Tin Trong Nước
Nhà máy sản xuất máy in
Canon khánh thành nhà máy sản xuất máy in laser lớn nhất thế giới
HÀ NỘI 25-12 (Tổng Hợp) - “Sáng 24-12-2005, tại Khu Công Nghiệp Quế Võ của tỉnh Bắc Ninh, công ty TNHH Canon Việt Nam đã tổ chức khánh thành nhà máy sản xuất máy in laser lớn nhất thế giới với công suất gần 8.5 triệu sản phẩm/năm.”
Bản tin hãng thông tấn chính thức CSVN cho hay như thế hôm Chủ Nhật 25-12-2005.
Theo nguồn tin này “Nhà máy có tổng số vốn đầu tư $50 triệu USD, dự kiến sẽ cho ra đời sản phẩm đầu tiên vào tháng 4/2006, đáp ứng khoảng 35% nhu cầu thế giới về máy in laser. Nhà máy sẽ tạo việc làm cho khoảng 3,500 lao động.”
Hồi tháng 10-2005, hãng Sanyo loan báo sẽ bắt đầu sản xuất máy chụp hình điện tử số (digital camera) từ ngày 13-11-2005. Công ty Sanyo DI Solution Vietnam sẽ khởi sự sản xuất khoảng 3,000 máy chụp hình điện tử số một tháng và dự trù sẽ tăng khả năng lên 10,000 máy một tháng nội trong vòng một năm.
Nhà máy sản xuất máy in laser của Canon được xây cất trên một diện tích rộng 20 mẫu tây với diện tích nhà xưởng 60,000m2.
Canon cũng đã có một dự án khác sản xuất máy in phun mực ở Hà Nội, khu công nghệ Thăng Long. Cộng cả hai dự án này, Canon đã đầu tư tại Việt Nam $236 triệu USD chỉ trong lãnh vực máy tin điện tử.
Source: Nguoi Viet
Lời bàn của CNN: Trong những năm gần đây, các công ty lớn trên thế giới đổ vốn vào những nơi nhân công rẻ. Các nước Á châu, đặc biệt là Ấn độ, Trung hoa và Việt nam đang được chiếu cố. Dự trù trong 10 năm nữa, về phương diện kinh-tế, Trung hoa sẽ dẫn đầu và Ấn độ sẽ là thứ ba (nhì là Mỹ). Các quốc gia khác như Nhật, Anh, Đức,.... đang lo. Đó là cái nhìn xa mà Liên hiệp Châu Âu đã thấy để họ chỉ cần thị trường và sản phẩm trong vùng mà sống.
HÀ NỘI 25-12 (Tổng Hợp) - “Sáng 24-12-2005, tại Khu Công Nghiệp Quế Võ của tỉnh Bắc Ninh, công ty TNHH Canon Việt Nam đã tổ chức khánh thành nhà máy sản xuất máy in laser lớn nhất thế giới với công suất gần 8.5 triệu sản phẩm/năm.”
Bản tin hãng thông tấn chính thức CSVN cho hay như thế hôm Chủ Nhật 25-12-2005.
Theo nguồn tin này “Nhà máy có tổng số vốn đầu tư $50 triệu USD, dự kiến sẽ cho ra đời sản phẩm đầu tiên vào tháng 4/2006, đáp ứng khoảng 35% nhu cầu thế giới về máy in laser. Nhà máy sẽ tạo việc làm cho khoảng 3,500 lao động.”
Hồi tháng 10-2005, hãng Sanyo loan báo sẽ bắt đầu sản xuất máy chụp hình điện tử số (digital camera) từ ngày 13-11-2005. Công ty Sanyo DI Solution Vietnam sẽ khởi sự sản xuất khoảng 3,000 máy chụp hình điện tử số một tháng và dự trù sẽ tăng khả năng lên 10,000 máy một tháng nội trong vòng một năm.
Nhà máy sản xuất máy in laser của Canon được xây cất trên một diện tích rộng 20 mẫu tây với diện tích nhà xưởng 60,000m2.
Canon cũng đã có một dự án khác sản xuất máy in phun mực ở Hà Nội, khu công nghệ Thăng Long. Cộng cả hai dự án này, Canon đã đầu tư tại Việt Nam $236 triệu USD chỉ trong lãnh vực máy tin điện tử.
Source: Nguoi Viet
Lời bàn của CNN: Trong những năm gần đây, các công ty lớn trên thế giới đổ vốn vào những nơi nhân công rẻ. Các nước Á châu, đặc biệt là Ấn độ, Trung hoa và Việt nam đang được chiếu cố. Dự trù trong 10 năm nữa, về phương diện kinh-tế, Trung hoa sẽ dẫn đầu và Ấn độ sẽ là thứ ba (nhì là Mỹ). Các quốc gia khác như Nhật, Anh, Đức,.... đang lo. Đó là cái nhìn xa mà Liên hiệp Châu Âu đã thấy để họ chỉ cần thị trường và sản phẩm trong vùng mà sống.
Chợ trên chiếc xe đạp...
Phóng sự của Trần Tiến Dũng
Một ông bạn Việt kiều ngồi uống cà phê trên hẻm 130/77 khu chợ Phạm Văn Hai, quận Tân Bình hỏi tôi:
- Trong hai cái giỏ bằng sắt ở yên sau chiếc xe đạp của người đàn bà người Bắc đó bán cái gì?
Tôi quay sang hỏi lại bà bán bánh cuốn nóng bày trên lề đường, bà mở to cái miệng ướt hơi nước và mồ hôi nói:
- Phải có đủ thứ chớ, coi như họ đi chợ mướn cho mấy bà làm biếng mà.
Sáu giờ sáng, trong một dãy mấy chiếc xe đạp đang đậu chờ bỏ hàng ở hẻm chợ này, chúng tôi chọn cái xe đạp đậu gần quán cà phê để quan sát. Trong cái giỏ sắt có nào là bí, bầu, rau sống, rau thơm, cà chua, cà tím, hành củ, hành lá, riềng, gừng, ớt, chanh,... ôi thôi nói chung là đủ thứ đồ la-ghim. Cái cân cũ xì loại 5 kg thì “ưu tiên” để trong cái giỏ nhựa treo ở ghi đông xe chung với mấy bịch thịt bò, thịt heo. Trong giỏ sắt còn lại, cá đồng cá biển, tôm, tép, mực các loại chia thành từng mớ, nhồi nhét trong mấy cái bịt nilon trông cũ hơn bịt đựng rác.
Ông bạn Việt kiều lắc đầu thán phục:
- Ðúng là tài thật! Mỗi chiếc xe đạp là một cái chợ. Họ làm tôi nhớ kỳ tích xe đạp thồ của dân công Việt Minh chiến thắng máy bay tiếp tế Da-co-ta của Pháp.
Một người ra dáng một nhà giáo về hưu ngồi ở bàn cà phê bên cạnh chúng tôi nói:
- Mấy ông chịu khó để ý cái ông ở trần ngồi ở phía bên kia đường. Ðó! Ðố mấy ông hắn là “thực dân mới” hay “cách mạng”? Ðàn ông gì mà sống bằng nghề bóc lột đàn bà.
Chúng tôi nhìn theo đôi mắt e sợ của ông ra dáng nhà giáo. Bên kia đường đúng là có một người đàn ông trung niên ở trần đang ngồi trên cái ghế nhựa. Ông ta mặc cái quần bộ đội cũ, nổi bật trên những bắp thịt săn chắc của phần ngực và cánh tay là những hình xâm vằn vện. Chúng tôi đoán ông ta là dân có máu mặt quản lí cái hẻm chợ này. Một bà bán vé số dạo nghe chuyện, lấy cuốn album dò số che miệng, nói bồi thêm:
- Ông đó chuyên gom mấy bà ngoài Bắc vô chứ ai. Mỗi chợ đầu mối đều có mấy ông Bắc quản lí mấy bả hết, rồi cho vay tiền ngày làm vốn. Hách thấy mẹ.
Chúng tôi hỏi chuyện người đàn bà, chủ một cái chợ trên xe đạp. Chị có gương mặt khắc khổ đến mức không đoán được tuổi, chị vừa xếp hàng hóa lên xe vừa nói bằng chất giọng nhà quê xứ Nghệ rất khó nghe. Chị cho biết vào Nam được hơn hai năm, buổi sáng thồ hàng bán dạo, từ trưa tới tối chạy quanh nhặt giấy, nhặt bao bì người ta vứt trên đường bán cho vựa ve chai. Chị chưa về quê lần nào và cho rằng miễn có tiền gởi về cho bố con nó là phấn khởi. Nhưng khi chúng tôi hỏi thu nhập có đủ sống không chị cười, mở hết cả hàm răng hô:
- Mô (bao nhiêu) là đủ! Ưng (thích) ăn có ăn nhưng... hỏi chi!
Rồi chị lại mở nụ cười rất tươi. Nhìn cái áo bộ đội chị đang mặc, chúng tôi không khỏi so sánh sự khác biệt giữa những người phụ nữ là bộ đội, cán bộ miền Bắc tăng cường cho miền Nam, được chế độ ưu tiên dành cho cái địa vị bề trên trong những tháng năm đầu “giải phóng” với những người đàn bà di dân mới, cần cù bươn chảy kiếm sống trong cảnh khó nhọc và thầm lặng như chị.
Chúng tôi bày tỏ ý muốn đi theo coi chị mua bán ra sao, chị lắc đầu như một cô gái đang giận dỗi và tự nhiên chị nói bằng cái giọng lơ lớ nửa Nam nửa Bắc.
- Phá em hoài kỳ vậy!
Khi mang chuyện những người đàn bà chở cả cái chợ trên xe đạp ra hỏi chuyện bà T., ở khu cư xá Lê Ðại Hành, một người thường xuyên mua hàng. Bà T. cho biết:
- Họ bán cái gì cũng mắc hết. Một lạng thịt heo họ bán mắc hơn ngoài chợ cả ngàn nhưng kệ! Mình làm biếng, khỏi mất công đi xa, mua cho họ kiếm ít đồng lời để sống vậy là huề.
Một bà ra dáng sang trọng, đang là viên chức ngân hàng, có nhà mặt tiền cho thuê bán cà phê chỉ ở cách chợ Phạm Văn Hai chưa tới năm trăm thước thì nói.
- Nhà này thích ăn gì chỉ cần bảo bọn nó mang lại. Dễ sai dễ bảo lắm. Coi thế mà bọn nó năng nhặt, có đứa chẳng mấy chốc tậu được nhà đất đấy!
Cái điều bà nói là có chuyện thật. Chị P., người phụ nữ bệnh tim, có nhà cho dân nhập cư thuê ở Hóc Môn, cho cộng tác viên Người Việt biết:
- Họ ba bốn người hùn lại thuê một phòng, mỗi người trải vừa đủ một cái chiếu, tính ra một người chỉ mất có năm, bảy chục ngàn một tháng. Ði bán, nước họ xin uống nhờ, ăn họ tự nấu. Cả ngày ở Sài Gòn mà xài hai ba ngàn. Ði bán dạo suốt ngày, mỗi người kiếm trên năm chục ngàn. Còn chuyện mua đất thì chị em bà con họ hùn lại, ai đời đất mà họ mua từng mét vuông, vậy mà vài năm cũng có được căn nhà vài chục mét vuông. Giỏi phải nói!
Chợ trên xe đạp là một phương cách kiếm sống phổ biến của dân nhập cư đến từ các vùng quê nghèo miền Bắc. Cùng với chiếc xe đạp gắn loa, rao bán om sòm keo dính chuột của cánh đàn ông Bắc. Ðặc điểm dễ nhận ra nhất của những người đàn bà Bắc chở cả cái chợ trên xe đạp này là cái nón lá, mặt che kín khẩu trang, áo sơ-mi rộng hoặc áo bộ đội, chân mang ủng cao su. Bạn có thể hỏi mua trong ngày, trong tuần, thậm chí dặn trước cả tháng bất cứ món gì mà bạn muốn có cho bữa ăn của gia đình bạn, kể cả những món đặc sản khó tìm.
Giữa thời buổi mà siêu thị lớn, các chợ to nhỏ thi nhau mọc lên như nấm khắp các đường lớn hẻm nhỏ Sài Gòn mà họ, chỉ với chiếc xe đạp lại chở được cả cái chợ đi bán. Ðúng là đáng phục! Vì sao họ vẫn kiếm sống được? Có người cho rằng đó là nhờ sự ưu ái của cánh đồng hương, công nhân viên chức hoặc thói lười biếng đỏng đảnh của một số bà nội trợ. Nhưng Ông C., một người Hoa, chủ một sạp hàng bán đồ la-ghim ở chợ đầu mối Nguyễn Văn Thành thì không cho như vậy. Ông nói:
- Hây! họ giỏi chớ! Ông, bà “ngộ” hồi mới qua đây cũng mua bán như họ mà. Lời trên cọng hành con cá mới là lời. Sài Gòn dễ làm ăn lắm! “Lị” thử mua bán như họ coi, từ từ làm giàu mấy hồi.
Tháng 12/2005
Trần Tiến Dũng
Phóng sự của Trần Tiến Dũng
Một ông bạn Việt kiều ngồi uống cà phê trên hẻm 130/77 khu chợ Phạm Văn Hai, quận Tân Bình hỏi tôi:
- Trong hai cái giỏ bằng sắt ở yên sau chiếc xe đạp của người đàn bà người Bắc đó bán cái gì?
Tôi quay sang hỏi lại bà bán bánh cuốn nóng bày trên lề đường, bà mở to cái miệng ướt hơi nước và mồ hôi nói:
- Phải có đủ thứ chớ, coi như họ đi chợ mướn cho mấy bà làm biếng mà.
Sáu giờ sáng, trong một dãy mấy chiếc xe đạp đang đậu chờ bỏ hàng ở hẻm chợ này, chúng tôi chọn cái xe đạp đậu gần quán cà phê để quan sát. Trong cái giỏ sắt có nào là bí, bầu, rau sống, rau thơm, cà chua, cà tím, hành củ, hành lá, riềng, gừng, ớt, chanh,... ôi thôi nói chung là đủ thứ đồ la-ghim. Cái cân cũ xì loại 5 kg thì “ưu tiên” để trong cái giỏ nhựa treo ở ghi đông xe chung với mấy bịch thịt bò, thịt heo. Trong giỏ sắt còn lại, cá đồng cá biển, tôm, tép, mực các loại chia thành từng mớ, nhồi nhét trong mấy cái bịt nilon trông cũ hơn bịt đựng rác.
Ông bạn Việt kiều lắc đầu thán phục:
- Ðúng là tài thật! Mỗi chiếc xe đạp là một cái chợ. Họ làm tôi nhớ kỳ tích xe đạp thồ của dân công Việt Minh chiến thắng máy bay tiếp tế Da-co-ta của Pháp.
Một người ra dáng một nhà giáo về hưu ngồi ở bàn cà phê bên cạnh chúng tôi nói:
- Mấy ông chịu khó để ý cái ông ở trần ngồi ở phía bên kia đường. Ðó! Ðố mấy ông hắn là “thực dân mới” hay “cách mạng”? Ðàn ông gì mà sống bằng nghề bóc lột đàn bà.
Chúng tôi nhìn theo đôi mắt e sợ của ông ra dáng nhà giáo. Bên kia đường đúng là có một người đàn ông trung niên ở trần đang ngồi trên cái ghế nhựa. Ông ta mặc cái quần bộ đội cũ, nổi bật trên những bắp thịt săn chắc của phần ngực và cánh tay là những hình xâm vằn vện. Chúng tôi đoán ông ta là dân có máu mặt quản lí cái hẻm chợ này. Một bà bán vé số dạo nghe chuyện, lấy cuốn album dò số che miệng, nói bồi thêm:
- Ông đó chuyên gom mấy bà ngoài Bắc vô chứ ai. Mỗi chợ đầu mối đều có mấy ông Bắc quản lí mấy bả hết, rồi cho vay tiền ngày làm vốn. Hách thấy mẹ.
Chúng tôi hỏi chuyện người đàn bà, chủ một cái chợ trên xe đạp. Chị có gương mặt khắc khổ đến mức không đoán được tuổi, chị vừa xếp hàng hóa lên xe vừa nói bằng chất giọng nhà quê xứ Nghệ rất khó nghe. Chị cho biết vào Nam được hơn hai năm, buổi sáng thồ hàng bán dạo, từ trưa tới tối chạy quanh nhặt giấy, nhặt bao bì người ta vứt trên đường bán cho vựa ve chai. Chị chưa về quê lần nào và cho rằng miễn có tiền gởi về cho bố con nó là phấn khởi. Nhưng khi chúng tôi hỏi thu nhập có đủ sống không chị cười, mở hết cả hàm răng hô:
- Mô (bao nhiêu) là đủ! Ưng (thích) ăn có ăn nhưng... hỏi chi!
Rồi chị lại mở nụ cười rất tươi. Nhìn cái áo bộ đội chị đang mặc, chúng tôi không khỏi so sánh sự khác biệt giữa những người phụ nữ là bộ đội, cán bộ miền Bắc tăng cường cho miền Nam, được chế độ ưu tiên dành cho cái địa vị bề trên trong những tháng năm đầu “giải phóng” với những người đàn bà di dân mới, cần cù bươn chảy kiếm sống trong cảnh khó nhọc và thầm lặng như chị.
Chúng tôi bày tỏ ý muốn đi theo coi chị mua bán ra sao, chị lắc đầu như một cô gái đang giận dỗi và tự nhiên chị nói bằng cái giọng lơ lớ nửa Nam nửa Bắc.
- Phá em hoài kỳ vậy!
Khi mang chuyện những người đàn bà chở cả cái chợ trên xe đạp ra hỏi chuyện bà T., ở khu cư xá Lê Ðại Hành, một người thường xuyên mua hàng. Bà T. cho biết:
- Họ bán cái gì cũng mắc hết. Một lạng thịt heo họ bán mắc hơn ngoài chợ cả ngàn nhưng kệ! Mình làm biếng, khỏi mất công đi xa, mua cho họ kiếm ít đồng lời để sống vậy là huề.
Một bà ra dáng sang trọng, đang là viên chức ngân hàng, có nhà mặt tiền cho thuê bán cà phê chỉ ở cách chợ Phạm Văn Hai chưa tới năm trăm thước thì nói.
- Nhà này thích ăn gì chỉ cần bảo bọn nó mang lại. Dễ sai dễ bảo lắm. Coi thế mà bọn nó năng nhặt, có đứa chẳng mấy chốc tậu được nhà đất đấy!
Cái điều bà nói là có chuyện thật. Chị P., người phụ nữ bệnh tim, có nhà cho dân nhập cư thuê ở Hóc Môn, cho cộng tác viên Người Việt biết:
- Họ ba bốn người hùn lại thuê một phòng, mỗi người trải vừa đủ một cái chiếu, tính ra một người chỉ mất có năm, bảy chục ngàn một tháng. Ði bán, nước họ xin uống nhờ, ăn họ tự nấu. Cả ngày ở Sài Gòn mà xài hai ba ngàn. Ði bán dạo suốt ngày, mỗi người kiếm trên năm chục ngàn. Còn chuyện mua đất thì chị em bà con họ hùn lại, ai đời đất mà họ mua từng mét vuông, vậy mà vài năm cũng có được căn nhà vài chục mét vuông. Giỏi phải nói!
Chợ trên xe đạp là một phương cách kiếm sống phổ biến của dân nhập cư đến từ các vùng quê nghèo miền Bắc. Cùng với chiếc xe đạp gắn loa, rao bán om sòm keo dính chuột của cánh đàn ông Bắc. Ðặc điểm dễ nhận ra nhất của những người đàn bà Bắc chở cả cái chợ trên xe đạp này là cái nón lá, mặt che kín khẩu trang, áo sơ-mi rộng hoặc áo bộ đội, chân mang ủng cao su. Bạn có thể hỏi mua trong ngày, trong tuần, thậm chí dặn trước cả tháng bất cứ món gì mà bạn muốn có cho bữa ăn của gia đình bạn, kể cả những món đặc sản khó tìm.
Giữa thời buổi mà siêu thị lớn, các chợ to nhỏ thi nhau mọc lên như nấm khắp các đường lớn hẻm nhỏ Sài Gòn mà họ, chỉ với chiếc xe đạp lại chở được cả cái chợ đi bán. Ðúng là đáng phục! Vì sao họ vẫn kiếm sống được? Có người cho rằng đó là nhờ sự ưu ái của cánh đồng hương, công nhân viên chức hoặc thói lười biếng đỏng đảnh của một số bà nội trợ. Nhưng Ông C., một người Hoa, chủ một sạp hàng bán đồ la-ghim ở chợ đầu mối Nguyễn Văn Thành thì không cho như vậy. Ông nói:
- Hây! họ giỏi chớ! Ông, bà “ngộ” hồi mới qua đây cũng mua bán như họ mà. Lời trên cọng hành con cá mới là lời. Sài Gòn dễ làm ăn lắm! “Lị” thử mua bán như họ coi, từ từ làm giàu mấy hồi.
Tháng 12/2005
Trần Tiến Dũng
Hải Phòng: Mưu sinh bằng nghề khóc thuê
HẢI PHÒNG-VIỆT NAM - Hai ngôi làng mang tên Hòa Nghĩa và Tân Phong, thuộc huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng được dân địa phương gọi là làng khóc thuê mà như báo Tuổi Trẻ cho biết: “Chỉ riêng ở Hòa Nghĩa, Tân Phong đã có hơn chục “truyền nhân” chuyên nghiệp như cụ Khang, cụ Ðón, cậu Hạnh, cậu Nguyễn Thiện..., họ đều là thành viên trong các đội khóc-kèn Hợp Lễ, Hải Phong, Lão Phú...”
Theo báo Tuổi Trẻ thì ông Nguyễn Văn Xẻ được xem là một trong những “truyền nhân số 1” của hai làng khóc thuê này. Theo ông Xẻ, đây là những “khóc sĩ” trứ danh và là niềm tự hào của làng vì nhiều đám tang ở Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh... và cả ở tận Hà Nội nghe danh tiếng thuê cả xe hơi về tận nhà đón đi... khóc!
Từ đó, một “công nghệ khóc” hình thành. Khóc cũng nhiều loại, khóc “khô”, khóc “ướt” với những “khóc sĩ” chạy sô khắp nơi...
Báo này kể về đám tang một cụ già tên Lê trở nên bi ai, não ruột khi tiếng khóc nỉ non nghe đến thắt gan thắt ruột cất lên: “Ối ông ơi, tôi với ông trong đạo xướng tùy, biết gì nói nhớ, biết gì nói thương, nỗi sầu trong thảm ngàn thương, từ đây hai ngả để âm dương cách vời... Tôi thương ông nói chẳng nên lời, tôi trông đất thì rộng, trông trời thì trời cao... Ối ông ơi...”
Hòa theo tiếng khóc là điệu kèn đưa đám í e não nùng. Quỳ mọp ngay linh cữu, bà cụ Lê cùng ba anh con trai mặc đồ xô trắng, đầu vấn khăn tang, khóc nức nở hòa theo. Cậu con cả của người đã khuất vừa quỳ sấp lạy vong linh thì tiếng khóc lại cất lên: “Ối bố ơi, chung rượu này con dâng lên bố mà như hình bóng bố vẫn còn đâu đây...”
Khách viếng đã vãn, người đàn ông than khóc suốt từ chiều đến gần nửa đêm mới có dịp ngồi dậy lật đật ra bàn nước đánh liền bốn chén và nở nụ cười tươi rói phủi chân leo lên sạp đánh chén sau khi nhận của tang chủ vài chục ngàn. Hỏi: “Ông là gì của người đã khuất?” Người đàn ông cười rất tươi: “Chẳng là gì cả, người ta thuê tôi đến để khóc đấy mà!”
Ông Xẻ kể: “Từ xa xưa, tiếng khóc được thay cho việc phúng điếu ở các đám tang trong làng quê chúng tôi, người đến viếng không phải “bao thư” đi điếu như bây giờ mà chỉ cần khóc than cho người quá cố là coi như đủ thể hiện tấm lòng thành của mình.
Từ bé, nhiều đứa trẻ trong làng đã được cha mẹ dạy các bài bản khóc thuê để khi đi dự đám tang có thể viếng tang gia bằng tiếng khóc. Những điệu khóc bi thương ai oán trước đây cất lên không nhằm kiếm tiền mà còn là một sinh hoạt nghĩa tình của người sống với người chết, giữa người dân trong thôn với nhau”.
Theo cụ Khang, một cao niên trong nghề khóc, rất nhiều “khóc sĩ” ở làng đã tỏa đi các tỉnh, thành, vào tận miền Nam xa xôi để hành nghề khóc “gia truyền” của làng. Các “khóc sĩ” ở làng có những “bí kíp” gia truyền mà không nơi nào có được.
Trước đây, các cụ tổ những đời trước không chỉ truyền miệng mà còn ghi lại thành những quyển sách dạy bí quyết, kỹ thuật khóc hẳn hoi cho con cháu tỏ tường mà nối nghiệp. Từ những bài giảng làm thế nào để khóc theo đúng điệu cho ngọt, cho mùi, cho thật truyền cảm đến những chương tâm lý khai thác đúng tâm trạng, hoàn cảnh, tình cảm, mối quan hệ giữa người sống với người đã khuất...
Việc rơi nước mắt đâu phải lúc nào cũng được ứng dụng. Ðối với hoàn cảnh nào, khách viếng là ai thì mới đưa khóc “khô” (không có nước mắt) hay khóc “ướt” (nước mắt đầm đìa) ra áp dụng. Theo sách ghi lại của làng, có đến 16 bài khóc thông dụng cho từng trường hợp, và các cụ tổ của làng còn ghi rõ năm điều cấm kỵ khi đi khóc thuê...
Ông Xẻ cho biết bí quyết độc đáo nhất của nghề chính là khóc “ướt”, nước mắt khi trào ra phải tự nhiên, chân thật và nhiều cảm xúc nhất, tuyệt đối không được rặn hay xoa dầu cho cay để nước mắt tuôn ra và mỗi khi tuôn lệ cũng phải khớp với các bài khóc đã được ấn định. Nghe thì đơn giản nhưng là cả một nghệ thuật, các “khóc sĩ” phải khổ luyện ít nhất năm năm ròng mới có khả năng thực hiện được...
* “Công nghệ”... rơi nước mắt
“Ngày trước đi khóc đâu có tiền bạc gì, ai muốn cho bao nhiêu cũng được, bọn tôi khóc như một cách thể hiện lòng đam mê và dịp để rèn luyện nghề của các cụ đấy thôi. Cái nghề của cha ông mình để lại mà, mình phải bảo tồn chứ.
Có bước vào nghề mới thấy khóc là cả một nghệ thuật, là vốn quý văn hóa của làng mình. Các cụ tổ đã dạy đi khóc thuê đừng chăm bẳm chỉ nghĩ đến tiền mà phải có cái tâm chia sẻ với người đã khuất, với tang gia thì mới trụ với nghề lâu dài được” - anh Nguyễn Thiện, một truyền nhân khá nổi tiếng ở Hòa Nghĩa, nói về “công nghệ” khóc như vậy.
Nhưng đó là chuyện trước đây, còn bây giờ khóc đang là công việc làm ăn nghiêm túc. Ban đầu quanh vùng nhiều tang chủ cứ phải mời cho bằng được các “khóc sĩ” ở Tân Phong, Hòa Nghĩa về khóc cho tang gia. Họ bảo rằng chỉ có tiếng khóc của dân làng này mới chân thật, mới có thể giãi bày thay tâm trạng của họ với người thân đã qua đời.
Các “khóc sĩ” như anh Thiện, anh Hạnh, ông Xẻ... phải chạy sô đám tang quanh năm. Một ngày có người phải chạy đi khóc 3-4 đám, có những đám cách xa nhau hàng trăm cây số, có khi đêm nay nhận đám khóc ở Hà Nội thì sáng sớm hôm sau lại phải xuống tận Cát Bà để khóc.
Khóc ở Hòa Nghĩa, Tân Phong bây giờ đã trở thành một “công nghệ” hẳn hoi. Nhiều “khóc sĩ” mở lò đào tạo nghệ thuật khóc cho những người từ nơi khác đến học nghề, lại có người mở thêm vài ba chi nhánh khóc thuê ở Ðồ Sơn, trung tâm TP Hải Phòng.
Một đêm khóc thuê với cả một đội kèn í e 4-5 người, tang chủ phải trả 400,000-500,000 đồng. Ðó là chưa kể tiền “bo” (tiền tip) riêng cho mỗi bài khóc từ 10,000-40,000 đồng.
“Chúng tôi có một giọng khóc và nghệ thuật diễn cảm riêng mà chẳng nơi nào “nhái” được” - anh Thiện tự hào nói. Một thời gian các quầy băng đĩa tổ chức thu âm tiếng khóc mang đi bán cho những gia đình có tang, nhưng tiếng khóc trong băng không có hồn, không truyền cảm nên người ta lại tìm đến đây.
“Chúng tôi chấp tất cả các loại băng đĩa đấy, nhiều người ở làng khác cho con em đến học hỏi mà còn chẳng thể theo được nghề này huống gì mấy cái đĩa, băng...!” - anh Thiện nói chắc như thế.
Từ 16 bài bản khóc “gia truyền”, hiện nay thế hệ hậu sinh đã “cải biên” ra hàng chục bài khóc, mà trình độ ngày càng cao hơn, lời khóc ngày càng ai oán hơn. Ông Xẻ kể: “Nhiều người khóc tài đến độ khách đến viếng cứ ngỡ họ là con cái trong tang gia, còn tang chủ khóc cứ như khách viếng. Thậm chí nhiều bài khóc đau lòng đến mức tang chủ quá xúc động đã ngất lịm ngay dưới quan tài!”
HẢI PHÒNG-VIỆT NAM - Hai ngôi làng mang tên Hòa Nghĩa và Tân Phong, thuộc huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng được dân địa phương gọi là làng khóc thuê mà như báo Tuổi Trẻ cho biết: “Chỉ riêng ở Hòa Nghĩa, Tân Phong đã có hơn chục “truyền nhân” chuyên nghiệp như cụ Khang, cụ Ðón, cậu Hạnh, cậu Nguyễn Thiện..., họ đều là thành viên trong các đội khóc-kèn Hợp Lễ, Hải Phong, Lão Phú...”
Theo báo Tuổi Trẻ thì ông Nguyễn Văn Xẻ được xem là một trong những “truyền nhân số 1” của hai làng khóc thuê này. Theo ông Xẻ, đây là những “khóc sĩ” trứ danh và là niềm tự hào của làng vì nhiều đám tang ở Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh... và cả ở tận Hà Nội nghe danh tiếng thuê cả xe hơi về tận nhà đón đi... khóc!
Từ đó, một “công nghệ khóc” hình thành. Khóc cũng nhiều loại, khóc “khô”, khóc “ướt” với những “khóc sĩ” chạy sô khắp nơi...
Báo này kể về đám tang một cụ già tên Lê trở nên bi ai, não ruột khi tiếng khóc nỉ non nghe đến thắt gan thắt ruột cất lên: “Ối ông ơi, tôi với ông trong đạo xướng tùy, biết gì nói nhớ, biết gì nói thương, nỗi sầu trong thảm ngàn thương, từ đây hai ngả để âm dương cách vời... Tôi thương ông nói chẳng nên lời, tôi trông đất thì rộng, trông trời thì trời cao... Ối ông ơi...”
Hòa theo tiếng khóc là điệu kèn đưa đám í e não nùng. Quỳ mọp ngay linh cữu, bà cụ Lê cùng ba anh con trai mặc đồ xô trắng, đầu vấn khăn tang, khóc nức nở hòa theo. Cậu con cả của người đã khuất vừa quỳ sấp lạy vong linh thì tiếng khóc lại cất lên: “Ối bố ơi, chung rượu này con dâng lên bố mà như hình bóng bố vẫn còn đâu đây...”
Khách viếng đã vãn, người đàn ông than khóc suốt từ chiều đến gần nửa đêm mới có dịp ngồi dậy lật đật ra bàn nước đánh liền bốn chén và nở nụ cười tươi rói phủi chân leo lên sạp đánh chén sau khi nhận của tang chủ vài chục ngàn. Hỏi: “Ông là gì của người đã khuất?” Người đàn ông cười rất tươi: “Chẳng là gì cả, người ta thuê tôi đến để khóc đấy mà!”
Ông Xẻ kể: “Từ xa xưa, tiếng khóc được thay cho việc phúng điếu ở các đám tang trong làng quê chúng tôi, người đến viếng không phải “bao thư” đi điếu như bây giờ mà chỉ cần khóc than cho người quá cố là coi như đủ thể hiện tấm lòng thành của mình.
Từ bé, nhiều đứa trẻ trong làng đã được cha mẹ dạy các bài bản khóc thuê để khi đi dự đám tang có thể viếng tang gia bằng tiếng khóc. Những điệu khóc bi thương ai oán trước đây cất lên không nhằm kiếm tiền mà còn là một sinh hoạt nghĩa tình của người sống với người chết, giữa người dân trong thôn với nhau”.
Theo cụ Khang, một cao niên trong nghề khóc, rất nhiều “khóc sĩ” ở làng đã tỏa đi các tỉnh, thành, vào tận miền Nam xa xôi để hành nghề khóc “gia truyền” của làng. Các “khóc sĩ” ở làng có những “bí kíp” gia truyền mà không nơi nào có được.
Trước đây, các cụ tổ những đời trước không chỉ truyền miệng mà còn ghi lại thành những quyển sách dạy bí quyết, kỹ thuật khóc hẳn hoi cho con cháu tỏ tường mà nối nghiệp. Từ những bài giảng làm thế nào để khóc theo đúng điệu cho ngọt, cho mùi, cho thật truyền cảm đến những chương tâm lý khai thác đúng tâm trạng, hoàn cảnh, tình cảm, mối quan hệ giữa người sống với người đã khuất...
Việc rơi nước mắt đâu phải lúc nào cũng được ứng dụng. Ðối với hoàn cảnh nào, khách viếng là ai thì mới đưa khóc “khô” (không có nước mắt) hay khóc “ướt” (nước mắt đầm đìa) ra áp dụng. Theo sách ghi lại của làng, có đến 16 bài khóc thông dụng cho từng trường hợp, và các cụ tổ của làng còn ghi rõ năm điều cấm kỵ khi đi khóc thuê...
Ông Xẻ cho biết bí quyết độc đáo nhất của nghề chính là khóc “ướt”, nước mắt khi trào ra phải tự nhiên, chân thật và nhiều cảm xúc nhất, tuyệt đối không được rặn hay xoa dầu cho cay để nước mắt tuôn ra và mỗi khi tuôn lệ cũng phải khớp với các bài khóc đã được ấn định. Nghe thì đơn giản nhưng là cả một nghệ thuật, các “khóc sĩ” phải khổ luyện ít nhất năm năm ròng mới có khả năng thực hiện được...
* “Công nghệ”... rơi nước mắt
“Ngày trước đi khóc đâu có tiền bạc gì, ai muốn cho bao nhiêu cũng được, bọn tôi khóc như một cách thể hiện lòng đam mê và dịp để rèn luyện nghề của các cụ đấy thôi. Cái nghề của cha ông mình để lại mà, mình phải bảo tồn chứ.
Có bước vào nghề mới thấy khóc là cả một nghệ thuật, là vốn quý văn hóa của làng mình. Các cụ tổ đã dạy đi khóc thuê đừng chăm bẳm chỉ nghĩ đến tiền mà phải có cái tâm chia sẻ với người đã khuất, với tang gia thì mới trụ với nghề lâu dài được” - anh Nguyễn Thiện, một truyền nhân khá nổi tiếng ở Hòa Nghĩa, nói về “công nghệ” khóc như vậy.
Nhưng đó là chuyện trước đây, còn bây giờ khóc đang là công việc làm ăn nghiêm túc. Ban đầu quanh vùng nhiều tang chủ cứ phải mời cho bằng được các “khóc sĩ” ở Tân Phong, Hòa Nghĩa về khóc cho tang gia. Họ bảo rằng chỉ có tiếng khóc của dân làng này mới chân thật, mới có thể giãi bày thay tâm trạng của họ với người thân đã qua đời.
Các “khóc sĩ” như anh Thiện, anh Hạnh, ông Xẻ... phải chạy sô đám tang quanh năm. Một ngày có người phải chạy đi khóc 3-4 đám, có những đám cách xa nhau hàng trăm cây số, có khi đêm nay nhận đám khóc ở Hà Nội thì sáng sớm hôm sau lại phải xuống tận Cát Bà để khóc.
Khóc ở Hòa Nghĩa, Tân Phong bây giờ đã trở thành một “công nghệ” hẳn hoi. Nhiều “khóc sĩ” mở lò đào tạo nghệ thuật khóc cho những người từ nơi khác đến học nghề, lại có người mở thêm vài ba chi nhánh khóc thuê ở Ðồ Sơn, trung tâm TP Hải Phòng.
Một đêm khóc thuê với cả một đội kèn í e 4-5 người, tang chủ phải trả 400,000-500,000 đồng. Ðó là chưa kể tiền “bo” (tiền tip) riêng cho mỗi bài khóc từ 10,000-40,000 đồng.
“Chúng tôi có một giọng khóc và nghệ thuật diễn cảm riêng mà chẳng nơi nào “nhái” được” - anh Thiện tự hào nói. Một thời gian các quầy băng đĩa tổ chức thu âm tiếng khóc mang đi bán cho những gia đình có tang, nhưng tiếng khóc trong băng không có hồn, không truyền cảm nên người ta lại tìm đến đây.
“Chúng tôi chấp tất cả các loại băng đĩa đấy, nhiều người ở làng khác cho con em đến học hỏi mà còn chẳng thể theo được nghề này huống gì mấy cái đĩa, băng...!” - anh Thiện nói chắc như thế.
Từ 16 bài bản khóc “gia truyền”, hiện nay thế hệ hậu sinh đã “cải biên” ra hàng chục bài khóc, mà trình độ ngày càng cao hơn, lời khóc ngày càng ai oán hơn. Ông Xẻ kể: “Nhiều người khóc tài đến độ khách đến viếng cứ ngỡ họ là con cái trong tang gia, còn tang chủ khóc cứ như khách viếng. Thậm chí nhiều bài khóc đau lòng đến mức tang chủ quá xúc động đã ngất lịm ngay dưới quan tài!”
Sài Gòn: 18,000 công nhân đình công để phản đối chủ xí nghiệp thất hứa
Wednesday, December 28, 2005
SÀI GÒN - “Một vụ đình công với quy mô lớn nhất từ trước đến ở Sài Gòn đã xảy ra tại Công ty Freetrend (Khu chế xuất Linh Trung I, Q. Thủ Ðức) vào sáng 28/12.”
Báo điện tử VietnamNet cho hay như vậy trong ngày Thứ Tư 28-12-2005 và cho biết tiếp: Khoảng 18,000 công nhân của Công ty Freetrend (công ty có 100% vốn nước ngoài) đồng loạt đình công đòi tăng lương. Ðỉnh điểm của cuộc đình công là trong lúc chờ các cơ quan trách nhiệm tiến hành đàm phán, giải quyết nội tình, hàng chục công nhân quá khích đã đập phá cửa kính, nhà xưởng, lấy cắp thành phẩm. Cảnh sát 113, Công an quận Thủ Ðức kịp thời xuống hiện trường can thiệp và thiết lập lại ổn định.
Tiếp xúc với giới báo chí, các công nhân trình bày như sau: Tháng 11/2005, Công ty Freetrend thông báo sẽ đồng loạt nâng 30% lương cho toàn thể công nhân và sẽ bắt đầu áp dụng lương mới từ ngày 1/1/2006 trở đi. Thế nhưng, sau đó, công ty thông báo lại chỉ nâng lương cho công nhân tối đa 100,000 đồng/người. Các công nhân cho biết, cách điều chỉnh lương cào bằng này không đánh giá hết được tay nghề và mức độ đóng góp của họ, nhất là những công nhân đã làm việc lâu năm ở công ty.
Tuy vậy, đến ngày xảy ra vụ đình công (28/12), công ty tiếp tục thông báo điều chỉnh mức lương theo chủ trương mới. Theo đó, đối tượng công nhân thử việc được nâng lương từ 628,000 đồng/người/tháng lên 790,000 đồng/người/tháng; còn công nhân làm việc lâu năm chỉ được cộng thêm 160,000 đồng/người/tháng (tức chỉ tăng 100,000 đồng/ người/ tháng) trong khi đó, bình thường mỗi công nhân có thâm niên đều được hưởng phụ cấp 60,000 đồng/ người/ tháng.
Buổi sáng cùng ngày, đại diện Công ty Freetrend đã có buổi làm việc với Công đoàn và Phòng Quản lý lao động của Khu chế xuất Linh Trung I. Kết quả, phía công ty đã có hướng giải quyết mới. Theo đó, công ty giữ nguyên mức điều chỉnh lương cho công nhân mới là 790,000 đồng/người/tháng. Công nhân làm việc lâu năm sẽ được cộng thêm 160,000 đồng và giữ nguyên khoản phụ cấp thâm niên 60,000 đồng như trước đây. Riêng trợ lý và nhân viên cấp 3 được điều chỉnh 860,000 đồng/người/tháng.
Wednesday, December 28, 2005
SÀI GÒN - “Một vụ đình công với quy mô lớn nhất từ trước đến ở Sài Gòn đã xảy ra tại Công ty Freetrend (Khu chế xuất Linh Trung I, Q. Thủ Ðức) vào sáng 28/12.”
Báo điện tử VietnamNet cho hay như vậy trong ngày Thứ Tư 28-12-2005 và cho biết tiếp: Khoảng 18,000 công nhân của Công ty Freetrend (công ty có 100% vốn nước ngoài) đồng loạt đình công đòi tăng lương. Ðỉnh điểm của cuộc đình công là trong lúc chờ các cơ quan trách nhiệm tiến hành đàm phán, giải quyết nội tình, hàng chục công nhân quá khích đã đập phá cửa kính, nhà xưởng, lấy cắp thành phẩm. Cảnh sát 113, Công an quận Thủ Ðức kịp thời xuống hiện trường can thiệp và thiết lập lại ổn định.
Tiếp xúc với giới báo chí, các công nhân trình bày như sau: Tháng 11/2005, Công ty Freetrend thông báo sẽ đồng loạt nâng 30% lương cho toàn thể công nhân và sẽ bắt đầu áp dụng lương mới từ ngày 1/1/2006 trở đi. Thế nhưng, sau đó, công ty thông báo lại chỉ nâng lương cho công nhân tối đa 100,000 đồng/người. Các công nhân cho biết, cách điều chỉnh lương cào bằng này không đánh giá hết được tay nghề và mức độ đóng góp của họ, nhất là những công nhân đã làm việc lâu năm ở công ty.
Tuy vậy, đến ngày xảy ra vụ đình công (28/12), công ty tiếp tục thông báo điều chỉnh mức lương theo chủ trương mới. Theo đó, đối tượng công nhân thử việc được nâng lương từ 628,000 đồng/người/tháng lên 790,000 đồng/người/tháng; còn công nhân làm việc lâu năm chỉ được cộng thêm 160,000 đồng/người/tháng (tức chỉ tăng 100,000 đồng/ người/ tháng) trong khi đó, bình thường mỗi công nhân có thâm niên đều được hưởng phụ cấp 60,000 đồng/ người/ tháng.
Buổi sáng cùng ngày, đại diện Công ty Freetrend đã có buổi làm việc với Công đoàn và Phòng Quản lý lao động của Khu chế xuất Linh Trung I. Kết quả, phía công ty đã có hướng giải quyết mới. Theo đó, công ty giữ nguyên mức điều chỉnh lương cho công nhân mới là 790,000 đồng/người/tháng. Công nhân làm việc lâu năm sẽ được cộng thêm 160,000 đồng và giữ nguyên khoản phụ cấp thâm niên 60,000 đồng như trước đây. Riêng trợ lý và nhân viên cấp 3 được điều chỉnh 860,000 đồng/người/tháng.
Bọn khốn kiếp
[left]http://images-eu.amazon.com/images/P/B0 ... ZZZZZZ.jpg[/left]
SÀI GÒN 29-12- Vụ cựu ca sĩ nhạc Rock người Anh quốc Gary Glitter bị cáo buộc tội xâm hại tình dục trẻ em gái sắp được tòa án tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu mang ra xử thì mới đây công an thành phố Sài Gòn đã bắt ông Mueller Peter từ Áo sang Việt Nam. Người đàn ông 68 tuổi này bị cáo buộc đã quan hệ tình dục đồng giới với một số bé trai.
Báo trong nước cho hay, Mueller Peter đã trốn lệnh truy nã quốc tế về hành vi lạm dụng tình dục trẻ em. Sáng 26 tháng 12, Peter Mueller đã bị Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Bộ Công an bắt giữ theo quyết định truy nã quốc tế.
Peter Mueller bị bắt trong lúc đang “chung sống” với một bé trai 14 tuổi tên là K. tại một phòng trọ ở Sài Gòn. Ông ta khai đã sống như vậy 2 năm nay. K. cho biết, năm 2003, trong chuyến tham gia một chương trình xã hội tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam, Peter Mueller làm quen với em, đang học lớp 7. Người đàn ông đó thuyết phục ba mẹ K. đưa em vào Sài Gòn để học ngoại ngữ và hứa sẽ bảo lãnh sang Áo định cư. Sau đó K. theo Peter Mueller vào Sài Gòn thuê nhà trọ trên đường Nguyễn Thành Ý.
Theo hồ sơ của cơ quan công an, ở Việt Nam, Peter Mueller từng có quan hệ “mật thiết” với nhiều bé trai khác. Bước đầu, các em cung cấp cho cơ quan điều tra những thông tin quan trọng về hành vi bệnh hoạn của Peter Mueller. Ngày 28 tháng 12, hai đứa trẻ đã được cơ quan điều tra đưa về trụ sở Bộ Công an phía Nam. Hôm nay, điều tra viên sẽ làm việc với các em.
Ngày 28 tahng 12, Tổng cục Cảnh sát đã gửi công văn đến Bộ Công an và Bộ Ngoại giao, xin ý kiến về trường hợp đặc biệt này. Cơ quan điều tra của Tổng cục Cảnh sát xác định Mueller Peter (Bradford, 68 tuổi, quốc tịch Áo) đã có đầy đủ yếu tố cấu thành tội “xâm hại tình dục trẻ em” tại Việt Nam, cụ thể là với K.
Chiều cùng ngày, đại diện Đại sứ quán Áo ở Hà Nội đã tới Sài Gòn và trực tiếp đến trụ sở Bộ Công an phía Nam tiếp xúc với cơ quan điều tra để tống đạt lệnh bắt giữ Mueller Peter theo lệnh của Tòa án khu vực Innsleruck (Áo).
Theo báo Tuổi Trẻ, Peter Mueller có “bề dày thành tích” về hành vi lạm dụng tình dục trẻ em ngay tại quê nhà. Năm 2003, ông ta bị cảnh sát Áo khởi tố về hành vi trên. Cuối 2003, Peter Mueller trốn sang VN, tham gia các hoạt động xã hội và dạy tiếng Anh tại một trung tâm ngoại ngữ ở quận 1, Sài Gòn. Tháng 5, người này bị Interpol phát lệnh truy nã quốc tế.
Những tên khốn kiếp:


xem them o day
[left]http://images-eu.amazon.com/images/P/B0 ... ZZZZZZ.jpg[/left]
SÀI GÒN 29-12- Vụ cựu ca sĩ nhạc Rock người Anh quốc Gary Glitter bị cáo buộc tội xâm hại tình dục trẻ em gái sắp được tòa án tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu mang ra xử thì mới đây công an thành phố Sài Gòn đã bắt ông Mueller Peter từ Áo sang Việt Nam. Người đàn ông 68 tuổi này bị cáo buộc đã quan hệ tình dục đồng giới với một số bé trai.
Báo trong nước cho hay, Mueller Peter đã trốn lệnh truy nã quốc tế về hành vi lạm dụng tình dục trẻ em. Sáng 26 tháng 12, Peter Mueller đã bị Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Bộ Công an bắt giữ theo quyết định truy nã quốc tế.
Peter Mueller bị bắt trong lúc đang “chung sống” với một bé trai 14 tuổi tên là K. tại một phòng trọ ở Sài Gòn. Ông ta khai đã sống như vậy 2 năm nay. K. cho biết, năm 2003, trong chuyến tham gia một chương trình xã hội tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam, Peter Mueller làm quen với em, đang học lớp 7. Người đàn ông đó thuyết phục ba mẹ K. đưa em vào Sài Gòn để học ngoại ngữ và hứa sẽ bảo lãnh sang Áo định cư. Sau đó K. theo Peter Mueller vào Sài Gòn thuê nhà trọ trên đường Nguyễn Thành Ý.
Theo hồ sơ của cơ quan công an, ở Việt Nam, Peter Mueller từng có quan hệ “mật thiết” với nhiều bé trai khác. Bước đầu, các em cung cấp cho cơ quan điều tra những thông tin quan trọng về hành vi bệnh hoạn của Peter Mueller. Ngày 28 tháng 12, hai đứa trẻ đã được cơ quan điều tra đưa về trụ sở Bộ Công an phía Nam. Hôm nay, điều tra viên sẽ làm việc với các em.
Ngày 28 tahng 12, Tổng cục Cảnh sát đã gửi công văn đến Bộ Công an và Bộ Ngoại giao, xin ý kiến về trường hợp đặc biệt này. Cơ quan điều tra của Tổng cục Cảnh sát xác định Mueller Peter (Bradford, 68 tuổi, quốc tịch Áo) đã có đầy đủ yếu tố cấu thành tội “xâm hại tình dục trẻ em” tại Việt Nam, cụ thể là với K.
Chiều cùng ngày, đại diện Đại sứ quán Áo ở Hà Nội đã tới Sài Gòn và trực tiếp đến trụ sở Bộ Công an phía Nam tiếp xúc với cơ quan điều tra để tống đạt lệnh bắt giữ Mueller Peter theo lệnh của Tòa án khu vực Innsleruck (Áo).
Theo báo Tuổi Trẻ, Peter Mueller có “bề dày thành tích” về hành vi lạm dụng tình dục trẻ em ngay tại quê nhà. Năm 2003, ông ta bị cảnh sát Áo khởi tố về hành vi trên. Cuối 2003, Peter Mueller trốn sang VN, tham gia các hoạt động xã hội và dạy tiếng Anh tại một trung tâm ngoại ngữ ở quận 1, Sài Gòn. Tháng 5, người này bị Interpol phát lệnh truy nã quốc tế.
Những tên khốn kiếp:


xem them o day
Glitter bồi thường cho gia đình hai em gái
Tin từ Việt Nam cho hay cựu ca sĩ Anh, Gary Glitter đã bồi thường cho hai em gái vị thành niên mà ông bị cáo buộc đã xâm hại tình dục.
Luật sư của Glitter, Lê Thành Kính cho các phóng viên biết gia đình mỗi em được trả 2.000 đôla. Ls Kính nghĩ rằng nhờ vậy bản án có thể sẽ được giảm nhẹ khi Glitter ra tòa. Gia đình của hai em, 11 và 12 tuổi này trước đó đòi nhiều hơn, nhưng sau đồng ý chỉ có vậy. Ls Kính nói, "sau khi nhận tiền gia đình hai em đã viết thư cho Cơ quan điều tra biết họ không muốn ra tòa và xin hủy bỏ các cáo trạng."
Các nhà vận động cho công lý như Fair Trials Abroad trụ sở tại Anh gọi trả tiền như vậy thật là ''xấu hổ''. Stephen Jakobi, giám đốc tổ chức này nói, "Vụ án Gary Glitter là một trong những thí dụ trắng trợn cho thấy người ta mua đứt công tố."
Nhưng trưởng Cơ quan điều tra Bà Rịa, Thượng tá Trương Đình Tựu nói với BBC rằng chuyện giải quyết dân sự này không ảnh hưởng đến cuộc điều tra và vụ án vẫn được đem ra xử, mặc dù tòa có thể cứu xét khi tuyên án.
Trước đó Cơ quan điều tra bỏ không truy tố Glitter tội hiếp dâm vì không có đủ chứng cứ, mà chỉ còn giữ tội có hành động dâm ô với trẻ dưới tuổi vị thành niên.
Ông Glitter, 61 tuổi, tên thật là Paul Francis Gad hiện đang bị giam giữ tại thành phố Vũng Tàu. Ông Glitter bị bắt ở sân bay Tân Sơn Nhất khi tìm cách qua Bangkok sau khi báo chí nước ngoài bắt đầu có những tường thuật về cáo giác xâm hại tình dục trẻ em ở Vũng Tàu nơi ông tạm trú trong nửa năm qua.
Cơ quan điều tra quyết định tạm giam Glitter trong bốn tháng để điều tra. Luật của Việt Nam cho phép giữ một người tối đa 12 tháng trước khi chính thức truy tố.
Glitter đã từng bị tù 4 tháng tại Anh năm 1999 vì tàng trữ ảnh khiêu dâm trẻ em. Ông cũng bị Campuchia cấm nhập cảnh vĩnh viễn vì lý do được nói là nghi ngờ xâm hại tình dục trẻ vị thành niên.
(BBC)
Tin từ Việt Nam cho hay cựu ca sĩ Anh, Gary Glitter đã bồi thường cho hai em gái vị thành niên mà ông bị cáo buộc đã xâm hại tình dục.
Luật sư của Glitter, Lê Thành Kính cho các phóng viên biết gia đình mỗi em được trả 2.000 đôla. Ls Kính nghĩ rằng nhờ vậy bản án có thể sẽ được giảm nhẹ khi Glitter ra tòa. Gia đình của hai em, 11 và 12 tuổi này trước đó đòi nhiều hơn, nhưng sau đồng ý chỉ có vậy. Ls Kính nói, "sau khi nhận tiền gia đình hai em đã viết thư cho Cơ quan điều tra biết họ không muốn ra tòa và xin hủy bỏ các cáo trạng."
Các nhà vận động cho công lý như Fair Trials Abroad trụ sở tại Anh gọi trả tiền như vậy thật là ''xấu hổ''. Stephen Jakobi, giám đốc tổ chức này nói, "Vụ án Gary Glitter là một trong những thí dụ trắng trợn cho thấy người ta mua đứt công tố."
Nhưng trưởng Cơ quan điều tra Bà Rịa, Thượng tá Trương Đình Tựu nói với BBC rằng chuyện giải quyết dân sự này không ảnh hưởng đến cuộc điều tra và vụ án vẫn được đem ra xử, mặc dù tòa có thể cứu xét khi tuyên án.
Trước đó Cơ quan điều tra bỏ không truy tố Glitter tội hiếp dâm vì không có đủ chứng cứ, mà chỉ còn giữ tội có hành động dâm ô với trẻ dưới tuổi vị thành niên.
Ông Glitter, 61 tuổi, tên thật là Paul Francis Gad hiện đang bị giam giữ tại thành phố Vũng Tàu. Ông Glitter bị bắt ở sân bay Tân Sơn Nhất khi tìm cách qua Bangkok sau khi báo chí nước ngoài bắt đầu có những tường thuật về cáo giác xâm hại tình dục trẻ em ở Vũng Tàu nơi ông tạm trú trong nửa năm qua.
Cơ quan điều tra quyết định tạm giam Glitter trong bốn tháng để điều tra. Luật của Việt Nam cho phép giữ một người tối đa 12 tháng trước khi chính thức truy tố.
Glitter đã từng bị tù 4 tháng tại Anh năm 1999 vì tàng trữ ảnh khiêu dâm trẻ em. Ông cũng bị Campuchia cấm nhập cảnh vĩnh viễn vì lý do được nói là nghi ngờ xâm hại tình dục trẻ vị thành niên.
(BBC)
Hà Nội phản đối Đài Loan xây phi đạo trên đảo Ba Bình
Thursday, December 29, 2005
HÀ NỘI 29-12 (TH) - Hà Nội lên tiếng cảnh cáo Ðài Loan trong ngày Thứ Năm 29-12-2005 về việc đảo quốc này xây phi đạo trên đảo Ba Bình, một đảo do Ðài Loan chiếm giữ thuộc quần đảo Trường Sa.
“Ngày 29-12 người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Dũng đã lên tiếng phản đối việc Ðài Loan tiến hành xây dựng đường băng trên đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam và nói rằng hành động này của Ðài Loan là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.”
Bản tin Thông tấn xã CSVN tường thuật như thế. “Việc phía Ðài Loan tiến hành xây dựng đường băng trên đảo Ba Bình là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình hòa bình, ổn định và xu thế tăng cường hợp tác hiện nay ở khu vực theo tinh thần của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Ðông (DOC)”. Hãng tin nhà nước TTXVN nói Lê Dũng trả lời một “Một số phóng viên trong nước và nước ngoài về vấn đề này” như vậy.
Lê Dũng cũng lập lại lập trường của Hà Nội xác nhận chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa “có đầy đủ bằng chứng lịch sử”.
Ðảo Ba Bình, còn gọi là đảo Thái Bình nhưng trên bản đồ hàng hải quốc tế ghi là Itu Aba, là đảo lớn nhất trong hơn một trăm đảo nhỏ thuộc hệ thống quần đảo Trường Sa, dài 1,400 mét, ngang 600 mét. Ðài Loan chiếm giữ đảo này từ năm 1949 sau khi quân Nhật rút khỏi. Việt Nam Công Hòa, rồi sau đó CSVN giữ một số đảo, Phi Luật Tân, Mã Lai giữ một số đảo.
Từ thập niên 80, Trung cộng chiếm một số đảo mà Việt Nam và Phi Luật Tân nhìn nhận chủ quyền rồi xây công sự kiên cố có cả đài radar, hệ thống viễn thông tối tân để kiểm soát toàn thể khu vực biển đông cũng như theo dõi hoạt động của các nước khác ở khu vực cũng xác nhận chủ quyền tại Trường Sa.
Năm 1988, Trung cộng đánh chìm một số tàu CSVN và chiếm giữ đảo Johnson Reef. Năm 1995 Trung Cộng chiếm đảo Vành Khăn (Mischief) từ Phi Luật Tân.
Nhiều năm qua, các nước nhìn nhận chủ quyền quần đảo Trường Sa, đặc biệt Ðài Loan, Trung Cộng, Việt Nam, Phi Luật Tân, thường xuyên tố cáo lẫn nhau vi phạm chủ quyền khi xây dựng các cơ sở, công sự. Nhưng ngày 1-11-2005, Trung cộng, Việt Nam và Phi Luật Tân ký thỏa thuận cùng hợp tác dò tìm dầu khí ở khu vực quần đảo Trường Sa.
Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Cộng chiếm từ 1974 sau một trận hải chiến với hải quân VNCH. Từ đó đến nay, Trung Cộng hàng năm cấm vùng biển này ít ngày để tập diễn quân sự, cấm tàu bè quốc tế qua lại. Hà Nội phản đối có tính hình thức nên không có gì thay đổi.
Thursday, December 29, 2005
HÀ NỘI 29-12 (TH) - Hà Nội lên tiếng cảnh cáo Ðài Loan trong ngày Thứ Năm 29-12-2005 về việc đảo quốc này xây phi đạo trên đảo Ba Bình, một đảo do Ðài Loan chiếm giữ thuộc quần đảo Trường Sa.
“Ngày 29-12 người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Dũng đã lên tiếng phản đối việc Ðài Loan tiến hành xây dựng đường băng trên đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam và nói rằng hành động này của Ðài Loan là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.”
Bản tin Thông tấn xã CSVN tường thuật như thế. “Việc phía Ðài Loan tiến hành xây dựng đường băng trên đảo Ba Bình là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình hòa bình, ổn định và xu thế tăng cường hợp tác hiện nay ở khu vực theo tinh thần của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Ðông (DOC)”. Hãng tin nhà nước TTXVN nói Lê Dũng trả lời một “Một số phóng viên trong nước và nước ngoài về vấn đề này” như vậy.
Lê Dũng cũng lập lại lập trường của Hà Nội xác nhận chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa “có đầy đủ bằng chứng lịch sử”.
Ðảo Ba Bình, còn gọi là đảo Thái Bình nhưng trên bản đồ hàng hải quốc tế ghi là Itu Aba, là đảo lớn nhất trong hơn một trăm đảo nhỏ thuộc hệ thống quần đảo Trường Sa, dài 1,400 mét, ngang 600 mét. Ðài Loan chiếm giữ đảo này từ năm 1949 sau khi quân Nhật rút khỏi. Việt Nam Công Hòa, rồi sau đó CSVN giữ một số đảo, Phi Luật Tân, Mã Lai giữ một số đảo.
Từ thập niên 80, Trung cộng chiếm một số đảo mà Việt Nam và Phi Luật Tân nhìn nhận chủ quyền rồi xây công sự kiên cố có cả đài radar, hệ thống viễn thông tối tân để kiểm soát toàn thể khu vực biển đông cũng như theo dõi hoạt động của các nước khác ở khu vực cũng xác nhận chủ quyền tại Trường Sa.
Năm 1988, Trung cộng đánh chìm một số tàu CSVN và chiếm giữ đảo Johnson Reef. Năm 1995 Trung Cộng chiếm đảo Vành Khăn (Mischief) từ Phi Luật Tân.
Nhiều năm qua, các nước nhìn nhận chủ quyền quần đảo Trường Sa, đặc biệt Ðài Loan, Trung Cộng, Việt Nam, Phi Luật Tân, thường xuyên tố cáo lẫn nhau vi phạm chủ quyền khi xây dựng các cơ sở, công sự. Nhưng ngày 1-11-2005, Trung cộng, Việt Nam và Phi Luật Tân ký thỏa thuận cùng hợp tác dò tìm dầu khí ở khu vực quần đảo Trường Sa.
Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Cộng chiếm từ 1974 sau một trận hải chiến với hải quân VNCH. Từ đó đến nay, Trung Cộng hàng năm cấm vùng biển này ít ngày để tập diễn quân sự, cấm tàu bè quốc tế qua lại. Hà Nội phản đối có tính hình thức nên không có gì thay đổi.
Hà Nội: Tiệc Tất niên, thịt chó đắt hàng
HÀ NỘI 30-12 - Dịp cuối năm, hầu như tất cả nhà hàng ở Hà Nội đều kín chỗ vì hầu hết các cơ quan nhà nước đều tổ chức tiệc Tất niên. Báo điện tử Dân Trí cho hay thịt chó là món ăn rất bình dân, thế nhưng xuất phát từ tâm lý ăn thịt chó “giải xui” vào dịp cuối năm nên tất cả các nhà hàng thịt chó trong những ngày này đều chật cứng.
Báo này tường thuật: “Tại nhà hàng Quán Lá ở khu vực đường Giải Phóng, mặc dù mùa Ðông nhưng những người giữ xe mặt đỏ găng, lấm tấm mồ hôi vì lo xếp chỗ cho khách hàng. Tại khu vực đê Yên Phụ, nơi nổi tiếng với các nhà hàng thịt chó mà lâu nay người dân đã quen tên như Hồ Kiểng, Anh Tú,... đều kín chỗ. Chẳng phải riêng các nhà hàng thịt chó, các nhà hàng khác cũng đông nườm nượp khách. Nhân viên nhà hàng phải làm việc tất bật hơn ngày thường với khối lượng công việc nhiều ít nhất là gấp rưỡi. Lượng người đi liên hoan rất đông, phần đông là các cơ quan, đoàn thể...
Trưa ngày 30 tháng 12, nhiều nhà hàng ở khu vực Thái Hà, Mai Hắc Ðế, Hàng Bài... quá đông thực khách. Họ đến đây hỉ hả liên hoan chia chác tiền thưởng Tết Tây, còn người của nhà hàng thì chạy đôn đáo. Một chủ hàng trên đường Hàng Bài nói: “Khách đi từ 10 người trở lên thì chắc chắn phải đặt chỗ trước chúng tôi mới có thể sắp xếp.”
Ngay cả những nhà hàng bình dân cũng tăng vọt khách. Chiều chiều, dọc đường Phùng Hưng, các quán bia, hàng lẩu dọc phố ngày thường đã đông khách, giờ còn đông hơn rất nhiều.
Vẫn theo báo Dân Trí, từ nhiều năm nay, ngồi bù khú một bữa tất niên với bạn bè thân hữu là thói quen của nhiều người. Chúc tụng nhau một vài chén rượu buổi cuối năm, người ta có cảm giác mọi muộn phiền lúc ấy như được gột sạch. Tất cả cùng hướng đến một năm mới...
HÀ NỘI 30-12 - Dịp cuối năm, hầu như tất cả nhà hàng ở Hà Nội đều kín chỗ vì hầu hết các cơ quan nhà nước đều tổ chức tiệc Tất niên. Báo điện tử Dân Trí cho hay thịt chó là món ăn rất bình dân, thế nhưng xuất phát từ tâm lý ăn thịt chó “giải xui” vào dịp cuối năm nên tất cả các nhà hàng thịt chó trong những ngày này đều chật cứng.
Báo này tường thuật: “Tại nhà hàng Quán Lá ở khu vực đường Giải Phóng, mặc dù mùa Ðông nhưng những người giữ xe mặt đỏ găng, lấm tấm mồ hôi vì lo xếp chỗ cho khách hàng. Tại khu vực đê Yên Phụ, nơi nổi tiếng với các nhà hàng thịt chó mà lâu nay người dân đã quen tên như Hồ Kiểng, Anh Tú,... đều kín chỗ. Chẳng phải riêng các nhà hàng thịt chó, các nhà hàng khác cũng đông nườm nượp khách. Nhân viên nhà hàng phải làm việc tất bật hơn ngày thường với khối lượng công việc nhiều ít nhất là gấp rưỡi. Lượng người đi liên hoan rất đông, phần đông là các cơ quan, đoàn thể...
Trưa ngày 30 tháng 12, nhiều nhà hàng ở khu vực Thái Hà, Mai Hắc Ðế, Hàng Bài... quá đông thực khách. Họ đến đây hỉ hả liên hoan chia chác tiền thưởng Tết Tây, còn người của nhà hàng thì chạy đôn đáo. Một chủ hàng trên đường Hàng Bài nói: “Khách đi từ 10 người trở lên thì chắc chắn phải đặt chỗ trước chúng tôi mới có thể sắp xếp.”
Ngay cả những nhà hàng bình dân cũng tăng vọt khách. Chiều chiều, dọc đường Phùng Hưng, các quán bia, hàng lẩu dọc phố ngày thường đã đông khách, giờ còn đông hơn rất nhiều.
Vẫn theo báo Dân Trí, từ nhiều năm nay, ngồi bù khú một bữa tất niên với bạn bè thân hữu là thói quen của nhiều người. Chúc tụng nhau một vài chén rượu buổi cuối năm, người ta có cảm giác mọi muộn phiền lúc ấy như được gột sạch. Tất cả cùng hướng đến một năm mới...
Sài Gòn: Vàng mã đốt mỗi năm hàng trăm ngàn đô la
Monday, January 02, 2006
SÀI GÒN 02-01 - Chỉ trong 3 năm không cho đốt vàng mã, chùa Liên Hoa ở thành phố Sài Gòn đã quyên góp được 400 triệu đồng (gần 30 ngàn đô la) làm từ thiện. Số tiền này cho thấy, mỗi năm cả thành phố Sài Gòn với gần 8 triệu dân đã đốt hàng trăm ngàn đô la vào vàng mã.
Báo Người Lao Ðộng cho biết, cứ vào dịp cuối năm Âm Lịch, thị trường vàng mã lại rộn ràng. Chợ nào cũng tấp nập khách hàng, có những thương lái ở miền Trung, miền Tây đến đặt trước cho kịp thời vụ.
Tại chợ Bà Chiểu (quận Bình Thạnh) ngang qua dãy hàng vàng mã, một thanh niên đon đả mời bằng một giọng giảo hoạt: “Mời anh mua đi kẻo hết hàng độc!” Trời ạ, hàng mã mà cũng có hàng độc nữa ư? Thấy khách lớ ngớ chưa hiểu, cậu ta chìa ra tấm danh thiếp: “Nếu cần, anh nhớ đến tiệm em nhé!” Bên góc trái tấm danh thiếp có hình vẽ một cái nhà lầu dạng biệt thự, bên góc phải là chiếc xe hơi và xe Dream. Nếu không có dòng chữ “Tiệm nhang đèn...” thì chắc khách hàng ngỡ đây là dịch vụ mua bán nhà cửa, xe hơi, xe máy! Giá cả cũng đủ loại: Dream nhỏ - 15,000 đồng, lớn (như thật) - 90,000 đồng; nhà trệt 40,000 đồng, biệt thự 600,000 đồng, biệt thự có sân vườn trên l triệu đồng...
Ở chợ Bà Chiểu này chỉ có 7 sạp nhang đèn nhưng cung cấp hàng mã thì khá mạnh. Trong con hẻm ngoằn ngoèo trên đường Bạch Ðằng, quận Bình Thạnh có cả một khu chuyên làm đồ mã và mấy chục hộ trên đường Vũ Tùng cũng sống bằng nghề này. Tương tự, tại chợ Bình Tây, quận 6, hơn 20 sạp nhang đèn san sát nhau, đỏ rực màu giấy mã, vàng chói những thỏi vàng mã được gói gọn trong bọc ni lông. Phóng viên báo Người Lao Ðộng hỏi một anh bán hàng ở sạp: “Có xe hơi không?” “Ồ sao lại không? Tụi tui còn làm hàng xuất khẩu nữa chứ mấy chiếc xe hơi ấy nhằm nhò gì!” Ông chủ tiệm trả lời và không quên chìa ra một quyển album tiếp thị. Ông ta bồi tiếp: “Ưng ý xe nào, nhà nào anh đặt tiền cọc đi, rồi hôm sau trở lại lấy hàng, trong tấm thiếp có số điện thoại để liên hệ”. Tôi ậm ừ cho qua chuyện, tìm cớ rút lui sau khi mua 10 thỏi vàng giá 3,000 đồng, một chiếc áo sơ mi giá 5,000 đồng, xấp đô la của “ngân hàng địa phủ” giá 2,000 đồng...
Ðến khu chợ Thiếc đường Phó Cơ Ðiều và đường Tân Phước, quận 11, cũng có bán đồ hàng mã, nhưng kiểu dáng khác hơn. Ở đây chuyên bán những loại xe Spacy, Dylan và những dàn máy đĩa, karaoke... Anh A Xây, người Hoa, chuyên làm thứ này, cho biết khách hàng miền Trung chỉ ưa áo giấy, còn miền Nam thì ưa xe cộ, đầu máy. Ðứng bên anh khoảng 20 phút mà thấy hơn 10 người vào đặt hàng đủ loại.
Monday, January 02, 2006
SÀI GÒN 02-01 - Chỉ trong 3 năm không cho đốt vàng mã, chùa Liên Hoa ở thành phố Sài Gòn đã quyên góp được 400 triệu đồng (gần 30 ngàn đô la) làm từ thiện. Số tiền này cho thấy, mỗi năm cả thành phố Sài Gòn với gần 8 triệu dân đã đốt hàng trăm ngàn đô la vào vàng mã.
Báo Người Lao Ðộng cho biết, cứ vào dịp cuối năm Âm Lịch, thị trường vàng mã lại rộn ràng. Chợ nào cũng tấp nập khách hàng, có những thương lái ở miền Trung, miền Tây đến đặt trước cho kịp thời vụ.
Tại chợ Bà Chiểu (quận Bình Thạnh) ngang qua dãy hàng vàng mã, một thanh niên đon đả mời bằng một giọng giảo hoạt: “Mời anh mua đi kẻo hết hàng độc!” Trời ạ, hàng mã mà cũng có hàng độc nữa ư? Thấy khách lớ ngớ chưa hiểu, cậu ta chìa ra tấm danh thiếp: “Nếu cần, anh nhớ đến tiệm em nhé!” Bên góc trái tấm danh thiếp có hình vẽ một cái nhà lầu dạng biệt thự, bên góc phải là chiếc xe hơi và xe Dream. Nếu không có dòng chữ “Tiệm nhang đèn...” thì chắc khách hàng ngỡ đây là dịch vụ mua bán nhà cửa, xe hơi, xe máy! Giá cả cũng đủ loại: Dream nhỏ - 15,000 đồng, lớn (như thật) - 90,000 đồng; nhà trệt 40,000 đồng, biệt thự 600,000 đồng, biệt thự có sân vườn trên l triệu đồng...
Ở chợ Bà Chiểu này chỉ có 7 sạp nhang đèn nhưng cung cấp hàng mã thì khá mạnh. Trong con hẻm ngoằn ngoèo trên đường Bạch Ðằng, quận Bình Thạnh có cả một khu chuyên làm đồ mã và mấy chục hộ trên đường Vũ Tùng cũng sống bằng nghề này. Tương tự, tại chợ Bình Tây, quận 6, hơn 20 sạp nhang đèn san sát nhau, đỏ rực màu giấy mã, vàng chói những thỏi vàng mã được gói gọn trong bọc ni lông. Phóng viên báo Người Lao Ðộng hỏi một anh bán hàng ở sạp: “Có xe hơi không?” “Ồ sao lại không? Tụi tui còn làm hàng xuất khẩu nữa chứ mấy chiếc xe hơi ấy nhằm nhò gì!” Ông chủ tiệm trả lời và không quên chìa ra một quyển album tiếp thị. Ông ta bồi tiếp: “Ưng ý xe nào, nhà nào anh đặt tiền cọc đi, rồi hôm sau trở lại lấy hàng, trong tấm thiếp có số điện thoại để liên hệ”. Tôi ậm ừ cho qua chuyện, tìm cớ rút lui sau khi mua 10 thỏi vàng giá 3,000 đồng, một chiếc áo sơ mi giá 5,000 đồng, xấp đô la của “ngân hàng địa phủ” giá 2,000 đồng...
Ðến khu chợ Thiếc đường Phó Cơ Ðiều và đường Tân Phước, quận 11, cũng có bán đồ hàng mã, nhưng kiểu dáng khác hơn. Ở đây chuyên bán những loại xe Spacy, Dylan và những dàn máy đĩa, karaoke... Anh A Xây, người Hoa, chuyên làm thứ này, cho biết khách hàng miền Trung chỉ ưa áo giấy, còn miền Nam thì ưa xe cộ, đầu máy. Ðứng bên anh khoảng 20 phút mà thấy hơn 10 người vào đặt hàng đủ loại.

