Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Cái đẹp làm xẹp cái nết
Bạn hiền!
Hôm nay BTL tôi mạn phép nói chuyện nhan sắc. Nhan sắc,dung nhan, sắc đẹp, diện mạo, ngoại hình, đều đồng một nghĩa như nhau, có nghĩa là cái vẻ đẹp bên ngoài,chỉ là một cái bình phong mà thôi, nhưng cái bình phong đó lại trở nên rất quan trọng đối với nhiềungười. Bởi vậy mới có câu "cái đẹp đè bẹp cái nết" mà lị! Có nhiều tên háo sắc tự biện hộ rằng phải cần có bồ đẹp để dẫn đi chơi khỏi phải xấu hổ với bạn bè. Có tên còn đi xa hơn, nói là phải có vợ đẹp để sau này có con xinh đặng nở mặt nở màyvới thiên hạ.
Nói đến đây làm BTL tôi nhớ đến thằng bạn háo sắc.Tên này thuộc loại kén vợ có một không hai trên đời. Ngoài chuyện muốn sau này con của hắn phải xinh đẹp ra, hắn còn lý luận rằng người vợ tương lai của hắn phải thuộc loại "nước đổ nghiêng thùng", "chim sa cá lặn". Quan niệm của hắn nghe cũng có lý; hắn nói hắn biết rõ hắn thuộc loại háo sắc, nên cần phải chọn vợ đẹp, chứ lấy vợ xấu về hắn sợ sau này hắn đâm ra nhàm chán, rồi lem nhem, lập phòng nhì không hay.Bởi vậy cho đến gần bốn bó hắn mới chịu lấy vợ,mà vợ đẹp thật, cỡ Thẩm Thúy Hằng chứ không phải chơi đâu. Hơn nữa vợ hắn lại là một cô gái, tuy sống ở Mỹ đã lâu năm, nhưng vẫn còn rất Việt Nam tính, nết na thùy mi, không chê điểm nào được. Ở cái xó rừng miền Nam này, con gái Việt Nam hiếm hoi, do đó khi hắn qua Cali rước về một em đẹp cả trong lẫn ngoài như vậy, làm anh em ai cũng phải phục lăn!
Hai vợ chồng sống trong hạnh phúc được chừng hai năm thì bắt đầu có sóng gió, khi đứa con gái đầu lòng của họ chào đời. Hỡi ôi! Sao con cái gì mà không có giống bố mẹ chút nào hết, mũi thì tẹt lét và thô kệch, mắt ti hí như 2 sợi chỉ, môi thì dầy như môi Mỹ đen, trong khi đó cả hắn và vợ hắn đều mũi dọc dừa, mắt hai mí, môi mỏng. Chẳng lẽ đây không phải là con của hắn. Hắn đâm ra nghi ngờ đám bạn của hắn,nhất là mấy thằng bạn mặt mày xấu xí khó coi. Bị hắn cật vấn quá nàng đành phải khai thật là trước khi quen hắn, nàng đã bỏ ra mười ngàn đô-la qua Texas để thẩm mỹ viện của bà Hạnh Phước tân trang lại cái dung nhan mùa hạ! Hắn cũng chưa tin, cho đến khi nàng đưa cho hắn xem mấy tấm hình nàng chụp trước kia.Đến nước này thì hắn phải tin là hắn thật sự bị vỡ mộng.
Ở cái thời mà con người có thể thay đổi đấng tạo hóa, có thể sao y bản chánh (cloning) sự sống của nhânloài, thì chuyện biến đổi dung nhan, hay còn gọi là sửa sắc đẹp, chỉ là chuyện nhỏ. Bởi thế mấy chàng độc thân sắp lấy vợ chàng nào cũng rét run, không biết hư thực ra sao. Nhất là ở xứ Cali, khi phong trào sửa sắc đẹp trở nên rất thịnh hành, làm cho người ta rối trí, vàng thau lẫn lộn biết đâu mà lần. Chẳng lẽ mới quennhau lại phải điều tra, nói em cho anh xem hình em thuở còn tắm mưa ở truồng? Thật là nan giải quá đi thôi!
Khỏi phải nói xa, chính bạn học của BTL tôi nè, mấy nànglâu ngày gặp lại trông khác lạ làm sao đó, càng lớn tuổi càng trẻ ra! Hồi xưa mắt ti hí giống Đại Hàn,về già tự nhiên to ra, có thêm mí (giống ca sĩ ElvisPhương). Chỉ tội nghiệp cho mấy thằng bạn tôi, tức là chồng của mấy nàng, trong khi tụi nó càng ngày càng già sụm thì vợ của chúng nó càng ngày càng phơi phới xuân thì.
Dân Việt Nam mình ví rằng: "Cali đi dễ khó về" một phần là vì con gái Việt Nam bên Cali đẹp không đâu sánh bằng. Nhưng cái đẹp đó có phải là cái đẹp trời cho hay không, bạn hiền cần phải xét lại. Và nếu sau này, bạn hiền có dịp ghé Cali chơi, thấy đàn bà, con gái Việt Nam bên Cali ai cũng sắc nước hương trời, nhớ lại lời nhận xét của BTL tôi, xin bạn hiền chớ có lấy làm ngạc nhiên.
B.T.L
Hôm nay BTL tôi mạn phép nói chuyện nhan sắc. Nhan sắc,dung nhan, sắc đẹp, diện mạo, ngoại hình, đều đồng một nghĩa như nhau, có nghĩa là cái vẻ đẹp bên ngoài,chỉ là một cái bình phong mà thôi, nhưng cái bình phong đó lại trở nên rất quan trọng đối với nhiềungười. Bởi vậy mới có câu "cái đẹp đè bẹp cái nết" mà lị! Có nhiều tên háo sắc tự biện hộ rằng phải cần có bồ đẹp để dẫn đi chơi khỏi phải xấu hổ với bạn bè. Có tên còn đi xa hơn, nói là phải có vợ đẹp để sau này có con xinh đặng nở mặt nở màyvới thiên hạ.
Nói đến đây làm BTL tôi nhớ đến thằng bạn háo sắc.Tên này thuộc loại kén vợ có một không hai trên đời. Ngoài chuyện muốn sau này con của hắn phải xinh đẹp ra, hắn còn lý luận rằng người vợ tương lai của hắn phải thuộc loại "nước đổ nghiêng thùng", "chim sa cá lặn". Quan niệm của hắn nghe cũng có lý; hắn nói hắn biết rõ hắn thuộc loại háo sắc, nên cần phải chọn vợ đẹp, chứ lấy vợ xấu về hắn sợ sau này hắn đâm ra nhàm chán, rồi lem nhem, lập phòng nhì không hay.Bởi vậy cho đến gần bốn bó hắn mới chịu lấy vợ,mà vợ đẹp thật, cỡ Thẩm Thúy Hằng chứ không phải chơi đâu. Hơn nữa vợ hắn lại là một cô gái, tuy sống ở Mỹ đã lâu năm, nhưng vẫn còn rất Việt Nam tính, nết na thùy mi, không chê điểm nào được. Ở cái xó rừng miền Nam này, con gái Việt Nam hiếm hoi, do đó khi hắn qua Cali rước về một em đẹp cả trong lẫn ngoài như vậy, làm anh em ai cũng phải phục lăn!
Hai vợ chồng sống trong hạnh phúc được chừng hai năm thì bắt đầu có sóng gió, khi đứa con gái đầu lòng của họ chào đời. Hỡi ôi! Sao con cái gì mà không có giống bố mẹ chút nào hết, mũi thì tẹt lét và thô kệch, mắt ti hí như 2 sợi chỉ, môi thì dầy như môi Mỹ đen, trong khi đó cả hắn và vợ hắn đều mũi dọc dừa, mắt hai mí, môi mỏng. Chẳng lẽ đây không phải là con của hắn. Hắn đâm ra nghi ngờ đám bạn của hắn,nhất là mấy thằng bạn mặt mày xấu xí khó coi. Bị hắn cật vấn quá nàng đành phải khai thật là trước khi quen hắn, nàng đã bỏ ra mười ngàn đô-la qua Texas để thẩm mỹ viện của bà Hạnh Phước tân trang lại cái dung nhan mùa hạ! Hắn cũng chưa tin, cho đến khi nàng đưa cho hắn xem mấy tấm hình nàng chụp trước kia.Đến nước này thì hắn phải tin là hắn thật sự bị vỡ mộng.
Ở cái thời mà con người có thể thay đổi đấng tạo hóa, có thể sao y bản chánh (cloning) sự sống của nhânloài, thì chuyện biến đổi dung nhan, hay còn gọi là sửa sắc đẹp, chỉ là chuyện nhỏ. Bởi thế mấy chàng độc thân sắp lấy vợ chàng nào cũng rét run, không biết hư thực ra sao. Nhất là ở xứ Cali, khi phong trào sửa sắc đẹp trở nên rất thịnh hành, làm cho người ta rối trí, vàng thau lẫn lộn biết đâu mà lần. Chẳng lẽ mới quennhau lại phải điều tra, nói em cho anh xem hình em thuở còn tắm mưa ở truồng? Thật là nan giải quá đi thôi!
Khỏi phải nói xa, chính bạn học của BTL tôi nè, mấy nànglâu ngày gặp lại trông khác lạ làm sao đó, càng lớn tuổi càng trẻ ra! Hồi xưa mắt ti hí giống Đại Hàn,về già tự nhiên to ra, có thêm mí (giống ca sĩ ElvisPhương). Chỉ tội nghiệp cho mấy thằng bạn tôi, tức là chồng của mấy nàng, trong khi tụi nó càng ngày càng già sụm thì vợ của chúng nó càng ngày càng phơi phới xuân thì.
Dân Việt Nam mình ví rằng: "Cali đi dễ khó về" một phần là vì con gái Việt Nam bên Cali đẹp không đâu sánh bằng. Nhưng cái đẹp đó có phải là cái đẹp trời cho hay không, bạn hiền cần phải xét lại. Và nếu sau này, bạn hiền có dịp ghé Cali chơi, thấy đàn bà, con gái Việt Nam bên Cali ai cũng sắc nước hương trời, nhớ lại lời nhận xét của BTL tôi, xin bạn hiền chớ có lấy làm ngạc nhiên.
B.T.L
Con gái và hở hang
Cho tới tận bây giờ, các nhà sử học vẫn và sẽ còn tiếp tục cãi nhau xem đâu là cái rìu đầu tiên, đâu là con dao đầu tiên, đâu là cái máy vi tính, máy pha cà phê đầu tiên... do loài người nghĩ ra. Chỉ có một thứ không thấy ai tranh luận: đâu là bộ quần áo đầu tiên của sinh vật bậc cao ấy! Có lẽ vì một lý do giản dị: đối với loài người, ít ra là thuở ban đầu, quần áo không quan trọng.
Rõ ràng loài khỉ (có ý kiến nói rằng loài đười ươi) trở nên văn minh nhờ biết đi thẳng hai chân, biết tìm ra lửa, tìm ra các công cụ lao động, chứ không phải tìm ra thời trang. Suy nghĩ này có thể làm phật lòng các nhà tạo mẫu hoặc các chủ cửa hàng bán vải nhưng tôi xin phép bảo lưu, tối thiểu là trong thời kỳ nguyên thủy.
Tóm lại, lúc mới xuất hiện, con người rất hở hang.
Trong tài liệu của: “Sở lưu trữ đoàn truyền giáo hải ngoại” do các tu sĩ phương Tây mới đặt chân tới Việt Nam cách đây vài thế kỷ đều miêu tả: dân chúng ăn mặc rất sơ sài, trẻ con từ mười mấy tuổi trở xuống đều không vận gì cả.
Nhưng may quá, cuộc sống đổi thay. Quần áo ngày càng trở nên quan trọng theo nhiều nghĩa. Cơ bản nhất, ngày trước thì mặc lắm hơn có nghĩa là sang hơn. Chả thế mà có câu ca dao:
“Hơn nhau tấm áo manh quần.
Đến khi bóc trần ai cũng như ai”
Sự phân hóa giai cấp do trang phục mang lại ngày càng lớn, đến mức người ta phải giải quyết bằng truyện Chử Đồng Tử với Tiên Dung. Một nàng công chúa và một anh thổi sáo chỉ lấy được nhau khi rơi vào hoàn cảnh... chẳng mặc gì. Bởi lúc đó họ mới bình đẳng.
Nếu tôi là một nhà tạo mẫu, và tôi được phép chia lịch sử theo ý mình, tôi sẽ chia đơn giản thành hai thời kỳ: mặc và không mặc.
Những người trong lứa tuổi tôi lớn lên trong thời đại mặc, điều ấy không còn gì phải bàn cãi. Thậm chí, mặc hoàn toàn giống nhau. Bắt đầu từ khi tôi biết quan sát, nghĩa là từ khoảng những năm 60, các cô gái (ngay từ đó, tôi đã ít để ý tới các chàng trai) đều quần đen, áo sơ mi dài tay, cổ bẻ. Mặc áo không cổ thì vô cùng kinh khủng. Thử tưởng tượng nếu lúc ấy có một nàng mặc áo hai dây thì khéo sẽ bị bà con (thậm chí bố mẹ) băm ra hàng trăm mảnh.
Không một ai dám nghĩ tới hở hang chứ đừng nói dám khoác các của nợ đó vô người.
Ấy vậy mà ngay từ thời đại “sắt” đó, tôi đã đọc được ở đâu rằng, vẻ đẹp thân thể là vẻ đẹp cao nhất, và tranh hay ảnh khỏa thân nghệ thuật rất đáng trân trọng.
Nghĩa là về lý thuyết, xã hội lúc ấy cũng không hề tụt hậu. Nhưng chỉ là lý thuyết mà thôi.
Bốn mươi năm đã trôi qua. Lúc này là thời kỳ không mặc! Ôi, đừng! Viết thế thì chết. Hãy nói nhẹ hơn: thời kỳ của bớt mặc.
Có thể nói về trang phục, cả thế giới đang tiến tới chỗ ngày giảm mặc hơn. Áo hai dây đã trở thành bình thường. Áo không dây đang tiến lên, áo không lưng đang xông vào vạch xuất phát.
Quần lưng xệ đang được rút bớt thành bụng xệ, và đã có nhiều sự cách tân khi cả trước và sau đều xệ. Quần soọc ngày càng chật và ngày càng... xơ ra.
(Và thật kinh ngạc làm sao, trang phục càng nhỏ càng đắt (nhất là trang phục lót) hình như đây là âm mưu toàn cầu của người bán vải?)
Bất chấp những lời phản đối, bất chấp những dư luận nẩy lửa, những roi vọt của xã hội, xiêm y của các cô (và số ít các bà) ngày càng thoáng. Trong cuộc đại chiến vĩ đại đó, phe “bảo thủ” đang rút lui dần dần, phe cách tân đang từ từ tiến lên, để lại trên chiến trường vô số... thương binh và thậm chí không thiếu gì... xác chết!
Đấy là một cuộc xung đột không thể nhận thấy (khác hẳn với cuộc chiến Trung Đông được miêu tả hàng phút trên ti vi), mà rất nhiều chiến binh, loại nhát gan là người của... cả hai phe, liên tục phản bội lí tưởng của mình tuỳ theo dư luận!
Nhưng hễ cứ vài năm nhìn lại, ta sẽ thấy một thực tế (phũ phàng): độ hở hang ngày càng cao, phe “thoáng mát” ngày càng thắng! Nghĩa là sao?
Tôi biết chắc con người luôn được cảnh báo về thảm họa HIV, thảm họa cúm gà, thảm họa hạt nhân... nhưng chưa có một chữ nào, một nhà khoa học đáng kính nào cảnh báo thế giới về thảm họa hở hang cả.
Viết tới đây, nhất định có người bảo: Hay đó là một thảm họa văn hóa?
Văn hóa ư? Suy cho cùng văn hóa là gì? Là biểu hiện tinh thần của chúng ta trước quan hệ xã hội.
Mà những quan hệ ấy không hề bất biến. Càng không hề đơn giản chỉ đo bằng cách mặc bao nhiêu và hở bao nhiêu.
Có một bằng chứng là những nước nổi tiếng về hở hang như Thụy Điển, Đức hoặc Hà Lan... đều là những nước có nền văn minh cao, rất đáng để nhiều dân tộc... thèm muốn (tôi không dám dùng chữ bắt chước) về rất nhiều lĩnh vực, kể cả văn hóa. Những ai đã từng sang đấy, đều nhận thấy một cách rõ ràng là tất cả mọi công dân đều được tôn trọng, không phụ thuộc vào tôn giáo, trình độ văn hoá, giới tính và... lượng vải trên người!
Viết tới đây, lập tức có nhà phê bình bảo: Chúng ta không thế, chúng ta có bản sắc khác, chúng ta theo tập tục khác.
Vâng, tôi không thể cãi được điều này. Một cách thành thực, tôi cũng tin nói vậy là đúng!
Và rất nhiều thanh niên hiện nay cũng không cãi, song họ cứ mặc ít dần.
Phải làm thế nào bây giờ? Phải viết những bài báo cũ rích kiểu như “ăn mặc cần đúng lúc, đúng chỗ, đúng tuổi tác, đúng phong tục tập quán. Ăn mặc phải vừa tôn vẻ đẹp cơ thể, phải vừa cho xung quanh thấy sự nền nã, đoan trang...”. Những bài như thế thì đầy, và cần gì học cao mới sáng tác được.
Sốt ruột quá nhỉ. Có vị sẽ gắt: Nói nhanh lên, ông kia, ông thích hở hang à?
Tôi không nói (kinh nghiệm đã cho tôi thấy, hở hang ý nghĩ còn tai hại hơn hở hang cơ thể). Tôi chỉ bảo rằng: tôi không thích những ai thấy người ta hở hang, vội bảo người ta là xấu!/.
Rõ ràng loài khỉ (có ý kiến nói rằng loài đười ươi) trở nên văn minh nhờ biết đi thẳng hai chân, biết tìm ra lửa, tìm ra các công cụ lao động, chứ không phải tìm ra thời trang. Suy nghĩ này có thể làm phật lòng các nhà tạo mẫu hoặc các chủ cửa hàng bán vải nhưng tôi xin phép bảo lưu, tối thiểu là trong thời kỳ nguyên thủy.
Tóm lại, lúc mới xuất hiện, con người rất hở hang.
Trong tài liệu của: “Sở lưu trữ đoàn truyền giáo hải ngoại” do các tu sĩ phương Tây mới đặt chân tới Việt Nam cách đây vài thế kỷ đều miêu tả: dân chúng ăn mặc rất sơ sài, trẻ con từ mười mấy tuổi trở xuống đều không vận gì cả.
Nhưng may quá, cuộc sống đổi thay. Quần áo ngày càng trở nên quan trọng theo nhiều nghĩa. Cơ bản nhất, ngày trước thì mặc lắm hơn có nghĩa là sang hơn. Chả thế mà có câu ca dao:
“Hơn nhau tấm áo manh quần.
Đến khi bóc trần ai cũng như ai”
Sự phân hóa giai cấp do trang phục mang lại ngày càng lớn, đến mức người ta phải giải quyết bằng truyện Chử Đồng Tử với Tiên Dung. Một nàng công chúa và một anh thổi sáo chỉ lấy được nhau khi rơi vào hoàn cảnh... chẳng mặc gì. Bởi lúc đó họ mới bình đẳng.
Nếu tôi là một nhà tạo mẫu, và tôi được phép chia lịch sử theo ý mình, tôi sẽ chia đơn giản thành hai thời kỳ: mặc và không mặc.
Những người trong lứa tuổi tôi lớn lên trong thời đại mặc, điều ấy không còn gì phải bàn cãi. Thậm chí, mặc hoàn toàn giống nhau. Bắt đầu từ khi tôi biết quan sát, nghĩa là từ khoảng những năm 60, các cô gái (ngay từ đó, tôi đã ít để ý tới các chàng trai) đều quần đen, áo sơ mi dài tay, cổ bẻ. Mặc áo không cổ thì vô cùng kinh khủng. Thử tưởng tượng nếu lúc ấy có một nàng mặc áo hai dây thì khéo sẽ bị bà con (thậm chí bố mẹ) băm ra hàng trăm mảnh.
Không một ai dám nghĩ tới hở hang chứ đừng nói dám khoác các của nợ đó vô người.
Ấy vậy mà ngay từ thời đại “sắt” đó, tôi đã đọc được ở đâu rằng, vẻ đẹp thân thể là vẻ đẹp cao nhất, và tranh hay ảnh khỏa thân nghệ thuật rất đáng trân trọng.
Nghĩa là về lý thuyết, xã hội lúc ấy cũng không hề tụt hậu. Nhưng chỉ là lý thuyết mà thôi.
Bốn mươi năm đã trôi qua. Lúc này là thời kỳ không mặc! Ôi, đừng! Viết thế thì chết. Hãy nói nhẹ hơn: thời kỳ của bớt mặc.
Có thể nói về trang phục, cả thế giới đang tiến tới chỗ ngày giảm mặc hơn. Áo hai dây đã trở thành bình thường. Áo không dây đang tiến lên, áo không lưng đang xông vào vạch xuất phát.
Quần lưng xệ đang được rút bớt thành bụng xệ, và đã có nhiều sự cách tân khi cả trước và sau đều xệ. Quần soọc ngày càng chật và ngày càng... xơ ra.
(Và thật kinh ngạc làm sao, trang phục càng nhỏ càng đắt (nhất là trang phục lót) hình như đây là âm mưu toàn cầu của người bán vải?)
Bất chấp những lời phản đối, bất chấp những dư luận nẩy lửa, những roi vọt của xã hội, xiêm y của các cô (và số ít các bà) ngày càng thoáng. Trong cuộc đại chiến vĩ đại đó, phe “bảo thủ” đang rút lui dần dần, phe cách tân đang từ từ tiến lên, để lại trên chiến trường vô số... thương binh và thậm chí không thiếu gì... xác chết!
Đấy là một cuộc xung đột không thể nhận thấy (khác hẳn với cuộc chiến Trung Đông được miêu tả hàng phút trên ti vi), mà rất nhiều chiến binh, loại nhát gan là người của... cả hai phe, liên tục phản bội lí tưởng của mình tuỳ theo dư luận!
Nhưng hễ cứ vài năm nhìn lại, ta sẽ thấy một thực tế (phũ phàng): độ hở hang ngày càng cao, phe “thoáng mát” ngày càng thắng! Nghĩa là sao?
Tôi biết chắc con người luôn được cảnh báo về thảm họa HIV, thảm họa cúm gà, thảm họa hạt nhân... nhưng chưa có một chữ nào, một nhà khoa học đáng kính nào cảnh báo thế giới về thảm họa hở hang cả.
Viết tới đây, nhất định có người bảo: Hay đó là một thảm họa văn hóa?
Văn hóa ư? Suy cho cùng văn hóa là gì? Là biểu hiện tinh thần của chúng ta trước quan hệ xã hội.
Mà những quan hệ ấy không hề bất biến. Càng không hề đơn giản chỉ đo bằng cách mặc bao nhiêu và hở bao nhiêu.
Có một bằng chứng là những nước nổi tiếng về hở hang như Thụy Điển, Đức hoặc Hà Lan... đều là những nước có nền văn minh cao, rất đáng để nhiều dân tộc... thèm muốn (tôi không dám dùng chữ bắt chước) về rất nhiều lĩnh vực, kể cả văn hóa. Những ai đã từng sang đấy, đều nhận thấy một cách rõ ràng là tất cả mọi công dân đều được tôn trọng, không phụ thuộc vào tôn giáo, trình độ văn hoá, giới tính và... lượng vải trên người!
Viết tới đây, lập tức có nhà phê bình bảo: Chúng ta không thế, chúng ta có bản sắc khác, chúng ta theo tập tục khác.
Vâng, tôi không thể cãi được điều này. Một cách thành thực, tôi cũng tin nói vậy là đúng!
Và rất nhiều thanh niên hiện nay cũng không cãi, song họ cứ mặc ít dần.
Phải làm thế nào bây giờ? Phải viết những bài báo cũ rích kiểu như “ăn mặc cần đúng lúc, đúng chỗ, đúng tuổi tác, đúng phong tục tập quán. Ăn mặc phải vừa tôn vẻ đẹp cơ thể, phải vừa cho xung quanh thấy sự nền nã, đoan trang...”. Những bài như thế thì đầy, và cần gì học cao mới sáng tác được.
Sốt ruột quá nhỉ. Có vị sẽ gắt: Nói nhanh lên, ông kia, ông thích hở hang à?
Tôi không nói (kinh nghiệm đã cho tôi thấy, hở hang ý nghĩ còn tai hại hơn hở hang cơ thể). Tôi chỉ bảo rằng: tôi không thích những ai thấy người ta hở hang, vội bảo người ta là xấu!/.
Hãy Điên Một Chút Với Đời
Nếu một lúc nào đó, không chịu nổi cuộc đời, hãy điên một chút. Hoặc là, thỉnh thoảng hãy giả đò điên một chút thì mới có thể chịu nổi cuộc đời (hay là con người với những tham lam, gian dối, lường gạt, đố kỵ, nhỏ nhen, tráo trở, lạm dụng, đểu cáng, xảo quyệt, manh tâm, nghi kỵ, xoi mói, đóng kịch, kiểu cách, vênh váo, tự cao, bộng rỗng, môi mép, điêu ngoa, đàng điếm, khoe khoang, khoác lác...?) Cách nào cũng được. Tập điên trước hoặc chờ đến khi chịu không nổi thì làm bộ điên.
"Điên một chút", hay "làm bộ điên", có nghĩa là phải biết nhìn cuộc đời bằng con mắt của người điên. Thấy con người và thế giới bị đảo ngược. Nói đúng hơn, nhìn một cách đảo ngược về con người và thế giới. Giống như "trồng cây chuối" vậy đó: chúc đầu xuống đất, đưa hai cẳng lên trời. Nhìn cuộc đời, bằng tư thế ấy. Thấy buồn cười. Cái gì cũng có vẻ khôi hài, và rất lạ. Những gì mà người ta, trong đó có chính mình, từng xem là quan trọng, là đúng, là giá trị, là tối hảo... thực ra cũng chả là cái gì cả; mà những gì người ta cho là sai bét, bẩn thỉu, hèn hạ, mạt rệp, không ra gì... thực ra cũng chả là sao hết trơn. Một chút điên đó sẽ biến toàn thể con người và cuộc đời trong khoảnh khắc thành một nhà thương điên, và duy nhất mình là người tỉnh. Lúc đó, mình sẽ thấy rằng... quả thực là mình cần phải làm một cái gì đó để xây dựng cuộc đời, cứu giúp con người, và chắc chắn là mình cảm thấy yêu thương tất cả.
Nhưng mà, hãy nên nhớ là chỉ tập điên một chút thôi, rồi trở lại bình thường--điên thì cũng điên vừa vừa, chứ đừng điên quá mức rồi phải mất công bị đưa vào nhà thương điên, bị giam, bị chích thuốc, bị bắt phải uống thuốc mỗi ngày... rồi bị tập thể điên bao vây cho đến lúc khùng luôn.
Điên một chút, là một nghệ thuật. Điên vừa đủ để cười được, vừa đủ để xem nhẹ tất cả, vừa đủ để phủi tay một cái, đứng dậy, lên đường.
Tái bút quan trọng: bài này được viết trong lúc người viết đang "trồng cây chuối", cho nên ai đọc xong mà có bị điên gàn gì đó thì xin đừng đổ hô đổ thừa nhé. Người viết không chịu trách nhiệm các trường hợp điên khùng xảy ra trong các bài tập "điên một chút" hay "làm bộ điên". (Huống chi... điên mà còn biết đổ thừa thì đâu phải là điên; mà đổ thừa cho ai chứ đổ thừa người điên thì... đúng là điên thật rồi! Chao ôi, nói một hồi rồi chẳng còn nhớ là mình đang tỉnh hay là đang điên đây?)
Vĩnh Hảo
"Điên một chút", hay "làm bộ điên", có nghĩa là phải biết nhìn cuộc đời bằng con mắt của người điên. Thấy con người và thế giới bị đảo ngược. Nói đúng hơn, nhìn một cách đảo ngược về con người và thế giới. Giống như "trồng cây chuối" vậy đó: chúc đầu xuống đất, đưa hai cẳng lên trời. Nhìn cuộc đời, bằng tư thế ấy. Thấy buồn cười. Cái gì cũng có vẻ khôi hài, và rất lạ. Những gì mà người ta, trong đó có chính mình, từng xem là quan trọng, là đúng, là giá trị, là tối hảo... thực ra cũng chả là cái gì cả; mà những gì người ta cho là sai bét, bẩn thỉu, hèn hạ, mạt rệp, không ra gì... thực ra cũng chả là sao hết trơn. Một chút điên đó sẽ biến toàn thể con người và cuộc đời trong khoảnh khắc thành một nhà thương điên, và duy nhất mình là người tỉnh. Lúc đó, mình sẽ thấy rằng... quả thực là mình cần phải làm một cái gì đó để xây dựng cuộc đời, cứu giúp con người, và chắc chắn là mình cảm thấy yêu thương tất cả.
Nhưng mà, hãy nên nhớ là chỉ tập điên một chút thôi, rồi trở lại bình thường--điên thì cũng điên vừa vừa, chứ đừng điên quá mức rồi phải mất công bị đưa vào nhà thương điên, bị giam, bị chích thuốc, bị bắt phải uống thuốc mỗi ngày... rồi bị tập thể điên bao vây cho đến lúc khùng luôn.
Điên một chút, là một nghệ thuật. Điên vừa đủ để cười được, vừa đủ để xem nhẹ tất cả, vừa đủ để phủi tay một cái, đứng dậy, lên đường.
Tái bút quan trọng: bài này được viết trong lúc người viết đang "trồng cây chuối", cho nên ai đọc xong mà có bị điên gàn gì đó thì xin đừng đổ hô đổ thừa nhé. Người viết không chịu trách nhiệm các trường hợp điên khùng xảy ra trong các bài tập "điên một chút" hay "làm bộ điên". (Huống chi... điên mà còn biết đổ thừa thì đâu phải là điên; mà đổ thừa cho ai chứ đổ thừa người điên thì... đúng là điên thật rồi! Chao ôi, nói một hồi rồi chẳng còn nhớ là mình đang tỉnh hay là đang điên đây?)
Vĩnh Hảo
Người nhà quê
Họ là ai? Là những người đi vệ sinh không nhấn nút xả nước dội cầu, mang dép vào nhà mặc cho nền gạch bóng lộn. Vì “mù” luật giao thông, họ lừng khừng qua đường trước mũi xe ta (ngay cả lúc ta quyết định dừng lại nhường họ qua thì họ lấm lét rụt lại không thèm đi tiếp nữa). Họ hà tiện, thích ăn những món rẻ tiền bên đường, kém vệ sinh. Mặt mũi họ luôn đen đúa lem luốc, răng đầy bợn. Họ ăn mặc đơn điệu, luộm thuộm, có chưng diện cũng thô thiển, quê mùa, từ đôi bông tai vàng choé cho tới kiểu tóc uốn dợn. Họ viết chữ cực xấu (vì đôi khi trình độ chỉ tới lớp ba nhưng khoái nói chuyện chính trị văn hoa), họ cả tin vào chuyện thần thánh vẩn vơ, những tin đồn buồn cười, vô căn cứ...
Họ gây cho ta một sự khó chịu cả khi bày tỏ tình cảm, khi cố nài ép ta phải nhận món quà là buồng chuối chín, hay dăm ba trái dừa khô (ở chợ, ta cần chi những thứ này, khi mà món ngon vật lạ bày đầy ra trước mắt), đôi lúc họ còn dúi vào tay ta một con vịt ốm nhách, hôi hám, lấm láp phèn.
Hình ảnh họ là một vệt lấm lem trên cái nền thị thành rực rỡ, như sẵn tay ngoáy mũi rồi bôi bừa lên những bông hoa lịch lãm và sang trọng. Và mỗi khi có cảm giác khó chịu với người nhà quê, mỗi khi lườm nguýt, cười cợt họ, mỗi khi chen vào con đường lúc nhúc xe cộ, buộc miệng mắng nhiếc họ "Bộ muốn chết sao mà chàng ràng đây?", tôi đều tha thứ cho mình.
Nhưng mười một giờ trưa ngày thứ hai rồi, trên đường về nhà, người đi cạnh tôi tạt câu nói đó vào một người quê (thật dễ nhận ra với áo bà ba nâu khoác ngoài cái áo túi đã phai màu, tay xách giỏ đệm) lủi thủi đi trong khói nắng, tôi bỗng nghe nhói ran. Bỗng thấy giận cái người đã buông lời đau như ném đá.
Bỗng thấy tôi đã thay đổi, đến giật mình.
Đến ngơ ngác, không biết người nhà quê trong mắt tôi đã khác tự hồi nào, sao tôi lại ngoay ngoắt thương yêu họ đến thế kia. Họ có khác gì đâu, vẫn nghèo, lam lũ, cục mịch và bỗ bã. Những mùa mưa, tôi thấy họ ngồi khóc bên đống lúa ướt đã lên mầm trắng xóa. Tôi thấy những phụ nữ dầm mình dưới kinh, bẻ rau muống ra chợ bán, món tiền cho một thúng rau chỉ bằng tô phở sáng của tôi. Con nít đi kéo tép rong bị ong nghệ đánh sưng mắt. Tôi thấy những bữa cơm nghèo, người già, trẻ nhỏ cũng chỉ rau luộc chấm nước chao, hay mấy con cá lòng tong kho tiêu, mặn và khô quắt. Tôi thấy những vách nhà gió xé tơi tả, trống lỗ trống hang mà họ không tiền sửa, bộ vạc nằm ngủ cũng chỉ cây ván vụn ghép tạm. Những mùa nắng, tôi thấy họ gánh nước tưới rau hay đào đất sên vuông giữa trưa nóng rẫy. Cả đống lúa nhễ nhại mồ hôi, thành quả lao động ngót ba bốn tháng ròng chỉ đáng giá một tiệc nhậu của người thành thị. Nên họ đi qua mùa nông nhàn, mùa giáp hạt bằng cách bắt chuột đồng, hay đào củ năn để bán.
Những món quà họ dành cho tôi cũng chẳng sang trọng lên chút nào. Vẫn chuối, dừa, ổi, mãng cầu chín trong vườn nhà, họ dúi vào túi xách khi tôi xuống bến. Có ông cụ còn tặng tôi một mặt thớt mù u, tôi đem về quẳng vào một góc. Sau này, nghe tin ông mất, vì bệnh uốn ván (mà người ta hay gọi là "phong đòn gánh"), nghe rằng, ông đạp phải một cây phảng sét. Tôi lấy đinh đóng vào tường treo mặt thớt ấy lên, không biết đau ở đâu mà suýt rơi nước mắt.
Những người nhà quê, họ là ai ? Những chuyến công tác ở vùng đất xa ngái của quê nhà đã giúp tôi vẽ lại họ một chân dung khác. Họ nhọc nhằn cả đời để rồi cả đời nghèo khó, thiệt thòi.
Tôi ngả lòng về phía họ khi nhận ra điều đó ?
Hay vì một bữa, đứng ở Sài Gòn, tôi đắng đót nhận ra mình cũng là người nhà quê, mình chưa và không bao giờ từ bỏ được sự thật đó. Ngay lúc ấy, tôi bỗng nghe thèm được ai đó cầm tay dắt qua đường, mà không, một cái nhìn ấm áp thôi, cũng được...
Nguyễn Ngọc Tư
Họ gây cho ta một sự khó chịu cả khi bày tỏ tình cảm, khi cố nài ép ta phải nhận món quà là buồng chuối chín, hay dăm ba trái dừa khô (ở chợ, ta cần chi những thứ này, khi mà món ngon vật lạ bày đầy ra trước mắt), đôi lúc họ còn dúi vào tay ta một con vịt ốm nhách, hôi hám, lấm láp phèn.
Hình ảnh họ là một vệt lấm lem trên cái nền thị thành rực rỡ, như sẵn tay ngoáy mũi rồi bôi bừa lên những bông hoa lịch lãm và sang trọng. Và mỗi khi có cảm giác khó chịu với người nhà quê, mỗi khi lườm nguýt, cười cợt họ, mỗi khi chen vào con đường lúc nhúc xe cộ, buộc miệng mắng nhiếc họ "Bộ muốn chết sao mà chàng ràng đây?", tôi đều tha thứ cho mình.
Nhưng mười một giờ trưa ngày thứ hai rồi, trên đường về nhà, người đi cạnh tôi tạt câu nói đó vào một người quê (thật dễ nhận ra với áo bà ba nâu khoác ngoài cái áo túi đã phai màu, tay xách giỏ đệm) lủi thủi đi trong khói nắng, tôi bỗng nghe nhói ran. Bỗng thấy giận cái người đã buông lời đau như ném đá.
Bỗng thấy tôi đã thay đổi, đến giật mình.
Đến ngơ ngác, không biết người nhà quê trong mắt tôi đã khác tự hồi nào, sao tôi lại ngoay ngoắt thương yêu họ đến thế kia. Họ có khác gì đâu, vẫn nghèo, lam lũ, cục mịch và bỗ bã. Những mùa mưa, tôi thấy họ ngồi khóc bên đống lúa ướt đã lên mầm trắng xóa. Tôi thấy những phụ nữ dầm mình dưới kinh, bẻ rau muống ra chợ bán, món tiền cho một thúng rau chỉ bằng tô phở sáng của tôi. Con nít đi kéo tép rong bị ong nghệ đánh sưng mắt. Tôi thấy những bữa cơm nghèo, người già, trẻ nhỏ cũng chỉ rau luộc chấm nước chao, hay mấy con cá lòng tong kho tiêu, mặn và khô quắt. Tôi thấy những vách nhà gió xé tơi tả, trống lỗ trống hang mà họ không tiền sửa, bộ vạc nằm ngủ cũng chỉ cây ván vụn ghép tạm. Những mùa nắng, tôi thấy họ gánh nước tưới rau hay đào đất sên vuông giữa trưa nóng rẫy. Cả đống lúa nhễ nhại mồ hôi, thành quả lao động ngót ba bốn tháng ròng chỉ đáng giá một tiệc nhậu của người thành thị. Nên họ đi qua mùa nông nhàn, mùa giáp hạt bằng cách bắt chuột đồng, hay đào củ năn để bán.
Những món quà họ dành cho tôi cũng chẳng sang trọng lên chút nào. Vẫn chuối, dừa, ổi, mãng cầu chín trong vườn nhà, họ dúi vào túi xách khi tôi xuống bến. Có ông cụ còn tặng tôi một mặt thớt mù u, tôi đem về quẳng vào một góc. Sau này, nghe tin ông mất, vì bệnh uốn ván (mà người ta hay gọi là "phong đòn gánh"), nghe rằng, ông đạp phải một cây phảng sét. Tôi lấy đinh đóng vào tường treo mặt thớt ấy lên, không biết đau ở đâu mà suýt rơi nước mắt.
Những người nhà quê, họ là ai ? Những chuyến công tác ở vùng đất xa ngái của quê nhà đã giúp tôi vẽ lại họ một chân dung khác. Họ nhọc nhằn cả đời để rồi cả đời nghèo khó, thiệt thòi.
Tôi ngả lòng về phía họ khi nhận ra điều đó ?
Hay vì một bữa, đứng ở Sài Gòn, tôi đắng đót nhận ra mình cũng là người nhà quê, mình chưa và không bao giờ từ bỏ được sự thật đó. Ngay lúc ấy, tôi bỗng nghe thèm được ai đó cầm tay dắt qua đường, mà không, một cái nhìn ấm áp thôi, cũng được...
Nguyễn Ngọc Tư
Nhìn Người Ngắm Ta!
Tác Giả: Huỳnh Quốc Bình
[left]http://www.achievement.org/achievers/pa ... 0-018a.gif[/left][left]http://www.nationaltrust.org/magazine/i ... ws/Bus.jpg[/left]Giới truyền thông Hoa Kỳ và ngoại quốc loan truyền nhanh chóng tin Cụ bà Rose Parks 92 tuổi đã qua đời vào ngày Thứ Hai, 23-10-2005 khiến cho nhiều người và các nhân vật quan trọng tại Hoa Kỳ lên tiếng bày tỏ lòng thương tiếc, nhất là người Mỹ da mầu. Cụ Bà Rose Parks là ai? Cụ là một người đàn bà bình thường, từng bị cảnh sát thành phố Montgomery, Ala. bắt bỏ tù và phạt 14 Mỹ kim vì Cụ bà không chịu nhường ghế cho người da trắng trên xe buýt vào ngày 1 tháng 12 năm 1955, năm đó cụ 42 tuổi. Hành động không chịu nhường ghế cho người da trắng không phải vì ích kỷ hay có ý tranh giành quyền lợi cho riêng mình, nhưng để bày tỏ sự chống đối ôn hoà về chính sách kỳ thị chủng tộc của người Mỹ da trắng, đã thành luật, dành cho người Phi Châu là thành phần nô lệ của người Mỹ gốc Anh vào những thế kỷ trước đó, khi họ đến sinh sống tại Mỹ châu.
Việc Cụ Bà Rose Parks từ chối nhường ghế cho người da trắng là một trong những hành động góp phần cho việc khởi đầu và hình thành The Civil Rights Movement, đó là phong trào chống đối lại luật lệ và hành động kỳ thị chủng tộc của người da trắng lúc bấy giờ. Hành động đấu tranh ôn hoà nhưng quyết liệt của Cụ Bà đã đi vào lịch sử mà chính cụ cũng không ngờ. Cụ đã biến những trăn trở trong tim, những ấm ức của lòng khi thấy phẩm giá của mình và đồng bào da đen của mình bị xúc phạm, những xót xa khi biết rõ cội nguồn của mình, ông cha mình từng bị bắt làm nô lệ.... trở thành hành động cụ thể. Đó là góp phần chống lại những bất công hiện tại, trong hoàn cảnh và khả năng của mình.
Dĩ nhiên không một cuộc đấu tranh nào mà không có cái giá phải trả khi mà trước đó người Mỹ da đen phải chịu bao nhiêu tủi nhục. Lên xe buýt phải ngồi phía sau và phải luôn sẵn sàng nhường ghế cho người da trắng. Con cái của họ đi học thì bị nhà trường phân biệt kỳ thị. Những quyền lợi xã hội họ không được hưởng như người da trắng. Để đóng góp cho công cuộc đấu tranh ôn hoà, tất cả người da đen đã một lòng tham gia cuộc đình công, tẩy chay công đoàn xe buýt trong vòng 381 ngày, bằng cách không sử dụng phương tiện xe công cộng nầy. Tất cả di chuyển bằng phương cách đi bộ. Có người phải di chuyển hằng 20-30 dặm bằng chính đôi chân của mình. Dường như cho đến ngày nay, người ta chưa có một tài liệu nào cho thấy có người da đen nào "xé rào" để được an thân, hay hưởng những quyền lợi riêng tư khác trong giai đoạn đấu tranh quyết liệt đó.[right]http://www.achievement.org/achievers/pa ... 0-003a.gif[/right]
Sau khi Cụ Bà Rose Parks công khai tham gia phong trào tranh đấu do Mục Sư Martin Luther King lãnh đạo, Cụ đã không thể tìm được việc làm tại Tiểu Bang Alabama và thường bị quấy nhiễu. Cuối cùng Cụ bà và chồng mình là Ông Ramond đã phải di chuyển về Detroit vào năm 1957. Đến năm 1965 Cụ Bà có việc làm và đã về hưu năm 1988. Riêng Mục Sư Martin Luther King đã gục ngã vào ngày 4 tháng 4 năm 1968 vì kẻ gian đã ám sát ông bằng những viên đạn vô tình. Hành động nầy đã tạo nên làn sóng bạo động nổi lên nhiều thành phố tại Hoa Kỳ vào giai đoạn đó. Trước thời điểm nầy vài năm tại Việt Nam, là giai đoạn Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam đã ra lệnh quân cộng sản Bắc Việt tấn công vào các tỉnh miền Nam Việt Nam trong dịp tết Mậu Thân, trong các ngày hai bên đình chiến để đồng bào cả nước được hưởng Xuân. Hành động tàn bạo và vi phạm cuộc đình chiến của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam đã gây ra cảnh chết chóc cho hằng chục ngàn người dân vô tội. Điều đáng tiếc là Mục Sư Martin Luther King vì không hiểu rõ nội tình của chiến tranh Việt Nam nên ông cũng đã có những nỗ lực lên tiếng chống chính phủ Hoa Kỳ mang quân vào Việt Nam , cùng với chính quyền Việt Nam Cộng Hoà chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại vùng Đông Nam Á.
Trở lại chuyện Cụ Bà Rose Parks. Trước đây gần nửa thế kỷ Cụ đã bị bỏ tù vì bày tỏ sự chống đối ôn hoà trước những bất công. Hơn một thập niên sau đó Mục Sư Martin Luther King đã bị giết chết. Hai vị nầy và những người da đen khác gục ngã để cho nhiều người khác có thể đứng xổng lưng. Tinh thần nầy không chỉ là tấm gương cho người Mỹ da đen mà cho tất cả những dân tộc nào đang nằm trong sự thống trị của các chế độ độc tài ngày hôm nay.
Cụ Bà Rose Parks từng nhận hằng tá bằng khen, khích lệ và tên của Cụ cũng được đặt cho nhiều trường học và nơi công cộng tại Hoa Kỳ. Riêng Mục Sư Martin Luther King đã nhận được "Giải Nobel Hoà Bình", nhưng tôi tin rằng hai vị nầy đã không tham gia tranh đấu để mong được lịch sử ghi công. Phản ứng của người đàn bà chân yếu tay mềm của nửa thế kỷ trước đây tuy không chi là vĩ đại đối với thời nay, nhưng trong phạm vi trách nhiệm của mình, Người đã giúp cuộc tranh đấu mà dân da đen tiến hành dưới sự lãnh đạo của Mục Sư Martin Luther King nhắm đến mục tiêu san bằng chính sách kỳ thị bất công, được thành tựu một cách tốt đẹp. Cụ đã đi vào lịch sử của Hoa Kỳ và ngày nay hình ảnh của Cụ và Mục Sư Martin Luther King đã nằm trong tim của người da den và những ai yêu chuộng công bằng, tự do.
Đó là chuyện của những người bạn da đen. Còn dân Việt Nam da vàng chúng ta thì sao?
Lịch sử Việt Nam trong ngàn năm trước và cận đại, có nhiều nhân vật anh hùng đã đi vào lịch sử. Họ không tạo ra lịch sử, nhưng lịch sử không thể không nhớ đến họ. Những chiến sĩ vô danh của dân tộc Việt Nam đã bỏ mình vì lý tưởng bảo vệ Tổ Quốc để cho nhiều người trong chúng ta không bị đồng hoá với kẻ thù phương Bắc luôn chực hờ nuốt trửng chúng ta. Hoặc trong thời chiến tranh Quốc-Cộng, chúng ta có được tự do để cấp sách đến trường thời niên thiếu; được tự do bày tỏ lòng tín ngưỡng của mình đối với Thượng Đế, Ông Trời, Thiên Chúa tại các nơi thờ tự của các tôn giáo. Hay được êm ấm và hưởng thụ vật chất nơi thành thị. Ngay cả lúc dầu sôi lửa bỏng trong thời điểm 1975, cũng không ít người đã đổ máu để cầm chân giặc cộng không cho chúng tiến nhanh vào các thành phố, hầu cho nhiều người trong chúng ta có đủ thời gian xuống tàu hay lên phi cơ lánh nạn cộng sản . Có nhiều người trong chúng ta đã vội quên đi.
Theo tiêu chuẩn của con người bình thường, chúng ta có thể nói rằng: Nếu chính quyền Việt Nam Cộng Hoà ngày xưa không có những người hết lòng vì dân, vì nước, những chiến sĩ âm thầm xả thân trong cuộc chiến bảo vệ chủ quyền đất nước và ngăn chận quân xâm lược. Nếu không có những vị Tướng liêm khiết, đảm lược, dám tuẩn tiết vì "không giữ được thành". Hoặc không có những người sau khi ra hải ngoại rồi, nhưng đã từ bỏ nơi êm ấm để trở về quốc nội chiến đấu... Thì chúng ta cũng khó có thể hãnh diện, tự hào, về chính nghĩa của người Quốc Gia, trước những hành động chụp mũ, vu khống, mạ lỵ người Quốc Gia một cách vô trách nhiệm mà chúng ta thấy đầy dẫy trong cuộc đấu tranh chống cộng ngày hôm nay. Và ngay tại hải ngoại, nếu vì hoàn cảnh chúng ta không thể tham gia tranh đấu một cách công khai, chúng ta cũng nên để tâm theo dõi những cá nhân, tổ chức, hội đoàn, đảng phái, cơ quan truyền thông nào của người Việt tự do có đường lối rõ ràng, lập trường vững chắc, để ủng hộ họ, thay vì thờ ơ, hay vô tình tiếp tay đồn đãi những điều dối trá mà VC và kẻ gian tung ra để ly gián chúng ta.
Để góp phần cho công cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ tại VN mà người Việt trong và ngoài nước đang theo đuổi, thiết nghĩ mỗi người trong chúng ta không cần phải làm những gì quá to lớn nếu hoàn cảnh, khả năng của mình không cho phép. Chúng ta cũng có thể làm cho VC suy yếu bằng cách bất hợp tác với chúng qua các việc làm đơn giản sau đây:
Khi gửi tiền về cho thân nhân tại VN, chúng ta chỉ cần gửi cho họ đủ sống. Nếu vì hoàn cảnh bắt buộc phải về VN bởi những lý do chính đáng, chúng ta nên dành thì giờ giải thích cho mọi người thế nào là tự do, dân chủ và nhín chút ít vật chất cho những người thân thay vì đi du lịch đó đây để phung phí tiền bạc, giúp chế độ VC có thêm ngoại tệ. Nếu muốn kinh doanh, chúng ta cũng nên tránh xa nhà nước cộng sản Việt Nam vì làm ăn với cộng sản tức là tiếp tế vũ khí để chúng có thêm sức mạnh đè đầu cởi cổ người dân. Nếu phải trở về Việt Nam thì phải trong tinh thần chia xẻ những khó khăn, cơ cực của gia đình mình, đồng bào mình trước sự giàu có vượt bực của những người trong đảng cộng sản Việt Nam chứ không phải là những loại "áo gấm về làng". Nếu về Việt Nam là để thấy tận mắt, để chia xẻ nỗi "khốn nạn cuộc đời" mà những anh em cùng niềm tin với mình đang phải gánh chịu dưới chế độ cộng sản độc tài, chứ không phải để thoả hiệp với đảng cướp cộng sản Việt Nam hầu tìm sự vinh hiển cho cá nhân mình mà lại "thiêng liêng" cho rằng mình vì "sứ mạng" hay "khải tượng" Thiên Chúa giao cho. Nếu thấy có những cán bộ cộng sản hay những nhà đối kháng trong nước công khai chống lại chế độ chúng ta nên lên tiếng khích lệ, ủng hộ, bênh vực họ trước dư luận thế giới thay vì chỉ ngờ vực và tẩy chay, hoặc quá hân hoan mà "ôm chầm" lấy họ như thể là "báo vật". Nếu gặp du sinh đến từ Việt Nam, chúng ta cần tìm cách giải thích cho họ hiểu rõ những sai trái của chế độ cộng sản Việt Nam thay vì tẩy chay hay xa lánh mà không làm gì cả. Nếu có phái đoàn VC ra hải ngoại tuyên truyền đánh bóng chế độ hay kêu gọi thế giới đầu tư vào Việt Nam, chúng ta nên cùng gia đình mình tham gia các cuộc biểu tình ôn hoà bày tỏ sự chống đối của mình. Vì chúng ta là người Việt Nam mà không làm đều nầy thì làm sao mong đợi dân tộc khác làm thay cho chúng ta, hay chờ đợi các cường quốc "bật đèn xanh" cho được.
Nhiều người trong chúng ta chấp nhận theo đuổi công cuộc đấu tranh chấm dứt chế độ cộng sản Việt Nam tại Việt Nam ngày nay. Tuy tham gia lâu ngày có tốn công sức, tiền bạc, lại còn bị kẻ gian chụp mũ, người cùng chiến tuyến nghi ngờ, nhưng người ta khó mà bỏ cuộc mỗi khi ôn lại những dòng thơ của Nhà Thơ Bắc Phong:
Lúc máu người khác đổ
Xương người khác phơi
Ta cứ lo hưởng thụ đi thôi
Ðể kẻ thù gây thêm tội ác...
Nếu chúng ta tự hào mình là một dân tộc có năm ngàn năm văn hiến thì lẽ nào chúng ta không cảm thấy chính mình bị xúc phạm khi nhìn thấy người Việt Nam hay dân tộc Việt Nam bị xúc phạm? Chẳng lẽ đồng bào chúng ta trong nước bị VC thẳng tay đàn áp, phụ nữ và trẻ em bị bán ra nước ngoài làm nô lệ tình dục mà chúng ta không dám lên tiếng bênh vực chỉ vì ngại sẽ gặp khó khăn về sau mà đưa ra bằng lý cớ "tôi không muốn dính dấp đến trính trị"? Chẳng lẽ chúng ta muốn người khác tham gia tranh đấu lật đổ đảng cộng sản độc tài, vì đảng nầy từng đày đoạ chúng ta trong tù nhiều năm tháng, còn chúng ta không làm gì cả sau khi được tự do? Chẳng lẽ chúng ta muốn cho giới trẻ của gia đình khác dấn thân tranh đấu còn con em, trong gia đình mình thì phải học cho nhanh, cho lẹ, sớm ra trường để đi kiếm tiền ? Chẳng lẽ chúng ta giảng dạy cho người khác phải biết bày tỏ "tình yêu thương" còn chúng ta lại dững dưng trước những đau khổ của đồng bào mình, anh chị em cùng niềm tin với mình bằng tấm binh phong "không chống chính quyền"?
Người da đen thường bị dân da trắng và các dân khác, hoặc kể cả một số người trong chúng ta kỳ thị, xem thường, nhưng chẳng lẽ họ biết tẩy chay, không sử dụng phương tiện công cộng đương thời để chống các chính sách bất công... Còn người Việt chúng ta thì không dám hy sinh quyền lợi riêng tư để đóng góp cho công cuộc đấu tranh chống cộng hay sao? Hỏi là trả lời. Và những gì tôi nêu ra không phải để thách đố nhau, nhưng để chúng ta cùng suy nghĩ về thân phận của mình trong kiếp sống lưu vong.
Huỳnh Quốc Bình
P.O. Box 20361, Salem, OR 97307, USA
(503) 249-9333, E-mail: huynhquocbinh@yahoo.com
Tác Giả: Huỳnh Quốc Bình
[left]http://www.achievement.org/achievers/pa ... 0-018a.gif[/left][left]http://www.nationaltrust.org/magazine/i ... ws/Bus.jpg[/left]Giới truyền thông Hoa Kỳ và ngoại quốc loan truyền nhanh chóng tin Cụ bà Rose Parks 92 tuổi đã qua đời vào ngày Thứ Hai, 23-10-2005 khiến cho nhiều người và các nhân vật quan trọng tại Hoa Kỳ lên tiếng bày tỏ lòng thương tiếc, nhất là người Mỹ da mầu. Cụ Bà Rose Parks là ai? Cụ là một người đàn bà bình thường, từng bị cảnh sát thành phố Montgomery, Ala. bắt bỏ tù và phạt 14 Mỹ kim vì Cụ bà không chịu nhường ghế cho người da trắng trên xe buýt vào ngày 1 tháng 12 năm 1955, năm đó cụ 42 tuổi. Hành động không chịu nhường ghế cho người da trắng không phải vì ích kỷ hay có ý tranh giành quyền lợi cho riêng mình, nhưng để bày tỏ sự chống đối ôn hoà về chính sách kỳ thị chủng tộc của người Mỹ da trắng, đã thành luật, dành cho người Phi Châu là thành phần nô lệ của người Mỹ gốc Anh vào những thế kỷ trước đó, khi họ đến sinh sống tại Mỹ châu.
Việc Cụ Bà Rose Parks từ chối nhường ghế cho người da trắng là một trong những hành động góp phần cho việc khởi đầu và hình thành The Civil Rights Movement, đó là phong trào chống đối lại luật lệ và hành động kỳ thị chủng tộc của người da trắng lúc bấy giờ. Hành động đấu tranh ôn hoà nhưng quyết liệt của Cụ Bà đã đi vào lịch sử mà chính cụ cũng không ngờ. Cụ đã biến những trăn trở trong tim, những ấm ức của lòng khi thấy phẩm giá của mình và đồng bào da đen của mình bị xúc phạm, những xót xa khi biết rõ cội nguồn của mình, ông cha mình từng bị bắt làm nô lệ.... trở thành hành động cụ thể. Đó là góp phần chống lại những bất công hiện tại, trong hoàn cảnh và khả năng của mình.
Dĩ nhiên không một cuộc đấu tranh nào mà không có cái giá phải trả khi mà trước đó người Mỹ da đen phải chịu bao nhiêu tủi nhục. Lên xe buýt phải ngồi phía sau và phải luôn sẵn sàng nhường ghế cho người da trắng. Con cái của họ đi học thì bị nhà trường phân biệt kỳ thị. Những quyền lợi xã hội họ không được hưởng như người da trắng. Để đóng góp cho công cuộc đấu tranh ôn hoà, tất cả người da đen đã một lòng tham gia cuộc đình công, tẩy chay công đoàn xe buýt trong vòng 381 ngày, bằng cách không sử dụng phương tiện xe công cộng nầy. Tất cả di chuyển bằng phương cách đi bộ. Có người phải di chuyển hằng 20-30 dặm bằng chính đôi chân của mình. Dường như cho đến ngày nay, người ta chưa có một tài liệu nào cho thấy có người da đen nào "xé rào" để được an thân, hay hưởng những quyền lợi riêng tư khác trong giai đoạn đấu tranh quyết liệt đó.[right]http://www.achievement.org/achievers/pa ... 0-003a.gif[/right]
Sau khi Cụ Bà Rose Parks công khai tham gia phong trào tranh đấu do Mục Sư Martin Luther King lãnh đạo, Cụ đã không thể tìm được việc làm tại Tiểu Bang Alabama và thường bị quấy nhiễu. Cuối cùng Cụ bà và chồng mình là Ông Ramond đã phải di chuyển về Detroit vào năm 1957. Đến năm 1965 Cụ Bà có việc làm và đã về hưu năm 1988. Riêng Mục Sư Martin Luther King đã gục ngã vào ngày 4 tháng 4 năm 1968 vì kẻ gian đã ám sát ông bằng những viên đạn vô tình. Hành động nầy đã tạo nên làn sóng bạo động nổi lên nhiều thành phố tại Hoa Kỳ vào giai đoạn đó. Trước thời điểm nầy vài năm tại Việt Nam, là giai đoạn Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam đã ra lệnh quân cộng sản Bắc Việt tấn công vào các tỉnh miền Nam Việt Nam trong dịp tết Mậu Thân, trong các ngày hai bên đình chiến để đồng bào cả nước được hưởng Xuân. Hành động tàn bạo và vi phạm cuộc đình chiến của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam đã gây ra cảnh chết chóc cho hằng chục ngàn người dân vô tội. Điều đáng tiếc là Mục Sư Martin Luther King vì không hiểu rõ nội tình của chiến tranh Việt Nam nên ông cũng đã có những nỗ lực lên tiếng chống chính phủ Hoa Kỳ mang quân vào Việt Nam , cùng với chính quyền Việt Nam Cộng Hoà chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại vùng Đông Nam Á.
Trở lại chuyện Cụ Bà Rose Parks. Trước đây gần nửa thế kỷ Cụ đã bị bỏ tù vì bày tỏ sự chống đối ôn hoà trước những bất công. Hơn một thập niên sau đó Mục Sư Martin Luther King đã bị giết chết. Hai vị nầy và những người da đen khác gục ngã để cho nhiều người khác có thể đứng xổng lưng. Tinh thần nầy không chỉ là tấm gương cho người Mỹ da đen mà cho tất cả những dân tộc nào đang nằm trong sự thống trị của các chế độ độc tài ngày hôm nay.
Cụ Bà Rose Parks từng nhận hằng tá bằng khen, khích lệ và tên của Cụ cũng được đặt cho nhiều trường học và nơi công cộng tại Hoa Kỳ. Riêng Mục Sư Martin Luther King đã nhận được "Giải Nobel Hoà Bình", nhưng tôi tin rằng hai vị nầy đã không tham gia tranh đấu để mong được lịch sử ghi công. Phản ứng của người đàn bà chân yếu tay mềm của nửa thế kỷ trước đây tuy không chi là vĩ đại đối với thời nay, nhưng trong phạm vi trách nhiệm của mình, Người đã giúp cuộc tranh đấu mà dân da đen tiến hành dưới sự lãnh đạo của Mục Sư Martin Luther King nhắm đến mục tiêu san bằng chính sách kỳ thị bất công, được thành tựu một cách tốt đẹp. Cụ đã đi vào lịch sử của Hoa Kỳ và ngày nay hình ảnh của Cụ và Mục Sư Martin Luther King đã nằm trong tim của người da den và những ai yêu chuộng công bằng, tự do.
Đó là chuyện của những người bạn da đen. Còn dân Việt Nam da vàng chúng ta thì sao? Lịch sử Việt Nam trong ngàn năm trước và cận đại, có nhiều nhân vật anh hùng đã đi vào lịch sử. Họ không tạo ra lịch sử, nhưng lịch sử không thể không nhớ đến họ. Những chiến sĩ vô danh của dân tộc Việt Nam đã bỏ mình vì lý tưởng bảo vệ Tổ Quốc để cho nhiều người trong chúng ta không bị đồng hoá với kẻ thù phương Bắc luôn chực hờ nuốt trửng chúng ta. Hoặc trong thời chiến tranh Quốc-Cộng, chúng ta có được tự do để cấp sách đến trường thời niên thiếu; được tự do bày tỏ lòng tín ngưỡng của mình đối với Thượng Đế, Ông Trời, Thiên Chúa tại các nơi thờ tự của các tôn giáo. Hay được êm ấm và hưởng thụ vật chất nơi thành thị. Ngay cả lúc dầu sôi lửa bỏng trong thời điểm 1975, cũng không ít người đã đổ máu để cầm chân giặc cộng không cho chúng tiến nhanh vào các thành phố, hầu cho nhiều người trong chúng ta có đủ thời gian xuống tàu hay lên phi cơ lánh nạn cộng sản . Có nhiều người trong chúng ta đã vội quên đi.
Theo tiêu chuẩn của con người bình thường, chúng ta có thể nói rằng: Nếu chính quyền Việt Nam Cộng Hoà ngày xưa không có những người hết lòng vì dân, vì nước, những chiến sĩ âm thầm xả thân trong cuộc chiến bảo vệ chủ quyền đất nước và ngăn chận quân xâm lược. Nếu không có những vị Tướng liêm khiết, đảm lược, dám tuẩn tiết vì "không giữ được thành". Hoặc không có những người sau khi ra hải ngoại rồi, nhưng đã từ bỏ nơi êm ấm để trở về quốc nội chiến đấu... Thì chúng ta cũng khó có thể hãnh diện, tự hào, về chính nghĩa của người Quốc Gia, trước những hành động chụp mũ, vu khống, mạ lỵ người Quốc Gia một cách vô trách nhiệm mà chúng ta thấy đầy dẫy trong cuộc đấu tranh chống cộng ngày hôm nay. Và ngay tại hải ngoại, nếu vì hoàn cảnh chúng ta không thể tham gia tranh đấu một cách công khai, chúng ta cũng nên để tâm theo dõi những cá nhân, tổ chức, hội đoàn, đảng phái, cơ quan truyền thông nào của người Việt tự do có đường lối rõ ràng, lập trường vững chắc, để ủng hộ họ, thay vì thờ ơ, hay vô tình tiếp tay đồn đãi những điều dối trá mà VC và kẻ gian tung ra để ly gián chúng ta.
Để góp phần cho công cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ tại VN mà người Việt trong và ngoài nước đang theo đuổi, thiết nghĩ mỗi người trong chúng ta không cần phải làm những gì quá to lớn nếu hoàn cảnh, khả năng của mình không cho phép. Chúng ta cũng có thể làm cho VC suy yếu bằng cách bất hợp tác với chúng qua các việc làm đơn giản sau đây:
Khi gửi tiền về cho thân nhân tại VN, chúng ta chỉ cần gửi cho họ đủ sống. Nếu vì hoàn cảnh bắt buộc phải về VN bởi những lý do chính đáng, chúng ta nên dành thì giờ giải thích cho mọi người thế nào là tự do, dân chủ và nhín chút ít vật chất cho những người thân thay vì đi du lịch đó đây để phung phí tiền bạc, giúp chế độ VC có thêm ngoại tệ. Nếu muốn kinh doanh, chúng ta cũng nên tránh xa nhà nước cộng sản Việt Nam vì làm ăn với cộng sản tức là tiếp tế vũ khí để chúng có thêm sức mạnh đè đầu cởi cổ người dân. Nếu phải trở về Việt Nam thì phải trong tinh thần chia xẻ những khó khăn, cơ cực của gia đình mình, đồng bào mình trước sự giàu có vượt bực của những người trong đảng cộng sản Việt Nam chứ không phải là những loại "áo gấm về làng". Nếu về Việt Nam là để thấy tận mắt, để chia xẻ nỗi "khốn nạn cuộc đời" mà những anh em cùng niềm tin với mình đang phải gánh chịu dưới chế độ cộng sản độc tài, chứ không phải để thoả hiệp với đảng cướp cộng sản Việt Nam hầu tìm sự vinh hiển cho cá nhân mình mà lại "thiêng liêng" cho rằng mình vì "sứ mạng" hay "khải tượng" Thiên Chúa giao cho. Nếu thấy có những cán bộ cộng sản hay những nhà đối kháng trong nước công khai chống lại chế độ chúng ta nên lên tiếng khích lệ, ủng hộ, bênh vực họ trước dư luận thế giới thay vì chỉ ngờ vực và tẩy chay, hoặc quá hân hoan mà "ôm chầm" lấy họ như thể là "báo vật". Nếu gặp du sinh đến từ Việt Nam, chúng ta cần tìm cách giải thích cho họ hiểu rõ những sai trái của chế độ cộng sản Việt Nam thay vì tẩy chay hay xa lánh mà không làm gì cả. Nếu có phái đoàn VC ra hải ngoại tuyên truyền đánh bóng chế độ hay kêu gọi thế giới đầu tư vào Việt Nam, chúng ta nên cùng gia đình mình tham gia các cuộc biểu tình ôn hoà bày tỏ sự chống đối của mình. Vì chúng ta là người Việt Nam mà không làm đều nầy thì làm sao mong đợi dân tộc khác làm thay cho chúng ta, hay chờ đợi các cường quốc "bật đèn xanh" cho được.
Nhiều người trong chúng ta chấp nhận theo đuổi công cuộc đấu tranh chấm dứt chế độ cộng sản Việt Nam tại Việt Nam ngày nay. Tuy tham gia lâu ngày có tốn công sức, tiền bạc, lại còn bị kẻ gian chụp mũ, người cùng chiến tuyến nghi ngờ, nhưng người ta khó mà bỏ cuộc mỗi khi ôn lại những dòng thơ của Nhà Thơ Bắc Phong:
Lúc máu người khác đổ
Xương người khác phơi
Ta cứ lo hưởng thụ đi thôi
Ðể kẻ thù gây thêm tội ác...
Nếu chúng ta tự hào mình là một dân tộc có năm ngàn năm văn hiến thì lẽ nào chúng ta không cảm thấy chính mình bị xúc phạm khi nhìn thấy người Việt Nam hay dân tộc Việt Nam bị xúc phạm? Chẳng lẽ đồng bào chúng ta trong nước bị VC thẳng tay đàn áp, phụ nữ và trẻ em bị bán ra nước ngoài làm nô lệ tình dục mà chúng ta không dám lên tiếng bênh vực chỉ vì ngại sẽ gặp khó khăn về sau mà đưa ra bằng lý cớ "tôi không muốn dính dấp đến trính trị"? Chẳng lẽ chúng ta muốn người khác tham gia tranh đấu lật đổ đảng cộng sản độc tài, vì đảng nầy từng đày đoạ chúng ta trong tù nhiều năm tháng, còn chúng ta không làm gì cả sau khi được tự do? Chẳng lẽ chúng ta muốn cho giới trẻ của gia đình khác dấn thân tranh đấu còn con em, trong gia đình mình thì phải học cho nhanh, cho lẹ, sớm ra trường để đi kiếm tiền ? Chẳng lẽ chúng ta giảng dạy cho người khác phải biết bày tỏ "tình yêu thương" còn chúng ta lại dững dưng trước những đau khổ của đồng bào mình, anh chị em cùng niềm tin với mình bằng tấm binh phong "không chống chính quyền"?
Người da đen thường bị dân da trắng và các dân khác, hoặc kể cả một số người trong chúng ta kỳ thị, xem thường, nhưng chẳng lẽ họ biết tẩy chay, không sử dụng phương tiện công cộng đương thời để chống các chính sách bất công... Còn người Việt chúng ta thì không dám hy sinh quyền lợi riêng tư để đóng góp cho công cuộc đấu tranh chống cộng hay sao? Hỏi là trả lời. Và những gì tôi nêu ra không phải để thách đố nhau, nhưng để chúng ta cùng suy nghĩ về thân phận của mình trong kiếp sống lưu vong.
Huỳnh Quốc Bình
P.O. Box 20361, Salem, OR 97307, USA
(503) 249-9333, E-mail: huynhquocbinh@yahoo.com
Bắt vợ phải quỳ
Có một nhóm những bậc mày râu, tụ tập nhau lại lập thành một hội, gọi là "Hội không sợ vợ". Mỗi người trong tháng phải nêu cho được một thành tích tiêu biểu của mình. Họ sẽ chọn người có thành tích xuất sắc nhất để bầu làm hội chủ trong tháng.
Dưới đây là một báo cáo của một hội viên được toàn đội bình chọn là xuất sắc nhất và được tôn thành hội chủ:
"Hôm đó, sau khi vui vẻ với mèo về, tôi đã trễ hẹn với vợ hai tiếng đồng hồ. Tôi vẫn hết sức tự chủ, ngang nhiên, hùng hổ bước vào nhà.
Bà vợ tôi đã cầm cái chổi lông gà chực sẵn ở cửa, mặt hằm hằm. Thấy tôi, bà ta thét hỏi:
- Ông đi đâu mà giờ này mới vác mặt về, hử? Này, tôi nói cho ông hay, tôi đã biết ông hẹn với ai, nói năng và làm chuyện ám muội với con nào suốt hai giờ qua. Tôi đã cho người theo dõi, nắm được tình hình rồi, ông đừng có mà chối!
Nghe vậy tôi chẳng cần phải chống chế làm gì, vì biết mánh đã bị lộ. Rất nhanh, tôi chui xuống phản. Vợ tôi hằm hè, gọi mãi, tôi chẳng thèm nhúc nhích, ư hử một lời. Vợ tôi phải xuống giọng năn nỉ, tôi cũng không thèm lên tiếng. Cứ thế tôi bắt vợ phải quỳ suốt hai tiếng đồng hồ liền.
Thành tích ấy thật xứng đáng là anh hùng bậc nhất của hội ta, phải không các vị?"
Có một nhóm những bậc mày râu, tụ tập nhau lại lập thành một hội, gọi là "Hội không sợ vợ". Mỗi người trong tháng phải nêu cho được một thành tích tiêu biểu của mình. Họ sẽ chọn người có thành tích xuất sắc nhất để bầu làm hội chủ trong tháng.
Dưới đây là một báo cáo của một hội viên được toàn đội bình chọn là xuất sắc nhất và được tôn thành hội chủ:
"Hôm đó, sau khi vui vẻ với mèo về, tôi đã trễ hẹn với vợ hai tiếng đồng hồ. Tôi vẫn hết sức tự chủ, ngang nhiên, hùng hổ bước vào nhà.
Bà vợ tôi đã cầm cái chổi lông gà chực sẵn ở cửa, mặt hằm hằm. Thấy tôi, bà ta thét hỏi:
- Ông đi đâu mà giờ này mới vác mặt về, hử? Này, tôi nói cho ông hay, tôi đã biết ông hẹn với ai, nói năng và làm chuyện ám muội với con nào suốt hai giờ qua. Tôi đã cho người theo dõi, nắm được tình hình rồi, ông đừng có mà chối!
Nghe vậy tôi chẳng cần phải chống chế làm gì, vì biết mánh đã bị lộ. Rất nhanh, tôi chui xuống phản. Vợ tôi hằm hè, gọi mãi, tôi chẳng thèm nhúc nhích, ư hử một lời. Vợ tôi phải xuống giọng năn nỉ, tôi cũng không thèm lên tiếng. Cứ thế tôi bắt vợ phải quỳ suốt hai tiếng đồng hồ liền.
Thành tích ấy thật xứng đáng là anh hùng bậc nhất của hội ta, phải không các vị?"
Hoàn Kiếm càn khôn thế sự
Hồ Hoàn Kiếm như một chiếc gương soi giữa lòng Hà nội. Đã là người Việt Nam thì ai chẳng muốn tới đó để soi mình. Cái hồ trứ danh ấy là kết quả của sự giao nhau giữa Đất và Trời. Một nét của quẻ Khôn (Đất) lần lượt chu du vào quẻ Càn (Trời). Đầu tiên còn nằm dưới tận cùng làm thành quẻ Tốn (Gió), tiếp theo, chui vào đến ruột Càn mà làm ra quẻ Ly (Lửa). Cuối cùng, leo lên tới đỉnh biến ra Đoài (Đầm). Hồ Hoàn Kiếm ứng vào quẻ Đoài theo cái qui trình biến hóa Càn Khôn như thế. Vậy là hoàn tất một công đoạn mà Càn (Trời), dẫu mạnh cũng xin mời nằm hết xuống dưới, Khôn (Đất), dẫu yếu cũng nổi hẳn lên trên.
Đó là bàn theo “tượng” quẻ. Còn nói theo “khí” thì có khí Dương (tượng trưng cho quân tử), khí Âm (tượng trưng cho tiểu nhân). Khí Âm giao với khí Dương, mới đầu bị Dương đè nén thành ra quẻ Tốn. Tiếp theo, bị Dương kẹp vào giữa mà sinh ra quẻ Ly. Cuối cùng, Âm thoát lên trên biến thành quẻ Đoài. Đoài là chốn tiểu nhân đắc thế (nổi lên bề mặt), quân tử hãm thân (nằm dưới đáy sâu). Hồ Hoàn Kiếm ứng vào quẻ Đoài, chính là một nơi như thế. Liệu đó có phải là nguyên nhân mà các cung điện, lăng tẩm... của vua chúa ngày xưa không bao giờ xây sát bờ hồ?
Dùng “khí” để bàn hình như quá trừu tượng. Hãy xem cái trực quan sinh động là các Cụ Rùa ở dưới đáy hồ kia. Các Cụ chịu phép Càn Khôn, đã bao đời hãm thân dưới đó mà suy tư với cái triết lý đáy bùn của mình, mặc kệ những chỉ trỏ, bàn tán của đám hậu sinh. Phải chăng các Cụ chính là hiện thân của cái khí quân tử vừa nói ở trên? So với các Cụ, thì những con người mồm ngang mũi dọc đang ngoi ngóp, tranh cạnh nhau trên bờ kia, chẳng qua chỉ là những kẻ tiểu nhân nhỏ bé, sống cái kiếp phù hoa ngắn ngủi mà thôi. Lại còn bảo chậm như Rùa ư? Biết đâu đấy. Ở cái cõi mà mỗi hơi thở dài bằng mấy tuần trăng, mỗi ý nghĩ vượt qua cả mấy trăm năm, thậm chí ngàn năm... thì việc gì phải vội! Còn con người thì nhanh nhẹn, hoạt bát ư? Biết đâu đấy. Ở cái giống mà hơi thở chỉ dài ngang với tiếng tích tắc đồng hồ, ý nghĩ lại không vượt quá nổi một đời... thì lúc nào mà chẳng phải hối hả, ngược xuôi...
Lại dùng “Nhân” để bàn thì Đoài là thuộc về thiếu nữ. Chẳng trách mà hồ Hoàn Kiếm vừa đẹp, vừa cám dỗ không cãi vào đâu được, nghìn năm nay vẫn mãi thanh tân. Không biết bao nhiêu tao nhân, mặc khách đã nối đời ca ngợi vẻ đẹp của hồ bằng đủ các thứ ngôn từ. Thiếu nữ thì ai mà chẳng muốn ngắm vuốt, nâng niu. Kẻ dữ tợn đến mấy nom thấy cũng phải mềm lòng. Hồ nằm giữa cái nơi đã từng trải qua bao cuộc chiến tranh. Vậy mà ác như chiến tranh cũng không nỡ đụng đến dung nhan “nàng” thiếu nữ ấy. Cái câu “Thăng Long phi chiến địa” vẫn đúng cho đến tận bây giờ, chính là chỉ duy nhất chỗ hồ Hoàn Kiếm đó mà thôi. Rộng ra nữa chắc sẽ không đúng đâu.
Hà nội có nhiều hồ. Đó là một trong những nét đẹp của Thủ đô ngàn năm văn vật. Còn gì thú vị hơn khi đang giữa phố xá đông đúc, chật chội, đột ngột hiện ra một không gian mênh mông, lặng ngắt, với những hàng cây soi bóng, sóng nước lăn tăn... Những cái hồ được sinh ra giữa lòng thành phố như để trả nợ tầm nhìn, trả nợ nỗi khát khao của ánh mắt. Nhưng không phải hồ nào cũng ứng với Đoài như hồ Hoàn Kiếm. Ấy là khi “tượng” và “lý” có lúc đã hợp lại làm một, để cứ việc nhìn vào “tượng”, là có thể diễn thành “lý” và ngược lại. Trên đời, bất cứ vật gì, ngoài cái định nghĩa bề ngoài (tượng), đều có sẵn cái nội dung bên trong (lý) của nó. Tượng có thể bất biến. Nhưng lý bao giờ cũng biến hóa tùy theo thời. Ngày lại ngày, có bao nhiêu người hoặc thả bước, thư giãn xung quanh hồ, hoặc ngồi yên tận hưởng... Song tất cả chỉ là ngắm nghía cái phần “tượng” của hồ đấy mà thôi. Mấy ai nhìn thấy cái “lý” bên trong của nó. Cái “lý” ấy, thì ra cũng sống động như có một số kiếp riêng, cũng dung nạp như thể mặt hồ kia chính là một bộ nhớ vĩ đại, luôn ghi chép vào trong lòng mọi việc trên đời. Đồng thời, cái “lý” ấy (của mặt hồ) đương nhiên cũng biến hóa theo quy luật muôn thuở của những thế sự Càn Khôn, không thể nào khác được.
Kẻ viết những dòng này một buổi tối dạo trên Bờ Hồ. Dưới gốc cây thấp thoáng bóng một cụ già đang ngồi đăm chiêu. Chợt nhìn thấy có dòng liễu rủ, lại cứ tưởng cụ già kia vừa mới thở dài. Bèn tiến tới hỏi han. Cụ già bảo: “Lão đã nửa thế kỉ ngắm hồ rồi, mà lần nào cũng cảm thấy như người vừa mới đến”. Hỏi: “Thế nghĩa là sao? Thưa cụ!” Trả lời: “Nghĩa là người dẫu đã quen, mà hồ vẫn cứ lạ”. Lại hỏi: “Xin cụ cho biết lạ như thế nào?” Cụ bảo: “Mỗi lần ngắm lại một lần thấy mới. Thế là lạ”. Lại hỏi tiếp: “Cái hồ này ngày nào mà chẳng thế. Có thấy gì mới mẻ đâu?” Cụ giải thích: “Cái mới do Trời Đất tạo ra chỉ một phần. Phần chính là từ lòng người chứng được, ngộ được mà sinh ra vậy. Cũng như bạn bè, chơi với nhau mà không tìm thấy cái mới ở nhau, thì dẫu gần nhau cả đời cũng không bao giờ gọi là tri kỉ...”
Cụ già bấy giờ ngót tám mươi tuổi. Cụ bảo nhà cụ ở trong một cái ngõ nhỏ phía đông, thông ra bờ hồ. Phía đông thuộc về cung Cấn. Cho nên mắc duyên nợ với Đoài, khốn khổ vì Đoài là phải rồi. Thiếu nữ lúc nào mà chẳng muốn đứng ở thế thượng phong (quẻ Hàm). Đảo ngược lại có khi tán gia bại sản chưa biết chừng (quẻ Tổn). Cụ còn bảo cả đời cụ đọc nhiều sách, nhưng chỉ có trang sách này là hay nhất mà thôi. Trang sách ấy chính là mặt hồ. Một cuốn sách chỉ có một trang, lại lúc nào cũng mở. Thế mà người biết đọc không bao giờ đọc hết, kẻ không biết đọc suốt đời chẳng nhìn thấy chữ gì. Thảo nào cụ có cái kiểu ngắm hồ chẳng giống một ai. Lại nghe nói người cả nghĩ thì trước mặt lúc nào cũng như có một trang sách đang mở. Cụ có phải thuộc loại người cả nghĩ đó chăng? Lắm lúc còn ngờ rằng hay đó là một cụ Rùa vừa mới đội bùn lên?
Những tối sau, quả nhiên vẫn thấy cụ già ra ngồi đúng chỗ đó. Vẫn cái dáng đăm đăm như thể mọi chuyển động, lập loè phồn hoa quanh bờ hồ đối với cụ chỉ là ảo ảnh. Cụ bảo cụ đã nhìn thấy những ông vua cưỡi thuyền rồng rong chơi trên mặt hồ. Lại thấy có ông vua chết đuối dưới cái cống dân gian thường đơm cá. Thấy cả đầu lâu kẻ sĩ chôn dưới chân tháp đang ra rả đọc thơ... Thế còn quẻ Đoài kia? Cụ bảo thiếu nữ nay hình như đã đi tu, chẳng bao lâu nữa sẽ hóa thành kiếp khác. Nghe cụ nói, giật mình trông lại mặt hồ bỗng thấy lạ hẳn đi. Rõ ràng mình đã tới đây nhiều lần mà chợt cảm thấy như lần đầu tiên mới đến. Thì ra, cái mới từ lòng người sinh ra là như thế đây chăng?
Cụ già ấy về sau không ra ngắm hồ nữa. Tưởng cụ tuổi hạc đã về trời. Có người bảo cụ ở nhà viết sách để lại cho con cháu. Hỏi tại sao mãi đến tận bây giờ cụ mới viết? Cụ bảo: “Ở cái chốn tiểu nhân đắc thế như thế này, thì bây giờ mới viết là may mắn lắm, còn hỏi làm gì.” Nghe cụ nói càng thấy thắc mắc, chẳng hiểu may mắn nghĩa là sao. Cụ giải thích: “Con người ta khi nào chứng được sự thật, thông suốt được lẽ đời, phân biệt rõ đúng sai rồi, thì dẫu viết một chữ cũng thành văn. Văn ấy mới tạm ra văn của cái giống người.” Lại hỏi nếu phát tiết sớm thì sao? Cụ bảo: “Nếu phát tiết sớm, biết đâu lại chẳng sinh ra cái thứ văn hoặc chỉ biết rên rỉ vô tích sự, hoặc chỉ biết mờ mịt ngợi ca, hoặc lấy đen làm trắng, lấy họa làm phúc, theo đuôi cái ác, đểu giả không biết đâu mà lường được. Văn như thế thì không chỉ lừa mình, lừa người, mà còn lừa cả tổ tông, quỷ thần... Đến khi sa vào nghiệp rồi thì thậm chí còn phải rúc ráy dưới đít, dưới trôn người ta mới mong cầu được tước lộc, kiếm được miếng ăn... Như thế chẳng phải sẽ xấu hổ, nhục nhã đến muôn đời con cháu sau này hay sao?”
Phạm Lưu Vũ
10 / 2005
Nguồn: Bài đăng trên báo Người Hà Nội số 42 ra thứ 6 - 21/10/2005, song bị cắt toàn bộ đoạn cuối (từ câu: “Cụ già ấy về sau không ra ngắm hồ nữa...” trở đi. Ðầu đề do tác giả đặt (vì bài đăng trên báo không có đầu đề riêng)
Đó là bàn theo “tượng” quẻ. Còn nói theo “khí” thì có khí Dương (tượng trưng cho quân tử), khí Âm (tượng trưng cho tiểu nhân). Khí Âm giao với khí Dương, mới đầu bị Dương đè nén thành ra quẻ Tốn. Tiếp theo, bị Dương kẹp vào giữa mà sinh ra quẻ Ly. Cuối cùng, Âm thoát lên trên biến thành quẻ Đoài. Đoài là chốn tiểu nhân đắc thế (nổi lên bề mặt), quân tử hãm thân (nằm dưới đáy sâu). Hồ Hoàn Kiếm ứng vào quẻ Đoài, chính là một nơi như thế. Liệu đó có phải là nguyên nhân mà các cung điện, lăng tẩm... của vua chúa ngày xưa không bao giờ xây sát bờ hồ?
Dùng “khí” để bàn hình như quá trừu tượng. Hãy xem cái trực quan sinh động là các Cụ Rùa ở dưới đáy hồ kia. Các Cụ chịu phép Càn Khôn, đã bao đời hãm thân dưới đó mà suy tư với cái triết lý đáy bùn của mình, mặc kệ những chỉ trỏ, bàn tán của đám hậu sinh. Phải chăng các Cụ chính là hiện thân của cái khí quân tử vừa nói ở trên? So với các Cụ, thì những con người mồm ngang mũi dọc đang ngoi ngóp, tranh cạnh nhau trên bờ kia, chẳng qua chỉ là những kẻ tiểu nhân nhỏ bé, sống cái kiếp phù hoa ngắn ngủi mà thôi. Lại còn bảo chậm như Rùa ư? Biết đâu đấy. Ở cái cõi mà mỗi hơi thở dài bằng mấy tuần trăng, mỗi ý nghĩ vượt qua cả mấy trăm năm, thậm chí ngàn năm... thì việc gì phải vội! Còn con người thì nhanh nhẹn, hoạt bát ư? Biết đâu đấy. Ở cái giống mà hơi thở chỉ dài ngang với tiếng tích tắc đồng hồ, ý nghĩ lại không vượt quá nổi một đời... thì lúc nào mà chẳng phải hối hả, ngược xuôi...
Lại dùng “Nhân” để bàn thì Đoài là thuộc về thiếu nữ. Chẳng trách mà hồ Hoàn Kiếm vừa đẹp, vừa cám dỗ không cãi vào đâu được, nghìn năm nay vẫn mãi thanh tân. Không biết bao nhiêu tao nhân, mặc khách đã nối đời ca ngợi vẻ đẹp của hồ bằng đủ các thứ ngôn từ. Thiếu nữ thì ai mà chẳng muốn ngắm vuốt, nâng niu. Kẻ dữ tợn đến mấy nom thấy cũng phải mềm lòng. Hồ nằm giữa cái nơi đã từng trải qua bao cuộc chiến tranh. Vậy mà ác như chiến tranh cũng không nỡ đụng đến dung nhan “nàng” thiếu nữ ấy. Cái câu “Thăng Long phi chiến địa” vẫn đúng cho đến tận bây giờ, chính là chỉ duy nhất chỗ hồ Hoàn Kiếm đó mà thôi. Rộng ra nữa chắc sẽ không đúng đâu.
Hà nội có nhiều hồ. Đó là một trong những nét đẹp của Thủ đô ngàn năm văn vật. Còn gì thú vị hơn khi đang giữa phố xá đông đúc, chật chội, đột ngột hiện ra một không gian mênh mông, lặng ngắt, với những hàng cây soi bóng, sóng nước lăn tăn... Những cái hồ được sinh ra giữa lòng thành phố như để trả nợ tầm nhìn, trả nợ nỗi khát khao của ánh mắt. Nhưng không phải hồ nào cũng ứng với Đoài như hồ Hoàn Kiếm. Ấy là khi “tượng” và “lý” có lúc đã hợp lại làm một, để cứ việc nhìn vào “tượng”, là có thể diễn thành “lý” và ngược lại. Trên đời, bất cứ vật gì, ngoài cái định nghĩa bề ngoài (tượng), đều có sẵn cái nội dung bên trong (lý) của nó. Tượng có thể bất biến. Nhưng lý bao giờ cũng biến hóa tùy theo thời. Ngày lại ngày, có bao nhiêu người hoặc thả bước, thư giãn xung quanh hồ, hoặc ngồi yên tận hưởng... Song tất cả chỉ là ngắm nghía cái phần “tượng” của hồ đấy mà thôi. Mấy ai nhìn thấy cái “lý” bên trong của nó. Cái “lý” ấy, thì ra cũng sống động như có một số kiếp riêng, cũng dung nạp như thể mặt hồ kia chính là một bộ nhớ vĩ đại, luôn ghi chép vào trong lòng mọi việc trên đời. Đồng thời, cái “lý” ấy (của mặt hồ) đương nhiên cũng biến hóa theo quy luật muôn thuở của những thế sự Càn Khôn, không thể nào khác được.
Kẻ viết những dòng này một buổi tối dạo trên Bờ Hồ. Dưới gốc cây thấp thoáng bóng một cụ già đang ngồi đăm chiêu. Chợt nhìn thấy có dòng liễu rủ, lại cứ tưởng cụ già kia vừa mới thở dài. Bèn tiến tới hỏi han. Cụ già bảo: “Lão đã nửa thế kỉ ngắm hồ rồi, mà lần nào cũng cảm thấy như người vừa mới đến”. Hỏi: “Thế nghĩa là sao? Thưa cụ!” Trả lời: “Nghĩa là người dẫu đã quen, mà hồ vẫn cứ lạ”. Lại hỏi: “Xin cụ cho biết lạ như thế nào?” Cụ bảo: “Mỗi lần ngắm lại một lần thấy mới. Thế là lạ”. Lại hỏi tiếp: “Cái hồ này ngày nào mà chẳng thế. Có thấy gì mới mẻ đâu?” Cụ giải thích: “Cái mới do Trời Đất tạo ra chỉ một phần. Phần chính là từ lòng người chứng được, ngộ được mà sinh ra vậy. Cũng như bạn bè, chơi với nhau mà không tìm thấy cái mới ở nhau, thì dẫu gần nhau cả đời cũng không bao giờ gọi là tri kỉ...”
Cụ già bấy giờ ngót tám mươi tuổi. Cụ bảo nhà cụ ở trong một cái ngõ nhỏ phía đông, thông ra bờ hồ. Phía đông thuộc về cung Cấn. Cho nên mắc duyên nợ với Đoài, khốn khổ vì Đoài là phải rồi. Thiếu nữ lúc nào mà chẳng muốn đứng ở thế thượng phong (quẻ Hàm). Đảo ngược lại có khi tán gia bại sản chưa biết chừng (quẻ Tổn). Cụ còn bảo cả đời cụ đọc nhiều sách, nhưng chỉ có trang sách này là hay nhất mà thôi. Trang sách ấy chính là mặt hồ. Một cuốn sách chỉ có một trang, lại lúc nào cũng mở. Thế mà người biết đọc không bao giờ đọc hết, kẻ không biết đọc suốt đời chẳng nhìn thấy chữ gì. Thảo nào cụ có cái kiểu ngắm hồ chẳng giống một ai. Lại nghe nói người cả nghĩ thì trước mặt lúc nào cũng như có một trang sách đang mở. Cụ có phải thuộc loại người cả nghĩ đó chăng? Lắm lúc còn ngờ rằng hay đó là một cụ Rùa vừa mới đội bùn lên?
Những tối sau, quả nhiên vẫn thấy cụ già ra ngồi đúng chỗ đó. Vẫn cái dáng đăm đăm như thể mọi chuyển động, lập loè phồn hoa quanh bờ hồ đối với cụ chỉ là ảo ảnh. Cụ bảo cụ đã nhìn thấy những ông vua cưỡi thuyền rồng rong chơi trên mặt hồ. Lại thấy có ông vua chết đuối dưới cái cống dân gian thường đơm cá. Thấy cả đầu lâu kẻ sĩ chôn dưới chân tháp đang ra rả đọc thơ... Thế còn quẻ Đoài kia? Cụ bảo thiếu nữ nay hình như đã đi tu, chẳng bao lâu nữa sẽ hóa thành kiếp khác. Nghe cụ nói, giật mình trông lại mặt hồ bỗng thấy lạ hẳn đi. Rõ ràng mình đã tới đây nhiều lần mà chợt cảm thấy như lần đầu tiên mới đến. Thì ra, cái mới từ lòng người sinh ra là như thế đây chăng?
Cụ già ấy về sau không ra ngắm hồ nữa. Tưởng cụ tuổi hạc đã về trời. Có người bảo cụ ở nhà viết sách để lại cho con cháu. Hỏi tại sao mãi đến tận bây giờ cụ mới viết? Cụ bảo: “Ở cái chốn tiểu nhân đắc thế như thế này, thì bây giờ mới viết là may mắn lắm, còn hỏi làm gì.” Nghe cụ nói càng thấy thắc mắc, chẳng hiểu may mắn nghĩa là sao. Cụ giải thích: “Con người ta khi nào chứng được sự thật, thông suốt được lẽ đời, phân biệt rõ đúng sai rồi, thì dẫu viết một chữ cũng thành văn. Văn ấy mới tạm ra văn của cái giống người.” Lại hỏi nếu phát tiết sớm thì sao? Cụ bảo: “Nếu phát tiết sớm, biết đâu lại chẳng sinh ra cái thứ văn hoặc chỉ biết rên rỉ vô tích sự, hoặc chỉ biết mờ mịt ngợi ca, hoặc lấy đen làm trắng, lấy họa làm phúc, theo đuôi cái ác, đểu giả không biết đâu mà lường được. Văn như thế thì không chỉ lừa mình, lừa người, mà còn lừa cả tổ tông, quỷ thần... Đến khi sa vào nghiệp rồi thì thậm chí còn phải rúc ráy dưới đít, dưới trôn người ta mới mong cầu được tước lộc, kiếm được miếng ăn... Như thế chẳng phải sẽ xấu hổ, nhục nhã đến muôn đời con cháu sau này hay sao?”
Phạm Lưu Vũ
10 / 2005
Nguồn: Bài đăng trên báo Người Hà Nội số 42 ra thứ 6 - 21/10/2005, song bị cắt toàn bộ đoạn cuối (từ câu: “Cụ già ấy về sau không ra ngắm hồ nữa...” trở đi. Ðầu đề do tác giả đặt (vì bài đăng trên báo không có đầu đề riêng)
Phiếm bàn về chữ 'Khát'
"Khát" chỉ một nghĩa đen duy nhất là khát nước.
"Khát" còn vô vàn nghĩa bóng...
"Khát" được làm nên sự nghiệp. "Khát" được sống, được yêu thương, được thi thố tài năng cho những việc hữu ích, được biến những giấc mơ đẹp thành hiện thực.
Đấy là những cơn khát làm con người thăng hoa, làm nhân loại tiến lên phía trước.
Nhưng Khát tiền là một trong những cơn khát khốc liệt nhất của rất nhiều người. Làm ra tiến, thật nhiều tiền là một ước mơ chính đáng. Ai cũng đã tiền, vì tiền là vật ngang giá của sản phẩm xã hội. Một người làm ra trên chính đáng có nghĩa là họ đã tìm được công ăn việc làm cho nhiều người khác, họ đóng nhiều thuế cho xã hội. Nhưng khát tiền lại là chuyện khác. Kẻ khát tiền coi tiền là mục đích cao cả nhất phải săn tìm bằng mọi giá, "là Tiên, là Phật, là... "như một bài đồng dao châm biếm ra đời cách đây nhiều năm cùng với kinh tế thị trường. Người ta chỉ khát nước khi phải đi trong sa mạc hay trôi dạt trên biển khơi. Kẻ khát tiền thì ngay cả khi bơi trên một dòng sông họ vẫn khát.
Khát danh cũng khốc liệt không kém. Đành rằng, ai cũng muốn có "danh ghi với núi sông". Nhưng thực danh phải cần tài năng, phải trả giá, nhiều khi phải đổi cả mạng sống. Người có thực tài không khát danh mà danh tự đến, tự nhiên như hoa hồng nở trên cây hồng. Kẻ khát danh lại thường không có tài. Thượng Đế không cho họ tài năng mà cho họ rất nhiều ảo vọng và khát khao nổi tiếng. Ngài đày họ lên đỉnh núi đá của hư danh, phơi nắng họ cho đến lúc chết mà không thoả được cơn khát. Vì khát danh họ kiếm danh bằng bất kỳ phương tiện gì, thường là bẩn thỉu và như thể họ chỉ tìm được hư danh. Họ nói dối như cuội, chuyển thi thố thủ đoạn xấu xa. Cái thích của họ gắn liền với lợi và họ bị cả hai cơn khát dày vò: danh và lợi.
Kẻ khát tiền, như một con bạc hay một tên tội phạm, có thể không khát danh. Nhưng kẻ khát danh thường là rất khát tiền. Vì thể mà những kẻ khát danh nguy hiểm cho nhân loại hơn chăng?
Nguyễn Quang Thân
"Khát" còn vô vàn nghĩa bóng...
"Khát" được làm nên sự nghiệp. "Khát" được sống, được yêu thương, được thi thố tài năng cho những việc hữu ích, được biến những giấc mơ đẹp thành hiện thực.
Đấy là những cơn khát làm con người thăng hoa, làm nhân loại tiến lên phía trước.
Nhưng Khát tiền là một trong những cơn khát khốc liệt nhất của rất nhiều người. Làm ra tiến, thật nhiều tiền là một ước mơ chính đáng. Ai cũng đã tiền, vì tiền là vật ngang giá của sản phẩm xã hội. Một người làm ra trên chính đáng có nghĩa là họ đã tìm được công ăn việc làm cho nhiều người khác, họ đóng nhiều thuế cho xã hội. Nhưng khát tiền lại là chuyện khác. Kẻ khát tiền coi tiền là mục đích cao cả nhất phải săn tìm bằng mọi giá, "là Tiên, là Phật, là... "như một bài đồng dao châm biếm ra đời cách đây nhiều năm cùng với kinh tế thị trường. Người ta chỉ khát nước khi phải đi trong sa mạc hay trôi dạt trên biển khơi. Kẻ khát tiền thì ngay cả khi bơi trên một dòng sông họ vẫn khát.
Khát danh cũng khốc liệt không kém. Đành rằng, ai cũng muốn có "danh ghi với núi sông". Nhưng thực danh phải cần tài năng, phải trả giá, nhiều khi phải đổi cả mạng sống. Người có thực tài không khát danh mà danh tự đến, tự nhiên như hoa hồng nở trên cây hồng. Kẻ khát danh lại thường không có tài. Thượng Đế không cho họ tài năng mà cho họ rất nhiều ảo vọng và khát khao nổi tiếng. Ngài đày họ lên đỉnh núi đá của hư danh, phơi nắng họ cho đến lúc chết mà không thoả được cơn khát. Vì khát danh họ kiếm danh bằng bất kỳ phương tiện gì, thường là bẩn thỉu và như thể họ chỉ tìm được hư danh. Họ nói dối như cuội, chuyển thi thố thủ đoạn xấu xa. Cái thích của họ gắn liền với lợi và họ bị cả hai cơn khát dày vò: danh và lợi.
Kẻ khát tiền, như một con bạc hay một tên tội phạm, có thể không khát danh. Nhưng kẻ khát danh thường là rất khát tiền. Vì thể mà những kẻ khát danh nguy hiểm cho nhân loại hơn chăng?
Nguyễn Quang Thân
Hà Nội: Trong mắt chị?
Em nhớ chị và nhớ những nhận xét của chị về Hà Nội. Chị nói: đào Nhật Tân không còn nữa! Trong tâm tưởng người Hà Nội, mỗi khi nhắc đến Nhật Tân là nhắc đến hoa đào. Mất vườn đào Nhật Tân là Hà Nội mất đi một nửa. Hoa đào là biểu tượng của mùa xuân. Ðào Nhật Tân vừa là văn hóa vật thể, vừa là văn hóa phi vật thể, vì đào Nhật Tân đã biểu hiện trong tinh thần, trong cuộc sống sinh hoạt của người Hà Nội. Thay vào đó là những biệt thự kênh kiệu bên hồ Tây. Biệt thự “nhập khẩu” vội vàng trên các đường phố. Tháp đôi lùn trên đường Bà Triệu. Ðể khoe cái tháp đôi, người ta còn chặt đi vài cây cổ thụ. Hà Nội tung tăng xây dựng. Hà Nội nhộn nhịp mở cửa hàng. Một Hà Nội bung ra trong cơn khát bia. Tiếng chuông chùa xa và khuất lấp bởi tiếng chạm cốc. Ngõ nào, đường nào cũng có hàng bia. Bia nhiều làm sủi bọt cảm xúc, bia lấp lánh vàng hơn sắc lá thu bay.
Phố cổ Hà Nội mong manh, những căn nhà cổ mỏi mệt vì tiếng gầm rú của xe máy. Những căn nhà mới dựng lên xanh đỏ tím vàng y hệt như gái quê vừa ra tỉnh, thấy mình đen đúa quá nên cứ mải mê trang điểm những phấn những son, vẽ lên mặt mình những đường cong kệch cỡm. Trong các ngõ nhỏ, phố nhỏ người từ các tỉnh ùn ùn đổ về Hà Nội. Hà Nội đang tha hóa người quê, hay người các miền quê đang tha hóa Hà Nội. Hà Nội giằng xé. Hà Nội khói xe máy, bụi bặm từ những công trường. Hà Nội ngất ngây những hàng ăn. Hà Nội ồn ào từ những quán bia, văng vẳng lời nói bậy, tiếng chửi thề thua cờ bạc trượt lô đề. Hà Nội quần lửng, áo hai dây, tóc nhuộm, tai đeo khuyên ngồi nửa ngày ngáp dài bên quán nước. Ðời sống tinh thần được cân đong đo đếm bằng mời nhau đi ăn, mời nhau đi uống. Lối sống, cách hành văn, phủ mờ trong khói thuốc, trong hơi men. Hà Nội tiệc tùng. Hà Nội đình đám. Hà Nội sân khấu hoá trong những vở kịch lê la ngoài đường, những câu mời chào, những màn chèo kéo. Hà Nội buôn thúng bán mẹt. Hà Nội quạt cho nhau như quạt thịt nướng bên hè phố.
Hà Nội đường nào cũng đông người đi, phố nào cũng lắm người ở. Ðường Ðê La Thành chật hẹp toàn bán hàng sắt nhìn bực mình. Phố ẩm thực Tống Duy Tân giành giật khách đến phát sợ. Chợ hoa đêm Quảng Bá đẹp, mà phô diễn những cảnh nghèo. Hoa tươi mà lòng người bán hoa thì héo. Trồng được bông hoa, chăm bón hoa khó nhọc một nắng hai sương, đến khi đem hoa ra chợ lại đành bán trong đêm. Gánh hoa trong đêm như gánh trên vai niềm trắc ẩn, bán hoa chẳng được mấy đồng. Vẫn là hoa ấy, chợ ấy nhưng càng về sáng, hoa càng mất giá. Hoa đợi người chờ, thời gian ủng hộ người mua. Nhưng vẫn là hoa ấy, được để trong tủ kính, đứng trong cửa hàng hoa đã lên giá gấp 5 gấp 10 lần và còn hơn thế nữa. Có lẽ chỉ cần chỗ đứng là đã hơn nhau rồi. Người trồng hoa đầu tắt mặt tối, lầm lũi bươi đất nhặt cỏ. Hoa càng đẹp người trồng hoa càng vất vả. Ðời người trồng hoa có giống như đời hoa không? Cuộc đời người trồng hoa phận mỏng như cánh hoa, hoa có thương người trồng hoa không?! Những cô gái bán hoa đứng đường trong đêm. Không biết họ từ ngõ ngách nào, con phố nào, làng quê nào, số phận nào? Mỗi người có một thân phận, một uẩn khúc chắp vá như hoa nọ cành kia. Ðêm đêm ra đứng đường, bán rặt một loại hoa như nhau. Hoa ngọc lan bán trên đường Thanh Niên!
Hiệu cắt tóc gội đầu thư giãn mát sa mọc lên nhiều như nấm. Một Hà Nội sính từ đến lố bịch, ba cái ghế dựa với hai tấm gương soi cũng gọi là viện. Viện cắt tóc gội đầu, viện mát sa chân, viện ảnh áo cưới, viện tẩm quất mát sa... Vài chị mắt xanh mỏ đỏ trình độ văn hóa lớp ba lớp bốn, mới học “gội đầu” được mấy tháng đòi mở cửa hàng đặt tên là viện! Ơi những “viện sĩ” lắc mông chìa ngực, làm cái nghề “rửa đầu” cho thiên hạ lấy tiền, mà cứ cong mông, bật đùi như đi trên sàn catwalk. Mặt tiền Hà Nội như mặt nạ, xanh đỏ tím vàng, rộn ràng như đêm trung thu, nào shop, nào fashion, ưỡn ẹo ma nơ canh, khoan cắt bê tông, tẩm quất gia truyền, thuốc bắc gia truyền, nghề may gia truyền... Cứ phải gia truyền một tí mới được!
Hồ Tây đang hiện đại dần lên với công viên nước, với những nhà hàng, khách sạn, những quán ăn Cổ Ngư, quán Bến My Lăng... với tên gọi đầy chất thơ. Quán ăn thì có “chất thơ”, còn quán thơ thì không có. Hà Nội đói khát thèm thuồng nên Hà Nội có phố ẩm thực, có tiếng rao đêm của hàng ăn, có những chợ cóc, quán gánh vỉa hè. Người Hà Nội không biết xấu hổ khi ngồi ăn uống trên hè phố. Tính cách “giả trang nông dân” của người Hà Nội. Hay người Hà Nội là “nông dân giả trang”? Hà Nội đang bị tha hóa. Hà Nội quê hơn cả nhà quê...
Hà Nội thật là kệch cỡm, rẻ tiền. Hà Nội buồn hơn. Buồn rưng rưng như mắt ai khi tình phai, duyên nhạt, phận bẽ bàng. Hà Nội thờ xuân, Hà Nội chòng chành trong cái rét. Hà Nội gằn mình vì mưa rào, vì nắng hạ...
Tạm biệt chị!
Nguyễn Văn Ninh© 2005 talawas
Phố cổ Hà Nội mong manh, những căn nhà cổ mỏi mệt vì tiếng gầm rú của xe máy. Những căn nhà mới dựng lên xanh đỏ tím vàng y hệt như gái quê vừa ra tỉnh, thấy mình đen đúa quá nên cứ mải mê trang điểm những phấn những son, vẽ lên mặt mình những đường cong kệch cỡm. Trong các ngõ nhỏ, phố nhỏ người từ các tỉnh ùn ùn đổ về Hà Nội. Hà Nội đang tha hóa người quê, hay người các miền quê đang tha hóa Hà Nội. Hà Nội giằng xé. Hà Nội khói xe máy, bụi bặm từ những công trường. Hà Nội ngất ngây những hàng ăn. Hà Nội ồn ào từ những quán bia, văng vẳng lời nói bậy, tiếng chửi thề thua cờ bạc trượt lô đề. Hà Nội quần lửng, áo hai dây, tóc nhuộm, tai đeo khuyên ngồi nửa ngày ngáp dài bên quán nước. Ðời sống tinh thần được cân đong đo đếm bằng mời nhau đi ăn, mời nhau đi uống. Lối sống, cách hành văn, phủ mờ trong khói thuốc, trong hơi men. Hà Nội tiệc tùng. Hà Nội đình đám. Hà Nội sân khấu hoá trong những vở kịch lê la ngoài đường, những câu mời chào, những màn chèo kéo. Hà Nội buôn thúng bán mẹt. Hà Nội quạt cho nhau như quạt thịt nướng bên hè phố.
Hà Nội đường nào cũng đông người đi, phố nào cũng lắm người ở. Ðường Ðê La Thành chật hẹp toàn bán hàng sắt nhìn bực mình. Phố ẩm thực Tống Duy Tân giành giật khách đến phát sợ. Chợ hoa đêm Quảng Bá đẹp, mà phô diễn những cảnh nghèo. Hoa tươi mà lòng người bán hoa thì héo. Trồng được bông hoa, chăm bón hoa khó nhọc một nắng hai sương, đến khi đem hoa ra chợ lại đành bán trong đêm. Gánh hoa trong đêm như gánh trên vai niềm trắc ẩn, bán hoa chẳng được mấy đồng. Vẫn là hoa ấy, chợ ấy nhưng càng về sáng, hoa càng mất giá. Hoa đợi người chờ, thời gian ủng hộ người mua. Nhưng vẫn là hoa ấy, được để trong tủ kính, đứng trong cửa hàng hoa đã lên giá gấp 5 gấp 10 lần và còn hơn thế nữa. Có lẽ chỉ cần chỗ đứng là đã hơn nhau rồi. Người trồng hoa đầu tắt mặt tối, lầm lũi bươi đất nhặt cỏ. Hoa càng đẹp người trồng hoa càng vất vả. Ðời người trồng hoa có giống như đời hoa không? Cuộc đời người trồng hoa phận mỏng như cánh hoa, hoa có thương người trồng hoa không?! Những cô gái bán hoa đứng đường trong đêm. Không biết họ từ ngõ ngách nào, con phố nào, làng quê nào, số phận nào? Mỗi người có một thân phận, một uẩn khúc chắp vá như hoa nọ cành kia. Ðêm đêm ra đứng đường, bán rặt một loại hoa như nhau. Hoa ngọc lan bán trên đường Thanh Niên!
Hiệu cắt tóc gội đầu thư giãn mát sa mọc lên nhiều như nấm. Một Hà Nội sính từ đến lố bịch, ba cái ghế dựa với hai tấm gương soi cũng gọi là viện. Viện cắt tóc gội đầu, viện mát sa chân, viện ảnh áo cưới, viện tẩm quất mát sa... Vài chị mắt xanh mỏ đỏ trình độ văn hóa lớp ba lớp bốn, mới học “gội đầu” được mấy tháng đòi mở cửa hàng đặt tên là viện! Ơi những “viện sĩ” lắc mông chìa ngực, làm cái nghề “rửa đầu” cho thiên hạ lấy tiền, mà cứ cong mông, bật đùi như đi trên sàn catwalk. Mặt tiền Hà Nội như mặt nạ, xanh đỏ tím vàng, rộn ràng như đêm trung thu, nào shop, nào fashion, ưỡn ẹo ma nơ canh, khoan cắt bê tông, tẩm quất gia truyền, thuốc bắc gia truyền, nghề may gia truyền... Cứ phải gia truyền một tí mới được!
Hồ Tây đang hiện đại dần lên với công viên nước, với những nhà hàng, khách sạn, những quán ăn Cổ Ngư, quán Bến My Lăng... với tên gọi đầy chất thơ. Quán ăn thì có “chất thơ”, còn quán thơ thì không có. Hà Nội đói khát thèm thuồng nên Hà Nội có phố ẩm thực, có tiếng rao đêm của hàng ăn, có những chợ cóc, quán gánh vỉa hè. Người Hà Nội không biết xấu hổ khi ngồi ăn uống trên hè phố. Tính cách “giả trang nông dân” của người Hà Nội. Hay người Hà Nội là “nông dân giả trang”? Hà Nội đang bị tha hóa. Hà Nội quê hơn cả nhà quê...
Hà Nội thật là kệch cỡm, rẻ tiền. Hà Nội buồn hơn. Buồn rưng rưng như mắt ai khi tình phai, duyên nhạt, phận bẽ bàng. Hà Nội thờ xuân, Hà Nội chòng chành trong cái rét. Hà Nội gằn mình vì mưa rào, vì nắng hạ...
Tạm biệt chị!
Nguyễn Văn Ninh© 2005 talawas
Viết đơn giản mới là người thông minh
Những từ ngữ văn hoa cùng kiểu font chữ phức tạp - 2 thủ thuật thường được sinh viên áp dụng trong các bài viết của mình - được các chuyên gia đánh giá là xuất phát từ những người kém thông minh. Nói một cách đơn giản hơn là những từ ngữ ngắn gọn và font chữ truyền thống sẽ khiến bạn trở nên thông minh hơn.
Daniel Oppenheimer tại Đại học Princeton đã thực hiện 5 cuộc thử nghiệm thay đổi độ phức tạp của từ vựng và kiểu chữ. Những bản mẫu bao gồm đơn xin cấp bằng tốt nghiệp, bản tóm tắt luận án xã hội học, bản dịch.Những bài viết đơn giản bằng kiểu chữ dễ đọc được đánh giá là thuộc tác giả thông minh hơn, so với những bài viết rắc rối, phức tạp.
"Bất cứ thứ gì khiến chữ viết khó đọc và khó hiểu, như những từ dài không cần thiết và font chữ cầu kỳ, sẽ làm người đọc đánh giá thấp công trình và tác giả của nó", Oppenheimer nói.
Tuy vậy, ông bổ sung rằng nghiên cứu không ám chỉ những câu cú dài dòng là đều không tốt, mà chỉ nên sử dụng lúc cần thiết. Vậy thì tại sao nhiều người lại thích làm như vậy?
"Việc sử dụng những từ đao to búa lớn và kiểu font chữ hấp dẫn phổ biến ở sinh viên có thể bắt nguồn từ thực tế rằng họ không nhận ra những thủ thuật này có thể gây tác dụng ngược", Oppenheimer nói. "Một điều chắc chắn rằng cứ viết đơn giản và rành mạch, bạn sẽ được đánh giá cao hơn".
M.T. (theo Livescience)
Daniel Oppenheimer tại Đại học Princeton đã thực hiện 5 cuộc thử nghiệm thay đổi độ phức tạp của từ vựng và kiểu chữ. Những bản mẫu bao gồm đơn xin cấp bằng tốt nghiệp, bản tóm tắt luận án xã hội học, bản dịch.Những bài viết đơn giản bằng kiểu chữ dễ đọc được đánh giá là thuộc tác giả thông minh hơn, so với những bài viết rắc rối, phức tạp.
"Bất cứ thứ gì khiến chữ viết khó đọc và khó hiểu, như những từ dài không cần thiết và font chữ cầu kỳ, sẽ làm người đọc đánh giá thấp công trình và tác giả của nó", Oppenheimer nói.
Tuy vậy, ông bổ sung rằng nghiên cứu không ám chỉ những câu cú dài dòng là đều không tốt, mà chỉ nên sử dụng lúc cần thiết. Vậy thì tại sao nhiều người lại thích làm như vậy?
"Việc sử dụng những từ đao to búa lớn và kiểu font chữ hấp dẫn phổ biến ở sinh viên có thể bắt nguồn từ thực tế rằng họ không nhận ra những thủ thuật này có thể gây tác dụng ngược", Oppenheimer nói. "Một điều chắc chắn rằng cứ viết đơn giản và rành mạch, bạn sẽ được đánh giá cao hơn".
M.T. (theo Livescience)

