Tin Trong Nước
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ Tiếp Tục Xếp Bảng Việt Nam Là Quốc Gia Vi Phạm Tự Do Tôn Giáo Nghiêm Trọng
Luật Sư Nguyễn Quốc Lân Westminster (CA) - Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ (U.S. Commission on International Religious Freedom) vừa ra thông báo hoan nghênh quyết định của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tiếp tục xếp hạng Việt Nam là một trong 3 quốc gia có chính sách vi phạm quyền tự do phát biểu, lương tâm và tôn giáo nghiêm trọng nhất trên toàn thế giới (Countries of Particular Concern - CPC). Hai quốc gia kia là Eritrea và Saudi Arabia. Quyết định này đã theo sau một chiến dịch vận động liên tục của Cộng đồng tại khắp nơi trong nhiều tháng qua nhằm kêu gọi Tiến Sĩ Cordizza Rice, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, tiếp tục giữ tên Việt Nam trong danh sách này.
Mặc dầu tiếp tục quyết định giữ Việt Nam trên danh sách này, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng nhìn nhận rằng Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký kết một thỏa thuận song phương vào tháng 5 vừa qua ngay trước cuộc viếng thăm của Thủ Tướng Phan Văn Khải với Tổng Thống Hoa Kỳ George Bush nhằm buộc Việt Nam phải cải thiện vấn đề tự do tôn giáo trong khuôn khổ cải thiện chính sách bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Mặc dầu thỏa thuận đã được ký kết, Bộ Ngoại Giao và Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế vẫn tiếp tục ghi nhận những báo cáo về vi phạm quyền tự do tôn giáo càng ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn.
Ngay sau khi ký kết hiệp ước kể trên và cuộc viếng thăm của Thủ Tướng Phan Văn Khải, Việt Nam đã ngang nhiên ngăn cấm một phái đoàn tăng sĩ thuộc Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất đến viếng thăm Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại Quảng Ngãi và ngăn cấm Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo cử hành lễ kỷ niệm 65 năm này sinh của Ðức Huỳnh Giáo Chủ tại Miền Nam Việt Nam. Không lâu sau đó, hai tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đã tự thiêu để phản đối chính sách chèn ép của nhà nước Việt Nam đối với Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo. Chính sách đàn áp tôn giáo đối với những giáo hội Cao Ðài và Tin Lành vẫn không hề được cải thiện tại Việt Nam.
Trong một không khí càng ngày càng gia tăng đàn áp tôn giáo như vậy, chính phủ Việt Nam còn đưa ra một tập tài liệu gọi là Sách Trắng về Chính Sách Nhân Quyền Tại Việt Nam nhằm biện minh cho những chính sách của nhà nước Việt Nam dựa trên những lập luận ấu trĩ như chính sách hiện nay là chính đáng và nhân đạo dựa trên hoàn cảnh riêng và chủ quyền độc lập của Việt Nam và phản đối sự can thiệp của những chính phủ ngoại quốc vào những chính sách nội bộ của Việt Nam. Dư luận quốc tế, đặc biệt là tại Âu Châu, đã mạnh mẽ bác bỏ lập luận của chính phủ Việt Nam qua tập sách trắng này.
Trong buổi họp báo của Thứ Trưởng Ngoại Giao Eric John tại Hà Nội ngày 27 tháng 9 vừa qua, ông đã tuyên bố thẳng thừng rằng Hoa Kỳ sẽ đặt vấn đề nhân quyền với Việt Nam trong vòng vài tháng tới. Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ cũng đã có những hành động mạnh bạo hơn đối với chính quyền Việt Nam liên quan đến vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo ví dụ như tiếp xúc công khai với những vị bất đồ ng chính kiến hay lãnh đạo tôn giáo ngay tại trong nước và cho phép những người bị áp bức vì lý do tôn giáo được nhập cảnh vào Hoa Kỳ theo diện tỵ nạn ví dụ như trường hợp của những người cháu của Linh Mục Nguyễn Văn Lý trong vài tuần qua.
Trong một văn thư gởi Dân Biểu Trần Thái Văn vào tuần qua liên quan đến thông báo về việc hai tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đã tự thiêu tại Việt Nam, Tòa Bạch Ốc cũng đã nhìn nhận rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục đặt vấn đề tự do tôn giáo và vi phạm nhân quyền với Việt Nam như chính Tổng Thống George W. Bush cũng đã thảo luận vấn đề này trong chuyến viếng thăm của Thủ Tướng Phan Văn Khải vào tháng 5 vừa qua.
Theo Ðạo Luật Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế ban hành năm 1998 (International Religious Freedom Act of 1998), nếu những quốc sau khi đã bị liệt kê vào danh sách cần lưu ý mà vẫn không có những chính sách cụ thể nhằm cải thiện vấn đề vi phạm tự do tôn giáo, Chính phủ Hoa Kỳ có thể tiến hành một số biện pháp chế tài ví dụ như cắt giảm những nguồn viện trợ kinh tế, ngưng cấp giấy nhập cảnh cho những viên chức có liên hệ đến chính sách vi phạm tự do tôn giáo, hay nhiều biện pháp chế tài khác. Vấn đề này cũng có thể ảnh hưởng đến cơ hội Việt Nam được gia nhập vào Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế (World Trade Organization - WTO)
Hy vọng vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam sẽ có phần cải thiện nếu Chính Phủ Hoa Kỳ tiếp tục những chính sách cứng rắn để buộc Việt Nam phải đi theo những đường lối có lợi cho nhân dân Việt Nam và sự phát triển kinh tế của nước này.
Luật Sư Nguyễn Quốc Lân Westminster (CA) - Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ (U.S. Commission on International Religious Freedom) vừa ra thông báo hoan nghênh quyết định của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tiếp tục xếp hạng Việt Nam là một trong 3 quốc gia có chính sách vi phạm quyền tự do phát biểu, lương tâm và tôn giáo nghiêm trọng nhất trên toàn thế giới (Countries of Particular Concern - CPC). Hai quốc gia kia là Eritrea và Saudi Arabia. Quyết định này đã theo sau một chiến dịch vận động liên tục của Cộng đồng tại khắp nơi trong nhiều tháng qua nhằm kêu gọi Tiến Sĩ Cordizza Rice, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, tiếp tục giữ tên Việt Nam trong danh sách này.
Mặc dầu tiếp tục quyết định giữ Việt Nam trên danh sách này, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng nhìn nhận rằng Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký kết một thỏa thuận song phương vào tháng 5 vừa qua ngay trước cuộc viếng thăm của Thủ Tướng Phan Văn Khải với Tổng Thống Hoa Kỳ George Bush nhằm buộc Việt Nam phải cải thiện vấn đề tự do tôn giáo trong khuôn khổ cải thiện chính sách bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Mặc dầu thỏa thuận đã được ký kết, Bộ Ngoại Giao và Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế vẫn tiếp tục ghi nhận những báo cáo về vi phạm quyền tự do tôn giáo càng ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn.
Ngay sau khi ký kết hiệp ước kể trên và cuộc viếng thăm của Thủ Tướng Phan Văn Khải, Việt Nam đã ngang nhiên ngăn cấm một phái đoàn tăng sĩ thuộc Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất đến viếng thăm Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại Quảng Ngãi và ngăn cấm Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo cử hành lễ kỷ niệm 65 năm này sinh của Ðức Huỳnh Giáo Chủ tại Miền Nam Việt Nam. Không lâu sau đó, hai tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đã tự thiêu để phản đối chính sách chèn ép của nhà nước Việt Nam đối với Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo. Chính sách đàn áp tôn giáo đối với những giáo hội Cao Ðài và Tin Lành vẫn không hề được cải thiện tại Việt Nam.
Trong một không khí càng ngày càng gia tăng đàn áp tôn giáo như vậy, chính phủ Việt Nam còn đưa ra một tập tài liệu gọi là Sách Trắng về Chính Sách Nhân Quyền Tại Việt Nam nhằm biện minh cho những chính sách của nhà nước Việt Nam dựa trên những lập luận ấu trĩ như chính sách hiện nay là chính đáng và nhân đạo dựa trên hoàn cảnh riêng và chủ quyền độc lập của Việt Nam và phản đối sự can thiệp của những chính phủ ngoại quốc vào những chính sách nội bộ của Việt Nam. Dư luận quốc tế, đặc biệt là tại Âu Châu, đã mạnh mẽ bác bỏ lập luận của chính phủ Việt Nam qua tập sách trắng này.
Trong buổi họp báo của Thứ Trưởng Ngoại Giao Eric John tại Hà Nội ngày 27 tháng 9 vừa qua, ông đã tuyên bố thẳng thừng rằng Hoa Kỳ sẽ đặt vấn đề nhân quyền với Việt Nam trong vòng vài tháng tới. Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ cũng đã có những hành động mạnh bạo hơn đối với chính quyền Việt Nam liên quan đến vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo ví dụ như tiếp xúc công khai với những vị bất đồ ng chính kiến hay lãnh đạo tôn giáo ngay tại trong nước và cho phép những người bị áp bức vì lý do tôn giáo được nhập cảnh vào Hoa Kỳ theo diện tỵ nạn ví dụ như trường hợp của những người cháu của Linh Mục Nguyễn Văn Lý trong vài tuần qua.
Trong một văn thư gởi Dân Biểu Trần Thái Văn vào tuần qua liên quan đến thông báo về việc hai tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đã tự thiêu tại Việt Nam, Tòa Bạch Ốc cũng đã nhìn nhận rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục đặt vấn đề tự do tôn giáo và vi phạm nhân quyền với Việt Nam như chính Tổng Thống George W. Bush cũng đã thảo luận vấn đề này trong chuyến viếng thăm của Thủ Tướng Phan Văn Khải vào tháng 5 vừa qua.
Theo Ðạo Luật Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế ban hành năm 1998 (International Religious Freedom Act of 1998), nếu những quốc sau khi đã bị liệt kê vào danh sách cần lưu ý mà vẫn không có những chính sách cụ thể nhằm cải thiện vấn đề vi phạm tự do tôn giáo, Chính phủ Hoa Kỳ có thể tiến hành một số biện pháp chế tài ví dụ như cắt giảm những nguồn viện trợ kinh tế, ngưng cấp giấy nhập cảnh cho những viên chức có liên hệ đến chính sách vi phạm tự do tôn giáo, hay nhiều biện pháp chế tài khác. Vấn đề này cũng có thể ảnh hưởng đến cơ hội Việt Nam được gia nhập vào Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế (World Trade Organization - WTO)
Hy vọng vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam sẽ có phần cải thiện nếu Chính Phủ Hoa Kỳ tiếp tục những chính sách cứng rắn để buộc Việt Nam phải đi theo những đường lối có lợi cho nhân dân Việt Nam và sự phát triển kinh tế của nước này.
Nhiều thanh niên lần đầu tiên biết “mùi đời” ở “chợ tình”
Sunday, October 02, 2005
Nguyên Lê/Người Việt
HÀ NỘI 02-10 - Ðối với giới trẻ nhất là nam giới tại Việt Nam hiện nay, nhu cầu “quan hệ tình dục” trong lần đầu tiên là một trong những chuyện gây nhiều rắc rối nhất. Không phải tất cả, nhưng đa số thanh niên Việt Nam đều “quan hệ” ở lứa tuổi rất trẻ và thường là ở những nơi như “chợ tình”. Khu “chợ tình”, nhiều năm đã nổi tiếng ở hầu hết các đô thị tại Việt Nam với những cô gái đứng đường hoạt động một cách công khai và mang nhiều mầm mống bệnh nguy hiểm.
Tại Sài Gòn, nhiều khu “chợ tình” được chọn là những quán cafe vườn với khung cảnh mát mẻ nhưng kín đáo bên cạnh thứ ánh sáng lập lè chỉ đôi khi xuất hiện trên đầu đèn pin những nhân viên phục vụ khi họ tính tiền. Không chỉ cung cấp địa điểm cho những cặp vào đây trò chuyện hay làm tình một cách ngắn ngủi, có không ít quán sân vườn tổ chức luôn dịch vụ cung cấp gái. Mỗi loại “làm tình” nhanh, chậm hay qua đêm tính theo giá tiền khác nhau và tùy khác vào loại gái đẹp hay trung bình. Nếu hoạt động tại quán, khách hàng phải trả tiền riêng (trong đó tính luôn tiền bo cho chủ) cho gái và trả tiền nước riêng. Tiền nước ở đây thì rẻ nhưng do một cặp trai gái chỉ được sắp xếp hai chiếc ghế nằm mà không được riêng tư nên có nhiều đôi vẫn thường hẹn nhau ra ngoài.
Ðến những địa điểm này, thanh niên có thể dễ dàng tìm kiếm cho mình một cô phù hợp để quan hệ trong lần đầu tiên. Anh Q.Ð, 27 tuổi, một nhân viên công ty liên quan đến truyền thông đã thành thật tâm sự: “Lần đầu tiên tôi quan hệ là khi mới học lớp 11. Khi đó, còn trẻ nên hay tò mò. Nhất là khi mấy đứa bạn thường xuyên thuê băng về xem để tìm hiểu cho biết sự đời. Những lúc xem như vậy, thường kích thích khá lớn đến thanh niên trẻ nên nhóm chúng tôi quyết định thực hành thử một lần xem sao. Sau khi đã kiếm được chỗ qua một vài người giới thiệu, nhóm chúng tôi gồm 5 thằng, mỗi thằng mang theo 500,000đ (khoảng $30) trong người để thử làm người lớn.
Vì biết, khu vực chợ tình hay có nhiều bệnh nên chúng tôi có mang sẵn theo bao. Ðầy đủ, chúng tôi đến địa điểm đã xác định và mỗi đứa tự chọn cho mình một cô. Không phải dân chơi, nên chỉ chọn loại quan hệ trong thời gian ngắn gọi là “tàu nhanh” trong vòng 2 tiếng rồi về. Xong cuộc chơi, mỗi đứa trả cho các cô 200,000đ (khoảng $12) và tiền phòng 100,000 đồng (khoảng $6).”
Không riêng gì anh QÐ., anh TN. 30 tuổi đang làm việc tại một cơ quan bảo hiểm cũng cho biết: “Bây giờ, lần đầu tiên quan hệ của thanh niên thì thường thực hiện khi còn trẻ. Lúc đó, ít có bạn gái nào dám “vượt rào” lắm. Cho nên, để thỏa mãn chính mình và để học hỏi thêm thì chỉ có cách đến “chợ tình” thôi. Biết là nhiều bệnh thì phòng tránh thật kỹ chứ nếu bạn gái nào khi trẻ mà cũng dám cho tất thì đâu đến mức phải ra đường (?)”
Theo như một cuộc khảo sát nhỏ bỏ túi, cứ 10 thanh niên thì có đến 8 người ra ngoài chợ tình quan hệ lần đầu tiên. Tại đây, các cô gái đều đã có một kinh nghiệm dày dặn nên nhân tiện rèn luyện luôn kiến thức cho mấy cậu thanh niên trẻ.
Chị HL., một trong những cô gái khét tiếng tại khu vực quán sân vườn Q. Gò Vấp cho hay “Thanh niên quan hệ lần đầu tiên đến đây là bọn chị biết ngay, trông vừa dáo dác vừa ngó nghiêng mà mặt lại non choẹt. Họ làm việc nhanh mà tiền cũng thế, chưa có kinh nghiệm nên cũng vui vui. Tùy theo nhu cầu của mỗi chú em mà bọn chị đáp ứng nhưng làm sao phải khiến họ biết quan hệ là như thế nào được. Có lần, chị tiếp một cậu thanh niên có 15 tuổi, phải chỉ mãi cậu em mới đi vào guồng quay. Thế mà mới được 10 phút cậu em đã than mệt đòi nghỉ. Mặt thì đỏ mà lại thở không ra hơi, trông đến là tội”.
Thay vì hoạt động tại chợ tình thành phố đối với thanh niên quan hệ lần đầu tiên, bây giờ, giới trẻ thành phố đang thịnh một xu hướng mới là đi ra biển kiếm “chợ tình”. Chợ tình tại biển rất dễ kiếm do tập trung nhiều khách du lịch và quản lý không chặt chẽ. Vừa rẻ mà vừa nhanh. Mỗi lần tìm gái ở đây chỉ mất 80,000đ (khoảng $5) để làm việc trong vòng 15-20 phút”.
Tại Hà Nội, khu vực chợ tình được phân riêng biệt. Tại các Hồ, công viên, vườn hoa hay trên đường như Giải Phóng... cũng tự hình thành những khu chợ tình khác nhau. Ðể tìm được một chợ tình hợp lý, đối với thanh niên trẻ hiện nay là quá dễ. Nhưng địa điểm để làm việc thì không còn nằm trong khu vực nội thành nữa. Anh Ða, 25 tuổi chủ một cửa hàng tiết lộ “Khi đó anh còn trẻ lắm, mới 16 tuổi nhưng do hay đi chơi với bạn bè nên một lần bị rủ rê đi đêm. Cả lũ ra chợ tình, kiếm gái để biết lần đầu là như nào. Kiếm gái xong, cả lũ sang Gia Lâm kiếm phòng. Tổng chi phí cho mỗi đứa cũng rẻ khoảng mấy trăm ngàn. Mà gái lại làm việc cũng cẩn thận, chăm chút đối tượng từng tí một”.
Khác với anh ÐA, HN chỉ mới 18 tuổi vừa nhập học Trung cấp cho hay “Em quan hệ lần đầu tiên rồi, bên Hải Phòng. Chi phí đi lại cũng rẻ mà tiền cho gái cũng không cao. Nhưng bây giờ, bọn nó lại thích ra Ðồ Sơn, Sầm Sơn”.
Rất ít thanh niên Việt Nam nói chưa cho lần quan hệ lần đầu tiên mặc dù bây giờ mới chỉ có 15-20 tuổi và chưa lập gia đình. Bên cạnh những thanh niên tìm đến chợ tình để thỏa mãn dục vọng và trí tò mò của mình thì cũng có không ít người thực hiện chuyện đó với bạn gái. Ðiều mà thanh niên trẻ tại Việt Nam thích quan hệ lần đầu tiên tại chợ tình chỉ có duy nhất là “không phải chịu trách nhiệm nếu chẳng may sơ sót” thay vì phải lo lắng khi bạn gái ít có kinh nghiệm.
Tại thành phố, tuổi kết hôn thường ở lứa tuổi đã ổn định như khoảng 30 đổ ra. Nhưng ở các vùng thôn qua xa xôi, tuổi kết hôn của nam trung bình là 18 và gái trung bình là 16 nên chuyện quan hệ lần đầu tiên được thực hiện với những đôi yêu nhau ngay khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường và chưa qua cưới hỏi. Phần lớn, chợ tình ở các vùng xa cũng không có nên ít có trường hợp thanh niên kiếm người không quen biết để đặt quan hệ trong lần đầu tiên. Ngược hẳn với thành phố, 80% thanh niên đều chọn chợ tình làm địa điểm lý tưởng cho lần đầu tiên.
Sunday, October 02, 2005
Nguyên Lê/Người Việt
HÀ NỘI 02-10 - Ðối với giới trẻ nhất là nam giới tại Việt Nam hiện nay, nhu cầu “quan hệ tình dục” trong lần đầu tiên là một trong những chuyện gây nhiều rắc rối nhất. Không phải tất cả, nhưng đa số thanh niên Việt Nam đều “quan hệ” ở lứa tuổi rất trẻ và thường là ở những nơi như “chợ tình”. Khu “chợ tình”, nhiều năm đã nổi tiếng ở hầu hết các đô thị tại Việt Nam với những cô gái đứng đường hoạt động một cách công khai và mang nhiều mầm mống bệnh nguy hiểm.
Tại Sài Gòn, nhiều khu “chợ tình” được chọn là những quán cafe vườn với khung cảnh mát mẻ nhưng kín đáo bên cạnh thứ ánh sáng lập lè chỉ đôi khi xuất hiện trên đầu đèn pin những nhân viên phục vụ khi họ tính tiền. Không chỉ cung cấp địa điểm cho những cặp vào đây trò chuyện hay làm tình một cách ngắn ngủi, có không ít quán sân vườn tổ chức luôn dịch vụ cung cấp gái. Mỗi loại “làm tình” nhanh, chậm hay qua đêm tính theo giá tiền khác nhau và tùy khác vào loại gái đẹp hay trung bình. Nếu hoạt động tại quán, khách hàng phải trả tiền riêng (trong đó tính luôn tiền bo cho chủ) cho gái và trả tiền nước riêng. Tiền nước ở đây thì rẻ nhưng do một cặp trai gái chỉ được sắp xếp hai chiếc ghế nằm mà không được riêng tư nên có nhiều đôi vẫn thường hẹn nhau ra ngoài.
Ðến những địa điểm này, thanh niên có thể dễ dàng tìm kiếm cho mình một cô phù hợp để quan hệ trong lần đầu tiên. Anh Q.Ð, 27 tuổi, một nhân viên công ty liên quan đến truyền thông đã thành thật tâm sự: “Lần đầu tiên tôi quan hệ là khi mới học lớp 11. Khi đó, còn trẻ nên hay tò mò. Nhất là khi mấy đứa bạn thường xuyên thuê băng về xem để tìm hiểu cho biết sự đời. Những lúc xem như vậy, thường kích thích khá lớn đến thanh niên trẻ nên nhóm chúng tôi quyết định thực hành thử một lần xem sao. Sau khi đã kiếm được chỗ qua một vài người giới thiệu, nhóm chúng tôi gồm 5 thằng, mỗi thằng mang theo 500,000đ (khoảng $30) trong người để thử làm người lớn.
Vì biết, khu vực chợ tình hay có nhiều bệnh nên chúng tôi có mang sẵn theo bao. Ðầy đủ, chúng tôi đến địa điểm đã xác định và mỗi đứa tự chọn cho mình một cô. Không phải dân chơi, nên chỉ chọn loại quan hệ trong thời gian ngắn gọi là “tàu nhanh” trong vòng 2 tiếng rồi về. Xong cuộc chơi, mỗi đứa trả cho các cô 200,000đ (khoảng $12) và tiền phòng 100,000 đồng (khoảng $6).”
Không riêng gì anh QÐ., anh TN. 30 tuổi đang làm việc tại một cơ quan bảo hiểm cũng cho biết: “Bây giờ, lần đầu tiên quan hệ của thanh niên thì thường thực hiện khi còn trẻ. Lúc đó, ít có bạn gái nào dám “vượt rào” lắm. Cho nên, để thỏa mãn chính mình và để học hỏi thêm thì chỉ có cách đến “chợ tình” thôi. Biết là nhiều bệnh thì phòng tránh thật kỹ chứ nếu bạn gái nào khi trẻ mà cũng dám cho tất thì đâu đến mức phải ra đường (?)”
Theo như một cuộc khảo sát nhỏ bỏ túi, cứ 10 thanh niên thì có đến 8 người ra ngoài chợ tình quan hệ lần đầu tiên. Tại đây, các cô gái đều đã có một kinh nghiệm dày dặn nên nhân tiện rèn luyện luôn kiến thức cho mấy cậu thanh niên trẻ.
Chị HL., một trong những cô gái khét tiếng tại khu vực quán sân vườn Q. Gò Vấp cho hay “Thanh niên quan hệ lần đầu tiên đến đây là bọn chị biết ngay, trông vừa dáo dác vừa ngó nghiêng mà mặt lại non choẹt. Họ làm việc nhanh mà tiền cũng thế, chưa có kinh nghiệm nên cũng vui vui. Tùy theo nhu cầu của mỗi chú em mà bọn chị đáp ứng nhưng làm sao phải khiến họ biết quan hệ là như thế nào được. Có lần, chị tiếp một cậu thanh niên có 15 tuổi, phải chỉ mãi cậu em mới đi vào guồng quay. Thế mà mới được 10 phút cậu em đã than mệt đòi nghỉ. Mặt thì đỏ mà lại thở không ra hơi, trông đến là tội”.
Thay vì hoạt động tại chợ tình thành phố đối với thanh niên quan hệ lần đầu tiên, bây giờ, giới trẻ thành phố đang thịnh một xu hướng mới là đi ra biển kiếm “chợ tình”. Chợ tình tại biển rất dễ kiếm do tập trung nhiều khách du lịch và quản lý không chặt chẽ. Vừa rẻ mà vừa nhanh. Mỗi lần tìm gái ở đây chỉ mất 80,000đ (khoảng $5) để làm việc trong vòng 15-20 phút”.
Tại Hà Nội, khu vực chợ tình được phân riêng biệt. Tại các Hồ, công viên, vườn hoa hay trên đường như Giải Phóng... cũng tự hình thành những khu chợ tình khác nhau. Ðể tìm được một chợ tình hợp lý, đối với thanh niên trẻ hiện nay là quá dễ. Nhưng địa điểm để làm việc thì không còn nằm trong khu vực nội thành nữa. Anh Ða, 25 tuổi chủ một cửa hàng tiết lộ “Khi đó anh còn trẻ lắm, mới 16 tuổi nhưng do hay đi chơi với bạn bè nên một lần bị rủ rê đi đêm. Cả lũ ra chợ tình, kiếm gái để biết lần đầu là như nào. Kiếm gái xong, cả lũ sang Gia Lâm kiếm phòng. Tổng chi phí cho mỗi đứa cũng rẻ khoảng mấy trăm ngàn. Mà gái lại làm việc cũng cẩn thận, chăm chút đối tượng từng tí một”.
Khác với anh ÐA, HN chỉ mới 18 tuổi vừa nhập học Trung cấp cho hay “Em quan hệ lần đầu tiên rồi, bên Hải Phòng. Chi phí đi lại cũng rẻ mà tiền cho gái cũng không cao. Nhưng bây giờ, bọn nó lại thích ra Ðồ Sơn, Sầm Sơn”.
Rất ít thanh niên Việt Nam nói chưa cho lần quan hệ lần đầu tiên mặc dù bây giờ mới chỉ có 15-20 tuổi và chưa lập gia đình. Bên cạnh những thanh niên tìm đến chợ tình để thỏa mãn dục vọng và trí tò mò của mình thì cũng có không ít người thực hiện chuyện đó với bạn gái. Ðiều mà thanh niên trẻ tại Việt Nam thích quan hệ lần đầu tiên tại chợ tình chỉ có duy nhất là “không phải chịu trách nhiệm nếu chẳng may sơ sót” thay vì phải lo lắng khi bạn gái ít có kinh nghiệm.
Tại thành phố, tuổi kết hôn thường ở lứa tuổi đã ổn định như khoảng 30 đổ ra. Nhưng ở các vùng thôn qua xa xôi, tuổi kết hôn của nam trung bình là 18 và gái trung bình là 16 nên chuyện quan hệ lần đầu tiên được thực hiện với những đôi yêu nhau ngay khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường và chưa qua cưới hỏi. Phần lớn, chợ tình ở các vùng xa cũng không có nên ít có trường hợp thanh niên kiếm người không quen biết để đặt quan hệ trong lần đầu tiên. Ngược hẳn với thành phố, 80% thanh niên đều chọn chợ tình làm địa điểm lý tưởng cho lần đầu tiên.
Sài Gòn, thời xa vắng tiếng cám ơn
Sunday, October 02, 2005
Ghi chép của Trần Tiến Dũng/Người Việt
Ðây là một mẩu chuyện nhỏ mà chúng tôi ghi được ở sân bay Tân Sơn Nhất vào lúc 15 giờ 35 phút, ngày Chủ Nhật, 10 tháng 7:
Anh B. và vợ, bao xe từ Gò Công lên đón bà chị Việt kiều từ Úc về Việt Nam. Bà chị anh có mặt trên chuyến bay của hãng VietnamAirlines số hiệu 782. Tại nhà ga Tân Sơn Nhất chuyến bay từ Sydney về Sài Gòn này đang lạnh lùng chạy dòng chữ delayed trên bảng điện tử. Hai vợ chồng thơ thẩn trong đám đông trước cổng ga đến. Vợ anh B. cằn nhằn:
- Sao họ không bắc loa nói máy bay đáp trễ phải tiện hơn hông! Chạy chi ba cái chữ nhấp nháy đó nhứt con mắt thấy mồ!
Anh B cười hề hề:
- Bà nhà quê thấy mẹ, đây đâu phải bến xe đò. Có thấy cái bà già ngồi xe lăn đó không? Người ta đẩy bả từ máy bay xuống đó. Ai tàn tật, già cả là họ phục vụ tới bến, văn minh ghê luôn! Bến xe đò còn lâu mới có chuyện đó.
Người vợ trề môi, xì một tiếng:
- Làm mướn thì có. Tui thấy rõ ràng bà già đó nhét tiền cho ông nhân viên đẩy xe lăn.
Anh B lại mắng vợ:
- Bà hổng biết gì ráo, bà già bồi dưỡng cho ổng đó chớ.
Người vợ lại trề môi:
- Sao tui hổng nghe ổng nói cám ơn!
Nhà thơ Ð. ở Canada, tháng 3 năm 2005 về Sài Gòn chơi. Làm một vòng tán chuyện văn nghệ trên trời dưới đất quanh đi quẩn lại cả chục quán cà phê mà vẫn chưa thấy “dân tình Sài Gòn.” Tới ngày thứ Bảy cuối tuần, khi vừa bước khỏi tiệm mát-xa, nhà thơ Ð. lập tức hoan hỉ nói với bạn bè trong quán nhậu:
- Này, theo mấy ông ngắm thì bề ngoài của tôi có giống Việt kiều không?
Tôi thành thật nói:
- Ông đừng buồn, thiên hạ chỉ cần đi Tây một tháng là trắng đẹp như thiên thần, còn ông dù lên đồ hay cởi trần chỉ cần liếc qua là biết dân ruộng.
Nữ sĩ P., nói thêm:
- Tướng bạn mình “hèn” lắm. Nhưng ta yêu!
Nhà thơ Ð. cười khanh khách:
- Ðâu đã đến lượt bạn mình yêu. Tôi kể cho bạn nghe chuyện này. Cách đây hai giờ, cô em mát-xa cho tôi đã dám chỉ vào tôi quả quyết: “Anh là Việt kiều!” Tôi tiếp tục giả vờ nói mình chỉ là dân nuôi cá basa ở Châu Ðốc. Cô em lại nói: “Em với anh cá, nếu em trật thì anh xù tiền bo, còn em trúng thì anh phải cưới em trong suốt những ngày anh ở Sài Gòn.”
Tôi nói, anh đui then như người Miên mà sao em biết anh là Việt kiều. Các bạn biết không, cô em làm mát-xa trả lời tỉnh queo: “Từ lúc vô đây đến giờ, em làm gì cũng được nghe anh nói cám ơn, ngộ hết sức!”
Tất nhiên khi dẫn hai mẫu chuyện có thật ở trên, chúng tôi hoàn toàn không cường điệu khi cho rằng trong phong cách và phép tắc ứng xử giữa cá nhân với cá nhân và cá nhân với cộng đồng ở Sài Gòn hiện nay quả thật đang thiếu vắng hai tiếng cám ơn.
Sự thiếu vắng đến mức, anh Ng. một nhà báo khi được mời đi coi chiếu giới thiệu bộ phim “Mùa Len Trâu” của đạo diễn Việt kiều Nguyễn Võ Nghiêm Minh, coi phim xong anh cho biết: “Thấy cha con thằng Kiềm luôn cám ơn nhau là biết chỉ đạo diễn Việt kiều mới có thứ lời thoại lịch sự đó. Tôi thấy ngượng!”
Phải chăng do thường ngày không quen dùng hai tiếng cám ơn và sinh hoạt thiếu vắng hai tiếng cám ơn đã làm người ta ngượng! Có người còn cho rằng sống chung đụng hằng ngày, đã hiểu nhau rồi thì cần gì tiếng khách sáo ngoài cửa miệng. Nhưng cũng chính những người có cách nghĩ đó lại từ chối cho biết thái độ của họ ra sao khi có ai đó ngang nhiên đến mức lố bịch, không cám ơn cũng như không nhận lời cám ơn của họ trong mọi trường họp ứng xử.
Nếu nửa đêm, nửa hôm mà chuông điện thoại nhà reo, hẳn ai cũng phải thảng thốt vì lo ngại có tin chẳng lành. Vậy mà khi người bị làm phiền cố đè nén sự bực mình để trả lời cho bên kia đầu dây biết “xin lỗi đã gọi lộn số” người gọi lộn số, bất kể nam phụ lão ấu, họ đều chẳng nói, chẳng rằng cúp điện thoại một cái rụp.
Có người còn trắng trợn gọi lại một hoặc vài lần nữa nhưng trước sau cũng chỉ nói, “Mày đó hả?” hay “Ê làm gì đó!” Hoặc may mắn lắm thì được nghe “Alô, cho tôi gặp Diễm!” Nhưng dù sao cái chuyện ứng xử kém văn hóa qua điện thoại cũng còn dễ chịu vì ai đâu chấp người không biết mặt. Kể cả việc bị ai đó chặn ngang đầu xe Honda, hỏi thăm đường rồi ai đó trông vẻ ngoài có khi rất trí thức ngay sau khi được người lạ tận tình chỉ dẫn, xong việc là ngậm miệng, họ thản nhiên rú ga chạy tuốt. Kệ, có lẻ họ bận việc gấp!
Nhưng ở một tầm mức cao hơn như trong công sở nhà nước, trên phương tiện truyền thông đại chúng thì việc thiếu vắng tiếng cảm ơn quả là việc không thể chịu đựng nỗi. Họa sĩ L., người thiết kế sân khấu cho buổi khai mạc lễ hội Hành Trình Di Sản Văn Hóa Quảng Nam năm 2005 kể: “Ông chủ tịch tỉnh đứng trên sân khấu trước mặt ống kính trực tiếp truyền hình, hồ hởi đọc diễn văn khai mạc và khi xong buổi lễ thì biến, ngó trước ngó sau chẳng thấy ma nào đại diện ban tổ chức lên sân khấu nói tiếng cám ơn với nghệ sĩ diễn viên và công chúng. Bạc hết nói!”
Và ông C.A.H., cựu giáo sư đại học Sài Gòn, người Bắc di cư. Ông và số đông người Sài Gòn quanh ông không ai có thể chấp nhận những thói ứng xử như vậy. Ông buồn buồn cho biết: “Cứ trông vào việc không biết nói tiếng cảm ơn là biết tầm mức văn hóa của xã hội chúng ta hiện nay đang ở đâu. Theo tôi để vươn tới những điều cao xa khác đã đến lúc chúng ta phải dạy và học lại hai tiếng cám ơn.”
Trần Tiến Dũng
Sunday, October 02, 2005
Ghi chép của Trần Tiến Dũng/Người Việt
Ðây là một mẩu chuyện nhỏ mà chúng tôi ghi được ở sân bay Tân Sơn Nhất vào lúc 15 giờ 35 phút, ngày Chủ Nhật, 10 tháng 7:
Anh B. và vợ, bao xe từ Gò Công lên đón bà chị Việt kiều từ Úc về Việt Nam. Bà chị anh có mặt trên chuyến bay của hãng VietnamAirlines số hiệu 782. Tại nhà ga Tân Sơn Nhất chuyến bay từ Sydney về Sài Gòn này đang lạnh lùng chạy dòng chữ delayed trên bảng điện tử. Hai vợ chồng thơ thẩn trong đám đông trước cổng ga đến. Vợ anh B. cằn nhằn:
- Sao họ không bắc loa nói máy bay đáp trễ phải tiện hơn hông! Chạy chi ba cái chữ nhấp nháy đó nhứt con mắt thấy mồ!
Anh B cười hề hề:
- Bà nhà quê thấy mẹ, đây đâu phải bến xe đò. Có thấy cái bà già ngồi xe lăn đó không? Người ta đẩy bả từ máy bay xuống đó. Ai tàn tật, già cả là họ phục vụ tới bến, văn minh ghê luôn! Bến xe đò còn lâu mới có chuyện đó.
Người vợ trề môi, xì một tiếng:
- Làm mướn thì có. Tui thấy rõ ràng bà già đó nhét tiền cho ông nhân viên đẩy xe lăn.
Anh B lại mắng vợ:
- Bà hổng biết gì ráo, bà già bồi dưỡng cho ổng đó chớ.
Người vợ lại trề môi:
- Sao tui hổng nghe ổng nói cám ơn!
Nhà thơ Ð. ở Canada, tháng 3 năm 2005 về Sài Gòn chơi. Làm một vòng tán chuyện văn nghệ trên trời dưới đất quanh đi quẩn lại cả chục quán cà phê mà vẫn chưa thấy “dân tình Sài Gòn.” Tới ngày thứ Bảy cuối tuần, khi vừa bước khỏi tiệm mát-xa, nhà thơ Ð. lập tức hoan hỉ nói với bạn bè trong quán nhậu:
- Này, theo mấy ông ngắm thì bề ngoài của tôi có giống Việt kiều không?
Tôi thành thật nói:
- Ông đừng buồn, thiên hạ chỉ cần đi Tây một tháng là trắng đẹp như thiên thần, còn ông dù lên đồ hay cởi trần chỉ cần liếc qua là biết dân ruộng.
Nữ sĩ P., nói thêm:
- Tướng bạn mình “hèn” lắm. Nhưng ta yêu!
Nhà thơ Ð. cười khanh khách:
- Ðâu đã đến lượt bạn mình yêu. Tôi kể cho bạn nghe chuyện này. Cách đây hai giờ, cô em mát-xa cho tôi đã dám chỉ vào tôi quả quyết: “Anh là Việt kiều!” Tôi tiếp tục giả vờ nói mình chỉ là dân nuôi cá basa ở Châu Ðốc. Cô em lại nói: “Em với anh cá, nếu em trật thì anh xù tiền bo, còn em trúng thì anh phải cưới em trong suốt những ngày anh ở Sài Gòn.”
Tôi nói, anh đui then như người Miên mà sao em biết anh là Việt kiều. Các bạn biết không, cô em làm mát-xa trả lời tỉnh queo: “Từ lúc vô đây đến giờ, em làm gì cũng được nghe anh nói cám ơn, ngộ hết sức!”
Tất nhiên khi dẫn hai mẫu chuyện có thật ở trên, chúng tôi hoàn toàn không cường điệu khi cho rằng trong phong cách và phép tắc ứng xử giữa cá nhân với cá nhân và cá nhân với cộng đồng ở Sài Gòn hiện nay quả thật đang thiếu vắng hai tiếng cám ơn.
Sự thiếu vắng đến mức, anh Ng. một nhà báo khi được mời đi coi chiếu giới thiệu bộ phim “Mùa Len Trâu” của đạo diễn Việt kiều Nguyễn Võ Nghiêm Minh, coi phim xong anh cho biết: “Thấy cha con thằng Kiềm luôn cám ơn nhau là biết chỉ đạo diễn Việt kiều mới có thứ lời thoại lịch sự đó. Tôi thấy ngượng!”
Phải chăng do thường ngày không quen dùng hai tiếng cám ơn và sinh hoạt thiếu vắng hai tiếng cám ơn đã làm người ta ngượng! Có người còn cho rằng sống chung đụng hằng ngày, đã hiểu nhau rồi thì cần gì tiếng khách sáo ngoài cửa miệng. Nhưng cũng chính những người có cách nghĩ đó lại từ chối cho biết thái độ của họ ra sao khi có ai đó ngang nhiên đến mức lố bịch, không cám ơn cũng như không nhận lời cám ơn của họ trong mọi trường họp ứng xử.
Nếu nửa đêm, nửa hôm mà chuông điện thoại nhà reo, hẳn ai cũng phải thảng thốt vì lo ngại có tin chẳng lành. Vậy mà khi người bị làm phiền cố đè nén sự bực mình để trả lời cho bên kia đầu dây biết “xin lỗi đã gọi lộn số” người gọi lộn số, bất kể nam phụ lão ấu, họ đều chẳng nói, chẳng rằng cúp điện thoại một cái rụp.
Có người còn trắng trợn gọi lại một hoặc vài lần nữa nhưng trước sau cũng chỉ nói, “Mày đó hả?” hay “Ê làm gì đó!” Hoặc may mắn lắm thì được nghe “Alô, cho tôi gặp Diễm!” Nhưng dù sao cái chuyện ứng xử kém văn hóa qua điện thoại cũng còn dễ chịu vì ai đâu chấp người không biết mặt. Kể cả việc bị ai đó chặn ngang đầu xe Honda, hỏi thăm đường rồi ai đó trông vẻ ngoài có khi rất trí thức ngay sau khi được người lạ tận tình chỉ dẫn, xong việc là ngậm miệng, họ thản nhiên rú ga chạy tuốt. Kệ, có lẻ họ bận việc gấp!
Nhưng ở một tầm mức cao hơn như trong công sở nhà nước, trên phương tiện truyền thông đại chúng thì việc thiếu vắng tiếng cảm ơn quả là việc không thể chịu đựng nỗi. Họa sĩ L., người thiết kế sân khấu cho buổi khai mạc lễ hội Hành Trình Di Sản Văn Hóa Quảng Nam năm 2005 kể: “Ông chủ tịch tỉnh đứng trên sân khấu trước mặt ống kính trực tiếp truyền hình, hồ hởi đọc diễn văn khai mạc và khi xong buổi lễ thì biến, ngó trước ngó sau chẳng thấy ma nào đại diện ban tổ chức lên sân khấu nói tiếng cám ơn với nghệ sĩ diễn viên và công chúng. Bạc hết nói!”
Và ông C.A.H., cựu giáo sư đại học Sài Gòn, người Bắc di cư. Ông và số đông người Sài Gòn quanh ông không ai có thể chấp nhận những thói ứng xử như vậy. Ông buồn buồn cho biết: “Cứ trông vào việc không biết nói tiếng cảm ơn là biết tầm mức văn hóa của xã hội chúng ta hiện nay đang ở đâu. Theo tôi để vươn tới những điều cao xa khác đã đến lúc chúng ta phải dạy và học lại hai tiếng cám ơn.”
Trần Tiến Dũng
Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ nói với Liên Hiệp Âu Châu:
Nhân quyền tại Việt Nam Việt “chỉ là chiếc bánh vẽ”
Monday, October 03, 2005
PARIS 03-10 (TH).- Hòa thượng Thích Quảng Ðộ, viện trưởng Viện Hóa Ðạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, kêu gọi Liên Hiệp Âu Châu hãy đòi Cộng Sản Việt Nam trả lại các quyền tự do căn bản lại cho dân chúng vì hiện nay mọi thứ đều có trên giấy chứ trên thực tế thì không có.
“Liên Hiệp Âu Châu là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trong vấn đề trao đổi và viện trợ kinh tế. Xin quý vị hãy áp dụng điều 1 trong Hiệp Ước Hợp Tác Song Phương giữa Liên Âu và Việt Nam ký năm 1995 để đòi hỏi Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thực thi các nguyên tắc nhân quyền và dân chủ cho nhân dân Việt Nam.”
Hòa thượng Thích Quảng Ðộ nói như vậy với phái đoàn Liên Âu gồm David Milliot, đại sứ Liên Âu, và Robert Gordon, đại sứ Anh Quốc tại Việt Nam khi họ từ Hà Nội đến thăm ngày ngày 30 Tháng Chín 2005 vừa qua. Những lời nói này được ông Võ Văn Ái tường thuật trên bản tin của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế phổ biến ngày 3 Tháng Mười năm 2005.
“Xin Liên Hiệp Âu Châu hãy góp tay thúc đẩy cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam sớm khởi động. Vì dân chủ là chìa khóa cho sự phát triển tại Việt Nam cũng như an ninh tại Ðông Nam Á.” Ngài nói.
Hòa thượng Quảng Ðộ hầu như bị quản chế nghiêm ngặt ở Thanh Minh Thiền Viện (Phú Nhuận - Sài Gòn) suốt nhiều chục năm qua sau Tháng Tư năm 1975 ngoại trừ các thời gian ngài bị bắt đi tù. Tuy nhiên phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hà Nội khi đối đáp với ký giả quốc tế luôn luôn phủ nhận chuyện ngài cũng như hòa thượng Thích Huyền Quang, viện trưởng Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là bị quản chế.
Theo bản tin Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, ngài cho hai vị đại sứ Âu Châu hay rằng “Người dân Việt có đủ mọi thứ 'quyền căn bản' trên Hiến Pháp, trung trong thực tế các quyền đó chỉ là chiếc bánh vẽ mà thôi.”
Dịp này ngài cho hay “quyển sách trắng” mà Hà Nội công bố và ca ngơi “thành tựu bảo vệ quyền và phát triển quyền làm người ở Việt Nam” chỉ là “sự lặp lại các quyền cơ bản ghi trong hiến pháp chứ chưa thực thi trong đòi sống hàng ngày.”
Ngài dẫn chứng bằng chính sự đàn áp mà ngài, hòa thượng Huyền Quang cùng các chức sắc khác trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đang phải chịu đựng.
Ngày 12 Tháng Chín 2005, Quốc Hội Liên Âu mở cuộc điều trần về nhân quyền tại ba quốc gia Việt Nam, Cam Bốt và Lào. Họ đã nghe đại diện nhiều tôn giáo trình bày về những sự đàn áp mà dân chúng trong nước hiện đang chịu đựng thế nào trên thực tế, trong khi nhà nước thì phủ nhận.
Mặt khác, vẫn theo tin của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, thượng tọa Thích Viên Ðịnh, phó viện trưởng Viện Hóa Ðạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã gửi một kháng thư đến Phan Văn Khải, thủ tướng Cộng Sản Việt Nam, phản đối việc nhà cầm quyền địa phương tại 4 tỉnh thị Quảng Nam - Ðà Nẵng, Thừa Thiên - Huế, Bình Ðịnh và Khánh Hòa, đã không ngừng sách nhiễm, hăm dọa, khủng bố tinh thần quý vị tăng ni thuộc ban đại diện địa phương của giáo hội này suốt trong hai Tháng Tám và Tháng Chín 2005 kể từ khi hòa thượng Quảng Ðộ, viện trưởng Viện Hóa Ðạo chuẩn y ban đại diện.
Ðể bôi nhọ và ly gián Phật Giáo, theo Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã tung nhiều tài liệu giả danh hòa thượng Quảng Ðộ nói trong các cuộc phỏng vấn ngụy tạo. Các tài liệu này được gửi tới các tổ chức tôn giáo trong nước cũng như được gửi ra phổ biến cả ở ngoại quốc.
Nội dung các tài liệu này nhắm vào những tiêu điểm chính như sau:
“1. Tạo ly gián và đối nghịch giữa hòa thượng Thích Quảng Ðộ và toàn thể chư tăng trong nước;
2. Bóp méo sự thực hòng gây hoang mang và các ban đại diện vừa mới thành lập tại các tỉnh miền Trung;
3. Vu cáo hòa thượng làm chính trị;
4. Gây chia rẽ các tôn giáo;
5. Gây phân hóa nội bộ giáo hội;
6. Ca tụng chế độ cộng sản.” (N.T.T.)
Nhân quyền tại Việt Nam Việt “chỉ là chiếc bánh vẽ”
Monday, October 03, 2005
PARIS 03-10 (TH).- Hòa thượng Thích Quảng Ðộ, viện trưởng Viện Hóa Ðạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, kêu gọi Liên Hiệp Âu Châu hãy đòi Cộng Sản Việt Nam trả lại các quyền tự do căn bản lại cho dân chúng vì hiện nay mọi thứ đều có trên giấy chứ trên thực tế thì không có.
“Liên Hiệp Âu Châu là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trong vấn đề trao đổi và viện trợ kinh tế. Xin quý vị hãy áp dụng điều 1 trong Hiệp Ước Hợp Tác Song Phương giữa Liên Âu và Việt Nam ký năm 1995 để đòi hỏi Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thực thi các nguyên tắc nhân quyền và dân chủ cho nhân dân Việt Nam.”
Hòa thượng Thích Quảng Ðộ nói như vậy với phái đoàn Liên Âu gồm David Milliot, đại sứ Liên Âu, và Robert Gordon, đại sứ Anh Quốc tại Việt Nam khi họ từ Hà Nội đến thăm ngày ngày 30 Tháng Chín 2005 vừa qua. Những lời nói này được ông Võ Văn Ái tường thuật trên bản tin của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế phổ biến ngày 3 Tháng Mười năm 2005.
“Xin Liên Hiệp Âu Châu hãy góp tay thúc đẩy cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam sớm khởi động. Vì dân chủ là chìa khóa cho sự phát triển tại Việt Nam cũng như an ninh tại Ðông Nam Á.” Ngài nói.
Hòa thượng Quảng Ðộ hầu như bị quản chế nghiêm ngặt ở Thanh Minh Thiền Viện (Phú Nhuận - Sài Gòn) suốt nhiều chục năm qua sau Tháng Tư năm 1975 ngoại trừ các thời gian ngài bị bắt đi tù. Tuy nhiên phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hà Nội khi đối đáp với ký giả quốc tế luôn luôn phủ nhận chuyện ngài cũng như hòa thượng Thích Huyền Quang, viện trưởng Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là bị quản chế.
Theo bản tin Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, ngài cho hai vị đại sứ Âu Châu hay rằng “Người dân Việt có đủ mọi thứ 'quyền căn bản' trên Hiến Pháp, trung trong thực tế các quyền đó chỉ là chiếc bánh vẽ mà thôi.”
Dịp này ngài cho hay “quyển sách trắng” mà Hà Nội công bố và ca ngơi “thành tựu bảo vệ quyền và phát triển quyền làm người ở Việt Nam” chỉ là “sự lặp lại các quyền cơ bản ghi trong hiến pháp chứ chưa thực thi trong đòi sống hàng ngày.”
Ngài dẫn chứng bằng chính sự đàn áp mà ngài, hòa thượng Huyền Quang cùng các chức sắc khác trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đang phải chịu đựng.
Ngày 12 Tháng Chín 2005, Quốc Hội Liên Âu mở cuộc điều trần về nhân quyền tại ba quốc gia Việt Nam, Cam Bốt và Lào. Họ đã nghe đại diện nhiều tôn giáo trình bày về những sự đàn áp mà dân chúng trong nước hiện đang chịu đựng thế nào trên thực tế, trong khi nhà nước thì phủ nhận.
Mặt khác, vẫn theo tin của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, thượng tọa Thích Viên Ðịnh, phó viện trưởng Viện Hóa Ðạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã gửi một kháng thư đến Phan Văn Khải, thủ tướng Cộng Sản Việt Nam, phản đối việc nhà cầm quyền địa phương tại 4 tỉnh thị Quảng Nam - Ðà Nẵng, Thừa Thiên - Huế, Bình Ðịnh và Khánh Hòa, đã không ngừng sách nhiễm, hăm dọa, khủng bố tinh thần quý vị tăng ni thuộc ban đại diện địa phương của giáo hội này suốt trong hai Tháng Tám và Tháng Chín 2005 kể từ khi hòa thượng Quảng Ðộ, viện trưởng Viện Hóa Ðạo chuẩn y ban đại diện.
Ðể bôi nhọ và ly gián Phật Giáo, theo Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã tung nhiều tài liệu giả danh hòa thượng Quảng Ðộ nói trong các cuộc phỏng vấn ngụy tạo. Các tài liệu này được gửi tới các tổ chức tôn giáo trong nước cũng như được gửi ra phổ biến cả ở ngoại quốc.
Nội dung các tài liệu này nhắm vào những tiêu điểm chính như sau:
“1. Tạo ly gián và đối nghịch giữa hòa thượng Thích Quảng Ðộ và toàn thể chư tăng trong nước;
2. Bóp méo sự thực hòng gây hoang mang và các ban đại diện vừa mới thành lập tại các tỉnh miền Trung;
3. Vu cáo hòa thượng làm chính trị;
4. Gây chia rẽ các tôn giáo;
5. Gây phân hóa nội bộ giáo hội;
6. Ca tụng chế độ cộng sản.” (N.T.T.)
Chuyện “động trời” ở Tây Ninh bị báo Thanh Niên phanh phui: Quan chức thành chủ đồn điền
Tuesday, October 04, 2005
TÂY NINH.- Báo Thanh Niên viết liên tiếp 5 kỳ về tình hình quan chức đảng viên Cộng Sản Việt Nam chiếm đất xây phố thương mại ở con đường “ngon nhất” thị xã Tây Ninh và đất lâm nghiệp trong tỉnh này bằng cách đuổi dân đi chỗ khác sống chui rúc đói khổ. Ðây là chuyện “cướp ngày” xảy ra ở tất cả những tỉnh thị trên cả nước mà những gì được phơi bày cho thấy trên báo Thanh Niên và một số báo khác mới chỉ là bề nổi.
Báo Thanh Niên ngày 30 Tháng Chín 2005: Loạt bài 5 kỳ Chuyện “động trời” ở Tây Ninh - Hàng trăm hecta đất công bị những quan chức cấp tỉnh phù phép thành của riêng đăng trên Thanh Niên vừa qua đã tạo được sự quan tâm rất lớn của đông đảo bạn đọc. Rất nhiều bạn đọc đã đề nghị Thanh Niên tiếp tục làm rõ những vụ việc tương tự đang gây bức xúc lớn đối với người dân Tây Ninh.
Trở lại những cánh rừng cao su khu vực Tân Hội, Tân Hà, Suối Ngô, Suối Dây (huyện Tân Châu, Tây Ninh), đi đến đâu chúng tôi cũng thấy đất của cán bộ. Có cán bộ sở hữu đến hàng trăm hecta cao su hoặc trang trại mía, mì. Một cán bộ của tỉnh cho biết: “Ở tỉnh này, cán bộ lớn làm rẫy lớn, cán bộ nhỏ làm rẫy nhỏ”. Hai bên con đường chạy dọc biên giới thuộc xã Tân Hà mênh mông màu xanh: đó là những cánh “rừng kinh tế” phần lớn là của những quan chức. Người dân địa phương kể vanh vách: căn nhà to cùng với hàng chục hecta cao su xung quanh kia là của ông Hai Ninh (Ðặng Văn Ninh, nguyên phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh); khu vực trồng đậu xen cao su dài ngút tầm mắt kia là của ông Hai Kiếm (Trần Hoàn Kiếm, nguyên trưởng ban đời sống nhà máy Ðường Nước Trong, nay là công ty Mía Ðường Tây Ninh); còn ông Út Sĩ (Nguyễn Văn Sĩ, nguyên giám đốc nhà máy Ðường Nước Trong) “khiêm tốn” với căn nhà và chiếc xe ủi đất được bao bọc bởi hàng chục hecta cao su mới trồng. Rẫy cao su ngút ngàn tầm mắt tọa lạc tại ngã ba Cây Cầy thì thuộc về ông Năm Bé (Huỳnh Văn Khanh, nguyên chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Ðảng). Riêng căn biệt thự to nhất có hàng rào bao quanh là của ông Bảy Tòng (Nguyễn Bá Tòng, nguyên trưởng ban chỉ huy quân sự tỉnh Tây Ninh). Theo điều tra của chúng tôi, ông Bảy còn có một cơ ngơi khổng lồ ở thị xã Tây Ninh với một căn biệt thự lớn trên đường Nguyễn Chí Thanh (phường 3) và hơn hai lô đất “được chia” mặt tiền đường 30 Tháng Tư đẹp nhất thị xã. Tuy nhiên, nhân vật nổi tiếng nhất khu vực này là ông Hai Kiếm, người cán bộ luôn đi thăm rẫy với chiếc Jolie biển số 70H-3313 màu bordeaux cáu cạnh. Cả một khu vực rộng lớn hàng ngàn hecta, đến đâu người dân cũng bảo đất của Hai Kiếm, đến nỗi một người dân thuộc hàng “thổ địa” ở đây cũng không thể biết hết.
Ngược về phía bên phải cầu Ðại Thắng - cây cầu lịch sử cách thị trấn Kà Tum chưa đầy 1 km - là bạt ngàn rừng cao su. Ðây là khu vực đất thuộc 2 đơn vị: công ty Cao Su Tân Biên và Tổng Ðội Thanh Niên Xung Phong với hàng chục nông trường trồng cao su. Tuy nhiên, đã từ lâu một số đất của nông trường đã được “phù phép” thành của riêng của một số cán bộ. Chẳng hạn, ở Nông Trường 7 thuộc Tổng Ðội Thanh Niên Xung Phong (thuộc xã Suối Dây, Tân Châu), phía sâu bên trong cách đường lộ khoảng hơn 1 km là khu vực đất tư nhân - với đủ mặt những “quan” cấp tỉnh: ông Ba Ð., hàng chục hecta cao su đang cạo, ông Hai Thể (Nguyễn Trọng Thể, giám đốc kho bạc tỉnh) với rừng cao su đang thời sung sức... Rồi đất cao su bạt ngàn của bà M., ông L. Người dẫn chúng tôi tiếp cận với khu đất - anh M. - chỉ lô cao su của ông Ba Ð. nói: “Trước đây, tôi là người khai phá đất này. Cày sâu cuốc bẫm, sống chung với gian khổ thường trực suốt bao nhiêu năm trời mà cuối cùng mất trắng. Nông Trường 7 đã dùng mọi cách để thu hồi đất của tôi. Tôi tưởng nông trường lấy lại làm, nào ngờ lại giao cho những quan chức”.
Ở Tây Ninh, đang có quá nhiều quan chức trở thành chủ đồn điền. Nhờ đâu họ trở nên quá giàu có nếu không phải tận dụng đặc quyền đặc lợi để thu gom đất? Họ có những thông tin quy hoạch mà người dân không có; có những nguồn vốn vay mà người dân còn lâu mới với tới được dù rằng nguồn vốn này là dành cho người nông dân (vốn Chương Trình 327, vốn Quỹ Quốc Gia Giải Quyết Việc Làm, vốn Quỹ Hỗ Trợ Phát Triển...); và đặc biệt là có sự hậu thuẫn của những đơn vị nhà nước trong giao và cấp quyền sử dụng đất. Tình trạng này đang gây bức xúc ngày càng lớn cho người dân, rất cần được những cơ quan trung ương sớm kiểm tra làm rõ.
Nỗi bức xúc 21 năm của người dân Tân Hội
Rất nhiều người dân ở xã Tân Hội như bà Nguyễn Thị Tiên, ông Nhâm Văn Thục, anh Phạm Ngọc Bi, bà Hồ Thị Quận... bức xúc phản ánh với chúng tôi chuyện họ bị nông trường thu hồi đất, sau đó nông trường lại giao đất cho “ông này bà kia”. Trả lời chúng tôi về vấn đề này, giám đốc công ty Mía Ðường Tây Ninh Nguyễn Ngọc Thạnh cho biết: “Ðất giao cho những cá nhân (khoảng 500 người, trong đó có nhiều cán bộ, đảng viên, công nhân viên công ty...) là có hợp đồng giao khoán hằng năm. Không có trường hợp nào “giao đứt” cả”. Ông Thạnh cũng cho biết người dân “chỉ cần họ đến ủy ban nhân dân xã xác nhận là hộ nghèo là đến công ty chúng tôi sẵn sàng giao đất”. Thế nhưng theo điều tra của chúng tôi, những hộ nghèo thực sự ở Tân Hội và những xã lân cận hầu hết không được hợp đồng giao đất từ công ty này.
Tuesday, October 04, 2005
TÂY NINH.- Báo Thanh Niên viết liên tiếp 5 kỳ về tình hình quan chức đảng viên Cộng Sản Việt Nam chiếm đất xây phố thương mại ở con đường “ngon nhất” thị xã Tây Ninh và đất lâm nghiệp trong tỉnh này bằng cách đuổi dân đi chỗ khác sống chui rúc đói khổ. Ðây là chuyện “cướp ngày” xảy ra ở tất cả những tỉnh thị trên cả nước mà những gì được phơi bày cho thấy trên báo Thanh Niên và một số báo khác mới chỉ là bề nổi.
Báo Thanh Niên ngày 30 Tháng Chín 2005: Loạt bài 5 kỳ Chuyện “động trời” ở Tây Ninh - Hàng trăm hecta đất công bị những quan chức cấp tỉnh phù phép thành của riêng đăng trên Thanh Niên vừa qua đã tạo được sự quan tâm rất lớn của đông đảo bạn đọc. Rất nhiều bạn đọc đã đề nghị Thanh Niên tiếp tục làm rõ những vụ việc tương tự đang gây bức xúc lớn đối với người dân Tây Ninh.
Trở lại những cánh rừng cao su khu vực Tân Hội, Tân Hà, Suối Ngô, Suối Dây (huyện Tân Châu, Tây Ninh), đi đến đâu chúng tôi cũng thấy đất của cán bộ. Có cán bộ sở hữu đến hàng trăm hecta cao su hoặc trang trại mía, mì. Một cán bộ của tỉnh cho biết: “Ở tỉnh này, cán bộ lớn làm rẫy lớn, cán bộ nhỏ làm rẫy nhỏ”. Hai bên con đường chạy dọc biên giới thuộc xã Tân Hà mênh mông màu xanh: đó là những cánh “rừng kinh tế” phần lớn là của những quan chức. Người dân địa phương kể vanh vách: căn nhà to cùng với hàng chục hecta cao su xung quanh kia là của ông Hai Ninh (Ðặng Văn Ninh, nguyên phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh); khu vực trồng đậu xen cao su dài ngút tầm mắt kia là của ông Hai Kiếm (Trần Hoàn Kiếm, nguyên trưởng ban đời sống nhà máy Ðường Nước Trong, nay là công ty Mía Ðường Tây Ninh); còn ông Út Sĩ (Nguyễn Văn Sĩ, nguyên giám đốc nhà máy Ðường Nước Trong) “khiêm tốn” với căn nhà và chiếc xe ủi đất được bao bọc bởi hàng chục hecta cao su mới trồng. Rẫy cao su ngút ngàn tầm mắt tọa lạc tại ngã ba Cây Cầy thì thuộc về ông Năm Bé (Huỳnh Văn Khanh, nguyên chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Ðảng). Riêng căn biệt thự to nhất có hàng rào bao quanh là của ông Bảy Tòng (Nguyễn Bá Tòng, nguyên trưởng ban chỉ huy quân sự tỉnh Tây Ninh). Theo điều tra của chúng tôi, ông Bảy còn có một cơ ngơi khổng lồ ở thị xã Tây Ninh với một căn biệt thự lớn trên đường Nguyễn Chí Thanh (phường 3) và hơn hai lô đất “được chia” mặt tiền đường 30 Tháng Tư đẹp nhất thị xã. Tuy nhiên, nhân vật nổi tiếng nhất khu vực này là ông Hai Kiếm, người cán bộ luôn đi thăm rẫy với chiếc Jolie biển số 70H-3313 màu bordeaux cáu cạnh. Cả một khu vực rộng lớn hàng ngàn hecta, đến đâu người dân cũng bảo đất của Hai Kiếm, đến nỗi một người dân thuộc hàng “thổ địa” ở đây cũng không thể biết hết.
Ngược về phía bên phải cầu Ðại Thắng - cây cầu lịch sử cách thị trấn Kà Tum chưa đầy 1 km - là bạt ngàn rừng cao su. Ðây là khu vực đất thuộc 2 đơn vị: công ty Cao Su Tân Biên và Tổng Ðội Thanh Niên Xung Phong với hàng chục nông trường trồng cao su. Tuy nhiên, đã từ lâu một số đất của nông trường đã được “phù phép” thành của riêng của một số cán bộ. Chẳng hạn, ở Nông Trường 7 thuộc Tổng Ðội Thanh Niên Xung Phong (thuộc xã Suối Dây, Tân Châu), phía sâu bên trong cách đường lộ khoảng hơn 1 km là khu vực đất tư nhân - với đủ mặt những “quan” cấp tỉnh: ông Ba Ð., hàng chục hecta cao su đang cạo, ông Hai Thể (Nguyễn Trọng Thể, giám đốc kho bạc tỉnh) với rừng cao su đang thời sung sức... Rồi đất cao su bạt ngàn của bà M., ông L. Người dẫn chúng tôi tiếp cận với khu đất - anh M. - chỉ lô cao su của ông Ba Ð. nói: “Trước đây, tôi là người khai phá đất này. Cày sâu cuốc bẫm, sống chung với gian khổ thường trực suốt bao nhiêu năm trời mà cuối cùng mất trắng. Nông Trường 7 đã dùng mọi cách để thu hồi đất của tôi. Tôi tưởng nông trường lấy lại làm, nào ngờ lại giao cho những quan chức”.
Ở Tây Ninh, đang có quá nhiều quan chức trở thành chủ đồn điền. Nhờ đâu họ trở nên quá giàu có nếu không phải tận dụng đặc quyền đặc lợi để thu gom đất? Họ có những thông tin quy hoạch mà người dân không có; có những nguồn vốn vay mà người dân còn lâu mới với tới được dù rằng nguồn vốn này là dành cho người nông dân (vốn Chương Trình 327, vốn Quỹ Quốc Gia Giải Quyết Việc Làm, vốn Quỹ Hỗ Trợ Phát Triển...); và đặc biệt là có sự hậu thuẫn của những đơn vị nhà nước trong giao và cấp quyền sử dụng đất. Tình trạng này đang gây bức xúc ngày càng lớn cho người dân, rất cần được những cơ quan trung ương sớm kiểm tra làm rõ.
Nỗi bức xúc 21 năm của người dân Tân Hội
Rất nhiều người dân ở xã Tân Hội như bà Nguyễn Thị Tiên, ông Nhâm Văn Thục, anh Phạm Ngọc Bi, bà Hồ Thị Quận... bức xúc phản ánh với chúng tôi chuyện họ bị nông trường thu hồi đất, sau đó nông trường lại giao đất cho “ông này bà kia”. Trả lời chúng tôi về vấn đề này, giám đốc công ty Mía Ðường Tây Ninh Nguyễn Ngọc Thạnh cho biết: “Ðất giao cho những cá nhân (khoảng 500 người, trong đó có nhiều cán bộ, đảng viên, công nhân viên công ty...) là có hợp đồng giao khoán hằng năm. Không có trường hợp nào “giao đứt” cả”. Ông Thạnh cũng cho biết người dân “chỉ cần họ đến ủy ban nhân dân xã xác nhận là hộ nghèo là đến công ty chúng tôi sẵn sàng giao đất”. Thế nhưng theo điều tra của chúng tôi, những hộ nghèo thực sự ở Tân Hội và những xã lân cận hầu hết không được hợp đồng giao đất từ công ty này.
Hàng Tàu làm hàng trong nước lao đao
Wednesday, October 05, 2005
Mai Lan/Người Việt
Xưa nay, đồ Tàu vẫn là một trong những mặt hàng thông dụng được sử dụng nhiều nhất trong nước. Không chỉ nằm gọn trong vài mặt hàng mà càng ngày Trung Quốc càng cho nhập vào Việt Nam nhiều mặt hàng đa dạng, chức năng cũng xịn như hàng Thái và hàng Nhật. Mặc dù, chất lượng của hàng Tàu thường không đảm bảo được một thời gian lâu nhưng giá thành lại rẻ vượt mức so với những loại mặt hàng cùng loại khác khiến cho người dân Việt Nam hết sức ưa chuộng. Hàng Tàu thịnh hành đếm mức cứ 10 người dân ở miền Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung thì có đến 9 người dùng đồ Tàu.
Hàng chợ, 90% là hàng Tàu
Phần lớn, dân Việt Nam đều là nông dân hay công nhân, và có nghĩa là nghèo, nên mức chi trả cho đồ dùng gia đình hay phương tiện đi lại... thường đơn giản, rẻ tiền. Trong khi, thị trường trong nước còn lạc hậu phải nhập cảng hàng hóa từ nước ngoài về đủ thứ linh kiện, đồ dùng thì Trung Quốc đã tiến xa một bước khi cho ra mắt nhiều sản phẩm đa dạng với mức giá phải chăng.
Từ nồi cơm điện, xe máy, ti vi, máy giặt, máy sấy... dán nhãn Made in China đều có thể dùng được tốt một thời gian ngắn đấy là chưa kể những người biết giữ thì có thể dùng vài năm với mức giá có khi chỉ bằng một nửa so với hàng chất lượng như hàng Nhật. Ðáp ứng túi tiền và nhu cầu sinh hoạt, người dân Việt Nam chuộng dùng hàng Tàu nên phần lớn những khu vực chợ trong nước đều ưu tiên cho hàng Tàu.
Thử một vòng quanh khu vực chợ lớn như chợ Ðồng Xuân, chợ Hàng Bông, chợ Mơ (Hà Nội), chợ Bến Thành (Sài Gòn) những khu vực bán lẻ, bán buôn đều trưng bày hàng Tàu một cách đa dạng.
Theo lời chị HM. ở chợ Ðồng Xuân bán đồ gia dụng cho báo Người Việt biết “Khách của chị cứ 10 người đến mua hàng thì có đến 8 người đòi xem hàng xịn và hàng thường (hàng Tàu). Mà xem xong thấy mẫu mã hàng Tàu cũng đẹp, giá rẻ nên ai cũng chọn hàng Tàu. Chính vì vậy mà dù có kinh doanh hàng Nhật chị cũng vẫn phải đáp ứng nhu cầu của khách hàng mà buôn đồ Tàu”. Trong tất cả những cửa hàng hiện nay, khó có thể kiếm được một cửa hàng nào thiếu mặt đồ Tàu.
Các chợ tại Việt Nam vẫn được xem là nơi dành cho những người dân có mức chi trả trung bình nên đây cũng là khu vực tập trung đồ Tàu mạnh mẽ nhất. Giữa hai sản phẩm nồi cơm điện của Nhật và của Tàu thì hàng Tàu cứ bán ra được 6 cái thì may ra hàng Nhật bán được 1 cái. Chủ một cửa hàng tại chợ Hàng Bông (Hà Nội), chị NT. cho hay, cứ một hàng “xịn” bán ra, thì có đến 7 hàng tàu được tiêu thụ. Thậm chí, với từng cửa hàng con số đó còn chênh lên khá cao. Ðể buôn hàng Tàu, thường những chủ cửa hàng đều phải nhờ mối qua Lạng Sơn để bốc hàng về. Chị NT tiết lộ “Mỗi gánh hàng như thế bọn chị kiếm cũng đủ ăn mà lại dễ bán. Bây giờ, thường người ta lên Lạng Sơn mua đồ là nhiều chứ qua chợ thì giá vẫn cao hơn một chút. Nhưng tùy từng đại lý, giá vẫn được hạ gần với mức nhập. Nói chung, hàng tàu bao giờ cũng rẻ so với hàng xịn một nửa”.
Với một chiếc xe máy Nhật xịn, giá trung bình là 24 triệu VNÐ (khoảng 1,700 đô la) thì người dân Việt Nam có thể chọn một chiếc xe Tàu giá 11 triệu. Mức giá chênh lệch như thế khiến cho người dân Việt Nam hết sức “ưu đãi” hàng Tàu. Một người bạn của tôi, sang hẳn Trung Quốc buôn quần áo về Việt Nam bán. Mang mẫu đi những cửa hàng nơi nào cũng thích chỉ vì đẹp mà rẻ. Nhất là khu vực chợ, ít thấy cửa hàng nào dám lắc đầu với hàn Tàu.
Từ Lạng Sơn, đồ Tàu về đến Linh Hiệp
Thay vì không ít người dân phải nhân dịp đi Lạng Sơn để tha hồ sắm hàng Tàu rẻ thì bây giờ, người dân Hà Nội chỉ cần qua chợ Linh Hiệp tại Gia Lâm là có thể tha hồ chọn hàng Tàu. Ðây nổi tiếng là khu vực chợ vải, bán rẻ mà đa dạng từ những khu vực sản xuất đổ về nên không ít người dân từ nội thành Hà Nội phải đổ công đi thăm Linh Hiệp. Nay, Linh Hiệp nổi tiếng hơn với những mặt hàng Tàu từ nơi sản xuất đổ về chứ không cần thông qua Lạng Sơn. Giá vẫn rẻ, hàng đẹp mà lại đa dạng, bây giờ, Linh Hiệp được mệnh phong là “hàng của đồ Tàu”.
Chỉ cần mất thời gian phóng xe khoảng 30 phút là người dân Hà Nội tiếp cận được cả một thế giới hàng Made in China. Khu vực chợ rộng, nhiều gian, quy tụ nhiều cửa hàng vón đã nổi tiếng nên Linh Hiệp gần như một là bước thắng đậm của hàng Tàu. Bạn tôi giới thiệu “Bây giờ em mua gì cứ qua Linh Hiệp là có đủ, khỏi mất công nên Lạng Sơn. Chị qua đó rồi mà đồ nhiều lắm lại rẻ nữa. Em có thể tha hồ chọn, nó chỉ cao hơn Lạng Sơn một ít không đáng kể nhưng lại tiện đi lại. Thỉnh thoảng, chị vẫn qua đó sắm đồ cho gia đình”.
Tại sao người dân Việt Nam chuộng đồ Tàu? Chị NK, một khách hàng sành đồ Tàu, cho hay “Ðồ Tàu cũng đa dạng, hay đổi mới, giá thành rẻ, mẫu mã đẹp nên chị hay đi sắm đồ Tàu. Hơn thế, mình mua một món hàng xịn, hỏng lại tiếc tiền thay vì một hàng xịn mình mua được đến hai hàng Tàu. Bọn trẻ con nhà chị hay phá nên đồ xịn hay đồ Tàu thì cũng hỏng như vậy. Có khi, đồ Tàu còn giữ được lâu hơn đồ xịn một thời gian nên giờ chị cứ mang đồ Tàu về nhà mà dùng thôi. Ngoại trừ xe máy Tàu, máy không tốt mà tiếng nổ nghe nhức đầu nên nhà chị không dùng được chứ còn những cái khác thì Tàu là trên hết”.
Chung quy, hàng Tàu “thắng đậm” hàng trong nước vì đa dạng và quan trọng là rẻ nên khiến cho người dân hết sức ưu ái. Hàng Tàu, chưa khi nào thất thế trên đất Việt.
Wednesday, October 05, 2005
Mai Lan/Người Việt
Xưa nay, đồ Tàu vẫn là một trong những mặt hàng thông dụng được sử dụng nhiều nhất trong nước. Không chỉ nằm gọn trong vài mặt hàng mà càng ngày Trung Quốc càng cho nhập vào Việt Nam nhiều mặt hàng đa dạng, chức năng cũng xịn như hàng Thái và hàng Nhật. Mặc dù, chất lượng của hàng Tàu thường không đảm bảo được một thời gian lâu nhưng giá thành lại rẻ vượt mức so với những loại mặt hàng cùng loại khác khiến cho người dân Việt Nam hết sức ưa chuộng. Hàng Tàu thịnh hành đếm mức cứ 10 người dân ở miền Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung thì có đến 9 người dùng đồ Tàu.
Hàng chợ, 90% là hàng Tàu
Phần lớn, dân Việt Nam đều là nông dân hay công nhân, và có nghĩa là nghèo, nên mức chi trả cho đồ dùng gia đình hay phương tiện đi lại... thường đơn giản, rẻ tiền. Trong khi, thị trường trong nước còn lạc hậu phải nhập cảng hàng hóa từ nước ngoài về đủ thứ linh kiện, đồ dùng thì Trung Quốc đã tiến xa một bước khi cho ra mắt nhiều sản phẩm đa dạng với mức giá phải chăng.
Từ nồi cơm điện, xe máy, ti vi, máy giặt, máy sấy... dán nhãn Made in China đều có thể dùng được tốt một thời gian ngắn đấy là chưa kể những người biết giữ thì có thể dùng vài năm với mức giá có khi chỉ bằng một nửa so với hàng chất lượng như hàng Nhật. Ðáp ứng túi tiền và nhu cầu sinh hoạt, người dân Việt Nam chuộng dùng hàng Tàu nên phần lớn những khu vực chợ trong nước đều ưu tiên cho hàng Tàu.
Thử một vòng quanh khu vực chợ lớn như chợ Ðồng Xuân, chợ Hàng Bông, chợ Mơ (Hà Nội), chợ Bến Thành (Sài Gòn) những khu vực bán lẻ, bán buôn đều trưng bày hàng Tàu một cách đa dạng.
Theo lời chị HM. ở chợ Ðồng Xuân bán đồ gia dụng cho báo Người Việt biết “Khách của chị cứ 10 người đến mua hàng thì có đến 8 người đòi xem hàng xịn và hàng thường (hàng Tàu). Mà xem xong thấy mẫu mã hàng Tàu cũng đẹp, giá rẻ nên ai cũng chọn hàng Tàu. Chính vì vậy mà dù có kinh doanh hàng Nhật chị cũng vẫn phải đáp ứng nhu cầu của khách hàng mà buôn đồ Tàu”. Trong tất cả những cửa hàng hiện nay, khó có thể kiếm được một cửa hàng nào thiếu mặt đồ Tàu.
Các chợ tại Việt Nam vẫn được xem là nơi dành cho những người dân có mức chi trả trung bình nên đây cũng là khu vực tập trung đồ Tàu mạnh mẽ nhất. Giữa hai sản phẩm nồi cơm điện của Nhật và của Tàu thì hàng Tàu cứ bán ra được 6 cái thì may ra hàng Nhật bán được 1 cái. Chủ một cửa hàng tại chợ Hàng Bông (Hà Nội), chị NT. cho hay, cứ một hàng “xịn” bán ra, thì có đến 7 hàng tàu được tiêu thụ. Thậm chí, với từng cửa hàng con số đó còn chênh lên khá cao. Ðể buôn hàng Tàu, thường những chủ cửa hàng đều phải nhờ mối qua Lạng Sơn để bốc hàng về. Chị NT tiết lộ “Mỗi gánh hàng như thế bọn chị kiếm cũng đủ ăn mà lại dễ bán. Bây giờ, thường người ta lên Lạng Sơn mua đồ là nhiều chứ qua chợ thì giá vẫn cao hơn một chút. Nhưng tùy từng đại lý, giá vẫn được hạ gần với mức nhập. Nói chung, hàng tàu bao giờ cũng rẻ so với hàng xịn một nửa”.
Với một chiếc xe máy Nhật xịn, giá trung bình là 24 triệu VNÐ (khoảng 1,700 đô la) thì người dân Việt Nam có thể chọn một chiếc xe Tàu giá 11 triệu. Mức giá chênh lệch như thế khiến cho người dân Việt Nam hết sức “ưu đãi” hàng Tàu. Một người bạn của tôi, sang hẳn Trung Quốc buôn quần áo về Việt Nam bán. Mang mẫu đi những cửa hàng nơi nào cũng thích chỉ vì đẹp mà rẻ. Nhất là khu vực chợ, ít thấy cửa hàng nào dám lắc đầu với hàn Tàu.
Từ Lạng Sơn, đồ Tàu về đến Linh Hiệp
Thay vì không ít người dân phải nhân dịp đi Lạng Sơn để tha hồ sắm hàng Tàu rẻ thì bây giờ, người dân Hà Nội chỉ cần qua chợ Linh Hiệp tại Gia Lâm là có thể tha hồ chọn hàng Tàu. Ðây nổi tiếng là khu vực chợ vải, bán rẻ mà đa dạng từ những khu vực sản xuất đổ về nên không ít người dân từ nội thành Hà Nội phải đổ công đi thăm Linh Hiệp. Nay, Linh Hiệp nổi tiếng hơn với những mặt hàng Tàu từ nơi sản xuất đổ về chứ không cần thông qua Lạng Sơn. Giá vẫn rẻ, hàng đẹp mà lại đa dạng, bây giờ, Linh Hiệp được mệnh phong là “hàng của đồ Tàu”.
Chỉ cần mất thời gian phóng xe khoảng 30 phút là người dân Hà Nội tiếp cận được cả một thế giới hàng Made in China. Khu vực chợ rộng, nhiều gian, quy tụ nhiều cửa hàng vón đã nổi tiếng nên Linh Hiệp gần như một là bước thắng đậm của hàng Tàu. Bạn tôi giới thiệu “Bây giờ em mua gì cứ qua Linh Hiệp là có đủ, khỏi mất công nên Lạng Sơn. Chị qua đó rồi mà đồ nhiều lắm lại rẻ nữa. Em có thể tha hồ chọn, nó chỉ cao hơn Lạng Sơn một ít không đáng kể nhưng lại tiện đi lại. Thỉnh thoảng, chị vẫn qua đó sắm đồ cho gia đình”.
Tại sao người dân Việt Nam chuộng đồ Tàu? Chị NK, một khách hàng sành đồ Tàu, cho hay “Ðồ Tàu cũng đa dạng, hay đổi mới, giá thành rẻ, mẫu mã đẹp nên chị hay đi sắm đồ Tàu. Hơn thế, mình mua một món hàng xịn, hỏng lại tiếc tiền thay vì một hàng xịn mình mua được đến hai hàng Tàu. Bọn trẻ con nhà chị hay phá nên đồ xịn hay đồ Tàu thì cũng hỏng như vậy. Có khi, đồ Tàu còn giữ được lâu hơn đồ xịn một thời gian nên giờ chị cứ mang đồ Tàu về nhà mà dùng thôi. Ngoại trừ xe máy Tàu, máy không tốt mà tiếng nổ nghe nhức đầu nên nhà chị không dùng được chứ còn những cái khác thì Tàu là trên hết”.
Chung quy, hàng Tàu “thắng đậm” hàng trong nước vì đa dạng và quan trọng là rẻ nên khiến cho người dân hết sức ưu ái. Hàng Tàu, chưa khi nào thất thế trên đất Việt.
Tòa xử vụ tham nhũng ngành dầu khí Việt Nam: Hai con “sâu” bự chia chác 1.2 triệu đô la
Thursday, October 06, 2005
BÀ RỊA-VŨNG TÀU 06-10 - Trong phiên tòa xử vụ tham nhũng trong ngành dầu khí gồm 7 bị cáo đang diễn ra tại tòa án Bà Rịa, Vũng Tàu (bắt đầu ngày 5 tháng 10) theo tường thuật của các báo trong nước, là một cuộc đối chất gay cấn giữa hai cán bộ cao cấp ngành dầu khí là giữa Dương Quốc Hà, nguyên Phó Tổng giám đốc Xí nghiệp liên doanh Dầu khí Vietsovpetro (PSV) và Nguyễn Quang Thường, nguyên phó tổng giám đốc Tổng Công Ty Dầu Khí Việt Nam (Petro Việt Nam) xoay quanh việc chia chác hơn 1.2 triệu đô la tiền tham nhũng.
Theo VietnamNet, tòa đã tiến hành xét hỏi bị cáo Dương Quốc Hà xoay quanh những vụ việc bàn bạc nâng giá thầu dự án Block 140 chỗ từ 15.5 triệu đô la lên 17.2 triệu đô la để chia nhau mà bị cáo Trần Quang và Nguyễn Quang Thường đã khai.
Trước tòa, bị cáo Dương Quang Hà đã phủ nhận tất cả những gì mà Quang, Thường đã khai về vai trò đạo diễn vụ tham ô, nâng giá thầu dự án Block 140 chỗ tại vùng mỏ Bạch Hổ. Theo Hà khai nhận, trong dự án Block 140 chỗ vai trò của Hà chỉ là Phó Chủ tịch Hội đồng xét thầu và hội đồng này làm việc rất kín, chặt chẽ. Cho dù Hà muốn giúp đỡ gì cho liên doanh PTSC và Corall thắng thầu dự án Block 140 chỗ cũng không thể được.
Nói về cuộc gặp tay ba giữa Hà-Thường và Quang (điện lạnh) tại khách sạn Sofitel Plaza bên Hồ Tây, bị cáo Hà cho đó là cuộc thăm viếng bình thường để chúc mừng PTSC thắng thầu vì đây là niềm tự hào của ngành dầu khí Việt Nam. Hà khai, tại cuộc gặp này bị cáo Thường cười rất tươi cho biết giá trúng thầu là 16.9 triệu đô la, chi phí tính toán có lãi của dự án này chỉ đến 15.5 triệu đô la. Thường bảo đợt này anh em mình sẽ có thưởng lớn. Nghe vậy Hà bảo trước giờ làm gì có chuyện thưởng thì Thường bảo PTSC thì không được nhưng Corall thì được nhưng phải qua bàn tay Quang.
Hà khai chỉ có vậy, ngoài ra không có chuyện bàn bạc giữa bị cáo với Thường và Quang về việc nâng giá thầu, thống nhất cách rút tiền và thống nhất chia tiền như thế nào, cho những ai...
Tuy nhiên, Dương Quang Hà thừa nhận đã có nhận của Trần Quang 430,000 đô la mà theo Hà thì đây là số tiền thưởng do PTSC và Corall làm ăn có lãi trong dự án Block 140 chỗ. Việc nhận tiền cụ thể là giữa năm 2000 Nguyễn Quang Thường gọi điện cho Hà hẹn đến phòng làm việc của Thường. Tại đây Thường hỏi Trần Quang là tiền đã thanh toán rồi, chuyện thưởng tính sao? Quang trả lời để em tính lại và một tuần sau Quang đi honda đến nhà Hà đưa cho Hà một bọc giấy và bảo là phần của anh rồi đi ngay. Sau khi Quang đi, Hà có tháo ra xem và đếm được 430,000 đô la.
Hà khai trong đầu nghĩ là tiền thưởng và mãi cho đến khi đọc cáo trạng thì mới vỡ lẽ là tiền tham ô! Tòa đã công bố nhiều lời khai của Hà tại cơ quan điều tra việc Hà thừa nhận do lòng tham, tư túi nên đã bàn với Thường, Quang nâng giá thầu để chia nhau. Bị cáo Hà nại rằng do lúc đó tinh thần suy sụp với lại đã thừa nhận có nhận tiền nên nhận hết. Hà thanh minh thêm một phần cũng không muốn làm mếch lòng các anh điều tra viên và kiểm sát viên!?
Trong khi đó, Nguyễn Quang Thường khai tại cuộc gặp tay ba, sau khi Thường nói lợi nhuận từ dự án Block 140 chỗ được khoảng 1.2-1.3 triệu đô la Dương Quang Hà liền đặt vấn đề là xem có rút được chia cho A-B không và bàn giao việc này cho Trần Quang xử lý. Sau đó thống nhất với nhau lấy phần lợi nhuận của phía Corall chia 3.
Thường đính chính lại lời khai số tiền chia ba cho Thường- Hà-Quang là tiền lời của Corall bị các bị cáo tìm cách cắt để chia nhau chứ không phải tiền của phía Việt Nam. Theo thỏa thuận cơ bản ban đầu giữa liên doanh PTSC và Corall thì lợi nhuận sẽ được chia theo tỉ lệ 6-4; PTSC được 60% còn Corall được 40%.
Viện kiểm sát hỏi Thường về việc số tiền rút chia nhau. Bị cáo Thường khẳng định đấy là lợi nhuận.
Hỏi: Chưa hoàn tất công trình, dự án mới chỉ thực hiện được một phần thì lấy đâu ra lợi nhuận để các bị cáo chia nhau? Tiền các bị cáo rút chia nhau đó là tiền vốn đầu tư xây dựng cơ bản chứ công trình đã hoàn tất đâu mà tính được lỗ với lãi!? Thường lại lắp bắp “dạ, viện kiểm sát nói rất chính xác. Chính vì vậy mà hôm nay bị cáo mới đứng trước vành móng ngựa như vầy!”
Trước tòa, bị cáo Thường vẫn bảo lưu những lời khai của mình đã khai tại tòa về vai trò đạo diễn của Dương Quang Hà trong việc nâng giá thầu dự án Block 140 chỗ và bàn cách rút tiền chia nhau. Thường khai Hà còn lôi người nhà của mình là anh Trần Quang Ngọc làm ở Phòng thương mại Vietsovpetro vào để chia cho Ngọc 100,000 đô la.
Trong phần đối chất, Dương Quốc Hà cũng khẳng định là khai đúng. Không có việc Hà là người chủ động bàn bạc, tìm cách rút tiền chia nhau. Hà thừa nhận có nghe Thường nói chia tiền nhưng bị cáo nghĩ đó là tiền thưởng.
Thursday, October 06, 2005
BÀ RỊA-VŨNG TÀU 06-10 - Trong phiên tòa xử vụ tham nhũng trong ngành dầu khí gồm 7 bị cáo đang diễn ra tại tòa án Bà Rịa, Vũng Tàu (bắt đầu ngày 5 tháng 10) theo tường thuật của các báo trong nước, là một cuộc đối chất gay cấn giữa hai cán bộ cao cấp ngành dầu khí là giữa Dương Quốc Hà, nguyên Phó Tổng giám đốc Xí nghiệp liên doanh Dầu khí Vietsovpetro (PSV) và Nguyễn Quang Thường, nguyên phó tổng giám đốc Tổng Công Ty Dầu Khí Việt Nam (Petro Việt Nam) xoay quanh việc chia chác hơn 1.2 triệu đô la tiền tham nhũng.
Theo VietnamNet, tòa đã tiến hành xét hỏi bị cáo Dương Quốc Hà xoay quanh những vụ việc bàn bạc nâng giá thầu dự án Block 140 chỗ từ 15.5 triệu đô la lên 17.2 triệu đô la để chia nhau mà bị cáo Trần Quang và Nguyễn Quang Thường đã khai.
Trước tòa, bị cáo Dương Quang Hà đã phủ nhận tất cả những gì mà Quang, Thường đã khai về vai trò đạo diễn vụ tham ô, nâng giá thầu dự án Block 140 chỗ tại vùng mỏ Bạch Hổ. Theo Hà khai nhận, trong dự án Block 140 chỗ vai trò của Hà chỉ là Phó Chủ tịch Hội đồng xét thầu và hội đồng này làm việc rất kín, chặt chẽ. Cho dù Hà muốn giúp đỡ gì cho liên doanh PTSC và Corall thắng thầu dự án Block 140 chỗ cũng không thể được.
Nói về cuộc gặp tay ba giữa Hà-Thường và Quang (điện lạnh) tại khách sạn Sofitel Plaza bên Hồ Tây, bị cáo Hà cho đó là cuộc thăm viếng bình thường để chúc mừng PTSC thắng thầu vì đây là niềm tự hào của ngành dầu khí Việt Nam. Hà khai, tại cuộc gặp này bị cáo Thường cười rất tươi cho biết giá trúng thầu là 16.9 triệu đô la, chi phí tính toán có lãi của dự án này chỉ đến 15.5 triệu đô la. Thường bảo đợt này anh em mình sẽ có thưởng lớn. Nghe vậy Hà bảo trước giờ làm gì có chuyện thưởng thì Thường bảo PTSC thì không được nhưng Corall thì được nhưng phải qua bàn tay Quang.
Hà khai chỉ có vậy, ngoài ra không có chuyện bàn bạc giữa bị cáo với Thường và Quang về việc nâng giá thầu, thống nhất cách rút tiền và thống nhất chia tiền như thế nào, cho những ai...
Tuy nhiên, Dương Quang Hà thừa nhận đã có nhận của Trần Quang 430,000 đô la mà theo Hà thì đây là số tiền thưởng do PTSC và Corall làm ăn có lãi trong dự án Block 140 chỗ. Việc nhận tiền cụ thể là giữa năm 2000 Nguyễn Quang Thường gọi điện cho Hà hẹn đến phòng làm việc của Thường. Tại đây Thường hỏi Trần Quang là tiền đã thanh toán rồi, chuyện thưởng tính sao? Quang trả lời để em tính lại và một tuần sau Quang đi honda đến nhà Hà đưa cho Hà một bọc giấy và bảo là phần của anh rồi đi ngay. Sau khi Quang đi, Hà có tháo ra xem và đếm được 430,000 đô la.
Hà khai trong đầu nghĩ là tiền thưởng và mãi cho đến khi đọc cáo trạng thì mới vỡ lẽ là tiền tham ô! Tòa đã công bố nhiều lời khai của Hà tại cơ quan điều tra việc Hà thừa nhận do lòng tham, tư túi nên đã bàn với Thường, Quang nâng giá thầu để chia nhau. Bị cáo Hà nại rằng do lúc đó tinh thần suy sụp với lại đã thừa nhận có nhận tiền nên nhận hết. Hà thanh minh thêm một phần cũng không muốn làm mếch lòng các anh điều tra viên và kiểm sát viên!?
Trong khi đó, Nguyễn Quang Thường khai tại cuộc gặp tay ba, sau khi Thường nói lợi nhuận từ dự án Block 140 chỗ được khoảng 1.2-1.3 triệu đô la Dương Quang Hà liền đặt vấn đề là xem có rút được chia cho A-B không và bàn giao việc này cho Trần Quang xử lý. Sau đó thống nhất với nhau lấy phần lợi nhuận của phía Corall chia 3.
Thường đính chính lại lời khai số tiền chia ba cho Thường- Hà-Quang là tiền lời của Corall bị các bị cáo tìm cách cắt để chia nhau chứ không phải tiền của phía Việt Nam. Theo thỏa thuận cơ bản ban đầu giữa liên doanh PTSC và Corall thì lợi nhuận sẽ được chia theo tỉ lệ 6-4; PTSC được 60% còn Corall được 40%.
Viện kiểm sát hỏi Thường về việc số tiền rút chia nhau. Bị cáo Thường khẳng định đấy là lợi nhuận.
Hỏi: Chưa hoàn tất công trình, dự án mới chỉ thực hiện được một phần thì lấy đâu ra lợi nhuận để các bị cáo chia nhau? Tiền các bị cáo rút chia nhau đó là tiền vốn đầu tư xây dựng cơ bản chứ công trình đã hoàn tất đâu mà tính được lỗ với lãi!? Thường lại lắp bắp “dạ, viện kiểm sát nói rất chính xác. Chính vì vậy mà hôm nay bị cáo mới đứng trước vành móng ngựa như vầy!”
Trước tòa, bị cáo Thường vẫn bảo lưu những lời khai của mình đã khai tại tòa về vai trò đạo diễn của Dương Quang Hà trong việc nâng giá thầu dự án Block 140 chỗ và bàn cách rút tiền chia nhau. Thường khai Hà còn lôi người nhà của mình là anh Trần Quang Ngọc làm ở Phòng thương mại Vietsovpetro vào để chia cho Ngọc 100,000 đô la.
Trong phần đối chất, Dương Quốc Hà cũng khẳng định là khai đúng. Không có việc Hà là người chủ động bàn bạc, tìm cách rút tiền chia nhau. Hà thừa nhận có nghe Thường nói chia tiền nhưng bị cáo nghĩ đó là tiền thưởng.
Khi thiếu niên thích “mốt” bỏ nhà đi hoang
Phóng sự của Hương Duyên/Người Việt
Thanh thiếu niên bỏ nhà đi hoang bây giờ không còn hiếm, đáng buồn, hiện trạng này đang có “xu hướng” lây lan thành “dạng mốt” trong giới trẻ, làm điên đầu các bậc phụ huynh. Có em được cha mẹ tìm thấy trở về gia đình, một số em không chịu về, thành trẻ em lang thang đường phố... Nguy hiểm hơn, với tuổi đời chưa có kinh nghiệm, các em dễ thành những nạn nhân của các tệ nạn xã hội: Ma túy, mại dâm, trộm cướp...
* Chuyện của các em học sinh
Thúy Hà, Diễm Thùy, Thanh Phương, (*) ba nữ sinh cùng lớp 12, trường PTTH. CVA, một ngày nọ các em “rủ nhau” bỏ học, trốn nhà... đi bụi. Phương đi có viết để lại một lá thư “gởi bố mẹ yêu quý” khẳng định “đấy không phải con bỏ đi hay là giận dỗi vì ai mà chính vì con đi là thích con đường này”. Phương không nói rõ “thích con đường này” là đi đâu, làm gì nhưng lại căn dặn kỹ từng anh chị em, bảo “bố bố mẹ yên tâm, đừng tìm kiếm và đừng nói cho ai, con sẽ về thăm bố mẹ thường xuyên”.
Hơn ba tuần tìm con, bố mẹ Phương trông hốc hác đến tội nghiệp. Nhắc đến con, người mẹ cứ rớm rớm nước mắt: “Nhà tuy nghèo nhưng bố mẹ, anh chị em sống thuận hòa, không hiểu sao nó dám bỏ nhà đi. Chắc chắn có bạn bè xấu rủ rê!” Hỏi dò các bạn, gia đình biết ước muốn của con “thích màu xanh, thích đi bộ đội”.
Người mẹ khốn khổ không quản ngại đã đạp xe đến hỏi tất cả các doanh trại quân đội đóng tại Biên Hòa mà vẫn không thấy bóng dáng con. Mượn đọc lá thư Phương, chúng tôi thử tìm nguyên nhân, mặc dù không rõ ràng, nhưng nhận thấy “động lực” chính là do kinh tế (?),từ đó nảy sinh những xích mích nho nhỏ giữa mẹ, chị em gái với nhau. Phương viết: “Gia đình mình cũng không đầy đủ và gặp nhiều khó khăn. Nhiều khi mẹ nóng chửi tụi con rất nhiều không chịu làm con thấy mà thương...”
Mặc cảm nghèo, chưa làm ra tiền cộng thêm những dồn nén từ những xích mích giữa chị em gái khi dùng đồ chung... nên khi thấy người bạn rủ đi làm, công việc đơn giản và lắm tiền Phương đã không ngần ngại “từ giã” gia đình.
Trường hợp của Diễm Thùy, phường Tân Phong lại khác. Bố mẹ đã ly dị từ hơn mười năm nay, Thùy ở với mẹ, là “con cưng” mỗi tháng ông bà ngoại ở nước ngoài gởi 300 đô la, mẹ cho hẳn 100 đô la để xài, được mẹ sắm xe máy, điện thoại di động... “Tôi không hiểu tại sao nó bỏ nhà đi. Tôi đâu để nó thiếu thốn, thiệt thua bạn bè. Nhà chỉ có hai mẹ con vui buồn bên nhau, giờ con đi nhà trống vắng, đơn chiếc lắm”, mẹ Thùy nói.
Chúng tôi tìm gặp cô giáo chủ nhiệm M.H, cô đang rất buồn vì một lúc mất ba đứa học trò. Cô M.H cho biết, trong ba đứa đi bụi cô “bất ngờ và tiếc nhất” là em Thanh Phương, vốn hiền, học lực khá, còn hai trường hợp kia “không thích học từ lâu, vô lớp chỉ đùa giỡn”. “Bây giờ học trò ghê lắm, động cái là bỏ đi. Xã hội ngày nay việc bỏ nhà ra đi không hiếm, vô tình khiến chúng có cảm tưởng bỏ nhà không gì quá đáng. Qua tìm hiểu, thành phần bỏ nhà hầu hết rơi vào gia đình không êm ấm, cha mẹ không thuận hòa, bỏ nhau”, cô M.H tâm sự.
Cuối niên học vừa qua (cuối tháng 4-2005), hai em gái mới học lớp 8, cùng lớp, cùng trường THÐ cũng bỏ nhà đi, làm hai gia đình ở cùng phường Trung Dũng (TP. Biên Hòa) một phen sốt vó chạy tìm kiếm. Người chú tinh thần M.S nói: “Gia đình mất ăn, mất ngủ, công việc làm ăn bị ngưng trệ, đang định đăng báo, lên truyền hình, cũng may hai ngày hôm sau tìm được tụi nó”. Cũng trong tháng 4 này, có ba em gái độ tuổi 13-15 ở xã Xuân Ðịnh (Xuân Lộc) buồn chuyện gia đình bỏ học, bỏ nhà đi, viết giấy để lại gia đình bảo đừng đi tìm, nhưng hơn 10 ngày sau gia đình mới tìm gặp đang sống trên Sài Gòn, đưa về gia đình.
* Tuổi... bó tay (?!)
Em San, con nhà anh Ðình (ở huyện Trảng Bom), 12 tuổi đã thành trẻ lang thang đường phố, ba lần được các anh chị làm công tác xã hội “gom” về trung tâm trẻ mồ côi (do San khai không có cha mẹ), sau phát hiện có gia đình, trả về nhưng chỉ được thời gian San lại bỏ đi. Gặp chúng tôi, anh Ðình đang bán vé số trả lời một cách thờ ơ: “Nó... lớn rồi (năm nay San mới 15 tuổi-NV), muốn làm gì thì làm. Tôi phải lo cày nuôi hai đứa em nó”.
Anh Ðình cho biết, anh “rất khổ”, khi đứa thứ ba sinh ra, còn đỏ hon hỏn thì vợ dứt bỏ ra đi. Ngoài ba đứa con nhỏ anh phải “kiêm” luôn bà chị không thật tính người. Cũng ở địa phương này, Trung là con trai duy nhất, chuyện bỏ nhà đi bụi đã trở thành bình thường. Anh Vần, cha em nói: “một, hai lần đầu bắt về, đánh dữ lắm, thậm chí xích lại không cho đi đâu nhưng nó chẳng sợ, càng trây lì hơn. Tôi đành... bó tay, trao phó cho ông trời thôi”. 16 tuổi, bỏ học năm lớp 8 bây giờ Trung lêu lổng, nhập băng nhóm, chuyên trộm cắp gà, chó, hoặc những thứ người dân để sơ hở.
Trường hợp ba em nữ sinh trường C.V.A kể trên, sau gần một tháng kiếm tìm gia đình mới biết đang sống ở Vũng Tàu (do các bạn thân cho biết vì Diễm Thùy gọi điện rủ các bạn ra Vũng Tàu chơi). Gia đình liền ra Vũng Tàu tìm kiếm mới biết chỉ có hai người sống ở đây (còn Thúy Hà ở bụi trên Sài Gòn), Diễm Thùy tiếp viên cho một quán nước, Thanh Phương học một khóa “Ðông y” hành nghề mát-xa. Ðiện thoại di động, dây chuyền 2 chỉ của Thùy đã bán từ lâu, cả hai hứa sẽ về gia đình. Quả thật, ít hôm sau các em có về nhà, nhưng hôm sau lại ra Vũng Tàu để “đi làm”. Thùy được mẹ sắm lại di động để “tiện liên lạc”, còn bố mẹ Phương “chỉ biết thở dài, chẳng nhẽ dùng biện pháp mạnh buộc ở nhà. Thú thực, tôi rất lo cho tụi nó, nghề chúng làm rất... nhạy cảm, dễ dẫn vào con đường hư hỏng.”
Giảng viên tâm lý trường Cao Ðẳng Sư Phạm Ðồng Nai, cô Nguyễn Thị Thảo cho biết nguyên nhân khiến trẻ bỏ nhà đi: Tự bản thân, gia đình và xã hội. Ở bản thân, vì lứa tuổi dậy thì (11-16 tuổi) đang trong thời kỳ phát triển rất phức tạp, được các nhà tâm lý coi là bước ngoặt của cuộc đời: Giai đoạn chuyển tiếp, không còn trẻ con, chưa phải người lớn, tâm lý bắt đầu ý thức và khẳng định bản thân, muốn được đối xử như người lớn... Gia đình vợ chồng bất hòa, cha mẹ thiếu quan tâm, không có nhiều thời gian gần gũi, tâm sự với con cái làm các em chán, cảm thấy bị bỏ rơi trong khi xã hội với bao cám dỗ, luôn có những phần tử xấu lôi kéo, dụ dỗ. Trong nguyên nhân trên, theo ghi nhận của chúng tôi lý do chán gia đình bỏ nhà đi là chủ yếu.
* Cũng phải có phương pháp nào “giữ chân” đối với các em bỏ nhà đi bụi?
- Trước tiên phải tìm hiểu nguyên nhân mới có biện pháp phù hợp. Không nên dùng biện pháp mạnh với độ tuổi này, coi chừng phản tác dụng. Hiểu và cảm thông các em trong giáo dục sẽ cho hiệu quả tốt hơn. Ban đầu chủ yếu dùng tình cảm, tôn trọng và thuyết phục; tìm hiểu tâm tư nguyện vọng và giải đáp thỏa mãn cho trẻ.
Hương Duyên
Phóng sự của Hương Duyên/Người Việt
Thanh thiếu niên bỏ nhà đi hoang bây giờ không còn hiếm, đáng buồn, hiện trạng này đang có “xu hướng” lây lan thành “dạng mốt” trong giới trẻ, làm điên đầu các bậc phụ huynh. Có em được cha mẹ tìm thấy trở về gia đình, một số em không chịu về, thành trẻ em lang thang đường phố... Nguy hiểm hơn, với tuổi đời chưa có kinh nghiệm, các em dễ thành những nạn nhân của các tệ nạn xã hội: Ma túy, mại dâm, trộm cướp...
* Chuyện của các em học sinh
Thúy Hà, Diễm Thùy, Thanh Phương, (*) ba nữ sinh cùng lớp 12, trường PTTH. CVA, một ngày nọ các em “rủ nhau” bỏ học, trốn nhà... đi bụi. Phương đi có viết để lại một lá thư “gởi bố mẹ yêu quý” khẳng định “đấy không phải con bỏ đi hay là giận dỗi vì ai mà chính vì con đi là thích con đường này”. Phương không nói rõ “thích con đường này” là đi đâu, làm gì nhưng lại căn dặn kỹ từng anh chị em, bảo “bố bố mẹ yên tâm, đừng tìm kiếm và đừng nói cho ai, con sẽ về thăm bố mẹ thường xuyên”.
Hơn ba tuần tìm con, bố mẹ Phương trông hốc hác đến tội nghiệp. Nhắc đến con, người mẹ cứ rớm rớm nước mắt: “Nhà tuy nghèo nhưng bố mẹ, anh chị em sống thuận hòa, không hiểu sao nó dám bỏ nhà đi. Chắc chắn có bạn bè xấu rủ rê!” Hỏi dò các bạn, gia đình biết ước muốn của con “thích màu xanh, thích đi bộ đội”.
Người mẹ khốn khổ không quản ngại đã đạp xe đến hỏi tất cả các doanh trại quân đội đóng tại Biên Hòa mà vẫn không thấy bóng dáng con. Mượn đọc lá thư Phương, chúng tôi thử tìm nguyên nhân, mặc dù không rõ ràng, nhưng nhận thấy “động lực” chính là do kinh tế (?),từ đó nảy sinh những xích mích nho nhỏ giữa mẹ, chị em gái với nhau. Phương viết: “Gia đình mình cũng không đầy đủ và gặp nhiều khó khăn. Nhiều khi mẹ nóng chửi tụi con rất nhiều không chịu làm con thấy mà thương...”
Mặc cảm nghèo, chưa làm ra tiền cộng thêm những dồn nén từ những xích mích giữa chị em gái khi dùng đồ chung... nên khi thấy người bạn rủ đi làm, công việc đơn giản và lắm tiền Phương đã không ngần ngại “từ giã” gia đình.
Trường hợp của Diễm Thùy, phường Tân Phong lại khác. Bố mẹ đã ly dị từ hơn mười năm nay, Thùy ở với mẹ, là “con cưng” mỗi tháng ông bà ngoại ở nước ngoài gởi 300 đô la, mẹ cho hẳn 100 đô la để xài, được mẹ sắm xe máy, điện thoại di động... “Tôi không hiểu tại sao nó bỏ nhà đi. Tôi đâu để nó thiếu thốn, thiệt thua bạn bè. Nhà chỉ có hai mẹ con vui buồn bên nhau, giờ con đi nhà trống vắng, đơn chiếc lắm”, mẹ Thùy nói.
Chúng tôi tìm gặp cô giáo chủ nhiệm M.H, cô đang rất buồn vì một lúc mất ba đứa học trò. Cô M.H cho biết, trong ba đứa đi bụi cô “bất ngờ và tiếc nhất” là em Thanh Phương, vốn hiền, học lực khá, còn hai trường hợp kia “không thích học từ lâu, vô lớp chỉ đùa giỡn”. “Bây giờ học trò ghê lắm, động cái là bỏ đi. Xã hội ngày nay việc bỏ nhà ra đi không hiếm, vô tình khiến chúng có cảm tưởng bỏ nhà không gì quá đáng. Qua tìm hiểu, thành phần bỏ nhà hầu hết rơi vào gia đình không êm ấm, cha mẹ không thuận hòa, bỏ nhau”, cô M.H tâm sự.
Cuối niên học vừa qua (cuối tháng 4-2005), hai em gái mới học lớp 8, cùng lớp, cùng trường THÐ cũng bỏ nhà đi, làm hai gia đình ở cùng phường Trung Dũng (TP. Biên Hòa) một phen sốt vó chạy tìm kiếm. Người chú tinh thần M.S nói: “Gia đình mất ăn, mất ngủ, công việc làm ăn bị ngưng trệ, đang định đăng báo, lên truyền hình, cũng may hai ngày hôm sau tìm được tụi nó”. Cũng trong tháng 4 này, có ba em gái độ tuổi 13-15 ở xã Xuân Ðịnh (Xuân Lộc) buồn chuyện gia đình bỏ học, bỏ nhà đi, viết giấy để lại gia đình bảo đừng đi tìm, nhưng hơn 10 ngày sau gia đình mới tìm gặp đang sống trên Sài Gòn, đưa về gia đình.
* Tuổi... bó tay (?!)
Em San, con nhà anh Ðình (ở huyện Trảng Bom), 12 tuổi đã thành trẻ lang thang đường phố, ba lần được các anh chị làm công tác xã hội “gom” về trung tâm trẻ mồ côi (do San khai không có cha mẹ), sau phát hiện có gia đình, trả về nhưng chỉ được thời gian San lại bỏ đi. Gặp chúng tôi, anh Ðình đang bán vé số trả lời một cách thờ ơ: “Nó... lớn rồi (năm nay San mới 15 tuổi-NV), muốn làm gì thì làm. Tôi phải lo cày nuôi hai đứa em nó”.
Anh Ðình cho biết, anh “rất khổ”, khi đứa thứ ba sinh ra, còn đỏ hon hỏn thì vợ dứt bỏ ra đi. Ngoài ba đứa con nhỏ anh phải “kiêm” luôn bà chị không thật tính người. Cũng ở địa phương này, Trung là con trai duy nhất, chuyện bỏ nhà đi bụi đã trở thành bình thường. Anh Vần, cha em nói: “một, hai lần đầu bắt về, đánh dữ lắm, thậm chí xích lại không cho đi đâu nhưng nó chẳng sợ, càng trây lì hơn. Tôi đành... bó tay, trao phó cho ông trời thôi”. 16 tuổi, bỏ học năm lớp 8 bây giờ Trung lêu lổng, nhập băng nhóm, chuyên trộm cắp gà, chó, hoặc những thứ người dân để sơ hở.
Trường hợp ba em nữ sinh trường C.V.A kể trên, sau gần một tháng kiếm tìm gia đình mới biết đang sống ở Vũng Tàu (do các bạn thân cho biết vì Diễm Thùy gọi điện rủ các bạn ra Vũng Tàu chơi). Gia đình liền ra Vũng Tàu tìm kiếm mới biết chỉ có hai người sống ở đây (còn Thúy Hà ở bụi trên Sài Gòn), Diễm Thùy tiếp viên cho một quán nước, Thanh Phương học một khóa “Ðông y” hành nghề mát-xa. Ðiện thoại di động, dây chuyền 2 chỉ của Thùy đã bán từ lâu, cả hai hứa sẽ về gia đình. Quả thật, ít hôm sau các em có về nhà, nhưng hôm sau lại ra Vũng Tàu để “đi làm”. Thùy được mẹ sắm lại di động để “tiện liên lạc”, còn bố mẹ Phương “chỉ biết thở dài, chẳng nhẽ dùng biện pháp mạnh buộc ở nhà. Thú thực, tôi rất lo cho tụi nó, nghề chúng làm rất... nhạy cảm, dễ dẫn vào con đường hư hỏng.”
Giảng viên tâm lý trường Cao Ðẳng Sư Phạm Ðồng Nai, cô Nguyễn Thị Thảo cho biết nguyên nhân khiến trẻ bỏ nhà đi: Tự bản thân, gia đình và xã hội. Ở bản thân, vì lứa tuổi dậy thì (11-16 tuổi) đang trong thời kỳ phát triển rất phức tạp, được các nhà tâm lý coi là bước ngoặt của cuộc đời: Giai đoạn chuyển tiếp, không còn trẻ con, chưa phải người lớn, tâm lý bắt đầu ý thức và khẳng định bản thân, muốn được đối xử như người lớn... Gia đình vợ chồng bất hòa, cha mẹ thiếu quan tâm, không có nhiều thời gian gần gũi, tâm sự với con cái làm các em chán, cảm thấy bị bỏ rơi trong khi xã hội với bao cám dỗ, luôn có những phần tử xấu lôi kéo, dụ dỗ. Trong nguyên nhân trên, theo ghi nhận của chúng tôi lý do chán gia đình bỏ nhà đi là chủ yếu.
* Cũng phải có phương pháp nào “giữ chân” đối với các em bỏ nhà đi bụi?
- Trước tiên phải tìm hiểu nguyên nhân mới có biện pháp phù hợp. Không nên dùng biện pháp mạnh với độ tuổi này, coi chừng phản tác dụng. Hiểu và cảm thông các em trong giáo dục sẽ cho hiệu quả tốt hơn. Ban đầu chủ yếu dùng tình cảm, tôn trọng và thuyết phục; tìm hiểu tâm tư nguyện vọng và giải đáp thỏa mãn cho trẻ.
Hương Duyên
Xử vụ tham nhũng ngành dầu khí: Trần Ngọc Giao được “ở trên” bảo kê
Sunday, October 09, 2005
VŨNG TÀU - Vụ án tham nhũng trong ngành dầu khí CSVN bắt đầu xử ở Vũng Tàu từ ngày 5-10-2005 vừa qua. Hiện mới đang trong giai đoạn chất vấn các nghi phạm về các sự truy tố “cố ý làm trái về quản lý kinh tế gây thiệt hại nghiêm trọng” và “tham ô tài sản nhà nước”. Gần hết các quan chức lãnh đạo ngành dầu khí CSVN đã bị bắt giam và điều tra về các vụ làm ăn phi pháp gây thiệt hại cho ngân sách hàng chục triệu đô la. Theo luật lệ hình Sự CSVN, những người này có thể bị án tù nặng nề tới tử hình. Viên chức cao cấp nhất trong vụ này bị bắt giam là Nguyễn quang Thường, phó tổng giám đốc Petro Vietnam.
Ngày Thứ Sáu mùng 7-10-05, cuộc thẩm vấn tại tòa nguyên chủ tịch công ty Interpet VN, Trần ngọc Giao, hé lộ phần nào cho thấy ông này đã được “bảo kê” từ “trên cao” ra sao để trốn tránh một thời gian dài, kể cả việc ra ngoại quốc.
Báo Lao Ðộng ngày 8-10-2005: Ngày 7.10, Hội đồng xét xử (HÐXX) tiến hành thẩm vấn Trần Ngọc Giao (nguyên là Chủ tịch HÐQT Cty Interpet VN, được xem là cánh tay mặt của Trần Quang). Tháng 11.2002, Cơ quan điều tra Bộ Công an tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can Trần Ngọc Giao với tội danh “giả mạo giấy chứng nhận tài liệu cơ quan nhà nước và tiết lộ bí mật quốc gia”. Toàn bộ hồ sơ được chuyển giao cho Viện Kiểm sát Tối cao phê chuẩn lệnh bắt tạm giam Trần Ngọc Giao.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ, Viện Kiểm sát Tối cao chính thức có công văn từ chối phê chuẩn bắt, tạm giam Trần Ngọc Giao và yêu cầu tiếp tục củng cố hồ sơ (lần thứ nhất). Sau hơn 2 tháng, Bộ Công an có công văn (số 33/ANÐT) đề nghị Viện Kiểm sát Tối cao xem xét phê chuẩn lệnh bắt tạm giam Trần Ngọc Giao. Viện Kiểm sát Tối cao từ chối phê chuẩn lần thứ hai.
Hai tháng sau, khi đã thu thập khá đầy đủ chứng cứ, Bộ Công an lại có công văn đề nghị phê chuẩn tạm giam, nhưng Viện Kiểm sát Tối cao lại tiếp tục từ chối. Cũng trong giai đoạn này, Cơ quan điều tra nhiều lần triệu tập nhưng Trần Ngọc Giao đều không đến.
Trần Ngọc Giao khai: “Vào giữa năm 2002, có nhiều tin đồn về khả năng bị cáo sẽ bị bắt. Lúc này anh Trần Quang lại có vẻ lo âu, làm bị cáo rất hoang mang. Một hôm anh Quang gọi đến giới thiệu anh Ðức và cho biết anh Ðức là người bạn Hà Nội, có rất nhiều mối quan hệ rộng rãi... cứ yên tâm; anh Ðức hứa mọi việc không có gì đâu mà lo nghĩ”. HÐXX hỏi: “Anh Ðức là ai?” Bị cáo Trần Ngọc Giao: “Thưa, chỉ biết anh là Dương Minh Ðức”.
Theo sự “chỉ đạo” của Ðức, Trần Ngọc Giao ra Hà Nội, rồi qua Trung Quốc. Sau đó, Ðức lại yêu cầu Giao tiếp tục đi những nước được miễn thị thực nhập cảnh có thời hạn. Tháng 12.2002, “Ðức yêu cầu qua Singapore gặp Ðức. Tại đây, Ðức cho biết mọi việc phải chờ một thời gian nữa, và Ðức đưa 3,000USD, một địa chỉ - và nói khi nào cần tiền thì đến đó lấy” - Giao khai. Sau khi bắt tạm giam Trần Quang, cơ quan điều tra xác định được Dương Minh Ðức chính là nhân vật đã tổ chức cho Trần Ngọc Giao ra nước ngoài theo yêu cầu của Trần Quang. Dương Minh Ðức đã xuất cảnh đi CHLB Ðức. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã Dương Minh Ðức.
Tuy nhiên, Dương Minh Ðức là ai? Sao lại có khả năng “siêu” đến như vậy, không thấy tờ báo Lao Ðộng giới thiệu”. Hiển nhiên, tay Ðức này cũng vẫn chỉ là một người nhận thi hành chỉ thị từ một người có thẩm quyền rất lớn ở Hà Nội. Trong cung cách này, người ta chỉ xử được các kẻ tham nhũng tép riu được đẩy ra làm vật tế thần.
Sunday, October 09, 2005
VŨNG TÀU - Vụ án tham nhũng trong ngành dầu khí CSVN bắt đầu xử ở Vũng Tàu từ ngày 5-10-2005 vừa qua. Hiện mới đang trong giai đoạn chất vấn các nghi phạm về các sự truy tố “cố ý làm trái về quản lý kinh tế gây thiệt hại nghiêm trọng” và “tham ô tài sản nhà nước”. Gần hết các quan chức lãnh đạo ngành dầu khí CSVN đã bị bắt giam và điều tra về các vụ làm ăn phi pháp gây thiệt hại cho ngân sách hàng chục triệu đô la. Theo luật lệ hình Sự CSVN, những người này có thể bị án tù nặng nề tới tử hình. Viên chức cao cấp nhất trong vụ này bị bắt giam là Nguyễn quang Thường, phó tổng giám đốc Petro Vietnam.
Ngày Thứ Sáu mùng 7-10-05, cuộc thẩm vấn tại tòa nguyên chủ tịch công ty Interpet VN, Trần ngọc Giao, hé lộ phần nào cho thấy ông này đã được “bảo kê” từ “trên cao” ra sao để trốn tránh một thời gian dài, kể cả việc ra ngoại quốc.
Báo Lao Ðộng ngày 8-10-2005: Ngày 7.10, Hội đồng xét xử (HÐXX) tiến hành thẩm vấn Trần Ngọc Giao (nguyên là Chủ tịch HÐQT Cty Interpet VN, được xem là cánh tay mặt của Trần Quang). Tháng 11.2002, Cơ quan điều tra Bộ Công an tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can Trần Ngọc Giao với tội danh “giả mạo giấy chứng nhận tài liệu cơ quan nhà nước và tiết lộ bí mật quốc gia”. Toàn bộ hồ sơ được chuyển giao cho Viện Kiểm sát Tối cao phê chuẩn lệnh bắt tạm giam Trần Ngọc Giao.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ, Viện Kiểm sát Tối cao chính thức có công văn từ chối phê chuẩn bắt, tạm giam Trần Ngọc Giao và yêu cầu tiếp tục củng cố hồ sơ (lần thứ nhất). Sau hơn 2 tháng, Bộ Công an có công văn (số 33/ANÐT) đề nghị Viện Kiểm sát Tối cao xem xét phê chuẩn lệnh bắt tạm giam Trần Ngọc Giao. Viện Kiểm sát Tối cao từ chối phê chuẩn lần thứ hai.
Hai tháng sau, khi đã thu thập khá đầy đủ chứng cứ, Bộ Công an lại có công văn đề nghị phê chuẩn tạm giam, nhưng Viện Kiểm sát Tối cao lại tiếp tục từ chối. Cũng trong giai đoạn này, Cơ quan điều tra nhiều lần triệu tập nhưng Trần Ngọc Giao đều không đến.
Trần Ngọc Giao khai: “Vào giữa năm 2002, có nhiều tin đồn về khả năng bị cáo sẽ bị bắt. Lúc này anh Trần Quang lại có vẻ lo âu, làm bị cáo rất hoang mang. Một hôm anh Quang gọi đến giới thiệu anh Ðức và cho biết anh Ðức là người bạn Hà Nội, có rất nhiều mối quan hệ rộng rãi... cứ yên tâm; anh Ðức hứa mọi việc không có gì đâu mà lo nghĩ”. HÐXX hỏi: “Anh Ðức là ai?” Bị cáo Trần Ngọc Giao: “Thưa, chỉ biết anh là Dương Minh Ðức”.
Theo sự “chỉ đạo” của Ðức, Trần Ngọc Giao ra Hà Nội, rồi qua Trung Quốc. Sau đó, Ðức lại yêu cầu Giao tiếp tục đi những nước được miễn thị thực nhập cảnh có thời hạn. Tháng 12.2002, “Ðức yêu cầu qua Singapore gặp Ðức. Tại đây, Ðức cho biết mọi việc phải chờ một thời gian nữa, và Ðức đưa 3,000USD, một địa chỉ - và nói khi nào cần tiền thì đến đó lấy” - Giao khai. Sau khi bắt tạm giam Trần Quang, cơ quan điều tra xác định được Dương Minh Ðức chính là nhân vật đã tổ chức cho Trần Ngọc Giao ra nước ngoài theo yêu cầu của Trần Quang. Dương Minh Ðức đã xuất cảnh đi CHLB Ðức. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã Dương Minh Ðức.
Tuy nhiên, Dương Minh Ðức là ai? Sao lại có khả năng “siêu” đến như vậy, không thấy tờ báo Lao Ðộng giới thiệu”. Hiển nhiên, tay Ðức này cũng vẫn chỉ là một người nhận thi hành chỉ thị từ một người có thẩm quyền rất lớn ở Hà Nội. Trong cung cách này, người ta chỉ xử được các kẻ tham nhũng tép riu được đẩy ra làm vật tế thần.
Mưa lũ miền Trung: 11 người chết và 60,000 nhà ngập nước
HÀ NỘI.- Những trận mưa lụt liên tiếp trong những ngày mùng 7 đến mùng 9 Tháng Mười 2005 đã làm cho 11 người thiệt mạng tại miền Trung Việt Nam, theo tin của hãng thông tấn chính thức nhà nước CSVN.
Theo báo điện tử VietNamNet ngày 10 Tháng Mười 2005, ngoài số người chết còn có khoảng 43,848 ngôi nhà bị ngập nặng và làm cho nhiều tuyến đường giao thông ách tắc nghiêm trọng.
VietNamNet: Trong 3 ngày từ 7 đến 9 Tháng Mười, do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới kết hợp với không khí lạnh nên những tỉnh miền Trung từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế đã có mưa to đến rất to.
Lượng mưa đo được phổ biến ở mức 250-300mm. Ðặc biệt, vùng trung tâm mưa ở Quảng Trị và Thừa Thiên Huế có lượng mưa lên đến 350-400mm, thâm chí một số nơi có lượng mưa trên 450mm, như Kim Long (Huế): 476mm, trạm thủy văn Ðông Hà (Quảng Trị) 600mm...
Cũng do mưa lớn, lũ trên những sông từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế lên nhanh, gây ra hậu quả rất nặng nề. Tại Quảng Bình, 17 xã ở những huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh ngập sâu trong nước. Ðập ngăn mặn Mỹ Trung trên sông Kiến Giang bị vỡ làm 11 cánh cửa ngăn nước bằng bê tông bị hỏng nặng, gây thiệt hại ước tính khoảng 11 tỷ đồng. Ðê bao ở hai huyện này cũng bị ngập chìm trong nước...
Tại tỉnh Quảng Trị, 28 xã, phường thuộc 6 huyện thị bị “dìm” trong biển nước, ngập sâu từ 0.8 mét đến 1.5 mét. Ở huyện Cam Lộ, nước sông Hiếu dâng cao làm hàng trăm hộ dân những xã Cam Tuyền, Cam Hiếu và Cam Thủy bị ngập sâu 2 mét đến 3 mét, người dân buộc phải di dời lên đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 9 để tránh lũ.
Nhiều đoạn đường quốc lộ 1A chạy qua địa phận huyện Triệu Phong do nước sông Thạch Hãn lên cao đã bị ách tắc do ngập lụt.
Ðến cuối ngày 9 Tháng Mười, mưa lớn gây ra lũ lụt tại những tỉnh miền Trung đã làm 3 người chết, 2 người mất tích và 9 người bị thương. Trong 3 nạn nhân xấu số có 2 người ở Quảng Trị (huyện Gio Linh và Vĩnh Linh), 1 người ở Thừa Thiên Huế. 30,000 hộ dân bị ngập nặng, trong đó riêng Quảng Trị có đến 25,000, Quảng Bình 5,000 hộ. Tại Thừa Thiên Huế, lũ làm 3 nhà bị sập, 77 ngôi nhà bị hư hỏng, tốc mái...
Giao thông tại những tỉnh miền Trung này cũng bị ách tác nhiều đoạn, do đường bị ngập nặng. Ở Quảng Trị, quốc lộ 1A ngập sâu 0.8 mét, những tuyến đường giao thông liên xã ngập sâu 0.7 mét đến 1 mét. Quảng Bình, tỉnh lộ 16 đoạn Lệ Thủy-Mai Thủy ngập 0.8 mét, đặc biệt đoạn quốc lộ 12 cầu Ðồ Lê ngập đến 1.5 mét. Ở Thừa Thiên Huế, những tuyến đường quốc lộ 49B, tỉnh lộ ÐT4, ÐT8A bị ngập sâu từ 0.5 mét đến 0.8 mét.
Theo những tin tức ngày hôm qua, vì lũ lên nhanh, dân chúng chỉ kịp chạy lấy người nên có nguy cơ đói. Không những đói ngay trước mặt mà còn đói vì mùa màng hư hại.
HÀ NỘI.- Những trận mưa lụt liên tiếp trong những ngày mùng 7 đến mùng 9 Tháng Mười 2005 đã làm cho 11 người thiệt mạng tại miền Trung Việt Nam, theo tin của hãng thông tấn chính thức nhà nước CSVN.
Theo báo điện tử VietNamNet ngày 10 Tháng Mười 2005, ngoài số người chết còn có khoảng 43,848 ngôi nhà bị ngập nặng và làm cho nhiều tuyến đường giao thông ách tắc nghiêm trọng.
VietNamNet: Trong 3 ngày từ 7 đến 9 Tháng Mười, do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới kết hợp với không khí lạnh nên những tỉnh miền Trung từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế đã có mưa to đến rất to.
Lượng mưa đo được phổ biến ở mức 250-300mm. Ðặc biệt, vùng trung tâm mưa ở Quảng Trị và Thừa Thiên Huế có lượng mưa lên đến 350-400mm, thâm chí một số nơi có lượng mưa trên 450mm, như Kim Long (Huế): 476mm, trạm thủy văn Ðông Hà (Quảng Trị) 600mm...
Cũng do mưa lớn, lũ trên những sông từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế lên nhanh, gây ra hậu quả rất nặng nề. Tại Quảng Bình, 17 xã ở những huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh ngập sâu trong nước. Ðập ngăn mặn Mỹ Trung trên sông Kiến Giang bị vỡ làm 11 cánh cửa ngăn nước bằng bê tông bị hỏng nặng, gây thiệt hại ước tính khoảng 11 tỷ đồng. Ðê bao ở hai huyện này cũng bị ngập chìm trong nước...
Tại tỉnh Quảng Trị, 28 xã, phường thuộc 6 huyện thị bị “dìm” trong biển nước, ngập sâu từ 0.8 mét đến 1.5 mét. Ở huyện Cam Lộ, nước sông Hiếu dâng cao làm hàng trăm hộ dân những xã Cam Tuyền, Cam Hiếu và Cam Thủy bị ngập sâu 2 mét đến 3 mét, người dân buộc phải di dời lên đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 9 để tránh lũ.
Nhiều đoạn đường quốc lộ 1A chạy qua địa phận huyện Triệu Phong do nước sông Thạch Hãn lên cao đã bị ách tắc do ngập lụt.
Ðến cuối ngày 9 Tháng Mười, mưa lớn gây ra lũ lụt tại những tỉnh miền Trung đã làm 3 người chết, 2 người mất tích và 9 người bị thương. Trong 3 nạn nhân xấu số có 2 người ở Quảng Trị (huyện Gio Linh và Vĩnh Linh), 1 người ở Thừa Thiên Huế. 30,000 hộ dân bị ngập nặng, trong đó riêng Quảng Trị có đến 25,000, Quảng Bình 5,000 hộ. Tại Thừa Thiên Huế, lũ làm 3 nhà bị sập, 77 ngôi nhà bị hư hỏng, tốc mái...
Giao thông tại những tỉnh miền Trung này cũng bị ách tác nhiều đoạn, do đường bị ngập nặng. Ở Quảng Trị, quốc lộ 1A ngập sâu 0.8 mét, những tuyến đường giao thông liên xã ngập sâu 0.7 mét đến 1 mét. Quảng Bình, tỉnh lộ 16 đoạn Lệ Thủy-Mai Thủy ngập 0.8 mét, đặc biệt đoạn quốc lộ 12 cầu Ðồ Lê ngập đến 1.5 mét. Ở Thừa Thiên Huế, những tuyến đường quốc lộ 49B, tỉnh lộ ÐT4, ÐT8A bị ngập sâu từ 0.5 mét đến 0.8 mét.
Theo những tin tức ngày hôm qua, vì lũ lên nhanh, dân chúng chỉ kịp chạy lấy người nên có nguy cơ đói. Không những đói ngay trước mặt mà còn đói vì mùa màng hư hại.

