Góc nhỏ của anh 3 Giang
Moderator: CNN
Bệnh Tương Tư
[17/11/2005 - Vietnam Review]
BS Hồ Đắc Duy
(Viết tặng anh Nguyễn Ý Đức, ngày 15.11. 2005)
Nhân dịp xuân về mở sách đọc chuyện cổ chơi, thấy có đề cập chuyện Tương Tư này cũng lạ, nên chép ra để bà con xem cho vui.
Ca dao có câu :
Nắng mưa là chuyện của trời
Tương tư là chuyện của người yêu nhau.
Tương tư trong truyện Phan Trần, trong Bích Câu Kỳ Ngộ cũng là chuyện có những tình tiết hay hấp dẫn nhưng tương tư trong truyện Song Tinh Bất Dạ mới được xem như điễn hình trong văn học cổ điển nước ta.
Song Tinh là tên của một người học trò quê ở Thục Xuyên, có hiệu Bất Dạ, con nuôi của quan Ngự Sử Giám Hồ hiệu là Giang Chương. Từ lâu Song Tinh ở với mẹ ruột, đến khi khôn lớn xin mẹ, trước là đi chu du thăm thú nhân tiện học hỏi thêm. Mẹ chàng gửi thư sinh về nhà cha nuôi ở đất Chiết Tây. Chàng được cha nuôi giúp đỡ ăn học.
Nơi đây Song Tinh cảm tài và yêu Nhụy Châu, con gái của quan Ngự Sử. Hai bên bộc lộ tình ý nhưng không dám nói ra vì ngại trái với đạo lý. Tình tình yêu quá nặng, Song Tinh mang bịnh tương tư, Giang Giám Hồ phải hứa gả Nhụy Châu cho, từ đó chàng mới thuyên giảm bịnh tình.
Sau khi lành bệnh Song Tinh lên đường ứng thí, đậu trạng nguyên. Quan Phò Mã Đỗ Công đề nghị gả con gái của ông cho, nhưng Song Tinh từ chối viện cớ mình đã có nơi đính ước. Đỗ phò mã giận lắm. Nhân có giặc ở biên cương hắn tâu vua cho Song Tinh đi dẹp giặc Phiên. Nơi đây chàng trổ tài ứng phó đem nhân nghĩa, lễ vua tôi quân thần ra bàn giải nên được Phiên vương kính tài, thần phục.
Ở nhà, Hách Nhược Sinh, công tử con của Hách Nguyên Nhung nghe đồn sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành của Nhụy Châu nhờ người mai mối cầu thân nhưng bị quan Ngự Sử cự tuyệt việc cầu hôn. Hách Nhược Sinh để tâm thù oán. Nhân có lệnh vua tuyển cung phi vào đầu tiết xuân thiên, Nhược Sinh giới thiệu với Giám quan phủ Thiệu Hưng là Diêu Doãn tuyển Nhuỵ Châu tiến cung.
Trước khi lên đường về kinh đô, Nhuỵ Châu căn dặn mọi điều với cha mẹ và tha thiết thưa với ông bà Ngự Sử nhận một a hoàn tên là Thể Vân làm con nuôi và Thể Vân sẽ thay Nhụy Châu phụng dưỡng cha mẹ già, và làm vợ cho chồng chưa cưới của mình. Trên đường đi Nhụy châu gieo mình xuống sông tự vẫn nhưng được hai gia nhân của Song Tinh cứu thoát và đưa về nhà ở với Song bà.
Dẹp giặc xong trở về, Song Tinh mới biết Nhuỵ Châu đã chết nên buồn bã. Khi trở về quê nhà, chàng trải qua biết bao nhiêu thăng trầm trắc trở cuối cùng chàng gặp Nhuỵ Châu và Thể Vân ở đây, vợ chồng lại đoàn tụ vui vầy trên dưới đề huề
Nguyễn Hữu Hào tác giả truyện Song Tinh thuộc gia đình võ tướng, cha ông là Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật (1604-1681), anh, Lê Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, người khai sinh đất Saigòn hiện nay. Nguyễn Hữu Hào lúc nhỏ từng theo cha trong quân ngũ, lập được nhiều công. Năm Kỷ Tỵ (1689) dưới triều Chúa Nguyễn Phúc Trăn, ông được bổ Cai Cơ. Năm Canh Ngọ (1690) vì bị gièm pha làm lỡ việc quân. Khi ông được cử đánh Chân Lạp, ông muốn thu phục họ bằng cảm tình nên không tiến công mà rút quân về. Chúa cho ông không làm tròn nhiệm vụ nên ông bị truất.
Dưới triều Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1724), ông được phục chức Cơ Cai rồi lần lên chức Chưởng Cơ.
Năm Giáp Thân (1704) ông được bổ Trấn Thủ Quảng Bình. Ông sáng tác truyện "Song Tinh Bất Dạ" bằng chữ Nôm trong thời gian này .
Năm Quý Tỵ (1713) ông mất, được tặng Đôn Hậu công thần, Thụy Nhu Tử.
Có thể nói "Song Tinh Bất Dạ" là truyện diễn ca bác học đầu tiên của nước ta được xếp vào loại tác phẩm độc đáo về truyện thơ gồm có 2306 câu thơ lục bát.
Song Tinh Bất Dạ ra đời cách đây 300 năm , nó có trước Truyện Kiều 100 năm và Lục Vân Tiên 150 năm. Các tác phẩm sau này đều bị ảnh hưởng ít nhiều về bố cục cũng như cách hành văn của Song Tinh Bất Da.
Những tình tiết trong các truyên thơ cổ điễn nước ta na ná giống nhau: gặp gỡ, yêu đương, nhớ nhung, xa cách rồi tái hợp, cái thiện luôn luôn thắng cái ác...các giáo điều của Nho giáo và Phật giáo là nền tảng của xã hội.
Có 3 % nhân vật chính trong 100 truyện thuộc loại văn học cổ điển nước ta bị bệnh tương tư thuộc loại trầm kha khó chữa trị, nếu không gặp được người yêu e là vong mạng như Tú Uyên trong Bích Câu Kỳ Ngộ, Phan Sinh trong truyện Phan Trần và điển hình nhất là Bất Dạ trong truyện này.
Một cú sốc trước sắc đẹp của Nhụy Châu, Bất Dạ đã ngây ngất chới với khi người đẹp lên tiếng chào:
Tới gần tác tiếp nghiêng mình
Chào rằng "Muôn phước mừng anh bội mừng"
Cái sắc đẹp và tài nữ công gia chánh của Nhụy Châu được Nguyễn Hữu Hào mô tả bằng một loạt điển tích:
Dày dày da ngọc tuyết ken
Mày nga khói đượm, tóc tiên mây lồng
Gót sen đua nở bạch hồng
Sáng ngời mắt phượng tình bông má đào
Rõ ràng ánh nguyệt chói sao
Mỉa đường Tần nữ, kém nào Hạ Cơ.
Phương phi từ tuổi trâm cài
Trổi nghề thêu dệt, trổi tài phú thơ
Y phục và trang sức của nàng như trong một cuộc thi hoa hậu thế kỷ 21:
Nàng đi bước ngọc đầu lê
Áo hừng màu thắm quần lè thức xanh
Xạ hương duồng gió đưa thanh
Rung tay hoàn bội, rỡ mình trân châu
Và cuộc hội ngộ đã để lại một ấn tượng khó quên giữa hai người:
Nỗi riêng hai dạ bỗng in một lòng
Hoặc:
Tương tư từ kết hai lòng
Kẻ chờ cá dảy, người trông chim truyền
Hay:
Nhện xây sa trướng, loan sầu lánh gương
Bất Dạ ngày mong đêm nhớ, học hành trở nên biếng nhác, thân xác ngày càng bạc nhược, tâm tư ủ đột, chàng bắt đầu rơi vào tình trạng của một người mắc bệnh tương tư:
Tưởng thôi nỗi trận tương tư
Giấc mai phảng phất , hồn trưa mơ màng
Bên màn ngọc ỷ ghế nương
Mỉa dường nửa tỉnh, mỉa dường nửa say
Rồi đến một lúc Bất Dạ rơi vào tình trạng hôn mê:
A hoàn vào chốn Hoa đình
Thấy Sinh bất tỉnh như hình thượng phong
Mẹ của Nhụy Châu thấy bệnh tình của Bất Dạ càng ngày càng trở nên trầm trọng, bà càng thêm lo lắng, thuốc thang nhưng..
Phu nhân từ thấy bệnh tình
Ngày hằng thêm nặng, tâm tình chẳng an
Đứng ngồi luống những bàng hoàng
Kim tiền đã xủ, linh dan lại cầu
Những dè quỉ mị làm âu
Nào hay là nỗi, con sầu vì con
Mấy tài quốc thủ danh đồn
Vượt bờ tìm hỏi bôn chôn rước ngừa
Và thật sự bệnh Tương Tư chỉ điều trị được khi giải tỏa ức chế của bệnh nhân mà thôi nghĩa là khi mà bệnh nhân được gặp mặt người yêu như Mị Nương gặp Trương Chi, như Tú Uyên gặp Giáng Kiều như Phan Sinh gặp Diệu Thường.
Cuối cùng Giám Hồ Ngự Sử phải bằng lòng cho Nhụy Châu gặp Song Tinh. Mơ màng trong hôn mê, vẵng bên tai tiếng nói dịu dàng của người yêu như từ một cõi xa vọng lại đã dánh thức, đã làm hồi sinh mạch sống Song Tinh. Chàng đã tỉnh dậy, thoát cơn mê nhờ vào chiếc đũa thần kỳ diệu của tình yêu:
Mạch sầu phủi hết nỗi sầu lâng lâng
Thanh vân nhẹ gót vui mừng
Lặng xem khí sắc lại hừng hơn xưa
Còn trong truyện Phan Trần thì tác giả đưa ra một câu hỏi để tìm ra câu trả lời mà trong câu kết không thấy dáng dấp của y học mà mà cũng chỉ là một câu hỏi vu vơ
Bệnh Tương tư là bệnh gì? cái bệnh mà:
Hơi men chưa nhắp đã say
Như xông mùi nhớ như gây giọng tình
Để rồi:
Vui xuân chung cả một trời
Sầu xuân riêng nặng một người tương tư.
Mal d'amour hay love sick không diễn tả hết cái bệnh tương tư trong văn hóa Việt Nam và Đông phương. Tương tư được hiểu như là một stress ở vào giai đoạn thứ ba, đó là một sự tưởng nhớ quay quắt, ray rứt bồn chồn, một tâm trạng lo lắng không yên, một loại tình yêu đơn phương, một nỗi đam mê kéo dài vô vọng bồng bềnh trong tâm tưởng tất cả đẩy dần người bệnh vào một tình trạng suy nhược thể chất, rối loạn các chức năng tâm sinh lý làm cho thân thể xác xơ gầy còm, mòn mõi, tiều tụy.
Về phương diện khoa học thì đó một sự xáo trộn mãnh liệt các kích thích tố, làm hệ thống miễn dịch suy giảm, làm mất cân bằng hệ thống thần kinh giao cảm và đối giao cảm
Nó không phải là một bệnh có nguyên nhân tâm thần kinh di truyền. Nó cũng không phải là một bệnh thực thể mà nguyên nhân vốn chỉ vì một sự trắc trở xa vắng, một nhớ nhung vời vợi, một nỗi ray rứt khổ đau luôn luôn hiện diện ngày cũng như đêm trong đời sống của bệnh nhân.
Thuốc men, điều dưỡng hay tâm lý liệu pháp đều là vô ích không thể điều trị khỏi được chỉ trừ khi bệnh nhân được nhìn thấy bóng dáng, được gặp mặt người yêu và nhất là được nghe những lời an ủi chính từ miệng người ấy nói ra mà thôi.
Tương tư là một bệnh của một sự lãng mạn mà hình như chĩ xảy ra trong nền văn hóa phương đông, trong những tình sử có một không hai, cho những người mà bản chất của là nghệ sĩ mới dễ mắc bệnh tương tư.
Tương tư là bệnh gì nhỉ có làm băn khoăn, ray rứt vì một kỷ niệm mơ hồ nào đó cho những ngày đầu xuân.

Hình: Một màn yêu đương trong phim độc đáo Casablanca với hai tài tử nổi tiếng là Ingrid Bergman và Humphrey Bogart.
BS Hồ Đắc Duy
[17/11/2005 - Vietnam Review]
BS Hồ Đắc Duy
(Viết tặng anh Nguyễn Ý Đức, ngày 15.11. 2005)
Nhân dịp xuân về mở sách đọc chuyện cổ chơi, thấy có đề cập chuyện Tương Tư này cũng lạ, nên chép ra để bà con xem cho vui.
Ca dao có câu :
Nắng mưa là chuyện của trời
Tương tư là chuyện của người yêu nhau.
Tương tư trong truyện Phan Trần, trong Bích Câu Kỳ Ngộ cũng là chuyện có những tình tiết hay hấp dẫn nhưng tương tư trong truyện Song Tinh Bất Dạ mới được xem như điễn hình trong văn học cổ điển nước ta.
Song Tinh là tên của một người học trò quê ở Thục Xuyên, có hiệu Bất Dạ, con nuôi của quan Ngự Sử Giám Hồ hiệu là Giang Chương. Từ lâu Song Tinh ở với mẹ ruột, đến khi khôn lớn xin mẹ, trước là đi chu du thăm thú nhân tiện học hỏi thêm. Mẹ chàng gửi thư sinh về nhà cha nuôi ở đất Chiết Tây. Chàng được cha nuôi giúp đỡ ăn học.
Nơi đây Song Tinh cảm tài và yêu Nhụy Châu, con gái của quan Ngự Sử. Hai bên bộc lộ tình ý nhưng không dám nói ra vì ngại trái với đạo lý. Tình tình yêu quá nặng, Song Tinh mang bịnh tương tư, Giang Giám Hồ phải hứa gả Nhụy Châu cho, từ đó chàng mới thuyên giảm bịnh tình.
Sau khi lành bệnh Song Tinh lên đường ứng thí, đậu trạng nguyên. Quan Phò Mã Đỗ Công đề nghị gả con gái của ông cho, nhưng Song Tinh từ chối viện cớ mình đã có nơi đính ước. Đỗ phò mã giận lắm. Nhân có giặc ở biên cương hắn tâu vua cho Song Tinh đi dẹp giặc Phiên. Nơi đây chàng trổ tài ứng phó đem nhân nghĩa, lễ vua tôi quân thần ra bàn giải nên được Phiên vương kính tài, thần phục.
Ở nhà, Hách Nhược Sinh, công tử con của Hách Nguyên Nhung nghe đồn sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành của Nhụy Châu nhờ người mai mối cầu thân nhưng bị quan Ngự Sử cự tuyệt việc cầu hôn. Hách Nhược Sinh để tâm thù oán. Nhân có lệnh vua tuyển cung phi vào đầu tiết xuân thiên, Nhược Sinh giới thiệu với Giám quan phủ Thiệu Hưng là Diêu Doãn tuyển Nhuỵ Châu tiến cung.
Trước khi lên đường về kinh đô, Nhuỵ Châu căn dặn mọi điều với cha mẹ và tha thiết thưa với ông bà Ngự Sử nhận một a hoàn tên là Thể Vân làm con nuôi và Thể Vân sẽ thay Nhụy Châu phụng dưỡng cha mẹ già, và làm vợ cho chồng chưa cưới của mình. Trên đường đi Nhụy châu gieo mình xuống sông tự vẫn nhưng được hai gia nhân của Song Tinh cứu thoát và đưa về nhà ở với Song bà.
Dẹp giặc xong trở về, Song Tinh mới biết Nhuỵ Châu đã chết nên buồn bã. Khi trở về quê nhà, chàng trải qua biết bao nhiêu thăng trầm trắc trở cuối cùng chàng gặp Nhuỵ Châu và Thể Vân ở đây, vợ chồng lại đoàn tụ vui vầy trên dưới đề huề
Nguyễn Hữu Hào tác giả truyện Song Tinh thuộc gia đình võ tướng, cha ông là Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật (1604-1681), anh, Lê Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, người khai sinh đất Saigòn hiện nay. Nguyễn Hữu Hào lúc nhỏ từng theo cha trong quân ngũ, lập được nhiều công. Năm Kỷ Tỵ (1689) dưới triều Chúa Nguyễn Phúc Trăn, ông được bổ Cai Cơ. Năm Canh Ngọ (1690) vì bị gièm pha làm lỡ việc quân. Khi ông được cử đánh Chân Lạp, ông muốn thu phục họ bằng cảm tình nên không tiến công mà rút quân về. Chúa cho ông không làm tròn nhiệm vụ nên ông bị truất.
Dưới triều Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1724), ông được phục chức Cơ Cai rồi lần lên chức Chưởng Cơ.
Năm Giáp Thân (1704) ông được bổ Trấn Thủ Quảng Bình. Ông sáng tác truyện "Song Tinh Bất Dạ" bằng chữ Nôm trong thời gian này .
Năm Quý Tỵ (1713) ông mất, được tặng Đôn Hậu công thần, Thụy Nhu Tử.
Có thể nói "Song Tinh Bất Dạ" là truyện diễn ca bác học đầu tiên của nước ta được xếp vào loại tác phẩm độc đáo về truyện thơ gồm có 2306 câu thơ lục bát.
Song Tinh Bất Dạ ra đời cách đây 300 năm , nó có trước Truyện Kiều 100 năm và Lục Vân Tiên 150 năm. Các tác phẩm sau này đều bị ảnh hưởng ít nhiều về bố cục cũng như cách hành văn của Song Tinh Bất Da.
Những tình tiết trong các truyên thơ cổ điễn nước ta na ná giống nhau: gặp gỡ, yêu đương, nhớ nhung, xa cách rồi tái hợp, cái thiện luôn luôn thắng cái ác...các giáo điều của Nho giáo và Phật giáo là nền tảng của xã hội.
Có 3 % nhân vật chính trong 100 truyện thuộc loại văn học cổ điển nước ta bị bệnh tương tư thuộc loại trầm kha khó chữa trị, nếu không gặp được người yêu e là vong mạng như Tú Uyên trong Bích Câu Kỳ Ngộ, Phan Sinh trong truyện Phan Trần và điển hình nhất là Bất Dạ trong truyện này.
Một cú sốc trước sắc đẹp của Nhụy Châu, Bất Dạ đã ngây ngất chới với khi người đẹp lên tiếng chào:
Tới gần tác tiếp nghiêng mình
Chào rằng "Muôn phước mừng anh bội mừng"
Cái sắc đẹp và tài nữ công gia chánh của Nhụy Châu được Nguyễn Hữu Hào mô tả bằng một loạt điển tích:
Dày dày da ngọc tuyết ken
Mày nga khói đượm, tóc tiên mây lồng
Gót sen đua nở bạch hồng
Sáng ngời mắt phượng tình bông má đào
Rõ ràng ánh nguyệt chói sao
Mỉa đường Tần nữ, kém nào Hạ Cơ.
Phương phi từ tuổi trâm cài
Trổi nghề thêu dệt, trổi tài phú thơ
Y phục và trang sức của nàng như trong một cuộc thi hoa hậu thế kỷ 21:
Nàng đi bước ngọc đầu lê
Áo hừng màu thắm quần lè thức xanh
Xạ hương duồng gió đưa thanh
Rung tay hoàn bội, rỡ mình trân châu
Và cuộc hội ngộ đã để lại một ấn tượng khó quên giữa hai người:
Nỗi riêng hai dạ bỗng in một lòng
Hoặc:
Tương tư từ kết hai lòng
Kẻ chờ cá dảy, người trông chim truyền
Hay:
Nhện xây sa trướng, loan sầu lánh gương
Bất Dạ ngày mong đêm nhớ, học hành trở nên biếng nhác, thân xác ngày càng bạc nhược, tâm tư ủ đột, chàng bắt đầu rơi vào tình trạng của một người mắc bệnh tương tư:
Tưởng thôi nỗi trận tương tư
Giấc mai phảng phất , hồn trưa mơ màng
Bên màn ngọc ỷ ghế nương
Mỉa dường nửa tỉnh, mỉa dường nửa say
Rồi đến một lúc Bất Dạ rơi vào tình trạng hôn mê:
A hoàn vào chốn Hoa đình
Thấy Sinh bất tỉnh như hình thượng phong
Mẹ của Nhụy Châu thấy bệnh tình của Bất Dạ càng ngày càng trở nên trầm trọng, bà càng thêm lo lắng, thuốc thang nhưng..
Phu nhân từ thấy bệnh tình
Ngày hằng thêm nặng, tâm tình chẳng an
Đứng ngồi luống những bàng hoàng
Kim tiền đã xủ, linh dan lại cầu
Những dè quỉ mị làm âu
Nào hay là nỗi, con sầu vì con
Mấy tài quốc thủ danh đồn
Vượt bờ tìm hỏi bôn chôn rước ngừa
Và thật sự bệnh Tương Tư chỉ điều trị được khi giải tỏa ức chế của bệnh nhân mà thôi nghĩa là khi mà bệnh nhân được gặp mặt người yêu như Mị Nương gặp Trương Chi, như Tú Uyên gặp Giáng Kiều như Phan Sinh gặp Diệu Thường.
Cuối cùng Giám Hồ Ngự Sử phải bằng lòng cho Nhụy Châu gặp Song Tinh. Mơ màng trong hôn mê, vẵng bên tai tiếng nói dịu dàng của người yêu như từ một cõi xa vọng lại đã dánh thức, đã làm hồi sinh mạch sống Song Tinh. Chàng đã tỉnh dậy, thoát cơn mê nhờ vào chiếc đũa thần kỳ diệu của tình yêu:
Mạch sầu phủi hết nỗi sầu lâng lâng
Thanh vân nhẹ gót vui mừng
Lặng xem khí sắc lại hừng hơn xưa
Còn trong truyện Phan Trần thì tác giả đưa ra một câu hỏi để tìm ra câu trả lời mà trong câu kết không thấy dáng dấp của y học mà mà cũng chỉ là một câu hỏi vu vơ
Bệnh Tương tư là bệnh gì? cái bệnh mà:
Hơi men chưa nhắp đã say
Như xông mùi nhớ như gây giọng tình
Để rồi:
Vui xuân chung cả một trời
Sầu xuân riêng nặng một người tương tư.
Mal d'amour hay love sick không diễn tả hết cái bệnh tương tư trong văn hóa Việt Nam và Đông phương. Tương tư được hiểu như là một stress ở vào giai đoạn thứ ba, đó là một sự tưởng nhớ quay quắt, ray rứt bồn chồn, một tâm trạng lo lắng không yên, một loại tình yêu đơn phương, một nỗi đam mê kéo dài vô vọng bồng bềnh trong tâm tưởng tất cả đẩy dần người bệnh vào một tình trạng suy nhược thể chất, rối loạn các chức năng tâm sinh lý làm cho thân thể xác xơ gầy còm, mòn mõi, tiều tụy.
Về phương diện khoa học thì đó một sự xáo trộn mãnh liệt các kích thích tố, làm hệ thống miễn dịch suy giảm, làm mất cân bằng hệ thống thần kinh giao cảm và đối giao cảm
Nó không phải là một bệnh có nguyên nhân tâm thần kinh di truyền. Nó cũng không phải là một bệnh thực thể mà nguyên nhân vốn chỉ vì một sự trắc trở xa vắng, một nhớ nhung vời vợi, một nỗi ray rứt khổ đau luôn luôn hiện diện ngày cũng như đêm trong đời sống của bệnh nhân.
Thuốc men, điều dưỡng hay tâm lý liệu pháp đều là vô ích không thể điều trị khỏi được chỉ trừ khi bệnh nhân được nhìn thấy bóng dáng, được gặp mặt người yêu và nhất là được nghe những lời an ủi chính từ miệng người ấy nói ra mà thôi.
Tương tư là một bệnh của một sự lãng mạn mà hình như chĩ xảy ra trong nền văn hóa phương đông, trong những tình sử có một không hai, cho những người mà bản chất của là nghệ sĩ mới dễ mắc bệnh tương tư.
Tương tư là bệnh gì nhỉ có làm băn khoăn, ray rứt vì một kỷ niệm mơ hồ nào đó cho những ngày đầu xuân.

Hình: Một màn yêu đương trong phim độc đáo Casablanca với hai tài tử nổi tiếng là Ingrid Bergman và Humphrey Bogart.
BS Hồ Đắc Duy
Mời quý vị nghe Hoài Linh
hội thi chim:
[ram]http://www35.websamba.com/manhhaiws/thu ... ANHHAI.wma[/ram]
.
hội thi chim:
[ram]http://www35.websamba.com/manhhaiws/thu ... ANHHAI.wma[/ram]
.
Tặng anh 3 Giang 1 món nhậu đặc sắc:
Bài trích từ Bạn Già KQ
-------------------------------
ỐC VÒI VOI
đầu bếp 65c
Thưa các bạn,
Chúng ta giờ đây trẻ nhất cũng đã hơn sáu bó, việc ăn uống là chuyện nhỏ, chuyện bồi bổ gân cốt là chuyện chính. Đầu bếp tui sau bao phen thử nghiệm và thấy rằng món Ốc Vòi Voi này đại bổ, đại bổ nên phải phổ biến tổng quát ABCDEF, để các bạn cùng hưởng phước.
Ốc vòi voi là loại sò nghêu lớn nhất trong các loài nghêu sò. Về hình dạng như hình trên, gồm có một cái vòi giống cái vòi cuả con voi, phần thân được bảo bọc bằng hai vỏ cứng. Thân ốc vòi voi dính với vỏ bằng 04 cục thịt gân (mỗi vỏ hai cái). Phần vòi là phần tối ưu để nhậu. Để có được một món nhậu thật vừa ý, đầu bếp tui xin hướng dẫn các bạn từ A tới Z trong việc làm món nhậu này.
phần I : chọn mua ốc vòi voi
[left]http://content.answers.com/main/content ... eoduck.jpg[/left]Thường chúng ta chở vợ con đi chợ, lang thang trong khu chợ cá, thỉnh thoảng thấy có những con ốc vòi voi được bán, nhưng vì chưa biết được tác dụng hết sẩy khi được ăn con ốc này, chúng ta nhìn những con ốc này giống như những con "Monster". Nhưng khi đã ăn và được hưởng "phước" từ con vật trên, thì thái độ và ánh mắt nhìn con vòi voi này sè thật thân thiện và bao hàm sự biết ơn. Tại các chợ Việt Nam và chợ Seafood của Việt Nam, thường ốc vòi voi được bầy bán trong hai dạng.
Bạn chỉ nhìn thấy con ốc vòi voi mà không sờ được nó ( những con vật này được nằm trong những bể kính bự để nuôi cá). Gặp cảnh này, bạn chỉ còn cách "order" người bán hàng chọn cho bạn một con ốc vòi voi (nếu để thực tập bài học vỡ lòng này ) khoảng trong vòng hai pounds. Nhưng để ý điều này, khi người bán hàng đưa bao đựng con ốc bạn muốn mua, bạn hãy bình thản mở bao ra và sờ vào con ốc ngay phần cái vòi của nó, nếu bạn thấy, cái vòi voi của nó nở tròn đều và cứng sau đó co lại , đó là con ốc còn sống, và ngửi thì không thấy mùi gì cả, con ốc vòi voi đó rất tươi, đáng được mua. Còn ngược lại thấy cái vòi dẹp lại và đụng vào cái vòi , vòi chẳng thun lại và ngửi con ốc thấy có mùi khăm khắm và tanh, trả lại ngay vì con đó đã chết, phải đòi đổi cho được con khác có tiêu chuẩn như phần diễn giảng ở đoạn đầu.
Nếu may mắn được mua ở các chợ, họ đựng các con ốc này trong bể kính bự mà ta có thể bắt được và lựa từng con một, bạn cứ tà tà nhìn con nào còn nhúc nhìch và cái vòi càng dài , tròn lẳn và càng trắng càng tốt. Bắt từng con một bỏ ra ngoài, dùng tay đụng vào cái vòi, tự động co lại đó là con đó còn tươi, sống, đáng mua. Giờ đã có nhiều con tươi, sống bạn nên chọn con vòi dài và phần thân (vỏ nghêu) nhỏ thì ta lấy. Lý do : phần thân càng to, thì càng nặng mà phần ăn được chả có bao nhiêu. Xong phần này có nghĩa là chúng ta đã có một con hay nhiều con ốc vòi voi tươi, sống.
Nếu nhà gần chợ, bạn chỉ mang về và làm thịt. Nếu ở xa bạn phải xin thêm một bao nước đá đã đập nhỏ, bỏ bao đựng ốc vào trong bao nước đá, như vậy khi về đến nhà ốc vẫn còn tươi. Nếu bao bọc ốc vòi voi bằng khăn ẩm bỏ trong ngăn bên dưới của tủ lạnh, ốc sẽ tưoi và sống ít nhất trong ba ngày.
phần II : cách làm ốc vòi voi.
Tách vỏ và lột da ốc.
[left]http://www.bgkq.net/xahoi/OcVoiVoi/TachOcKhoiVo.jpg[/left]Vật dụng cần : - 01 con dao tây đầu nhọn, sắc và một cái thớt. - Một ít rượu trắng và muối.
Trước tiên ta dùng dao sắc và đầu nhọn lách vào phần thân ốc và vỏ. Chọc sâu xuống gần phía dưới sẽ đụng phải hai cục thịt gân dính vào vỏ. Dùng đầu dao nhọn cắt rời hai cục thit này khỏi vỏ, như vậy ta đã tách được một bên vỏ ra khỏi thân con ốc, tiếp tục như trên cho vỏ còn lại. Giờ đây vỏ ốc vứt đi, ta chỉ còn vòi ốc và thân ốc. Tiếp đến ta cắt cái vòi con ốc ra khỏi phần thân. Thân ốc còn lại, ta cắt vứt bỏ cái dạ dầy của con ốc thường tròn bằng trái bóng bàn. Lúc này con ốc chỉ còn cái vòi và một dải thân ốc chỗ lòi ra nơi vỏ ốc không khép kín được.
[right]http://www.bgkq.net/xahoi/OcVoiVoi/LotVoKhoiThit.jpg[/right]Để lột vỏ ốc, ta mở vòi nước pha cho nước nóng hơn tay ta chịu đựng được một chút, sau đó để cái vòi ốc và phần thân ốc vào vòi nước đó khoảng hai ba phút, sờ vào phần vỏ thấy như vỏ đã tuột ra khỏi thịt ốc, từ từ ta lột vỏ ra khỏi thịt ốc. Sau đó rửa sạch những phần mầu nâu trên vòi ốc, nếu cần có thể dùng xơ mướp để chùi hết phần mầu nâu trên thịt ốc cho đến khi thấy thịt ốc trắng hếu là OK. Phần thân cũng lột vỏ và rửa sạch sẽ.[left]http://www.bgkq.net/xahoi/OcVoiVoi/ThitRuaXong.jpg[/left]
Phần vòi ốc ta dùng dao nhọn sắc cắt hai bên vòi ốc sau đó cắt thành giữa của cái vòi, như vậy ta đã có hai miếng thịt vòi ốc. Rắc muối lên ba miếng thịt ốc trên (hai miếng vòi, một miếng thân) bóp cho hết nước nhờn sau đó rửa sạch lại bằng nước lã. Để cho thịt ốc thơm và không có mùi tanh của sinh vật sống trong nước mặn, ta dùng rượu trắng rửa lại lần chót, bảo đảm thịt ốc không có mùi gì cả.[right]http://www.bgkq.net/xahoi/OcVoiVoi/CatVoiOc_2.jpg[/right]
Cách cắt thịt ốc ra để nhậu.
Trước tiên ta cắt miếng vòi , để miếng vòi voi trên thớt sạch, dùng dao sắc, nghiêng khoảng 30 độ, cắt từng miếng thịt ốc một, bề dầy mỗi miếng khoảng hai ly, dầy như vậy ăn mới dòn và đã miệng. Tiếp tục cắt cho hết phần thịt của cái vòi , cắt đến đâu ta để những miếng ốc vòi voi đã cắt trên đĩa đã có lót miếng giấy bạc, hay napkin. Khi đã đầy đĩa, lấy giấy "clear plastic" đậy lên đĩa thịt ốc đã cắt, rồi bỏ vào ngăn dưới của tủ lạnh khoảng 30 phút sau là sẵn sàng để nhậu. Nhớ đừng để trên ngăn đá sẽ quá lạnh thịt ốc sẽ không dòn. Riêng phần thân ốc, ta cứ để trên thớt, cắt nghiêng và mỏng như phần vòi, sau đó bỏ vào một cái chén nhỏ và bỏ vào tủ lạnh. Phần này dành cho nồi cháo.
Thưởng thức món ốc vòi voi.
Một con ốc vòi voi chúng ta sẽ nhậu, tức là ăn sống với cái vòi, và phần thân dùng với cháo.
Ăn sống phần vòi.
Khi nào ăn ta hãy đem đĩa thịt vòi ra, còn nếu chưa ăn ta cứ để y nguyên trong tủ lạnh. Phần nước chấm cho những miếng thịt vòi voi này phải là Washabi cay. Lấy đĩa chấm nhỏ, bỏ vào khoảng nửa thìa cà phê Washabi, vắt ít giọt chanh, ít sì dầu ngon, tất cả quậy đều lên. Sau đó, ta gắp một miếng thịt vòi voi đã cắt, trắng nuốt, săn cứng hơi cong cong, chấm vào chén Washabi, bỏ vào miệng nhai. Thịt vòi voi vừa dòn vừa ngọt vừa thơm, Washabi vừa cay vừa nồng đến tận óc, nuốt qua khỏi miệng ôi sao nó ngon lạ lùng. Sẵn ly bia bên cạnh ta làm một hớp đưa cay. Ôi ! Sao trên đời lại có những của ngon vật lạ như thế này. Lúc đó trong đầu ta, ta sẽ tự mắng ta, "Sao mãi đến giờ này ta mới biết con ốc này." Còn phần "ếp phê" của nó ta sẽ phải chờ khi màn đêm buông xuống.
Phần thân cho nồi cháo.
Sau khi đã tận hưởng hết phần thịt của cái vòi, giờ đến thưởng thức phần thân ốc cho nồi cháo. Để cho nồi cháo thật lạ miệng và ngon, gạo vo sạch để cho ráo nước. Sau đó ta bắc chảo lên cho tí dầu ăn, tí hành hoa cắt nhỏ, đảo qua đảo lại cho thơm sau đó bỏ gạo vào, rang cho gạo hơi vàng là được. Bỏ gạo đã rang vào nồi lớn, đổ nước nhiều vào và bắt đầu nấu cho thành cháo hoa lỏng. Mục đích rang gạo trước khi nấu cháo là muốn để cháo không quá dẻo và đặc. Khi nồi cháo đã chín, nêm mắm muối vừa ăn. Để chén cháo cho thật ngon, ta cần cắt gừng thật nhuyễn như sợi chỉ, trứng vịt bách thảo cắt nhỏ cỡ đầu ngón tay út. Hành lá, ngò cắt nhỏ, tiêu để sẵn.
Khi múc chén cháo, ta bỏ độ dăm bẩy miếng thịt thân ốc đã cắt vào chén, ít gừng, sau đó mới múc cháo nóng đang để riu riu trên bếp cho đầy chén, bỏ ít hành ngò lên trên, tí tiêu. Riêng trứng bách thảo ai muốn ăn tùy ý bỏ vào. Chén cháo này nuốt vào đến đâu ta sẽ cảm thấy ngon ngọt hơn cháo bào ngư nữa.
Qua kinh nghiệm Chef 65C tui có ý kiến sau cho quý bạn nhậu 65 KQ. Nếu có thể mua ốc vòi voi khoảng 02 tới 04 lbs, thịt ốc rất ngon, nhỏ quá thịt không dòn và ngọt bằng mấy con lớn. Cho 04 tay nhậu, một con khoảng 04 lbs , 01 nồi cháo, một chai X.O. hay Cordon. Hết ý !
Thưa các bạn, sau khi đã được thưởng thức món ốc vòi voi xong, chúc các bạn sẽ thấy ngay sự ếp phê của nó. Đầu Bếp 65C bảo đảm với các bạn công hiệu hết xẩy. Mong các bạn hãy thưởng thức ngay món đại bổ này ngay kẻo quá trễ vì chúng ta đã quá sáu bó rồi.
Chef 65C
Bài trích từ Bạn Già KQ
-------------------------------
ỐC VÒI VOI
đầu bếp 65c Thưa các bạn,
Chúng ta giờ đây trẻ nhất cũng đã hơn sáu bó, việc ăn uống là chuyện nhỏ, chuyện bồi bổ gân cốt là chuyện chính. Đầu bếp tui sau bao phen thử nghiệm và thấy rằng món Ốc Vòi Voi này đại bổ, đại bổ nên phải phổ biến tổng quát ABCDEF, để các bạn cùng hưởng phước.
Ốc vòi voi là loại sò nghêu lớn nhất trong các loài nghêu sò. Về hình dạng như hình trên, gồm có một cái vòi giống cái vòi cuả con voi, phần thân được bảo bọc bằng hai vỏ cứng. Thân ốc vòi voi dính với vỏ bằng 04 cục thịt gân (mỗi vỏ hai cái). Phần vòi là phần tối ưu để nhậu. Để có được một món nhậu thật vừa ý, đầu bếp tui xin hướng dẫn các bạn từ A tới Z trong việc làm món nhậu này.
phần I : chọn mua ốc vòi voi
[left]http://content.answers.com/main/content ... eoduck.jpg[/left]Thường chúng ta chở vợ con đi chợ, lang thang trong khu chợ cá, thỉnh thoảng thấy có những con ốc vòi voi được bán, nhưng vì chưa biết được tác dụng hết sẩy khi được ăn con ốc này, chúng ta nhìn những con ốc này giống như những con "Monster". Nhưng khi đã ăn và được hưởng "phước" từ con vật trên, thì thái độ và ánh mắt nhìn con vòi voi này sè thật thân thiện và bao hàm sự biết ơn. Tại các chợ Việt Nam và chợ Seafood của Việt Nam, thường ốc vòi voi được bầy bán trong hai dạng.
Bạn chỉ nhìn thấy con ốc vòi voi mà không sờ được nó ( những con vật này được nằm trong những bể kính bự để nuôi cá). Gặp cảnh này, bạn chỉ còn cách "order" người bán hàng chọn cho bạn một con ốc vòi voi (nếu để thực tập bài học vỡ lòng này ) khoảng trong vòng hai pounds. Nhưng để ý điều này, khi người bán hàng đưa bao đựng con ốc bạn muốn mua, bạn hãy bình thản mở bao ra và sờ vào con ốc ngay phần cái vòi của nó, nếu bạn thấy, cái vòi voi của nó nở tròn đều và cứng sau đó co lại , đó là con ốc còn sống, và ngửi thì không thấy mùi gì cả, con ốc vòi voi đó rất tươi, đáng được mua. Còn ngược lại thấy cái vòi dẹp lại và đụng vào cái vòi , vòi chẳng thun lại và ngửi con ốc thấy có mùi khăm khắm và tanh, trả lại ngay vì con đó đã chết, phải đòi đổi cho được con khác có tiêu chuẩn như phần diễn giảng ở đoạn đầu.
Nếu may mắn được mua ở các chợ, họ đựng các con ốc này trong bể kính bự mà ta có thể bắt được và lựa từng con một, bạn cứ tà tà nhìn con nào còn nhúc nhìch và cái vòi càng dài , tròn lẳn và càng trắng càng tốt. Bắt từng con một bỏ ra ngoài, dùng tay đụng vào cái vòi, tự động co lại đó là con đó còn tươi, sống, đáng mua. Giờ đã có nhiều con tươi, sống bạn nên chọn con vòi dài và phần thân (vỏ nghêu) nhỏ thì ta lấy. Lý do : phần thân càng to, thì càng nặng mà phần ăn được chả có bao nhiêu. Xong phần này có nghĩa là chúng ta đã có một con hay nhiều con ốc vòi voi tươi, sống.
Nếu nhà gần chợ, bạn chỉ mang về và làm thịt. Nếu ở xa bạn phải xin thêm một bao nước đá đã đập nhỏ, bỏ bao đựng ốc vào trong bao nước đá, như vậy khi về đến nhà ốc vẫn còn tươi. Nếu bao bọc ốc vòi voi bằng khăn ẩm bỏ trong ngăn bên dưới của tủ lạnh, ốc sẽ tưoi và sống ít nhất trong ba ngày.
phần II : cách làm ốc vòi voi.
Tách vỏ và lột da ốc.
[left]http://www.bgkq.net/xahoi/OcVoiVoi/TachOcKhoiVo.jpg[/left]Vật dụng cần : - 01 con dao tây đầu nhọn, sắc và một cái thớt. - Một ít rượu trắng và muối.
Trước tiên ta dùng dao sắc và đầu nhọn lách vào phần thân ốc và vỏ. Chọc sâu xuống gần phía dưới sẽ đụng phải hai cục thịt gân dính vào vỏ. Dùng đầu dao nhọn cắt rời hai cục thit này khỏi vỏ, như vậy ta đã tách được một bên vỏ ra khỏi thân con ốc, tiếp tục như trên cho vỏ còn lại. Giờ đây vỏ ốc vứt đi, ta chỉ còn vòi ốc và thân ốc. Tiếp đến ta cắt cái vòi con ốc ra khỏi phần thân. Thân ốc còn lại, ta cắt vứt bỏ cái dạ dầy của con ốc thường tròn bằng trái bóng bàn. Lúc này con ốc chỉ còn cái vòi và một dải thân ốc chỗ lòi ra nơi vỏ ốc không khép kín được.
[right]http://www.bgkq.net/xahoi/OcVoiVoi/LotVoKhoiThit.jpg[/right]Để lột vỏ ốc, ta mở vòi nước pha cho nước nóng hơn tay ta chịu đựng được một chút, sau đó để cái vòi ốc và phần thân ốc vào vòi nước đó khoảng hai ba phút, sờ vào phần vỏ thấy như vỏ đã tuột ra khỏi thịt ốc, từ từ ta lột vỏ ra khỏi thịt ốc. Sau đó rửa sạch những phần mầu nâu trên vòi ốc, nếu cần có thể dùng xơ mướp để chùi hết phần mầu nâu trên thịt ốc cho đến khi thấy thịt ốc trắng hếu là OK. Phần thân cũng lột vỏ và rửa sạch sẽ.[left]http://www.bgkq.net/xahoi/OcVoiVoi/ThitRuaXong.jpg[/left]
Phần vòi ốc ta dùng dao nhọn sắc cắt hai bên vòi ốc sau đó cắt thành giữa của cái vòi, như vậy ta đã có hai miếng thịt vòi ốc. Rắc muối lên ba miếng thịt ốc trên (hai miếng vòi, một miếng thân) bóp cho hết nước nhờn sau đó rửa sạch lại bằng nước lã. Để cho thịt ốc thơm và không có mùi tanh của sinh vật sống trong nước mặn, ta dùng rượu trắng rửa lại lần chót, bảo đảm thịt ốc không có mùi gì cả.[right]http://www.bgkq.net/xahoi/OcVoiVoi/CatVoiOc_2.jpg[/right]
Cách cắt thịt ốc ra để nhậu.
Trước tiên ta cắt miếng vòi , để miếng vòi voi trên thớt sạch, dùng dao sắc, nghiêng khoảng 30 độ, cắt từng miếng thịt ốc một, bề dầy mỗi miếng khoảng hai ly, dầy như vậy ăn mới dòn và đã miệng. Tiếp tục cắt cho hết phần thịt của cái vòi , cắt đến đâu ta để những miếng ốc vòi voi đã cắt trên đĩa đã có lót miếng giấy bạc, hay napkin. Khi đã đầy đĩa, lấy giấy "clear plastic" đậy lên đĩa thịt ốc đã cắt, rồi bỏ vào ngăn dưới của tủ lạnh khoảng 30 phút sau là sẵn sàng để nhậu. Nhớ đừng để trên ngăn đá sẽ quá lạnh thịt ốc sẽ không dòn. Riêng phần thân ốc, ta cứ để trên thớt, cắt nghiêng và mỏng như phần vòi, sau đó bỏ vào một cái chén nhỏ và bỏ vào tủ lạnh. Phần này dành cho nồi cháo.
Thưởng thức món ốc vòi voi.
Ăn sống phần vòi.
Khi nào ăn ta hãy đem đĩa thịt vòi ra, còn nếu chưa ăn ta cứ để y nguyên trong tủ lạnh. Phần nước chấm cho những miếng thịt vòi voi này phải là Washabi cay. Lấy đĩa chấm nhỏ, bỏ vào khoảng nửa thìa cà phê Washabi, vắt ít giọt chanh, ít sì dầu ngon, tất cả quậy đều lên. Sau đó, ta gắp một miếng thịt vòi voi đã cắt, trắng nuốt, săn cứng hơi cong cong, chấm vào chén Washabi, bỏ vào miệng nhai. Thịt vòi voi vừa dòn vừa ngọt vừa thơm, Washabi vừa cay vừa nồng đến tận óc, nuốt qua khỏi miệng ôi sao nó ngon lạ lùng. Sẵn ly bia bên cạnh ta làm một hớp đưa cay. Ôi ! Sao trên đời lại có những của ngon vật lạ như thế này. Lúc đó trong đầu ta, ta sẽ tự mắng ta, "Sao mãi đến giờ này ta mới biết con ốc này." Còn phần "ếp phê" của nó ta sẽ phải chờ khi màn đêm buông xuống.
Phần thân cho nồi cháo.
Sau khi đã tận hưởng hết phần thịt của cái vòi, giờ đến thưởng thức phần thân ốc cho nồi cháo. Để cho nồi cháo thật lạ miệng và ngon, gạo vo sạch để cho ráo nước. Sau đó ta bắc chảo lên cho tí dầu ăn, tí hành hoa cắt nhỏ, đảo qua đảo lại cho thơm sau đó bỏ gạo vào, rang cho gạo hơi vàng là được. Bỏ gạo đã rang vào nồi lớn, đổ nước nhiều vào và bắt đầu nấu cho thành cháo hoa lỏng. Mục đích rang gạo trước khi nấu cháo là muốn để cháo không quá dẻo và đặc. Khi nồi cháo đã chín, nêm mắm muối vừa ăn. Để chén cháo cho thật ngon, ta cần cắt gừng thật nhuyễn như sợi chỉ, trứng vịt bách thảo cắt nhỏ cỡ đầu ngón tay út. Hành lá, ngò cắt nhỏ, tiêu để sẵn.
Khi múc chén cháo, ta bỏ độ dăm bẩy miếng thịt thân ốc đã cắt vào chén, ít gừng, sau đó mới múc cháo nóng đang để riu riu trên bếp cho đầy chén, bỏ ít hành ngò lên trên, tí tiêu. Riêng trứng bách thảo ai muốn ăn tùy ý bỏ vào. Chén cháo này nuốt vào đến đâu ta sẽ cảm thấy ngon ngọt hơn cháo bào ngư nữa.
Qua kinh nghiệm Chef 65C tui có ý kiến sau cho quý bạn nhậu 65 KQ. Nếu có thể mua ốc vòi voi khoảng 02 tới 04 lbs, thịt ốc rất ngon, nhỏ quá thịt không dòn và ngọt bằng mấy con lớn. Cho 04 tay nhậu, một con khoảng 04 lbs , 01 nồi cháo, một chai X.O. hay Cordon. Hết ý !
Thưa các bạn, sau khi đã được thưởng thức món ốc vòi voi xong, chúc các bạn sẽ thấy ngay sự ếp phê của nó. Đầu Bếp 65C bảo đảm với các bạn công hiệu hết xẩy. Mong các bạn hãy thưởng thức ngay món đại bổ này ngay kẻo quá trễ vì chúng ta đã quá sáu bó rồi.
Chef 65C
Re: Góc nhỏ của anh 3 Giang
Chuyện tù cải tạo
NHƯ CHUYỆN KHÔNG TƯỞNG
Chung Tử Bửu
65E
Khi cánh cửa phòng giam trại thẩm vấn tù binh Ngã Tư Sở, Hà Nội, đóng lại cài then khóa chặt phía ngoài vào buổi chiều ngày 9 tháng 3 năm 1971, mọi dự tính trốn thoát của tôi trở thành vô hi vọng. Tụi ma giáo nầy sẽ giở trò quỉ quái gì đây? Bao giờ thì mình sẽ bị đưa lên các trại khổ sai nơi thâm sơn cùng cốc? Mình sẽ chịu nổi các đòn tra tấn tới mức nào? Bao giờ thì chúng sẽ đem mình đi thủ tiêu? Có khi nào mình sống sót trở về gặp lại bao người thân yêu nhất không?
Phương trời Nam xa xôi ấy, người mẹ góa, đàn em dại, cô vợ trẻ, đứa con đầu lòng đang chập chững tập đi, đơn vị cũ, khung trời xưa, bạn bè, chiến hữu, bây giờ ra sao? Biết bao nhiêu hình ảnh hiện lên trong trí não. Những khổ đau của bao người thân ở miền Nam vời vợi ấy có lẽ sẽ dần nguôi. Bóng hình, tên tuổi mình ở phi đoàn rồi sẽ phai dần vào quên lãng. Các bạn cùng khóa có lẽ thấy thầm tội nghiệp cho số phận hẩm hiu của mình được vài ngày rồi cũng quên. Nhưng mình phải sửa soạn đương đầu với một cảnh ngộ chưa hề chuẩn bị đối phó: Đời tù binh trong các nhà giam cộng sản!
Mỗi lần nhìn thấy hai người đàn em của tôi cùng bị bắt tại mặt trận, thiếu úy Khánh và thiếu úy On bị giam khác phòng nhưng cùng một dãy, là tim tôi nhói lên vì thương các đàn em của mình.
Các cậu mới ra trường được vài tháng, bay hoa tiêu phó cho tôi một thời gian, chưa dạn dày chiến trận đã bị lôi theo con chim đầu đàn gãy cánh. Trong số mười sáu sĩ quan tù binh bị bắt trong cùng một trận đánh, tuy hai cậu ấy là người gần gũi nhất của tôi, nhưng nếu hỏi rằng tôi biết gì về tánh tình, khả năng, tài vặt, hoặc đời tư của hai chàng, thì tôi cũng mù tịt. Tôi chỉ cảm nhận một điều, mình phải có bổn phận khích lệ và an ủi hai người em cùng phi đoàn.
Năm tháng bị thẩm vấn căng thẳng rồi cũng quen, nhưng cái loa điện tổ chảng chĩa thẳng vào mấy cửa sổ cao sát trần nhà phòng giam phát tiếng the thé của đài Nói Dối Việt Nam; nào là buổi trưa hát bài chòi, giữa đêm hát chèo, với mấy thứ nhạc lai Tàu bắt chước giọng Liên Xô hát nhanh như ma đuổi, thật chịu không thấu bà con ạ! Một hôm đi ngang qua cửa phòng Khánh và On, Khánh cầm hai hột nhãn lượm ngoài sân ra dấu bảo tôi hãy lấy hột nhãn, rửa sạch, nút lỗ tai để đỡ phải nghe.
Bao đêm khuya canh vắng suy nghĩ về tương lai đen tối của mình, có một câu hỏi vấn vương không rứt ra được: “Nếu thật có thiên đàng, hỏa ngục và linh hồn, khi mi chết hồn mi sẽ đi đâu? Lên hay xuống?” Sau một số ngày thành thật suy nghĩ thì câu trả lời rất rõ ràng là sẽ đi xuống! Tại sao? Bởi vì mặc dù có đạo, nhưng giữa tôi với cõi thiên đàng chẳng có mối liên hệ chặt chẽ nào bảo đảm một vé đi lên. Nhìn lại mặt đạo đức của mình thì chỉ toàn là những điều xấu hổ. Đúng là đầu xanh mà vô số tội! Bị đối diện với sự thật nghiệt ngã, tôi mới nhận ra rằng dù có biết, có tin, có là đạo vòng vòng, chẳng thứ nào tạo được tình liên hệ thân ái với Đấng Tối Cao là Đấng sẽ ban quyết định cho mình lên hoặc xuống. Lấy lẽ công bằng mà nói, thần nào, cõi thánh thiện nào chịu chứa chấp một thằng có đủ thứ tội lỗi xấu xa như tôi?
Đứng trước số phận vĩnh cửu của mình, tôi không thể khinh xuất đặt niềm tin vu vơ vào những điều chỉ nghe người ta truyền lại chứ chưa bao giờ biết rõ. Trong cõi nhân loại có nhiều niềm tin tôn giáo khác hẳn nhau, thì không thể nào mọi niềm tin đều là chân lý. Nếu có anh đúng thì phải có nhiều anh sai. Làm thế nào biết được ai đúng ai sai? Hoàn cảnh bấy giờ không phải là lúc lý sự về Đấng Tạo Hóa hiện hữu hay không hiện hữu, vì chẳng ai giải thích được nguồn gốc sự sống, trật tự tuần hoàn của cõi thiên nhiên, và sự hình thành vũ trụ bao la.
Đối với tôi, đứng trước số phận chắc chắn là hẩm hiu và bất hạnh, bản năng khôn ngoan của con người là tìm ra lối thoát cho hoàn cảnh bế tắc, chẳng ai gàn dở ngồi lý sự về những điều không chứng minh nổi. Vì thế, nỗi trăn trở của tôi ngoài việc suy tính phương cách đối phó với những cuộc hỏi cung diễn ra suốt 6 ngày mỗi tuần, còn là nghĩ cách tìm ra lời giải đáp cho thắc mắc làm thế nào tạo được mối liên hệ thân ái với cõi thần linh trên thiên đàng. Để rồi đây, nếu có phải sớm qua thế giới bên kia thì mình cũng còn có chút hi vọng!
Trong hoàn cảnh tuyệt vọng và cấp bách, tôi muốn biết vấn đề cách rõ ràng rành mạch, vì sự biết lõm bõm chẳng giải quyết được gì. Càng suy nghĩ càng hối tiếc, vì từ khi còn nhỏ tôi đã được tiếp xúc với Thánh Kinh là quyển sách nói về vấn đề nầy, nhưng tôi đã thờ ơ với số phận vĩnh cửu của mình. Tôi nhớ đến một lời tuyên bố của Đức Chúa Giêxu trong sách phúc âm nào đó được nhắc tới trong các bài giảng về đức tin mà tôi đã nghe, rằng: “Nếu các con có đức tin lớn bằng hột cải, sẽ khiến núi nầy dời đi, thì nó sẽ dời đi...” Như vậy có phải là với chút lòng tin thì sẽ được ban cho quyển Thánh Kinh không? Đối với tôi, lời tuyên bố chắc nịch thì một là thật, hai là giả, chứ không thể có kiểu lừng chừng.
Làm sao ai có nổi thứ đức tin cỡ đó? Nếu tôi có chút đức tin nào thì giỏi lắm nó chỉ lớn cỡ bằng hột bụi bay vơ vẩn là tối đa! Giống như lênh đênh giữa biển bao la, vớ được cái gì làm phao thì cứ bám lấy. Thứ mà tôi cần nhất lúc nầy là quyển Thánh Kinh. Nhưng nhìn lại thực tại của mình trong nhà tù cộng sản thì vô cùng thối chí. Bọn nầy thù ghét Cơ-đốc-giáo hơn mọi thứ trên đời, làm sao nó cho phép mình có được quyển Thánh Kinh, nếu có? Thế còn lời tuyên bố của Thánh Kinh nói rằng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng thì sao? Lấy cái gì để chứng minh? Nếu Thiên Chúa không trị nổi bọn Cộng Sản thì có gì đáng tin? Chẳng lẽ Đấng Tối Cao không đủ quyền phép buộc tụi xảo quyệt nầy phải cho tôi một quyển Thánh Kinh hay sao?
Muốn biết có thật hay không thì phải thử là cách tốt hơn hết. Từ hôm đó tôi đã bắt đầu cầu xin như thế nầy: “Kính lạy Thiên Chúa, nếu Ngài hiện hữu và toàn năng, xin ban cho con một quyển Thánh Kinh trong nhà tù Cộng Sản nầy.” Thật vậy nếu Thiên Chúa có thật và toàn năng thì sá gì mấy thằng Việt Cộng láo toét. Tôi cung kính dâng lời khẩn cầu của mình mỗi ngày hai lần vào buổi sáng thức dậy và buổi tối trước khi ngủ.
Cùng thời gian đó, có một tên đại tá đến thẩm vấn tôi suốt một tuần về các vấn đề xã hội, thông tin báo chí, văn hóa văn nghệ của Miền Nam. Hắn ba hoa khoác lác về vấn đề tự do tín ngưỡng ở miền Bắc rồi khoe về các nơi thờ tự hiện đang có tại Hà Nội. Tôi hỏi móc tên này một chuyện:
- Thưa ông, mặc dù tôi không được ra ngoài để thấy cuộc sống xã hội ở miền Bắc nầy, nhưng tôi đoán là vấn đề tự do tín ngưỡng như ông nói chắc không có, vì tôi nghe phía bên ngoài tường rào tiếng có dân chúng đi lại sinh sống quanh đây rất nhiều. Mà đa số người Việt Nam theo đạo Phật. Có dân ắt phải có chùa. Có chùa ắt phải có chuông. Có chuông thì tôi phải nghe. Nhưng mấy tháng nay tôi chẳng bao giờ nghe tiếng chuông chùa cả, chỉ nghe toàn là tiếng kẻng thôi. Tại sao vậy? Hắn trả lời,”Anh nhầm rồi! Chùa ở ngoài nầy không dùng chuông mà gõ kẻng anh ạ!”
Biết là hắn phịa nhưng tôi không có cớ nào để bẻ hắn. Tuy vậy, sau một tuần thẩm vấn xong hắn hỏi một câu: - “Anh có nguyện vọng gì không? Tôi có thể giúp anh được gì không?” Tôi trả lời:
- “Dạ có, tôi muốn có một quyển Thánh Kinh để đọc.”
Hắn giẫy như đỉa phải vôi:- “Ô ô ô ô... cái ..cái.. cái đó thì không được! Vì chúng tôi không tin, không cho phép, và cũng chẳng đào đâu ra để có cho anh.” Ông nói các ông không tin, và không cho phép; tôi tin ông nói đúng. Nhưng về việc ông nói là không có để cho, thì tôi nghĩ là ông nói dối đấy.
- Sao ... sao anh lại dám nghĩ là tôi nói dối? Anh biết cái.. cái ..cái gì ở ngoài nầy? Anh lấy lý do nào nào?
- Thưa ông, mới hồi nãy ông khoe cạnh phố Hàng Da gần Cửa Nam vẫn còn nhà thờ Tin Lành, vẫn có mục sư, và tín đồ vẫn được đi nhà thờ dự lễ. Có phải vậy không ạ? Thế mà ông nói là không đào đâu ra Thánh Kinh. Chẳng nhà thờ Tin Lành nào mà không có sẵn Thánh Kinh cả. Nếu nhà thờ ấy có thật, ông cứ đến xin một quyển là họ biếu ông ngay.
- Tôi đã nói là không được.
- Vì ông hỏi nguyện vọng của tôi thì tôi thật lòng nói rằng đó là thứ tôi cần. Chứ có bao giờ các ông theo nguyện vọng của tôi trả tự do cho tôi trở về miền Nam đâu!
- Anh đừng đòi hỏi những gì mà tôi không thể giúp.
- Vậy xin cảm ơn ông đã quan tâm.
Ngày tháng dần trôi. Thêm nhiều sĩ quan tù binh mới được đưa tới. Nghe đâu đã lên tới gần tám chục mạng. Rồi chúng tôi bị chuyển đi quân lao Bất Bạt vào ngày 5 tháng 8, 1971.
Mấy ngày liền trời mưa như trút nước. Bên ngoài nước mưa xối xả mà trong xà lim chúng tôi khát khan cả cổ. Cai tù giải thích: Mưa nhiều quá than đá ướt hết chưa đun nước sôi được. Các anh phải khắc phục. Những ngày đó miền Bắc bị một trận lụt kinh hoàng. Trong các xà lim vùng Trung du Bất Bạt chúng tôi chẳng biết chút tin tức gì bên ngoài.
Suốt ngày quanh quẩn trong xà lim nhỏ xíu hôi hám đầy rệp, tôi càng ao ước phải chi mình có được quyển Thánh Kinh. Trong các xà lim vùng Trung du Bất Bạt chúng tôi chẳng biết chút tin tức gì bên ngoài. Suốt ngày quanh quẩn trong xà lim nhỏ xíu hôi hám đầy rệp, tôi càng ước ao phải chi mình có được quyển Thánh Kinh.
Một hôm nhìn ra kẽ cửa sổ tôi thấy một người tù mới tới, cao ráo, điển trai, vừa được tắm mưa đang phơi bộ quần áo ướt trên dây ngoài trời mưa. Anh nầy bị giam ở một xà lim cùng khu với tôi. Vài ngày sau được biết đó là đại úy Long của phi đoàn khu trục A1 ở Pleiku bị bắn rớt và bị bắt. Hỏi thăm tình hình quê nhà và quân ta thì chỉ toàn là tin không vui. Sau đó lại có thêm một cậu chuẩn úy Thủy Quân Lục Chiến tên Hoàng bị bắt ở mặt trận phía Tây Quảng Trị được đưa ra giam chung dãy. Anh chàng nầy trẻ măng, cứ xin cai tù cho được ở chung với người khác vì quá sợ ma.
Mùa Thu Bất Bạt trời se lạnh, lá cây trẩu bên ngoài đã chuyển màu vàng tươi. Gió đưa lá rung lung linh xanh vàng. Dãy hoa mười giờ nở bông đỏ tím. Ôi dâng tràn nỗi nhớ quân trường. Ôi Nha Trang! Những ngày tháng tập tễnh đời lính. Thời hoa mộng của đời sinh viên sĩ quan. Nay chỉ còn là dĩ vãng. Mấy thằng khóa sáu lăm “E” có còn nhớ tới đứa bạn ... đang cơn khốn khổ chốn ngàn dặm xa? Giữa khuya nghe tiếng vạc kêu sương, ngỡ như tiếng hải âu trong đêm ứng chiến. Bạn bè năm xưa mỗi thằng mỗi tính nết. Giờ xa rồi nhớ lại thấy thương. Ước sao có ngày gặp lại, xóa hết những hiềm tị bất hòa, để thấy hạnh phúc còn có đồng đội và quê hương!
Nỗi nhớ khung trời cứ nung nấu trong lòng. Biết bao nhiêu là kỷ niệm vui buồn đời bay bổng. Các tù binh ở khác phòng tìm cách nói chuyện truyền tin cho nhau toàn bằng cách ra dấu. Tôi nhớ lại một kỷ niệm không thể nào quên. Khoảng đầu năm 1969 khi quân Mỹ đang rút khỏi Khe Sanh thì chúng tôi cũng chuyên chở mọi thứ của SOB Khe Sanh về Mai Lộc. Sau đó chở vài toán khác về Cam Lộ. Tôi bay hoa tiêu phó cho Đại úy An, flight leader. Chiếc số 2 do đại úy Vinh lái. Lúc bấy giờ hệ thống radio của các chiếc H-34 rất hay trục trặc. Anh An gọi máy bảo anh Vinh sau khi bỏ hàng xuống Cam Lộ thì bay về Đông Hà đổ xăng, chúng tôi đi trước; bên kia trả lời nghe hiểu. Nhưng chúng tôi tới Đông Hà đổ xăng xong chờ mãi chẳng thấy chiếc số 2 đâu cả. Anh An bèn gọi:
- Vinh ơi, mày nghe tao không?
- Tao nghe đây.
- Tại sao mày không đi đổ xăng?
- Tao đang ở Cam Lộ đây!
- Tao hỏi...tại..sao..mày không đi đổ xăng?
- Thì tao đang ở Cam Lộ đây!
Anh An điên tiết lên:
- Cam ... cam... cái con... bú zù!
- OK! OK!
Lúc đó tôi chịu hết nổi ôm bụng cười muốn sặc luôn.
Trong một tháng bị buộc phải học chính trị và được phép tự do phát biểu ý kiến, tôi và đại úy Tâm của sư đoàn I thay nhau quay tên thượng úy giáo viên làm hắn cứng cả họng. Lúc còn bị thẩm vấn ở Hà nội, tôi hiên ngang tuyên bố với lũ ăn cướp rằng tôi thà làm thằng lính quèn miền Nam chứ không thèm làm chủ tịch miền Bắc. Tại sao hả? Ở miền Nam chúng tôi có tự do hạnh phúc, no đủ, và ít phải nghe nói dối. Lần nầy chúng lôi tôi ra sỉ vả không tiếc lời. Nào là chỉ đáng làm giun dế, người ta mang bí tất mang giày vào zi ... zi ... zi dưới chân cho bõ ghét!
Chúa Nhật 16 tháng Tư, 1972, tám mươi hai sĩ quan tù binh của cả trại bị dồn lên một đoàn xe môlôtôva phủ bạt kín mít cột đầy cành lá ngụy trang. Đoàn xe chuyển bánh đi đâu không biết. Các bạn ở bên dãy tù thường bị dồn ngồi chật như hộp cá mòi. Vì bị cho là bướng bỉnh và có tư tưởng phản động nguy hiểm, nên tôi và đại úy Tâm, từ lâu nay vẫn ở bên dãy xà lim, “bị” cho ngồi một xe riêng đi với nhà bếp hậu cần, có ghế đẩu ngồi đàng hoàng thật là rộng rãi thoải mái. Dĩ nhiên một tay của mỗi đứa bị còng vào khung xe.
Đoàn xe đang chạy qua thị trấn Sơn Tây thì con gà mái nhốt trong bu treo dưới gầm xe hậu cần của tôi xổng rớt xuống đường chạy tuốt vào sâu trong xóm nhà. Cả đoàn xe dừng lại để đám cai tù rượt bắt con gà cho bằng được. Khoảng non 20 phút sau, chúng tóm được con gà, nhốt vào bu cẩn thận, rồi đoàn xe lại lăn bánh.
Vừa đến ven Hà Nội sát Vườn Bách Thảo, tiếng súng phòng không nổ vang, còi hụ báo động máy bay Mỹ. Dân chạy tán loạn tìm hố trốn bom. Đoàn xe tấp vào lề đường đậu dưới các tán lá lim xà cừ. Lính áp tải đứng xuống đường, nhưng đoàn tù được lệnh ngồi yên trên xe để không người dân nào được biết đó là đoàn xe chở tù binh chuyển trại. Có tiếng hỏa tiễn Sam bay lên vèo vèo, tiếng đại bác phòng không nổ ran khắp nơi. Nhìn lên khung trời, đoàn tù binh sung sướng thấy 6 chiếc F4 của các bạn Đồng minh tung hoành như chỗ không người. Xong rồi lại còn lắc cánh chọc quê trước khi bay đi.
Tiếng còi hụ báo yên vang lên, đoàn xe tiếp tục lên đường qua cầu Long Biên. Khoảng 20 phút sau thì tới khu vực bị đánh bom ở kho xăng chiến lược Gia Lâm. Tôi quan sát cảnh bị bom tàn phá: chẳng có chiếc xe nào dù đậu trong bãi hay di chuyển ngoài lộ mà còn nguyên vẹn. Tất cả đều bị trúng bom, hoặc phi đạn hoặc đạn 20 ly. Tôi nhìn xem và ghi nhận vào ký ức tất cả các hình ảnh mình thấy được nhưng ít khi suy nghĩ gì về kinh nghiệm đó, chỉ khoái chí nhìn “kẻ gian mắc nạn.”
Đoàn xe đi qua Bắc Ninh rồi Bắc Giang, nghe đài nói Dối Việt Nam khoác lác đã hạ được 16 máy bay Mỹ. Ô hô! Chính mắt chúng tôi thấy chẳng có chiếc nào bị rơi cả. Lén nhìn mấy trụ cây số, tôi biết mình đang bị đưa lên phía Lạng Sơn. Dọc đường có cảnh tượng rất lạ: Cứ một khoảng xa xa lại thấy một nhóm vài chục cô gái ngồi trên bờ dốc lề đường thành hai hoặc ba hàng ngang, cùng hướng về một phía. Tất cả đều mặc y phục đen, đầu chít khăn mỏ quạ cũng đen. Tôi tò mò hỏi tên lính áp tải, chỉ được nó cho biết đó là người Nùng. Còn tại sao ra ngoài đường ngồi như thế thì nó giữ kín, làm như chuyện bí mật quân sự không bằng. Sau nầy đọc sách mới biết đó là ngày hội của người Nùng. Các cô ra ngoài ngồi hát hò đối đáp.
Đang khi lên đèo Lạng Sơn thì chiếc xe hậu cần tôi đang ngồi, chạy sau chót, bỗng hư hộp số. Nhóm xe đi trước vẫn tiếp tục hành trình. Xe chúng tôi bị bỏ lại chờ cứu viện. Có một chiếc xe quân sự nhỏ kiểu xe jeep chạy đến cũng dừng lại. Hai tên tài xế hì hục giúp nhau sửa chữa. Tên thiếu tá ngồi xe nhỏ trong lúc chờ đợi đi đi lại lại tay cầm một radio transistor, mặc dù hắn mở âm lượng lớn hết cỡ nghe oang oang cả khu rừng mà vẫn đưa lên gần tai để nghe, thật ra hắn muốn khoe cái đài đắt tiền. Bản tin chiều tối hôm đó khoe oăng oẳng rằng cờ máu của địch đã tung bay trên nóc chợ thị xã An Lộc. Cảnh rừng trong buổi chiều tà trên đèo đã buồn hiu hắt; bản tin càng làm người tù buồn thêm. Đã thất thủ Dakto, căn cứ Carol ở Quảng Trị đầu hàng. Quân thù đang bao vây Ái Tử, hôm nay tới phiên Bình Long! Bao giờ? Đến bao giờ quân ta mới phản công?
Xe sửa xong khục khặc chạy trong bóng đêm. Tôi nghe cô đơn và buồn vô hạn. Chẳng phải vì số phận mình, nhưng vì những trận đánh mà quân ta thất thế. Trong đêm đen mịt mùng, tôi chẳng biết xe chạy đi đâu. Đã qua khỏi Lạng Sơn và Đồng Đăng từ lâu rồi. Khoảng khuya, xe rời quốc lộ rẽ vào đường nhánh. Chưa thấy con đường lót đá nào nhồi xóc đến như vậy. Hơn nửa giờ sau mới tới nơi. Tay ôm bó chiếu, tay xách thùng kẽm làm bô đi cầu, bước thấp bước cao theo ánh đèn pin loang loáng dẫn đường bước vào một nhà đá tối thui, qua một khoảng sân nhỏ lá khô phủ ngập mắt cá, tôi bị đưa vào một xà lim nhỏ, rồi cửa đóng lại tối đen. Mò mẫm trải được chiếc chiếu, tôi lăn ra ngủ mê mệt.
Trại tù binh Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, nằm gọn trong một hẻm núi hẹp giữa hai vách núi đá có cây cổ thụ mọc đầy. Cảnh đã hoang vu, tiếng chim lạ kêu vang vọng trong hẻm núi thấy càng hoang dã thêm. Sáng được ra ngoài rửa mặt, tôi quan sát khu xà lim mình ở. Đó là một tòa nhà xây bằng đá tảng, vách dầy nửa thước. Trong nhà có 8 cái xà lim nhỏ biệt lập với nhau, vách nào cũng dầy nửa thước. Cửa xà lim thì làm bằng gỗ cây nghiến vừa nặng vừa rắn như đá. Đến giờ cơm trưa, thấy mấy bạn làm bếp bưng phần cơm tới, tôi thấy yên lòng. Như vậy chúng tôi vẫn còn ở chung một trại. Họ thấy lại tôi, nét mừng rỡ hiện rõ trên mặt. Đây đúng là vùng đất độc. Rắn rít bò lung tung. Con rít nào cũng dài hơn gang tay, chạy nhanh như biến.
Các bạn trong đám đông phải đi dọn vệ sinh nhổ cỏ cho khu trại bỏ trống từ lâu nầy. Trên vách chòi canh có đúc số bằng xi măng ghi năm xây trại là 1969. Bị náo động, lũ rít chạy tán loạn, quân ta săn lùng bắt nướng ăn làm thuốc. Tôi và anh Tâm bị nhốt riêng không cho tiếp xúc với ai. Buồn vì chẳng có việc gì làm, chúng tôi bắt kiến bự thả vào lưới nhền nhện để xem những trận “kiến đen đại chiến nhền nhện tinh.” Thời gian ở đó, ngày đêm tôi vẫn kiên nhẫn cầu xin Thiên Chúa một quyển Thánh Kinh. Nghĩ rằng mình sẽ không sống lâu vì tụi việt cộng đã dọa đem ra xử tử vì “tư tưởng lúc nào cũng phản động!” Tôi rất cần biết con đường giải thoát.
Chỉ một tháng sau, chúng tôi lại được lệnh lên xe chuyển trại. Lần nầy về ở tạm tại cổ thành Lạng Sơn. Hễ có còi báo động phải chạy xuống hầm tránh bom. Ở có một tuần mà ngày nào cũng phải chạy vài lần. Tên đại tá thẩm vấn tôi suốt một tuần vào năm trước lại xuất hiện và gọi tôi lên làm việc tiếp. Lần nầy hắn nói rõ là tôi không còn được phép cãi lý; chỉ được chọn một trong hai điều kiện: - một là hàng phục và cộng tác tuyên truyền cho chúng.- hai là rục xương; tôi có một đêm để suy nghĩ. Tôi nói với hắn rằng tôi không cần suy nghĩ gì hết. Tôi chấp nhận rục xương. Hắn thở dài và nói: Thôi, thế là hết. Rồi leo lên môtô ba bánh trở về Hà nội.
Ngày 19 tháng 5, 1972, chúng tôi được chuyển đi ngược lên Thất Khê. Tất cả vào ở tạm trong một nhà kho hợp tác xã nông nghiệp. Lần đầu tiên được ở chung với anh em thật là vui. Ngày hôm sau thêm vài chục mạng bị bắt ở trận Đông Hà Ái Tử được đưa tới nhập chung với chúng tôi. Thôi thì đủ thứ chuyện kể cười ra nước mắt vì đám cán binh việt cộng trẻ tuổi ngây ngô dốt nát lại hay nói phét. Tôi được thoải mái nói chuyện với Khánh, On, và anh Long.
Ngày vui không lâu. Sau 12 ngày ở chung, chúng tôi bị chuyển tới 1 trại mới cất bằng cây vầu, mái lợp bằng giấy dầu Liên Xô, nằm trên một sườn đồi sát bên sông Kỳ Cùng. Tôi lại bị nhốt riêng và cấm không được tiếp xúc với ai cả. Các dấu hiệu bại xuội đã manh nha tại cổ thành Lạng Sơn bây giờ thêm trầm trọng. Nhiều ngày tôi không bước đi được. Những bắp thịt không có chút sức lực nào để làm theo lệnh của bộ não. Tình hình cứ kéo dài như vậy. Trong lúc ấy, những anh em bị bắt ở các mặt trận Tây Nguyên và Quảng Trị lại tiếp tục được đưa tới. Nhân số của trại sĩ quan tù binh lúc nầy hình như là 238 người. Tôi và anh Tâm vẫn tiếp tục bị cách ly. Mùa Đông, Hà nội và Hải Phòng bị B-52 đánh cho tơi tả. Mấy cậu cán hung hăng ngày nào từ Hà nội chạy lên trại mặt mày thiểu não thất sắc.
Người trại trưởng mới đổi tới có nước da ngăm đen và đi xem xét khắp nơi. Ông ta vào thăm tôi và hỏi tình hình sức khỏe. Tôi nghĩ bụng, mấy thằng cha nầy khéo vờ vịt, trước khi xuống gặp tôi chắc hắn đã nghiên cứu kỹ hồ sơ về tôi rồi chứ lỵ. Tuy nhiên, tôi vẫn giữ thái độ rất lịch sự của người văn minh. Ông ta bảo rằng việc không chữa bệnh bại xuội cho tôi là sai. Ông sẽ ra lệnh cho y tá phải chăm sóc tôi và cho phép tôi được đi dạo quanh trại và xuống sông Kỳ Cùng bơi lội để phục hồi gân cốt. Tôi hơi lấy làm lạ với thái độ thân thiện nầy.
Tết năm 1973 được tổ chức tưng bừng lắm, vì hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh đã ký kết. Tù binh hai bên sẽ được trao trả cho nhau. Mỗi buổi sáng trong sương sớm, tôi ngắm những cành hoa mơ trắng muốt mờ mờ trong sương trên bản làng phía triền đồi đối diện bên kia mấy khoảng ruộng; nhớ vô cùng những đóa mai vàng và không khí rộn ràng của mùa xuân đất tự do. Nghe nói hòa bình đấy, nhưng vẫn còn thân cá chậu chim lồng, vui làm sao được.
Tôi bị gọi đi làm việc, lên gặp một người có nét mặt dễ mến cỡ trạc tuổi tôi. Anh ta nói rằng anh chẳng phải là cán bộ thẩm vấn. Anh là đảng viên và là một nhà văn. Bố của anh là mục sư tại Hội thánh Tin Lành Hà nội. Tổng cục chính trị quân đội gửi anh lên để thuyết phục tôi đừng chống đối nữa. Theo lời anh nói, “Họ nghĩ rằng con của mục sư chắc dễ thuyết phục con một mục sư khác.” Trước khi ra về anh hỏi tôi có cần gì không. Tôi nói tôi chỉ cần một quyển Kinh Thánh. Anh e ngại ra mặt và nói rằng “Cái đó chắc không được đâu, khó lắm! Nhưng tôi sẽ chuyển lời yêu cầu của anh cho họ. Biết đâu!”
Hơn tuần sau tất cả chúng tôi được chuyển về miền xuôi. Cảnh bom đạn tàn phá thật là kinh khủng. Từ Bắc Ninh xuống tới Gia Lâm chỉ còn là bình địa! Chúng tôi bị chia ra làm hai nhóm. Nhóm Hạ Lào ở tạm tại làng Thanh Thủy cạnh chùa Phú Thụ, huyện Thạch Thất, Hà Đông. Nhóm bị bắt trong nội địa tạm trú bên làng Đại Đồng cách Thanh Thủy khoảng 2 cây số. Cả hai làng đều nằm bên bờ sông Tích. Tôi đi xem xét khu chùa, nhìn cảnh vật chung quanh, quan sát tấm bia đá đặc chữ nho nằm nghiêng nghiêng ở cổng chùa. Những hình ảnh, cảnh vật nầy tôi đã thấy rõ ràng trong một giấc ngủ trưa hè ở Thất Khê, kể cả địa danh Phú Thụ. Tôi còn nhớ như in lời người hướng dẫn trong giấc chiêm bao rằng khu vực nầy được xây vào đời vua Lê Cung Tôn. Cái tên lạ hoắc, chưa bao giờ thấy trong sử ký. Tôi mượn bộ Đại Việt Sử Ký để tra thì quả thật có ông vua nầy vào thời Lê mạt, chỉ làm vua được vài tháng. Tôi suy nghĩ rất nhiều nhưng không tìm ra lời giải đáp.
Ở được vài tuần, tôi bị gọi lên gặp trại trưởng làm việc. Vào trong nhà, ông không có vẻ thân thiện như mọi lần. Ông hỏi về tình hình trong trại. Tôi nhìn quanh chưa trả lời, chợt thấy trên nóc tủ chè một quyển Thánh Kinh mới tinh. Tôi không trả lời câu ông hỏi mà hỏi ngược lại: “Quyển Thánh Kinh đó của tôi phải không?” Ông trả lời: “Đúng vậy! Tổng cục chính trị quân đội nhân dân gửi xuống tặng anh.” À thì ra gọi tôi làm việc là vì vụ nầy.
- Mặc dù lệnh trên bảo đưa cho anh, nhưng nếu anh chịu tuân theo hai điều kiện thì anh mới được nhận. Thứ nhất, anh không được giảng đạo. Thứ hai, anh không được đọc to!
- Vâng tôi chấp nhận cả hai điều kiện ấy.
Ôi, quyển Thánh Kinh trong ước mơ bây giờ đã nằm trong tay tôi. Tôi được tự do giữ và xem tùy ý. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch sử đảng cộng sản Việt Nam có chuyện nầy xảy ra. Thiên Chúa đúng là toàn năng. Con tạ ơn Ngài.
Cầm quyển Thánh Kinh về lán ở, mọi người đều trố mắt ngạc nhiên. Tôi thầm nghĩ: “được quyển Thánh Kinh thật là quý nhưng hơi vô duyên. Chỉ mấy hôm nữa là được trao trả về Nam rồi, quyển nầy chỉ ích lợi được vài bữa.” Cả tôi và mọi người đều nghĩ rằng có lẽ đây chỉ là đòn tuyên truyền của bọn Việt cộng. Được trao trả mà không đem về thì mắc tội với Chúa, mà đem về thì rắc rối biết bao!
Không ai biết rằng tôi sẽ phải tiếp tục ở tù thêm 12 năm nữa, và cái Tổng Cục Chính Trị đó cũng không nghĩ rằng họ sẽ nhốt tôi thêm mười hai năm nữa. ( Cho tới cuối năm 1978, khi tôi bị cái đói hành hạ dai dẳng ở trại cải tạo Nam Hà. Một đêm tôi nằm trách móc Chúa tại sao Ngài để cho tôi bị đói như thế nầy, bỗng cuốn phim ký ức về con gà mái xổng khỏi lồng làm trì hoãn đoàn xe chở tù binh vào ngày 16 tháng 4, 1972, diễn ra rõ mồn một trong trí. Có tiếng hỏi rất nhỏ nhẹ vang bên tai “Nếu ngày ấy Ta không tháo cho con gà xổng ra ngoài, trì hoãn đoàn xe để cứu cả đoàn khỏi bị máy bay bắn cháy, liệu ngày nay con còn sống sót để nằm đó trách móc Ta chăng?” Một tuần sau tôi bỗng “bị” điều động sang đội nấu bếp mới thành lập.)
Chuyện đời tù của tôi quá dài không thể kể hết trong một bài viết ngắn. Sau khi không được trao trả cho Việt Nam Cộng Hòa, nhóm tù binh Hạ Lào chúng tôi bị đưa ngược lên vùng Trung du Bất Bạt rồi Yên Bái. Tôi tiếp tục bị nhốt riêng vì dám tổ chức tuyệt thực và tập họp cả trại hát vang những bài quân hành để kỷ niệm ngày quân lực 19 tháng 6, 1973. Trong những ngày phải đi rừng đốn gỗ, chặt nứa, chặt chổm, của hai năm 73 và 74, biết bao ký ức của thời quân trường, thời du học các trường bay ở Mỹ cuồn cuộn kéo về trong tâm khảm. Mỗi đêm nhìn thấy đèn xóm nhà dân dài theo chân núi bên kia ruộng, nhớ sao hàng đèn phi đạo của những chuyến bay đêm. Nhìn đàn chim bay phía đỉnh núi xa, nhắc nhớ những vùng trời quê hương tôi đã bay qua. Ôi quê hương ra sao bây giờ? Trên đất Bắc dong chân qua những miền đất lạ, người xử người dã man nghiệt ngã. Bọn cáo chồn lộ nguyên hình tàn độc, bỉ ổi, và man trá. Quyển Thánh Kinh, cái gai trong mắt tụi coi trại, là nguồn an ủi vô biên của người tù binh trong những ngày gian khổ.
Khoảng gần cuối năm 1973, ngày nào đi lao động hái trà cũng phải đi ngang qua cái nhà của tụi chỉ huy trại. Chúng trương một tấm bảng đen giữa sân, mỗi ngày lấy phấn trắng vẽ mặt trận tiến quân của Ai cập đánh Do thái. Đài phát thanh thì oăng oẳng hí hửng từng giờ loan tin chiến thắng của Ai cập. Được đâu vài bữa huênh hoang, bỗng cái bảng đen biến mất, và bản tin về chiến sự vùng Trung đông cũng đột ngột im re. Chắc là “phe ta” thua to rồi!
Một ngày tháng Sáu, 74, chúng tôi được tin 4 anh trong đám tù của chúng tôi đã vượt ngục. Ôi! Vui chi kể xiết, dù chúng tôi bị gò bó nhiều hơn. Tụi việt cộng gửi tới Yên Bái một Sư đoàn tập trận để lùng bắt cho bằng được những người tù binh đã bỏ trốn. Ba tuần trôi qua, bóng các anh vẫn biệt mù tăm cá, tôi hứng chí làm bài thơ “Tiếng Rừng Xôn Xao” tặng các bạn mình. Nói làm sao hết nỗi tự hào của các chiến sĩ Cộng Hòa hiên ngang bất khuất. Niềm tin càng ngày càng vững trong gian lao, dù ngày về quê hương vẫn còn xa mờ mịt.
Từ ngày được tin Phước Long, rồi Ban mê Thuột thất thủ, tôi xem những lời tiên tri trong Thánh Kinh cựu ước và biết rằng miền Nam sẽ sụp đổ, mấy tháng liền nước mắt khóc quê hương cứ ràn rụa thâu canh. Ngày 11 tháng 4, 1975, tôi bị đưa về tạm giam tại nhà tù Hỏa Lò. Ngày 25 tháng 4 bị đưa trở lại Đông khê, Cao Bằng. Trại giam năm xưa bây giờ trở thành trại kỷ luật. Tôi gặp lại 4 anh vượt ngục đã bị bắt lại và bị đưa lên đây trừng trị từ nhiều tháng trước. Bốn chục thằng Việt Cộng lo trông coi và hành hạ chỉ có 11 người tù binh. Ôi! Buồn không chi tả xiết! Rồi Sàigòn thất thủ, niềm hi vọng lâu nay bám víu cũng trôi xa. Tôi tưởng chừng lòng mình đã thành chai đá. Nước mắt không còn để khóc. Quyển Thánh Kinh bị tịch thu vì là trại kỷ luật. Bị giam riêng một mình ở tòa nhà đá trên đầu dốc, tôi chỉ còn là một cái xác không hồn.
Cuối năm 1975, chúng tôi được cho viết thư về nhà lần đầu tiên. Tôi quyết định không viết. Còn vợ tôi, nếu nàng đã đi bước nữa mà nhận thư tôi chỉ khiến nàng thêm bẽ bàng. Thôi, tôi tự xem mình như đã chết. Và tôi cũng muốn gia đình tôi đừng biết tin tôi còn sống. Tôi sẽ ở tù không có ngày ra. Bọn việt cộng đã tuyên bố vậy. Báo tin tôi còn sống chỉ làm người thân đau khổ thêm một lần nữa, ích lợi gì! Nhưng thiếu úy Chờ, người bạn cưa xẻ với tôi, theo tôi năn nỉ khuyên nhủ suốt mấy ngày. Để làm vừa lòng bạn, tôi viết qua quít một thư cho mẹ tôi, mà tôi nghĩ sẽ chẳng bao giờ tới, vì có lẽ mẹ và các em tôi đã được đưa đi Mỹ rồi.
Mùa Đông năm ấy rét chưa từng thấy. Ban ngày nhiệt độ trung bình là 2 độ C. Ban đêm 5, 6 độ âm. Vẫn phải lao động, cưa gỗ, đẵn củi, đập đá, đắp đường. Bụng lúc nào cũng đói, cái đói triền miên hành hạ không nguôi. Nếu không có bãi cỏ hắc âu làm thuốc, có lẽ tất cả chúng tôi đã gục ngã vì bệnh thấp khớp sưng đầu gối. Rau dấp cá mọc hoang trở thành nguồn lương thực cứu đói chủ yếu của chúng tôi. Cỏ gì xực được là bứt. Tôi lại vận dụng trí não làm một bài thơ tựa đề là Mùa Đông Thạch An; thuộc nằm lòng chứ không bao giờ ngu dại viết ra giấy.
Khoảng ba tháng sau, nhằm mùa Xuân, một buổi trưa rất bất ngờ, thằng cai tù tên là Tòng đem đưa cho tôi thư nhà gửi ra, thật dầy. Tôi rất bình thản mở thư ra xem. Trong thư có rất nhiều ảnh chụp. Tấm hình màu nằm trên cùng là ảnh hai đứa con gái của tôi khoảng 4, 5 tuổi. Ôi! chúng xinh đẹp và dễ thương làm sao. Tôi chợt òa khóc không thể nào ngưng. Bao nhiêu nước mắt và nỗi lòng thương nhớ bị đè nén từ lâu đầy ngập trong linh hồn, nay tràn ra như nước vỡ bờ.
Chị Bửu và hai cháu gái 1975.
Một mình giữa xà lim vắng lặng, tôi nghe tiếng khóc hu hu của mình trộn lẫn tiếng nấc. Khi thấy lại hình ảnh của những người thân yêu nhất, mọi cảm xúc bỗng bừng sống dậy, dạt dào... Từng lời thư yêu thương của vợ làm tôi quá hối hận vì đã nghi ngờ lòng chung thủy của nàng. Ôi em! Ôi hai con! Vâng, sẽ có ngày... sẽ có ngày tôi được gặp lại người xưa.
Tháng 6 năm 1976, tôi được trả lại quyển Thánh Kinh được ra khỏi trại kỷ luật và bị đưa đi trại Sơn La vùng Tây Bắc. Chẳng phải vì chúng tôi đã mãn hạn, nhưng vì bọn Việt Cộng dùng trại Đông Khê để trừng trị những người chiêu hồi bị chúng tóm lại được. Ở Sơn La lao động quần quật hai năm rưỡi, lội khắp các cánh rừng của bản Mường Thái rồi về trại Ba Sao Nam Hà ở ba năm rưỡi nữa. Sau đó chuyển về trại Z30 C Hàm Tân thêm hai năm 7 tháng. Suốt thời gian ấy, tôi được báo trước trong những giấc mơ đủ thứ chuyện sẽ xảy ra, thì đều diễn ra y như tôi đã thuật lại cho các bạn cùng phòng. Trong gần 14 năm trôi nổi gian truân và cả sau nầy, bàn tay bảo vệ và gìn giữ của Thiên Chúa vẫn theo tôi không bao giờ rời xa. Ôi, Thiên Chúa đầy yêu thương đã đoái đến một con chiên ghẻ bướng bỉnh.
Không món quà nào trong thời khổ đau quý hơn món quà quyền phép giúp tôi biết mình luôn được bảo hộ, được chỉ dẫn cho biết con đường chân lý. Suy gẫm về những ngày gian khổ đó, tôi luôn biết ơn Đấng đã che chở bảo vệ tôi, thậm chí một cái tát cũng đã không xảy ra, mặc dù tôi là người tù bị bọn Việt cộng ghét nhất trại. Có lẽ tôi là người duy nhất thuộc khóa 65 Không Quân Việt Nam Cộng Hòa đã trải qua những kinh nghiệm như đã kể. Có người bạn như vậy kể cũng “hãnh riện” lắm chứ, phải không các bạn khóa 65KQ.
Chung Tử Bửu
Cước Chú:Không biết tác giả có còn nhớ bài hát rất hay mà anh đã hát cho tôi nghe tại trại Nam Hà A? Bài "Em đến thăm anh một chiều mưa..."Tarin65
NHƯ CHUYỆN KHÔNG TƯỞNG
Chung Tử Bửu
65E
Khi cánh cửa phòng giam trại thẩm vấn tù binh Ngã Tư Sở, Hà Nội, đóng lại cài then khóa chặt phía ngoài vào buổi chiều ngày 9 tháng 3 năm 1971, mọi dự tính trốn thoát của tôi trở thành vô hi vọng. Tụi ma giáo nầy sẽ giở trò quỉ quái gì đây? Bao giờ thì mình sẽ bị đưa lên các trại khổ sai nơi thâm sơn cùng cốc? Mình sẽ chịu nổi các đòn tra tấn tới mức nào? Bao giờ thì chúng sẽ đem mình đi thủ tiêu? Có khi nào mình sống sót trở về gặp lại bao người thân yêu nhất không?
Phương trời Nam xa xôi ấy, người mẹ góa, đàn em dại, cô vợ trẻ, đứa con đầu lòng đang chập chững tập đi, đơn vị cũ, khung trời xưa, bạn bè, chiến hữu, bây giờ ra sao? Biết bao nhiêu hình ảnh hiện lên trong trí não. Những khổ đau của bao người thân ở miền Nam vời vợi ấy có lẽ sẽ dần nguôi. Bóng hình, tên tuổi mình ở phi đoàn rồi sẽ phai dần vào quên lãng. Các bạn cùng khóa có lẽ thấy thầm tội nghiệp cho số phận hẩm hiu của mình được vài ngày rồi cũng quên. Nhưng mình phải sửa soạn đương đầu với một cảnh ngộ chưa hề chuẩn bị đối phó: Đời tù binh trong các nhà giam cộng sản!
Mỗi lần nhìn thấy hai người đàn em của tôi cùng bị bắt tại mặt trận, thiếu úy Khánh và thiếu úy On bị giam khác phòng nhưng cùng một dãy, là tim tôi nhói lên vì thương các đàn em của mình.
Các cậu mới ra trường được vài tháng, bay hoa tiêu phó cho tôi một thời gian, chưa dạn dày chiến trận đã bị lôi theo con chim đầu đàn gãy cánh. Trong số mười sáu sĩ quan tù binh bị bắt trong cùng một trận đánh, tuy hai cậu ấy là người gần gũi nhất của tôi, nhưng nếu hỏi rằng tôi biết gì về tánh tình, khả năng, tài vặt, hoặc đời tư của hai chàng, thì tôi cũng mù tịt. Tôi chỉ cảm nhận một điều, mình phải có bổn phận khích lệ và an ủi hai người em cùng phi đoàn.
Năm tháng bị thẩm vấn căng thẳng rồi cũng quen, nhưng cái loa điện tổ chảng chĩa thẳng vào mấy cửa sổ cao sát trần nhà phòng giam phát tiếng the thé của đài Nói Dối Việt Nam; nào là buổi trưa hát bài chòi, giữa đêm hát chèo, với mấy thứ nhạc lai Tàu bắt chước giọng Liên Xô hát nhanh như ma đuổi, thật chịu không thấu bà con ạ! Một hôm đi ngang qua cửa phòng Khánh và On, Khánh cầm hai hột nhãn lượm ngoài sân ra dấu bảo tôi hãy lấy hột nhãn, rửa sạch, nút lỗ tai để đỡ phải nghe.
Bao đêm khuya canh vắng suy nghĩ về tương lai đen tối của mình, có một câu hỏi vấn vương không rứt ra được: “Nếu thật có thiên đàng, hỏa ngục và linh hồn, khi mi chết hồn mi sẽ đi đâu? Lên hay xuống?” Sau một số ngày thành thật suy nghĩ thì câu trả lời rất rõ ràng là sẽ đi xuống! Tại sao? Bởi vì mặc dù có đạo, nhưng giữa tôi với cõi thiên đàng chẳng có mối liên hệ chặt chẽ nào bảo đảm một vé đi lên. Nhìn lại mặt đạo đức của mình thì chỉ toàn là những điều xấu hổ. Đúng là đầu xanh mà vô số tội! Bị đối diện với sự thật nghiệt ngã, tôi mới nhận ra rằng dù có biết, có tin, có là đạo vòng vòng, chẳng thứ nào tạo được tình liên hệ thân ái với Đấng Tối Cao là Đấng sẽ ban quyết định cho mình lên hoặc xuống. Lấy lẽ công bằng mà nói, thần nào, cõi thánh thiện nào chịu chứa chấp một thằng có đủ thứ tội lỗi xấu xa như tôi?
Đứng trước số phận vĩnh cửu của mình, tôi không thể khinh xuất đặt niềm tin vu vơ vào những điều chỉ nghe người ta truyền lại chứ chưa bao giờ biết rõ. Trong cõi nhân loại có nhiều niềm tin tôn giáo khác hẳn nhau, thì không thể nào mọi niềm tin đều là chân lý. Nếu có anh đúng thì phải có nhiều anh sai. Làm thế nào biết được ai đúng ai sai? Hoàn cảnh bấy giờ không phải là lúc lý sự về Đấng Tạo Hóa hiện hữu hay không hiện hữu, vì chẳng ai giải thích được nguồn gốc sự sống, trật tự tuần hoàn của cõi thiên nhiên, và sự hình thành vũ trụ bao la.
Đối với tôi, đứng trước số phận chắc chắn là hẩm hiu và bất hạnh, bản năng khôn ngoan của con người là tìm ra lối thoát cho hoàn cảnh bế tắc, chẳng ai gàn dở ngồi lý sự về những điều không chứng minh nổi. Vì thế, nỗi trăn trở của tôi ngoài việc suy tính phương cách đối phó với những cuộc hỏi cung diễn ra suốt 6 ngày mỗi tuần, còn là nghĩ cách tìm ra lời giải đáp cho thắc mắc làm thế nào tạo được mối liên hệ thân ái với cõi thần linh trên thiên đàng. Để rồi đây, nếu có phải sớm qua thế giới bên kia thì mình cũng còn có chút hi vọng!
Trong hoàn cảnh tuyệt vọng và cấp bách, tôi muốn biết vấn đề cách rõ ràng rành mạch, vì sự biết lõm bõm chẳng giải quyết được gì. Càng suy nghĩ càng hối tiếc, vì từ khi còn nhỏ tôi đã được tiếp xúc với Thánh Kinh là quyển sách nói về vấn đề nầy, nhưng tôi đã thờ ơ với số phận vĩnh cửu của mình. Tôi nhớ đến một lời tuyên bố của Đức Chúa Giêxu trong sách phúc âm nào đó được nhắc tới trong các bài giảng về đức tin mà tôi đã nghe, rằng: “Nếu các con có đức tin lớn bằng hột cải, sẽ khiến núi nầy dời đi, thì nó sẽ dời đi...” Như vậy có phải là với chút lòng tin thì sẽ được ban cho quyển Thánh Kinh không? Đối với tôi, lời tuyên bố chắc nịch thì một là thật, hai là giả, chứ không thể có kiểu lừng chừng.
Làm sao ai có nổi thứ đức tin cỡ đó? Nếu tôi có chút đức tin nào thì giỏi lắm nó chỉ lớn cỡ bằng hột bụi bay vơ vẩn là tối đa! Giống như lênh đênh giữa biển bao la, vớ được cái gì làm phao thì cứ bám lấy. Thứ mà tôi cần nhất lúc nầy là quyển Thánh Kinh. Nhưng nhìn lại thực tại của mình trong nhà tù cộng sản thì vô cùng thối chí. Bọn nầy thù ghét Cơ-đốc-giáo hơn mọi thứ trên đời, làm sao nó cho phép mình có được quyển Thánh Kinh, nếu có? Thế còn lời tuyên bố của Thánh Kinh nói rằng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng thì sao? Lấy cái gì để chứng minh? Nếu Thiên Chúa không trị nổi bọn Cộng Sản thì có gì đáng tin? Chẳng lẽ Đấng Tối Cao không đủ quyền phép buộc tụi xảo quyệt nầy phải cho tôi một quyển Thánh Kinh hay sao?
Muốn biết có thật hay không thì phải thử là cách tốt hơn hết. Từ hôm đó tôi đã bắt đầu cầu xin như thế nầy: “Kính lạy Thiên Chúa, nếu Ngài hiện hữu và toàn năng, xin ban cho con một quyển Thánh Kinh trong nhà tù Cộng Sản nầy.” Thật vậy nếu Thiên Chúa có thật và toàn năng thì sá gì mấy thằng Việt Cộng láo toét. Tôi cung kính dâng lời khẩn cầu của mình mỗi ngày hai lần vào buổi sáng thức dậy và buổi tối trước khi ngủ.
Cùng thời gian đó, có một tên đại tá đến thẩm vấn tôi suốt một tuần về các vấn đề xã hội, thông tin báo chí, văn hóa văn nghệ của Miền Nam. Hắn ba hoa khoác lác về vấn đề tự do tín ngưỡng ở miền Bắc rồi khoe về các nơi thờ tự hiện đang có tại Hà Nội. Tôi hỏi móc tên này một chuyện:
- Thưa ông, mặc dù tôi không được ra ngoài để thấy cuộc sống xã hội ở miền Bắc nầy, nhưng tôi đoán là vấn đề tự do tín ngưỡng như ông nói chắc không có, vì tôi nghe phía bên ngoài tường rào tiếng có dân chúng đi lại sinh sống quanh đây rất nhiều. Mà đa số người Việt Nam theo đạo Phật. Có dân ắt phải có chùa. Có chùa ắt phải có chuông. Có chuông thì tôi phải nghe. Nhưng mấy tháng nay tôi chẳng bao giờ nghe tiếng chuông chùa cả, chỉ nghe toàn là tiếng kẻng thôi. Tại sao vậy? Hắn trả lời,”Anh nhầm rồi! Chùa ở ngoài nầy không dùng chuông mà gõ kẻng anh ạ!”
Biết là hắn phịa nhưng tôi không có cớ nào để bẻ hắn. Tuy vậy, sau một tuần thẩm vấn xong hắn hỏi một câu: - “Anh có nguyện vọng gì không? Tôi có thể giúp anh được gì không?” Tôi trả lời:
- “Dạ có, tôi muốn có một quyển Thánh Kinh để đọc.”
Hắn giẫy như đỉa phải vôi:- “Ô ô ô ô... cái ..cái.. cái đó thì không được! Vì chúng tôi không tin, không cho phép, và cũng chẳng đào đâu ra để có cho anh.” Ông nói các ông không tin, và không cho phép; tôi tin ông nói đúng. Nhưng về việc ông nói là không có để cho, thì tôi nghĩ là ông nói dối đấy.
- Sao ... sao anh lại dám nghĩ là tôi nói dối? Anh biết cái.. cái ..cái gì ở ngoài nầy? Anh lấy lý do nào nào?
- Thưa ông, mới hồi nãy ông khoe cạnh phố Hàng Da gần Cửa Nam vẫn còn nhà thờ Tin Lành, vẫn có mục sư, và tín đồ vẫn được đi nhà thờ dự lễ. Có phải vậy không ạ? Thế mà ông nói là không đào đâu ra Thánh Kinh. Chẳng nhà thờ Tin Lành nào mà không có sẵn Thánh Kinh cả. Nếu nhà thờ ấy có thật, ông cứ đến xin một quyển là họ biếu ông ngay.
- Tôi đã nói là không được.
- Vì ông hỏi nguyện vọng của tôi thì tôi thật lòng nói rằng đó là thứ tôi cần. Chứ có bao giờ các ông theo nguyện vọng của tôi trả tự do cho tôi trở về miền Nam đâu!
- Anh đừng đòi hỏi những gì mà tôi không thể giúp.
- Vậy xin cảm ơn ông đã quan tâm.
Ngày tháng dần trôi. Thêm nhiều sĩ quan tù binh mới được đưa tới. Nghe đâu đã lên tới gần tám chục mạng. Rồi chúng tôi bị chuyển đi quân lao Bất Bạt vào ngày 5 tháng 8, 1971.
Mấy ngày liền trời mưa như trút nước. Bên ngoài nước mưa xối xả mà trong xà lim chúng tôi khát khan cả cổ. Cai tù giải thích: Mưa nhiều quá than đá ướt hết chưa đun nước sôi được. Các anh phải khắc phục. Những ngày đó miền Bắc bị một trận lụt kinh hoàng. Trong các xà lim vùng Trung du Bất Bạt chúng tôi chẳng biết chút tin tức gì bên ngoài.
Suốt ngày quanh quẩn trong xà lim nhỏ xíu hôi hám đầy rệp, tôi càng ao ước phải chi mình có được quyển Thánh Kinh. Trong các xà lim vùng Trung du Bất Bạt chúng tôi chẳng biết chút tin tức gì bên ngoài. Suốt ngày quanh quẩn trong xà lim nhỏ xíu hôi hám đầy rệp, tôi càng ước ao phải chi mình có được quyển Thánh Kinh.
Một hôm nhìn ra kẽ cửa sổ tôi thấy một người tù mới tới, cao ráo, điển trai, vừa được tắm mưa đang phơi bộ quần áo ướt trên dây ngoài trời mưa. Anh nầy bị giam ở một xà lim cùng khu với tôi. Vài ngày sau được biết đó là đại úy Long của phi đoàn khu trục A1 ở Pleiku bị bắn rớt và bị bắt. Hỏi thăm tình hình quê nhà và quân ta thì chỉ toàn là tin không vui. Sau đó lại có thêm một cậu chuẩn úy Thủy Quân Lục Chiến tên Hoàng bị bắt ở mặt trận phía Tây Quảng Trị được đưa ra giam chung dãy. Anh chàng nầy trẻ măng, cứ xin cai tù cho được ở chung với người khác vì quá sợ ma.
Mùa Thu Bất Bạt trời se lạnh, lá cây trẩu bên ngoài đã chuyển màu vàng tươi. Gió đưa lá rung lung linh xanh vàng. Dãy hoa mười giờ nở bông đỏ tím. Ôi dâng tràn nỗi nhớ quân trường. Ôi Nha Trang! Những ngày tháng tập tễnh đời lính. Thời hoa mộng của đời sinh viên sĩ quan. Nay chỉ còn là dĩ vãng. Mấy thằng khóa sáu lăm “E” có còn nhớ tới đứa bạn ... đang cơn khốn khổ chốn ngàn dặm xa? Giữa khuya nghe tiếng vạc kêu sương, ngỡ như tiếng hải âu trong đêm ứng chiến. Bạn bè năm xưa mỗi thằng mỗi tính nết. Giờ xa rồi nhớ lại thấy thương. Ước sao có ngày gặp lại, xóa hết những hiềm tị bất hòa, để thấy hạnh phúc còn có đồng đội và quê hương!
Nỗi nhớ khung trời cứ nung nấu trong lòng. Biết bao nhiêu là kỷ niệm vui buồn đời bay bổng. Các tù binh ở khác phòng tìm cách nói chuyện truyền tin cho nhau toàn bằng cách ra dấu. Tôi nhớ lại một kỷ niệm không thể nào quên. Khoảng đầu năm 1969 khi quân Mỹ đang rút khỏi Khe Sanh thì chúng tôi cũng chuyên chở mọi thứ của SOB Khe Sanh về Mai Lộc. Sau đó chở vài toán khác về Cam Lộ. Tôi bay hoa tiêu phó cho Đại úy An, flight leader. Chiếc số 2 do đại úy Vinh lái. Lúc bấy giờ hệ thống radio của các chiếc H-34 rất hay trục trặc. Anh An gọi máy bảo anh Vinh sau khi bỏ hàng xuống Cam Lộ thì bay về Đông Hà đổ xăng, chúng tôi đi trước; bên kia trả lời nghe hiểu. Nhưng chúng tôi tới Đông Hà đổ xăng xong chờ mãi chẳng thấy chiếc số 2 đâu cả. Anh An bèn gọi:
- Vinh ơi, mày nghe tao không?
- Tao nghe đây.
- Tại sao mày không đi đổ xăng?
- Tao đang ở Cam Lộ đây!
- Tao hỏi...tại..sao..mày không đi đổ xăng?
- Thì tao đang ở Cam Lộ đây!
Anh An điên tiết lên:
- Cam ... cam... cái con... bú zù!
- OK! OK!
Lúc đó tôi chịu hết nổi ôm bụng cười muốn sặc luôn.
Trong một tháng bị buộc phải học chính trị và được phép tự do phát biểu ý kiến, tôi và đại úy Tâm của sư đoàn I thay nhau quay tên thượng úy giáo viên làm hắn cứng cả họng. Lúc còn bị thẩm vấn ở Hà nội, tôi hiên ngang tuyên bố với lũ ăn cướp rằng tôi thà làm thằng lính quèn miền Nam chứ không thèm làm chủ tịch miền Bắc. Tại sao hả? Ở miền Nam chúng tôi có tự do hạnh phúc, no đủ, và ít phải nghe nói dối. Lần nầy chúng lôi tôi ra sỉ vả không tiếc lời. Nào là chỉ đáng làm giun dế, người ta mang bí tất mang giày vào zi ... zi ... zi dưới chân cho bõ ghét!
Chúa Nhật 16 tháng Tư, 1972, tám mươi hai sĩ quan tù binh của cả trại bị dồn lên một đoàn xe môlôtôva phủ bạt kín mít cột đầy cành lá ngụy trang. Đoàn xe chuyển bánh đi đâu không biết. Các bạn ở bên dãy tù thường bị dồn ngồi chật như hộp cá mòi. Vì bị cho là bướng bỉnh và có tư tưởng phản động nguy hiểm, nên tôi và đại úy Tâm, từ lâu nay vẫn ở bên dãy xà lim, “bị” cho ngồi một xe riêng đi với nhà bếp hậu cần, có ghế đẩu ngồi đàng hoàng thật là rộng rãi thoải mái. Dĩ nhiên một tay của mỗi đứa bị còng vào khung xe.
Đoàn xe đang chạy qua thị trấn Sơn Tây thì con gà mái nhốt trong bu treo dưới gầm xe hậu cần của tôi xổng rớt xuống đường chạy tuốt vào sâu trong xóm nhà. Cả đoàn xe dừng lại để đám cai tù rượt bắt con gà cho bằng được. Khoảng non 20 phút sau, chúng tóm được con gà, nhốt vào bu cẩn thận, rồi đoàn xe lại lăn bánh.
Vừa đến ven Hà Nội sát Vườn Bách Thảo, tiếng súng phòng không nổ vang, còi hụ báo động máy bay Mỹ. Dân chạy tán loạn tìm hố trốn bom. Đoàn xe tấp vào lề đường đậu dưới các tán lá lim xà cừ. Lính áp tải đứng xuống đường, nhưng đoàn tù được lệnh ngồi yên trên xe để không người dân nào được biết đó là đoàn xe chở tù binh chuyển trại. Có tiếng hỏa tiễn Sam bay lên vèo vèo, tiếng đại bác phòng không nổ ran khắp nơi. Nhìn lên khung trời, đoàn tù binh sung sướng thấy 6 chiếc F4 của các bạn Đồng minh tung hoành như chỗ không người. Xong rồi lại còn lắc cánh chọc quê trước khi bay đi.
Tiếng còi hụ báo yên vang lên, đoàn xe tiếp tục lên đường qua cầu Long Biên. Khoảng 20 phút sau thì tới khu vực bị đánh bom ở kho xăng chiến lược Gia Lâm. Tôi quan sát cảnh bị bom tàn phá: chẳng có chiếc xe nào dù đậu trong bãi hay di chuyển ngoài lộ mà còn nguyên vẹn. Tất cả đều bị trúng bom, hoặc phi đạn hoặc đạn 20 ly. Tôi nhìn xem và ghi nhận vào ký ức tất cả các hình ảnh mình thấy được nhưng ít khi suy nghĩ gì về kinh nghiệm đó, chỉ khoái chí nhìn “kẻ gian mắc nạn.”
Đoàn xe đi qua Bắc Ninh rồi Bắc Giang, nghe đài nói Dối Việt Nam khoác lác đã hạ được 16 máy bay Mỹ. Ô hô! Chính mắt chúng tôi thấy chẳng có chiếc nào bị rơi cả. Lén nhìn mấy trụ cây số, tôi biết mình đang bị đưa lên phía Lạng Sơn. Dọc đường có cảnh tượng rất lạ: Cứ một khoảng xa xa lại thấy một nhóm vài chục cô gái ngồi trên bờ dốc lề đường thành hai hoặc ba hàng ngang, cùng hướng về một phía. Tất cả đều mặc y phục đen, đầu chít khăn mỏ quạ cũng đen. Tôi tò mò hỏi tên lính áp tải, chỉ được nó cho biết đó là người Nùng. Còn tại sao ra ngoài đường ngồi như thế thì nó giữ kín, làm như chuyện bí mật quân sự không bằng. Sau nầy đọc sách mới biết đó là ngày hội của người Nùng. Các cô ra ngoài ngồi hát hò đối đáp.
Đang khi lên đèo Lạng Sơn thì chiếc xe hậu cần tôi đang ngồi, chạy sau chót, bỗng hư hộp số. Nhóm xe đi trước vẫn tiếp tục hành trình. Xe chúng tôi bị bỏ lại chờ cứu viện. Có một chiếc xe quân sự nhỏ kiểu xe jeep chạy đến cũng dừng lại. Hai tên tài xế hì hục giúp nhau sửa chữa. Tên thiếu tá ngồi xe nhỏ trong lúc chờ đợi đi đi lại lại tay cầm một radio transistor, mặc dù hắn mở âm lượng lớn hết cỡ nghe oang oang cả khu rừng mà vẫn đưa lên gần tai để nghe, thật ra hắn muốn khoe cái đài đắt tiền. Bản tin chiều tối hôm đó khoe oăng oẳng rằng cờ máu của địch đã tung bay trên nóc chợ thị xã An Lộc. Cảnh rừng trong buổi chiều tà trên đèo đã buồn hiu hắt; bản tin càng làm người tù buồn thêm. Đã thất thủ Dakto, căn cứ Carol ở Quảng Trị đầu hàng. Quân thù đang bao vây Ái Tử, hôm nay tới phiên Bình Long! Bao giờ? Đến bao giờ quân ta mới phản công?
Xe sửa xong khục khặc chạy trong bóng đêm. Tôi nghe cô đơn và buồn vô hạn. Chẳng phải vì số phận mình, nhưng vì những trận đánh mà quân ta thất thế. Trong đêm đen mịt mùng, tôi chẳng biết xe chạy đi đâu. Đã qua khỏi Lạng Sơn và Đồng Đăng từ lâu rồi. Khoảng khuya, xe rời quốc lộ rẽ vào đường nhánh. Chưa thấy con đường lót đá nào nhồi xóc đến như vậy. Hơn nửa giờ sau mới tới nơi. Tay ôm bó chiếu, tay xách thùng kẽm làm bô đi cầu, bước thấp bước cao theo ánh đèn pin loang loáng dẫn đường bước vào một nhà đá tối thui, qua một khoảng sân nhỏ lá khô phủ ngập mắt cá, tôi bị đưa vào một xà lim nhỏ, rồi cửa đóng lại tối đen. Mò mẫm trải được chiếc chiếu, tôi lăn ra ngủ mê mệt.
Trại tù binh Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, nằm gọn trong một hẻm núi hẹp giữa hai vách núi đá có cây cổ thụ mọc đầy. Cảnh đã hoang vu, tiếng chim lạ kêu vang vọng trong hẻm núi thấy càng hoang dã thêm. Sáng được ra ngoài rửa mặt, tôi quan sát khu xà lim mình ở. Đó là một tòa nhà xây bằng đá tảng, vách dầy nửa thước. Trong nhà có 8 cái xà lim nhỏ biệt lập với nhau, vách nào cũng dầy nửa thước. Cửa xà lim thì làm bằng gỗ cây nghiến vừa nặng vừa rắn như đá. Đến giờ cơm trưa, thấy mấy bạn làm bếp bưng phần cơm tới, tôi thấy yên lòng. Như vậy chúng tôi vẫn còn ở chung một trại. Họ thấy lại tôi, nét mừng rỡ hiện rõ trên mặt. Đây đúng là vùng đất độc. Rắn rít bò lung tung. Con rít nào cũng dài hơn gang tay, chạy nhanh như biến.
Các bạn trong đám đông phải đi dọn vệ sinh nhổ cỏ cho khu trại bỏ trống từ lâu nầy. Trên vách chòi canh có đúc số bằng xi măng ghi năm xây trại là 1969. Bị náo động, lũ rít chạy tán loạn, quân ta săn lùng bắt nướng ăn làm thuốc. Tôi và anh Tâm bị nhốt riêng không cho tiếp xúc với ai. Buồn vì chẳng có việc gì làm, chúng tôi bắt kiến bự thả vào lưới nhền nhện để xem những trận “kiến đen đại chiến nhền nhện tinh.” Thời gian ở đó, ngày đêm tôi vẫn kiên nhẫn cầu xin Thiên Chúa một quyển Thánh Kinh. Nghĩ rằng mình sẽ không sống lâu vì tụi việt cộng đã dọa đem ra xử tử vì “tư tưởng lúc nào cũng phản động!” Tôi rất cần biết con đường giải thoát.
Chỉ một tháng sau, chúng tôi lại được lệnh lên xe chuyển trại. Lần nầy về ở tạm tại cổ thành Lạng Sơn. Hễ có còi báo động phải chạy xuống hầm tránh bom. Ở có một tuần mà ngày nào cũng phải chạy vài lần. Tên đại tá thẩm vấn tôi suốt một tuần vào năm trước lại xuất hiện và gọi tôi lên làm việc tiếp. Lần nầy hắn nói rõ là tôi không còn được phép cãi lý; chỉ được chọn một trong hai điều kiện: - một là hàng phục và cộng tác tuyên truyền cho chúng.- hai là rục xương; tôi có một đêm để suy nghĩ. Tôi nói với hắn rằng tôi không cần suy nghĩ gì hết. Tôi chấp nhận rục xương. Hắn thở dài và nói: Thôi, thế là hết. Rồi leo lên môtô ba bánh trở về Hà nội.
Ngày 19 tháng 5, 1972, chúng tôi được chuyển đi ngược lên Thất Khê. Tất cả vào ở tạm trong một nhà kho hợp tác xã nông nghiệp. Lần đầu tiên được ở chung với anh em thật là vui. Ngày hôm sau thêm vài chục mạng bị bắt ở trận Đông Hà Ái Tử được đưa tới nhập chung với chúng tôi. Thôi thì đủ thứ chuyện kể cười ra nước mắt vì đám cán binh việt cộng trẻ tuổi ngây ngô dốt nát lại hay nói phét. Tôi được thoải mái nói chuyện với Khánh, On, và anh Long.
Ngày vui không lâu. Sau 12 ngày ở chung, chúng tôi bị chuyển tới 1 trại mới cất bằng cây vầu, mái lợp bằng giấy dầu Liên Xô, nằm trên một sườn đồi sát bên sông Kỳ Cùng. Tôi lại bị nhốt riêng và cấm không được tiếp xúc với ai cả. Các dấu hiệu bại xuội đã manh nha tại cổ thành Lạng Sơn bây giờ thêm trầm trọng. Nhiều ngày tôi không bước đi được. Những bắp thịt không có chút sức lực nào để làm theo lệnh của bộ não. Tình hình cứ kéo dài như vậy. Trong lúc ấy, những anh em bị bắt ở các mặt trận Tây Nguyên và Quảng Trị lại tiếp tục được đưa tới. Nhân số của trại sĩ quan tù binh lúc nầy hình như là 238 người. Tôi và anh Tâm vẫn tiếp tục bị cách ly. Mùa Đông, Hà nội và Hải Phòng bị B-52 đánh cho tơi tả. Mấy cậu cán hung hăng ngày nào từ Hà nội chạy lên trại mặt mày thiểu não thất sắc.
Người trại trưởng mới đổi tới có nước da ngăm đen và đi xem xét khắp nơi. Ông ta vào thăm tôi và hỏi tình hình sức khỏe. Tôi nghĩ bụng, mấy thằng cha nầy khéo vờ vịt, trước khi xuống gặp tôi chắc hắn đã nghiên cứu kỹ hồ sơ về tôi rồi chứ lỵ. Tuy nhiên, tôi vẫn giữ thái độ rất lịch sự của người văn minh. Ông ta bảo rằng việc không chữa bệnh bại xuội cho tôi là sai. Ông sẽ ra lệnh cho y tá phải chăm sóc tôi và cho phép tôi được đi dạo quanh trại và xuống sông Kỳ Cùng bơi lội để phục hồi gân cốt. Tôi hơi lấy làm lạ với thái độ thân thiện nầy.
Tết năm 1973 được tổ chức tưng bừng lắm, vì hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh đã ký kết. Tù binh hai bên sẽ được trao trả cho nhau. Mỗi buổi sáng trong sương sớm, tôi ngắm những cành hoa mơ trắng muốt mờ mờ trong sương trên bản làng phía triền đồi đối diện bên kia mấy khoảng ruộng; nhớ vô cùng những đóa mai vàng và không khí rộn ràng của mùa xuân đất tự do. Nghe nói hòa bình đấy, nhưng vẫn còn thân cá chậu chim lồng, vui làm sao được.
Tôi bị gọi đi làm việc, lên gặp một người có nét mặt dễ mến cỡ trạc tuổi tôi. Anh ta nói rằng anh chẳng phải là cán bộ thẩm vấn. Anh là đảng viên và là một nhà văn. Bố của anh là mục sư tại Hội thánh Tin Lành Hà nội. Tổng cục chính trị quân đội gửi anh lên để thuyết phục tôi đừng chống đối nữa. Theo lời anh nói, “Họ nghĩ rằng con của mục sư chắc dễ thuyết phục con một mục sư khác.” Trước khi ra về anh hỏi tôi có cần gì không. Tôi nói tôi chỉ cần một quyển Kinh Thánh. Anh e ngại ra mặt và nói rằng “Cái đó chắc không được đâu, khó lắm! Nhưng tôi sẽ chuyển lời yêu cầu của anh cho họ. Biết đâu!”
Hơn tuần sau tất cả chúng tôi được chuyển về miền xuôi. Cảnh bom đạn tàn phá thật là kinh khủng. Từ Bắc Ninh xuống tới Gia Lâm chỉ còn là bình địa! Chúng tôi bị chia ra làm hai nhóm. Nhóm Hạ Lào ở tạm tại làng Thanh Thủy cạnh chùa Phú Thụ, huyện Thạch Thất, Hà Đông. Nhóm bị bắt trong nội địa tạm trú bên làng Đại Đồng cách Thanh Thủy khoảng 2 cây số. Cả hai làng đều nằm bên bờ sông Tích. Tôi đi xem xét khu chùa, nhìn cảnh vật chung quanh, quan sát tấm bia đá đặc chữ nho nằm nghiêng nghiêng ở cổng chùa. Những hình ảnh, cảnh vật nầy tôi đã thấy rõ ràng trong một giấc ngủ trưa hè ở Thất Khê, kể cả địa danh Phú Thụ. Tôi còn nhớ như in lời người hướng dẫn trong giấc chiêm bao rằng khu vực nầy được xây vào đời vua Lê Cung Tôn. Cái tên lạ hoắc, chưa bao giờ thấy trong sử ký. Tôi mượn bộ Đại Việt Sử Ký để tra thì quả thật có ông vua nầy vào thời Lê mạt, chỉ làm vua được vài tháng. Tôi suy nghĩ rất nhiều nhưng không tìm ra lời giải đáp.
Ở được vài tuần, tôi bị gọi lên gặp trại trưởng làm việc. Vào trong nhà, ông không có vẻ thân thiện như mọi lần. Ông hỏi về tình hình trong trại. Tôi nhìn quanh chưa trả lời, chợt thấy trên nóc tủ chè một quyển Thánh Kinh mới tinh. Tôi không trả lời câu ông hỏi mà hỏi ngược lại: “Quyển Thánh Kinh đó của tôi phải không?” Ông trả lời: “Đúng vậy! Tổng cục chính trị quân đội nhân dân gửi xuống tặng anh.” À thì ra gọi tôi làm việc là vì vụ nầy.
- Mặc dù lệnh trên bảo đưa cho anh, nhưng nếu anh chịu tuân theo hai điều kiện thì anh mới được nhận. Thứ nhất, anh không được giảng đạo. Thứ hai, anh không được đọc to!
- Vâng tôi chấp nhận cả hai điều kiện ấy.
Ôi, quyển Thánh Kinh trong ước mơ bây giờ đã nằm trong tay tôi. Tôi được tự do giữ và xem tùy ý. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch sử đảng cộng sản Việt Nam có chuyện nầy xảy ra. Thiên Chúa đúng là toàn năng. Con tạ ơn Ngài.
Cầm quyển Thánh Kinh về lán ở, mọi người đều trố mắt ngạc nhiên. Tôi thầm nghĩ: “được quyển Thánh Kinh thật là quý nhưng hơi vô duyên. Chỉ mấy hôm nữa là được trao trả về Nam rồi, quyển nầy chỉ ích lợi được vài bữa.” Cả tôi và mọi người đều nghĩ rằng có lẽ đây chỉ là đòn tuyên truyền của bọn Việt cộng. Được trao trả mà không đem về thì mắc tội với Chúa, mà đem về thì rắc rối biết bao!
Không ai biết rằng tôi sẽ phải tiếp tục ở tù thêm 12 năm nữa, và cái Tổng Cục Chính Trị đó cũng không nghĩ rằng họ sẽ nhốt tôi thêm mười hai năm nữa. ( Cho tới cuối năm 1978, khi tôi bị cái đói hành hạ dai dẳng ở trại cải tạo Nam Hà. Một đêm tôi nằm trách móc Chúa tại sao Ngài để cho tôi bị đói như thế nầy, bỗng cuốn phim ký ức về con gà mái xổng khỏi lồng làm trì hoãn đoàn xe chở tù binh vào ngày 16 tháng 4, 1972, diễn ra rõ mồn một trong trí. Có tiếng hỏi rất nhỏ nhẹ vang bên tai “Nếu ngày ấy Ta không tháo cho con gà xổng ra ngoài, trì hoãn đoàn xe để cứu cả đoàn khỏi bị máy bay bắn cháy, liệu ngày nay con còn sống sót để nằm đó trách móc Ta chăng?” Một tuần sau tôi bỗng “bị” điều động sang đội nấu bếp mới thành lập.)
Chuyện đời tù của tôi quá dài không thể kể hết trong một bài viết ngắn. Sau khi không được trao trả cho Việt Nam Cộng Hòa, nhóm tù binh Hạ Lào chúng tôi bị đưa ngược lên vùng Trung du Bất Bạt rồi Yên Bái. Tôi tiếp tục bị nhốt riêng vì dám tổ chức tuyệt thực và tập họp cả trại hát vang những bài quân hành để kỷ niệm ngày quân lực 19 tháng 6, 1973. Trong những ngày phải đi rừng đốn gỗ, chặt nứa, chặt chổm, của hai năm 73 và 74, biết bao ký ức của thời quân trường, thời du học các trường bay ở Mỹ cuồn cuộn kéo về trong tâm khảm. Mỗi đêm nhìn thấy đèn xóm nhà dân dài theo chân núi bên kia ruộng, nhớ sao hàng đèn phi đạo của những chuyến bay đêm. Nhìn đàn chim bay phía đỉnh núi xa, nhắc nhớ những vùng trời quê hương tôi đã bay qua. Ôi quê hương ra sao bây giờ? Trên đất Bắc dong chân qua những miền đất lạ, người xử người dã man nghiệt ngã. Bọn cáo chồn lộ nguyên hình tàn độc, bỉ ổi, và man trá. Quyển Thánh Kinh, cái gai trong mắt tụi coi trại, là nguồn an ủi vô biên của người tù binh trong những ngày gian khổ.
Khoảng gần cuối năm 1973, ngày nào đi lao động hái trà cũng phải đi ngang qua cái nhà của tụi chỉ huy trại. Chúng trương một tấm bảng đen giữa sân, mỗi ngày lấy phấn trắng vẽ mặt trận tiến quân của Ai cập đánh Do thái. Đài phát thanh thì oăng oẳng hí hửng từng giờ loan tin chiến thắng của Ai cập. Được đâu vài bữa huênh hoang, bỗng cái bảng đen biến mất, và bản tin về chiến sự vùng Trung đông cũng đột ngột im re. Chắc là “phe ta” thua to rồi!
Một ngày tháng Sáu, 74, chúng tôi được tin 4 anh trong đám tù của chúng tôi đã vượt ngục. Ôi! Vui chi kể xiết, dù chúng tôi bị gò bó nhiều hơn. Tụi việt cộng gửi tới Yên Bái một Sư đoàn tập trận để lùng bắt cho bằng được những người tù binh đã bỏ trốn. Ba tuần trôi qua, bóng các anh vẫn biệt mù tăm cá, tôi hứng chí làm bài thơ “Tiếng Rừng Xôn Xao” tặng các bạn mình. Nói làm sao hết nỗi tự hào của các chiến sĩ Cộng Hòa hiên ngang bất khuất. Niềm tin càng ngày càng vững trong gian lao, dù ngày về quê hương vẫn còn xa mờ mịt.
Từ ngày được tin Phước Long, rồi Ban mê Thuột thất thủ, tôi xem những lời tiên tri trong Thánh Kinh cựu ước và biết rằng miền Nam sẽ sụp đổ, mấy tháng liền nước mắt khóc quê hương cứ ràn rụa thâu canh. Ngày 11 tháng 4, 1975, tôi bị đưa về tạm giam tại nhà tù Hỏa Lò. Ngày 25 tháng 4 bị đưa trở lại Đông khê, Cao Bằng. Trại giam năm xưa bây giờ trở thành trại kỷ luật. Tôi gặp lại 4 anh vượt ngục đã bị bắt lại và bị đưa lên đây trừng trị từ nhiều tháng trước. Bốn chục thằng Việt Cộng lo trông coi và hành hạ chỉ có 11 người tù binh. Ôi! Buồn không chi tả xiết! Rồi Sàigòn thất thủ, niềm hi vọng lâu nay bám víu cũng trôi xa. Tôi tưởng chừng lòng mình đã thành chai đá. Nước mắt không còn để khóc. Quyển Thánh Kinh bị tịch thu vì là trại kỷ luật. Bị giam riêng một mình ở tòa nhà đá trên đầu dốc, tôi chỉ còn là một cái xác không hồn.
Cuối năm 1975, chúng tôi được cho viết thư về nhà lần đầu tiên. Tôi quyết định không viết. Còn vợ tôi, nếu nàng đã đi bước nữa mà nhận thư tôi chỉ khiến nàng thêm bẽ bàng. Thôi, tôi tự xem mình như đã chết. Và tôi cũng muốn gia đình tôi đừng biết tin tôi còn sống. Tôi sẽ ở tù không có ngày ra. Bọn việt cộng đã tuyên bố vậy. Báo tin tôi còn sống chỉ làm người thân đau khổ thêm một lần nữa, ích lợi gì! Nhưng thiếu úy Chờ, người bạn cưa xẻ với tôi, theo tôi năn nỉ khuyên nhủ suốt mấy ngày. Để làm vừa lòng bạn, tôi viết qua quít một thư cho mẹ tôi, mà tôi nghĩ sẽ chẳng bao giờ tới, vì có lẽ mẹ và các em tôi đã được đưa đi Mỹ rồi.
Mùa Đông năm ấy rét chưa từng thấy. Ban ngày nhiệt độ trung bình là 2 độ C. Ban đêm 5, 6 độ âm. Vẫn phải lao động, cưa gỗ, đẵn củi, đập đá, đắp đường. Bụng lúc nào cũng đói, cái đói triền miên hành hạ không nguôi. Nếu không có bãi cỏ hắc âu làm thuốc, có lẽ tất cả chúng tôi đã gục ngã vì bệnh thấp khớp sưng đầu gối. Rau dấp cá mọc hoang trở thành nguồn lương thực cứu đói chủ yếu của chúng tôi. Cỏ gì xực được là bứt. Tôi lại vận dụng trí não làm một bài thơ tựa đề là Mùa Đông Thạch An; thuộc nằm lòng chứ không bao giờ ngu dại viết ra giấy.
Khoảng ba tháng sau, nhằm mùa Xuân, một buổi trưa rất bất ngờ, thằng cai tù tên là Tòng đem đưa cho tôi thư nhà gửi ra, thật dầy. Tôi rất bình thản mở thư ra xem. Trong thư có rất nhiều ảnh chụp. Tấm hình màu nằm trên cùng là ảnh hai đứa con gái của tôi khoảng 4, 5 tuổi. Ôi! chúng xinh đẹp và dễ thương làm sao. Tôi chợt òa khóc không thể nào ngưng. Bao nhiêu nước mắt và nỗi lòng thương nhớ bị đè nén từ lâu đầy ngập trong linh hồn, nay tràn ra như nước vỡ bờ.
Chị Bửu và hai cháu gái 1975.
Một mình giữa xà lim vắng lặng, tôi nghe tiếng khóc hu hu của mình trộn lẫn tiếng nấc. Khi thấy lại hình ảnh của những người thân yêu nhất, mọi cảm xúc bỗng bừng sống dậy, dạt dào... Từng lời thư yêu thương của vợ làm tôi quá hối hận vì đã nghi ngờ lòng chung thủy của nàng. Ôi em! Ôi hai con! Vâng, sẽ có ngày... sẽ có ngày tôi được gặp lại người xưa.
Tháng 6 năm 1976, tôi được trả lại quyển Thánh Kinh được ra khỏi trại kỷ luật và bị đưa đi trại Sơn La vùng Tây Bắc. Chẳng phải vì chúng tôi đã mãn hạn, nhưng vì bọn Việt Cộng dùng trại Đông Khê để trừng trị những người chiêu hồi bị chúng tóm lại được. Ở Sơn La lao động quần quật hai năm rưỡi, lội khắp các cánh rừng của bản Mường Thái rồi về trại Ba Sao Nam Hà ở ba năm rưỡi nữa. Sau đó chuyển về trại Z30 C Hàm Tân thêm hai năm 7 tháng. Suốt thời gian ấy, tôi được báo trước trong những giấc mơ đủ thứ chuyện sẽ xảy ra, thì đều diễn ra y như tôi đã thuật lại cho các bạn cùng phòng. Trong gần 14 năm trôi nổi gian truân và cả sau nầy, bàn tay bảo vệ và gìn giữ của Thiên Chúa vẫn theo tôi không bao giờ rời xa. Ôi, Thiên Chúa đầy yêu thương đã đoái đến một con chiên ghẻ bướng bỉnh.
Không món quà nào trong thời khổ đau quý hơn món quà quyền phép giúp tôi biết mình luôn được bảo hộ, được chỉ dẫn cho biết con đường chân lý. Suy gẫm về những ngày gian khổ đó, tôi luôn biết ơn Đấng đã che chở bảo vệ tôi, thậm chí một cái tát cũng đã không xảy ra, mặc dù tôi là người tù bị bọn Việt cộng ghét nhất trại. Có lẽ tôi là người duy nhất thuộc khóa 65 Không Quân Việt Nam Cộng Hòa đã trải qua những kinh nghiệm như đã kể. Có người bạn như vậy kể cũng “hãnh riện” lắm chứ, phải không các bạn khóa 65KQ.
Chung Tử Bửu
Cước Chú:Không biết tác giả có còn nhớ bài hát rất hay mà anh đã hát cho tôi nghe tại trại Nam Hà A? Bài "Em đến thăm anh một chiều mưa..."Tarin65
Re: Góc nhỏ của anh 3 Giang
Hóa Chất Trong Thực Phẩm Và Trái Cây Tại VN
TS Mai Thanh Truyết, West Covina, 10/2005
- Việt Nam hiện đang phải đối mặt với tình trạng môi trường ô nhiễm trầm trọng. Từ không khí, đất đai và trầm tích, nguồn nước mặt và nước ngầm, cho đến nguồn thức ăn, nhu cầu cần thiết hàng ngày của người dân cũng đang là một thãm nạn cho mọi người. Sự hiện diện của hóa chất trong thực phẩm và trái cây là một vấn nạn lớn đang xảy ra ở khắp nơi trên toàn cõi đất nước là một hiện thực. Theo báo cáo tổng kết của những ngành có trách nhiệm về vệ sinh thực phẩm, thì tại Tp Sài Gòn trong 6 tháng đầu năm 2005, có gần 1.800 người bị ngộ độc thực phẩm, đa phần là ngộ độc trong các quán ăn tập thể, trong đó có 39 người chết. Riêng ngộ độc do vi sinh, hóa chất bảo vệ thực vật thì đã xảy ra 11 vụ, gồm trên 300 người bị nhiễm độc. Bài viết nầy có mục đích chuyển tải và phổ biến những thông tin về vấn nạn trên để mỗi người trong chúng ta lưu ý và cần trọng hơn trong sinh hoạt ăn uống hàng ngày.
Sự hiện diện của hóa chất trong thực phẩm tiêu dùng của người dân ở VN quả thật đã đến độ nghiêm trọng và đã diễn ra từ bao năm nay rồi. Có 2 nguyên nhân chính cho tình trạng nầy : nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân khách quan là do môi trường chung bị ô nhiễm, do đó ảnh hưởng đến cây trồng và súc vật. Và nguyên nhân chủ quan là do con người, trong quá trình sản xuất sản phẩm đã thêm hóa chất vào trong thực phẩm với trọng tâm mang đến lợi nhuận cao nhất mà không lưu tâm đến những di hại cho sức khỏe của người tiêu dùng.
- Hóa chất trong xì dầu
Hóa chất có tên viết tắt là 3-MCPD, hay tên hóa học đầy đủ là 3-monochloropropane-1,2-diol. Trong quy trình sản xuất xì dầu, phương pháp thủy phân bằng acid chlorhydric (HCl) trên các loại bánh dầu thực vật như đậu nành, đậu xanh, hay trong các mô mỡ động vật v.v... cho ra phế phẩm trên và một số hóa chất tương tự thuộc nhóm chloropropanol. Còn phương pháp chế tạo xì dầu qua công nghệ lên men tự nhiên thì không tạo ra các phế phẩm trên. Ngay sau khi giai đoạn chế biến xì dầu xong, hàm lượng của các hóa chất trên có thể tăng lên trong giai đoạn vô chai, dự trữ, và ngay cả trong khi nấu nướng, nếu hóa chất trên không được khử đúng mức. Hiện tại, hầu hết các công ty sản xuất xì dầu áp dụng phương pháp thủy phân bằng acid do đó dung lượng 3-MCPD có hàm lượng cao là điều không thể tránh khỏi.
- Ảnh hưởng của hóa chất lên con người
Tương tự như các hợp chất hữu cơ chứa chlor khác, 3-MCPD khi đi vào cơ thể qua đường thực phẩm sẽ tích tụ trong các mô mỡ và gan. Qua thời gian, một khi liều lượng của hóa chất trên mức an toàn của cơ thể có thể chấp nhận được, nguy cơ bịnh ung thư sẽ xảy ra. Theo Ủy ban Khoa học Thực phẩm Âu châu, 3-MCPD được xếp vào hạng hóa chất có nguy cơ gây ung thư và di truyền (genotoxic carcinogen). Sự hiện diện của hóa chất trong cơ thể phải được hạn chế tối đa, và định mức chấp nhận hàng ngày trong cơ thể (Tolerable Daily Intake - TDI) là 2ug/Kg/cơ thể.
Theo tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y tế VN, ban hành ngày 23/5/2005 sau ba năm nghiên cứu là : hàm lượng của 3-MCPD có trong xì dầu không thể vượt quá 1 mg/Kg áp dụng cho xuất cảng, và giao động từ 3-5 mg/Kg cho việc tiêu dùng trong nội địa. Trong lúc đó tiêu chuẩn của LH Âu Châu là 0,02 mg/Kg, của Anh Quốc 0,2 mg/KG, Bỉ 0,5 mg/Kg. Qua các tiêu chuẩn trên, quả thật chúng tôi không thể hiểu tại sao BYT Việt Nam lại có hai quy định riêng rẽ cho xì dầu xuất cảng và xì dầu nội địa. Chẳng lý nào người dân VN có sức đề kháng với hóa chất trên cao hơn người ngoại quốc?
- Tình trạng xuất cảng xì dầu
Các sản phẩm xì dầu dùng để xuất cảng do nhiều công ty trong nước sản xuất. Quan trọng nhất là Cty Liên doanh Chế biến Thực phẩm Việt Tiến (VITEC Food) xuất cảng xì dầu qua nhản hiệu Chin Su. Ngoài ra còn có các Cty như Nam Dương, Mêkong, Nestlé VN xuất cảng qua Âu châu, Mỹ châu, Úc và Á châu.
Cách đây độ 2 năm, Anh Quốc từ chối một lô hàng của VN vì hàm lượng 3-MCPD cao hơn tiêu chuẩn. Và gần đây nhất vào tháng 7 vứa qua, Bỉ cũng đã trả về các lô hàng Chin Su vì hàm lượng hóa chất trên lên đến 86 mg/Kg.
Để bào chữa cho việc xì dầu bị trả về, dĩ nhiên BGĐ của Cty phải chạy tội bằng cách phủ nhận qua phát biểu của Ông Phạm Hồng Sơn, TGĐ, như sau : "Sản phẩm của Cty VITEC Food xuất cảng từ năm 2003 sang các nước Đông Âu và EU, nhưng chưa bao giờ xuất cảng sang Bỉ, nên chai nước tương phát hiện ở Bỉ có hàm lượng 3-MCPD lên tới 86 mg/Kg có nhiều khả năng là giả". Xin nhường lời bình luận về phát biểu trên của Cty VITEC cho người đọc. Tuy nhiên, với tính cách thông tin, qua kiểm tra của Trung tâm Đo lường Chất lượng 3 Sài Gòn thì có độ 50% số lần mẫu của xì dầu Chin Su không đạt tiêu chuẩn. Cũng như theo báo cáo củaTrung tâm Dịch vụ Phân tích Thí nghiệm thuộc Sở KHCN-MT Tp HCM, qua 42 mẫu nước tương thì toàn bộ 42 mẫu đều có hàm lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều khi lên đến 7 - 8 ngàn lần nghĩa là 7000 - 8000 mg/Kg.
Tuy tiêu chuẩn do BYT đưa ra là 1mg/Kg nhưng vẫn chưa có biện pháp cũng như quy định nào cụ thể về việc kiểm tra phẩm chất sản phẩm của các nhà sản xuất. Cũng cần nên biết là toàn quốc chỉ có 9 phòng thí nghiệm có khả năng phân tích hoá chất 3-MCPD, và chi phí phân tích là 800 ngàn ĐồngVN/mẫu.
- Xì dầu giả hiệu
Ngoài 2 phương pháp thủy phân và lên men là chính trong quy trình sản xuất xì dầu. Dĩ nhiên là ở VN, có nhiều thể loại mặt hàng nhái, hàng giả hiện diện khắp nơi từ hàng tiêu dùng cho đến thực phẩm. Do đó việc sản xuất xì dầu cũng không tránh khỏi tình trạng nầy. Nói ra thì thấy kinh tởm, nhưng sau đây là một sự thật đang xảy ra ở VN. Hiện có sự xuất hiện của nhiều nhà thu gom tất cả xương gà, xương heo, bò ở các tiệm ăn, thậm chí ở những đống rác, để mang về nấu trong acid, và được trung hòa lại bằng sút caustic. Sản phẩm được vô bao nylon hay chai lọ dưới nhản hiệu "nước cốt để làm xì dầu" và được bày bán khắp nơi nhất là ở chợ Kim Biên, thuộc Chợ Lớn. Nơi đây còn bày bán các nguyên vật liệu để làm nước tương qua công thức chế biến là : nước + muối + màu + mùi + chất phụ gia để bảo quản xì dầu sản xuất.
- Borax hay hàn the
Borax còn gọi là hàn the. Đó là tên thương mãi của hóa chất sodium tetra borate decahydrate, có công thức là Na2B4 O7,10 H2O. Borax là một loại bột trắng dẽ hòa tan trong nước. Khi tiếp xúc với nước ngoài tính hòa tan, chất nầy còn hút nước hay gọi là ngậm nước để được bảo hòa với 12 phân tử nước. Chính vì tính chất sau cùng nầy mà hóa chất trên được ứng dụng nhiều trong kỹ nghệ thực phẩm. Đây cũng là một hóa chất có tính khử trùng và trừ sâu rầy nhẹ. Trong kỹ nghệ bột giặt, borax được dùng như một chất phụ gia để chống ẩm và không biến bột giặt đóng cụt theo thời gian vì đỗ ẩm cao trong không khí. Borax còn được dùng để khử nước "cứng" vì chứa nhiều calcium carbonate (vôi) và magnesium carbonate (thạch cao).
Vì đây là một loại thuốc sát trùng cho nên tính độc hại của nó cũng ảnh hưởng lên con người. Khi tiếp xúc với borax qua đường thực quản, cơ thể sẽ cảm thấy khó chịu như bị dị ứng và có thể đưa đến tử vong khi hấp thụ một liều lượng lớn. Qua đường khí quản, da hoặc mắt, cơ thể cũng có phản ứng tương tự nhưng nhẹ hơn.
Tùy theo liều lượng của borax xâm nhập vào người, phản ứng cấp tính của cơ thể diễn tiến như sau từ nhẹ đến nặng : nhức đầu - cơ thể bải quải - mạch đập nhanh - áp suất máu giảm - có thể bị phong giựt (seizure) và đi đến bất tỉnh.
Qua tiếp nhiễm dài hạn, con người có cảm giác bị trầm cảm (depression), và đối với phụ nữ có thể bị sinh ra hiếm muộn vì hóa chất nầy sẽ làm giảm thiểu thời kỳ rụng trứng.
Chính nhờ tính ngậm nước và khử trùng của borax mà còn người đã lợi dụng trong nhiều dịch vụ không chính đáng. Trong giai đoạn sau 1975, kỹ nghệ làm xà bông cây và kem đánh răng đã xử dụng borax để độ cứng của xà bông tăng và vì hấp thụ thêm nước cho nên cân lượng của xà bông nặng hơn nhưng độ sủi bọt và độ tẩy rửa rất kém so với trọng lượng. Trong kỹ nghệ kem đánh răng cũng thế, borax làm kem không bị "chảy nước" và nhờ đó có thể thêm vào nhiều vôi và magnesium vào để tăng trọng lượng của kem mà không có tác dụng gì đến việc làm sạch răng; đôi khi còn làm lở nướu răng nữa.
Đối với kỹ nghệ thực phẩm hiện tại, nhiều loại bánh tránh, bánh phở, hủ tiếu được cho thêm borax để được dai, cứng, lâu thiu hơn. Còn các loại chả lụa, chả quế cũng được tăng thêm độ dòn, chống được mốc meo va lâu thiu cũng nhờ borax. Đối với các loại thự c phẩm tươi như thịt cá để lâu ngày đã biến dạng, nếu có thêm borax, chúng trở nên cứng và có vẻ tươi trở lại. Đại khái trên đây là những ứng dụng không lành mạnh của borax mà con buôn dùng các thủ thuật nầy trong thực phẩm để làm sai lạc và đánh lạc thị hiếu của người mua.
- Formol
Formol có tên hóa học là formaldehyde, công thức là HCHO. Ở dưới dạng lỏng, formol có mùi rất khó ngữi và chỉ được tung ra thị trường dưới dạng hòa tan trong rượu methanol từ 37 đến 50%. Do đó, ngoài độc chất là formol, chúng ta cũng cần để ý đến độc tính của rượu methanol hay methylic. Trong quá trình chưng cất rượu ethylic, hay rượu cồn, luôn luôn có thêm một phó phẩm là methanol rất độc. Do đó, thỉnh thoảng chúng ta vẫn thường thấy trên báo chí nhiều trường hợp bị nhiễm độc đi đến tử vong do uống rượu là do hóa chất nầy.
Trở về formol, con người khi bị tiếp nhiễm qua da, mắt cảm thấy ngứa ngái khó chịu. Khi bị xâm nhập vào thực quản, cơ thể sẽ phản ứng mạnh mẻ như ói mữa, bị tiêu chảy và mất nước mau chóng có thể đi đến tử vong. Nếu da bị tiếp xúc lâu ngày sẽ trở thành nhạy cảm, dị ứng và có những chứng bịnh ngoài da phát sinh như bịnh gảy ngứa (eczema).
Như tất cả mọi người đều biết, công dụng chính thức của formol ngoài việc được xử dụng trong các phản ứng điều chế hóa chất cơ bản trong kỹ nghệ, formol còn được dùng để bảo quản các xác chết để khỏi hư thúi. Theo Chương Trình độc tố Quốc gia của Bộ Y tế HK thì hóa chất nầy được xếp vào loại hóa chất có nguy cơ gây ra bịnh ung thư khi bị tiếp nhiễm dài hạn. Còn trong thực phẩm, formol đã được tẩm lên bánh phở để chống thiu và vấn nạn nầy đã nổ lớn và làm náo động thị trường buôn bán phở ở VN cũng như ở hải ngoại, những nơi có người Việt định cư ở những năm vừa qua.
- Calcium carbide hay khí đá
Đây là một hóa chất ở thể rắn màu xám có công thức hóa học là CaC2. Dễ gây phản ứng phát nhiệt mạnh với nước, có thể cháy hoặc nổ. Con người khi bị tiếp nhiễm qua mắt và da, sẽ cảm thấy khó chịu, chảy nước mắt và ngứa ngái. Nếu bị tiếp nhiễm qua đường thực quản có thể bị hôn mê và đi đến tử vong. Kỹ nghệ trái cây chiếu cố đến hóa chất nầy nhiều nhất. Trái cây từ nhà vườn được hái khi chưa được chín tới để tránh bị dập hư trong khi chuyên chở. Khi đi đến vựa trái cây ở các thành phố, trái cây ngay sau đó được ủ trong khí đá; và chỉ vài giờ sau, các trái cây còn xanh như chuối, xoài, đu đủ v.v... sẽ có màu tươi tốt như mới vùa chín tới. Việc dùng khí đá để "thúc" trái cây có lợi điểm là làm bắt mắt người mua, nhưng phẩm chất của trái cây không còn giữ được như trong tự nhiên nữa như độ ngọt và mùi vị sẽ kém đi. Và vì bị "vú ép" cho nên độ đường không tăng trưởng đúng chu kỳ của trái cây, do đó trái cây mất đi vị ngọt tự nhiên. Thêm nữa, sự nguy hiểm của việc vú ép bằng hóa chất nầy có thể tạo ra hỏa hoạn, và điều nầy đã được chứng minh trong quá khứ tại chợ Cầu Ông Lảnh, vựa trái cây chính của thành phố.
- Hóa chất bảo quản sodium benzoate
Trong kỹ nghệ, sodium benzoate là một hóa chất dùng để bảo quản thực phẩm để khỏi bị hư và có tính chống mốc. Hóa chất này sẽ giúp thực phẩm không bị đổi màu, giữ mùi nguyên thủy, và sau cùng bảo quản các thành phần cấu tạo sản phẩm cũng như không làm biến dạng. Công thức hóa học của sodium benzoate là NaO-C6H5. Theo Cơ quan Quản lý Thực phẩm HK, mức chấp nhận của hóa chất nầy trong thực phẩm là 0,1%. Và nồng độ có thể gây tử vong khi xâm nhập vào cơ thể là 2g/Kg/trọng lượng cơ thể.
Qua độc tính kể trên, chúng ta cần phải nói đến quá trình điều chế hóa chất. Theo quy trình sản xúât sodium benzoate, một phế phẩm độc hại là phenol luôn hiện diện trong thành phẩm nầy. Do đó, sodium benzoate sau khi sản xuất cần phải khử phenol trước khi tung ra thị trường áp dụng cho kỹ nghệ thực phẩm. Nếu không, nguy cơ bị nhiễm độc do phenol rất lớn, và hóa chất nầy ảnh hưởng đến hệ thần kinh, nhất là đối với trẻ em và thai nhi trong bụng mẹ khi bị tiếp nhiễm qua đường thực phẩm.
Hiện tại hóa chất trên được nhập cảng từ Trung Quốc và dĩ nhiên có chứa rất nhiều tạp chất như phenol. Vì vậy, cần phải xem xét xuất xứ của hóa chất trước khi đem áp dụng vào thực phẩm.
- Hóa chất tẩy trắng chloride sodium hydrosufite.
Đây là một loại bột trắng, khi bị tiếp nhiễm qua đường khí quản, căn cứ theo Cơ quan Quyền lực Âu châu về An toàn Thực Phẩm (AESA), cơ thể con người sẽ cảm thấy bị khó thở và có thể bị nghẹt thở. Đôi khi bị ho rũ rượi. Sự hiện diện của nguyên tố chlor cũng là nguyên nhân của nguy cơ ung thư nếu bị tiếp nhiễm lâu dài.
Trong kỹ nghệ thực phẩm, hóa chất nầy được dùng để làm trắng các sản phẩm để làm bắt mắt người tiêu dùng. Các sản phẩm được nhà sản xuất áp dụng tính chất nầy là : bánh tráng, các loại bột dưới dạng sợi như bánh canh, bún, miếng v.v..... Một thí dụ điển hình là trước kia, bánh tráng sản xuất từ VN có màu ngà, và hay bị bể vì dòn. Trong thời gian sau nầy, bánh tráng trở nên trắng phau, được cán mõng, và đặc biệt rất dai, nhúng nước và cuốn không bị bể ra. Đó là do công lao của borax và hóa chất tẩy trắng.
- Các phẩm màu trong thực phẩm
Trong thực phẩm, màu giữ một địa vị rất quan trọng. Nó làm cho sản phẩm bắt mắt hơn, gây chú ý cho người mua và gây ảnh hưởng tốt về phẩm chất của món hàng. Có hai loại màu : màu tổng hợp và màu thiên nhiên. Màu thiên nhiên được trích từ các mô của cây cỏ. Việc xử dụng loại màu nầy nảy sinh ra nhiều vấn đề như : màu không cố định có thể thay đổi hay biến dạng theo thời gian, nhiệt độ, ánh sáng, và nhất là có thể làm biến dạng phẩm chất của thực phẩm được nhuộm màu.
Còn màu tổng hợp thường tan trong nước và ổn định hơn. Trên thị trường, màu tổng hợp có dưới dạng hạt, bột, dung dịch, hay dạng dẽo. Màu tổng hợp tác dụng với hydroxid nhôm Al(OH)3 để cho ra một dung dịch gọi là hồ (lakes) sẵn sàng để nhuộm màu trong thực phẩm. Lợi điểm của màu tổng hợp là màu rất bền không bị tác dụng do thời gian, nhiệt độ hay ánh sáng. Các nhà sản xuất thực phẩm rất thích dùng loại màu tổng hợp nầy.
Chúng tôi xin đan cử ra hai màu căn bản là màu tartrazine có màu vàng và màu carmine màu đỏ ngã qua cam. Đứng về phương diện độc hại, màu rất nhạy cảm cho da, có thể làm nứt da, tạo ra những vảy nến, hay làm dị ứng cũng như nghẹt mũi căn cứ theo báo cáo của Ủy ban Khoa học Thực phẩm cho con người của EU (CSAH).
- Hóa chất bảo vệ thực vật
Đây là một vấn nạn lớn của dân tộc, vì nó ảnh hưởng dài hạn lên nhiều thế hệ trong tương lai. Theo báo chí Việt Nam, các vụ ngộ độc trong nước chiếm đến 25% trên tổng số vụ ngộ độc. Điều nầy nói lên tính cách quan trọng của vấn đề. Xin hãy nghe tiếng nói của tác giả Liêu Tử ở Việt Nam : "Các bạn phải luôn đề cao cảnh giác, và nhớ luật nầy : các thứ rau, củ, quả, ngó thấy ngon chớ mà ham. Trái khổ qua, ngó như trái bị đèo thì hãy mua. Củ cải trắng, củ cà rốt cũng vậy. Người trồng trọt xứ mình chi ham trồng được rau củ quả to bự, cân có ký, bán có giá, mặc sức hóa chất tống vào trong đó". Xin thưa hóa chất tống vào đó chính là hóa chất bảo vệ thực vật tức là hóa chất diệt cỏ, trừ sâu rầy, trừ nấm mốc v.v.. Các hoá chất diệt trừ cỏ dại nếu dùng liều lượng thích hợp sẽ biến thành các hóa chất "kích thích tăng trưởng". Đó chính là lý do tại sao rau đậu, quả dưa, trái cà, thậm chí đến cọng giá, cong rau muống... cũng to lớn, xanh mướt rất bắt mắt.
TS Nguyễn Quốc Tuấn, Trưởng phòng thí nghiệm Môi trường thuộc Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng I đã cho biết như sau : "Kết quả nhiều đợt phân tích cho thấy tất cả các loại hoa quả TQ và cam Việt Nam đều có chứa thuốc diệt cỏ 2,4-D và 2,4,5-T. Các loại hóa chất nầy đang được nông dân xử dụng để bảo quản hoa quả... Trung tâm Thông tin và Chuyển giao Hà Giang đã chuyển đến chúng tôi hai gói bột in chữ TQ với hình ảnh quả hồng tươi rói. Qua phân tích chúng tôi tìm thấy nhiều hợp chất trong đó có hóa chất 2,4-D có hàm lượng đến 70%. Riêng gói thuốc diệt cỏ có băng màu xanh đậm còn tìm thấy hóa chất 2,4,5-T". Các gói hóa chất được bày bán tự do ngoài thị trường ở Hà Nội và Sài Gòn dưới giá khoảng 2.000 Đồng Việt Nam một gói độ 2g. Liền ngay khi kết quả trên được công bố, ngày 13/5/2004, ông Hoàng Thủy Tiến, Phó Cục trưởng Cục An toàn Vệ sinh Thực Phẩm đã tuyên bố : "Các hóa chất bảo vệ thực vật 2,4-D và 2,4,5-T trong táo, mơ, trứng, sữa và các loại quả mọng khác có hàm lượng không quá 0,05 mg/kg hoa quả. Như vậy, lượng hóa chất độc hại tồn dư trong hoa quả vẫn dưới ngưỡng cữa cho phép. Người tiêu dùng không nên quá lo lắng". Chúng tôi miễn bình luận về lời tuyên bố nầy vì không biết "ngưỡng cữa cho phép" của Việt Nam là bao nhiêu?
- Hy vọng tương lai
Tuy nhiên, dù đối mặt với bao vấn nạn hết sức tiêu cực như hàng nhái, hàng giả, cũng cần nên nói đến một khía cạnh tích cực để từ đó có thể cũng cố niềm hy vọng tương lai của chúng ta và kỹ nghệ thực phẩm sẽ sáng sủa hơn. Đó là, gần đây nhất, vào ngày 29/09 vừa qua, Tổ chức Trợ giúp HK (USAID) và Tổ chức Trợ Giúp Úc (AusAID) đã ký một bản thỏa hiệp với Viện Nghiên cứu Cây Ăn Quả Miền Nam nhằm mục đích phối hợp phát triển ngành sản xuất cây ăn trái qua dự án Ứng dụng Nông nghiệp Tốt (Good Agricultural Practices - GAP). Trong dự án nầy, các doanh nghiệp và nông dân sản xuất cây trái sẽ được học hỏi đúng tiêu chuẩn bảo đảm an toàn sản phẩm theo quy trình vệ sinh và an toàn cho con người và môi trường dựa theo tiêu chuẩn thế giới.
Hy vọng đây là một bước đầu để Việt Nam đi vào nề nếp trong sản xuất thực phẩm nhất là các sản phẩm dành cho xuất khẩu.
- Kết luận
Tuy nhiên, qua câu chuyện hôm nay, chúng tôi xin mượn lời những người có thách nhiệm về việc bảo vệ An toàn Thực phẩm trong nước lên tiếng. Trong một buổi trao đổi về "Thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm và bioện pháp quản lý" vào ngày 05/08/2005 do báo Thanh Niên tổ chức tại Sài Gòn, thông tin mới nhất của thị trường thực phẩm được công bố như sau : "Bánh mì đã được làm bằng bột nở trong sản xuất cao su, nước mắm đã được pha urea để tăng độ đạm, qua mặt được kiểm soát vì chỉ phân tích độ đạm tổng hợp mà thôi, chả lụa thì dùng thịt "phế liệu" như thịt bạng nhạng và thịt hôi thiu và hàn the v.v..." TS Võ Văn Sen, Đại hoc Nhân văn Sài Gòn đã phát biểu như sau : "Tôi rất đồng ý với nhận định của nhiều người trên diễn đàn báo Thanh Niên là mức độ của vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm rất nghiêm trọng có thể nói là rất xấu. Nhìn lại nước ta, thấy dân ta ăn uống mà thương!" Trong lúc đó, ông Chu Quốc Lập, Phó Cục trưởng Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm Sài Gòn cho rằng tình hình được kiểm soát rất tốt. Xin hỏi kiểm soát rất tốt như thế nào mà chỉ có 7 nhân viên kiểm soát cho một thị trường cung ứng cho 7 triệu cư dân thành phố?
Cũng qua thống kê của Bộ Y tế VN trong "Dự thảo số 5 - Kế hoạch hành động quốc gia bảo đảm Vệ sinh An toàn Thực phẩm đến năm 2010" thì trong 8 năm từ năm 1997 đến 2004, toàn quốc có 6.467.448 trường hợp mắc các bịnh nhiểm trùng qua thực phẩm, trong đó có 194 trường hợp tử vong. Hy vọng các thông tin và dữ kiện trên sẽ mang đến kết luận cho mỗi người trong chúng ta.
Việc người dân trong nước hoài nghi hầu hết những loại thực phẩm bày bán ở thị trường. Nhưng dù hoài nghi hay cẩn thận đến đâu đi nữa thì cũng phải tiêu thụ thực phẩm nầy. Ngoại trừ một thiểu số có nhiều tiền để có thể mua thực phẩm "an toàn" nhập cảng từ bên ngoài, thâm chí uống nước lọc nhập cảng luôn. Còn tuyệt đại đa số bà con vẫn phải chấp nhận và tiêu thụ nguồn thực phẩm làm từ trong nước cũng như phải dùng nguồn nước cung cấp từ Tổng công ty Cấp nước. Tình trạng trên cần phải được chấm dứt. Nếu không, nhiều hệ lụy không nhỏ sẽ xảy ra và đã xảy ra trong trường hợp các thực phẩm xuất cảng như xì dầu, cá basa, và tôm.
Cá basa đã bị trả về vì dung lượng hóa chất fluoro-quinolones tồn tại trong cá và mới đây nhất, tiểu bang Georgia đã khám phá ra thêm chất kháng sinh enrofloxacin trong cá nữa. Xì dầu bị trả về vì sự hiện diện của 3-MCPD. Còn tôm và một số thủy sản khác bị trả về vì chất kháng sinh chloramphenicaol trước kia, nay lại bị trả vì sư hiện diện của nitrofuran, vì 3-amino-2-oxazole, vì semicarbazide. Riêng trong trường hợp tôm, Việt Nam đã bị Ngân hàng Thế giới cảnh báo vì đã dùng rhotenone, một độc chất có trong cây thuốc cá để thay thế chloramphenicol vì hóa chất nầy không nằm trong danh mục kiểm soát của Cơ quan FDA HK.
Các hành động trên chứng tỏ rằng, nếu Việt Nam tiếp tục đi theo con đường nầy sẽ khó hội nhập vào cuộc chơi toàn cầu vì nơi đây đòi hỏi một sự xuyên suốt về các thông tin an toàn thực phẩm trong trao đổi quốc tế.
Để kết luận về các vấn nạn qua sự hiện diện của hóa chất trong thực phẩm và trái cây, chúng tôi có suy nghĩ như sau : Trước hết, cần phải xem lại cung cách quản lý của VN đối với công nghệ sản xuất xì dầu. VN đã thành công trong quản lý chính trị, ổn định được trật tự xã hội về an ninh dù trong hình thức bên ngoài, không lý nào lại không quan tâm trong việc kiểm soát môi trường. Và một khi môi trường đã bị lạm dụng, tình trạng xáo trộn xã hội chắc chắn sẽ xảy ra qua sự phản kháng của người dân. Sau cùng, sự bất ổn chính trị sẽ kéo theo cùng với những bất trắc của quốc gia mà lãnh đạo VN sẽ khó tiên liệu được.
Đã đến lúc Việt Nam cần phải chấp nhận thực tế nầy. Nếu không Việt Nam khó có cơ may làm thành viên của Tổ chức Thương mãi toàn cầu (WTO).
Mai Thanh Truyết
West Covina, 10/2005
TS Mai Thanh Truyết, West Covina, 10/2005
- Việt Nam hiện đang phải đối mặt với tình trạng môi trường ô nhiễm trầm trọng. Từ không khí, đất đai và trầm tích, nguồn nước mặt và nước ngầm, cho đến nguồn thức ăn, nhu cầu cần thiết hàng ngày của người dân cũng đang là một thãm nạn cho mọi người. Sự hiện diện của hóa chất trong thực phẩm và trái cây là một vấn nạn lớn đang xảy ra ở khắp nơi trên toàn cõi đất nước là một hiện thực. Theo báo cáo tổng kết của những ngành có trách nhiệm về vệ sinh thực phẩm, thì tại Tp Sài Gòn trong 6 tháng đầu năm 2005, có gần 1.800 người bị ngộ độc thực phẩm, đa phần là ngộ độc trong các quán ăn tập thể, trong đó có 39 người chết. Riêng ngộ độc do vi sinh, hóa chất bảo vệ thực vật thì đã xảy ra 11 vụ, gồm trên 300 người bị nhiễm độc. Bài viết nầy có mục đích chuyển tải và phổ biến những thông tin về vấn nạn trên để mỗi người trong chúng ta lưu ý và cần trọng hơn trong sinh hoạt ăn uống hàng ngày.
Sự hiện diện của hóa chất trong thực phẩm tiêu dùng của người dân ở VN quả thật đã đến độ nghiêm trọng và đã diễn ra từ bao năm nay rồi. Có 2 nguyên nhân chính cho tình trạng nầy : nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân khách quan là do môi trường chung bị ô nhiễm, do đó ảnh hưởng đến cây trồng và súc vật. Và nguyên nhân chủ quan là do con người, trong quá trình sản xuất sản phẩm đã thêm hóa chất vào trong thực phẩm với trọng tâm mang đến lợi nhuận cao nhất mà không lưu tâm đến những di hại cho sức khỏe của người tiêu dùng.
- Hóa chất trong xì dầu
Hóa chất có tên viết tắt là 3-MCPD, hay tên hóa học đầy đủ là 3-monochloropropane-1,2-diol. Trong quy trình sản xuất xì dầu, phương pháp thủy phân bằng acid chlorhydric (HCl) trên các loại bánh dầu thực vật như đậu nành, đậu xanh, hay trong các mô mỡ động vật v.v... cho ra phế phẩm trên và một số hóa chất tương tự thuộc nhóm chloropropanol. Còn phương pháp chế tạo xì dầu qua công nghệ lên men tự nhiên thì không tạo ra các phế phẩm trên. Ngay sau khi giai đoạn chế biến xì dầu xong, hàm lượng của các hóa chất trên có thể tăng lên trong giai đoạn vô chai, dự trữ, và ngay cả trong khi nấu nướng, nếu hóa chất trên không được khử đúng mức. Hiện tại, hầu hết các công ty sản xuất xì dầu áp dụng phương pháp thủy phân bằng acid do đó dung lượng 3-MCPD có hàm lượng cao là điều không thể tránh khỏi.
- Ảnh hưởng của hóa chất lên con người
Tương tự như các hợp chất hữu cơ chứa chlor khác, 3-MCPD khi đi vào cơ thể qua đường thực phẩm sẽ tích tụ trong các mô mỡ và gan. Qua thời gian, một khi liều lượng của hóa chất trên mức an toàn của cơ thể có thể chấp nhận được, nguy cơ bịnh ung thư sẽ xảy ra. Theo Ủy ban Khoa học Thực phẩm Âu châu, 3-MCPD được xếp vào hạng hóa chất có nguy cơ gây ung thư và di truyền (genotoxic carcinogen). Sự hiện diện của hóa chất trong cơ thể phải được hạn chế tối đa, và định mức chấp nhận hàng ngày trong cơ thể (Tolerable Daily Intake - TDI) là 2ug/Kg/cơ thể.
Theo tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y tế VN, ban hành ngày 23/5/2005 sau ba năm nghiên cứu là : hàm lượng của 3-MCPD có trong xì dầu không thể vượt quá 1 mg/Kg áp dụng cho xuất cảng, và giao động từ 3-5 mg/Kg cho việc tiêu dùng trong nội địa. Trong lúc đó tiêu chuẩn của LH Âu Châu là 0,02 mg/Kg, của Anh Quốc 0,2 mg/KG, Bỉ 0,5 mg/Kg. Qua các tiêu chuẩn trên, quả thật chúng tôi không thể hiểu tại sao BYT Việt Nam lại có hai quy định riêng rẽ cho xì dầu xuất cảng và xì dầu nội địa. Chẳng lý nào người dân VN có sức đề kháng với hóa chất trên cao hơn người ngoại quốc?
- Tình trạng xuất cảng xì dầu
Các sản phẩm xì dầu dùng để xuất cảng do nhiều công ty trong nước sản xuất. Quan trọng nhất là Cty Liên doanh Chế biến Thực phẩm Việt Tiến (VITEC Food) xuất cảng xì dầu qua nhản hiệu Chin Su. Ngoài ra còn có các Cty như Nam Dương, Mêkong, Nestlé VN xuất cảng qua Âu châu, Mỹ châu, Úc và Á châu.
Cách đây độ 2 năm, Anh Quốc từ chối một lô hàng của VN vì hàm lượng 3-MCPD cao hơn tiêu chuẩn. Và gần đây nhất vào tháng 7 vứa qua, Bỉ cũng đã trả về các lô hàng Chin Su vì hàm lượng hóa chất trên lên đến 86 mg/Kg.
Để bào chữa cho việc xì dầu bị trả về, dĩ nhiên BGĐ của Cty phải chạy tội bằng cách phủ nhận qua phát biểu của Ông Phạm Hồng Sơn, TGĐ, như sau : "Sản phẩm của Cty VITEC Food xuất cảng từ năm 2003 sang các nước Đông Âu và EU, nhưng chưa bao giờ xuất cảng sang Bỉ, nên chai nước tương phát hiện ở Bỉ có hàm lượng 3-MCPD lên tới 86 mg/Kg có nhiều khả năng là giả". Xin nhường lời bình luận về phát biểu trên của Cty VITEC cho người đọc. Tuy nhiên, với tính cách thông tin, qua kiểm tra của Trung tâm Đo lường Chất lượng 3 Sài Gòn thì có độ 50% số lần mẫu của xì dầu Chin Su không đạt tiêu chuẩn. Cũng như theo báo cáo củaTrung tâm Dịch vụ Phân tích Thí nghiệm thuộc Sở KHCN-MT Tp HCM, qua 42 mẫu nước tương thì toàn bộ 42 mẫu đều có hàm lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều khi lên đến 7 - 8 ngàn lần nghĩa là 7000 - 8000 mg/Kg.
Tuy tiêu chuẩn do BYT đưa ra là 1mg/Kg nhưng vẫn chưa có biện pháp cũng như quy định nào cụ thể về việc kiểm tra phẩm chất sản phẩm của các nhà sản xuất. Cũng cần nên biết là toàn quốc chỉ có 9 phòng thí nghiệm có khả năng phân tích hoá chất 3-MCPD, và chi phí phân tích là 800 ngàn ĐồngVN/mẫu.
- Xì dầu giả hiệu
Ngoài 2 phương pháp thủy phân và lên men là chính trong quy trình sản xuất xì dầu. Dĩ nhiên là ở VN, có nhiều thể loại mặt hàng nhái, hàng giả hiện diện khắp nơi từ hàng tiêu dùng cho đến thực phẩm. Do đó việc sản xuất xì dầu cũng không tránh khỏi tình trạng nầy. Nói ra thì thấy kinh tởm, nhưng sau đây là một sự thật đang xảy ra ở VN. Hiện có sự xuất hiện của nhiều nhà thu gom tất cả xương gà, xương heo, bò ở các tiệm ăn, thậm chí ở những đống rác, để mang về nấu trong acid, và được trung hòa lại bằng sút caustic. Sản phẩm được vô bao nylon hay chai lọ dưới nhản hiệu "nước cốt để làm xì dầu" và được bày bán khắp nơi nhất là ở chợ Kim Biên, thuộc Chợ Lớn. Nơi đây còn bày bán các nguyên vật liệu để làm nước tương qua công thức chế biến là : nước + muối + màu + mùi + chất phụ gia để bảo quản xì dầu sản xuất.
- Borax hay hàn the
Borax còn gọi là hàn the. Đó là tên thương mãi của hóa chất sodium tetra borate decahydrate, có công thức là Na2B4 O7,10 H2O. Borax là một loại bột trắng dẽ hòa tan trong nước. Khi tiếp xúc với nước ngoài tính hòa tan, chất nầy còn hút nước hay gọi là ngậm nước để được bảo hòa với 12 phân tử nước. Chính vì tính chất sau cùng nầy mà hóa chất trên được ứng dụng nhiều trong kỹ nghệ thực phẩm. Đây cũng là một hóa chất có tính khử trùng và trừ sâu rầy nhẹ. Trong kỹ nghệ bột giặt, borax được dùng như một chất phụ gia để chống ẩm và không biến bột giặt đóng cụt theo thời gian vì đỗ ẩm cao trong không khí. Borax còn được dùng để khử nước "cứng" vì chứa nhiều calcium carbonate (vôi) và magnesium carbonate (thạch cao).
Vì đây là một loại thuốc sát trùng cho nên tính độc hại của nó cũng ảnh hưởng lên con người. Khi tiếp xúc với borax qua đường thực quản, cơ thể sẽ cảm thấy khó chịu như bị dị ứng và có thể đưa đến tử vong khi hấp thụ một liều lượng lớn. Qua đường khí quản, da hoặc mắt, cơ thể cũng có phản ứng tương tự nhưng nhẹ hơn.
Tùy theo liều lượng của borax xâm nhập vào người, phản ứng cấp tính của cơ thể diễn tiến như sau từ nhẹ đến nặng : nhức đầu - cơ thể bải quải - mạch đập nhanh - áp suất máu giảm - có thể bị phong giựt (seizure) và đi đến bất tỉnh.
Qua tiếp nhiễm dài hạn, con người có cảm giác bị trầm cảm (depression), và đối với phụ nữ có thể bị sinh ra hiếm muộn vì hóa chất nầy sẽ làm giảm thiểu thời kỳ rụng trứng.
Chính nhờ tính ngậm nước và khử trùng của borax mà còn người đã lợi dụng trong nhiều dịch vụ không chính đáng. Trong giai đoạn sau 1975, kỹ nghệ làm xà bông cây và kem đánh răng đã xử dụng borax để độ cứng của xà bông tăng và vì hấp thụ thêm nước cho nên cân lượng của xà bông nặng hơn nhưng độ sủi bọt và độ tẩy rửa rất kém so với trọng lượng. Trong kỹ nghệ kem đánh răng cũng thế, borax làm kem không bị "chảy nước" và nhờ đó có thể thêm vào nhiều vôi và magnesium vào để tăng trọng lượng của kem mà không có tác dụng gì đến việc làm sạch răng; đôi khi còn làm lở nướu răng nữa.
Đối với kỹ nghệ thực phẩm hiện tại, nhiều loại bánh tránh, bánh phở, hủ tiếu được cho thêm borax để được dai, cứng, lâu thiu hơn. Còn các loại chả lụa, chả quế cũng được tăng thêm độ dòn, chống được mốc meo va lâu thiu cũng nhờ borax. Đối với các loại thự c phẩm tươi như thịt cá để lâu ngày đã biến dạng, nếu có thêm borax, chúng trở nên cứng và có vẻ tươi trở lại. Đại khái trên đây là những ứng dụng không lành mạnh của borax mà con buôn dùng các thủ thuật nầy trong thực phẩm để làm sai lạc và đánh lạc thị hiếu của người mua.
- Formol
Formol có tên hóa học là formaldehyde, công thức là HCHO. Ở dưới dạng lỏng, formol có mùi rất khó ngữi và chỉ được tung ra thị trường dưới dạng hòa tan trong rượu methanol từ 37 đến 50%. Do đó, ngoài độc chất là formol, chúng ta cũng cần để ý đến độc tính của rượu methanol hay methylic. Trong quá trình chưng cất rượu ethylic, hay rượu cồn, luôn luôn có thêm một phó phẩm là methanol rất độc. Do đó, thỉnh thoảng chúng ta vẫn thường thấy trên báo chí nhiều trường hợp bị nhiễm độc đi đến tử vong do uống rượu là do hóa chất nầy.
Trở về formol, con người khi bị tiếp nhiễm qua da, mắt cảm thấy ngứa ngái khó chịu. Khi bị xâm nhập vào thực quản, cơ thể sẽ phản ứng mạnh mẻ như ói mữa, bị tiêu chảy và mất nước mau chóng có thể đi đến tử vong. Nếu da bị tiếp xúc lâu ngày sẽ trở thành nhạy cảm, dị ứng và có những chứng bịnh ngoài da phát sinh như bịnh gảy ngứa (eczema).
Như tất cả mọi người đều biết, công dụng chính thức của formol ngoài việc được xử dụng trong các phản ứng điều chế hóa chất cơ bản trong kỹ nghệ, formol còn được dùng để bảo quản các xác chết để khỏi hư thúi. Theo Chương Trình độc tố Quốc gia của Bộ Y tế HK thì hóa chất nầy được xếp vào loại hóa chất có nguy cơ gây ra bịnh ung thư khi bị tiếp nhiễm dài hạn. Còn trong thực phẩm, formol đã được tẩm lên bánh phở để chống thiu và vấn nạn nầy đã nổ lớn và làm náo động thị trường buôn bán phở ở VN cũng như ở hải ngoại, những nơi có người Việt định cư ở những năm vừa qua.
- Calcium carbide hay khí đá
Đây là một hóa chất ở thể rắn màu xám có công thức hóa học là CaC2. Dễ gây phản ứng phát nhiệt mạnh với nước, có thể cháy hoặc nổ. Con người khi bị tiếp nhiễm qua mắt và da, sẽ cảm thấy khó chịu, chảy nước mắt và ngứa ngái. Nếu bị tiếp nhiễm qua đường thực quản có thể bị hôn mê và đi đến tử vong. Kỹ nghệ trái cây chiếu cố đến hóa chất nầy nhiều nhất. Trái cây từ nhà vườn được hái khi chưa được chín tới để tránh bị dập hư trong khi chuyên chở. Khi đi đến vựa trái cây ở các thành phố, trái cây ngay sau đó được ủ trong khí đá; và chỉ vài giờ sau, các trái cây còn xanh như chuối, xoài, đu đủ v.v... sẽ có màu tươi tốt như mới vùa chín tới. Việc dùng khí đá để "thúc" trái cây có lợi điểm là làm bắt mắt người mua, nhưng phẩm chất của trái cây không còn giữ được như trong tự nhiên nữa như độ ngọt và mùi vị sẽ kém đi. Và vì bị "vú ép" cho nên độ đường không tăng trưởng đúng chu kỳ của trái cây, do đó trái cây mất đi vị ngọt tự nhiên. Thêm nữa, sự nguy hiểm của việc vú ép bằng hóa chất nầy có thể tạo ra hỏa hoạn, và điều nầy đã được chứng minh trong quá khứ tại chợ Cầu Ông Lảnh, vựa trái cây chính của thành phố.
- Hóa chất bảo quản sodium benzoate
Trong kỹ nghệ, sodium benzoate là một hóa chất dùng để bảo quản thực phẩm để khỏi bị hư và có tính chống mốc. Hóa chất này sẽ giúp thực phẩm không bị đổi màu, giữ mùi nguyên thủy, và sau cùng bảo quản các thành phần cấu tạo sản phẩm cũng như không làm biến dạng. Công thức hóa học của sodium benzoate là NaO-C6H5. Theo Cơ quan Quản lý Thực phẩm HK, mức chấp nhận của hóa chất nầy trong thực phẩm là 0,1%. Và nồng độ có thể gây tử vong khi xâm nhập vào cơ thể là 2g/Kg/trọng lượng cơ thể.
Qua độc tính kể trên, chúng ta cần phải nói đến quá trình điều chế hóa chất. Theo quy trình sản xúât sodium benzoate, một phế phẩm độc hại là phenol luôn hiện diện trong thành phẩm nầy. Do đó, sodium benzoate sau khi sản xuất cần phải khử phenol trước khi tung ra thị trường áp dụng cho kỹ nghệ thực phẩm. Nếu không, nguy cơ bị nhiễm độc do phenol rất lớn, và hóa chất nầy ảnh hưởng đến hệ thần kinh, nhất là đối với trẻ em và thai nhi trong bụng mẹ khi bị tiếp nhiễm qua đường thực phẩm.
Hiện tại hóa chất trên được nhập cảng từ Trung Quốc và dĩ nhiên có chứa rất nhiều tạp chất như phenol. Vì vậy, cần phải xem xét xuất xứ của hóa chất trước khi đem áp dụng vào thực phẩm.
- Hóa chất tẩy trắng chloride sodium hydrosufite.
Đây là một loại bột trắng, khi bị tiếp nhiễm qua đường khí quản, căn cứ theo Cơ quan Quyền lực Âu châu về An toàn Thực Phẩm (AESA), cơ thể con người sẽ cảm thấy bị khó thở và có thể bị nghẹt thở. Đôi khi bị ho rũ rượi. Sự hiện diện của nguyên tố chlor cũng là nguyên nhân của nguy cơ ung thư nếu bị tiếp nhiễm lâu dài.
Trong kỹ nghệ thực phẩm, hóa chất nầy được dùng để làm trắng các sản phẩm để làm bắt mắt người tiêu dùng. Các sản phẩm được nhà sản xuất áp dụng tính chất nầy là : bánh tráng, các loại bột dưới dạng sợi như bánh canh, bún, miếng v.v..... Một thí dụ điển hình là trước kia, bánh tráng sản xuất từ VN có màu ngà, và hay bị bể vì dòn. Trong thời gian sau nầy, bánh tráng trở nên trắng phau, được cán mõng, và đặc biệt rất dai, nhúng nước và cuốn không bị bể ra. Đó là do công lao của borax và hóa chất tẩy trắng.
- Các phẩm màu trong thực phẩm
Trong thực phẩm, màu giữ một địa vị rất quan trọng. Nó làm cho sản phẩm bắt mắt hơn, gây chú ý cho người mua và gây ảnh hưởng tốt về phẩm chất của món hàng. Có hai loại màu : màu tổng hợp và màu thiên nhiên. Màu thiên nhiên được trích từ các mô của cây cỏ. Việc xử dụng loại màu nầy nảy sinh ra nhiều vấn đề như : màu không cố định có thể thay đổi hay biến dạng theo thời gian, nhiệt độ, ánh sáng, và nhất là có thể làm biến dạng phẩm chất của thực phẩm được nhuộm màu.
Còn màu tổng hợp thường tan trong nước và ổn định hơn. Trên thị trường, màu tổng hợp có dưới dạng hạt, bột, dung dịch, hay dạng dẽo. Màu tổng hợp tác dụng với hydroxid nhôm Al(OH)3 để cho ra một dung dịch gọi là hồ (lakes) sẵn sàng để nhuộm màu trong thực phẩm. Lợi điểm của màu tổng hợp là màu rất bền không bị tác dụng do thời gian, nhiệt độ hay ánh sáng. Các nhà sản xuất thực phẩm rất thích dùng loại màu tổng hợp nầy.
Chúng tôi xin đan cử ra hai màu căn bản là màu tartrazine có màu vàng và màu carmine màu đỏ ngã qua cam. Đứng về phương diện độc hại, màu rất nhạy cảm cho da, có thể làm nứt da, tạo ra những vảy nến, hay làm dị ứng cũng như nghẹt mũi căn cứ theo báo cáo của Ủy ban Khoa học Thực phẩm cho con người của EU (CSAH).
- Hóa chất bảo vệ thực vật
Đây là một vấn nạn lớn của dân tộc, vì nó ảnh hưởng dài hạn lên nhiều thế hệ trong tương lai. Theo báo chí Việt Nam, các vụ ngộ độc trong nước chiếm đến 25% trên tổng số vụ ngộ độc. Điều nầy nói lên tính cách quan trọng của vấn đề. Xin hãy nghe tiếng nói của tác giả Liêu Tử ở Việt Nam : "Các bạn phải luôn đề cao cảnh giác, và nhớ luật nầy : các thứ rau, củ, quả, ngó thấy ngon chớ mà ham. Trái khổ qua, ngó như trái bị đèo thì hãy mua. Củ cải trắng, củ cà rốt cũng vậy. Người trồng trọt xứ mình chi ham trồng được rau củ quả to bự, cân có ký, bán có giá, mặc sức hóa chất tống vào trong đó". Xin thưa hóa chất tống vào đó chính là hóa chất bảo vệ thực vật tức là hóa chất diệt cỏ, trừ sâu rầy, trừ nấm mốc v.v.. Các hoá chất diệt trừ cỏ dại nếu dùng liều lượng thích hợp sẽ biến thành các hóa chất "kích thích tăng trưởng". Đó chính là lý do tại sao rau đậu, quả dưa, trái cà, thậm chí đến cọng giá, cong rau muống... cũng to lớn, xanh mướt rất bắt mắt.
TS Nguyễn Quốc Tuấn, Trưởng phòng thí nghiệm Môi trường thuộc Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng I đã cho biết như sau : "Kết quả nhiều đợt phân tích cho thấy tất cả các loại hoa quả TQ và cam Việt Nam đều có chứa thuốc diệt cỏ 2,4-D và 2,4,5-T. Các loại hóa chất nầy đang được nông dân xử dụng để bảo quản hoa quả... Trung tâm Thông tin và Chuyển giao Hà Giang đã chuyển đến chúng tôi hai gói bột in chữ TQ với hình ảnh quả hồng tươi rói. Qua phân tích chúng tôi tìm thấy nhiều hợp chất trong đó có hóa chất 2,4-D có hàm lượng đến 70%. Riêng gói thuốc diệt cỏ có băng màu xanh đậm còn tìm thấy hóa chất 2,4,5-T". Các gói hóa chất được bày bán tự do ngoài thị trường ở Hà Nội và Sài Gòn dưới giá khoảng 2.000 Đồng Việt Nam một gói độ 2g. Liền ngay khi kết quả trên được công bố, ngày 13/5/2004, ông Hoàng Thủy Tiến, Phó Cục trưởng Cục An toàn Vệ sinh Thực Phẩm đã tuyên bố : "Các hóa chất bảo vệ thực vật 2,4-D và 2,4,5-T trong táo, mơ, trứng, sữa và các loại quả mọng khác có hàm lượng không quá 0,05 mg/kg hoa quả. Như vậy, lượng hóa chất độc hại tồn dư trong hoa quả vẫn dưới ngưỡng cữa cho phép. Người tiêu dùng không nên quá lo lắng". Chúng tôi miễn bình luận về lời tuyên bố nầy vì không biết "ngưỡng cữa cho phép" của Việt Nam là bao nhiêu?
- Hy vọng tương lai
Tuy nhiên, dù đối mặt với bao vấn nạn hết sức tiêu cực như hàng nhái, hàng giả, cũng cần nên nói đến một khía cạnh tích cực để từ đó có thể cũng cố niềm hy vọng tương lai của chúng ta và kỹ nghệ thực phẩm sẽ sáng sủa hơn. Đó là, gần đây nhất, vào ngày 29/09 vừa qua, Tổ chức Trợ giúp HK (USAID) và Tổ chức Trợ Giúp Úc (AusAID) đã ký một bản thỏa hiệp với Viện Nghiên cứu Cây Ăn Quả Miền Nam nhằm mục đích phối hợp phát triển ngành sản xuất cây ăn trái qua dự án Ứng dụng Nông nghiệp Tốt (Good Agricultural Practices - GAP). Trong dự án nầy, các doanh nghiệp và nông dân sản xuất cây trái sẽ được học hỏi đúng tiêu chuẩn bảo đảm an toàn sản phẩm theo quy trình vệ sinh và an toàn cho con người và môi trường dựa theo tiêu chuẩn thế giới.
Hy vọng đây là một bước đầu để Việt Nam đi vào nề nếp trong sản xuất thực phẩm nhất là các sản phẩm dành cho xuất khẩu.
- Kết luận
Tuy nhiên, qua câu chuyện hôm nay, chúng tôi xin mượn lời những người có thách nhiệm về việc bảo vệ An toàn Thực phẩm trong nước lên tiếng. Trong một buổi trao đổi về "Thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm và bioện pháp quản lý" vào ngày 05/08/2005 do báo Thanh Niên tổ chức tại Sài Gòn, thông tin mới nhất của thị trường thực phẩm được công bố như sau : "Bánh mì đã được làm bằng bột nở trong sản xuất cao su, nước mắm đã được pha urea để tăng độ đạm, qua mặt được kiểm soát vì chỉ phân tích độ đạm tổng hợp mà thôi, chả lụa thì dùng thịt "phế liệu" như thịt bạng nhạng và thịt hôi thiu và hàn the v.v..." TS Võ Văn Sen, Đại hoc Nhân văn Sài Gòn đã phát biểu như sau : "Tôi rất đồng ý với nhận định của nhiều người trên diễn đàn báo Thanh Niên là mức độ của vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm rất nghiêm trọng có thể nói là rất xấu. Nhìn lại nước ta, thấy dân ta ăn uống mà thương!" Trong lúc đó, ông Chu Quốc Lập, Phó Cục trưởng Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm Sài Gòn cho rằng tình hình được kiểm soát rất tốt. Xin hỏi kiểm soát rất tốt như thế nào mà chỉ có 7 nhân viên kiểm soát cho một thị trường cung ứng cho 7 triệu cư dân thành phố?
Cũng qua thống kê của Bộ Y tế VN trong "Dự thảo số 5 - Kế hoạch hành động quốc gia bảo đảm Vệ sinh An toàn Thực phẩm đến năm 2010" thì trong 8 năm từ năm 1997 đến 2004, toàn quốc có 6.467.448 trường hợp mắc các bịnh nhiểm trùng qua thực phẩm, trong đó có 194 trường hợp tử vong. Hy vọng các thông tin và dữ kiện trên sẽ mang đến kết luận cho mỗi người trong chúng ta.
Việc người dân trong nước hoài nghi hầu hết những loại thực phẩm bày bán ở thị trường. Nhưng dù hoài nghi hay cẩn thận đến đâu đi nữa thì cũng phải tiêu thụ thực phẩm nầy. Ngoại trừ một thiểu số có nhiều tiền để có thể mua thực phẩm "an toàn" nhập cảng từ bên ngoài, thâm chí uống nước lọc nhập cảng luôn. Còn tuyệt đại đa số bà con vẫn phải chấp nhận và tiêu thụ nguồn thực phẩm làm từ trong nước cũng như phải dùng nguồn nước cung cấp từ Tổng công ty Cấp nước. Tình trạng trên cần phải được chấm dứt. Nếu không, nhiều hệ lụy không nhỏ sẽ xảy ra và đã xảy ra trong trường hợp các thực phẩm xuất cảng như xì dầu, cá basa, và tôm.
Cá basa đã bị trả về vì dung lượng hóa chất fluoro-quinolones tồn tại trong cá và mới đây nhất, tiểu bang Georgia đã khám phá ra thêm chất kháng sinh enrofloxacin trong cá nữa. Xì dầu bị trả về vì sự hiện diện của 3-MCPD. Còn tôm và một số thủy sản khác bị trả về vì chất kháng sinh chloramphenicaol trước kia, nay lại bị trả vì sư hiện diện của nitrofuran, vì 3-amino-2-oxazole, vì semicarbazide. Riêng trong trường hợp tôm, Việt Nam đã bị Ngân hàng Thế giới cảnh báo vì đã dùng rhotenone, một độc chất có trong cây thuốc cá để thay thế chloramphenicol vì hóa chất nầy không nằm trong danh mục kiểm soát của Cơ quan FDA HK.
Các hành động trên chứng tỏ rằng, nếu Việt Nam tiếp tục đi theo con đường nầy sẽ khó hội nhập vào cuộc chơi toàn cầu vì nơi đây đòi hỏi một sự xuyên suốt về các thông tin an toàn thực phẩm trong trao đổi quốc tế.
Để kết luận về các vấn nạn qua sự hiện diện của hóa chất trong thực phẩm và trái cây, chúng tôi có suy nghĩ như sau : Trước hết, cần phải xem lại cung cách quản lý của VN đối với công nghệ sản xuất xì dầu. VN đã thành công trong quản lý chính trị, ổn định được trật tự xã hội về an ninh dù trong hình thức bên ngoài, không lý nào lại không quan tâm trong việc kiểm soát môi trường. Và một khi môi trường đã bị lạm dụng, tình trạng xáo trộn xã hội chắc chắn sẽ xảy ra qua sự phản kháng của người dân. Sau cùng, sự bất ổn chính trị sẽ kéo theo cùng với những bất trắc của quốc gia mà lãnh đạo VN sẽ khó tiên liệu được.
Đã đến lúc Việt Nam cần phải chấp nhận thực tế nầy. Nếu không Việt Nam khó có cơ may làm thành viên của Tổ chức Thương mãi toàn cầu (WTO).
Mai Thanh Truyết
West Covina, 10/2005
Re: Góc nhỏ của anh 3 Giang
Mời quí vị nghe nhạc Giáng Sinh
[ram]http://www.honque.com/Audio2/Noel/DongD ... Truong.mp3[/ram]
[ram]http://www.honque.com/Audio2/Noel/Giang ... ongKDu.mp3[/ram]
Thân mến
3G
[ram]http://www.honque.com/Audio2/Noel/DongD ... Truong.mp3[/ram]
[ram]http://www.honque.com/Audio2/Noel/Giang ... ongKDu.mp3[/ram]
Thân mến
3G
ÔNG GIÀ NÔ-EN
Hình ảnh quen thuộc nhất trong mùa lễ Giáng Sinh là ông già Noel mà ai cũng biết. Ông mặc quần áo đỏ, đội mũ đỏ kiểu xứ lạnh, đi giầy đen, tóc bạc phơ và râu trắng như tuyết. Đó là ông Nikolaus có từ thế kỷ thứ 3 sau Tây lịch. Ông chào đời tại quận Patara thuộc phần đất của Thổ Nhĩ Kỳ, sau khi được phong thánh mới có tên là Nikolaus. Từ đời nữ Hoàng Thephanu gốc Hy Lạp, là vợ Hoàng Ðế Otto II của Ðức, muốn nhớ lại thánh Nikolaus; nên từ năm 1555 tại Ðức nguời ta may áo quần màu đỏ, đội tóc trắng, mang râu, giả làm Nikolaus -hình ảnh Nikolaus được xuất hiện trở lại với ý nghiã mang tình thương đến với mọi người.
Theo tài liệu trước khi được phong thánh ông Nikolaus là người giầu có, nhân từ. Vào một đêm Giáng sinh, ông được Thiên Chúa mặc khải, đem hết của cải riêng mình ban phát cho những người nghèo khổ và trẻ con. Ông biến những giấc mơ của họ thành sự thực, bằng cách mua quà bánh để biếu những kẻ nghèo khổ, mang lại cho họ những sung sướng bất ngờ.
Ông qua đời vào ngày 6/2, không nhớ năm. Ngày 6/12 hàng năm để tưởng nhớ lại hình ảnh người đạo đức, giàu lòng nhân từ bác ái. Hình ảnh người mặc áo màu đỏ của ông Nikolaus thuở nào, đến từng nhà có trẻ con thăm viếng, chia bánh kẹo trong đêm Giáng sinh. Theo truyền thuyết ông già Noel trở lại trần gian, theo đường ống khói lò sưởi vào mỗi gia đình, để bánh kẹo vào trong những chiếc vớ mà trẻ em treo gần giường ngủ hay lò sưởi, đem lại giấc mơ đẹp với tuổi thơ trong đêm Giáng Sinh. Bởi thế cha mẹ thường mua qùa bỏ vào đôi vớ để cạnh lò sưởi, lúc trẻ con thức dậy vui mừng với món quà của ông già Noel tặng. Phong tục này nên khuyến khích vì khuyên trẻ em làm điều thiện để được ông già Noel tặng quà.
CNN siu-tầm trên Net
Hình ảnh quen thuộc nhất trong mùa lễ Giáng Sinh là ông già Noel mà ai cũng biết. Ông mặc quần áo đỏ, đội mũ đỏ kiểu xứ lạnh, đi giầy đen, tóc bạc phơ và râu trắng như tuyết. Đó là ông Nikolaus có từ thế kỷ thứ 3 sau Tây lịch. Ông chào đời tại quận Patara thuộc phần đất của Thổ Nhĩ Kỳ, sau khi được phong thánh mới có tên là Nikolaus. Từ đời nữ Hoàng Thephanu gốc Hy Lạp, là vợ Hoàng Ðế Otto II của Ðức, muốn nhớ lại thánh Nikolaus; nên từ năm 1555 tại Ðức nguời ta may áo quần màu đỏ, đội tóc trắng, mang râu, giả làm Nikolaus -hình ảnh Nikolaus được xuất hiện trở lại với ý nghiã mang tình thương đến với mọi người.
Theo tài liệu trước khi được phong thánh ông Nikolaus là người giầu có, nhân từ. Vào một đêm Giáng sinh, ông được Thiên Chúa mặc khải, đem hết của cải riêng mình ban phát cho những người nghèo khổ và trẻ con. Ông biến những giấc mơ của họ thành sự thực, bằng cách mua quà bánh để biếu những kẻ nghèo khổ, mang lại cho họ những sung sướng bất ngờ.
Ông qua đời vào ngày 6/2, không nhớ năm. Ngày 6/12 hàng năm để tưởng nhớ lại hình ảnh người đạo đức, giàu lòng nhân từ bác ái. Hình ảnh người mặc áo màu đỏ của ông Nikolaus thuở nào, đến từng nhà có trẻ con thăm viếng, chia bánh kẹo trong đêm Giáng sinh. Theo truyền thuyết ông già Noel trở lại trần gian, theo đường ống khói lò sưởi vào mỗi gia đình, để bánh kẹo vào trong những chiếc vớ mà trẻ em treo gần giường ngủ hay lò sưởi, đem lại giấc mơ đẹp với tuổi thơ trong đêm Giáng Sinh. Bởi thế cha mẹ thường mua qùa bỏ vào đôi vớ để cạnh lò sưởi, lúc trẻ con thức dậy vui mừng với món quà của ông già Noel tặng. Phong tục này nên khuyến khích vì khuyên trẻ em làm điều thiện để được ông già Noel tặng quà.
CNN siu-tầm trên Net








