Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nghe Người Việt Chửi


Nói đến chửi, người Việt nam nào cũng nghĩ ngay đó là hiện tượng vô văn hóa, người ta liên tưởng tới những câu chửi tục, những bài chửi mất gà, chửi "rỉa róc", chửi "như vặt thịt" người ta. Thực ra thì "nói dzậy" mà "không phải dzậy"!

Cuộc sống phức tạp vốn nhiều quan hệ nên hay có va chạm, xung đột. Mà đã có xung đột thì cần giải quyết. Người ta có thể hòa giải bằng "đối thoại", song cũng không ít người sử dụng "đối đầu". Mà đối đầu "hiền lành" nhất có lẽ là "đấu võ mồn", hay như các cụ vẫn nói là chửi nhau.

Thực ra chửi thì dân tộc nào cũng có, thậm chí có từ rất lâu đời. Chửi tục cũng có mà chửi thanh cũng có.

Chửi như các dân tộc khác, người Việt cũng biết, Họ không từ các từ ngữ chỉ bộ phận sinh dục, bài tiết, quan hệ tình dục. Học gán cho đối phương là "họ hàng" của các loài vật mà theo họ có những đặc tính xấu, bị xã hội chỉ trích: chó, bò, lợn (heo), rắn rết, giòi bọ, dê (xồm)...Một số người mát tính hơn, họ chỉ hạ thấp đối phương một cách tương đối. Họ hạn chế ở mức độ ví đối phương với những thứ giả người như :bất nhân, ngợm, quỷ quái, yêu tinh...; nêu những khiếm khuyết hoặc gán ghép cho đối phương những khiếm khuyết vật chất, tinh thần xã hội, ví dụ: (đồ, con, quân, lũ, bọn) què, mù...; ngu ngốc, điên khùng..., đểu cáng, ác độc, vô luân, bất hiếu...; phản động, lừa đảo, ăn cắp...Các cách chửi này phổ biến nhưng không tiêu biểu ở người Việt.

Với bản chất của một nếp sống cộng đồng tình cảm, ưa tế nhị, truyền thống chửi rủa Việt Nam là chửi có bài bản, có văn vẻ, có vần điệu và đặc biệt có thể kéo dài tùy ý. Chúng tôi rất thích một bài thơ châm biếm ra đời vào khoảng năm 1974 mở đầu như sau:

Chỉ vì mất một con gà
Rêu rao bà chửi suốt ba ngày liền
Chỉ sang tứ phía láng giềng
Réo từ nội ngoại tổ tiên mười đời...

Chỉ bốn câu đầu này đã đủ cho ta thấy phần nào lối chửi thâm thúy của người Việt Nam.

Phụ nữ Việt Nam vốn rất hiền lành, nết na nhưng cũng không chịu để ai bắt nạt (ăn hiếp). Chuyện mất một con gà không phải là chuyện lớn, nhưng nếu tiếp tục mất thì không thể chấp nhận được. Bởi vậy mà phải ra tay để cho kẻ có tính xấu kia từ nay đừng có động đến gia đình "bà", và cách tốt nhất là phải làm cho đối phương thật đau trước cộng đồng. Thông thường người ta tức lúc nào chửi lúc đó. Người Việt Nam truyền thống thì không vậy, họ chờ khi thật đông người thì mới chửi mà khi chửi lại cố tình đệm thêm "ới làng trên xóm dưới" hoặc " trời cao đất dày ơi" như kêu gọi mọi người đến nghe.

Và cái hấp dẫn người nghe không phải là những lời tục tĩu, mà là những lời xưng hô không theo lẽ thông thường. Bình thường người ta khiêm tốn "xưng khiêm hộ tôn", ở đây người chửi cố tình làm ngược lại: Cha bố tiên thằng Cò ! cha bố tiên nhân thằng Cốc ! Cha họ nội họ ngoại, họ gần họ xa họ năm đời giở lên, họ ba đời giở xuống thằng Cò, thằng Cốc ! Cha tam đại, tứ đại, ngũ đại mai thần chủ thằng Cò, thằng Cốc ! Cha đứa già, đứa trẻ, đứa nhớn đứa bé, đứa mẹ, đứa con, đứa đỏ như son đứa vàng như nghệ nhà thằng cò, thằng Cốc, bảo nhau định vỗ nợ của bà."

(trích từ truyện Khao của Ðỗ Phồn)

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »


Anh Lynh Cao ơi!

5. Nghề lạ là nghề gì theo các anh nghĩ ?
Mấy bà mà biết thì sẽ gáng chạy theo học bỗ túc . Cho cục hút nam châm mạnh thim chút híu đó ha :D :D
Cô Hương Kim ơi , Sory vì mấy hôm nay đi làm không vào được nơi này. Hôm nay vào được xin gởi cô lời chào thân mền ! Một vài nghề đặc biệt theo Lynh tui nghĩ với đàn bà như là nghề dạy sư tử , nghề lái xe đua , nghề hướng dẫn phi thuyền đáp xuông... Cô xem có được hay không....

Cao Lynh

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

lynhcao wrote:

Anh Lynh Cao ơi!

5. Nghề lạ là nghề gì theo các anh nghĩ ?
Mấy bà mà biết thì sẽ gáng chạy theo học bỗ túc . Cho cục hút nam châm mạnh thim chút híu đó ha :D :D
Cô Hương Kim ơi , Sory vì mấy hôm nay đi làm không vào được nơi này. Hôm nay vào được xin gởi cô lời chào thân mền ! Một vài nghề đặc biệt theo Lynh tui nghĩ với đàn bà như là nghề dạy sư tử , nghề lái xe đua , nghề hướng dẫn phi thuyền đáp xuông... Cô xem có được hay không....

Cao Lynh
Anh LynchCao ơi
Chị Kim Hương làm bên ATC đó, hehehe

KHương
Posts: 152
Joined: Sun Mar 20, 2005 2:44 am

Post by KHương »

lynhcao wrote:

Anh Lynh Cao ơi!

5. Nghề lạ là nghề gì theo các anh nghĩ ?
Mấy bà mà biết thì sẽ gáng chạy theo học bỗ túc . Cho cục hút nam châm mạnh thim chút híu đó ha :D :D
Cô Hương Kim ơi , Sory vì mấy hôm nay đi làm không vào được nơi này. Hôm nay vào được xin gởi cô lời chào thân mền ! Một vài nghề đặc biệt theo Lynh tui nghĩ với đàn bà như là nghề dạy sư tử , nghề lái xe đua , nghề hướng dẫn phi thuyền đáp xuông... Cô xem có được hay không....

Cao Lynh
Trong mấy nghề này nghề dạy sư tữ khõi cần phãi đi học hàm thụ thim dzì các nường ỡ đây hiện thân sư tữ hong hè :P :P

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Mì Quảng -

Tưởng Năng Tiến
Posted on Saturday, October 23 @ 00:00:00 CEST by hoaihuong





Rồi ngày California ngắn lại. Nắng dịu vàng và sáng hẳn ra. Và vào lúc ngày đi dần vào tối, gió chiều đã bắt đầu có pha lẫn một chút hơi lạnh làm se se da thịt. Sáng có hôm dậy muộn vẫn chưa thấy nắng, bầu trời thoáng vẻ âm u và thành phố lãng đãng sương mù.


Thế là mùa Thu đến. Mùa hè bỏ đi bất chợt vội vã như một người tình hối hả vượt biên. Mùa Thu xuất hiện bất ngờ như một mối tình muộn màng, vào lúc mà người ta đã tưởng chuyện tình là chuyện không còn... cácg nào xảy ra đuợc nữa.

Từ đó mặt trời bắt đầu dậy muộn. Chiều mỗi lúc một ngắn thêm. Lá phong vàng xanh - vàng nhạt, vàng thẫm, rồi hóa đỏ au - rơi bơ vơ trên những thảm cỏ nhạt xanh, chưa kịp đổi màu. Cảnh vật hoá hơi buồn nhưng đẹp.

Sáng trời mưa. Mưa mà loay hoay với món điểm tâm quen thuộc như mì gói hay bánh mì với trứng thì cuộc đời quả là không 9dáng sống. Sao không dưng mà thấy nhớ một tô mì quảng đến muốn rơi nước mắt. Mì quảng, Trời ơi, biết tìm nó ở đâu bây giờ ?

Trưa, trời vẫn cứ mưa, vội vã, co ro chạy từ lớp học đến phòng ăn đứng xếp hàng để chờ mua một cái... "cheese sandwich" ! Bất chợt bắt gặp một khuôn mặt quen quen, một "gã" đồng hương. Bèn gật đầu chào thật nhẹ với một nụ cười mím chi dè dặt.

- Chào cô.

- Dạ, chào anh.

- Năm nay mưa sớm.

- Dạ, hơi quá sớm.

- Trời như thế này được nằm nhà thì thích hơn.

- Dạ.

Lại "dạ" cho lịch sự chứ trời như thế nào thì nằm nhà cũng đều thích cả.

- Cô thích mưa ?

- Cũng không thích lắm.

- Tôi cũng vậy. Ðúng ra thì có thích nhưng hơi sợ. Mưa dịu dàng hơn là nắng nhưng sao thấy nhớ nhà...

"Ý trời, có nhớ nhà nữa sao. Tình cảm dữ há" ? Sau một giây im lặng ngắn ngủi bỗng người ta cảm thấy bị thôi thúc bởi nhu cầu tâm sự. Cái tâm sự mãi từ sáng tới giờ chưa trút được cho ai vì chưa gặp ai cùng là người Việt.

- Vâng, vừa nhớ nhà vừa thèm ăn mì quảng.

- Cô nói sao ?

- Tôi nói mì quảng.

- Xin lỗi cô, tôi nghe chưa rõ.

- Mì quảng, loại mì sợi vàng...

Người đối thoại bỗng im lặng, đăm chiêu như thể vừa nghe đề cập đến một món ăn lạ lùng và đặc biệt của ... thổ dân Samoa! Còn mình thì nín thở hồi hộp chờ đợi tha nhân lục lọi trí nhớ.

Ô, cô thích ăn mì hả ? Mì thì người Tàu ở San Francisco nấu ăn cũng được. Cô có bao giờ thử mì ở tiệm Golden Dragon Restaurant chưa ?

Cố lắm mới nén được một tiếng thở dài, với cái tâm cảm chua xót đắng cay của một thiếu nữ chợt biết mình đã... trao duyên lầm tướng cướp! Câu chuyện chấm dứt vĩnh viễn ở đó nhưng sự tấm tức, ấm ức thì kéo dài suốt cả ngày.

Mẹ ơi, sao lại có một người đàn ông Việt Nam không biết đến mì quảng, và còn lầm lẫn giữa mì quảng và mì hoành thánh nữa ? Ðiều bất công khó chịu là từ lâu rồi mì quảng vẫn bị chịu thiệt thòi. Nó chưa bao giờ được chào đón nhìn nhận cho đúng với giá trị của mình.

Tệ hơn nữa là nơi nó xuất xứ - Quảng Nam, Việt Nam - người dân địa phương vốn được coi là thích chuyện tranh luận và họ có thể tranh cãi về hàng trăm thứ chuyện bà rằn không cần thiết nhưng riêng với sự bất công mà mì quảng phải chịu đựng thì dường như chưa thấy ai lên tiếng ?

Phở, chả hạn, thì có gì là xuất sắc đâu mà luôn luôn được đề cập đến một cách ồn ào quá đáng. Sợi phở trắng nhách trông thấy ghê. Nước phở trong veo coi thấy chán. Thịt để ăn với phở thì đòi hỏi điệu hạnh đủ thứ như nạm, gầu, gân, sách...; mà chỉ cần vụng tay một chút là cả tô phở coi như là bỏ!

Bún bò Huế thì (chao ơi) cay quá. Nó cay như thể là trên đời này không còn có một thứ thức ăn nào cay hơn được nữa. Mà đã là bún bò sao còn có giò heo. Bò và heo không mấy khi đi chung với nhau một cách ổn thỏa. Ðã thế, miếng giò heo vẫn thường làm cho tô bún bò bớt phần thanh nhã và khiến cho người đang nhồm nhoàm nó mất đi rất nhiều cái "phong thái tị nạn chính trị" của mình.

Tô bún riêu thì coi đỡ thấy ghét hơn một chút. Ðiều phiền là nó giản dị quá, giản dị tới mức... gần như là đạm bạc. Một chút cà chua và riêu cua thôi thì làm sao tô bún trông không lõng bõng cho được ? Hơn nữa, ăn bún riêu vào một buổi sáng trời mưa thì đến trưa chắc chết (chết chắc) vì đói.

Hủ tíu, mì sợi, hoành thánh, sủi cảo... thì kể như là hết thuốc! Vậy chứ những thứ thức ăn "ngoại nhập" và vô duyên đến như thế vẫn được chấp nhận dễ dàng và phổ biến ở khắp mọi nơi. Chỉ có mì quảng là mãi mãi bị bỏ quên hoặc chưa bao giờ được đón chào đúng mức.

Mà mì quảng ngon tuyệt vời nha. Sợi mì làm bằng bột gạo rồi đem nhuộm vàng. Không phải cái màu vàng "đồng bóng" của nghệ, hay màu vàng thổ nhà quê đâu. Sợi mì quảng thường vàng tươi và chỉ đủ vàng để dung hợp với màu xanh của rau đi kèm với nó.

Rau sống ăn với mì quảng không bị đặt nằm một cách trơ vơ như một dĩa giá hay xà lách để ăn chung với phở. Nó cũng không bị thu vén một cách bần tiện trong những cái đĩa con con như rau để ăn chung với bún riêu hoặc bún bò. Tất cả những loại rau thơm để ăn chung với mì quảng, kể cả rau xà lách, đều đuợc thái nhỏ mịn và bỏ chung gọn gàng trong tô mì.

Nước mì quảng không lênh láng như nước phở, không thừa thãi như nước bún bò, không nhạt nhẽo như nước mì hay hủ tíu. Nó hơi sền sệt với thịt heo sắt vụn, với tôm khô giã nhuyễn nấu nhừ, và luôn luôn chỉ được chan vào tô ở mức hơi săm sắp.

Mà đừng tưởng như vậy sẽ khiến cho tô mì không đủ nóng nha. Nghĩ như vậy là lầm à. Ðộ nóng của tô mì quảng không hoàn toàn do nước mà còn tùy thuộc phần nào vào số luợng ớt bằm mà thực khách múc bỏ vào tô. Nhiều ớt quá tô mì hóa cay chát. Hỏng. Mà ít ớt thì nó sẽ thiếu cái độ nóng và độ cay cần thiết. Hư. Mà nhớ là ớt bằm à nha. Mì quảng dứt khoát và quyết liệt không dung thứ những loại ớt khác như ớt xanh, ớt sắt, ớt khô, ớt ngâm dấm... hay bất cứ một loại ớt nào khác trên cuộc đời này.

Mô tả như vậy dễ gây ngộ nhận rằng mì quảng là một món ăn cầu kỳ, truởng giả. Nghĩ như vậy là kể như trật thêm một lần nữa. Ráng chịu. Mì quảng không kiểu cách, lộn xộn, rườm rà như bún thang; không xuề xoà như bún ốc; không vô duyên như bún mọc. Mì quảng giản dị mà đậm đà và vô cùng đằm thắm.

Và mì quảng cứ ở miệt Quảng Nam. Nó không di cư ồ ạt rộn ràng như phở, không chen chân nơi những đô thị xa lạ như bún bò, không tỏ thái độ vô tình bạc bẽo theo kiểu "một đi không trở lại" như mì sợi hay hủ tíu.

Thản hoặc, người ta mới bắt gặp một tô mì quảng mon men đến một vài thành phố phụ cận như Ðà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Bình, Bình Ðịnh... Nơi xa xôi nhất mà mì quảng trôi dạt đến nhưng vẫn giữ nguyên được bản sắc của mình có lẽ là Ðà Lạt. Nơi đây mì quảng vẫn còn nguyên cái dáng vẻ trầm lặng và khép kín của mình. Mì quảng không trưng bảng hiệu, không ưa phố xá ồn ào. Nó thích hợp với không khí gia đình hơn bất cứ một thứ thức ăn nào khác. Có quá lắm thì mì quảng cũng chỉ hiện diện (với đôi chút ngỡ ngàng tội nghiệp) nơi một quán ăn nhỏ hẹp, nghèo nàn.

Nơi bán mì quảng ở Ðà Lạt không nhiều và thường nằm ẩn trong một con hẻm nhỏ. Thực khách, nếu không phải là khách quen, còn lâu mới tìm ra nhà. Cái nhà không phải là cái quán. Chủ nhà không phải là chủ quán. Ðó thường là một bà mẹ Quảng Nam hay Ðà Nẵng. Chủ khách chào nhau tương kính trang trọng.

Không ai đề giá hay hỏi giá một tô mì quảng. Nó vô giá mà. Cũng không ai phân chia mì quảng thành tô lớn, tô nhỏ, tô đặc biệt... Mọi tô mì quảng đều đặc biệt. Cũng rất ít người chỉ ăn một tô mì quảng. Thường người ta gọi một "tô ăn thêm." Phải ăn thêm, dù no, cho khỏi phụ lòng người nấu và cho bõ công mình lặn lội đi ăn vào một buổi chiều Ðà Lạt mưa dầm.

Nhân loại có thể đổ đi ba tỉ tô phở, hai tỉ tô bún, và một trăm tỉ tô mì hay hủ tíu nhưng không ai có thể bỏ dở một "tô mì quảng ăn thêm." Mì quảng không làm ai ngán. Ăn nhiều thì nó bớt ngon chút xíu thôi hà.

Ăn xong người ta tráng miệng bằng nước trà. Trong lúc khách nhỏ nhẹ kín đáo xỉa răng thì chủ thế nào cũng tìm dịp thỏ thẻ:

- Mì bữa ni nấu được không cô ?

- Dạ...ngon.

Trả lời như vậy là không được. "Ngon" là một hình dung từ mơ hồ, nếu không muốn nói là hàm hồ, không thể nào diễn tả được cái đặc sắc tuyệt vời của một tô mì quảng. Có vụng về lắm thì người ta cũng phải đưa ra được vài ba nhận xét "bâng quơ" như sau:

- Dạ thưa bác mì ngon lắm. Tôm dã vừa nhỏ và nấu vừa nhừ. Rau chuối tươi mà không chát. Nước đậm đà vừa miệng.

Sau đó mới đến màn cảm ơn và từ tạ...

Coi, một thứ thức ăn nặng tình gia đình và văn hóa dân tộc như mì quảng mà bị bỏ vô "cửa hàng ăn uống quốc doanh" thì chịu đời sao thấu. Cỡ khoai mì, khoai lang mà đụng chuyện với người cộng sản còn bị te tua bầm dập nữa mà.

Càng khó chịu hơn nữa khi người ta gặp lại mì quảng trên bước đường lưu lạc. "Tha hương ngộ cố tri" không thiếu cảnh bẽ bàng. Nhưng đụng đầu mì quảng trong tiệm ăn ở thành phố San Francisco, Hoa kỳ thì quả là một chuyện bẽ bàng chết được.

Dù biết rằng tô mì quảng không thể nào được đặt trên bàn ăn trải khăn trắng, dưới ánh đèn màu, và bên cạnh một bình hoa daisy; mì quảng lại càng trông khổ sở ngượng ngịu trên tay người bồi bàn mặc áo "chemise" trắng, cổ thắt nơ đen... nhưng vẫn phải thử chứ, vẫn náo nức trông đợi coi sao chứ ?

Ðến khi nhìn thấy mì quảng được đặt trong tô sứ, đĩa hoa, và đi chung với đũa ngà thì người ta lại bắt gặp nơi mình một cảm giác đau đớn và chua xót khác - cái tâm cảm của một người bất chợt nhìn thấy "cố nhân" lái Mercedes với một vợ và tám đứa con trên xe.

Người ta xêu nhẹ vài sợi mì vào muỗm, gắp thêm một chút rau, ấn nhẹ muỗm xuống tô để lấy thêm chút nước... rồi e ngại, rụt rè đưa vào mồm. Và rồi sẽ hiểu thế nào là nỗi thất vọng đắng cay của kẻ "yêu lại một người yêu thất tiết".

Mì quảng ơi, thôi vĩnh biệt!


Tưởng năng Tiến

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tiểu tư sản Tôi đã không cầm được nước mắt khi đọc dòng cuối bức thư chị Đặng Thuỳ Trâm gửi cho chị Khiêm - người chị kết nghĩa - thư đề ngày 20-5-1970 : “ Nếu mai này khi đất nước thanh bình chị trở về vắng bóng em, chị có nhớ đứa em tiểu tư sản này không ? Hãy đốt cho em một nén hương chị nhé…”. Hoá ra, cho tới lúc sắp hy sinh, chị Thuỳ Trâm vẫn nhận về cho mình ba từ “ tiểu tư sản ”, ba từ mà rõ ràng người ta đã hơn một lần gán cho chị, đến mức chị phải cay đắng mà nhận nó cho mình.

Nhưng “ tiểu tư sản ” là gì nhỉ ? Lâu rồi, ít nghe ai nhắc ba từ này, có lẽ vì những người hay gán cho người khác ba từ đó đã “ bỏ qua giai đoạn tiểu tư sản ” để tiến thẳng lên “ tư sản ” cả rồi ! Bây giờ thì tôi đã nhớ, quả thật, hồi mới chân ướt chân ráo vào chiến trường Nam Bộ, tôi đã rất khó chịu khi người ta hay nói sau lưng mình ba từ đó, dĩ nhiên là để chỉ…kẻ tiểu tư sản này. Nhưng mà “ tiểu tư sản ” cái gì cơ chứ ? Ngày đó, tôi, trên răng, dưới cát-tút, chỉ có hai bộ quân phục, thêm một cái áo lót, vài cái quần đùi, vậy mà nhiều khi phải giặt “ trơn ” bằng nước lã, không có xà phòng. Đơn giản, vì tiền đâu mua xà phòng. Kiểm lại tài sản của mình, tôi tuyệt không thấy có tí gì đáng giá để được âu yếm gọi là “ tiểu tư sản ” cả !

Chị Thuỳ Trâm, vào chiến trường trước tôi 4 năm, chắc càng không có gì làm của nả riêng. Lớp được coi là “ trí thức miền Bắc ” vào chiến trường như chúng tôi khi đó, tài sản duy nhất hình như chỉ là một ít kiến thức nhà trường trang bị, và nhiều hơn một chút, là những suy nghĩ, những xúc cảm. Suy nghĩ độc lập và những xúc cảm cũng từ trái tim mình. Chúng tôi không (hay chưa) biết nói dối, không biết nói theo, ăn…leo. Sống theo khẩu phần ít ỏi được chia, và nói những điều mình nghĩ. Chúng tôi cũng không nghĩ gì sai quấy lắm đâu, có điều, giống như chị Thuỳ Trâm, chúng tôi dị ứng với sự dối trá, với lối sống hay cách nói cách nghĩ mà chúng tôi cho là không trung thực. Có nhiều cái nhỏ nhen giữa cuộc chiến đấu lớn, điều ấy cũng có thể chấp nhận, vì đó là đời. Có cả những người nhỏ nhen ngay giữa chiến trường mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc. Cũng đành ! Nhưng khi cái nhỏ nhen, người nhỏ nhen mà khoét vào đánh vào rỉa vào người trung thực cả tin hiền lành và không biết tự bảo vệ mình, thì đau lắm. Ác thay, những người hay được gán cho mỹ từ “ tiểu tư sản ” lại thường là nạn nhân trong các cuộc khoét rỉa không rõ ràng và không quân tử đó. Bản tính hiền nhưng cộc, tôi đã không ít lần nổi khùng vì những cú “ rỉa ” này.

Bây giờ, đọc nhật ký chị Thuỳ Trâm, càng thông cảm hơn với chị. Không phải ai cũng vượt qua được những “ test ” đau đớn này.

Tôi nhớ một người bạn tôi, một nhà văn hơi…trẻ hồi đó, là cơ sở từ nội thành ra chiến khu. Anh vốn là trung úy lái trực thăng tải thương trong quân đội Sài Gòn, và anh đến với cách mạng một cách hồn nhiên chứ không phải do được “ giác ngộ giai cấp ” hay gì. Cũng vì hồn nhiên nên anh nghĩ đã vào rừng, cùng đội bom đạn mang sốt rét thì ai cũng như ai, không phân biệt. Nhưng vì là người viết văn xuôi nên anh nhận ra ngay mọi điều không giản đơn như thế. Anh đâm chán, nhiều lúc không còn cảm hứng để viết. Nhưng rồi, khi anh và tôi, hai anh em “ tiểu tư sản ” từ hai phương trời tình cờ sống chung với nhau, chúng tôi an ủi nhau được một ít, và giữ lửa cho nhau được một ít. Không phải vì nhận suất thực phẩm hay phụ cấp không bằng người khác mà bạn tôi tự ái. Ngược lại là khác.Bạn tôi hưởng phụ cấp khá cao. Nhưng cái cách người ta luôn coi anh là “ khách ” ngay khi anh ở trong nhà mình, coi anh là “ cơn gió tình cờ ” lạc vô rừng trong khi chính anh đã chọn những cánh rừng ấy cho đời mình đã khiến anh nhiều lúc thành “ người xa lạ ”. Cũng chính vì lòng tin được “ phân phối không đều ”, vì cùng chiến đấu dưới một ngọn cờ nhưng người được xếp vào “ ô ” chiến lược, kẻ được xếp vào “ ô ” sách lược mới nên nỗi.

Sau này, qua nhà văn lão thành Trang Thế Hy, tôi còn được biết thêm trường hợp bi kịch của nhà văn Thuỷ Thủ. Theo nhà văn Trang Thế Hy, thì hồi còn ở Sài Gòn “ Thuỷ Thủ là sĩ quan hải quân. Sau cuộc đảo chính lật Diệm không thành công tháng 11 năm 1962, anh cùng hai sĩ quan khác bay qua Phnôm Pênh rồi từ đó gia nhập đội ngũ cách mạng. Không như hai sĩ quan kia, anh khước từ mọi ưu đãi mà chánh sách dành cho các nhân sĩ như tiền trợ cấp hàng tháng, tiện nghi vật chất, có bảo vệ riêng, có vũ khí tuỳ thân. Với bề ngoài trầm lặng ít nói, anh thuộc người khá cởi mở nhưng có cá tính rất mạnh khó ai chi phối và không thích nghe những lời an ủi động viên không phải từ tấm lòng ” (trích Hai người nhìn mưa dầm, Trang Thế Hy).

Thuỷ Thủ đã chọn cho mình cái chết sau rất nhiều phen thoát chết ở chiến trường, vì như lá thư tuyệt mệnh anh để lại, điều anh đau xót nhất là “ trong chiến lược tương lai của các anh không có tôi. Tốt nhất là tôi nên ra đi ”. Anh vẫn bị xếp vào “ ô ” sách lược. Với Thuỷ Thủ, điều đó là không thể chịu nổi. Ngày còn học ngoài Bắc, tôi đã đọc vài truyện ngắn của Thuỷ Thủ “ từ miền Nam gửi ra ”. Tôi yêu cái trong vắt, cái nhân hậu của tâm hồn nhà văn từng khoác áo lính Sài Gòn này. Tôi đã không được gặp anh, một người có lẽ cũng thuộc “ thành phần tiểu tư sản ” như tôi, dù chúng tôi được hưởng hai nền giáo dục khác nhau, có xuất phát khác nhau nhưng lại có cùng mục đích và lý tưởng giống nhau. Mới đây, đọc bài viết của một vị cựu lãnh đạo trong chiến trường ngày ấy, thấy ông nhấn rất mạnh đến “ đoàn kết ” và “ thực tình ”, tôi chợt buồn. Giá mà những người như nhà văn Thuỷ Thủ, như bạn tôi, như tôi... những người “ tiểu tư sản ” được hưởng tư tưởng “ đoàn kết, không phân biệt ” ấy sớm hơn thì tốt biết mấy ! Thuỷ Thủ đã không phải tự tử, bạn tôi đã không phải vượt biên ngay sau hoà bình, và cái thân tôi cũng đỡ cực, đỡ mang những cái tiếng mà mình không có. Bây giờ thì tôi hiểu “ tiểu tư sản ” là thế nào rồi. Đó là những người không có của cải vật chất gì riêng, nhưng lại có suy nghĩ riêng, có cảm xúc riêng, và chỉ muốn sống là chính mình, không uốn lượn, không tô vẽ, không đổi màu. Cái “ chút xíu của riêng ” chỉ là thế ! “ Của riêng còn một chút này ” thôi thì cố giữ, như nàng Kiều xưa đã cố giữ một chữ trinh khuất nẻo và mơ hồ nào đó.

những ngày cuối tháng Tám 2005

THANH THẢO

CNN
Posts: 1017
Joined: Wed Dec 01, 2004 8:18 am

Post by CNN »

Cái này hồi xưa gọi là "tạch, tạch, sè" (hihihi).

CNN

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Văn Chương. . .Hà Nội. "Lần đầu tiên, mới tới Hà Nội, tôi không khỏi bỡ ngỡ, khi tìm nhà của một người quen làm trưởng một khu phố văn hóa. Thấy có mấy đứa trẻ con đang nô đùa ngoài ngõ, tôi hỏi:"Này các cháu có biết nhà ông Xã trưởng khu phố văn hóa ở đâu không?"

Một đứa trẻ trai, trạc trên dưới 10 tuổi, ngước nhìn tôi bằng ánh mắt xấc láo, ranh mãnh, đáp gọn lỏn:"Biết, nhưng đéo chỉ!" Tôi lắc đầu đi sâu vào ngõ văn hóa, gặp một thanh niên hỏi:"Anh ơi, anh có biết nhà ông trưởng khu phố văn hóa này ở chỗ nào không anh ?".Gã trẻ tuổi này chẳng thèm dòm ngó gì đếntôi, trả lời cộc lốc: "Ðéo biết!"

Khi gặp ông trưởng khu phố văn hóa, tôi đem chuyện này kể cho ông ta nghe với lời than thở:" Anh ạ, các bậc phụ huynh ở đây đã không dạy dỗ con em hay sao mà để chúng nó ăn nói với người khách lạ, thô bỉ đến thế hả anh?!"

Chẳng cần suy nghĩ gì, ông trưởng khu phố văn hóa đã thuận miệng trả lời tôi ngay:"Có dạy đấy chứ, nhưng chúng nó đéo nghe!"

Lúc ấy cô con gái của ông bạn tôi là cô giáo,dạy môn văn, vừa đi dạy về và tôi đem chuyện ấy ra kể lại. Thay vì trảlời trực tiếp cho tôi, cô giáo xin phép thuậtlại một chuyện như sau:

"Hôm ấy cháu giảng bài văn, có đoạn kể thành tích anh hùng và dũng cảm của nhân dân ta đã đánh gục Tây, đánh nhào Mỹ v..v..Cuối cùng, cháu kêu một em học trò trai lớn nhất lớp, bảo nó cắt nghĩa hai chữ:"dũng cảm là gì?".Nó đứng lên suy nghĩ một lúc rồi đáp gọn lỏn:

- Nghĩa là .. là .. đéo sợ !"

Sau đó cháu lại có cuộc tiếp xúc với ông bộ trưởng giáo dục và đào tạo,liền đem chuyện thằng bé học trò đãcắt nghĩa 2 chữ "dũng cảm" là: "đéosợ!" cho ông nghe.

Nghe xong, ông bộ trưởng tỏ vẻ đăm chiêu, ra điều suy nghĩ lung lắm.Cuối cùng, ông nghiêm nghị nhìn tôi, rồi gật gùnhư một triết gia uyên bác vừa khám phá ramột chân lý, chậm rãi đáp:

- Ừ, mà nó cắt nghĩa như thế cũng đéo sai ! ..

- !!!

" Ðấy, bây giờ luân lý, đạo đứccủa con người dưới chế độ
này như thế đấy. Rồi đây, cácthế hệ trẻ miền Nam cũng vậy thôi!
Làm sao tránh được?"

.. Đất nước kiểu này thì đéo khá ...

BTL

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Trái Lựu Đạn Ngôn Ngữ




NGƯỜI DÂN VỆ

“Việt gian - Việt cộng - Việt kiều,
Là ba thứ Việt tiêu điều nước non”


- Thứ nhất Việt gian là loại người Việt chuyên môn làm tay sai, theo bọn ngoại xâm chỉ điểm cho giặc Pháp thời xâm chiếm Việt Nam, cũng như thời Việt Minh làm tay sai cộng sản đã giết hại dân lành và các nhà cách mạng chân chính như Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Khái Hưng …

- Thứ nhì là Việt cộng tức bọn người Việt theo gót cáo gìa Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng làm tay sai cho cộng sản Nga Tầu giết hại dân tộc và phá tan nền luân thường đạo lý của tổ tiên, ông cha chúng ta. Bọn này chuyên môn ăn nói ngược ngạo, vô giáo dục. Chúng ta đã nhìn thấy rõ sau ngày 30/4/1975 khi bọn chúng lộ nguyên hình hài.

- Thứ ba là hạng Việt kiều: Chữ kiều theo tự điển Hán Việt có nghĩa là cư dân ở nhờ, cư trú ở nước ngoài, nhưng trên mặt pháp lý theo quốc tế công pháp vẫn mang quốc tịch của nước mình và được sự bảo vệ bởi tòa đại sứ của quốc gia mà mình sinh ra hay mang quốc tịch.

Do đó hai chữ Việt Kiều chỉ có nghĩa dành cho những người từ nước Việt nam ra nước ngoài làm ăn, công tác. Trước 30/4/1975 những du học sinh Việt Nam, công chức tòa đại sứ, lãnh sự, người Việt sinh sống bên ngoài nước như ở Pháp, Mỹ… gọi là kiều dân sinh sống tại nước ngoài nhưng vẫn mang quốc tịch Việt Nam, nên các cơ sở ngoại giao của Việt Nam Cộng Hòa có bổn phận bảo vệ họ trên mặt pháp lý.

Sau khi Việt Cộng miền Bắc cưỡng chiếm miền nam Việt Nam, những người miền Nam VN thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hoà không chấp nhận chế độ cai trị của cộng sản chạy ra nước ngoài tị nạn, theo hiến chương của Liên Hiệp Quốc các nước tự do dân chủ và trung lập đã phải cho chúng ta hưởng quy chế tị nạn. KHỐI NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA của chế độ VNCH CHẠY TÁN LOẠN SAU NGÀY 30/4/1975 BẰNG CÁC CHIẾC GHE VƯỢT BIÊN, TẠM TRÚ TẠI CÁC TRẠI TỊ NẠN, RỒI SAU ĐÓ ĐƯỢC THANH LỌC BỞI LIÊN HIỆP QUỐC VÀ ĐẠI DIỆN CÁC NƯỚC CHO ĐI ĐỊNH CƯ TẠI MỘT NƯỚC ĐỆ TAM. Chỉ vì chúng ta là công dân của nước Việt Nam Cộng Hòa trốn chạy cộng sản. Chẳng có ai mang quốc tịch Việt nam Dân chủ CH của cộng sản lúc bấy giờ ra đi vượt biên từ miền Nam cả.

Xin xác định cho rõ như vậy để tránh sự lập lờ đánh lận con đen của bọn cộng sản nằm vùng tại hải ngoại hay vơ đũa cả nắm, những người có ăn học, có chức vụ xưa kia, những người cầm bút thiếu cẩn trọng hay lầm lẫn vẫn thường tự mặc cho mình hai chữ “Việt Kiều” RẤT Ư LÀ HÃNH DIỆN.

Sau gần 30 năm trốn chạy cộng sản đa số người đã chính thức nhập quốc tịch tại các nước sở tại, ít ai còn mang quốc tịch Việt nam Cộng Hòa( Chứ không phải mang quốc tịch CHXHCNVN của cộng sản trước đây hay hiện nay).


VÌ THẾ CHÚNG TA KHÔNG PHẢI LÀ VIỆT KIỀU. XIN QÚY VỊ ÁO GẤM VỀ LÀNG ĐỪNG HÃNH DIỆN MỘT CÁCH THÔ BỈ ĐỂ CỘNG SẢN LỢI DỤNG CHỮ NGHĨA CHỤP LÊN ĐẦU TẤT CẢ MỌI NGƯỜI TỊ NẠN CỘNG SẢN KHÁC.

NGƯỜI CÓ QUỐC TỊCH MỸ HAY CÁC NƯỚC KHÁC SAU NHIỀU NĂM ĐỊNH CƯ, GỐC GÁC VIỆT NAM CỘNG HÒA VƯỢT BIÊN TỊ NẠN CỘNG SẢN TRƯỚC ĐÂY DỨC KHOÁT KHÔNG PHẢI LÀ LOẠI VIỆT KIỀU NHƯ CỘNG SẢN GÁN GHÉP.


Hoặc là ai đó thường không hiểu hết chữ nghĩa, ăn lạm chữ của cộng sản hồi nào không hay, viết lách vô trách nhiệm, ngày xưa gọi là “chưa sạch nước cản.” Nên thường tự nhận là Việt Kiều.

Nếu quý vị là Việt Kiều thì đương nhiên ra đi có giấp thông hành xuất cảnh (Pass Port) của bộ nội vụ cộng sản việt nam cấp cho đi ra nước ngoài sinh sống và lệ thuộc động tại các nước dưới sự bảo hộ của tòa đại sứ Việt Cộng ở Hoa Thịnh Đốn hoặc TLS VC ở San Francisco giống như người Việt đi lao động ở Đông Âu hiện nay, những cô gái lấy chồng Đài Loan…

Chúng tôi xin qúy vị trí thức, luật sư, giáo sư tiếng Việt tại các trường quân sự, đại học cộng đồng như quý ông Trần Công Thiện-Hội Văn Hoá Việt, ông Nguyễn Tinh Vệ Diệu Tần, Phạm Quang Trình thuộc Văn Bút Hải Ngoại giải thích dùm. Chúng ta có phải là Việt Kiều hay không?

Riêng với Giáo Sư Bùi Văn Phú người vừa mới viết bài trên tờ Thời Báo đã dùng danh từ Việt Kiều (cũng xin hỏi một số người cầm bút viết trên báo chí thiếu cẩn trọng) trả lời giúp cho chúng tôi, ông là tị nạn cộng sản có quốc tịch Mỹ thì là người MỸ gốc Việt Nam Cộng Hòa trước đây hay là người có thông hành ra nước ngoài làm ăn do CHXHCNVN cấp nên tự cho mình là Việt kiều như qúy vị thường hay viết và nói?

Chúng ta là con người chẳng ai mà lại quên được cội nguồn, quê hương nơi chôn nhau cắt rốn, chẳng ai quên được họ hàng thân thích ruột thịt khi phải bắt buộc lìa bỏ tất cả chỉ vì đại họa cộng sản ép buộc chúng ta ra đi khi trước.

Nay tình hình và nhu cầu của sự sống còn sau khi cộng sản Liên Sô và khối cộng sản đông âu bị sụp đổ từ sau năm 1992, bắt buộc cộng sản việt nam phải thay đổi chiều hướng để được sống còn, họ dùng ngôn ngữ như một thứ “LỰU ĐẠN VÔ HÌNH” tung vào trong đám đông người Việt tị nạn cộng sản trốn chạy ra nước khác trước đây như một lối cờ gian bạc lận, lập lừa đánh lận con đen chữ nghĩa băng danh từ “VIỆT KIỀU”, nên nhiều người cứ thế mà vênh váo vác mặt về làm ăn, làm tay sai cho chúng để tự nhận mình là Việt kiều.

Người bình tĩnh sáng suốt chắc sẽ đồng ý với chúng tôi về điều này. Để chúng ta cùng nhau xác định được hiện trạng của giới tự nhận hoặc thích được làm VIỆT KIỀU của cộng sản việt nam hiện nay.

Một số báo chí việt ngữ trên nước Hoa Ky cũng có nhiều tờ báo thích dùng danh từ Việt kiều thật chúng tôi không hiểu họ cầm bút thiếu hiểu biết, thiếu tự trọn g như vậy hay để nhằm vào mục đích trục lợi hay thương mại cho riêng họ?

Riêng với những người cầm bút, chúng tôi xin quí vị hãy nhìn tấm gương của người văn hào lưu vong Nga để chúng ta cùng suy nghĩ mình có phải là Việt Kiều hay không?

Suốt giòng lịch sử cận đại chúng ta đã nhận rõ được chân tướng Việt gian, Việt cộng đã làm tiêu điều nước non. Nay đến thứ Việt kiều từ trong nước do Việt cộng cấy đi khi trước, và mới ra hải ngoại bằng thông hành xuất ngoại do cộng sản việt nam cấp đang làm náo loạn trật tự của khối cộng đồng tị nạn cộng sản việt nam tại hải ngoại. Và về lại trong nước Việt Nam làm mang tai mang tiếng đến chúng ta.

Như Việt cộng đã nói khi trước bọn ra đi sau tháng tư 1975 bằng cách những người vượt biên là bọn phản quốc, bọn tha phương cầu thực, không chịu đựng được sự đói nghèo…chúng bắt được là vào tù hoặc tịch thu tài sản.

Nay cũng chính Việt cộng dùng chiêu bài TRÁI LƯỤ ĐẠN NGÔN NGỮ VIỆT KIỀU để tâng bốc, dụ dỗ người nhẹ dạ kém hiểu biết, ham danh lợi mờ mắt đến độ không còn nhớ đến cái nhục khi phải thất cơ lơ vận trốn chạy cộng sản khi trước.

Những người gốc Việt trước khi nhập quốc tịch Hoa Kỳ đã tuyên thệ là không làm tay sai cho cộng sản, không hoạt động cộng sản, sau đó trở thành công dân Hoa Kỳ, nếu chúng ta đi ra nước ngoài nói chung trong đó kể cả viếng thăm Việt Nam thì chúng ta mang thông hành của Hoa Kỳ và được bảo vệ bởi tòa đại sứ HK tại nước chúng ta viếng thăm.

“Trái Lựu Đạn Ngôn Ngữ” đã nổ trong rạp hát cộng đồng tị nạn cộng sản Việt Nam và đang tiếp tục tung vào hàng ngũ chúng ta nhằm tiêu diệt sự chống đối và vận động Dân Chủ và Tự Do Tôn Giáo cho Việt Nam của khối người Việt lưu vong tại hải ngoại.

Chúng tôi xin lên tiếng cảnh giác cách dùng danh từ VIỆT KIỀU của Việt cộng hiện nay. Đó là hai chữ sai hoàn toàn trong trường hợp xử dụng để chỉ danh khối người Việt tị nạn cộng sản tại hải ngoại.

NGƯỜI DÂN VỆ

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Về một bản nhạc Giáng sinh
Huỳnh Việt Lang


1. Mơ một Giáng sinh trắng

[left]http://images.windowsmedia.com/img/prov ... 00x800.jpg[/left]Thường chỉ là những ngày đông nhẹ (mild winter), mức lạnh chỉ xuống thấp ở khoảng xấp xỉ nhiệt độ đông đặc của nước đá, tức khoảng 32 độ F hoặc 0 độ C. Lúc này thường thì tuyết chẳng ra tuyết mà mưa đá cũng chẳng ra mưa đá, từng giọt nước đông lạnh (freezing-rain) rơi lộp độp trên mái nhà, nóc xe... Do đó Giáng sinh trắng không phải là dạng thời tiết hiển nhiên của mùa đông Mỹ, mùa đông Giáng sinh trắng đòi hỏi phải có tuyết rơi nhiều hơn và trắng hơn. Let's snow, man! Hãy để cho tuyết rơi, ông ơi! không chỉ là mong muốn của đám trẻ em mà còn cả những người lớn – như một hy vọng điềm lành cho năm mới.


Tác giả của White Chrismas là một đồng hương của nhân vật chính đêm Noel: Ðức Jesus, một người Do Thái có tên là Irving Berlin. Giáng sinh trắng lần đầu được Bing Crosby giới thiệu tới công chúng vào ngày 25/12/1941, trên đài phát thanh NBC. Rồi White Chrismas được sử dụng cho cuốn film Holiday Inn năm 1942, cùng với ngôi sao Bing Crosby là: Fred Astaire. Giáng sinh trắng trở thành đĩa đơn bán chạy vượt thời gian, nó đứng đầu bảng tổng sắp trong suốt 11 tuần lễ liền của năm 1942 một cách đáng kinh ngạc, cuối cùng thì nhạc phẩm này đoạt giải Academy Award cho bài hát hay nhất năm 1942.

Giáng sinh trắng đã trở nên nổi tiếng hơn khi thế giới bước vào cuộc chiến tranh thế giới II (WW II), bài hát của hòa bình và ước ao về những-thứ-chúng-ta-đã-biết, đã giúp mọi người có thể có một chút lạc quan vào những ngày tháng đen tối nhất của cuộc đại chiến.

The sun is shining
The grass is green
The orange and palm trees sway...

là những không gian gần gũi của yên bình, mặt trời sáng-cỏ xanh-cam vàng và cây cọ lắc lư trở thành những biểu tượng cần thiết, giúp người ta có thể tìm thấy những khoảnh khắc thăng bằng giữa máu lửa, bom đạn của WW II. Bởi:

I've never seen such a day... Ðiều đó có thể mãi là một ước mơ.

Khi đi biểu diễn ở bất cứ nơi nào cho quân đội trong suốt WW II, Bing luôn được yêu cầu hát bản White Christmas. Giáng sinh trắng đã làm rơi lệ các chiến binh. Mọi người đều muốn thưởng thức những cảm giác an bình, dù chỉ trong vài khoảnh khắc, tạm quên đi cái ác liệt của chiến tranh trong thực tại. Ðiều này không chỉ đúng ở Mỹ mà cả ở châu Âu, chuyến lưu diễn của Bing Crosby năm 1944 đã chứng minh điều này. Ðĩa đơn Giáng sinh trắng của Bing được bán hơn 30 triệu bản và được ghi nhận là đĩa đơn bán chạy nhất trong lãnh vực âm nhạc suốt hơn 50 năm qua. Kỷ lục này chỉ dừng lại vào năm 1998, khi Elton John dâng tặng Công nương Diana với tuyệt phẩm Ngọn nến trong gió - Candle in the Wind.

Cuối cùng là bản White Christmas quen thuộc mà chúng ta vẫn đang nghe hoàn toàn không phải là bản Bing Crosby ghi âm vào năm 1942, mà đây chính là bản được dựng lại ở trường thu Decca ngày 19/03/1947. Lý do để ra đời bản thu lại này cũng rất dễ hiểu: bản gốc năm 1942 bị hư vì người ta sử dụng nó quá nhiều lần. Tuy nhiên trong lần thu năm 1947 cũng giống như trước kia, dàn hòa tấu John Scott Trotter và đội bè Ken Darby đã được tái hợp lại. Mọi cố gắng tái tạo đã thành công tốt đẹp, kết quả của lần thu tại Decca năm 1947 là những gì rất gần gũi với công chúng đến mãi hôm nay. Tuy nhiên trong lần MCA phát hành đĩa kép năm 1998, "Bing Crosby -- The Voice of Christmas", mọi người lại thấy bản gốc năm 1942 cùng ba phiên bản White Christmas khác của Bing.

2. Giáng sinh trắng giữa mùa hè

Bởi tính cách lịch sử của nó, khá nhiều người Việt biết đến White Christmas, mặc dù có khi đêm Noel đối với họ chỉ đơn giản chỉ là một nghi lễ tôn giáo. Tất cả không dễ dàng đi vào quên lãng, một khi nhiều chuyện là niềm vui của người này nhưng là một cơn ác mộng của người kia... Có câu chuyện được kể từ một người sĩ quan trẻ rằng…

Hắn nghe một thằng bạn nhắn: “Mày nhớ thu dọn mùng chiếu khi nghe bản White Christmas !”. Loạt phát sóng này được truyền đi 15 phút một lần, White Christmas được dùng làm âm vang báo sự kết thúc chiến tranh Việt Nam. Khi giọng hát đắm say lòng người của Bing Crosby cất lên, âm thanh gào thét điên cuồng của cánh máy bay trực thăng trên nóc tòa Ðại sứ Mỹ cũng hòa vang...

Buổi trưa hôm đó, trời nóng phát ngốt. Hắn đi đi lại lại trong phòng, chợt nhớ lời dặn của thằng bạn, hắn bật cái radio. Rò rè, khọt khẹt đã đời, rồi cũng đến giọng người phát thanh viên bình thản về bản tin thời tiết: "Bây giờ là 105 độ và nhiệt độ đang tăng lên", ... sau đó chính là bản White Christmas với giọng ca nồng nàn của Bing Crosby.

Lúc ấy, thì không biết có ai mơ mộng giống Bing Crosby không...

I'm dreaming of a white Christmas
Just like the ones I used to know.
Where the treetops glisten,

Nhưng chắc chắn rằng không thể có chuyện:

And children listen
To hear sleigh bells in the snow.

Người ta chỉ nghe tiếng gầm rú của… 81 chiếc trực thăng được các máy bay của lực lượng đặc nhiệm 77 yểm trợ cấp tốc bay từ Thái bình Dương vào đất liền, chiến dịch Cơn gió thường lệ (Frequent Wind) bắt đầu. Lúc ấy là đúng 11 giờ 08 phút ngày 29 tháng 4 năm 1975. Mọi chuyện ở đây không hề êm ả như một ngày đông ở Beverly Hills LA, mà là nắng hè Sài Gòn đổ lửa. Thật là trớ trêu, một cuộc chiến đầy dữ dội như chất rock'n'roll đã đặt dấu chấm hết bằng một cung điệu pre - rock. Chẳng lẽ niềm tin là khi có tuyết phủ trắng trong mùa giáng sinh, thì các việc trong năm mới sẽ thịnh vượng và may mắn - có nghiã là như vậy chăng ?

Phòng bên cạnh, nho nhỏ vọng qua:

“Biên cương lá rơi Thu Hà em ơi
Đường dài mịt mùng em không đến nơi
Mây nước buồn cơn lửa binh
Hết kể chuyện chung tình
Khóc than riêng em một mình…”

Hắn quất một đá, cái máy thu thanh văng vào tường vỡ tan.
- Đù… m… tụi bây !

Hắn đứng lên và chấp nhận: hắn chỉ có một nơi được sinh và để chết. Người ta thấy hắn hình như ngã ngựa ngoài xa lộ vào ngày cuối cùng của tháng Tư, tay chưa thèm buông súng. Chắc chắn rằng hắn rớt đài thiệt lẹ, không thể như kép chánh Minh Cảnh trước khi buông xuồng còn ca được một khúc:

“Tuấn mã ôi,
Hãy phi mau về báo hung tin cho quân ta được rõ
Rằng Võ Đông Sơ đã vùi thây trong gió bụi quan ... hà
Tiếng kẻng thu quân tắt lịm tự bao giờ
Hoàng hôn phủ trùm trên bãi chiến
Một vẻ u buồn lạnh lẽo tiêu sơ…” (1)

Câu chuyện có vẻ bế mạc ở đây. Song hắn chưa chết, rồi người ta lại thấy hắn có mặt trên những cánh rừng đất đỏ miền Đông… Loay hoay... lại thêm một lần rã đám… Hắn lại ra đi cùng với niềm tin ái quốc của mình…

3. Xin một lời tử tế cho nhau

Vậy là sắp hết một năm dương lịch. Bài viết này hoàn thành trên một chuyến xe rời Sài Gòn, nhiệt độ trong nước đã xuống rất thấp. Hà nội ngoài trời khoảng 11độ C và Sài gòn thì gấp đôi, chừng 20 độ C. Đêm qua đứng ở Hồ con Rùa, thổi hơi vào hai bàn tay mình thì tôi thấy khói. Hôm kia là ngày Đông chí (giữa mùa Đông). Thông điệp mưu cầu về tự do cho con người cần chuyển nhanh đến mọi người. Trách nhiệm này không của riêng ai, đồng bào Việt Nam và trên toàn thế giới đừng quên nhau. Khi người viết kể xong câu chuyện của mình, là đồng nghiã với tình huống câu chuyện ấy đã chia tay với anh ta. Câu chuyện ấy cần tự do trong cuộc sống bản thân – ngoài vòng kiểm soát của người tạo ra nó. Song nói như vậy, người viết không có quyền quên béng đi tác phẩm của họ - nếu như không muốn gây ra một cảm xúc thái độ nhàm chán trước những điều quá quen thuộc ở độc giả trong tác phẩm tương lai. Có thể coi đó là sự tận tụy của người viết.

Lòng vô cùng bối rối, đào đâu ra niềm an bình để chúc anh chị em mình trong đêm thánh vô cùng này. Đã hai tháng rồi, hai anh em Trương Quốc Huy và Trương Quốc Tuấn chưa được gặp người nhà, mẹ họ chẳng biết con mình sống chết ra sao. Gia đình anh em đó đang ở nhà thuê, cha họ qua đời chưa được một năm. Ngoài kia ông Hoàng Minh Chính bị đảng chơi trò khủng bố bốc và ném. Song trong mùa Giáng Sinh này, tôi đã nghe vang vọng tiếng trống bát nhã đánh lên từ chùa Diệu Pháp, thành phố San Gabriel mà tâm ý đồng thuận với khẳng định của Hòa Thượng Thích Hộ Giác: "cho đến hôm nay trong thông điệp của Giáo hội Phật Giáo gửi cho toàn thể cộng đồng nhân loại là nhân quyền không thể thật sự có được nếu thiếu dân chủ. Ý nghĩa đó là nhất quán không gì thay đổi từ ngay buổi đầu cho đến hôm nay!"

Thôi vậy, đành vậy. Ta vẫn mong mọi điều tử tế đến với nhau.
Tôi xin được như vậy.


Viết từ Giáng sinh 2003, kết thúc 23/12/2005

Chú thích:

1. Một câu chuyện ở xứ Bình Định, thời Gia Long. Theo ông Dương Bé, “Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà” là một cuốn truyện hình vẽ, gồm 100 đoạn, in chung với truyện “Con hổ thành Gia Định”. Tranh và lời của Hồng Bàng. Đây là loại sách in bằng bản kẽm, trên giấy xấu.

“Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà” thường được bày bán chung với các quyển truyện khác như: như Thoại Khanh Châu Tuấn, Ông trượng Tiên Bửu, Thạch Sanh Lý Thông, v.v. trên một tấm nhựa nhỏ trải ra ở mép chợ. Tất nhiên, trước những tấm nhựa không hề để những tấm bảng “Sách đại hạ giá…%”, như ta vẫn thấy tại các hè phố trong nước hiện nay. Để rao hàng, thỉnh thoảng người bán sẽ cầm quyển truyện lên đọc to một đoạn thơ hay văn ngắn. Đó là cảnh người ta thấy tại các chợ làng hay thị của miền Nam vào thập niên 50 của thế kỷ trước.

Sau, soạn giả Viễn Châu đặt thành hai bài vọng cổ là Võ Đông Sơ do Minh Cảnh ca, và Bạch Thu Hà do Lệ Thủy trình bày. Hãng dĩa hát Asia có thu hai bài vọng cổ này.

Post Reply