĐ). Tình cờ năm 1983 khi đi mua bán đồ ở chợ Cái Răng, tui gặp Đại Úy Long (ĐUL) Quận Trưởng năm nào. ĐUL mới được thả về từ trại cải tạo trước đó 6 tháng, và còn đang bị quản chế. Đi đâu cũng phải xin phép và trình diện mỗi tuần. Thấy tình trạng ĐUL thảm quá, tui cho ổng 1 con khô mực và nửa ký gạo dấu trong sách tay. ĐUL nói là có gặp TUĐ trong tại cải tạo mùa thu năm 1977. Khoảng 2 năm sau, nghe nói là TUĐ vượt ngục rồi bị bắn chết ở gần biên giới Lào làm gương cho kẻ khác. ĐUL cũng cho biết là khi được thả, trên đường về ổng nghỉ 1 đêm tại quận lỵ ngày xưa vì không còn xe về Sài Gòn. Quận tiêu điều lắm. Tui hỏi về mấy người ở cuối quận kế bên con sông nhỏ. ĐUL nói là 2 căn nhà đó đã bỏ hoang, xiêu vẹo, không người ở. Nghe làng xóm nói là bà già (má cô Hân) đã chết và chôn trong ngôi mộ nhỏ sau nhà. Đứa con gái (cô Hân) thì biệt tăm. Hình như đã chết trôi vì người ta tìm thấy dép của cổ và cục xà bông ở bờ sông sau nhà. Tui nghe xong cảm thấy choáng váng như bị trúng gió. Hôm đó tui về nhà khóc. Vợ tui hỏi. Tui kể lại sự tình. Tội nghiệp vợ tui. Thắm làm 1 bàn thờ cho TUĐ trên nóc tủ kế bên bàn thờ của Tía và Má, và tối đó cúng 1 chén cháo trắng.

Làm ăn ở chợ Ô Môn khó khăn, gia đình tui mướn 1 miếng đất cách Ô Môn 20 cây số để trồng khoai mì và khoai lang. Tui dậy 2 đứa nhỏ làm bẫy bắt chuột đồng, làm ná bắn chim, ... Vợ chồng tui thì quen cảnh nghèo rồi. Chỉ tội 2 đứa nhỏ thiếu ăn và tương lai mù mịt. Nhiều đêm nóng nực hổng ngủ được, tui cứ nhớ lại những ngày tui ở Suối Dây. Nhớ TUĐ và nhớ cả người đã cứu hai thầy trò. Chỉ biết chắc lưỡi thở dài cho người vắn số.

Sau nhiều kế hoạch kinh tế đảng CS đưa ra đều thất bại, chính quyền thả lỏng và có ý muốn đi theo kinh tế thị trường tự do. Cuộc sống dân nghèo trở nên dễ thở hơn một chút. Gia đình tui bắt đầu nuôi heo để thanh toán số khoai lang ung thúi khi bán hổng hết.
Làm sao tui quên được buồi chiều hôm ấy. Đó là một buổi chiều đầu tháng Tư năm 1995, khi tui đang làm rẫy, ngăn nước không cho vào đất trồng trọt quá nhiều, thì Thắm ra rẫy gọi về nhà có khách. Khi về nhà thì thấy 2 người ăn mặc sang trọng có vẻ đàng hoàng. Tui không nhận ra người đàn bà, nhưng người đàn ông thì nhìn quen lắm. Sau vài giây ngỡ ngàng, người đàn ông nhìn tui và nói một cách ngậm ngùi trong nước mắt:

- Chú Sơn có nhận ra tôi không? ... anh Đức đây?
- "Hả, ... ôi trời, Thiếu Úy Đức, ... ông Phó!..."; Tui trả lời khi nước mắt bắt đầu ứa ra vì quá mừng.
- Đừng gọi như vậy. Gọi là anh hay anh Đức vì chú là em của tôi mà.
- Dạ, dạ ... ông Phó, à quên, ... anh Đức. Tưởng là anh đã ... Gia đình tui làm bàn thờ cho anh mười mấy năm nay.
- Thắm ơi, đây là anh Đức. Thằng Tân, thằng Hoàng, ra chào Bác Đức.
- Còn đây là bà xã của anh.
- "Dạ, chào chị. Dạ, chị tên gì?"; Tui hỏi.
- "Chú nhìn kỹ xem ai ? Cô Hân ở Suối Dây đó"; TUĐ trả lời.

Tui lặng cả người và đứng chết trân. Người ơn của tui bằng xương bằng thịt ngay trước mặt. Thời gian như dừng lại. Nước mắt bắt đầu chảy tràn trên mặt, và giọng nói lạc đi:

- Tui hổng có dè có ngày này... 20 năm rồi. Cám ơn anh chị ... đã nhớ đến tui... Tui mừng quá. Sao ... tới bây giờ anh chị mới tới ? Tui có nằm mơ hông ?
TUĐ lau nước mắt, rồi chậm rãi nói:
- Chuyện dài lắm. Sẽ kể sau. Bây giờ anh chị mời cả nhà đi ăn mừng. Tốn cả tuần đi kiếm cô chú đó.


* * *


Nghe anh kể lại chuyện trốn khỏi trại tù năm 1979, và bao nhiêu lần vượt biên hụt, tui nể quá. Chuyện chị giả chết trôi để trốn khỏi Suối Dây và những lần vượt biên bị bắt thì cũng ly kỳ quá trời. Rồi đến khúc hai người gặp lại nhau bên Mỹ, tui mừng như là chuyện của mình. Tui hãnh diện có được ông anh và bà chị dâu giỏi như vậy.

Mấy bữa sau, vợ chồng anh mướn xe đưa gia đình tui đi thăm Suối Dây. Trên đường về, có ghé Vũng Tàu tắm biển. Thấy thương bà xã và 2 đứa con tui quá. Lần đầu tiên vợ con tui được đi xe hơi, được đi ra khỏi Cần Thơ, được lên Sài Gòn, được đi Suối Dây, được ra tắm biển Vũng Tàu, được đi ăn nhà hàng, được uống nước ngọt cô ca cô la, ...

Trước khi về Mỹ, tui hổng dè vợ chồng anh lại giúp một số tiền lớn để mua một cửa hàng gần chợ Ô Môn buôn bán nông phẩm cho gia đình tui đỡ cực. Anh chị nói sẽ về thăm thường xuyên hơn.

Tối hôm đó tui thắp nhang cho Tía và Má. Tui thì thầm "Má ơi, Má luôn muốn là con có người anh để che chở cho con. Má ơi, điều Má muốn đã xẩy ra. Con cám ơn Tía và Má"

Như tui đã nói, cuôc đời tui như có sự an bài hay sắp xếp. Vào sanh ra tử bao lần, mà hổng sao. Duyên phận củng thẳng tắp. Khúc sau cuộc đời, cực thiệt, nhưng lại có thêm người anh nuôi và chị dâu hổ trợ. Bây giờ tui hổng có kỳ vọng nào hơn là sẽ có một ngày cái nhóm mắc dịch, khốn nạn, vô thần, vô đạo đức này tan rã cho tui nhờ và cho người dân bớt khổ.

Ngày đó chắc là phẻ re, há?

Nguyễn Vô Danh

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Re: QUÁN BIÊN THUỲ

Post by nguyenthanh »

Con Suối Nhớ

Ðoàn tù hết giờ lao động ngoài hiện trường trở về trại, không ai là không ngó nhìn vào căn nhà lá ba gian mới dựng lên ở bên bờ suối. Con suối ngăn cách căn nhà với khu trại nên nhiều lúc tầm nhìn của người tù bỏ quên cái cổng trại, mà chỉ thấy có mỗi căn nhà với bờ suối. Căn nhà ba gian hai trái như phần lớn các căn nhà của vùng quê miền Bắc. Mái lợp lá tranh, tường vách bằng tre đan có trét bùn rơm và chấu. Nền đất nện và các cột nhà bằng các thân cây lớn. Căn nhà ấy là công sức của anh em toàn trại tù khỏng 300 người ròng rã làm trên một tháng trời. Lớp vào rừng chặt cây lấy gỗ, chặt vầu làm rui mè kèo cột hoặc cắt tranh về làm mái. Lớp thì đục đục, đẽo đẽo, đòn giông đòn gió. Hôm dựng nóc, bọn cán bộ cũng nghe anh em bàn đi mua một nải chuối với miếng thịt để cúng gọi là cúng lên nóc. Có lẽ tên cán bộ phụ trách dựng căn nhà này có gốc gác cha ông là thợ mộc nên khi anh em làm mộc nói phải cúng mới lên nóc được thì tên đó đồng ý ngay.

Ngày hoàn tất căn nhà, tên cán bộ trại trưởng có họp anh em ở sân trại trước giờ đi lao động, tuyên bố rằng đó là căn nhà của anh em “trại viên”. Anh em sẽ sống với gia đình khi gia đình đến thăm nuôi. Nghe tin nầy, anh em thảy đều sững sờ vì ít ai ngờ tới. Bởi vì đã ba năm qua, từ ngày được chuyển ra Bắc, “cho có điều kiện học tập tốt hơn”, anh em chúng tôi kể như bị cô lập hẳn với xã hội bên ngoài. Ðôi khi bọn cán bộ có nói đến xã hội bên ngoài và chúng cho biết là gia đình chúng tôi đang cùng toàn dân nỗ lực lao động xây dựng lại đất nước và rất “tiến bộ”. Chúng nói rằng chúng tôi sẽ rất bị lạc lõng khi trở về. Thế cho nên gia đình chúng tôi yêu cầu Ðảng và Nhà Nuớc “giáo dục” chúng tôi “tiến bộ” để khi về sẽ hòa nhập được ngay vào cuộc sống mới với những con người mới. Một số anh em nhẹ dạ đã bán tín bán nghi nhưng phần lớn đều cười thầm và chúng tôi thường có những câu chuyện dí dỏm, châm biếm chế độ “ưu việt”. Bọn cán bộ quản giáo, bằng đường lối dò hỏi riêng của chúng, cũng biết “tư tưởng phản động” của anh em chúng tôi nhưng không có gì vi phạm cụ thể nên chúng rất tức tối và thù ghét những anh em hay tụ tập “ăn nói linh tinh”. Số những người này bị ghi sổ đen của chúng. Chẳng may trong đó lại có tôi. Sở dĩ tôi biết thế là vì đã nhiều lần tên cán bộ giáo dục “chiếu cố” tôi bằng cách gọi tôi lên “làm việc”. Những buổi làm việc như vậy thì chỉ xoay quanh:

– Anh tự kiểm điểm và phê bình mình đi.

– Báo cáo cán bộ, tôi học tập tốt, lao động tốt.

– Ðược. Anh nói anh học tập tốt, vậy tốt là tốt thế nào?

Tôi tuôn ra như máy:

– Tin tưởng vào mọi đường lối, chính sách của Cách Mạng, an tâm học tập, chấp hành nghiêm chỉnh nội qui của trại và tích cực lao động.

– Còn gì nữa không?

Tên cán bộ mặt còn non choẹt, làm vẻ người lớn, nghe tôi nói. Có lẽ trong tâm tư hắn, hắn đã quá nhàm chán những lời nói như của tôi vừa nói. Bởi vì quanh hắn, các đồng chí, đồng bào của hắn từ ngày hắn biết nghe và biết nói, biết hiểu tiếng mẹ đẻ thì hắn đã phải nghe những lời nói và luận điệu như thế rồi. Và rồi, cũng như một cái máy, hắn bảo tôi:

– Anh nói anh học tập tốt nhưng điều quan trọng nhất trong học tập thì anh lại không nhắc tới.

Tôi thừa hiểu hắn muốn nói gì. Ðiều mà hắn gọi là quan trọng chính là việc “giúp đỡ” người khác, nghĩa là tố cáo anh em bạn bè. Tôi giả bộ không biết, cứ nhìn hắn chăm chăm như chờ đợi. Hắn thoáng nhìn tôi rồi cúi xuống giả vờ lật xấp giấy tờ trước mặt, tỏ ý hắn đã có đủ hồ sơ về tôi trong tay.

– Anh có nhớ được không?

– Báo cáo cán bộ, những điều tôi nói vừa rồi đúng theo trong bài học mà Cách Mạng đã cố dùng thời gian cho chúng tôi thuộc nằm lòng.

Tức giận vì câu nói xỏ xiên của tôi, hắn xẵng giọng:

– Anh lại muốn châm biếm Cách Mạng. Ðường học tập của anh còn dài lắm.

– Tôi cũng hiểu thế, cán bộ.

– Thế mà anh không chịu khó học tập cho tốt.

– Tôi cố gắng chứ cán bộ, nếu không tôi đã không có mặt ở đây.

– Anh đừng có ngoan cố nữa.

Tôi im lặng. Hắn hắng tiếng :

– Anh quên không nói đến việc giúp đỡ người xung quanh.

– Tôi vẫn giúp đỡ trong khả năng của tôi.

– Tôi không nói giúp đỡ…. trong sinh hoạt hàng ngày mà giúp đỡ về tư tưởng. Tỉ như tối hôm qua sau giờ sinh hoạt, anh em trong Ðội nói chuyện gì, trong buồng có ai có tư tưởng sai lệch, phản động không, có ai không an tâm học tập lao động không…

– Những điều ấy, tôi thấy không có.

– Anh lại bao che rồi. Thế anh Hữu giấu cuốn nhạc vàng thì sao, anh An phát ngôn bừa bãi sáng hôm qua khi chờ đi lao động thì sao, anh Hưng mới đào được có 50 hố sắn mà báo cáo là 80 thì sao. Tôi biết hết, nhưng cứ để xem các anh cải tạo ra sao. Ðừng có mà lấy vải thưa che mắt thánh. Thôi, anh về buồng suy nghĩ đi rồi mai gặp tôi.

Cứ thế, cả chục lần hắn thỉnh thoảng lại hành tôi và một số anh em ưa xì xào chuyện ông Hoàng Cơ Minh đem quân về phục quốc, phong trào phục quốc đang nở rộ khắp miền nam, Tầu sắp đánh sang miền Bắc v.v…

Một hôm,giữa buổi lao động tôi lại được gọi về làm việc. Mọi người trong Ðội đưa mắt nhìn tôi tỏ sự thông cảm. Những trường hợp như vậy, thường kẻ bị gọi về làm việc là ít ra cũng bị cảnh cáo hay kỷ luật vì bọn cán bộ đã được báo cáo hoặc đã khám phá được cái gì mà anh em chúng tôi giấu giếm, như cái bật lửa, con dao ăn hay một vài bài nhạc tình thời trước.

Tên cán bộ vệ binh đưa tôi về gợi chuyện:

– Anh có thuốc lá không?

– Báo cáo cán bộ, đã lâu trại không phát.

– Anh sắp có đấy.

Tôi quay nhìn hắn. Hắn tỉnh bơ:

– Mai nếu tôi đi theo Ðội, anh nhớ đấy. Vợ anh và các con anh đang ở nhà thăm nuôi.

Trời đất bỗng sáng rực. Cảnh trí chợt nên thơ. Tôi bàng hoàng nói:

– Cán bộ nói đùa.

– Tôi không đùa với anh. Anh khẩn trương lên.

Chẳng cần giục, tôi cũng rảo bước về trại. Người trúng số độc đắc khi được biết mình trúng có cảm giác thế nào có lẽ lúc ấy, tôi cũng như vậy. Ðã bốn năm hơn rồi không được thấy mặt vợ con, thư từ thì mới chỉ nhận được cách đó một tháng bởi vì từ năm 1976 chúng tôi bị đưa ra Bắc thì cho đến năm 1979, chúng tôi chỉ được viết thư về mà không được nhận thư. Thời gian qua, chúng tôi rõ ràng là sống ở một thế giới khác, thế giới của địa ngục trên trần gian, ngay trên quê hương mình. Tôi cố mường tượng ra nét mặt của người vợ hiền yêu dấu, những đứa con thơ dại dễ thương. Nhưng trí nhớ mù khơi, không một hình ảnh quen thuộc nào hiện về. Tôi chợt sợ hãi. Mình đã mất trí nhớ rồi ư? Mình có còn là con người nữa không? Tại sao lại có thể quên được cả những gì thân yêu nhất. Hai giọt nước mắt ấm lăn nhẹ xuống má. Tôi vội chùi đi, ngoảnh nhìn căn nhà thăm nuôi bên kia suối. Ôi, căn nhà giờ đây thấy thân thương quá. Nó đang ấp ủ vợ tôi, con tôi. Mà sao lại yên tĩnh thế kia nhỉ. Không thấy một bóng người nào ra vào. Tôi cố nhìn vào khuôn cửa tre, tìm hình bóng thân yêu. Tôi chọt vấp, suýt té. Tên vệ binh giục:

– Anh còn lề mề cái gì nữa. Khẩn trương lên nào.

Tôi lại vội vã đi, hướng về phía trại. Tên vệ binh giật giọng:

– Không. Anh đi về “nhà lô”.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

– Không phải về trại gặp cán bộ giáo dục hả cán bộ?

– Ra gặp quản giáo.

Nhà “lô” là căn nhà chòi ở giữa cánh đồng hiện trường lao động. Nơi đó để dụng cụ lao động như cuốc xẻng… và có một cái bàn với hai cái ghế chỏng trơ để cán bộ quản giáo “làm việc” với người tù chây lười lao động, vi phạm nội qui. Tên vệ binh nói với vào trong nhà:

– Này, nhận tù đi. Tao về trại đây.

Tên quản giáo ló đầu ra khỏi khuôn cửa tre:

– Mày ra bảo Ðội về sớm. Trời sắp mưa to rồi.

– Mày ra mà nói, không phải việc của tao.

Tên quản giáo lẩm bẩm như chửi thầm. Tiếng tên vệ binh vọng lại:

– Ð.m. cứ lên mặt ta đây.

Tên quản giáo chỉ cái ghế gẫy cho tôi ngồi rồi nói:

– Gia đình anh ra thăm anh.

Tôi buột miệng vô duyên:

– Vâng, cảm ơn cán bộ.

– Anh động viên chị và phải tôn trọng nội qui thăm gặp.

– Rõ, cán bộ.

– Cho anh về trại nghỉ sớm, mai ra thăm. Nhớ về gặp cán bộ giáo dục.

– Báo cáo cán bộ, rõ.

Lần đầu tiên tôi được đi một mình không có A.K. hộ tống. Từ nhà “lô” về trại khoảng 500 m. Ðến cổng trại, tên cán bộ trực trại quát:

– Anh kia! Ði đâu, cán bộ vệ binh đâu?

Tôi không muốn gây chuyện lúc này nên nhẹ nhàng đáp:

– Báo cáo cán bộ trực trại, quản giáo cho tôi về gặp cán bộ giáo dục.

Tên trực trại sừng sộ:

– Anh kia! Anh phải gọi là cán bộ quản giáo chứ không được gọi trống không là quản giáo. Ai cho anh xách mé như vậy?

– Rõ, cán bộ.

– Có thế mà cũng phải nói. Anh về làm gì?

– Báo cáo tôi được về để sửa soạn gặp gia đình tới thăm nuôi.

– Gia đình đến thăm gặp, chứ thăm nuôi cái gì. Mấy năm nay Ðảng và Nhà Nước nuôi các anh chứ gia đình nào. Có thế mà cũng phải nói.

Tôi cứ phải đứng ngoài cổng nghe tên trực trại bắt lý, bẻ lẽ. Hắn đang không có việc gì làm, đang chờ các Ðội đi lao động về báo cáo. Tên vệ binh canh cổng bực mình:

– Anh đứng xa ra ba mét.

Tôi ngoan ngoãn làm theo lời. Hắn quay lại nói với tên trực trại:

– Thôi cho nó vào đi.

Rồi hất đầu bảo tôi vào. Tên trực trại đang mở lớn cái “đài” không ngó đến tôi nữa. Bước qua cổng trại vào nhà tù mà tôi tưởng như được tự do. Tôi đi thẳng về phía phòng tên cán bộ giáo dục. Hắn đang đứng nói chuyện với tên cán bộ an ninh, văng tục rầm rĩ. Chợt thấy tôi, hắn nhăn mặt:

– Anh đi đâu?

– Báo cáo cán bộ, cán bộ quản giáo cho tôi về gặp cán bộ.

– Anh về buồng đi. Mai gặp tôi.

Tôi quay bước, cố nén giận. Chợt dòng nước mắt tủi hờn trào dâng lên khóe mắt. Tôi giận tôi không nén nổi xúc động. Tới buồng giam, tôi nằm phịch xuống giường, ôm mặt muốn khóc thật lớn cho tan bớt nỗi căm hờn. Nào phải xa xôi gì mà không được thấy nhau. Tôi nhỏm dậy, nhìn qua song tre nhà tù thấy khuôn trời trong mát. Hướng đó, bên con suối êm đềm kia có căn nhà tranh ba gian đang ấp ủ mẹ con nó. “Quyên, Lê, Tú ơi ba mẹ con chắc giờ này đang mong Bố lắm đây. Thế mà Bố bất lực, không đáp được nỗi mong mỏi của em và các con. Bố có đáng sống không. Sống tủi, sống nhục. Ôi! Nhưng Bố không muốn các con mồ côi. Con không cha như nhà không nóc. Bố phải sống, phải sống để có ngày còn gặp lại mẹ con em, để có ngày Bố phục được hận này…”

Tôi miên man trong dòng suy tưởng. Người bạn tù ốm yếu được cắt cử trực phòng đến bên tôi chia vui:

– Chà, mừng cậu có gia đình đến thăm. Cậu sung sướng quá. Không biết gia đình tôi có xoay nổi tiền tầu ra thăm được không. Bao nhiêu năm rồi không được gặp mặt…

Anh ngồi xuống bên tôi, lôi ra một điếu thuốc lào mừng tôi, cười nói:

– Tôi để dành từ sáng, thèm mà cố nhịn. Ðịnh để tối hút, bây giờ mừng cậu, nào…

Anh nhét thuốc vào nõ điếu. Tôi vùng dậy đón chiếc điếu cầy qnh đưa cho, run rẩy châm đóm và khéo léo rít thuốc sao cho thuốc lào trong nõ điếu chỉ được cháy có một nửa, rồi đưa cho anh. Anh bạn tù đẩy lại:


– Rít thêm tí nữa đi, còn nhiều mà.

– Nửa điếu rồi đó.

– Không. Người hút sau được hút thong thả nên sẽ nhiều hơn.

– Thôi anh hút đi. Tôi đã đíu rồi.

Anh bạn tù trực buồng trịnh trọng châm lại đóm rồi đưa ngang tầm điếu làm một hơi dài sòng sọc. Ðoạn anh nhẹ đặt đóm và điếu xuống, chống hai tay ra sau, người ngả ra, đầu hất lên nhẹ nhàng thở ra từng cuộn khói. Anh lim dim cặp mắt, đê mê. Tôi hỏi:

– Thuốc ở đâu thế?

– Ðổi cho thằng Tứ. Nó còn đến nửa gói phát hôm 19 tháng 5.

– Ðổi gì?

– Hai viên sốt rét lấy một điếu hoặc một nửa phần ăn sáng.

– Bóc lột thật.

– Ừ. Nhưng đã cơn ghiền. Ðói tí chẳng sao. Tớ đâu có lao động nặng như các cậu đâu.

Tiếng òn ào của các Ðội lao động đã về như một sức sống tràn dâng. Tôi cảm thấy ấm cúng, tạm quên đi nỗi tức hận trong lòng. Anh em trong Ðội vây lấy tôi hỏi:

– Gia đình ra thăm hả? Gặp chưa?

– Nó có cho cậu ra thăm ngay không?

– Ð.m. mấy ngàn cây số Nam Bắc, rồi hàng chục cây số trèo đèo lội suối mà bắt vợ con người ta phải chờ đợi.

Anh em ồn ào hỏi. Tôi không còn biết phải trả lời ai trước. Nhìn những con mắt thèm thuồng hướng về tôi, tôi chợt thấy anh em sao mà đáng yêu đến thế. Tôi nói lớn:

– Cậu Tứ ơi, cho tôi vay ít thuốc lào đãi anh em trước nào.

Căn phòng nhà tù ồn lên vui mừng. Hai ba người đem thuốc lào tới. Tứ đưa gói thuốc lào ra nói:

– Vay mượn gì, anh cứ lấy dùng đi. Tôi có hút đâu.

Một giọng châm biếm:

– Mai cậu Huy được thăm rồi, có nhiều thuốc sốt rét và Vitamine lắm cậu Tứ ơi.

Tứ quay ra, giọng chịu đựng:

– Anh đừng hiểu lầm tôi. Tôi sợ bị sốt rét. Ở đây mà không có thuốc thì chết mất…

– Ai mà không cần thuốc.

Có giọng dàn hòa chen ngang:

– Thôi đừng gây gổ nhau, mất vui của anh Huy đi. Nào ai hút thuốc thì quây lại đây.

Rồi người tù này làm ra vẻ quan liêu, gióng to giọng:

– Nhỏ! Ðiếu đâu? Ðóm đâu?

Nhiều tiếng cùng trả lời:

– Bẩm, có ngay.

Không khí trong phòng lại vui trở lại. Những lời vui đùa nhại trong tiểu thuyết Giông Tố của Vũ Trọng Phụng đã làm cho anh em quên được mệt nhọc của một ngày lao động có chỉ tiêu. Anh em đang vui trong chính niềm vui của tôi.

Bỗng ngoài sân có tiếng la:

– Cơm! Cơm!

Thế là mọi người tan nhanh. Ai nấy đều lấy đồ đựng phần ăn. Người cái rổ con. Người cái gà mên quân đội đã móp méo, xỉn đen, người lon “gô”, lại có người trả một miếng giấy dầu. Bẩy chục đồ đựng thức ăn được trải dài trên thềm đất. Một cái rổ lớn đựng đầy khoai mì khô đã được xắt lát mỏng lên men xanh ngắt, nay được luộc chín lại với chút nước muối. Ðó là bữa ăn hàng ngày của anh em chúng tôi. Ðôi khi cũng được đổi món bằng những hạt bắp tẻ vàng rộm. Có người đã nhẩn nha ăn và đếm được mỗi bữa ăn bằng bắp, được 500 hạt với sai số mỗi bữa là 5. Khi nào đổi món là bo bo thí anh em ngán ngẩm lắm vì bo bo ăn vào mà không tiêu được lại trở ra chất thải hết. Thế nên gọi là ăn mà như không. Ấy thế mà không hiểu tại sao anh em chúng tôi, đến giờ chia phần ăn, vẫn gọi là “Cơm! Cơm!” và chúng tôi vẫn sống, vẫn nâng nổi những lưỡi cuốc hàng ngày. Phải nói đó là một phép lạ.

Trong bụng tôi hình như đã no đầy những mong muốn gặp vợ con nên tôi không cảm thấy đói. Đó là đầu tiên từ ngày vào trại tù cải tạo tôi không cảm thấy đói. Tôi nói với bạn tù nằm cạnh:

-Anh lấy phần cơm của tôi đi.

Anh bạn tù nhìn tôi bằng đôi mắt chan chứa cảm mến. Ôi! đôi mắt đó không bao giờ tôi quên được. Nó làm cho tôi ấm lòng. Nó cho tôi tình quyến thuộc. Nó trút đi những nỗi tủi hờn. Tôi nói thêm với anh:

-Mai anh ăn cơm với tôi nhé.

Anh bạn cúi đầu đáp nhỏ:

-Anh tốt với tôi quá.

-Có gì đâu anh.

o O o

Giờ “cơm” vừa xong thì kẻng báo “vào chuồng”. Bâỷ mươi hai người chúng tôi lần lượt đi qua mặt tên trực trại để vào buồng cho hắn khoá lại. Thoải mái với nhau được độ một tiếng là có tiếng kẻng báo giờ “sinh hoạt”. Đối với đa số anh em chúng tôi, cái giờ này là giờ khốn khổ nhất, khốn khổ hơn cả những giờ phút lao động ngoài hiện trường. Tất cả phải ngồi ngay ngắn, nghiêm túc và trịnh trọng để sinh hoạt nghĩa là nghe nhau “kể khổ”. Tất cả phải tự kiểm điểm mình trong ngày hôm đó có an tâm học tập lao động không, có tư tưởng buồn chán gì không nghĩa là có nhớ nhà không, có phát ngôn phản động linh tinh gì không, có đạt chỉ tiêu mà “trại giao phó” cho không. Rồi đến phần khốn khổ nhất là phê bình “xây dựng” nhau nghĩa là phải moi móc nhau ra để phê bình cho mau tiến bộ. Phút giây này có người vì lỡ lời, vì vô tình hay vì bị ép buộc phải phê bình người khác. Thế là một màn tố nhau để rồi cả hai bên hôm sau phải gặp quản giáo để tên quản giáo “giáo dục”. Sở dĩ đi đến chuyện thương tâm như vậy bởi vì các cuộc sinh hoạt ấy đều có thư ký viết lại biên bản để cho bọn quản giáo và trại theo dõi anh em chúng tôi. Nhiều người nông nổi, hay tự ái vặt đã bị rơi vào bẫy của chúng, tự vạch áo cho người xem lưng. Do đó mà đa số anh em chúng tôi đều lo sợ giờ phút sinh hoạt bình bầu… Đó là một hình thức khủng bố tinh thần thường trực anh em chúng tôi. Cũng vì thế mà người thư ký của Đội, của Phòng thường được anh em nể vì vì lời văn trong biên bản của anh có thể di hại cho người khác.

Chín giờ tối. Kẻng đổ hồi báo giây phút chấm dứt sinh hoạt. Ai nấy thở phào nhẹ nhõm. Không khí buồng giam chợt sinh động. Một vài tiếng sòng sọc của ống điếu thuốc lào vang lên như báo một niềm vui rộn rã. Mà là niềm vui thật. Bởi vì 30 phút sau đó là kẻng ngủ. Ai nấy phải im lặng, trật tự. Bây giớ là giây phút sống cho chính mình. trong đêm đen mà ánh sáng của một ngọn đèn dầu được vặn thật nhỏ không đủ soi mói những mơ tưởng của mỗi người. Mơ tưởng về những ngày xưa tưởng như ở một kiếp khác. Mơ tưởng một bữa ăn có cơm trắng, trứng chiên hay thịt gà luộc. Mơ tưởng một mai, chợt có tên gọi về. Để, ra đầu trại có khu dân cư thưa thớt, mua hẳn 5 đồng sắn (khoai mì) luộc ăn cho bõ thèm…

Nhưng hôm nay tôi không mơ tưởng gì hết mà tâm trí đang dồn về căn nhà tranh đơn sơ, nằm thật mộng mơ dưới ánh trăng bên bờ suối. Tôi liếc nhìn ra ngoài khung cửa sổ. Đêm bên ngoài rực sáng ánh trăng trong. Lá cây như ướt nước, lóng lánh vui đùa với gió nhẹ của đêm hè. Tôi mường tượng ra cảnh bên ngoài, gần tôi lắm. Chỉ cách có một bức rào trại tù là con suối chẩy lũng lờ. Thoải một con dốc sườn đồi là căn nhà tranh đó. Nơi đó những người thân yêu của tôi đang làm gì nhỉ. Hai đứa nhỏ chắc đang thì thầm với mẹ về Bố. Thế nào cũng có đứa hỏi:

-Mẹ ơi! Sao mãi Bố chưa ra?

Vợ tôi sẽ trả lời thế nào nhỉ. Tôi cố nghĩ để xem vợ tôi sẽ trả lời các con thế nào. Có lẽ Quyên sẽ ôm con vào lòng, lặng lẽ ru chúng ngủ. Chúng ngủ, giấc mơ nào sẽ đến trong những tâm trí trắng trong ngây thơ. Có một hình ảnh nào của Bố còn in trong trí não chúng. Có một quen thuộc nào còn trong tâm thức chúng. Có một thân yêu nào còn vọng vang trong giấc ngủ hiền hoà. A! ngày mai tôi phải mặc quần áo gì để ra gặp vợ, gặp con đây. Bộ đồ tù xanh mới phát còn để dành tìm dịp đổi lấy nắm xôi nếp hay cái đùi gà của dân. Không được. Đừng cho các con in hằn trong trí nhớ cái hình ảnh tù đầy của Bố. Bố phải oai hùng. Bố vẫn oai hùng và Bố sẽ cố gắng oai hùng, các con ạ. Thế thì mặc đồ gì nhỉ. Hai bộ thường phục mang đi ngày “trình diện” đã nộp trại, có lẽ đã mục nát. Thôi phải rồi. Bộ quần áo rằn ri. Ngày xưa Bố cũng mặc quần áo rằn ri, trên đầu còn cái mũ đỏ nữa. Thiếu cái mũ đỏ và đôi giầy “sô”. Cái bộ quần áo rằn ri của quân đội mình mà bọn Cộng Sản còn căm tức. Ngày chiếm được miền Nam chúng tịch thu được cả triệu bộ trong kho quân nhu, nay chúng đem cho tù mặc, định để sỉ nhục sắc áo và cũng là để tiết kiệm vải xanh tù của chúng vì chúng còn bắt giam tù nhiều người nữa. Với tôi và chắc cũng như của nhiều anh em tù, bộ quần áo này sẽ được chọn mặc ra thăm nuôi dù có dấu chữ Cải Tạo phía sau. Thế là vấn đề y phục đã được giải quyết. Bây giờ, gặp vợ con, tôi sẽ nói những gì nhỉ.Câu đầu tiên sau bao nhiêu năm xa cách vợ con sẽ là những âm thanh lắng đọng sâu sa trong tâm tưởng vợ con mình. Thế thì tôi sẽ nói gì?

Có lẽ tôi sẽ quì xuống, ôm hai đứa con vào lòng vì chúng còn bé nhỏ lắm. Và, cũng quì thế mà ngước nhìn người vợ thủy chung, hiền thục…Sẽ không nói gì cả vì cuộc sống này đã không có cảnh nào để lời nói có thể diễn tả được.

Chợt bên tai tôi có tiếng thì thầm:

-Anh Huy ơi, lên chỗ tôi đi. Hay lắm!

Tôi chưa biết là ai thì một bàn tay đã nắm lấy tay tôi lôi đi. Tôi nhỏm dậy theo bạn, trèo lên tầng sạp trên. Bạn tôi đẩy tôi vào sát khuôn cửa sổ phòng giam. Từ trên cao tôi ngó được qua rào nứa của trại tù. Bên kia rào, đúng là con suối lóng lánh ánh trăng. Cây cầu là một thân cây lớn bắc ngang suối, lúc này như cảnh Thiên Thai của Từ Thức. Ánh trăng vằng vặc soi rõ khuôn cửa căn nhà thăm nuôi. Tôi điều tiết đôi mắt đểû cái nhìn xuyên thủng được ánh sáng lờ mờ trong căn nhà do ngọn đèn dầu leo lét hắt ra. Tôi có thấy hai cái chân bàn dài. Hình như có cả chân ghế. Căn nhà tranh nhỏ làm bếp ở bên cạnh có khói bốc lên. Ngọn khói nhỏ lững lờ trong ánh trăng đưa cái ấm cúng nhớ thương vào tâm hồn tôi. Có lẽ vợ và các con tôi đang nấu ăn. Có thể nấu một món gì đó cho tôi. Có lẽ là thổi xôi. Tôi ước ao thế.

Ôi! Chợt người tôi lạnh băng. Một bóng bé nhỏ vụt chạy từ khuôn cửa bếp lên nhà. Hình như có tiếng gọi nên bóng bé nhỏ đó dừng lại trên thềm đất. Một bóng nữa nhỏ hơn lon ton từ khuôn cửa nhà thăm nuôi ra đón chị. Bóng nhỏ vấp té. Tôi giận tôi hôm làm nền nhà đã đập không kỹ. Bóng nhỏ lớn hơn quì xuống đỡ em, lấy tay phủi quần cho em. Chúng nó thương nhau quá. Cái gì cuồn cuộn trong cổ họng tôi làm tôi nghẹn thở. Tiếng thì thào của người bạn tù:

-Con anh phải không?

-Chúng nó đấy. Mà tôi không biết có phải chúng nó không vì mấy năm rồi, đâu có thấy mà biết chúng nó lớn ra sao.

-Ở nhà thăm nuôi hôm nay chỉ có gia đình anh thôi mà. Chắc các con anh đó.

-Tôi cũng nghĩ là chúng nó. Bởi vì thấy những cái bóng nhỏ đó, lòng tôi đã cuộn lên như sóng trào vì tình yêu thương nhung nhớ, anh ạ.

-Thôi, mai gặp chúng nó rồi.

Hai chiếc bóng nhỏ đã khuất vào căn nhà. Đôi mắt tôi như dán vào khung cửa. Vợ tôi chắc còn đương ở dưới bếp nấu thức ăn cho tôi. Tôi chờ một cái bóng lớn. Cái bóng thân yêu quen thuộc. Mấy năm nay nàng mập hay ốm. Mập sao được. Cuộc sống bên ngoài chắc cũng cùng cực lắm. Một nách hai con, đương đầu với cuộc đổi đời tàn bạo.

Vụt ra, cái bóng nhỏ. Nó chạy ra sân. Nó nhìn trăng. Nó chỉ trỏ. Nó nhẩy cẫng lên. Cái bóng lớn hơn từ từ ra khỏi khuôn cửa. Nó đang chơi trò ú tim với em nó? Sao nó đi chậm thế. Đã ra đến thềm. Đã đi vào ánh trăng. Ơ, nó đang kéo lê cái gì thế. Một bọc đồ. Nặng quá hả con. Con mang đi đâu thế. Nó để lại trên thềm. Bước xuống. Rồi lại kéo. Bọc đồ rơi phịch xuống. Bóng nhỏ chạy lại. Hai chị em cùng kéo.

Từ trong bếp, một bóng người nhô ra ánh trăng. Tôi hoảng hốt giật cánh tay anh bạn tù, lắp bắp:

-Vợ tôi đó, anh.

Anh bạn tù nhỏm dậy rồi lại nằm xuống ngay. Tôi nghe tiếng thỏ dài, nhưng không chú tâm lắm. Chắc anh đang nghĩ tới vợ con anh. Giờ này…

Vợ tôi đến mở gói đồ. Ba mẹ con ngồi xổm lục lọi.Hai cái bóng nhỏ đáng yêu quá. Chúng ríu rít như những chú gà con nép trong bụng mẹ. Cái bóng nhỏ thọc cả cánh tay vào gói đồ. Cái bóng chị hất tay nó ra. Nó đứng lên dậm chân, giận dỗi. Chị nó vội đứng lên ôm lấy nó. Ôi! Thương quá các con ơi!

Vợ tôi rút ra một gói gì đó. Nàng cầm tòng teng trên tay. Ối, một con gà đã làm lông rồi. Đúng. Dưới ánh trăng tôi nhìn rõ da gà vàng ngậy. Nàng xách gà đi vào bếp. Hai cái bóng nhỏ lúi húi buộc lại bao bố, rồi hì hụi kéo lên thềm, lê vào trong nhà.

Cứ thế, tôi dán mắt theo dõi ba cái bóng thân yêu. Cho đến lúc cả ba cái bóng khuất hẳn trong căn nhà thăm nuôi thì tôi cũng quá mệt mỏi và gục xuống nằm cạnh bạn, không biết rằng nước mắt mình đã dâng đầy trong tròng mắt.

o O o

Sáng hôm sau, vào lúc tập họp ở sân trại trước giờ đi lao động ngoài hiện trường, tên cán bộ giáo dục đã cho toàn trại biết lệnh của trại rằng: “Vì cải tạo viên Nguyễn Tú Huy học tập chưa tốt, có nhiều biểu hiện không an tâm tin tưởng, không chấp hành nội qui kỷ luật Trại nên Trại khoan hồng chỉ cho nhận đồ tiếp tế của gia đình đến thăm nuôi mà không được phép thăm gặp vì sẽ làm lây lan tư tưởng xấu cho gia đình là những công dân ngoài xã hội đang tích cực xây dựng đất nước.”

Toàn trại ngỡ ngàng. Anh em im lặng theo Đội đi lao động. Tôi chết lặng đi.

Khi anh em đã ra khỏi trại khá lâu tôi mới được tên vệ binh dẫn ra đầu cây cầu bắc qua suối. Đống đồ thăm nuôi nằm đơn lạnh bên bờ suối.

Tên vệ binh bảo tôi:

-Anh sắp tất cả vào một gánh. Đi một lần thôi.

Tôi ngước nhìn căn nhà thăm nuôi. Cái khuôn cửa hôm qua mở rộng, bây giờ đóng chặt. Im vắng. Thật im vắng.

Tôi quì xuống ôm đống đồ mà mới tối hôm qua vợ con tôi còn sắp xếp. Con suối vẫn róc rách chẩy. Tiếng nước chẩy như giòng nước mắt nhớ thương tuôn tràn trong tôi. Nó còn chảy hoài như con suối nhớ này!

Nguyên Huy

Post Reply