Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Oanh Tạc Viagra
Bạn hiền,
Tính đến ngày hôm nay thì cuộc chiến giữa đế quốc Mỹ và kẻ thù vô hình đã bước vào năm thứ Ba. Sở dĩ BTL tôi gọi là kẻ thù vô hình vì coi trên truyền hình ngoại trừ ông trùm râu xồm bin Laden ra BTL tôi chưa thấy mặt mũi của mấy tên khủng bố trong cái nhóm al Qaeta bao giờ.
Dội bom mà không biết kẻ thù nó nằm chỗ mô thì phí phạm quá bạn hiền nhỉ Mỗi quả bom là mỗi công sức lao động của người dân Mỹ, trong đó có tiền đóng thuế của tôi và bạn hiền. Ném bom kiểu xã láng như vậy không khác nào vung tiền qua cửa sổ!
Nhưng thưa bạn hiền, cái màn Mỹ dội bom bừa bãi này thì đâu có gì mới lạ! Năm xưa họ đã từng dùng pháo đài B-52 thả bom kiểu trải thảm trên rừng Trường Sơn và 12 ngày đêm ở Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh phía Bắc năm 72. Thế mà BTL tôi cứ ngỡ ngày nay với vũ khí tối tân, với những quả bom thông minh được lèo lái bằng vệ tinh, bằng tia lazer thì không cần phải ném bom bừa bãi nữa chứ. Bạn hiền, thật ra thì trong vài tuần lễ đầu của cuộc oanh tạc, Mỹ cũng dùng bom thông minh, nhưng vì quá thông minh nên thay vì bay vào cứ điểm kẻ thù nó nhằm vào bệnh viện và nhà dân mà lao tới. Bom thông minh thì chắc chắn mắc tiền hơn bom ngu ngốc rồi, tốn tiền mà không đạt kết quả mong muốn, thì thà ném bừa cho xong. Đó là chuyện Mỹ đang làm.
Bạn hiền, mới đây cơ quan tình báo CIA của Mỹ tuyên bố trước công chúng là họ đang thu thập ý kiến của bàng dân về những phương pháp chống khủng bố. Chuyện khó tin nhưng có thật. Cơ quan CIA, với ngân khoản 30 tỉ đô-la mà không làm ăn được gì hết, đến nỗi để bọn khủng bố vào Mỹ, học lái máy bay từ trường Mỹ, cướp máy bay của Mỹ (4 chiếc 1 lúc), rồi đâm đầu vào những biểu tượng sức mạnh của Mỹ, mà cơ quan tình báo của Mỹ chẳng biết ất giáp gì hết. BTL tôi tự hỏi như vậy 30 tỉ đô-la cung cấp cho CIA để làm cái quái gì?
Chữ CIA viết tắt của "Center of Intelligence Agency", Intellegence có nghĩa là thông minh. BTL tôi thấy cơ quan này không xứng đáng với tên gọi, có lẽ phải đổi lại là CSA thì đúng hơn.
Bạn hiền, bây giờ thì CIA bí quá, đến nỗi phải kêu gọi dân ngu khu đen bài binh bố trận dùm để chống lại bọn khủng bố. Mẹ kiếp! Hàng năm được tài trợ cả tỉ đô mà đi xin ý kiến bàng dân mà không biết xấu hổ.
Ý kiến ý ruồi thì BTL tôi có thừa, nhưng không biết cơ quan phản gián có chịu nghe theo không hà! Nhưng chắc chắn có nhiều người còn cao kiến hơn. Hay là cơ quan tình báo CIA của Mỹ hãy nghe theo cơ quan tình báo của Do Thái (Mossad), mới đây Mossad đề nghị rằng đa số các tên khủng bố Trung Đông theo đạo Hồi giáo, mà đạo Hồi thì bạn hiền biết rồi, họ kỳ giống heo lắm, không hiểu tại sao họ kỳ thị cái loài thú vật rất mạnh về cái chuyện "ấy". Có lẽ tại giống heo lúc nào cũng nghĩ đến chuyện ấy, chỉ biết "ăn, ngủ, ấy, ị" thôi, không suy nghĩ đến những lý tưởng cao cả của Thánh Allah, nên các con chiên hồi giáo phải tránh xa, hay là tại loài heo này dơ dáy quá cho nên những anh Rệp, vốn dĩ cũng chẳng sạch sẽ gì, phải tránh xa.
Lí do tại sao chúng ta không cần biết, chỉ biết rằng họ kỵ cái đám con cháu của Trư Bát Giới này lắm, và không bao giờ muốn đội trời chung với "con lợn ủn ỉn mua tôi củ hành". Dựa theo nguyên lý đó cho nên mới đây cơ quan phản gián Mossad của Do Thái mới đề nghị rằng để chống không tặc Hồi giáo, trên mỗi chuyến bay nhớ chở theo vài con heo. Chuyến bay đó chắc chắn sẽ không bị không tặc dở trò cảm tử quân, vì làm vậy họ sẽ bị chết chung với con vật dơ dáy, do đó sẽ không được lên thiên đàng.
Ý kiến này mới nghe có vẻ ngu ngốc nhưng nghĩ kỹ thì thấy có lý. Vì thế, sau này đi máy bay, biết đâu bạn hiền sẽ nghe qua loa phóng thanh: "Kính thưa hành khách, hôm nay chuyến bay của chúng ta có sự hiện diện của Mr. Pig ở trong khoang hành lý. Chúng tôi muốn nhắc nhở, để quý hành khách được yên tâm", hoặc giả sử nếu có bước lên phi cơ, gặp họ Trư ngồi chễm chệ ở toa hạng nhất thì bạn hiền chớ có lấy làm ngạc nhiên.
Đó là cao kiến của Mossad. Còn BTL tôi thì có ý kiến khác. Hiện nay Hoa kỳ đang nhức đầu với tên đầu xỏ bin Laden, đem biết bao nhiêu bom đạn để thay trời làm mưa trên đất A Phú Hãn, nơi trùm bin Laden đang nấp ở dưới cái hang hốc nào đó, mà chẳng thanh toán được hắn. BTL tôi đề nghị thay vì dội bom, Mỹ nên rãi thuốc Viagara khắp tất cả các hang động nơi tình nghi có bin Laden và đàn em al Qaeta đang ẩn náo. Thuốc thấm vào người, chịu không thấu bảo đản bọn chúng sẽ trồi lên mặt đất tìm chỗ xã xui!
Vì thế một ngày nào đó bạn hiền đọc được bản tin như sau thì phải nhớ đó là do công của BTL tôi.
BTL
Bạn hiền,
Tính đến ngày hôm nay thì cuộc chiến giữa đế quốc Mỹ và kẻ thù vô hình đã bước vào năm thứ Ba. Sở dĩ BTL tôi gọi là kẻ thù vô hình vì coi trên truyền hình ngoại trừ ông trùm râu xồm bin Laden ra BTL tôi chưa thấy mặt mũi của mấy tên khủng bố trong cái nhóm al Qaeta bao giờ.
Dội bom mà không biết kẻ thù nó nằm chỗ mô thì phí phạm quá bạn hiền nhỉ Mỗi quả bom là mỗi công sức lao động của người dân Mỹ, trong đó có tiền đóng thuế của tôi và bạn hiền. Ném bom kiểu xã láng như vậy không khác nào vung tiền qua cửa sổ!
Nhưng thưa bạn hiền, cái màn Mỹ dội bom bừa bãi này thì đâu có gì mới lạ! Năm xưa họ đã từng dùng pháo đài B-52 thả bom kiểu trải thảm trên rừng Trường Sơn và 12 ngày đêm ở Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh phía Bắc năm 72. Thế mà BTL tôi cứ ngỡ ngày nay với vũ khí tối tân, với những quả bom thông minh được lèo lái bằng vệ tinh, bằng tia lazer thì không cần phải ném bom bừa bãi nữa chứ. Bạn hiền, thật ra thì trong vài tuần lễ đầu của cuộc oanh tạc, Mỹ cũng dùng bom thông minh, nhưng vì quá thông minh nên thay vì bay vào cứ điểm kẻ thù nó nhằm vào bệnh viện và nhà dân mà lao tới. Bom thông minh thì chắc chắn mắc tiền hơn bom ngu ngốc rồi, tốn tiền mà không đạt kết quả mong muốn, thì thà ném bừa cho xong. Đó là chuyện Mỹ đang làm.
Bạn hiền, mới đây cơ quan tình báo CIA của Mỹ tuyên bố trước công chúng là họ đang thu thập ý kiến của bàng dân về những phương pháp chống khủng bố. Chuyện khó tin nhưng có thật. Cơ quan CIA, với ngân khoản 30 tỉ đô-la mà không làm ăn được gì hết, đến nỗi để bọn khủng bố vào Mỹ, học lái máy bay từ trường Mỹ, cướp máy bay của Mỹ (4 chiếc 1 lúc), rồi đâm đầu vào những biểu tượng sức mạnh của Mỹ, mà cơ quan tình báo của Mỹ chẳng biết ất giáp gì hết. BTL tôi tự hỏi như vậy 30 tỉ đô-la cung cấp cho CIA để làm cái quái gì?
Chữ CIA viết tắt của "Center of Intelligence Agency", Intellegence có nghĩa là thông minh. BTL tôi thấy cơ quan này không xứng đáng với tên gọi, có lẽ phải đổi lại là CSA thì đúng hơn.
Bạn hiền, bây giờ thì CIA bí quá, đến nỗi phải kêu gọi dân ngu khu đen bài binh bố trận dùm để chống lại bọn khủng bố. Mẹ kiếp! Hàng năm được tài trợ cả tỉ đô mà đi xin ý kiến bàng dân mà không biết xấu hổ.
Ý kiến ý ruồi thì BTL tôi có thừa, nhưng không biết cơ quan phản gián có chịu nghe theo không hà! Nhưng chắc chắn có nhiều người còn cao kiến hơn. Hay là cơ quan tình báo CIA của Mỹ hãy nghe theo cơ quan tình báo của Do Thái (Mossad), mới đây Mossad đề nghị rằng đa số các tên khủng bố Trung Đông theo đạo Hồi giáo, mà đạo Hồi thì bạn hiền biết rồi, họ kỳ giống heo lắm, không hiểu tại sao họ kỳ thị cái loài thú vật rất mạnh về cái chuyện "ấy". Có lẽ tại giống heo lúc nào cũng nghĩ đến chuyện ấy, chỉ biết "ăn, ngủ, ấy, ị" thôi, không suy nghĩ đến những lý tưởng cao cả của Thánh Allah, nên các con chiên hồi giáo phải tránh xa, hay là tại loài heo này dơ dáy quá cho nên những anh Rệp, vốn dĩ cũng chẳng sạch sẽ gì, phải tránh xa.
Lí do tại sao chúng ta không cần biết, chỉ biết rằng họ kỵ cái đám con cháu của Trư Bát Giới này lắm, và không bao giờ muốn đội trời chung với "con lợn ủn ỉn mua tôi củ hành". Dựa theo nguyên lý đó cho nên mới đây cơ quan phản gián Mossad của Do Thái mới đề nghị rằng để chống không tặc Hồi giáo, trên mỗi chuyến bay nhớ chở theo vài con heo. Chuyến bay đó chắc chắn sẽ không bị không tặc dở trò cảm tử quân, vì làm vậy họ sẽ bị chết chung với con vật dơ dáy, do đó sẽ không được lên thiên đàng.
Ý kiến này mới nghe có vẻ ngu ngốc nhưng nghĩ kỹ thì thấy có lý. Vì thế, sau này đi máy bay, biết đâu bạn hiền sẽ nghe qua loa phóng thanh: "Kính thưa hành khách, hôm nay chuyến bay của chúng ta có sự hiện diện của Mr. Pig ở trong khoang hành lý. Chúng tôi muốn nhắc nhở, để quý hành khách được yên tâm", hoặc giả sử nếu có bước lên phi cơ, gặp họ Trư ngồi chễm chệ ở toa hạng nhất thì bạn hiền chớ có lấy làm ngạc nhiên.
Đó là cao kiến của Mossad. Còn BTL tôi thì có ý kiến khác. Hiện nay Hoa kỳ đang nhức đầu với tên đầu xỏ bin Laden, đem biết bao nhiêu bom đạn để thay trời làm mưa trên đất A Phú Hãn, nơi trùm bin Laden đang nấp ở dưới cái hang hốc nào đó, mà chẳng thanh toán được hắn. BTL tôi đề nghị thay vì dội bom, Mỹ nên rãi thuốc Viagara khắp tất cả các hang động nơi tình nghi có bin Laden và đàn em al Qaeta đang ẩn náo. Thuốc thấm vào người, chịu không thấu bảo đản bọn chúng sẽ trồi lên mặt đất tìm chỗ xã xui!
Vì thế một ngày nào đó bạn hiền đọc được bản tin như sau thì phải nhớ đó là do công của BTL tôi.
BTL
Vì sao đàn ông sợ về nhà?
Đơn giản là đàn ông ghét làm việc nhà.
Đàn ông cũng giống như những cậu bé sau khi tan lớp học cứ muốn la cà cùng chúng bạn, bởi vì về đến nhà sẽ có những bài tập làm dở dang đang đợi và những lời khuyên nhủ, nhắc nhở không ngớt.
Lý do để đàn ông uể oải khi trở về nhà là ở nhà không có gì mới mẻ và hấp dẫn. Trong khi đó bên ngoài cánh cửa ngôi nhà của họ ở luôn là những thứ đầy mới mẻ đang chờ đợi họ khám phá.
Giống như người phụ nữ tốn hàng giờ bên bàn trang điểm trước khi ra khỏi nhà, đàn ông cũng dềnh dàng cả buổi chiều từ lúc tan sở cho đến khi trời tối mới trở về. Mặc kệ những cú điện thoại réo rắt, những tin nhắn trách móc của vợ, đàn ông không hào hứng trở về gặp gỡ người phụ nữ như khi họ còn trong giai đoạn hẹn hò.
Phụ nữ bắt đầu hoài nghi và dằn vặt: "Anh ấy đang hẹn hò bồ bịch...?" Thực tế không phức tạp và "khủng khiếp" như họ tưởng, đơn giản có rất nhiều người đàn ông sau khi tan sở ngồi nán lại phòng làm việc chỉ để ngồi đọc nốt tờ báo, hay ngồi trầm ngâm bên ly cà phê để hưởng thụ một chút hiếm hoi yên tĩnh trong ngày.
Vì vậy, có thể tổng kết đàn ông không muốn về nhà là những nguyên nhân sau (trừ khi thực sự quá bận rộn với công việc hoặc bận rộn với những mối tình chớp nhoáng)
Chạy trốn những bà vợ nói nhiều
Rất nhiều người đàn ông thích ngồi quán xá bụi bặm với bạn bè, đơn giản là chỉ ngồi nhâm nhi với nhau cốc bia hơi và đĩa lạc hơn là quay trở về ăn bữa cơm thịnh soạn do vợ nấu.
Không phải đàn ông không biết thưởng thức những món ngon nóng sốt, mà là do cứ đến bữa họ lại nghe "bản tin phát thanh" chao chát của vợ: "Anh cứ đi tối ngày, anh phải để ý xem con cái nó học hành bài vở thế nào chứ?"; "Tiền tháng này thiếu nhiều thế?".
Đến nước này thì ông làm sao nuốt nổi cơm, mà có trót ăn rồi cũng dễ bị đau dạ dày ấy chứ. Thế là đàn ông "trốn nhà là giải pháp an toàn để tránh "bom oanh tạc" của vợ.
Bản chất thích la cà tụ tập
Nhiều đàn ông không phải vì vướng mắc chuyện gì đó trong gia đình mới không muốn về nhà, mà đơn giản "sinh thời" họ đã quen đàn đúm tụ tập. Nếu vài ngày không được hàn huyên với mấy anh bạn chí cốt, họ thấy cuộc sống cứ nhàn nhạt như thiếu muối.
Chẳng cần nhà hàng đắt tiền, chẳng cần những món sơn hào hải vị, họ chỉ say sưa chén chú chén anh để hưởng thụ cái không khí náo nhiệt tưng bừng của hội hè đàn đúm, nơi họ chẳng phải lo toan gì, cứ việc cười ha hả và tán phét thỏa thích. Khi tâm hồn phơi phới, họ mới nhớ ra mình phải về nhà vì mình đã có một gia đình.
Trốn việc nhà
"Nếu anh về nhà trước phải đi đón con, phải nhặt rau, phải nấu cơm, lúc nấu cơm thì tiện thể dọn dẹp lại nhà cửa cho gọn gàng v.v và v.v". Hoặc "chẳng may" họ về nhà đúng vào lúc vợ đang nấu cơm, thì chớ có dại ngồi gác chân lên xem ti vi hay đọc báo, biết điều thì hãy xắn tay áo lên mà lo cơm nước, rồi sẵn sàng nghe kêu than: "Anh phải giúp em chứ, có phải mỗi anh là mệt đâu, em cũng đi làm 8 tiếng giống anh cơ mà!"
Không tìm được tiếng nói chung
Sau khi kết hôn, vợ luôn tất bật với nhà cửa, con cái, trong mắt đàn ông vợ không còn là cô người yêu bé bỏng có thể ngồi hàng giờ nghe họ nói về chí hướng, sự nghiệp hay những khó khăn. Khi đàn ông hắng giọng định tâm sự thì vợ, hoặc đang bận với con cái, hoặc đang nếm món ăn xem đã vừa vặn chưa, hoặc đang ngủ gà ngủ gật sau một ngày vất vả.
Nói tóm lại, đàn ông khó có cơ hội để tâm sự với vợ. Sự im lặng làm mòn đi cảm giác muốn chia sẻ và được chia sẻ. Thế là đàn ông sợ quay về nhà! Chính vì vậy, họ cần nguồn an ủi từ bạn bè, để có thể than thở, chia sẻ và thậm chí để tán gẫu về cô sinh viên sinh đẹp mới đến thực tập ở chỗ họ.
Theo Tiếp Thị Gia Đình
Đơn giản là đàn ông ghét làm việc nhà.
Đàn ông cũng giống như những cậu bé sau khi tan lớp học cứ muốn la cà cùng chúng bạn, bởi vì về đến nhà sẽ có những bài tập làm dở dang đang đợi và những lời khuyên nhủ, nhắc nhở không ngớt.
Lý do để đàn ông uể oải khi trở về nhà là ở nhà không có gì mới mẻ và hấp dẫn. Trong khi đó bên ngoài cánh cửa ngôi nhà của họ ở luôn là những thứ đầy mới mẻ đang chờ đợi họ khám phá.
Giống như người phụ nữ tốn hàng giờ bên bàn trang điểm trước khi ra khỏi nhà, đàn ông cũng dềnh dàng cả buổi chiều từ lúc tan sở cho đến khi trời tối mới trở về. Mặc kệ những cú điện thoại réo rắt, những tin nhắn trách móc của vợ, đàn ông không hào hứng trở về gặp gỡ người phụ nữ như khi họ còn trong giai đoạn hẹn hò.
Phụ nữ bắt đầu hoài nghi và dằn vặt: "Anh ấy đang hẹn hò bồ bịch...?" Thực tế không phức tạp và "khủng khiếp" như họ tưởng, đơn giản có rất nhiều người đàn ông sau khi tan sở ngồi nán lại phòng làm việc chỉ để ngồi đọc nốt tờ báo, hay ngồi trầm ngâm bên ly cà phê để hưởng thụ một chút hiếm hoi yên tĩnh trong ngày.
Vì vậy, có thể tổng kết đàn ông không muốn về nhà là những nguyên nhân sau (trừ khi thực sự quá bận rộn với công việc hoặc bận rộn với những mối tình chớp nhoáng)
Chạy trốn những bà vợ nói nhiều
Rất nhiều người đàn ông thích ngồi quán xá bụi bặm với bạn bè, đơn giản là chỉ ngồi nhâm nhi với nhau cốc bia hơi và đĩa lạc hơn là quay trở về ăn bữa cơm thịnh soạn do vợ nấu.
Không phải đàn ông không biết thưởng thức những món ngon nóng sốt, mà là do cứ đến bữa họ lại nghe "bản tin phát thanh" chao chát của vợ: "Anh cứ đi tối ngày, anh phải để ý xem con cái nó học hành bài vở thế nào chứ?"; "Tiền tháng này thiếu nhiều thế?".
Đến nước này thì ông làm sao nuốt nổi cơm, mà có trót ăn rồi cũng dễ bị đau dạ dày ấy chứ. Thế là đàn ông "trốn nhà là giải pháp an toàn để tránh "bom oanh tạc" của vợ.
Bản chất thích la cà tụ tập
Nhiều đàn ông không phải vì vướng mắc chuyện gì đó trong gia đình mới không muốn về nhà, mà đơn giản "sinh thời" họ đã quen đàn đúm tụ tập. Nếu vài ngày không được hàn huyên với mấy anh bạn chí cốt, họ thấy cuộc sống cứ nhàn nhạt như thiếu muối.
Chẳng cần nhà hàng đắt tiền, chẳng cần những món sơn hào hải vị, họ chỉ say sưa chén chú chén anh để hưởng thụ cái không khí náo nhiệt tưng bừng của hội hè đàn đúm, nơi họ chẳng phải lo toan gì, cứ việc cười ha hả và tán phét thỏa thích. Khi tâm hồn phơi phới, họ mới nhớ ra mình phải về nhà vì mình đã có một gia đình.
Trốn việc nhà
"Nếu anh về nhà trước phải đi đón con, phải nhặt rau, phải nấu cơm, lúc nấu cơm thì tiện thể dọn dẹp lại nhà cửa cho gọn gàng v.v và v.v". Hoặc "chẳng may" họ về nhà đúng vào lúc vợ đang nấu cơm, thì chớ có dại ngồi gác chân lên xem ti vi hay đọc báo, biết điều thì hãy xắn tay áo lên mà lo cơm nước, rồi sẵn sàng nghe kêu than: "Anh phải giúp em chứ, có phải mỗi anh là mệt đâu, em cũng đi làm 8 tiếng giống anh cơ mà!"
Không tìm được tiếng nói chung
Sau khi kết hôn, vợ luôn tất bật với nhà cửa, con cái, trong mắt đàn ông vợ không còn là cô người yêu bé bỏng có thể ngồi hàng giờ nghe họ nói về chí hướng, sự nghiệp hay những khó khăn. Khi đàn ông hắng giọng định tâm sự thì vợ, hoặc đang bận với con cái, hoặc đang nếm món ăn xem đã vừa vặn chưa, hoặc đang ngủ gà ngủ gật sau một ngày vất vả.
Nói tóm lại, đàn ông khó có cơ hội để tâm sự với vợ. Sự im lặng làm mòn đi cảm giác muốn chia sẻ và được chia sẻ. Thế là đàn ông sợ quay về nhà! Chính vì vậy, họ cần nguồn an ủi từ bạn bè, để có thể than thở, chia sẻ và thậm chí để tán gẫu về cô sinh viên sinh đẹp mới đến thực tập ở chỗ họ.
Theo Tiếp Thị Gia Đình
Mua Quà Cho... Vợ !
Kathy Trần
Người Mỹ may mắn có nhiều tiền của, có nhiều tài nguyên nên họ chống đỡ được những tai nạn to lớn như cuộc khủng hoảng kinh tế toàn thế giới khoảng năm 1990, cuộc khủng hoảng kỹ thuật (.com), cuộc phá hoại của khủng bố tháng 9 ngày 11 (911), như trận vỡ đê ở miền đông nước Mỹ...v.v...
Trong cuộc chiến tranh chống khủng bố ở Iraq, bóng ma chiến tranh vẫn bao trùm nước Mỹ dù xẩy ra mãi tận Trung Đông vì người Mỹ rất quý trọng nhân mạng con người. Tuy nhiên, với bản tính của một nước trẻ trung, sinh sau, đẻ muộn, người Mỹ rất dễ dàng quên đi những ám ảnh để vui chơi, hưởng thụ hết mình.
Tất cả những ngày lễ đều là dịp để vui chơi, để tiêu tiền cho mình và cho người thân, nhất là hai ngày lễ lớn cuối năm: Giáng Sinh và tết dương lịch!
Mua quà cho vợ là một trong những công tác nhức đầu nhất cho các ông trong những dịp này cũng như trong bất cứ dịp nào khác!
Mua gì? Bao nhiêu? Cỡ nào?
"Mua rộng ...vợ cười, mua hẹp ...vợ chê" (*)
Mua sao cho vừa ý ...vợ là điều thiên nan, vạn nan nhất là năm nào cũng phải làm vài ba lần mua sắm như vậy, mà không mua thì "Đất bằng nổi sóng" mấy hồi!
Các nhà thương mại phải nắm vững tâm lý quần chúng để ... kiếm tiền!
Họ thấy rằng các ông sau khi lấy vợ thì:
"Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ"
Lấy vợ, ít nhất là trong vài năm đầu, không những các ông hiền lành hẳn lại, bao nhiêu nết tốt mọc ra như nấm sau cơn mưa: không đi đêm, đi hôm, không ta bà chơi bời, không rượu chè, cờ bạc với bạn bè, không trai gái tào lao. Đi làm về, nếu được, là mau mau về với... vợ.
Chẳng thế mà thấy con trai lớn hay sắp già mà chưa có vợ thì các cụ cứ sốt ruột:
- Lấy vợ về cho nó lo lắng, cầm chân nó lại thì mới nên người được, không thì cứ lông ba, lông bông như chó mất chủ, chẳng ra làm sao cả!
Không những thế, đa số các ông chợt đâm ra tiêu xài đâu vào đấy bởi vì cái nguyên nhân chính bắt các ông chi tiêu bây giờ đã ở trong tay các ông rồi, ông đâu cần biểu diễn màn galant, chi tiêu bạt mạng để chứng tỏ mình là người hào hoa mong chinh phục lòng "em" nữa nên các nhà thương mại rất lấy làm lo ngại lắm!
Họ nghiên cứu đi, nghiên cứu lại, nghiên cứu tới, nghiên cứu lui, nghiên cứu kỹ lưỡng và sau cùng tìm ra lý do:
Các ông sau khi lỡ rước nàng về dinh rồi thì rất sung sướng và ngoan ngoãn nhường ngay quyền "tay hòm, chìa khóa cho nội tướng" để thơ thới, hân hoan "cơm nhà, quà vợ" cho khỏe tấm thân, khỏi mất công lặn lội mua sắm rồi lại mất công nghe cằn nhằn nhức đầu.
Đó là một thiệt hại to lớn cho nền kinh tế thế giới, nhất là cho nước Mỹ, nơi mà dân số là 7% thế giới nhưng lại tiêu thụ tới gần 30% sản phẩm và giữ mức 35% mãi lực của thế giới! Người ta bèn tìm cách giúp các ông tiêu xài.
Trong việc tiêu tiền, các ông có rất nhiều tính tốt.
Các ông mua sắm rất xởi lởi, dễ dàng, không cân nhắc, so đo như các bà.
Các ông không thích đổi trả lẩm cẩm mất thì giờ.
Các ông cũng chẳng cần xem xét kỹ hàng tốt xấu, dùng xong là quẳng lăn lóc, lần sau cần dùng cũng chẳng bận tâm tìm kiếm cho mất thì giờ, ta chạy đi mua cái khác cho mau nên buôn bán với các ông rất dễ chịu, thoải mái và lại dễ dàng có lời nhiều nếu người đứng bán hàng cho các ông lại là ...các bà!
Lệnh ông không bằng cồng bà.
Muốn giúp các ông tiêu xài hợp pháp, thoải mái thì phải được sự chấp thuận của các bà "nội tướng" là chuyện đương nhiên. Nhà buôn tìm ra chân lý là muốn cho các ông mua sắm mạnh mẽ thì phải qua cửa ải các bà!
Phải đả thông tư tưởng các bà trước, phải làm các bà hài lòng, hãnh diện với những gì các ông tiêu xài thì món hàng bán ra mới không có hy vọng bị trả lại bởi vì tuy không làm thống kê nhưng ...90% sản phẩm được bán ra cho phụ nữ và trẻ em, mà người mua sắm cho trẻ em lại cũng là ... phụ nữ.
Phần còn lại khiêm tốn dành cho các ông tuy các ông chiếm tới 50% dân số!
Tăng được mãi lực của các ông thì kinh tế đất nước khá to.
Các nhà nghiên cứu suy nghĩ để tìm cách giúp các ông vừa tiêu tiền hợp pháp (không phải giấu giếm); không mặc cảm là mình không hiểu tâm lý đàn bà (vợ mình) vừa cảm thấy mình là người văn minh vì biết chiều đàn bà (vợ mình), vừa làm tăng hạnh phúc gia đình của mình (với vợ mình).
Nhất cử tam tứ tiện!
[left]http://www.welcometobc.ca/vanshopping/shopping8.gif[/left]Quảng cáo, khuyến khích, dụ dỗ mua sắm là nghề của những nhà làm thương mại ở đây.
Phải công nhận là họ có lối dụ dỗ rất nghề.
80 tới 90% các bà đi mua sắm về đều cảm thấy rất thoải mái, rất hứng thú, rất may mắn vì đã "tiết kiệm" được ít nhất là 25%!
Khoảng 50% các bà thấy mình tiết kiệm được tới 50%!
Khoảng 30% các bà tiết kiệm được 60 tới 70%!
Chỉ có khoảng 10% các bà hoặc giầu quá, hoặc dại dột, hoặc mê món hàng quá, cầm lòng không đậu hoặc vóc người quá nhỏ, chờ "sale" thì không tìm được áo vừa cho mình nên thì đành bóp bụng chịu mua nguyên giá hay chỉ bớt 10 tới 15%!
Các bà này thường than thở ghê gớm lắm vì sự xui xẻo của mình!
Cùng món hàng, mình trả $ 100, người ta trả $ 20!
Không tức sao được?
Các bà, nói chung, có tật cho rằng trong nhà chỉ có mình là có kinh nghiệm và nên mua sắm!
- Các ông biết gì mà mua với sắm?
Các bà thích nắm quyền mua sắm nhưng lại muốn được quà của các ông chính tay mua về tặng cho các bà!
[right]http://www.guestlife.com/vancouver/shop ... oken-c.jpg[/right]Điều khó hiểu ở đây là tuy thích được quà nhưng các ông mua gì về các bà cũng không đồng ý, kêu la oai oái rằng thế này, thế khác, rằng ông mua mắc quá, mua phải đồ không "brand name", không tốt, không đợi "sale", không vừa người bà, không đúng ý bà...v.v và v.v...
Ca cẩm một hồi, nhưng bà cũng bưng đồ đi cất để ông vui lòng nếu đó là món quà ông nhớ ngày kỷ niệm nào đó mua tặng bà. Đến một ngày đẹp trời nào đó, bà sẽ kín đáo, nhẹ nhàng, vui vẻ ôm món quà ra tiệm... trả lại!
Các ông, dĩ nhiên, sau khi mua được món quà, tặng được món quà cho vợ là mừng hết lớn.
- Ít ra cũng một năm nữa mới tới sinh nhật vợ (hay kỷ niệm đám cưới, kỷ niệm đám hỏi) mình mới phải nhức đầu đi mua quà cho vợ nữa!
Thuế nộp xong rồi, thoát nạn bị lèo nhèo, các ông chẳng tâm trí đâu mà để ý coi vợ mình có dùng món quà đó hay không nên bà có trả lại các ông cũng chẳng bao giờ biết để thắc mắc.
[left]http://i1.sell.com/4/237/311592/21/184/1385599-m.jpg[/left]Người Mỹ có lối buôn bán rất nghệ thuật: Họ giữ sự tín nhiệm, yêu mến của khách, bảo đảm giá trị món hàng bằng các cho đổi hoặc trả lại rất thoải mái.
- Có biên nhận thì quý khách lấy tiền về, không thì quý khách lấy phiếu tiền để mua hàng khác của tiệm chúng tôi! Quý khách chẳng thiệt thòi gì!
"Quý khách" không thiệt nhưng "quý khách" vẫn phải tiêu số tiền đó trong tiệm, chả chạy đi đâu được. Tuy nhiên, tiệm chịu thiệt thòi vì hàng bán ra, trả lại, hư hỏng, khó bán lại được. Hơn nữa, còn chi phí cửa tiệm và tiền trả nhân viên bán hàng nữa.
Bán được hàng cho các ông mà được các bà đồng ý trước thì chắc như bắp, khỏi lo những thiệt thòi trên!
"Đồng vợ, đồng chồng mua gì chẳng được?"
Một nhà bán nữ trang và đồ trang điểm cho phụ nữ vừa sáng chế ra cách dụ dỗ được cả hai phe đồng ý tiêu tiền.
Trước nhất, họ lập danh sách các bà với ngày sinh nhật, sinh nguyệt, kỷ niệm hôn lễ chi đó.
Thứ hai, trước đó một vài tuần, họ gửi thư mời các bà tới ăn chùa một bữa để xem họ quảng cáo hàng.
Vừa được ăn, vừa được giải trí, các bà phấn khởi rủ nhau đi.
Đồ ăn ngon, người tiếp vui vẻ, bạn bè đông đúc, hào hứng ngắm nhìn, bàn tán, so đo về những món quà mình thích và sẽ được chồng mua cho mình.
Sau đó, các bà bèn ghi lại những món mình thích, giá tiền, cỡ nào vv... đưa cho tiệm ghi vào hồ sơ và thơ thới hân hoan ra về, chả tốn đồng nào!
Cuối cùng, tuần sau, các ông nhận được thư của tiệm mời tới uống bia, ăn Pizza, xem Football và tìm hiểu về ý thích của vợ mình!
- Chúng tôi sẽ cố vấn quý vị tìm đúng món quà người vợ yêu dấu của quý vị yêu thích. Bảo đảm hạnh phúc của quý vị sẽ tăng vọt lên sau khi quý vị đến thăm viếng và mua sắm ở tiệm chúng tôi. Nếu không thích, quý vị khỏi phải mua gì hết và dĩ nhiên, buổi tối thoải mái của quý vị ở đây với Pizza, uống bia và coi Football cũng không tốn tiền! Đó là món quà mọn của chúng tôi để cám ơn quý khách tới thăm bổn tiệm, thế thôi!
Bà, dĩ nhiên, bằng lòng cho ông đi ngay:
- Anh cứ đi chơi thoải mái với bạn bè một buổi tối, về trễ cũng được, không sao, nhưng mà...
Bà cười ngỏn ngoẻn:
- Nhớ đem theo ...credit card nhe.
Ông đường hoàng ra đi.
Trời, được một buổi tối thoải mái ngồi xem football, không con cái lèo nhèo, ăn pizza, uống bia, hò hét với bạn bè thì còn gì sướng hơn?
- Còn chuyện mua sắm cho vợ?
- Chuyện nhỏ, đằng nào chẳng phải mua? Ở đây mình được tiệm "cố vấn", cho coi danh sách vợ mình chọn sẵn thì khỏe ru, khỏi sợ chê bai tốt xấu, khỏi sợ cằn nhằn mắc rẻ, khỏi sợ đem trả tới, đổi lui. Cứ nhắm mắt trả tiền cũng được.
Tất cả là những tưởng tượng của tiểu muội khi xem bức ảnh chụp một ông đang "hồ hởi" ăn Pizza, tay cầm lon bia, mắt dán vào chiếc Tivi to tướng chiếu trận football. Bên cạnh, đứng trong quầy là cô bán hàng đang "cà" chiếc "credit card" cho món hàng ông mua cho vợ.
Dĩ nhiên, tiệm cũng phải nhắc nhở các ông trước khi ra về rằng món quà ông mua cho bà là món gì, bao nhiêu tiền để ông biết đường trả lời, ra vẻ là mình cũng lưu tâm tới món quà và tới vợ lắm.
Ít nhất, tất cả những người đàn ông trong tiệm ngày hôm đó đều sung sướng, trừ ông khách hàng bị chụp hình được hân hạnh đưa lên ngay trang nhất của tờ báo. Nhưng cũng có khi ông được hưởng trường hợp khoan hồng vì dù sao ông cũng có lòng đi mua quà cho vợ, còn ông lơ đãng, lo ăn, lo uống bia, lo coi football thì tại...pizza ngon quá, bia đã quá và football hấp dẫn quá mà!
Các bà sung sướng, các ông sung sướng, tiệm buôn sung sướng.
Đem lại nguồn hạnh phúc cho con người!
Đem lại công ăn việc làm cho nhân công!
Nâng cao tiềm năng kinh tế của đất nước!
Toàn những điều tốt đẹp chỉ nhờ sáng kiến đáng yêu của một người chủ tiệm muốn bán hàng !!
Đáng khen và bắt chước quá đi chứ!
Kathy Trần
Kathy Trần
Người Mỹ may mắn có nhiều tiền của, có nhiều tài nguyên nên họ chống đỡ được những tai nạn to lớn như cuộc khủng hoảng kinh tế toàn thế giới khoảng năm 1990, cuộc khủng hoảng kỹ thuật (.com), cuộc phá hoại của khủng bố tháng 9 ngày 11 (911), như trận vỡ đê ở miền đông nước Mỹ...v.v...
Trong cuộc chiến tranh chống khủng bố ở Iraq, bóng ma chiến tranh vẫn bao trùm nước Mỹ dù xẩy ra mãi tận Trung Đông vì người Mỹ rất quý trọng nhân mạng con người. Tuy nhiên, với bản tính của một nước trẻ trung, sinh sau, đẻ muộn, người Mỹ rất dễ dàng quên đi những ám ảnh để vui chơi, hưởng thụ hết mình.
Tất cả những ngày lễ đều là dịp để vui chơi, để tiêu tiền cho mình và cho người thân, nhất là hai ngày lễ lớn cuối năm: Giáng Sinh và tết dương lịch!
Mua quà cho vợ là một trong những công tác nhức đầu nhất cho các ông trong những dịp này cũng như trong bất cứ dịp nào khác!
Mua gì? Bao nhiêu? Cỡ nào?
"Mua rộng ...vợ cười, mua hẹp ...vợ chê" (*)
Mua sao cho vừa ý ...vợ là điều thiên nan, vạn nan nhất là năm nào cũng phải làm vài ba lần mua sắm như vậy, mà không mua thì "Đất bằng nổi sóng" mấy hồi!
Các nhà thương mại phải nắm vững tâm lý quần chúng để ... kiếm tiền!
Họ thấy rằng các ông sau khi lấy vợ thì:
"Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ"
Lấy vợ, ít nhất là trong vài năm đầu, không những các ông hiền lành hẳn lại, bao nhiêu nết tốt mọc ra như nấm sau cơn mưa: không đi đêm, đi hôm, không ta bà chơi bời, không rượu chè, cờ bạc với bạn bè, không trai gái tào lao. Đi làm về, nếu được, là mau mau về với... vợ.
Chẳng thế mà thấy con trai lớn hay sắp già mà chưa có vợ thì các cụ cứ sốt ruột:
- Lấy vợ về cho nó lo lắng, cầm chân nó lại thì mới nên người được, không thì cứ lông ba, lông bông như chó mất chủ, chẳng ra làm sao cả!
Không những thế, đa số các ông chợt đâm ra tiêu xài đâu vào đấy bởi vì cái nguyên nhân chính bắt các ông chi tiêu bây giờ đã ở trong tay các ông rồi, ông đâu cần biểu diễn màn galant, chi tiêu bạt mạng để chứng tỏ mình là người hào hoa mong chinh phục lòng "em" nữa nên các nhà thương mại rất lấy làm lo ngại lắm!
Họ nghiên cứu đi, nghiên cứu lại, nghiên cứu tới, nghiên cứu lui, nghiên cứu kỹ lưỡng và sau cùng tìm ra lý do:
Các ông sau khi lỡ rước nàng về dinh rồi thì rất sung sướng và ngoan ngoãn nhường ngay quyền "tay hòm, chìa khóa cho nội tướng" để thơ thới, hân hoan "cơm nhà, quà vợ" cho khỏe tấm thân, khỏi mất công lặn lội mua sắm rồi lại mất công nghe cằn nhằn nhức đầu.
Đó là một thiệt hại to lớn cho nền kinh tế thế giới, nhất là cho nước Mỹ, nơi mà dân số là 7% thế giới nhưng lại tiêu thụ tới gần 30% sản phẩm và giữ mức 35% mãi lực của thế giới! Người ta bèn tìm cách giúp các ông tiêu xài.
Trong việc tiêu tiền, các ông có rất nhiều tính tốt.
Các ông mua sắm rất xởi lởi, dễ dàng, không cân nhắc, so đo như các bà.
Các ông không thích đổi trả lẩm cẩm mất thì giờ.
Các ông cũng chẳng cần xem xét kỹ hàng tốt xấu, dùng xong là quẳng lăn lóc, lần sau cần dùng cũng chẳng bận tâm tìm kiếm cho mất thì giờ, ta chạy đi mua cái khác cho mau nên buôn bán với các ông rất dễ chịu, thoải mái và lại dễ dàng có lời nhiều nếu người đứng bán hàng cho các ông lại là ...các bà!
Lệnh ông không bằng cồng bà.
Muốn giúp các ông tiêu xài hợp pháp, thoải mái thì phải được sự chấp thuận của các bà "nội tướng" là chuyện đương nhiên. Nhà buôn tìm ra chân lý là muốn cho các ông mua sắm mạnh mẽ thì phải qua cửa ải các bà!
Phải đả thông tư tưởng các bà trước, phải làm các bà hài lòng, hãnh diện với những gì các ông tiêu xài thì món hàng bán ra mới không có hy vọng bị trả lại bởi vì tuy không làm thống kê nhưng ...90% sản phẩm được bán ra cho phụ nữ và trẻ em, mà người mua sắm cho trẻ em lại cũng là ... phụ nữ.
Phần còn lại khiêm tốn dành cho các ông tuy các ông chiếm tới 50% dân số!
Tăng được mãi lực của các ông thì kinh tế đất nước khá to.
Các nhà nghiên cứu suy nghĩ để tìm cách giúp các ông vừa tiêu tiền hợp pháp (không phải giấu giếm); không mặc cảm là mình không hiểu tâm lý đàn bà (vợ mình) vừa cảm thấy mình là người văn minh vì biết chiều đàn bà (vợ mình), vừa làm tăng hạnh phúc gia đình của mình (với vợ mình).
Nhất cử tam tứ tiện!
[left]http://www.welcometobc.ca/vanshopping/shopping8.gif[/left]Quảng cáo, khuyến khích, dụ dỗ mua sắm là nghề của những nhà làm thương mại ở đây.
Phải công nhận là họ có lối dụ dỗ rất nghề.
80 tới 90% các bà đi mua sắm về đều cảm thấy rất thoải mái, rất hứng thú, rất may mắn vì đã "tiết kiệm" được ít nhất là 25%!
Khoảng 50% các bà thấy mình tiết kiệm được tới 50%!
Khoảng 30% các bà tiết kiệm được 60 tới 70%!
Chỉ có khoảng 10% các bà hoặc giầu quá, hoặc dại dột, hoặc mê món hàng quá, cầm lòng không đậu hoặc vóc người quá nhỏ, chờ "sale" thì không tìm được áo vừa cho mình nên thì đành bóp bụng chịu mua nguyên giá hay chỉ bớt 10 tới 15%!
Các bà này thường than thở ghê gớm lắm vì sự xui xẻo của mình!
Cùng món hàng, mình trả $ 100, người ta trả $ 20!
Không tức sao được?
Các bà, nói chung, có tật cho rằng trong nhà chỉ có mình là có kinh nghiệm và nên mua sắm!
- Các ông biết gì mà mua với sắm?
Các bà thích nắm quyền mua sắm nhưng lại muốn được quà của các ông chính tay mua về tặng cho các bà!
[right]http://www.guestlife.com/vancouver/shop ... oken-c.jpg[/right]Điều khó hiểu ở đây là tuy thích được quà nhưng các ông mua gì về các bà cũng không đồng ý, kêu la oai oái rằng thế này, thế khác, rằng ông mua mắc quá, mua phải đồ không "brand name", không tốt, không đợi "sale", không vừa người bà, không đúng ý bà...v.v và v.v...
Ca cẩm một hồi, nhưng bà cũng bưng đồ đi cất để ông vui lòng nếu đó là món quà ông nhớ ngày kỷ niệm nào đó mua tặng bà. Đến một ngày đẹp trời nào đó, bà sẽ kín đáo, nhẹ nhàng, vui vẻ ôm món quà ra tiệm... trả lại!
Các ông, dĩ nhiên, sau khi mua được món quà, tặng được món quà cho vợ là mừng hết lớn.
- Ít ra cũng một năm nữa mới tới sinh nhật vợ (hay kỷ niệm đám cưới, kỷ niệm đám hỏi) mình mới phải nhức đầu đi mua quà cho vợ nữa!
Thuế nộp xong rồi, thoát nạn bị lèo nhèo, các ông chẳng tâm trí đâu mà để ý coi vợ mình có dùng món quà đó hay không nên bà có trả lại các ông cũng chẳng bao giờ biết để thắc mắc.
[left]http://i1.sell.com/4/237/311592/21/184/1385599-m.jpg[/left]Người Mỹ có lối buôn bán rất nghệ thuật: Họ giữ sự tín nhiệm, yêu mến của khách, bảo đảm giá trị món hàng bằng các cho đổi hoặc trả lại rất thoải mái.
- Có biên nhận thì quý khách lấy tiền về, không thì quý khách lấy phiếu tiền để mua hàng khác của tiệm chúng tôi! Quý khách chẳng thiệt thòi gì!
"Quý khách" không thiệt nhưng "quý khách" vẫn phải tiêu số tiền đó trong tiệm, chả chạy đi đâu được. Tuy nhiên, tiệm chịu thiệt thòi vì hàng bán ra, trả lại, hư hỏng, khó bán lại được. Hơn nữa, còn chi phí cửa tiệm và tiền trả nhân viên bán hàng nữa.
Bán được hàng cho các ông mà được các bà đồng ý trước thì chắc như bắp, khỏi lo những thiệt thòi trên!
"Đồng vợ, đồng chồng mua gì chẳng được?"
Một nhà bán nữ trang và đồ trang điểm cho phụ nữ vừa sáng chế ra cách dụ dỗ được cả hai phe đồng ý tiêu tiền.
Trước nhất, họ lập danh sách các bà với ngày sinh nhật, sinh nguyệt, kỷ niệm hôn lễ chi đó.
Thứ hai, trước đó một vài tuần, họ gửi thư mời các bà tới ăn chùa một bữa để xem họ quảng cáo hàng.
Vừa được ăn, vừa được giải trí, các bà phấn khởi rủ nhau đi.
Đồ ăn ngon, người tiếp vui vẻ, bạn bè đông đúc, hào hứng ngắm nhìn, bàn tán, so đo về những món quà mình thích và sẽ được chồng mua cho mình.
Sau đó, các bà bèn ghi lại những món mình thích, giá tiền, cỡ nào vv... đưa cho tiệm ghi vào hồ sơ và thơ thới hân hoan ra về, chả tốn đồng nào!
Cuối cùng, tuần sau, các ông nhận được thư của tiệm mời tới uống bia, ăn Pizza, xem Football và tìm hiểu về ý thích của vợ mình!
- Chúng tôi sẽ cố vấn quý vị tìm đúng món quà người vợ yêu dấu của quý vị yêu thích. Bảo đảm hạnh phúc của quý vị sẽ tăng vọt lên sau khi quý vị đến thăm viếng và mua sắm ở tiệm chúng tôi. Nếu không thích, quý vị khỏi phải mua gì hết và dĩ nhiên, buổi tối thoải mái của quý vị ở đây với Pizza, uống bia và coi Football cũng không tốn tiền! Đó là món quà mọn của chúng tôi để cám ơn quý khách tới thăm bổn tiệm, thế thôi!
Bà, dĩ nhiên, bằng lòng cho ông đi ngay:
- Anh cứ đi chơi thoải mái với bạn bè một buổi tối, về trễ cũng được, không sao, nhưng mà...
Bà cười ngỏn ngoẻn:
- Nhớ đem theo ...credit card nhe.
Ông đường hoàng ra đi.
Trời, được một buổi tối thoải mái ngồi xem football, không con cái lèo nhèo, ăn pizza, uống bia, hò hét với bạn bè thì còn gì sướng hơn?
- Còn chuyện mua sắm cho vợ?
- Chuyện nhỏ, đằng nào chẳng phải mua? Ở đây mình được tiệm "cố vấn", cho coi danh sách vợ mình chọn sẵn thì khỏe ru, khỏi sợ chê bai tốt xấu, khỏi sợ cằn nhằn mắc rẻ, khỏi sợ đem trả tới, đổi lui. Cứ nhắm mắt trả tiền cũng được.
Tất cả là những tưởng tượng của tiểu muội khi xem bức ảnh chụp một ông đang "hồ hởi" ăn Pizza, tay cầm lon bia, mắt dán vào chiếc Tivi to tướng chiếu trận football. Bên cạnh, đứng trong quầy là cô bán hàng đang "cà" chiếc "credit card" cho món hàng ông mua cho vợ.
Dĩ nhiên, tiệm cũng phải nhắc nhở các ông trước khi ra về rằng món quà ông mua cho bà là món gì, bao nhiêu tiền để ông biết đường trả lời, ra vẻ là mình cũng lưu tâm tới món quà và tới vợ lắm.
Ít nhất, tất cả những người đàn ông trong tiệm ngày hôm đó đều sung sướng, trừ ông khách hàng bị chụp hình được hân hạnh đưa lên ngay trang nhất của tờ báo. Nhưng cũng có khi ông được hưởng trường hợp khoan hồng vì dù sao ông cũng có lòng đi mua quà cho vợ, còn ông lơ đãng, lo ăn, lo uống bia, lo coi football thì tại...pizza ngon quá, bia đã quá và football hấp dẫn quá mà!
Các bà sung sướng, các ông sung sướng, tiệm buôn sung sướng.
Đem lại nguồn hạnh phúc cho con người!
Đem lại công ăn việc làm cho nhân công!
Nâng cao tiềm năng kinh tế của đất nước!
Toàn những điều tốt đẹp chỉ nhờ sáng kiến đáng yêu của một người chủ tiệm muốn bán hàng !!
Đáng khen và bắt chước quá đi chứ!
Kathy Trần

Đàn ông thích trả thù hơn phụ nữ Theo một nghiên cứu của các nhà khoa học Anh thuộc trường đại học London, đàn ông thích trả thù hơn phụ nữ. Để đi đến kết luận này, các nhà khoa học đã ghi hoạt động não ở những người đàn ông và phụ nữ khi họ đang nhìn sự đau đớn của những người mà họ thích hay có ác cảm.
Các kết quả cho thấy phụ nữ tỏ ra đồng cảm đối với sự đau đớn của cả hai nhóm, trong khi những người đàn ông có vẻ thích thú đối với sự đau đớn của những người mà họ có ác cảm.
Các thử nghiệm đã được thực hiện ở 32 người tham gia nghiên cứu (gồm đàn ông và phụ nữ). Bốn người được mời đóng những vai gây sự thiện cảm hoặc ác cảm đã gia nhập nhóm này.
Lúc đầu, mọi người tham gia trò chơi ăn tiền. Các “diễn viên” sẽ tỏ ra có những hành vi dễ mến như chơi công bằng hoặc đáng ghét như ăn gian. Sau đó phản ứng não của những người tham gia còn lại được theo dõi trong khi các diễn viên nhận những sốc điện nhẹ. Kết quả cho thấy khi những người đóng vai dễ mến nhận sốc điện, khu vực não liên quan đến cơn đau của những người tham gia thuộc cả hai giới tính đều hoạt động.
Tuy nhiên, khi những người chơi ăn gian nhận sốc điện, khu vực não liên quan đến cơn đau ở các phụ nữ vẫn hoạt động, trong khi khu vực não ở đàn ông có vẻ không phản ứng.
Theo tiến sĩ Tania Singer, tác giả chính của nghiên cứu trên, những người đàn ông đã chứng tỏ ý muốn trả thù và có vẻ hài lòng hơn các phụ nữ khi những người mà họ có ác cảm nhận hình phạt về thể xác xứng đáng.
Dính Chàm
Đinh Lâm Thanh
(Tên các nhân vật trong truyện đều do sự tưởng tượng, nếu có trùng hợp, hoàn toàn ngoài ý muốn của người viết)
[left]http://www.brucegreenwood.com/videos/spy-video.jpg[/left]Tràng điên đầu với mấy tờ giấy bổ túc, ngày chạy đôn chạy đáo, đêm mất ngủ cả tháng nay nhưng vẫn chưa đi vào đâu. Hồ sơ xuất cảnh theo diện HO vẫn gặp khó khăn về phía chính quyền Việt Nam. ...
... Các bạn cùng cấp bậc cũ và cùng chung thời gian ‘nín thở qua sông’ đã có đủ giấy tờ, đang hân hoan tiệc tùng từ giã bạn bè người thân để lên đường định cư sang Mỹ. Thủ tục đầu tiên, Tràng không biết lý do gì, đã làm đi làm lại đến lần thứ ba, đúng nguyên tắc và đường đi nước bước yêu cầu từ phường quận cho đến thành phố, nhưng các giấy tờ cần thiết để bổ túc cho phía chính phủ Mỹ vẫn bị làm khó dễ, công an yêu cầu Tràng làm lại cả chục lần.
Thiếu tá, cấp bậc cũ trong quân đội miền Nam cộng thêm tám năm đi tù từ Nam chí Bắc, như vậy quá đủ điều kiện để ra đi dễ dàng theo chương trình nhân đạo, nhưng không hiểu lý do gì Việt Nam làm khó trong việc chuyển hồ sơ qua cơ quan thẩm quyền của Mỹ để cấp chiếu khán nhập cảnh. Đồ đạc trong nhà đã bán sạch, từ chiếc máy truyền hình cũ, tủ giường bàn ghế, áo quần cho đến những vật dụng cần thiết nhà bếp cũng ra chợ trời để gom góp tiền bạc lo tiếp hai đợt tiền giữa và tiền cuối, mới hy vọng được nhận giấy xuất cảnh. Những người đi trước cho biết, bình thường không dễ dàng gì để xin giấy tờ một cách nhanh chóng mà phải qua ba lần cửa ải. Việt nam đứng hàng đầu thế giới với nghệ thuật móc tiền của những người sắp bỏ nước ra đi. Một HO trước khi lên máy bay thường bị lột sạch những gì trên người, may mắn lắm, giữ lại được bộ áo quần che thân. Ba giai đoạn trong quá trình, từ cung cấp giấy tờ khai báo, bổ túc những thiếu sót giữa chừng, đến lúc hoàn chỉnh hồ sơ, chặng nào cũng phải làm lại bằng những thủ tục đầu tiên. Các cựu sĩ quan cũ muốn ra đi nhanh chóng, ai cũng đành nhắm mắt đóng góp để thoát sớm được ngày nào hay ngày đó.
Một hôm được công an thành phố kêu lên làm việc, Tràng cứ yên chí rằng hồ sơ đã được thông qua, nhưng không ngờ sau khi ngồi xuống, viên công an đẩy chồng hồ sơ đến trước mặt Tràng:
- Hồ sơ ông có sự cố! chúng tôi đã nghiên cứu kỹ và không thể chuyển qua chính quyền Mỹ.
Tràng tái mặt, run người hỏi lại:
- Dạ thưa ông…vì lý do gì?
Viên công an cười khỉnh:
- Ông nhớ lại trong thời gian cải tạo ông đã viết những lời khai thế nào?
- Dạ thưa ông, cách mạng biểu khai gì thì tôi khai cái đó.
Viên công an nhìn thẳng vào Tràng:
- Biết vậy, nhưng nếu người Mỹ đọc hồ sơ của ông thì…
- Thưa thì sao ạ?
- Dù có lòng nhân đạo cao độ nhưng chẳng một ai muốn chứa chấp một người phản bội ăn cháo đá bát như ông. Hãy về đi và nhớ lại những gì ông đã viết tự thú cả chục lần trong thời gian cải tạo thì ông sẽ rõ.
Chân tay bủn rủn, đâu óc quay cuồng, thế là hết mộng ra đi, Tràng không can đảm về nhà nhìn cảnh vợ con đang nóng lòng ngồi chờ tin. Tràng vào một quán ăn nhỏ kêu chai bia, uống một hơi rồi ôm đầu suy nghĩ.
***
Mang cấp bậc thiếu tá, Tràng đâu còn ngây thơ tin vào miệng lưỡi cộng sản khi chúng cam kết mười lăm ngày học tập cải tạo. Khăn gói lên đường, Tràng cũng đoán lờ mờ ít nhất vài ba năm trở lên so với một sĩ quan cấp tá. Với chính sách nhồi sọ, quản giáo và chính trị viên trại tù ngày đêm nhét riết vào lỗ tai rằng, phải thành tâm với cách mạng, khai báo thật tình tội lỗi của mình và biết ăn năn hối cải sẽ được cách mạng ân xá trở về đoàn tụ với gia đình. Thời gian học tập lâu hay mau đều do các anh tự định đoạt. Nghe mãi nhập tâm, trong bản khai lý lịch đầu tiên Tràng đã tự buộc mình đủ thứ tội, ăn bám, mù quáng, cúi mình làm tay sai cho đế quốc, bắn phá và giết hại cách mạng. Tràng cũng không quên moi trong đầu, tìm xem trong họ hàng nội ngoại cũng như bên gia đình vợ, ai đã có công với cách mạng để kê khai vào mục đích đánh bóng cho tấm thân tù tội của mình, hy vọng sẽ lọt vào mắt quan tòa xét xử. Tràng đã ghi một dọc từ trên xuống dưới những liên hệ của gia đình với Việt Minh trước kia, các phong trào cứu quốc cũng như Mặt trận giải phóng sau này. Nhưng chờ mãi chẳng thấy kết quả, Tràng đổi kế hoạch, làm việc cho các quản giáo bằng cách theo dõi tất cả hành động, lời ăn tiếng nói của bạn tù trong trại để báo cáo lên trên. Ban giám thị trại giam nhiều lần gọi riêng lên khen thưởng và động viên tinh thần hăng say của Tràng. Về đoàn tụ đâu chưa thấy, Tràng được chuyển trại liên tục với những chỉ thị rõ ràng, đến các trại mới phải thi hành bổn phận hăng say hơn để khám phá thành phần lười biếng lao động, đầu óc ngoan cố và có ý đồ trốn trại cũng như chống đối cách mạng. Sau nhiều năm thi hành chỉ thị của quản giáo, âm thầm tố giác hành động đồng đội nhưng Tràng vẫn không thấy gì sáng sủa.
Ngược lại các quản giáo vẫn thường xuyên nhắc nhở Tràng nên thành khẩn khai báo với cách mạng để được khoan hồng sớm. Không còn con đường nào để rút ngắn giai đoạn tù tội của mình, Tràng đánh bạo dựng lên nhiều chuyện với đầy đủ chi tiết trong các đợt làm lại lý lịch và khai báo trong năm. Tràng hy vọng đây là lá bài chót lập công với cách mạng với hy vọng sẽ được cứu xét cho về đoàn tụ với gia đình sớm.
Tràng nhớ lại rõ những lời khai đã viết liên quan đến người Mỹ rằng, Tràng trong lúc hành quân hỗn hợp, đã âm thầm liên lạc với cách mạng, cung cấp chính xác tọa độ nghỉ đêm của một tiểu đoàn bộ binh Mỹ đang tham dự hành quân với quân cộng hòa, để cách mạng quay các họng pháo tiêu diệt nguyên đơn vị này. Sau lần khai báo nặng ký, Tràng ngày đêm trông đợi cách mạng cứu xét nhưng chuyện ân xá lại càng kéo xa thêm. Kết quả, sau tám năm đi tù mới được phóng thích cùng một lượt với những đồng đội đã bị Tràng bán đứng nhiều lần.
Đêm nằm không chợp mắt, nếu đúng như lời viên công an cho biết, Tràng không còn một hy vọng mỏng manh để nắm trong tay tờ hộ chiếu nhập cảnh của Mỹ. Tràng ân hận đã đánh sai con bài, bây giờ dưới mắt người Mỹ, nếu chuyện có thật, Tràng là một người phản bội đồng đội, phản bội người bạn đồng minh đã đem xương máu để bảo vệ vùng đất tự do. Trong trường hợp người Mỹ kiểm chứng lại và khám phá ra rằng đây chỉ là chuyện bịa đặt, thì dưới mắt họ, Tràng là một người láu cá tráo trở không thể xứng đáng hưởng những ân huệ của chính phủ Mỹ đã ưu ái dành cho sĩ quan thuộc chế độ cũ.
Đang thất vọng nằm nhà, Tràng nhận được giấy gọi lên làm việc. Lần này viên công an yêu cầu Tràng đọc lại những lời khai đã viết nhiều lần cách đây vài năm. Tràng không ngờ ngày trước đã phịa ra những chuyện động trời. Bây giờ bút sa gà chết, làm cách nào để tẩy xóa vết những chứng tích phản bội do mình đã dựng lên lập công với cách mạng.
Đang phân vân, viên công an nhìn Tràng lắc đầu:
- Như vậy ông chẳng còn hy vọng gì ra đi.
Trả lời thế nào bây giờ, đàng nào cũng kẹt, nếu thú thật ra, không mang tội phản bội với người Mỹ thì cũng bị ghép vào tội khai gian với cộng sản. Im lặng là cách tốt nhất, thà không được Mỹ chấp thuận hồ sơ vẫn còn nhẹ hơn khi bị cộng sản khép tội lừa dối cách mạng. Nếu bị đưa vào trại cải tạo một lần nữa xem đi tù lãnh án chung thân khổ sai. Tràng gục đầu ngồi chết trân trên ghế.
Viên công an từ từ đọc lại các lời khai của Tràng, gật đầu thích chí, hỏi thẳng Tràng:
- Gia tài ông còn gì nữa không?
Tràng nhìn lên thành thật trả lời:
- Thưa anh, đâu còn gì, đồ đạc trong nhà đã bán sạch, bây giờ ăn bốc nằm đất đợi ngày lên đường...
Viên công an cười lớn tiếng:
- Lên đường đi đâu? Chỉ còn cách đi xuống âm phủ, ông biết không?
Tràng năn nỉ:
- Dạ thưa anh, còn cách gì cứu vớt được không?
- Nếu anh còn tiền còn vàng thì có thể kiếm được đường chạy.
Tràng phân trần:
- Anh nghĩ xem, tám năm trong trại cải tạo, vợ bắt ốc hái rau nuôi con, nhà cửa bán hết…
Viên công an nói nhỏ với Tràng:
- Ông về chạy một số tiền, may ra hồ sơ của anh mới được thông qua. Ngoài ra không còn phương cách nào khác.
- Thưa anh, tôi muốn đi nhưng thú thật, tiền của thì chẳng còn đồng nào. Ngay chiếc xe đạp cũng mượn của anh em để chạy lo giấy tờ.
Viên công an đứng dậy khoát tay:
- Ông về đi, suy tính, lúc nào có tiền hãy trở lại gặp tôi. Đừng nói nhiều.
Tràng cố vớt vát hỏi thêm:
- Thưa anh cho biết chừng bao nhiêu…tiền thì tôi có thể gặp được anh?
- Lấy rẻ, năm cây!
Không còn gì để hỏi thêm Tràng đứng dậy ra về.
Tràng đem chuyện này hỏi một người bạn thân cũng đi tù mới về, hồ sơ anh ta đã được thông qua, chỉ còn chờ khám sức khỏe và lên máy bay. Tuy kể hết ngọn ngành câu chuyện nhưng Tràng vẫn giấu kỹ làm mật báo viên cho quản giáo trong tù:
- Tôi vô tình bịa chuyện ra khai bậy có liên hệ với người Mỹ, bây giờ công an chúng nó đem chuyện này ra làm tiền tôi.
Thuận, người bạn hỏi lại:
- Sao anh dại thế, đi tù đúng là nín thở qua sông cho qua ngày, chỉ cần khai vớ vẩn nhưng đầu đuôi phải ăn khớp, trước sau như một cho qua chuyện. Chúng nó chẳng biết gì ngoài việc hù dọa, anh nào yếu bóng vía khai bậy ra là chết.
- Đâu biết trước chương trình nhân đạo của Mỹ đối với anh em sĩ quan chế độ cũ. Cứ tưởng vào tù là xong cuộc đời. Nếu được thả về cũng phải nhắm đường kinh tế mới mà bước. Nghĩ đến vợ con, tôi đã khai liều để kiếm điểm, mong được lọt sổ tù tội sớm, ai ngờ phút chót Mỹ quay trở lại cứu vớt chúng ta thế mới kẹt. Nếu biết trước thì nín thở qua sông cho yên thân, đâu tin được tụi nó. Bây giờ bể chuyện ra, mới thấy được cái thâm độc của cộng sản, tôi hối hận việc đã làm, nhưng làm được gì bây giờ?
- Nhưng anh khai chuyện gì?
- Thì khai ghét cay ghét đắng tụi Mỹ, trong cuộc hành quân hỗn hợp tôi thông báo mục tiêu để chúng nó tấn công bằng pháo tiêu diệt trọn một tiểu đoàn bộ binh Mỹ.
- Ồ, chuyện đó quan trọng chứ không phải đùa đâu. Bây giờ mấy tên công an muốn sao ?
- Đòi năm cây vàng để chạy chọt.
- Chạy cái gì, Mỹ đâu ăn hối lộ. Chỉ có bọn công an bày vẽ ra để ăn của anh.
Tràng gải đầu:
- Nhưng cũng kẹt khi chúng chuyển hồ sơ này đến tay người Mỹ.
- Kể ra năm cây vẫn còn nhẹ để gỡ rối hồ sơ của anh.
- Nhưng đào đâu ra vàng bây giờ!
- Anh xem lại có ai ứng trước cho anh, qua Mỹ lãnh tiền trợ cấp hay làm việc trả lại sau.
- Tôi cũng đang nghĩ đến chuyện đó.
Tràng không thể nói quanh, dối vợ con năm cây vàng đút lót để thông qua hồ sơ, nên buộc lòng nói hết sự thật. Bà Tràng mau mắn đứng ra mượn trước bên gia đình vợ và bắt Tràng viết giấy nợ hứa trả trong vòng một năm sau khi đặt chân đến đất Mỹ.
Cầm năm lượng vàng trong tay, ngày hôm sau Tràng hân hoan xin gặp nhân viên phụ trách hồ sơ. Viên công an vui vẻ bắt tay và đặt câu hỏi ngay:
- Ông đã đem đến số vàng theo yêu cầu của tôi ?
- Thưa anh vâng.
- Như vậy tốt. Bây giờ ngồi xuống đây chúng ta làm việc.
Đếm đủ năm lượng vàng, gói lại cẩn thận, kéo hộc bàn để vào xong viên công an nhìn Tràng:
- Như ông đã biết, lời khai của ông trong thời gian cải tạo trước sau gì người Mỹ cũng từ chối việc nhập cảnh.
Tràng hốt hoảng:
- Thế làm sao bây giờ?
- Phải ngụy tạo lại hồ sơ của ông bằng cách xóa bỏ các phần liên quan đến việc ông khai báo là đã bán đứng một tiểu đoàn bộ binh Mỹ.
- Dạ, cũng nhờ anh giúp đỡ xóa bỏ hẳn tì vết này.
Viên công an mở tròn đôi mắt:
- Đâu có dễ dàng vậy.
Tràng lo lắng:
- Thế, thưa anh phải làm sao.
- Ở đây không có quyền xóa bỏ vết tích trong hồ sơ, việc này phải do trung ương.
- Vậy xin anh chuyển lên giùm.
Viên công an cười:
- Anh tưởng chuyện động trời như vậy chỉ đáng giá có năm cây?
Tràng tái mặt, năm cây vàng đã vào túi nó bây giờ trở mặt đòi thêm, Tràng ngập ngừng:
- Bây giờ phải thế nào thưa...
- Đưa lên trung ương thì cả trăm cây chứ vài ba cây ăn nhằm gì.
Không còn bình tĩnh, Tràng đáp liều:
- Sao lúc đầu anh cho biết chỉ cần năm cây? Bây giờ tôi không còn cách nào khác. Anh giúp được thì giữ số vàng tôi đã đưa, nếu anh không giúp được thì anh vui lòng… trả lại vàng cho tôi. Tôi chán nản quá, chẳng còn ham muốn chuyện ra đi nữa.
Viên công an mở hộc tủ lấy gói vàng ra đút vào túi quần, đứng dậy:
- Ông ngồi chờ, tôi vào thỉnh ý cấp của trên tôi.
Năm phút sau viên công an trở ra mang theo một xấp hồ sơ khác, trước khi ngồi vào bàn anh ta không quên khép kín cửa phòng. Vừa để xấp hồ sơ xuống, viên công an cười thật tươi:
- Ông phải thưởng tôi cái gì mới được, tôi đã đề nghị cho ông một giải pháp rất tốt.
Tràng sung sướng ra mặt :
- Bây giờ chẳng có gì đáng giá, tôi hứa một khi qua được bên đó, tôi không bao giờ quên ơn anh.
- Nhớ đấy nhé !
Viên công an xoa hai tay vào nhau, tiếp tục :
- Cấp trên sẽ chấp thuận làm lại toàn bộ lời khai của anh với một điều kiện.
- Dạ thưa điều kiện gì ?
- Ông phải hợp tác với chúng tôi hay nói rõ hơn hợp tác với chính phủ.
Tràng bối rối hỏi lại :
- Hợp tác như thế nào ?
Viên công an cười :
- Thì đại loại cũng như hồi ông làm lúc còn trong các trại cải tạo !
Tràng ngây thơ hỏi lại :
- Anh nói làm ‘ăng ten’ bên Mỹ ?
- Đâu có thể nói như vậy.
- Xin anh cho biết rõ.
- Chính phủ sẽ giao cho anh công tác đặc biệt và quan trọng chứ đâu vớ vẫn như trong thời gian qua.
Không đợi Tràng thắc mắc, viên công an tiếp :
- Nghĩa là anh làm việc cho chính phủ, len lỏi vào các tổ chức chống đối, thừa cơ hội gây rối, phá hoại, ly gián, gây cho cộng đồng chúng rối loạn lên…
Nghe qua đây Tràng lắc đầu :
- Thưa anh tôi không thể làm những việc đó.
- Trước đây ông đã thi hành nhiệt tình lệnh các quản giáo..
- Trước khác bây giờ khác.
- Vết tích ông vẫn còn đây, nếu không chấp thuận làm việc cho nhà nước, chúng tôi sẽ bạch hóa vấn đề này chẳng những đối với người Mỹ mà còn phổ biến sâu rộng trong cộng đồng các ông ở nước ngoài. Lúc đó các bạn tù của ông ngày trước sẽ xẻ thịt ông ra…
Tràng giật mình, nếu cộng sản phổ biến rộng rãi việc phản bội của mình trong các trại tù đã đi qua. Chưa biết trả lời thế nào, viên công an đứng dậy :
- Tôi cho ông suy nghĩ. Trong ba ngày sau trở lại đây để ký giấy hợp tác, nếu không đến xem như ông từ chối, chúng tôi sẽ làm việc theo chỉ thị của cấp trên.
Cứ mỗi lần tiếp xúc với công an Tràng càng đau đầu thêm, kế hoạch làm việc của chúng như vết dầu loang, Tràng càng ngày càng bị bủa vây trong kế hoạch thâm độc của chúng. Tràng biết rằng, với cộng sản một khi đã dính vào thì không còn cách nào tách ra mà phải cúi đầu làm việc cho chúng. Với những thủ đoạn bắt chẹt, hù dọa để biến những người nhẹ dạ trở thành những công cụ nằm vùng, tuyên truyền, phá hoại và phục vụ theo chỉ thị đưa ra. Bây giờ năm lượng vàng và hồ sơ đen đã nằm trong tay chúng nó, Tràng chưa tìm được cách giải thích với vợ con nhưng đàng nào cũng phải bàn bạc với gia đình để đi đến một quyết định chung.
Tràng đem sự việc kể rõ đầu đuôi, vợ Tràng ngẫm nghĩ một lúc, gật đầu :
- Anh phải đi nước đôi, vì không còn con đường nào khác.
Tràng chưa có ý kiến thì bà vợ nói thêm :
- Đó là con đường tốt nhất của anh. Muốn sống phải theo thời, trong lúc Việt Nam đang hô hào hòa giải hòa hợp dân tộc, một vài thành phần đón gió ở nước ngoài đang trở cờ hy vọng trở về hợp tác với cộng sản qua chương trình đổi mới. Anh chỉ là một cựu tù cải tạo, không tài cán gì, không tiếng tăm nhưng anh sẽ thành công bằng con đường tắt. Trong một sáng một chiều có thể nổi tiếng rùm beng, bằng cách nhảy ra làm chính trị như đa số Việt kiều bên Mỹ, đang mượn con đường này để đánh bóng cho bản thân mình. Biết đâu thời cơ đến, khi chính phủ hòa hợp hòa giải thành lập, anh trở nên nhà lãnh đạo nằm vùng, sẽ trở về trong vinh quang. Cũng ông này ông nọ với chính phủ mới chứ đâu phải tứ vô danh tiểu tốt.
Nghe vợ nói nực cười trong bụng, Tràng đã sáng mắt trước xảo quyệt của cộng sản nhưng làm gì bây giờ, trong thế chẳng đặng đừng chưa có lối thoát, Tràng lặng thinh. Bà vợ say sưa tiếp :
- Anh xem như thằng Vách, chỉ có nghề bán chạp phô bên Cali, nổi danh như cồn trong nháy mắt bằng cách treo cờ đỏ và hình ông Hồ trong tiệm. Để rồi xem, mai kia nó cũng "ngựa chàng đi trước võng nàng theo sau" vinh quang trở lại quê hương. Đó là những người biết thời biết thế, anh không nghe người ta thường nói ‘đi với Bụt thì mặc áo cà sa, đi với ma thì mặc áo giấy’. Hay nhất trong thời buổi bây giờ phải bắt cả hai tay, vuột tay này còn tay kia chứ đứng hẳn một bên coi chừng sa lầy đấy anh ! Anh có thấy con đường tiến thân của anh được chính phủ bên này đề nghị ngắn và gọn không ? Phải chấp nhận làm bất cứ gì để được nổi tiếng vang danh. Anh xem các minh tinh màn bạc, muốn nổi danh, phải chịu cởi truồng hoặc đóng phim con heo trước khi leo lên đỉnh danh vọng. Anh đâu phải làm gì cực khổ. Tiền trợ cấp của Mỹ, tiền lương, tiền bồi dưỡng của chính phủ bên này anh cất đầy túi, ăn xong đi uống café, lâu lâu nhảy ra phá thối, thọt gậy bánh xe một vài lần, tiếng tăm sẽ nổi như cồn mà còn lập được công trạng lớn với cộng sản bên này, anh còn đòi gì nữa !
Tràng cười mỉm :
- Anh đã sai lầm trong lúc đầu, bây giờ mắc nghẹn rút chân ra không được. Em xem chẳng những không có cách gỡ mà còn ngậm đáng nuốt cay tuân theo mệnh lệnh của chúng nó. Còn em, đã trắng mắt gần mười năm nay mà vẫn chưa tỉnh. Lúc này vẫn còn mơ tưởng viễn vông vào cái bánh vẽ của chúng đưa ra, nào là sửa đổi chủ trương đường lối cộng sản, thành lập chính phủ hòa hợp trong nay mai, mở rộng vòng tay đón anh em ruột thịt về xây dựng quê nhà…
Bà Tràng vẫn cố cãi :
- Chính quyền Việt Nam thường lặp đi lặp lại hàng trăm hàng ngàn lần, họ đâu có thể đơn phương nuốt lời.
Quá bực mình nhưng Tràng vẫn nói ra để khỏi ấm ức trong lòng :
- Em hãy nhớ lại, các hiệp ước quốc tế về đình chiến, ngưng bắn, toàn vẹn lãnh thổ, chúng có tôn trọng không ? Các anh cường quốc to đầu đóng vai sen đầm quốc tế cũng vòng tay đứng ngoài xem cộng sản xua quân qua biên giới nuốt trọn miến Nam và đô hộ còn tàn bạo hơn cả trăm năm của Tây và ngàm năm của Tàu. Có ai phản ứng lên tiếng gì đâu ? Huống hồ gì những lời láo khoét mới đây để bịp quốc tế và moi tiền của ‘đồng bào ruột thịt’. Biết quá nhiều nhưng bây giờ anh phải nhắm mắt chấp nhận tiếp tục làm tay sai, trước tiên để được qua Mỹ, sau đó cũng cầu may, tương lai giữ được cái lon thiếu tá trên cổ áo như em mong muốn. Bây giờ nghe anh hỏi, chấp nhận hay không là việc quan trọng, cho anh biết ý kiến của em để quyết định.
Bà vợ Tràng xuống nước nhỏ nhẹ :
- Thôi đã lỡ mất năm lượng vàng, mình cần qua Mỹ sớm kiếm tiền trả nợ. Cứ âm thầm làm việc theo chỉ thị bên này. Biết đâu gặp vận may, mai kia trở về nếu không được ông này bà nọ thì cái lon thiếu tá của anh cũng còn trên vai. Ráng lên, nghe lời em.
***
Trở lại xác nhận việc hợp tác, ký một số giấy tờ cam kết xem như phó thác cho số mệnh đẩy đưa, Tràng được đối đãi ân cần bằng nước ngọt, thuốc lá và những cái bắt tay nồng nhiệt :
- Hồ sơ của ông chúng tôi sẽ chuyển gấp qua tổ chức của người Mỹ. Trong thời gian chờ đợi khám sức khỏe, ông sẽ được theo học một khóa huấn luyện trong một thời gian ngắn.
- Địa điểm ở đâu anh ?
- Ngay trong thành phố.
Thoát được những khó khăn kéo dài từ lâu về hồ sơ HO và kết quả ngày hôm nay sẽ đem lại nguồn vui cho gia đình, nhưng Tràng vẫn bận tâm về những suy tư lo lắng đang bắt đầu chớm nở. Ngày đến trình diện theo khóa học đặc biệt, Tràng ngạc nhiên khi lớp học tổ chức cho một người độc nhất. Thầy là một cán bộ chính trị, niềm nở bắt tay khi vừa gặp Tràng :
- Thân chào anh. Theo chỉ thị cấp trên, anh sẽ theo học với tôi trong một thời gian vài tháng để anh thông suốt đường lối, chính sách của chính phủ ta, địa bàn hoạt động, đánh giá đối phương, phương pháp làm việc, tình hình của từng thời điểm một và nguyên tắc báo cáo đột xuất cũng như định kỳ lên cấp chỉ huy trực tiếp của anh.
- Thưa anh, tôi sẽ làm việc đơn độc một mình hay tập hợp thành nhóm ?
- Độc lập một mình, chung quanh còn nhiều đồng nghiệp hoạt động song song nhưng anh không có quyền biết hoặc liên lạc trực tiếp với họ. Sẽ có người chỉ huy và ra lệnh cho anh. Khi qua đến Mỹ anh sẽ gặp cấp chỉ huy trực tiếp.
- Thưa, tôi muốn biết môi trường và địa bàn hoạt động.
- Trong chương trình học, anh sẽ thông suốt tất cả các vấn đề, nhưng tôi có thể vắn tắt cho anh hay một cách tổng quát. Địa bàn hoạt động là nơi định cư đông nhất của người Việt trên đất Mỹ, còn thành phố nào trong tiểu bang California thì do cấp chỉ huy của anh phối trí.
- Còn môi trường ?
- Anh đâu phải là một người tầm thường để sắp anh vào trong đám buôn bán kinh doanh cò mồi như anh Vách. Một cựu tù cải tạo rất có uy tín với nhóm người chống đối chế độ ta. Dĩ nhiên bên ngoài anh sẽ nhân danh một người chống cộng, len lỏi vào trong hàng ngũ cựu tù nhân, giựt giây, ném đá dấu tay rồi một lúc nào cần thiết, sẽ ra mặt lôi kéo các anh em đồng đội cũ….
[right]http://www.bredstik.com/dial-a-spy/images/logo.gif[/right]Tràng gật đầu tỏ vẻ thông suốt những lời hướng dẫn căn bản của anh chính trị viên trung ương.
- Anh phải len lỏi và gia nhập nhiều các đoàn thể đồng thời hoạt động thật đắc lực, nhất là những tổ chức có phương tiện truyền thông trong tay.
- Xin anh cho biết rõ mục này.
- Truyền thông chính là phương tiện hữu hiệu nhất để thông tin quảng bá trong đại chúng. Chỉ một hành động nhỏ trên các phương tiện này nhưng có hiệu lực gấp trăm lần những biến cố khác. Anh không thấy chính phủ ta luôn luôn cảnh giác bọn làm báo, làm thơ, viết văn, dù cho chúng viết thật hay lếu láo đi nữa cũng ảnh hưởng rất lớn đối với quần chúng. Hiện nay nhà nước đăng chú trọng đến bọn này. Bây giờ anh phải khắc phục tìm cách xâm nhập vào cơ sở có phương tiện truyền thông để tuyên truyền, bôi nhọ, phá thối chúng nó. Hành động phải khôn khéo như con cắc kè, tùy cơ ứng biến, đổi màu sắc thật nhanh chóng cho thích hợp với hoàn cảnh, môi trường…
Trong buổi học cuối cùng, chính trị viên vui vẻ bắt tay hứa hẹn :
- Anh phải phấn đấu thật nhiều trong nhiệm vụ giao phó, lập thật nhiều thành quả tốt. Chính phủ lúc nào cũng tưởng thưởng xứng đáng. Quân hàm cũ trên vai chắc chắn vẫn nằm trong tay anh khi bọn Ngụy chống cộng yếu thế, chấp nhận một chính phủ liên hiệp do ta giàn dựng ra như Mặt trận giải phóng miền Nam ngày trước. Biết đâu với khả năng của anh, ngày anh trở về quê huơng trong vinh quang như một người hùng có chức phận có công với nhân dân, với chính phủ và đất nước!
***
Vừa nhận giấy tờ nhập cảnh, Tràng được công an thông báo, một tổ chức bảo trợ sẵn sàng đón tiếp và giúp đỡ ngay sau khi gia đình Tràng đặt chân đến phi trường Los Angeles và tổ chức này đã lên kế hoạch đưa gia đình Tràng về định cư tại quận Cam.
Đinh Lâm Thanh
Đinh Lâm Thanh
(Tên các nhân vật trong truyện đều do sự tưởng tượng, nếu có trùng hợp, hoàn toàn ngoài ý muốn của người viết)
[left]http://www.brucegreenwood.com/videos/spy-video.jpg[/left]Tràng điên đầu với mấy tờ giấy bổ túc, ngày chạy đôn chạy đáo, đêm mất ngủ cả tháng nay nhưng vẫn chưa đi vào đâu. Hồ sơ xuất cảnh theo diện HO vẫn gặp khó khăn về phía chính quyền Việt Nam. ...
... Các bạn cùng cấp bậc cũ và cùng chung thời gian ‘nín thở qua sông’ đã có đủ giấy tờ, đang hân hoan tiệc tùng từ giã bạn bè người thân để lên đường định cư sang Mỹ. Thủ tục đầu tiên, Tràng không biết lý do gì, đã làm đi làm lại đến lần thứ ba, đúng nguyên tắc và đường đi nước bước yêu cầu từ phường quận cho đến thành phố, nhưng các giấy tờ cần thiết để bổ túc cho phía chính phủ Mỹ vẫn bị làm khó dễ, công an yêu cầu Tràng làm lại cả chục lần.
Thiếu tá, cấp bậc cũ trong quân đội miền Nam cộng thêm tám năm đi tù từ Nam chí Bắc, như vậy quá đủ điều kiện để ra đi dễ dàng theo chương trình nhân đạo, nhưng không hiểu lý do gì Việt Nam làm khó trong việc chuyển hồ sơ qua cơ quan thẩm quyền của Mỹ để cấp chiếu khán nhập cảnh. Đồ đạc trong nhà đã bán sạch, từ chiếc máy truyền hình cũ, tủ giường bàn ghế, áo quần cho đến những vật dụng cần thiết nhà bếp cũng ra chợ trời để gom góp tiền bạc lo tiếp hai đợt tiền giữa và tiền cuối, mới hy vọng được nhận giấy xuất cảnh. Những người đi trước cho biết, bình thường không dễ dàng gì để xin giấy tờ một cách nhanh chóng mà phải qua ba lần cửa ải. Việt nam đứng hàng đầu thế giới với nghệ thuật móc tiền của những người sắp bỏ nước ra đi. Một HO trước khi lên máy bay thường bị lột sạch những gì trên người, may mắn lắm, giữ lại được bộ áo quần che thân. Ba giai đoạn trong quá trình, từ cung cấp giấy tờ khai báo, bổ túc những thiếu sót giữa chừng, đến lúc hoàn chỉnh hồ sơ, chặng nào cũng phải làm lại bằng những thủ tục đầu tiên. Các cựu sĩ quan cũ muốn ra đi nhanh chóng, ai cũng đành nhắm mắt đóng góp để thoát sớm được ngày nào hay ngày đó.
Một hôm được công an thành phố kêu lên làm việc, Tràng cứ yên chí rằng hồ sơ đã được thông qua, nhưng không ngờ sau khi ngồi xuống, viên công an đẩy chồng hồ sơ đến trước mặt Tràng:
- Hồ sơ ông có sự cố! chúng tôi đã nghiên cứu kỹ và không thể chuyển qua chính quyền Mỹ.
Tràng tái mặt, run người hỏi lại:
- Dạ thưa ông…vì lý do gì?
Viên công an cười khỉnh:
- Ông nhớ lại trong thời gian cải tạo ông đã viết những lời khai thế nào?
- Dạ thưa ông, cách mạng biểu khai gì thì tôi khai cái đó.
Viên công an nhìn thẳng vào Tràng:
- Biết vậy, nhưng nếu người Mỹ đọc hồ sơ của ông thì…
- Thưa thì sao ạ?
- Dù có lòng nhân đạo cao độ nhưng chẳng một ai muốn chứa chấp một người phản bội ăn cháo đá bát như ông. Hãy về đi và nhớ lại những gì ông đã viết tự thú cả chục lần trong thời gian cải tạo thì ông sẽ rõ.
Chân tay bủn rủn, đâu óc quay cuồng, thế là hết mộng ra đi, Tràng không can đảm về nhà nhìn cảnh vợ con đang nóng lòng ngồi chờ tin. Tràng vào một quán ăn nhỏ kêu chai bia, uống một hơi rồi ôm đầu suy nghĩ.
***
Mang cấp bậc thiếu tá, Tràng đâu còn ngây thơ tin vào miệng lưỡi cộng sản khi chúng cam kết mười lăm ngày học tập cải tạo. Khăn gói lên đường, Tràng cũng đoán lờ mờ ít nhất vài ba năm trở lên so với một sĩ quan cấp tá. Với chính sách nhồi sọ, quản giáo và chính trị viên trại tù ngày đêm nhét riết vào lỗ tai rằng, phải thành tâm với cách mạng, khai báo thật tình tội lỗi của mình và biết ăn năn hối cải sẽ được cách mạng ân xá trở về đoàn tụ với gia đình. Thời gian học tập lâu hay mau đều do các anh tự định đoạt. Nghe mãi nhập tâm, trong bản khai lý lịch đầu tiên Tràng đã tự buộc mình đủ thứ tội, ăn bám, mù quáng, cúi mình làm tay sai cho đế quốc, bắn phá và giết hại cách mạng. Tràng cũng không quên moi trong đầu, tìm xem trong họ hàng nội ngoại cũng như bên gia đình vợ, ai đã có công với cách mạng để kê khai vào mục đích đánh bóng cho tấm thân tù tội của mình, hy vọng sẽ lọt vào mắt quan tòa xét xử. Tràng đã ghi một dọc từ trên xuống dưới những liên hệ của gia đình với Việt Minh trước kia, các phong trào cứu quốc cũng như Mặt trận giải phóng sau này. Nhưng chờ mãi chẳng thấy kết quả, Tràng đổi kế hoạch, làm việc cho các quản giáo bằng cách theo dõi tất cả hành động, lời ăn tiếng nói của bạn tù trong trại để báo cáo lên trên. Ban giám thị trại giam nhiều lần gọi riêng lên khen thưởng và động viên tinh thần hăng say của Tràng. Về đoàn tụ đâu chưa thấy, Tràng được chuyển trại liên tục với những chỉ thị rõ ràng, đến các trại mới phải thi hành bổn phận hăng say hơn để khám phá thành phần lười biếng lao động, đầu óc ngoan cố và có ý đồ trốn trại cũng như chống đối cách mạng. Sau nhiều năm thi hành chỉ thị của quản giáo, âm thầm tố giác hành động đồng đội nhưng Tràng vẫn không thấy gì sáng sủa.
Ngược lại các quản giáo vẫn thường xuyên nhắc nhở Tràng nên thành khẩn khai báo với cách mạng để được khoan hồng sớm. Không còn con đường nào để rút ngắn giai đoạn tù tội của mình, Tràng đánh bạo dựng lên nhiều chuyện với đầy đủ chi tiết trong các đợt làm lại lý lịch và khai báo trong năm. Tràng hy vọng đây là lá bài chót lập công với cách mạng với hy vọng sẽ được cứu xét cho về đoàn tụ với gia đình sớm.
Tràng nhớ lại rõ những lời khai đã viết liên quan đến người Mỹ rằng, Tràng trong lúc hành quân hỗn hợp, đã âm thầm liên lạc với cách mạng, cung cấp chính xác tọa độ nghỉ đêm của một tiểu đoàn bộ binh Mỹ đang tham dự hành quân với quân cộng hòa, để cách mạng quay các họng pháo tiêu diệt nguyên đơn vị này. Sau lần khai báo nặng ký, Tràng ngày đêm trông đợi cách mạng cứu xét nhưng chuyện ân xá lại càng kéo xa thêm. Kết quả, sau tám năm đi tù mới được phóng thích cùng một lượt với những đồng đội đã bị Tràng bán đứng nhiều lần.
Đêm nằm không chợp mắt, nếu đúng như lời viên công an cho biết, Tràng không còn một hy vọng mỏng manh để nắm trong tay tờ hộ chiếu nhập cảnh của Mỹ. Tràng ân hận đã đánh sai con bài, bây giờ dưới mắt người Mỹ, nếu chuyện có thật, Tràng là một người phản bội đồng đội, phản bội người bạn đồng minh đã đem xương máu để bảo vệ vùng đất tự do. Trong trường hợp người Mỹ kiểm chứng lại và khám phá ra rằng đây chỉ là chuyện bịa đặt, thì dưới mắt họ, Tràng là một người láu cá tráo trở không thể xứng đáng hưởng những ân huệ của chính phủ Mỹ đã ưu ái dành cho sĩ quan thuộc chế độ cũ.
Đang thất vọng nằm nhà, Tràng nhận được giấy gọi lên làm việc. Lần này viên công an yêu cầu Tràng đọc lại những lời khai đã viết nhiều lần cách đây vài năm. Tràng không ngờ ngày trước đã phịa ra những chuyện động trời. Bây giờ bút sa gà chết, làm cách nào để tẩy xóa vết những chứng tích phản bội do mình đã dựng lên lập công với cách mạng.
Đang phân vân, viên công an nhìn Tràng lắc đầu:
- Như vậy ông chẳng còn hy vọng gì ra đi.
Trả lời thế nào bây giờ, đàng nào cũng kẹt, nếu thú thật ra, không mang tội phản bội với người Mỹ thì cũng bị ghép vào tội khai gian với cộng sản. Im lặng là cách tốt nhất, thà không được Mỹ chấp thuận hồ sơ vẫn còn nhẹ hơn khi bị cộng sản khép tội lừa dối cách mạng. Nếu bị đưa vào trại cải tạo một lần nữa xem đi tù lãnh án chung thân khổ sai. Tràng gục đầu ngồi chết trân trên ghế.
Viên công an từ từ đọc lại các lời khai của Tràng, gật đầu thích chí, hỏi thẳng Tràng:
- Gia tài ông còn gì nữa không?
Tràng nhìn lên thành thật trả lời:
- Thưa anh, đâu còn gì, đồ đạc trong nhà đã bán sạch, bây giờ ăn bốc nằm đất đợi ngày lên đường...
Viên công an cười lớn tiếng:
- Lên đường đi đâu? Chỉ còn cách đi xuống âm phủ, ông biết không?
Tràng năn nỉ:
- Dạ thưa anh, còn cách gì cứu vớt được không?
- Nếu anh còn tiền còn vàng thì có thể kiếm được đường chạy.
Tràng phân trần:
- Anh nghĩ xem, tám năm trong trại cải tạo, vợ bắt ốc hái rau nuôi con, nhà cửa bán hết…
Viên công an nói nhỏ với Tràng:
- Ông về chạy một số tiền, may ra hồ sơ của anh mới được thông qua. Ngoài ra không còn phương cách nào khác.
- Thưa anh, tôi muốn đi nhưng thú thật, tiền của thì chẳng còn đồng nào. Ngay chiếc xe đạp cũng mượn của anh em để chạy lo giấy tờ.
Viên công an đứng dậy khoát tay:
- Ông về đi, suy tính, lúc nào có tiền hãy trở lại gặp tôi. Đừng nói nhiều.
Tràng cố vớt vát hỏi thêm:
- Thưa anh cho biết chừng bao nhiêu…tiền thì tôi có thể gặp được anh?
- Lấy rẻ, năm cây!
Không còn gì để hỏi thêm Tràng đứng dậy ra về.
Tràng đem chuyện này hỏi một người bạn thân cũng đi tù mới về, hồ sơ anh ta đã được thông qua, chỉ còn chờ khám sức khỏe và lên máy bay. Tuy kể hết ngọn ngành câu chuyện nhưng Tràng vẫn giấu kỹ làm mật báo viên cho quản giáo trong tù:
- Tôi vô tình bịa chuyện ra khai bậy có liên hệ với người Mỹ, bây giờ công an chúng nó đem chuyện này ra làm tiền tôi.
Thuận, người bạn hỏi lại:
- Sao anh dại thế, đi tù đúng là nín thở qua sông cho qua ngày, chỉ cần khai vớ vẩn nhưng đầu đuôi phải ăn khớp, trước sau như một cho qua chuyện. Chúng nó chẳng biết gì ngoài việc hù dọa, anh nào yếu bóng vía khai bậy ra là chết.
- Đâu biết trước chương trình nhân đạo của Mỹ đối với anh em sĩ quan chế độ cũ. Cứ tưởng vào tù là xong cuộc đời. Nếu được thả về cũng phải nhắm đường kinh tế mới mà bước. Nghĩ đến vợ con, tôi đã khai liều để kiếm điểm, mong được lọt sổ tù tội sớm, ai ngờ phút chót Mỹ quay trở lại cứu vớt chúng ta thế mới kẹt. Nếu biết trước thì nín thở qua sông cho yên thân, đâu tin được tụi nó. Bây giờ bể chuyện ra, mới thấy được cái thâm độc của cộng sản, tôi hối hận việc đã làm, nhưng làm được gì bây giờ?
- Nhưng anh khai chuyện gì?
- Thì khai ghét cay ghét đắng tụi Mỹ, trong cuộc hành quân hỗn hợp tôi thông báo mục tiêu để chúng nó tấn công bằng pháo tiêu diệt trọn một tiểu đoàn bộ binh Mỹ.
- Ồ, chuyện đó quan trọng chứ không phải đùa đâu. Bây giờ mấy tên công an muốn sao ?
- Đòi năm cây vàng để chạy chọt.
- Chạy cái gì, Mỹ đâu ăn hối lộ. Chỉ có bọn công an bày vẽ ra để ăn của anh.
Tràng gải đầu:
- Nhưng cũng kẹt khi chúng chuyển hồ sơ này đến tay người Mỹ.
- Kể ra năm cây vẫn còn nhẹ để gỡ rối hồ sơ của anh.
- Nhưng đào đâu ra vàng bây giờ!
- Anh xem lại có ai ứng trước cho anh, qua Mỹ lãnh tiền trợ cấp hay làm việc trả lại sau.
- Tôi cũng đang nghĩ đến chuyện đó.
Tràng không thể nói quanh, dối vợ con năm cây vàng đút lót để thông qua hồ sơ, nên buộc lòng nói hết sự thật. Bà Tràng mau mắn đứng ra mượn trước bên gia đình vợ và bắt Tràng viết giấy nợ hứa trả trong vòng một năm sau khi đặt chân đến đất Mỹ.
Cầm năm lượng vàng trong tay, ngày hôm sau Tràng hân hoan xin gặp nhân viên phụ trách hồ sơ. Viên công an vui vẻ bắt tay và đặt câu hỏi ngay:
- Ông đã đem đến số vàng theo yêu cầu của tôi ?
- Thưa anh vâng.
- Như vậy tốt. Bây giờ ngồi xuống đây chúng ta làm việc.
Đếm đủ năm lượng vàng, gói lại cẩn thận, kéo hộc bàn để vào xong viên công an nhìn Tràng:
- Như ông đã biết, lời khai của ông trong thời gian cải tạo trước sau gì người Mỹ cũng từ chối việc nhập cảnh.
Tràng hốt hoảng:
- Thế làm sao bây giờ?
- Phải ngụy tạo lại hồ sơ của ông bằng cách xóa bỏ các phần liên quan đến việc ông khai báo là đã bán đứng một tiểu đoàn bộ binh Mỹ.
- Dạ, cũng nhờ anh giúp đỡ xóa bỏ hẳn tì vết này.
Viên công an mở tròn đôi mắt:
- Đâu có dễ dàng vậy.
Tràng lo lắng:
- Thế, thưa anh phải làm sao.
- Ở đây không có quyền xóa bỏ vết tích trong hồ sơ, việc này phải do trung ương.
- Vậy xin anh chuyển lên giùm.
Viên công an cười:
- Anh tưởng chuyện động trời như vậy chỉ đáng giá có năm cây?
Tràng tái mặt, năm cây vàng đã vào túi nó bây giờ trở mặt đòi thêm, Tràng ngập ngừng:
- Bây giờ phải thế nào thưa...
- Đưa lên trung ương thì cả trăm cây chứ vài ba cây ăn nhằm gì.
Không còn bình tĩnh, Tràng đáp liều:
- Sao lúc đầu anh cho biết chỉ cần năm cây? Bây giờ tôi không còn cách nào khác. Anh giúp được thì giữ số vàng tôi đã đưa, nếu anh không giúp được thì anh vui lòng… trả lại vàng cho tôi. Tôi chán nản quá, chẳng còn ham muốn chuyện ra đi nữa.
Viên công an mở hộc tủ lấy gói vàng ra đút vào túi quần, đứng dậy:
- Ông ngồi chờ, tôi vào thỉnh ý cấp của trên tôi.
Năm phút sau viên công an trở ra mang theo một xấp hồ sơ khác, trước khi ngồi vào bàn anh ta không quên khép kín cửa phòng. Vừa để xấp hồ sơ xuống, viên công an cười thật tươi:
- Ông phải thưởng tôi cái gì mới được, tôi đã đề nghị cho ông một giải pháp rất tốt.
Tràng sung sướng ra mặt :
- Bây giờ chẳng có gì đáng giá, tôi hứa một khi qua được bên đó, tôi không bao giờ quên ơn anh.
- Nhớ đấy nhé !
Viên công an xoa hai tay vào nhau, tiếp tục :
- Cấp trên sẽ chấp thuận làm lại toàn bộ lời khai của anh với một điều kiện.
- Dạ thưa điều kiện gì ?
- Ông phải hợp tác với chúng tôi hay nói rõ hơn hợp tác với chính phủ.
Tràng bối rối hỏi lại :
- Hợp tác như thế nào ?
Viên công an cười :
- Thì đại loại cũng như hồi ông làm lúc còn trong các trại cải tạo !
Tràng ngây thơ hỏi lại :
- Anh nói làm ‘ăng ten’ bên Mỹ ?
- Đâu có thể nói như vậy.
- Xin anh cho biết rõ.
- Chính phủ sẽ giao cho anh công tác đặc biệt và quan trọng chứ đâu vớ vẫn như trong thời gian qua.
Không đợi Tràng thắc mắc, viên công an tiếp :
- Nghĩa là anh làm việc cho chính phủ, len lỏi vào các tổ chức chống đối, thừa cơ hội gây rối, phá hoại, ly gián, gây cho cộng đồng chúng rối loạn lên…
Nghe qua đây Tràng lắc đầu :
- Thưa anh tôi không thể làm những việc đó.
- Trước đây ông đã thi hành nhiệt tình lệnh các quản giáo..
- Trước khác bây giờ khác.
- Vết tích ông vẫn còn đây, nếu không chấp thuận làm việc cho nhà nước, chúng tôi sẽ bạch hóa vấn đề này chẳng những đối với người Mỹ mà còn phổ biến sâu rộng trong cộng đồng các ông ở nước ngoài. Lúc đó các bạn tù của ông ngày trước sẽ xẻ thịt ông ra…
Tràng giật mình, nếu cộng sản phổ biến rộng rãi việc phản bội của mình trong các trại tù đã đi qua. Chưa biết trả lời thế nào, viên công an đứng dậy :
- Tôi cho ông suy nghĩ. Trong ba ngày sau trở lại đây để ký giấy hợp tác, nếu không đến xem như ông từ chối, chúng tôi sẽ làm việc theo chỉ thị của cấp trên.
Cứ mỗi lần tiếp xúc với công an Tràng càng đau đầu thêm, kế hoạch làm việc của chúng như vết dầu loang, Tràng càng ngày càng bị bủa vây trong kế hoạch thâm độc của chúng. Tràng biết rằng, với cộng sản một khi đã dính vào thì không còn cách nào tách ra mà phải cúi đầu làm việc cho chúng. Với những thủ đoạn bắt chẹt, hù dọa để biến những người nhẹ dạ trở thành những công cụ nằm vùng, tuyên truyền, phá hoại và phục vụ theo chỉ thị đưa ra. Bây giờ năm lượng vàng và hồ sơ đen đã nằm trong tay chúng nó, Tràng chưa tìm được cách giải thích với vợ con nhưng đàng nào cũng phải bàn bạc với gia đình để đi đến một quyết định chung.
Tràng đem sự việc kể rõ đầu đuôi, vợ Tràng ngẫm nghĩ một lúc, gật đầu :
- Anh phải đi nước đôi, vì không còn con đường nào khác.
Tràng chưa có ý kiến thì bà vợ nói thêm :
- Đó là con đường tốt nhất của anh. Muốn sống phải theo thời, trong lúc Việt Nam đang hô hào hòa giải hòa hợp dân tộc, một vài thành phần đón gió ở nước ngoài đang trở cờ hy vọng trở về hợp tác với cộng sản qua chương trình đổi mới. Anh chỉ là một cựu tù cải tạo, không tài cán gì, không tiếng tăm nhưng anh sẽ thành công bằng con đường tắt. Trong một sáng một chiều có thể nổi tiếng rùm beng, bằng cách nhảy ra làm chính trị như đa số Việt kiều bên Mỹ, đang mượn con đường này để đánh bóng cho bản thân mình. Biết đâu thời cơ đến, khi chính phủ hòa hợp hòa giải thành lập, anh trở nên nhà lãnh đạo nằm vùng, sẽ trở về trong vinh quang. Cũng ông này ông nọ với chính phủ mới chứ đâu phải tứ vô danh tiểu tốt.
Nghe vợ nói nực cười trong bụng, Tràng đã sáng mắt trước xảo quyệt của cộng sản nhưng làm gì bây giờ, trong thế chẳng đặng đừng chưa có lối thoát, Tràng lặng thinh. Bà vợ say sưa tiếp :
- Anh xem như thằng Vách, chỉ có nghề bán chạp phô bên Cali, nổi danh như cồn trong nháy mắt bằng cách treo cờ đỏ và hình ông Hồ trong tiệm. Để rồi xem, mai kia nó cũng "ngựa chàng đi trước võng nàng theo sau" vinh quang trở lại quê hương. Đó là những người biết thời biết thế, anh không nghe người ta thường nói ‘đi với Bụt thì mặc áo cà sa, đi với ma thì mặc áo giấy’. Hay nhất trong thời buổi bây giờ phải bắt cả hai tay, vuột tay này còn tay kia chứ đứng hẳn một bên coi chừng sa lầy đấy anh ! Anh có thấy con đường tiến thân của anh được chính phủ bên này đề nghị ngắn và gọn không ? Phải chấp nhận làm bất cứ gì để được nổi tiếng vang danh. Anh xem các minh tinh màn bạc, muốn nổi danh, phải chịu cởi truồng hoặc đóng phim con heo trước khi leo lên đỉnh danh vọng. Anh đâu phải làm gì cực khổ. Tiền trợ cấp của Mỹ, tiền lương, tiền bồi dưỡng của chính phủ bên này anh cất đầy túi, ăn xong đi uống café, lâu lâu nhảy ra phá thối, thọt gậy bánh xe một vài lần, tiếng tăm sẽ nổi như cồn mà còn lập được công trạng lớn với cộng sản bên này, anh còn đòi gì nữa !
Tràng cười mỉm :
- Anh đã sai lầm trong lúc đầu, bây giờ mắc nghẹn rút chân ra không được. Em xem chẳng những không có cách gỡ mà còn ngậm đáng nuốt cay tuân theo mệnh lệnh của chúng nó. Còn em, đã trắng mắt gần mười năm nay mà vẫn chưa tỉnh. Lúc này vẫn còn mơ tưởng viễn vông vào cái bánh vẽ của chúng đưa ra, nào là sửa đổi chủ trương đường lối cộng sản, thành lập chính phủ hòa hợp trong nay mai, mở rộng vòng tay đón anh em ruột thịt về xây dựng quê nhà…
Bà Tràng vẫn cố cãi :
- Chính quyền Việt Nam thường lặp đi lặp lại hàng trăm hàng ngàn lần, họ đâu có thể đơn phương nuốt lời.
Quá bực mình nhưng Tràng vẫn nói ra để khỏi ấm ức trong lòng :
- Em hãy nhớ lại, các hiệp ước quốc tế về đình chiến, ngưng bắn, toàn vẹn lãnh thổ, chúng có tôn trọng không ? Các anh cường quốc to đầu đóng vai sen đầm quốc tế cũng vòng tay đứng ngoài xem cộng sản xua quân qua biên giới nuốt trọn miến Nam và đô hộ còn tàn bạo hơn cả trăm năm của Tây và ngàm năm của Tàu. Có ai phản ứng lên tiếng gì đâu ? Huống hồ gì những lời láo khoét mới đây để bịp quốc tế và moi tiền của ‘đồng bào ruột thịt’. Biết quá nhiều nhưng bây giờ anh phải nhắm mắt chấp nhận tiếp tục làm tay sai, trước tiên để được qua Mỹ, sau đó cũng cầu may, tương lai giữ được cái lon thiếu tá trên cổ áo như em mong muốn. Bây giờ nghe anh hỏi, chấp nhận hay không là việc quan trọng, cho anh biết ý kiến của em để quyết định.
Bà vợ Tràng xuống nước nhỏ nhẹ :
- Thôi đã lỡ mất năm lượng vàng, mình cần qua Mỹ sớm kiếm tiền trả nợ. Cứ âm thầm làm việc theo chỉ thị bên này. Biết đâu gặp vận may, mai kia trở về nếu không được ông này bà nọ thì cái lon thiếu tá của anh cũng còn trên vai. Ráng lên, nghe lời em.
***
Trở lại xác nhận việc hợp tác, ký một số giấy tờ cam kết xem như phó thác cho số mệnh đẩy đưa, Tràng được đối đãi ân cần bằng nước ngọt, thuốc lá và những cái bắt tay nồng nhiệt :
- Hồ sơ của ông chúng tôi sẽ chuyển gấp qua tổ chức của người Mỹ. Trong thời gian chờ đợi khám sức khỏe, ông sẽ được theo học một khóa huấn luyện trong một thời gian ngắn.
- Địa điểm ở đâu anh ?
- Ngay trong thành phố.
Thoát được những khó khăn kéo dài từ lâu về hồ sơ HO và kết quả ngày hôm nay sẽ đem lại nguồn vui cho gia đình, nhưng Tràng vẫn bận tâm về những suy tư lo lắng đang bắt đầu chớm nở. Ngày đến trình diện theo khóa học đặc biệt, Tràng ngạc nhiên khi lớp học tổ chức cho một người độc nhất. Thầy là một cán bộ chính trị, niềm nở bắt tay khi vừa gặp Tràng :
- Thân chào anh. Theo chỉ thị cấp trên, anh sẽ theo học với tôi trong một thời gian vài tháng để anh thông suốt đường lối, chính sách của chính phủ ta, địa bàn hoạt động, đánh giá đối phương, phương pháp làm việc, tình hình của từng thời điểm một và nguyên tắc báo cáo đột xuất cũng như định kỳ lên cấp chỉ huy trực tiếp của anh.
- Thưa anh, tôi sẽ làm việc đơn độc một mình hay tập hợp thành nhóm ?
- Độc lập một mình, chung quanh còn nhiều đồng nghiệp hoạt động song song nhưng anh không có quyền biết hoặc liên lạc trực tiếp với họ. Sẽ có người chỉ huy và ra lệnh cho anh. Khi qua đến Mỹ anh sẽ gặp cấp chỉ huy trực tiếp.
- Thưa, tôi muốn biết môi trường và địa bàn hoạt động.
- Trong chương trình học, anh sẽ thông suốt tất cả các vấn đề, nhưng tôi có thể vắn tắt cho anh hay một cách tổng quát. Địa bàn hoạt động là nơi định cư đông nhất của người Việt trên đất Mỹ, còn thành phố nào trong tiểu bang California thì do cấp chỉ huy của anh phối trí.
- Còn môi trường ?
- Anh đâu phải là một người tầm thường để sắp anh vào trong đám buôn bán kinh doanh cò mồi như anh Vách. Một cựu tù cải tạo rất có uy tín với nhóm người chống đối chế độ ta. Dĩ nhiên bên ngoài anh sẽ nhân danh một người chống cộng, len lỏi vào trong hàng ngũ cựu tù nhân, giựt giây, ném đá dấu tay rồi một lúc nào cần thiết, sẽ ra mặt lôi kéo các anh em đồng đội cũ….
[right]http://www.bredstik.com/dial-a-spy/images/logo.gif[/right]Tràng gật đầu tỏ vẻ thông suốt những lời hướng dẫn căn bản của anh chính trị viên trung ương.
- Anh phải len lỏi và gia nhập nhiều các đoàn thể đồng thời hoạt động thật đắc lực, nhất là những tổ chức có phương tiện truyền thông trong tay.
- Xin anh cho biết rõ mục này.
- Truyền thông chính là phương tiện hữu hiệu nhất để thông tin quảng bá trong đại chúng. Chỉ một hành động nhỏ trên các phương tiện này nhưng có hiệu lực gấp trăm lần những biến cố khác. Anh không thấy chính phủ ta luôn luôn cảnh giác bọn làm báo, làm thơ, viết văn, dù cho chúng viết thật hay lếu láo đi nữa cũng ảnh hưởng rất lớn đối với quần chúng. Hiện nay nhà nước đăng chú trọng đến bọn này. Bây giờ anh phải khắc phục tìm cách xâm nhập vào cơ sở có phương tiện truyền thông để tuyên truyền, bôi nhọ, phá thối chúng nó. Hành động phải khôn khéo như con cắc kè, tùy cơ ứng biến, đổi màu sắc thật nhanh chóng cho thích hợp với hoàn cảnh, môi trường…
Trong buổi học cuối cùng, chính trị viên vui vẻ bắt tay hứa hẹn :
- Anh phải phấn đấu thật nhiều trong nhiệm vụ giao phó, lập thật nhiều thành quả tốt. Chính phủ lúc nào cũng tưởng thưởng xứng đáng. Quân hàm cũ trên vai chắc chắn vẫn nằm trong tay anh khi bọn Ngụy chống cộng yếu thế, chấp nhận một chính phủ liên hiệp do ta giàn dựng ra như Mặt trận giải phóng miền Nam ngày trước. Biết đâu với khả năng của anh, ngày anh trở về quê huơng trong vinh quang như một người hùng có chức phận có công với nhân dân, với chính phủ và đất nước!
***
Vừa nhận giấy tờ nhập cảnh, Tràng được công an thông báo, một tổ chức bảo trợ sẵn sàng đón tiếp và giúp đỡ ngay sau khi gia đình Tràng đặt chân đến phi trường Los Angeles và tổ chức này đã lên kế hoạch đưa gia đình Tràng về định cư tại quận Cam.
Đinh Lâm Thanh
Thư Sài Gòn: Giáo dục ở VN, liệu có còn truyền thống “Tôn Sư, Trọng Đạo”?
Diệu Tâm/Người Việt Học trò hỗn hào, hành hung thầy cô... đang là nỗi đau nhức cho xã hội Việt Nam hiện nay. Hiện tượng xói mòn, giảm sút tinh thần tôn sư trong đạo đã là một thực tế nan giải. Do đâu có tình trạng “Hương đồng gió nội bay đi quá nhiều” này?
* Từ góc độ xã hội
Tôn sư trọng đạo là phạm trù đạo đức, ý thức hệ, thuộc về xã hội, đề cao đạo làm trò.
Xã hội Việt Nam hiện nay phát triển với tốc độ chóng mặt. Hôm nay, trong một khoảng khắc hàng triệu tin tức đổ trên đầu. Cái mà ta vừa nhận được đã là cái cũ với người. Sống trong xã hội như thế con người cũng tốc độ, không có thời gian dành cho mình, lại càng ít giờ sống vì người khác. Khoa học kỹ thuật phát triển, của cải làm ra nhiều, nhu cầu hưởng thụ cao... vô tình đẩy con người vào cuộc chạy tìm của cải, danh vọng. Một xã hội lấy đồng tiền làm nguyên tắc ứng xử thì đạo đức truyền thống chỉ là cái vỏ trỗng rỗng!
Xã hội xưa quá trầm tư về lẽ sống, đạo đức khiến con người sâu lắng và chậm chạp, đời sống vật chất không được nâng cao. Xã hội hôm nay lại quá thiên về khám phá, phát minh những kỹ thuật công nghệ. Cái quá bao giờ cũng không tốt.
Việt Nam là một bộ phận của thế giới, quá trình phát triển không vượt qua quỹ đạo chung của nhân loại. Ðất nước mở cửa, kinh tế thị trường làm đời sống khấm khá, đồng thời dễ khiến lòng người coi nặng đồng tiền, xem nhẹ tình nghĩa. Tôn sư trọng đạo ít nhiều bị ảnh hưởng, xói mòn.
* Ðến cái nhìn học trò-phụ huynh
Quan hệ thầy-trò ngày nay xích lại gần, cởi mở, thân thiện hơn. Mặt tích cực: Làm thầy, trò cảm hiểu và quý mến hơn, thầy dạy không đơn thuần là người truyền đạt mà còn là người anh, người chị, thậm chí là người bạn đi trước, chỉ dẫn... Mặt tiêu cực: Học trò dễ lạm dụng xem thầy... “cá mè một lứa.” Cũng có lúc chính người thầy khi vui vẻ đi quá lố. Lạm dụng hay quá lố đều làm mờ khoảng cách tôn sư trọng đạo.
Hiểu biết của học trò “nạp” từ nhiều phía, có khi kiến thức từ sách báo, internet mới hơn kiến thức thầy dạy. Dạy học lạc hậu, bị coi thường là tất yếu. Ngày nay học cùng lúc nhiều thầy, nhiều môn. Ðể tạo được ấn tượng lâu dài, sâu sắc giữa thầy-trò không dễ. Thiếu ấn tượng, dễ quên.
Bên cạnh, phụ huynh học sinh không ít người xem thầy... bình thường hóa. Dạy học chỉ là một nghề kiếm sống như bao nghề khác. Thực tế không có thời gian để thông hiểu thầy. Truyền thống bị thế hệ cha mẹ hờ hững sao tránh khỏi thế hệ con thờ ơ!
* Ðấm ngực: Lỗi tại tôi!
Một thực tế không muốn cũng phải công nhận, chính giáo dục, chính thầy giáo đôi khi “tự hủy” tinh thần tôn sư trọng đạo. Giáo dục của Việt Nam còn yếu, còn thiếu nghiêm minh, hay thay đổi dân làm sao coi trọng được (trên 23 lần dự thảo luật giáo dục, kết cục luật ra đời vẫn chưa theo nổi đời sống, chưa có tầm nhìn xa rộng - đặc tính tất yếu của giáo dục). Năm 1998, Quốc hội thảo luận luật giáo dục, đại biểu Quốc Hội kiêm nhạc sĩ Trọng Bằng đã nhận định giáo dục Việt Nam “tiếp thu một cách nhẹ dạ cách làm của nước ngoài... mất dần đi tính ổn định và nền nếp trong giáo dục.”
Ða số học sinh còn xem nhẹ Sư phạm, nếu có đủ tài lực hầu như đều chọn lựa “nhất Y, nhì Dược, hay nhất Kinh (kinh tế), nhì Tin (tin học)...” (học sư phạm không phải đóng tiền, được trợ cấp, song xem ra chẳng thu hút được người có tài). Giáo sư Lương Trọng Toản có lần nhận định thẳng thắn: “Một điều đáng lo ngại, trường sư phạm không tuyển được học sinh giỏi. Giáo viên yếu ra trường lại đào tạo ra trò chất lượng kém.” (tạp chí Thế Giới Mới, số 33). “Ðầu vào” yếu, “đầu ra” không hấp dẫn. Bài toán thừa và thiếu giáo viên vẫn chưa có lời giải. Vào sư phạm, thí sinh thiếu giỏi, người ta có quyền thiếu tin tưởng. Không có ý vơ đũa cả nắm, nhưng một bó đũa không ít chiếc “tha hóa,” còm yếu, bó đũa đâu được xem là đẹp.
Còn nhớ, nhiều năm trước năm 1975, trong một buổi họp (năm 1966) giáo sư Dương Thiệu Tống cảnh cáo: “Dần dần chúng ta đi xa ý nghĩa căn bản của giáo dục... mất cả ý nghĩa cao đẹp của nó. Giáo dục thành truyền thụ kiến thức, nhà giáo biến thành con người buôn chữ, học sinh đào tạo nên những mọt sách...”( Lời Chúa, số 24/1971).
Thầy cô “buôn chữ” giờ không còn xa lạ. Thương mại hóa giáo dục xuất hiện ở nhiều trường. Thầy cô “biến chất”, xem dạy là cách kiếm tiền. Không ít thầy, ở trường lớp dạy vừa đủ để học sinh... học thêm, có dấu hiệu “đì” những em không chịu học thêm lớp thầy mở...
“Học thêm là một vết thương rất lớn trong nền giáo dục quốc gia. Phụ đạo (dạy thêm) vốn không những là không xấu mà còn là biểu hiện cao đẹp của thầy giúp trò. Nhưng nó đã bị thương mại hóa đến mức băng hoại đạo đức.” - Giáo sư Hồ Sĩ Thoảng công khai phát biểu trước diễn đàn Quốc hội (dự thảo luật giáo dục, năm 1998).
“Thương mại hóa giáo dục,” trong cơ chế thị trường âu cũng là điều tất yếu. Chẳng nhà kinh tế nào bỏ tiền tỉ đầu tư mà không tính đến lợi nhuận. Các nước phát triển vẫn đầy trường tư thục, dân lập mà nền giáo dục của họ vẫn không ngừng phát triển. Vấn đề là ở chỗ công- tư phải rõ ràng. Thiếu minh bạch, “công” dễ bị kẻ xấu lợi dụng để “tư túi”... Ðồng tiền nghiễm nhiên đứng ở giữa, khoảng cách nhà trường-phụ huynh, thầy-trò vô tình cứ dần dần xa. Hơn lúc nào hết vấn đề giáo dục đang được người dân quan tâm, báo chí mổ xẻ, các nhà chuyên môn kiến trình những kinh nghiệm học hỏi. “Mệnh lệnh từ cuộc sống” đòi buộc “giáo dục phải chấn hưng”, khẩn cấp.
Giáo dục chưa đủ mạnh, thầy cô có dấu hiệu tha hóa... Trong xã hội hôm nay, một đàng con người luôn phải đối chọi cuộc sống, một bên thiếu điểm tựa niềm tin nơi giáo dục. Xói mòn, giảm sút tinh thần tôn sư trọng đạo dù không muốn cũng phải thừa nhận, dù chỉ là một bộ phận nhỏ, dù chỉ là những viên sạn trong nồi cơm, nhưng cũng làm ê răng khi nhai phải.
Dân tộc Việt Nam vốn coi trọng tình nghĩa, xưa “sư” được tôn vinh không chỉ vì giỏi mà hơn cả vì thầy là biểu tượng đạo đức. Gởi con theo học, cha mẹ yên tâm con mình thành tài và trên hết là thành người. Chiến lược giáo dục UNESSCO (điểm 18) cũng nhấn mạnh: “Thầy giáo phải được đào tạo để trở thành người giáo dục nhiều hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức.” Nhà giáo dục không thể thiếu tư cách đạo đức - nền tảng truyền trống tôn sư trọng đạo vững tồn, phát triển.
Một nét đẹp, một quan niệm đạo đức trở thành truyền thống tức là đã hợp ý trời, vừa lòng dân, đã trải luyện qua nhiều thế hệ. Nếu thế, ta có quyền tin tưởng, truyền thống tôn sư trọng đạo không mất đi, dù ít nhiều bị xói mòn. Viên ngọc nào chẳng trả giá cho sự mài rũa! Vầng mây có thể che mặt trời trong chốc lát, bão táp làm mất ánh dương đôi ngày, ý thức hệ có thể kéo dài thêm “đêm trường”... nhưng mặt trời là bất tử. Tôn sư trọng đạo đi vào lòng dân thì cũng bất tử như mặt trời.
Diệu Tâm
Diệu Tâm/Người Việt Học trò hỗn hào, hành hung thầy cô... đang là nỗi đau nhức cho xã hội Việt Nam hiện nay. Hiện tượng xói mòn, giảm sút tinh thần tôn sư trong đạo đã là một thực tế nan giải. Do đâu có tình trạng “Hương đồng gió nội bay đi quá nhiều” này?
* Từ góc độ xã hội
Tôn sư trọng đạo là phạm trù đạo đức, ý thức hệ, thuộc về xã hội, đề cao đạo làm trò.
Xã hội Việt Nam hiện nay phát triển với tốc độ chóng mặt. Hôm nay, trong một khoảng khắc hàng triệu tin tức đổ trên đầu. Cái mà ta vừa nhận được đã là cái cũ với người. Sống trong xã hội như thế con người cũng tốc độ, không có thời gian dành cho mình, lại càng ít giờ sống vì người khác. Khoa học kỹ thuật phát triển, của cải làm ra nhiều, nhu cầu hưởng thụ cao... vô tình đẩy con người vào cuộc chạy tìm của cải, danh vọng. Một xã hội lấy đồng tiền làm nguyên tắc ứng xử thì đạo đức truyền thống chỉ là cái vỏ trỗng rỗng!
Xã hội xưa quá trầm tư về lẽ sống, đạo đức khiến con người sâu lắng và chậm chạp, đời sống vật chất không được nâng cao. Xã hội hôm nay lại quá thiên về khám phá, phát minh những kỹ thuật công nghệ. Cái quá bao giờ cũng không tốt.
Việt Nam là một bộ phận của thế giới, quá trình phát triển không vượt qua quỹ đạo chung của nhân loại. Ðất nước mở cửa, kinh tế thị trường làm đời sống khấm khá, đồng thời dễ khiến lòng người coi nặng đồng tiền, xem nhẹ tình nghĩa. Tôn sư trọng đạo ít nhiều bị ảnh hưởng, xói mòn.
* Ðến cái nhìn học trò-phụ huynh
Quan hệ thầy-trò ngày nay xích lại gần, cởi mở, thân thiện hơn. Mặt tích cực: Làm thầy, trò cảm hiểu và quý mến hơn, thầy dạy không đơn thuần là người truyền đạt mà còn là người anh, người chị, thậm chí là người bạn đi trước, chỉ dẫn... Mặt tiêu cực: Học trò dễ lạm dụng xem thầy... “cá mè một lứa.” Cũng có lúc chính người thầy khi vui vẻ đi quá lố. Lạm dụng hay quá lố đều làm mờ khoảng cách tôn sư trọng đạo.
Hiểu biết của học trò “nạp” từ nhiều phía, có khi kiến thức từ sách báo, internet mới hơn kiến thức thầy dạy. Dạy học lạc hậu, bị coi thường là tất yếu. Ngày nay học cùng lúc nhiều thầy, nhiều môn. Ðể tạo được ấn tượng lâu dài, sâu sắc giữa thầy-trò không dễ. Thiếu ấn tượng, dễ quên.
Bên cạnh, phụ huynh học sinh không ít người xem thầy... bình thường hóa. Dạy học chỉ là một nghề kiếm sống như bao nghề khác. Thực tế không có thời gian để thông hiểu thầy. Truyền thống bị thế hệ cha mẹ hờ hững sao tránh khỏi thế hệ con thờ ơ!
* Ðấm ngực: Lỗi tại tôi!
Một thực tế không muốn cũng phải công nhận, chính giáo dục, chính thầy giáo đôi khi “tự hủy” tinh thần tôn sư trọng đạo. Giáo dục của Việt Nam còn yếu, còn thiếu nghiêm minh, hay thay đổi dân làm sao coi trọng được (trên 23 lần dự thảo luật giáo dục, kết cục luật ra đời vẫn chưa theo nổi đời sống, chưa có tầm nhìn xa rộng - đặc tính tất yếu của giáo dục). Năm 1998, Quốc hội thảo luận luật giáo dục, đại biểu Quốc Hội kiêm nhạc sĩ Trọng Bằng đã nhận định giáo dục Việt Nam “tiếp thu một cách nhẹ dạ cách làm của nước ngoài... mất dần đi tính ổn định và nền nếp trong giáo dục.”
Ða số học sinh còn xem nhẹ Sư phạm, nếu có đủ tài lực hầu như đều chọn lựa “nhất Y, nhì Dược, hay nhất Kinh (kinh tế), nhì Tin (tin học)...” (học sư phạm không phải đóng tiền, được trợ cấp, song xem ra chẳng thu hút được người có tài). Giáo sư Lương Trọng Toản có lần nhận định thẳng thắn: “Một điều đáng lo ngại, trường sư phạm không tuyển được học sinh giỏi. Giáo viên yếu ra trường lại đào tạo ra trò chất lượng kém.” (tạp chí Thế Giới Mới, số 33). “Ðầu vào” yếu, “đầu ra” không hấp dẫn. Bài toán thừa và thiếu giáo viên vẫn chưa có lời giải. Vào sư phạm, thí sinh thiếu giỏi, người ta có quyền thiếu tin tưởng. Không có ý vơ đũa cả nắm, nhưng một bó đũa không ít chiếc “tha hóa,” còm yếu, bó đũa đâu được xem là đẹp.
Còn nhớ, nhiều năm trước năm 1975, trong một buổi họp (năm 1966) giáo sư Dương Thiệu Tống cảnh cáo: “Dần dần chúng ta đi xa ý nghĩa căn bản của giáo dục... mất cả ý nghĩa cao đẹp của nó. Giáo dục thành truyền thụ kiến thức, nhà giáo biến thành con người buôn chữ, học sinh đào tạo nên những mọt sách...”( Lời Chúa, số 24/1971).
Thầy cô “buôn chữ” giờ không còn xa lạ. Thương mại hóa giáo dục xuất hiện ở nhiều trường. Thầy cô “biến chất”, xem dạy là cách kiếm tiền. Không ít thầy, ở trường lớp dạy vừa đủ để học sinh... học thêm, có dấu hiệu “đì” những em không chịu học thêm lớp thầy mở...
“Học thêm là một vết thương rất lớn trong nền giáo dục quốc gia. Phụ đạo (dạy thêm) vốn không những là không xấu mà còn là biểu hiện cao đẹp của thầy giúp trò. Nhưng nó đã bị thương mại hóa đến mức băng hoại đạo đức.” - Giáo sư Hồ Sĩ Thoảng công khai phát biểu trước diễn đàn Quốc hội (dự thảo luật giáo dục, năm 1998).
“Thương mại hóa giáo dục,” trong cơ chế thị trường âu cũng là điều tất yếu. Chẳng nhà kinh tế nào bỏ tiền tỉ đầu tư mà không tính đến lợi nhuận. Các nước phát triển vẫn đầy trường tư thục, dân lập mà nền giáo dục của họ vẫn không ngừng phát triển. Vấn đề là ở chỗ công- tư phải rõ ràng. Thiếu minh bạch, “công” dễ bị kẻ xấu lợi dụng để “tư túi”... Ðồng tiền nghiễm nhiên đứng ở giữa, khoảng cách nhà trường-phụ huynh, thầy-trò vô tình cứ dần dần xa. Hơn lúc nào hết vấn đề giáo dục đang được người dân quan tâm, báo chí mổ xẻ, các nhà chuyên môn kiến trình những kinh nghiệm học hỏi. “Mệnh lệnh từ cuộc sống” đòi buộc “giáo dục phải chấn hưng”, khẩn cấp.
Giáo dục chưa đủ mạnh, thầy cô có dấu hiệu tha hóa... Trong xã hội hôm nay, một đàng con người luôn phải đối chọi cuộc sống, một bên thiếu điểm tựa niềm tin nơi giáo dục. Xói mòn, giảm sút tinh thần tôn sư trọng đạo dù không muốn cũng phải thừa nhận, dù chỉ là một bộ phận nhỏ, dù chỉ là những viên sạn trong nồi cơm, nhưng cũng làm ê răng khi nhai phải.
Dân tộc Việt Nam vốn coi trọng tình nghĩa, xưa “sư” được tôn vinh không chỉ vì giỏi mà hơn cả vì thầy là biểu tượng đạo đức. Gởi con theo học, cha mẹ yên tâm con mình thành tài và trên hết là thành người. Chiến lược giáo dục UNESSCO (điểm 18) cũng nhấn mạnh: “Thầy giáo phải được đào tạo để trở thành người giáo dục nhiều hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức.” Nhà giáo dục không thể thiếu tư cách đạo đức - nền tảng truyền trống tôn sư trọng đạo vững tồn, phát triển.
Một nét đẹp, một quan niệm đạo đức trở thành truyền thống tức là đã hợp ý trời, vừa lòng dân, đã trải luyện qua nhiều thế hệ. Nếu thế, ta có quyền tin tưởng, truyền thống tôn sư trọng đạo không mất đi, dù ít nhiều bị xói mòn. Viên ngọc nào chẳng trả giá cho sự mài rũa! Vầng mây có thể che mặt trời trong chốc lát, bão táp làm mất ánh dương đôi ngày, ý thức hệ có thể kéo dài thêm “đêm trường”... nhưng mặt trời là bất tử. Tôn sư trọng đạo đi vào lòng dân thì cũng bất tử như mặt trời.
Diệu Tâm
Kỷ Độ Tịch Dương Hồng
Thưa quý bạn, theo chữ Hán, kỷ độ là mấy độ, tịch dương hồng là ánh hồng của mặt trời khi sắp lặn, nói tóm lại kỷ độ tịch dương hồng nghĩa là bao nhiêu lần ánh hoàng hôn đã qua rồi; chỉ có thế thôi, vậy mà khi viết tới cái nhan đề này và nghĩ đến những điều gì mình sắp viết, tự nhiên nước mắt Đoàn Dự tôi cứ ứa ra, mũi cay cay, cổ họng nghèn nghẹn không sao viết nổi.
Thơ của Cao Bá Quát có câu:
“Thế sự thăng trầm quân mạc vấn,
yên ba thâm xứ hữu ngư châu,
nằm vắt tay mà nghĩ chuyện đâu đâu,
đem mộng sự đọ với chân thân thời cũng hệt”.
Ý ông nói rằng việc đời lúc thăng lúc trầm bạn đừng hỏi tại sao, trên mặt sóng lăn tăn của cái xứ âm u thanh vắng kia có chiếc thuyền câu nho nhỏ, nằm vắt tay mà nghĩ chuyện xa gần, thấy những sự thực diễn ra trong cuộc sống cũng giống y hệt như trong cơn mộng.
Thơ của Bà Huyện Thanh Quan có câu:
“Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,
nền cũ lâu đài bóng tịch dương”.
Dấu vết ngựa xe xưa kia của bậc đế vương thành Thăng Long nay chỉ còn là hồn của những ngọn cỏ mùa thu, và nền cũ của các tòa lâu đài nay chỉ còn lại ánh mặt trời đang lặn chiếu xuống.
Thơ của Lý Bạch có câu:
“Cúc sinh Thạch Hổ điện,
lộc tẩu Cô Tô đài”.
Gai góc mọc lên ở điện Thái Vũ của vua Thạch Hổ đời hậu Triệu. Hươu nai chạy trên đài Cô Tô của vua Ngô Phù Sai.
Thơ của Đặng Dung trong thời nhà Trần mạt vận:
Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Sự khứ anh hùng ẩm hận đa...
Sử gia Trần Trọng Kim dịch:
Việc đời bối rối, tuổi già vay
Trời đất vô cùng, một cuộc say
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ
Anh hùng lỡ bước gẫm càng cay....
Thế đấy. Ngày 1-11. 1963 - 2005, bốn mươi hai năm! Biết bao nhiêu thăng trầm. Kỷ độ tịch dương hồng? Bao nhiêu buổi hoàng hôn đã tắt nắng rồi? Bạn có biết thành ngữ đầu lưỡi của người Tàu “kỷ độ tịch dương hồng” lấy từ đâu ra không? Trong bài ca mở đầu và cũng là bài ca chấm dứt tác phẩm Tam Quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung. Những câu đầu của bài ca đó như sau:
Cổn cổn Trường giang đông thệ thủy
Lãng hoa đào tận anh hùng
Thị phi, thành bại, chuyển đầu không
Thanh sơn y cựu tại
Kỷ độ tịch dương hồng...
Nghĩa đen:
Cuồn cuộn sông Trường giang chảy ra biển đông.
Sóng xô, cát dập vùi lấp biết bao anh hùng. Đúng hay sai,
thành hay bại đều thành không cả. Núi xanh vẫn còn đó y
như cũ, nhưng bao nhiêu chiều hoàng hôn đã tắt nắng rồi...
Nhà văn, nhà báo, nhà giáo Tử Vi Lang ngày trước (1973) dịch:
Sông dài cuồn cuộn ra khơi
Anh hùng sóng dập cát vùi thiên thâu
Dở hay, thành bại nào đâu?
Bể dâu chớp mắt ngoảnh đầu thành mơ!
Non xanh còn đó trơ trơ
Tà dương lần lữa sưởi hơ ánh hồng...
Trăm năm, thành hay bại cũng thành con số không.
Nghiêu Thuấn cũng thành khô cốt.
Đạo Chích cũng thành cốt khô.
Cái ngày 1-11-1963 oan nghiệt đó tôi còn đang đi học, sinh viên năm thứ nhất ĐHSP, nên ngoài quyển sách ra chưa hiểu biết gì nhiều về cuộc đời, nhưng tôi biết rằng chỉ trừ cuộc cách mạng Pháp 1789 là người ta chặt đầu nhà vua đang trị vì Louis XVI và hoàng hậu Marie-Antoinette, còn thì trên thế giới cứ hễ có đảo chánh người ta chỉ đuổi vị lãnh đạo bị lật đổ ra nước ngoài, chẳng bao giờ giết. Ở nước ta thì giết béng, ráo cả hai anh em rồi sau đó còn lập tòa án giết thêm người em út nữa. Người Việt Nam “hiền” ở chỗ nào? Tôi không nghĩ như vậy.
Cuối đời nhà Tây Sơn, sau khi vua Quang Trung chết, quân đội chia rẽ, Gia Long Nguyễn Phước Ánh thắng thế, lên ngôi, đánh bắt được toàn bộ các anh em vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản, Nguyễn Quang Thùy và các tướng lãnh Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân..vv.. Gia Long sai nhốt anh em Quang Toản, Quang Thùy cùng mọi người vào cũi, sai đào mả vua Quang Trung và Đông cung hoàng hậu họ Bùi mẹ của Quang Toản, Quang Thùy lên, nọc ra đánh các bộ xương này cho đau lòng những người con, sau đó bỏ vào cối giã, nhồi chung với thuốc súng thần công, bắn. Làm tội người chết xong đến người sống. Đem anh em Quang Toản, Quang Thùy ra, trói vào cột, cứ đánh một tiếng trống thì xẻo một miếng thịt, cái đó kêu là tùng xẻo, cho đến chết. Riêng Quang Toản thì không cho chết “dễ dàng” như vậy, trước khi chết để nằm ngửa, cột hai chân hai tay vào bốn con trâu, đánh cho trâu chạy bốn hướng khác nhau, xé xác. Lại đem nữ tướng quân Bùi Thị Xuân là vợ của đại tướng Trần Quang Diệu và đứa con gái duy nhất mới 13 tuổi của ông bà này ra cho voi dày. Khốn nỗi con vật lại là con voi trận thân thiết của bà Bùi Thị Xuân, trông thấy chủ nó quỳ phục xuống theo thói quen để bà leo lên.
Viên quản tượng hét: “Quỳ xuống, voi dầy cho dễ!”.
Bà Bùi cũng trợn mắt hét: “Muốn giết thế nào thì giết, việc gì ta phải quỳ?”.
Đứa con gái khóc: “Mẹ ơi cứu con với, con sợ lắm!”.
Bà nói: “Thà chết còn hơn sống với lũ tàn ác mặt người dạ thú! Không việc gì phải sợ!...”.
Sau đó viên quản tượng phải cho con voi dùng ngà hất ngã cả hai mẹ con rồi mới cho giẫm lên, nát bấy. Riêng Trần Quang Diệu thì vì ông nổi tiếng là bậc đại hiếu, thờ kính bà mẹ không ai bì nổi, lúc ấy bà cụ đã 80 tuổi nên Gia Long sợ thất chính trị, không dám làm tội nặng, chỉ ra lệnh chém ngang lưng là cách chém tàn khốc nhất cùng mọi người khác. Tất cả các chuyện này đều được ghi trong sách của cụ Phạm Khắc Hòe, một người sống tới hơn 100 tuổi, đổng lý văn phòng thân tín của vua và quốc trưởng Bảo Đại; mãi tới năm ngoái, 2004, cụ mới mất.
Tôi đọc lịch sử, tự cổ chí kim chưa thấy nước nào có sự trừng phạt đáng sợ như thế. Bởi vậy ai nói tiền nhân của chúng ta hiền thì tôi không tin. Từ sự không tin đó, cứ viết lách gì là tôi thấy “rét” theo kiểu ông Trần Tế Xương đã nói “Sĩ khí rụt rè gà phải cáo”. Trước đây, đọc thơ của ông Nguyễn Vỹ: “Nhà văn An-nam khổ như chó!”, Đoàn Dự tôi cứ tưởng mình là con dog, người ta bắt làm thịt, bây giờ lại thấy mình là con chicken, con cáo bắt ăn thịt, vậy thì không “rét” sao được?
Cách đây mấy tuần, có một vị độc giả ở bên Úc gọi điện thoại về đấu láo chơi với Đoàn Dự khoảng hơn một tiếng đồng hồ. Ông cho biết ông tên H., 70 tuổi, ngày trước là sĩ quan quân đội đóng ở Đà Nẵng, bây giờ ở bên Úc sống với con cái và nhờ tiền già. “Vậy thì anh lớn hơn em gần một giáp rồi, em phải gọi anh bằng anh, xưng em”. “Ừ, cũng được. Này, Đoàn Dự có biết đánh chén thịt chó không nhỉ? Bên này không có thịt chó, lắm lúc thèm muốn chết luôn. Tháng sáu năm tới tôi về, nhất định phải ghé chơi kéo Đoàn Dự đi chén thịt chó mới được”. “Em là dân Thái bình Thái lọ mà anh! Người Thái bình Thái lọ vừa mới sinh ra trên tay đã cầm một cái đùi chó!”. “Ha ha ha, xạo ghê đi!
Đoàn Dự xạo dữ vậy mà đọc bài thấy cái gì cũng né ghê gớm. Cậu chàng “rét” lắm phải không?”.
“Rét chứ anh! Tụi em là phó thường dân,... lơ lửng trong không gian. Bên ấy bảo: “Đoàn Dự ở VN, vậy thì Đoàn Dự là CS”. Bên này bảo: “Đoàn Dự sống dưới chế độ cũ, vậy thì Đoàn Dự là Tư Bản”. Riết rồi em chẳng biết mình là ai nữa, sống lơ lửng, kiếm ăn bằng nghề viết lách nhưng cái gì cũng ráng mà né. Không né, lỡ viết tầm bậy, bên ấy hiểu lầm, giận, tẩy chay không cho viết nữa thì đi chơi với bà cả đọi. Còn viết thẳng thừng, lỡ bên này giận, cho vào nằm nghỉ mát trong nhà đá thì... mệt, cứ kính nhi viễn chi ráo tuốt luốt là tốt hơn cả”.
“Đúng đấy, thấy có những chuyện báo chí đăng tùm lum, ai cũng biết nhưng Đoàn Dự im như hột thóc, không đả động một tiếng nào cả, bên này tụi tôi đoán Đoàn Dự cũng biết nhưng né không muốn nói tới, tụi tôi rất thông cảm “.
“Các anh hiểu cho như vậy thì em cám ơn nhiều lắm”.
Đấy là chuyện bên Úc, còn bên Canada cũng có một chuyện nho nhỏ hơi tức cười, Đoàn Dự tôi xin kể để quý bạn nghe chơi cho vui.
Cách đây ít lâu, một hôm anh Đỗ Nghi, tổng thư ký tờ TB Canada và TB USA bỗng mail cho Đoàn Dự một cái email hơi lạ rằng ở bên ấy nhân kỷ niệm 30 năm xa đất nước, các anh có tổ chức một cuộc thi viết lấy tên là “Ba mươi năm nhìn lại “.Độc giả viết bài rất đông, đặc biệt trong đó có một vị gửi bài, kèm theo một bức thư viết cho tòa soạn nói rằng bà không quen với Đoàn Dự, không biết mặt Đoàn Dự nhưng nếu bài này được đăng thì xin tòa soạn trực tiếp gởi số tiền nhuận bút 100 CND $ mà bà được hưởng cho Đoàn Dự, coi như một chút quà nhỏ, bà hy vọng Đoàn Dự sẽ nhận, không nghĩ đó là một sự giúp đỡ. Cuối email, anh Đỗ Nghi ghi: “Vậy cuối tháng này, ngoài số tiền nhuận bút thường lệ, bồ sẽ nhận được thêm $ 100 nữa, đừng lấy làm ngạc nhiên nhé”.
Vâng, kể ra cũng ngạc nhiên thật. Câu chuyện nho nhỏ đó làm cho Đoàn Dự tôi vừa vui mừng, vừa cảm động lại vừa tức cười. Tại sao vị độc giả này lại giàu trí tưởng tượng, nghĩ ra cách tặng quà tài tình thế nhỉ? Cho quà mà người nhận quà lấy làm hãnh diện, cứ vênh mặt lên không bị một chút mặc cảm rằng mình ở bên VN đang đọi, người ta...”xóa đói giảm nghèo”! Trời sinh ra phụ nữ là như vậy chăng? Hết sức khéo léo, hết sức tình cảm. Một món quà văn nghệ tặng cho người làm văn nghệ, đối với tôi nó lớn hơn con số 100 CND$ bình thường rất nhiều. Nói thật, 100 USD hay 100 CND$ đôi khi tôi cũng được bà con anh em cho chứ không phải không, nhưng chưa bao giờ tôi nhận được một món quà phát xuất từ một tình cảm dành cho văn nghệ như vậy. Ha ha, cuộc sống mà tôi cứ tưởng là khô khan, đầy sự kỳ thị: “Đoàn Dự sống ở VN, vậy thì Đoàn Dự là CS”, “Đoàn Dự sống dưới chế độ cũ, vậy thì Đoàn Dự là Tư Bản”, té ra bên Úc có ông anh 70 tuổi thông cảm về việc Đoàn Dự “rét”, còn ở Canada thì có một vị độc giả thông cảm về việc Đoàn Dự “đọi”. Đời ta như vậy thì dù có “đọi” hay “rét” cũng chỉ là tạm thời còn tình cảm mới là cơ bản (đi cải tạo có 6 tháng theo diện “9 tuần quân sự thời cũ” thôi nhưng thuộc bài lắm đấy!). Ta còn oán hận gì nữa? Muốn làm con dog cũng được, muốn làm con chicken cũng được, chẳng sao hết, tôi biết ơn đời và biết ơn mọi người.
Mấy hôm sau, anh Đỗ Nghi lại thận trọng gửi cho tôi bài báo của vị độc giả đã có nhã ý tặng quà cho tôi với nhan đề là “Trũng Mù Sương”, tên tác giả là Trần Hồng Linh. A, tác giả Trần Hồng Linh, vậy thì tôi đã có đọc một truyện ngắn của vị độc giả này rồi, hình như trên Internet hay một tờ báo nào đó ở Canada, ai đã cho mượn tôi không nhớ rõ.
Truyện đó có tên là “Lạy trời mưa xuống”, lấy ý từ câu ca dao VN: “Lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm, lấy rơm đun bếp”, bây giờ nhân vật tên Ngọc và mấy cô bạn người VN làm công nhân trong một nhà máy của người Ấn Độ hay người Do Thái (tôi không nhớ rõ) lạy trời mưa xuống để... ban đêm đi bắt giun đất (trong Nam gọi là con trùn vì cứ đụng tới thì nó “chùn” lại), cứ trời mưa đất ướt thì chúng từ bên dưới chui lên lo chuyện đực cái với nhau rất nhiều, một đêm nếu hết sức chịu đựng cái giá lạnh, có thể bắt được tới hàng chục ký, đại lý có xe chở đi bắt, tính giá tương đối cao, bán rất có tiền. Tác giả viết rất hay, rất tài tình với lối viết chắc chắn, xác thực, người đọc cứ như nhìn thấy rõ mọi việc diễn ra trước mắt. Nhất là việc cắt đoạn, tác giả cắt rất dứt khoát, chỗ nào đáng bỏ là bỏ, không viết dài dòng, xem ra có vẻ hết sức chuyên nghiệp. Bây giờ, cũng với giọng văn tài tình đó, trong “Trũng Mù Sương” tác giả kể lại những ngày vợ chồng, con cái sống trong trại tạm trú ở Hồng Kông cực kỳ phức tạp: cờ bạc, trộm cắp, đĩ điếm.... Vẫn rõ mồn một và rất hấp dẫn. Thế chẳng trách anh Đỗ Nghi viết cho tôi: “Bà này có trình độ lắm, viết rất hay và rất có lòng, anh cứ đọc coi sẽ rõ”.
Ông tổng thư ký tờ TB đâu có biết tôi không phải là... tổng thư ký nên có thời giờ rảnh rang tìm tòi, đã từng đọc một truyện ngắn của vị độc giả này rồi. Nhưng thôi, nói thế đã đủ, tôi không nói thêm nữa. Bây giờ tôi kể sang chuyện bên Mỹ.
Một hôm, lang thang trên Internet trong website Đặc Trưng.com, tôi thấy có tin ghi rằng nhà văn Hoàng Hải Thủy yêu cầu từ nay trở đi xin đừng ai lấy các tác phẩm của ông đưa lên website của mình nữa, bởi vì các tác phẩm này ông đã giao cho website Thư Viện Việt Nam.com giữ độc quyền. Đối với tôi, các anh Văn Quang, Thanh Thương Hoàng, Hoàng Hải Thủy..vv.. không phải là người xa lạ. A, thì ra trên Internet có website mang tên Thư Viện Việt Nam. Tôi đi tìm, quả nhiên thấy website này thật nhưng có lẽ các truyện dài truyện ngắn của anh H.Hải Thủy chưa làm xong nên chưa đưa lên. Tôi tò mò vô trang “Forums”. Có đủ thứ tin tức, hội thảo văn nghệ. Trong đó có một tin khiến tôi để ý là gần đây ở bên Mỹ có một cuốn sách của một tác giả người Việt đã từng sống dưới chế độ “độc tài gia đình trị”, buộc tội hai anh em ông Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu rất nặng, nào là độc tài, khát máu, liên lạc với CS, mỗi năm nhận được một cành đào do HCM gửi tặng..vv. Chính tác giả đó lại lập lại các lý luận trên trong cuốn sách, chửi bới anh em ông Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu và bà Trần Lệ Xuân nát nước trên cả website đó nữa.
Ý kiến độc giả phát biểu bên dưới có người ủng hộ, có người phản đối. Đặc biệt, có ý kiến của một cậu thanh niên “phê phán văn nghệ” hết sức tức cười như thế này, tôi xin lỗi phải ghi nguyên văn từng chữ để quý bạn xem xét, cam đoan từ xưa đến nay chưa từng có ai phê bình văn học độc đáo như thế: “Đù má! Đọc đéo hiểu gì hết!”. Chỉ có vậy, không thêm một tiếng nào nữa.
Cậu “đéo” hiểu thì cũng đúng thôi, bởi vì ông Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh với chức vụ thủ tướng năm 1954, năm sau truất phế Bảo Đại, lên làm tổng thống, như vậy là cách nay đúng 50 năm - nửa thế kỷ - năm nay cậu mới 20 tuổi, không thể hiểu được là phải.
Tính tôi không thích tranh luận. Ai muốn nói gì, viết gì, xuất bản cái gì, mặc kệ họ, vạch miệng tôi cũng không có ý kiến. Chuyện đã qua cách đây gần nửa thế kỷ, tức đã đi vào lịch sử, phải để cho lịch sử phán xét. Phương pháp viết sử là người viết chỉ trình bày, không mạt sát các nhân vật đã đi vào lịch sử. Bởi vì làm như vậy các đời sau sẽ bị lầm lẫn, cậu thanh niên “đéo hiểu gì hết” sẽ bị lầm lộn, hiểu sai cho tiền nhân.
Vậy thì, nhân ngày 1-11 (1963-2005), 42 năm, 15,330 cái nắng hoàng hôn đã tắt rồi, Đoàn Dự tôi xin ghi lại dòng tộc hai họ Ngô, Trần để quý bạn và cậu thanh niên “phê bình văn học một cách tức cười” bên Mỹ hiểu rõ. Quý bạn hãy tin đi, tôi đã tìm tòi rất kỹ. Chỉ có một điều tôi không thể hiểu được là tại sao một dòng tộc như vậy mà đến khi suy vong lại tan nát khủng khiếp đến thế. Giống như dòng họ Kennedy chăng? Cả vua Quang Trung nữa cũng thế, mất đột ngột năm 42 tuổi, sau đó con cái, cháu chắt bị tru di, cả hai đứa con của Ngọc Hân công chúa cũng bị cho uống thuốc độc. Trời có mắt hay không có mắt? Không thể hiểu được.
Sau đây xin mời quý bạn tường lãm.
*
TÔNG TỘC HỌ NGÔ
Gia đình họ Ngô xưa kia là người Bắc, gốc ở tỉnh Sơn Tây gần với Hà Nội. Ông nội của ông Ngô Đình Diệm khi ở Sơn Tây rất nghèo, nhà ở bên bờ sông, thường đi làm thuê và chèo đò, một tấc đất không có nên phải đưa gia đình vào miền Trung, cũng ở bên bờ sông thuộc làng Đại Phong, huyện Phong Lộc (sau sáp nhập vào huyện Lệ Thủy) tỉnh Quảng Bình, làm dân ngụ cư.
Ông nội nghèo quá nên chẳng bao giờ biết tới chùa chiền, chỉ thờ cúng tổ tiên. Khi gia đình vào đất Quảng, vẫn làm nghề chèo đò và sinh ra cậu bé Ngô Đình Khả. Cậu bé Khả thường chơi đùa thân thiết với một cậu bé ở trong làng cũng trạc tuổi cậu, nhà cũng rất nghèo, gia đình theo Thiên Chúa giáo, tên là Nguyễn Hữu Bài. Hai cậu bé này học hành hết sức thông minh mặc dầu cậu Khả cứ lúc rảnh lại phải ra phụ việc cơm nước, coi đò cho bố. Cậu rất ngoan ngoãn.
Cậu Nguyễn Hữu Bài có người chú ruột tên là Nguyễn Hữu Thơ làm linh mục, trông coi chăn dắt giáo dân trong địa hạt. Lúc ấy số người theo Thiên Chúa giáo tương đối còn ít, nhất là những người biết tiếng Tây để có thể đi tu thì lại càng hiếm hơn nữa. Linh mục Thơ thấy cháu và cậu bé Khả thông minh, ngoan ngoãn, rất quý mến nên hết lòng giúp đỡ. Ông lái đò cha của cậu Khả cảm cái ơn đó nên tự nguyện theo Thiên Chúa giáo. Linh mục Thơ bèn làm giấy tờ “bổn đạo”, can thiệp xin cho cậu Khả vào học trong một trường dòng với hy vọng sau này Ngô Đình Khả sẽ trở thành linh mục. Tiếp theo, ông lại xin cho Nguyễn Hữu Bài, vậy là hai cậu bé học chung cùng trường, cùng lớp.
Học xong tại tiểu chủng viện, hai cậu được đưa sang Pénang (Malaysia) học tại đại chủng viện để sau khi trở thành linh mục sẽ về nước phục vụ tại các giáo phận Đàng ngoài (miền Bắc). Các cậu thông minh, nói tiếng Pháp rất giỏi nên đối với các giáo sĩ bản xứ trong Đại chủng viện có ý hơi kiêu. Sau khi hai ông đậu xong Cử nhân thần học (thuộc về triết học), Đại chủng viện đánh giá, đa số các giáo sĩ đều nhận xét rằng cả hai đều kiêu, không đúng bản chất của một linh mục, nên cho ra ngoài đời. Vậy là hai ông về nước.
Lúc ấy triều đình Huế đang cần người giỏi cả tiếng Pháp lẫn chữ nho để làm nghề thông dịch và dịch sách. Các linh mục Pháp tiến cử, vậy là hai ông được nhận vào làm trong triều đình Huế.
Ở trong triều, ngoài việc dịch các văn bản chữ nôm, chữ Hán sang tiếng Pháp, cả ông Khả lẫn ông Bài còn thay đổi nhau làm thông dịch viên cho vua và các quan đại thần trong triều khi tiếp xúc với khách nước ngoài. Với đức tính cần cù của người miền Trung (cậu Khả gốc Bắc, sinh tại Quảng Bình nên nói tiếng Trung và trở thành người Trung) cộng với khả năng biết nhiều hiểu rộng của người đã đậu Cử nhân thần học trong Đại chủng viện, hai cậu được cả triều đình quý nể. Khi vua Thành Thái lên ngôi, hai ông làm quan dưới đời Thành Thái, dần dần lên tới chức thượng thư.
Lịch sử VN chỗ này hơi phức tạp, chúng ta nên xem xét kỷ:
Vua Gia Long lên ngôi, làm vua được 18 năm, mất, tới các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.
Vua Tự Đức không có con, nuôi 3 người cháu tên là Dục Đức, Chánh Mông và Dưỡng Thiện là con của hai người em ruột (Thụy Thái vương và Kiên Thái vương) làm con nuôi.
Khi vua Tự Đức chết, ngài di chiếu cho ông Dục Đức lên ngôi nhưng được ba ngày thì bị hai quan Phụ chánh đại thần là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết bỏ tù cả gia đình rồi bỏ đói, bắt uống thuốc độc chết.
Dục Đức chết, đáng lẽ ông Chánh Mông là người con nuôi thứ hai được lên nhưng người này đã lớn, Tường và Thuyết sợ mất quyền nên bèn đem người em ruột còn nhỏ của vua Tự Đức lên làm vua, đó là vua Hiệp Hòa.
Được mấy hôm, Tường và Thuyết lại giết vua Hiệp Hòa, đưa người con nuôi thứ ba là ông Dưỡng Thiện lên làm vua, đó là vua Kiến Phúc.
Được ba tháng, Tường và Thuyết lại giết vua Kiến Phúc, đem người em ruột mới 10 tuổi của vua Kiến Phúc lên làm vua, đó là vua Hàm Nghi.
Trong bốn tháng, Tường và Thuyết giết ba vị vua nên trong ca dao tục ngữ tại Huế lúc đó có câu: “Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết, tứ nguyệt tam vương triệu bất tường”. Nghĩa là một con sông Hương mà bên này là triều đình Việt, bên kia là “triều đình” Pháp (lưỡng quốc) thì khó nói năng gì được; bốn tháng mà ba vị vua là điềm chẳng lành. Nhưng sự thực cứ cuối mỗi câu nói trên lại kể tên một kẻ gian thần, giết vua.
Vua Hàm Nghi lớn lên, lánh vào trong núi ở Quảng Bình, Quảng Trị đứng đầu cho nghĩa quân chống Pháp. Pháp đánh mạnh, chiêu dụ đầu hàng không được, bèn đưa ông Chánh Mông là người con nuôi thứ hai của vua Tự Đức lên làm vua, đó là vua Đồng Khánh.
Ba năm sau, vua Đồng Khánh chết, các con còn nhỏ, Pháp bèn đưa người con của vua Dục Đức (tức người làm vua được 3 ngày bị Tường và Thuyết giết) mới 12 tuổi, đang bị Tường và Thuyết giam với mẹ trong ngục lên làm vua, đó là vua Thành Thái. Hai ông Ngô Đình Khả và Nguyễn Hữu Bài làm thượng thư dưới triều ông vua nhỏ này.
Pháp nhờ một tù trưởng người thiểu số tên Trương Quang Ngọc làm nội gián nên bắt được vua Hàm Nghi trong rừng núi thuộc huyện Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình, bèn bí mật đưa vua xuống tàu, đem sang Algérie giam lỏng ở đấy, mỗi năm phát cho 25 ngàn Frăng làm tiền ăn. Lúc ấy vua còn trẻ, mới 18 tuổi nên lấy vợ người bản xứ sinh được hai người con. Cách đây 2 năm, các con cháu dòng tộc của vua về VN chơi thăm hoàng cung Huế nhưng họ hoàn toàn là người Algérie, nói tiếng Pháp, không biết nói tiếng Việt.
Vua Thành Thái lớn lên, lại có tư tưởng chống Pháp. Pháp bắt các quan đại thần làm bản thỉnh nguyện nói rằng vua bị điên, đề nghị Pháp đưa người con của vua lên thay thế và đem vua ra nước ngoài chữa bệnh (tức đi đày). Mọi người đều ký, chỉ riêng có quan đại thần đầu triều Ngô Đình Khả là ném bút đi và nói: “Thà không làm quan còn hơn mang tội đày vua”. Sau này, dân gian Huế có câu: “Đày vua không Khả, đào mả không Khôi”. Chuyện ông Ngô Đình Khôi không chịu ký tên vào bản kiến nghị cho phép Pháp đào các lăng tẩm ở Huế lấy vàng bạc ta sẽ nói sau. Quan thượng thư Ngô Đình Khả bị cho về vườn, vua Thành Thái bị đày sang đảo Martinique thuộc địa của Pháp ở gần đảo Réunion. Pháp đưa người con mới 8 tuổi của vua Thành Thái lên thay, đó là vua Duy Tân. Ông Nguyễn Hữu Bài tiếp tục làm quan dưới triều vị vua con này.
Lớn lên, vua Duy Tân lại chống Pháp, Pháp đày sang đảo Réunion rồi đưa người con của vua Đồng Khánh bây giờ đã lớn lên ngôi, đó là vua Khải Định. Đến đời vua Khải Định
thì ông Nguyễn Hữu Bài đã già nên cáo quan về hưu. Sau khi vua Khải Định chết, hoàng tử Vĩnh Thụy từ bên Pháp về nối ngôi, đó là vua Bảo Đại. Năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, Bảo Đại thoái vị, nhà Nguyễn mất ngôi từ đấy.
*
[left]http://img.photobucket.com/albums/v283/ ... nhdiem.jpg[/left]Ông Ngô Đình Khả trước khi mất chức làm quan rất lớn trong triều (thượng thư, tương đương với bộ trưởng bây giờ) nên các con đều được học hành đến nơi đến chốn.
Ông có 9 người con, 6 trai, 3 gái. Sáu người con trai lần lượt là: Ngô Đình Khôi (con cả), Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Luyện, và Ngô Đình Cẩn (út).
Giữa ông Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu chen vào ba người con gái đó là:
Bà Ngô Đình Thị Giáo đã mất từ khi còn ít tuổi, chưa lập gia đình.
Bà Ngô Đình Thị Hiệp lấy chồng là ông Nguyễn Văn Ấm, sinh ra đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Cụ bà Hiệp sinh năm 1900, thọ 104 tuổi, mới mất tại Úc năm ngoái, 2004.
Bà Ngô Đình Thị Hoàng lấy chồng là ông Nguyễn Văn Lễ (thường gọi là ông Cả Lễ), thuộc gia đình thầu khoán, tỉ phú, giàu có bậc nhất ở Huế. Ông bà Cả Lễ sinh ra cô Nguyễn Kim Anh, năm 1958 gả cho Luật sư Trần Trung Dung, phụ tá Bộ trưởng Quốc Phòng thời ông Ngô Đình Diệm, nhưng năm 1960 từ chức.
Bây giờ chúng ta nói đến những người con trai:
Ông Ngô Đình Khôi, con cả, học trường Hậu Bổ ở Hà Nội rồi ra làm Tổng đốc tỉnh Quảng Nam, một tỉnh lớn thứ nhì của miền Trung. Ông Khôi lấy con gái của cụ Nguyễn Hữu Bài, sinh ra ông Ngô Đình Huân, cũng đậu đạt cao, làm Thanh tra lao động của Pháp. Ông Huân vừa giỏi tiếng Pháp vừa giỏi tiếng Nhật nên khi Nhật chiếm Đông Dương thì làm thông ngôn cao cấp cho Nhật. Năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng minh,
Việt Minh cướp chính quyền, cựu Tổng đốc Ngô Đình Khôi và người con trai Ngô Đình Huân này bị Việt Minh xử lý (giết).
Cụ cố Ngô Đình Khả chết bệnh, không do VM giết như mọi người hiểu lầm.
Cụ Nguyễn Hữu Bài có hai người con gái, người lớn gả cho ông Ngô Đình Khôi như đã nói trên, người nhỏ định gả cho ông Ngô Đình Diệm nhưng việc không thành vì ông Diệm sống rất thanh đạm, thích ăn cháo và ăn khoai lang, không thích lấy vợ.
Ông Ngô Đình Thục là con thứ nhì sau ông Khôi, được cho đi tu và trở thành một linh mục. Năm 1938 ông được Tòa thánh phong chức Giám mục, về coi giáo phận Vĩnh Long. Năm 1960 được phong Tổng giám mục, coi giáo phận Huế, đến năm 1963 thì được Tòa thánh gọi sang Vatican trước khi có biến cố 1-11.
Kế ông Thục là ông Ngô Đình Diệm, cũng học trong trường dòng nhưng gia đình đã có ông Thục làm linh mục rồi nên ông ra ngoài đời, học trường Hậu Bổ để ra làm quan. Tốt nghiệp trường Hậu Bổ, ông còn rất trẻ nhưng làm tới chức Tuần vũ rồi lên tới chức Thượng thư dưới triều Bảo Đại. Cụ cố Khả bị Pháp đuổi về vườn nên ông không mấy ưa Pháp. Trong khi đó Pháp lại đưa ông Phạm Quỳnh chủ báo Nam Phong tạp chí là người rất thân Pháp lên làm Thượng thư nên ông khinh bỉ, hai người không vừa mày vừa mặt với nhau. Làm thượng thư được hai tháng, ông tự ý xin cáo lui, về nhà sống chờ thời. Năm 1945, cha con ông Ngô Đình Khôi bị giết, ông lánh mình ra Hà Nội, cải trang thành một tu sĩ, sống giấu giếm trong nhà thờ Giáp Bát thuộc vùng ngoại ô Hà Nội cách trung tâm thành phố 6 km rồi được đức Hồng y Mỹ Spellman cho người bí mật đưa ông “vượt biên”sang Mỹ.
Ông Ngô Đình Nhu là người con thứ 7 sau ba anh và ba bà chị, được cho du học ở Pháp, đậu Cử nhân Khảo cổ học, được Pháp bổ làm Quản thủ thư viện Đông Dương tại Hà Nội năm 1943.
[right]http://img.photobucket.com/albums/v283/ ... inhNhu.jpg[/right]Ông Nhu có chí hướng làm lãnh tụ nên ông đã soạn ra học thuyết Cần Lao Nhân Vị lấy việc coi trọng lao động và phẩm giá con người làm chính. Sự thật học thuyết này ảnh hưởng từ học thuyết của nhà triết học Munie (Pháp). Khi ông Ngô Đình Diệm được Mỹ can thiệp với Pháp, đưa về làm Thủ tướng năm 1954 rồi truất phế vua Bảo Đại bấy giờ đang ở bên Pháp, lên làm Tổng thống tại miền Nam thì ông Nhu làm cố vấn chính trị hoạch định mọi đường lối, chính sách cho ông Diệm, một chức vụ riêng, không do chính phủ bổ nhiệm hoặc trả lương nhưng quyền hành rất lớn, chỉ sau ông Diệm thôi.
Người con thứ 8 của cụ Ngô Đình Khả là ông Ngô Đình Luyện, cũng được cho du học tại Pháp và đậu Kỹ sư Công chánh. Khi ông Diệm làm Thủ tướng và Tổng thống thì ông Luyện được cử làm đại sứ miền Nam tại Anh quốc. Tính ông không thích chính trị, chỉ thích đánh mạt chược và khiêu vũ, vì vậy suốt đời ông không bị ai phê phán gì.
Ông Ngô Đình Cẩn là người thứ 9, con út trong gia đình. Ông ít được học hành nhất, chỉ qua hai năm trung học (cỡ lớp 7) rồi phải ở nhà trông nom hầu hạ thân mẫu tại Huế vì các anh chị đều ở xa.
Ngoài gia đình cụ Nguyễn Hữu Bài gốc người Trung tại Quảng Bình, họ Ngô còn kết thông gia với họ Trần, gốc Nam Bộ, một dòng họ có tên tuổi. Điển hình là ông Trần Văn Thông, Tổng đốc ba tỉnh Nam Định - Hà Nam - Ninh Bình thời Pháp thuộc.
*
TÔNG TỘC HỌ TRẦN
Ông Trần Văn Thông là người miền Nam, sinh tại Biên Hòa (Đồng Nai), gia đình giàu có nên được theo học trường Pháp, ban Văn chương, chuyên về ngôn ngữ cổ điển Việt Nam. Năm 1907 được Pháp cho làm Giám đốc trường quan lại tập sự ở Hà Nội. Năm 1911 giữ chức Tổng đốc Nam Định rồi làm Tổng đốc cả ba tỉnh Nam Định - Hà Nam - Ninh Bình, là hội viên Hội đồng Tư vấn Đông Dương, Hội đồng Bảo hộ Bắc Kỳ, Đông Các Đại học sĩ Nam Triều...
Ông Trần Văn Thông làm Tổng đốc tại miền Bắc nhiều năm, sinh ra ông Trần Văn Chương ở Nam Định năm 1898. Trần Văn Chương được gia đình cho học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, rồi sau được sang Pháp du học và đậu Tiến sĩ Luật tại Paris. Ông Trần Văn Chương là bạn đồng học với ông Ngô Đình Nhu khi ở Pháp.
Khi về nước, ông Trần Văn Chương mở Văn phòng luật sư tại Sóc Trăng rồi sau dời về Hà Nội. Ông có vợ là bà Thân Thị Nam Trân, con gái của ông Thân Trọng Huề. Dưới triều vua Khải Định, ông Thân Trọng Huề làm Đại thần Cơ mật viện kiêm Hộ bộ Thượng thư, khi chuyển sang làm Binh bộ Thượng thư thì được gia phong Thái tử Thái bảo (tức là thầy dạy dỗ thái tử, nhưng nhà Nguyễn không phong thái tử, chỉ có hoàng tử). Ông Thân Trọng Huề có vợ là một công chúa, con của Kiên Thái Vương. Như vậy, mẹ của bà Thân Thị Nam Trân (vợ ông Chương) là em gái vua Kiến Phúc và vua Hàm Nghi.
[left]http://www.vietnet.no/Fig/ndd1.jpg[/left]Vợ chồng ông Trần Văn Chương sinh được ba người con. Người thứ nhất là bà Trần Lệ Chi, lấy Luật sư Nguyễn Hữu Châu, một Tiến sĩ Luật nổi danh ở Pháp, quê ở Gò Công thuộc gia đình tỷ phú Nguyễn Hữu Hào. Ông Nguyễn Hữu Hào là bố vợ của Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn. Người con gái thứ hai là bà Trần Lệ Xuân, lấy ông Ngô Đình Nhu. Ông Trần Văn Chương và ông Ngô Đình Nhu là bạn đồng học nhưng vợ chồng ông Chương rất quý ông Nhu nên gả con gái là bà Trần Lệ Xuân cho ông Nhu. Người con thứ ba của ông Trần Văn Chương là Trần Văn Khiêm cũng học luật và làm luật sư tại Sài Gòn.
Xem như vậy, gia đình họ Trần và họ Ngô đều là danh gia vọng tộc, riêng bà Trần Văn Chương nhũ danh Thân Thị Nam Trân, mẹ của bà Trần Lệ Xuân thì lại là cháu gọi Kiên Thái Vương bằng ông ngoại, tức thuộc hoàng tộc. Nhưng khi tới lúc suy vong, chẳng những họ Ngô mà ngay cả họ Trần cũng có những thảm kịch con người không thể hiểu nổi.
Như chúng ta đã biết, ông Ngô Đình Khả làm quan tới chức Thượng thư dưới triều Thành Thái nhưng sau bị huyền chức do không chịu ký “thỉnh nguyện” đày vua. Năm 1932, ông Ngô Đình Khôi sau khi làm Tổng đốc tỉnh Quảng Nam, được gọi về triều làm Cơ mật Đại thần kiêm Quốc vụ viện, Pháp lấy lý do phải xây dựng nhiều, thiếu hụt công quỹ, bắt các quan phải ký kiến nghị đồng ý cho Pháp đào các lăng tẩm lấy vàng bạc gọi là “cải táng”, ông Ngô Đình Khôi không ký, cũng bị huyền chức. Cha con ông được câu ca dao tục ngữ truyền tụng: “Đày vua không Khả, đào mả không Khôi”, tiếng thơm để đời. Rồi đến ông Ngô Đình Diệm, mới ngoài 30 tuổi, đang làm Lễ bộ Thượng thư, khinh bỉ Học bộ Thượng thư Phạm Quỳnh thân Pháp, được Pháp nâng lên làm quan đầu triều kiêm nhiệm nhiều thứ, gần như “mật thám” của Pháp, chỉ huy các quan, ông ghét, từ chức, không làm quan nữa.
Năm 1960, đức Giám mục Ngô Đình Thục được Tòa thánh Vatican nâng lên hàng Tổng Giám mục và được cai quản Tổng giáo phận Huế. Khi về Huế, Đức Cha Thục tỏ ra kiêu căng với cái mộng được Tòa thánh nâng lên Hồng y, từ đấy sinh ra sự chia rẽ giữa Công giáo và Phật giáo, lấy cớ cho người Mỹ thanh trừng, loại bỏ hai ông Nhu và Diệm sau này.
Năm 1963, cuộc tranh đấu Phật giáo xảy ra chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm. Mỹ không trực tiếp nhúng tay vào việc lật đổ nhưng giật dây cho cho các tướng tá, đoàn thể, đảng phái và cả tu sĩ... để làm cuộc đảo chánh. Khi cuộc tranh đấu đã tới giai đoạn quyết liệt, Vatican biết trước sau gì anh em ông Ngô Đình Diệm cũng bị lật đổ nên bèn triệu Đức Cha Ngô Đình Thục sang Roma dự Hội nghị Giám mục thế giới. Đức cha Thục rời Việt Nam vào tháng 9-1963 thì ngày 1-11-1963 cuộc đảo chánh diễn ra do các tướng Trần Văn Đôn, Dương Văn Minh cầm đầu và hai anh em ông Diệm ông Nhu bị sát hại.
“Cách mạng” thành công, họ lập ra tòa án kết tội, xử bắn thêm cả “cậu út” Ngô Đình Cẩn nữa.
Biết Mỹ đã gián tiếp loại bỏ chế độ nhà Ngô và kết quả là ba anh em ông Diệm bị sát hại, Đức Cha Thục căm giận lây cả Tòa thánh Vatican không chịu can thiệp, bỏ sang Tây Ban Nha sống với nhóm linh mục ly khai tiêu biểu là linh mục Le Fevre. Sau đó, nghe lời xúi giục của cha Le Fevre, Đức Cha Tổng giám mục Thục tự phong cho một số linh mục lên hàng Giám mục mà không được phép của Tòa thánh Vatican. Hậu quả là cha Thục bị Tòa thánh rút phép thông công, không cho hành lễ. Năm 1984, cha Thục đã hơn 80 tuổi, ông đâm ra quẫn trí, được đưa vào dưỡng trí viện, được các cháu tìm cách ly khai khỏi nhóm của cha Le Fevre rồi đưa sang dưỡng bệnh tại dòng Đồng Công ở Mỹ. Trước khi qua đời, ngài viết thư cho đức Giáo hoàng tỏ ý ăn năn, được đức Giáo hoàng chấp nhận, trả phép thông công. Ngày 13-12-1984 ngài tạ thế, thọ 87 tuổi.
BỐN NĂM, 5 CÁI TANG!
Trong thời gian súng nổ đảo chánh thì bà Trần Lệ Xuân vợ của ông Ngô Đình Nhu và người con gái đầu lòng tên Ngô Đình Lệ Thủy đang ở Mỹ để đi diễn thuyết, “giải độc” cho chính quyền của TT Ngô Đình Diệm.
Bà Trần Lệ Xuân là vị quả phụ mang nhiều cái tang do thảm kịch của gia đình nhà chồng nhất:
Ngày 1-11-1963, chồng bà là ông ngô Đình Nhu và anh chồng bà là ông Ngô Đình Diệm bị sát hại.
Ngày 9-5-1964, em chồng bà là ông Ngô Đình Cẩn bị tòa kết án tử hình đem ra xử bắn.
Năm 1964, mẹ chồng bà là cụ cố Ngô Đình Khả tạ thế.
Ngày 12-4 -1967, người con gái cưng của bà là cô Ngô Đình Lệ Thủy, cựu nữ sinh ban C (ban Văn chương) trường Nữ trung học Gia Long bị tử nạn xe hơi tại Pháp.
Như vậy, chỉ từ năm 1963 đến năm 1967 - bốn năm - trên đầu người đàn bà này có 5 cái tang.
Đến năm 1984 thì Đức Tổng giám mục Ngô Đình Thục, anh chồng của bà qua đời. Năm 1999, ông Ngô Đình Luyện, em chồng của bà tạ thế tại Pháp .
Riêng về gia đình nhà bà, năm 1986, không hiểu vì sao ông bà Trần Văn Chương bị người con trai là Trần Văn Khiêm dùng súng hạ sát. Người ta nói Trần Văn Khiêm vì không được ông bà Chương viết di chúc để lại tài sản nên Khiêm bắn bố mẹ. Nhưng cũng có người nói ông Khiêm mất trí.
Bà quả phụ Ngô Đình Nhu hiện nay đã hơn 80 tuổi, đang sinh sống tại Paris trong một căn hộ chung cư ở tầng 2 rất đơn giản, không lấy gì làm sang trọng lắm.
Qua đó chúng ta thấy hai họ Ngô-Trần khi lên thì lên cũng dữ nhưng khi xuống cũng xuống rất dữ và bài ca mở đầu ... kết thúc tác phẩm Tam Quốc Chí nói lên một điều gì đó rất thấm thía:
...Thị phi, thành bại, chuyển đầu không
Thanh sơn y cựu tại
Kỷ độ tịch dương hồng
Bể dâu chớp mắt ngoảnh đầu thành mơ
Non xanh còn đó trơ trơ
Tà dương lần lữa sưởi hơ ánh hồng....
Câu chuyện đến đây xin chấm dứt.
Đoàn Dự
Thưa quý bạn, theo chữ Hán, kỷ độ là mấy độ, tịch dương hồng là ánh hồng của mặt trời khi sắp lặn, nói tóm lại kỷ độ tịch dương hồng nghĩa là bao nhiêu lần ánh hoàng hôn đã qua rồi; chỉ có thế thôi, vậy mà khi viết tới cái nhan đề này và nghĩ đến những điều gì mình sắp viết, tự nhiên nước mắt Đoàn Dự tôi cứ ứa ra, mũi cay cay, cổ họng nghèn nghẹn không sao viết nổi.
Thơ của Cao Bá Quát có câu:
“Thế sự thăng trầm quân mạc vấn,
yên ba thâm xứ hữu ngư châu,
nằm vắt tay mà nghĩ chuyện đâu đâu,
đem mộng sự đọ với chân thân thời cũng hệt”.
Ý ông nói rằng việc đời lúc thăng lúc trầm bạn đừng hỏi tại sao, trên mặt sóng lăn tăn của cái xứ âm u thanh vắng kia có chiếc thuyền câu nho nhỏ, nằm vắt tay mà nghĩ chuyện xa gần, thấy những sự thực diễn ra trong cuộc sống cũng giống y hệt như trong cơn mộng.
Thơ của Bà Huyện Thanh Quan có câu:
“Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,
nền cũ lâu đài bóng tịch dương”.
Dấu vết ngựa xe xưa kia của bậc đế vương thành Thăng Long nay chỉ còn là hồn của những ngọn cỏ mùa thu, và nền cũ của các tòa lâu đài nay chỉ còn lại ánh mặt trời đang lặn chiếu xuống.
Thơ của Lý Bạch có câu:
“Cúc sinh Thạch Hổ điện,
lộc tẩu Cô Tô đài”.
Gai góc mọc lên ở điện Thái Vũ của vua Thạch Hổ đời hậu Triệu. Hươu nai chạy trên đài Cô Tô của vua Ngô Phù Sai.
Thơ của Đặng Dung trong thời nhà Trần mạt vận:
Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Sự khứ anh hùng ẩm hận đa...
Sử gia Trần Trọng Kim dịch:
Việc đời bối rối, tuổi già vay
Trời đất vô cùng, một cuộc say
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ
Anh hùng lỡ bước gẫm càng cay....
Thế đấy. Ngày 1-11. 1963 - 2005, bốn mươi hai năm! Biết bao nhiêu thăng trầm. Kỷ độ tịch dương hồng? Bao nhiêu buổi hoàng hôn đã tắt nắng rồi? Bạn có biết thành ngữ đầu lưỡi của người Tàu “kỷ độ tịch dương hồng” lấy từ đâu ra không? Trong bài ca mở đầu và cũng là bài ca chấm dứt tác phẩm Tam Quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung. Những câu đầu của bài ca đó như sau:
Cổn cổn Trường giang đông thệ thủy
Lãng hoa đào tận anh hùng
Thị phi, thành bại, chuyển đầu không
Thanh sơn y cựu tại
Kỷ độ tịch dương hồng...
Nghĩa đen:
Cuồn cuộn sông Trường giang chảy ra biển đông.
Sóng xô, cát dập vùi lấp biết bao anh hùng. Đúng hay sai,
thành hay bại đều thành không cả. Núi xanh vẫn còn đó y
như cũ, nhưng bao nhiêu chiều hoàng hôn đã tắt nắng rồi...
Nhà văn, nhà báo, nhà giáo Tử Vi Lang ngày trước (1973) dịch:
Sông dài cuồn cuộn ra khơi
Anh hùng sóng dập cát vùi thiên thâu
Dở hay, thành bại nào đâu?
Bể dâu chớp mắt ngoảnh đầu thành mơ!
Non xanh còn đó trơ trơ
Tà dương lần lữa sưởi hơ ánh hồng...
Trăm năm, thành hay bại cũng thành con số không.
Nghiêu Thuấn cũng thành khô cốt.
Đạo Chích cũng thành cốt khô.
Cái ngày 1-11-1963 oan nghiệt đó tôi còn đang đi học, sinh viên năm thứ nhất ĐHSP, nên ngoài quyển sách ra chưa hiểu biết gì nhiều về cuộc đời, nhưng tôi biết rằng chỉ trừ cuộc cách mạng Pháp 1789 là người ta chặt đầu nhà vua đang trị vì Louis XVI và hoàng hậu Marie-Antoinette, còn thì trên thế giới cứ hễ có đảo chánh người ta chỉ đuổi vị lãnh đạo bị lật đổ ra nước ngoài, chẳng bao giờ giết. Ở nước ta thì giết béng, ráo cả hai anh em rồi sau đó còn lập tòa án giết thêm người em út nữa. Người Việt Nam “hiền” ở chỗ nào? Tôi không nghĩ như vậy.
Cuối đời nhà Tây Sơn, sau khi vua Quang Trung chết, quân đội chia rẽ, Gia Long Nguyễn Phước Ánh thắng thế, lên ngôi, đánh bắt được toàn bộ các anh em vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản, Nguyễn Quang Thùy và các tướng lãnh Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân..vv.. Gia Long sai nhốt anh em Quang Toản, Quang Thùy cùng mọi người vào cũi, sai đào mả vua Quang Trung và Đông cung hoàng hậu họ Bùi mẹ của Quang Toản, Quang Thùy lên, nọc ra đánh các bộ xương này cho đau lòng những người con, sau đó bỏ vào cối giã, nhồi chung với thuốc súng thần công, bắn. Làm tội người chết xong đến người sống. Đem anh em Quang Toản, Quang Thùy ra, trói vào cột, cứ đánh một tiếng trống thì xẻo một miếng thịt, cái đó kêu là tùng xẻo, cho đến chết. Riêng Quang Toản thì không cho chết “dễ dàng” như vậy, trước khi chết để nằm ngửa, cột hai chân hai tay vào bốn con trâu, đánh cho trâu chạy bốn hướng khác nhau, xé xác. Lại đem nữ tướng quân Bùi Thị Xuân là vợ của đại tướng Trần Quang Diệu và đứa con gái duy nhất mới 13 tuổi của ông bà này ra cho voi dày. Khốn nỗi con vật lại là con voi trận thân thiết của bà Bùi Thị Xuân, trông thấy chủ nó quỳ phục xuống theo thói quen để bà leo lên.
Viên quản tượng hét: “Quỳ xuống, voi dầy cho dễ!”.
Bà Bùi cũng trợn mắt hét: “Muốn giết thế nào thì giết, việc gì ta phải quỳ?”.
Đứa con gái khóc: “Mẹ ơi cứu con với, con sợ lắm!”.
Bà nói: “Thà chết còn hơn sống với lũ tàn ác mặt người dạ thú! Không việc gì phải sợ!...”.
Sau đó viên quản tượng phải cho con voi dùng ngà hất ngã cả hai mẹ con rồi mới cho giẫm lên, nát bấy. Riêng Trần Quang Diệu thì vì ông nổi tiếng là bậc đại hiếu, thờ kính bà mẹ không ai bì nổi, lúc ấy bà cụ đã 80 tuổi nên Gia Long sợ thất chính trị, không dám làm tội nặng, chỉ ra lệnh chém ngang lưng là cách chém tàn khốc nhất cùng mọi người khác. Tất cả các chuyện này đều được ghi trong sách của cụ Phạm Khắc Hòe, một người sống tới hơn 100 tuổi, đổng lý văn phòng thân tín của vua và quốc trưởng Bảo Đại; mãi tới năm ngoái, 2004, cụ mới mất.
Tôi đọc lịch sử, tự cổ chí kim chưa thấy nước nào có sự trừng phạt đáng sợ như thế. Bởi vậy ai nói tiền nhân của chúng ta hiền thì tôi không tin. Từ sự không tin đó, cứ viết lách gì là tôi thấy “rét” theo kiểu ông Trần Tế Xương đã nói “Sĩ khí rụt rè gà phải cáo”. Trước đây, đọc thơ của ông Nguyễn Vỹ: “Nhà văn An-nam khổ như chó!”, Đoàn Dự tôi cứ tưởng mình là con dog, người ta bắt làm thịt, bây giờ lại thấy mình là con chicken, con cáo bắt ăn thịt, vậy thì không “rét” sao được?
Cách đây mấy tuần, có một vị độc giả ở bên Úc gọi điện thoại về đấu láo chơi với Đoàn Dự khoảng hơn một tiếng đồng hồ. Ông cho biết ông tên H., 70 tuổi, ngày trước là sĩ quan quân đội đóng ở Đà Nẵng, bây giờ ở bên Úc sống với con cái và nhờ tiền già. “Vậy thì anh lớn hơn em gần một giáp rồi, em phải gọi anh bằng anh, xưng em”. “Ừ, cũng được. Này, Đoàn Dự có biết đánh chén thịt chó không nhỉ? Bên này không có thịt chó, lắm lúc thèm muốn chết luôn. Tháng sáu năm tới tôi về, nhất định phải ghé chơi kéo Đoàn Dự đi chén thịt chó mới được”. “Em là dân Thái bình Thái lọ mà anh! Người Thái bình Thái lọ vừa mới sinh ra trên tay đã cầm một cái đùi chó!”. “Ha ha ha, xạo ghê đi!
Đoàn Dự xạo dữ vậy mà đọc bài thấy cái gì cũng né ghê gớm. Cậu chàng “rét” lắm phải không?”.
“Rét chứ anh! Tụi em là phó thường dân,... lơ lửng trong không gian. Bên ấy bảo: “Đoàn Dự ở VN, vậy thì Đoàn Dự là CS”. Bên này bảo: “Đoàn Dự sống dưới chế độ cũ, vậy thì Đoàn Dự là Tư Bản”. Riết rồi em chẳng biết mình là ai nữa, sống lơ lửng, kiếm ăn bằng nghề viết lách nhưng cái gì cũng ráng mà né. Không né, lỡ viết tầm bậy, bên ấy hiểu lầm, giận, tẩy chay không cho viết nữa thì đi chơi với bà cả đọi. Còn viết thẳng thừng, lỡ bên này giận, cho vào nằm nghỉ mát trong nhà đá thì... mệt, cứ kính nhi viễn chi ráo tuốt luốt là tốt hơn cả”.
“Đúng đấy, thấy có những chuyện báo chí đăng tùm lum, ai cũng biết nhưng Đoàn Dự im như hột thóc, không đả động một tiếng nào cả, bên này tụi tôi đoán Đoàn Dự cũng biết nhưng né không muốn nói tới, tụi tôi rất thông cảm “.
“Các anh hiểu cho như vậy thì em cám ơn nhiều lắm”.
Đấy là chuyện bên Úc, còn bên Canada cũng có một chuyện nho nhỏ hơi tức cười, Đoàn Dự tôi xin kể để quý bạn nghe chơi cho vui.
Cách đây ít lâu, một hôm anh Đỗ Nghi, tổng thư ký tờ TB Canada và TB USA bỗng mail cho Đoàn Dự một cái email hơi lạ rằng ở bên ấy nhân kỷ niệm 30 năm xa đất nước, các anh có tổ chức một cuộc thi viết lấy tên là “Ba mươi năm nhìn lại “.Độc giả viết bài rất đông, đặc biệt trong đó có một vị gửi bài, kèm theo một bức thư viết cho tòa soạn nói rằng bà không quen với Đoàn Dự, không biết mặt Đoàn Dự nhưng nếu bài này được đăng thì xin tòa soạn trực tiếp gởi số tiền nhuận bút 100 CND $ mà bà được hưởng cho Đoàn Dự, coi như một chút quà nhỏ, bà hy vọng Đoàn Dự sẽ nhận, không nghĩ đó là một sự giúp đỡ. Cuối email, anh Đỗ Nghi ghi: “Vậy cuối tháng này, ngoài số tiền nhuận bút thường lệ, bồ sẽ nhận được thêm $ 100 nữa, đừng lấy làm ngạc nhiên nhé”.
Vâng, kể ra cũng ngạc nhiên thật. Câu chuyện nho nhỏ đó làm cho Đoàn Dự tôi vừa vui mừng, vừa cảm động lại vừa tức cười. Tại sao vị độc giả này lại giàu trí tưởng tượng, nghĩ ra cách tặng quà tài tình thế nhỉ? Cho quà mà người nhận quà lấy làm hãnh diện, cứ vênh mặt lên không bị một chút mặc cảm rằng mình ở bên VN đang đọi, người ta...”xóa đói giảm nghèo”! Trời sinh ra phụ nữ là như vậy chăng? Hết sức khéo léo, hết sức tình cảm. Một món quà văn nghệ tặng cho người làm văn nghệ, đối với tôi nó lớn hơn con số 100 CND$ bình thường rất nhiều. Nói thật, 100 USD hay 100 CND$ đôi khi tôi cũng được bà con anh em cho chứ không phải không, nhưng chưa bao giờ tôi nhận được một món quà phát xuất từ một tình cảm dành cho văn nghệ như vậy. Ha ha, cuộc sống mà tôi cứ tưởng là khô khan, đầy sự kỳ thị: “Đoàn Dự sống ở VN, vậy thì Đoàn Dự là CS”, “Đoàn Dự sống dưới chế độ cũ, vậy thì Đoàn Dự là Tư Bản”, té ra bên Úc có ông anh 70 tuổi thông cảm về việc Đoàn Dự “rét”, còn ở Canada thì có một vị độc giả thông cảm về việc Đoàn Dự “đọi”. Đời ta như vậy thì dù có “đọi” hay “rét” cũng chỉ là tạm thời còn tình cảm mới là cơ bản (đi cải tạo có 6 tháng theo diện “9 tuần quân sự thời cũ” thôi nhưng thuộc bài lắm đấy!). Ta còn oán hận gì nữa? Muốn làm con dog cũng được, muốn làm con chicken cũng được, chẳng sao hết, tôi biết ơn đời và biết ơn mọi người.
Mấy hôm sau, anh Đỗ Nghi lại thận trọng gửi cho tôi bài báo của vị độc giả đã có nhã ý tặng quà cho tôi với nhan đề là “Trũng Mù Sương”, tên tác giả là Trần Hồng Linh. A, tác giả Trần Hồng Linh, vậy thì tôi đã có đọc một truyện ngắn của vị độc giả này rồi, hình như trên Internet hay một tờ báo nào đó ở Canada, ai đã cho mượn tôi không nhớ rõ.
Truyện đó có tên là “Lạy trời mưa xuống”, lấy ý từ câu ca dao VN: “Lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm, lấy rơm đun bếp”, bây giờ nhân vật tên Ngọc và mấy cô bạn người VN làm công nhân trong một nhà máy của người Ấn Độ hay người Do Thái (tôi không nhớ rõ) lạy trời mưa xuống để... ban đêm đi bắt giun đất (trong Nam gọi là con trùn vì cứ đụng tới thì nó “chùn” lại), cứ trời mưa đất ướt thì chúng từ bên dưới chui lên lo chuyện đực cái với nhau rất nhiều, một đêm nếu hết sức chịu đựng cái giá lạnh, có thể bắt được tới hàng chục ký, đại lý có xe chở đi bắt, tính giá tương đối cao, bán rất có tiền. Tác giả viết rất hay, rất tài tình với lối viết chắc chắn, xác thực, người đọc cứ như nhìn thấy rõ mọi việc diễn ra trước mắt. Nhất là việc cắt đoạn, tác giả cắt rất dứt khoát, chỗ nào đáng bỏ là bỏ, không viết dài dòng, xem ra có vẻ hết sức chuyên nghiệp. Bây giờ, cũng với giọng văn tài tình đó, trong “Trũng Mù Sương” tác giả kể lại những ngày vợ chồng, con cái sống trong trại tạm trú ở Hồng Kông cực kỳ phức tạp: cờ bạc, trộm cắp, đĩ điếm.... Vẫn rõ mồn một và rất hấp dẫn. Thế chẳng trách anh Đỗ Nghi viết cho tôi: “Bà này có trình độ lắm, viết rất hay và rất có lòng, anh cứ đọc coi sẽ rõ”.
Ông tổng thư ký tờ TB đâu có biết tôi không phải là... tổng thư ký nên có thời giờ rảnh rang tìm tòi, đã từng đọc một truyện ngắn của vị độc giả này rồi. Nhưng thôi, nói thế đã đủ, tôi không nói thêm nữa. Bây giờ tôi kể sang chuyện bên Mỹ.
Một hôm, lang thang trên Internet trong website Đặc Trưng.com, tôi thấy có tin ghi rằng nhà văn Hoàng Hải Thủy yêu cầu từ nay trở đi xin đừng ai lấy các tác phẩm của ông đưa lên website của mình nữa, bởi vì các tác phẩm này ông đã giao cho website Thư Viện Việt Nam.com giữ độc quyền. Đối với tôi, các anh Văn Quang, Thanh Thương Hoàng, Hoàng Hải Thủy..vv.. không phải là người xa lạ. A, thì ra trên Internet có website mang tên Thư Viện Việt Nam. Tôi đi tìm, quả nhiên thấy website này thật nhưng có lẽ các truyện dài truyện ngắn của anh H.Hải Thủy chưa làm xong nên chưa đưa lên. Tôi tò mò vô trang “Forums”. Có đủ thứ tin tức, hội thảo văn nghệ. Trong đó có một tin khiến tôi để ý là gần đây ở bên Mỹ có một cuốn sách của một tác giả người Việt đã từng sống dưới chế độ “độc tài gia đình trị”, buộc tội hai anh em ông Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu rất nặng, nào là độc tài, khát máu, liên lạc với CS, mỗi năm nhận được một cành đào do HCM gửi tặng..vv. Chính tác giả đó lại lập lại các lý luận trên trong cuốn sách, chửi bới anh em ông Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu và bà Trần Lệ Xuân nát nước trên cả website đó nữa.
Ý kiến độc giả phát biểu bên dưới có người ủng hộ, có người phản đối. Đặc biệt, có ý kiến của một cậu thanh niên “phê phán văn nghệ” hết sức tức cười như thế này, tôi xin lỗi phải ghi nguyên văn từng chữ để quý bạn xem xét, cam đoan từ xưa đến nay chưa từng có ai phê bình văn học độc đáo như thế: “Đù má! Đọc đéo hiểu gì hết!”. Chỉ có vậy, không thêm một tiếng nào nữa.
Cậu “đéo” hiểu thì cũng đúng thôi, bởi vì ông Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh với chức vụ thủ tướng năm 1954, năm sau truất phế Bảo Đại, lên làm tổng thống, như vậy là cách nay đúng 50 năm - nửa thế kỷ - năm nay cậu mới 20 tuổi, không thể hiểu được là phải.
Tính tôi không thích tranh luận. Ai muốn nói gì, viết gì, xuất bản cái gì, mặc kệ họ, vạch miệng tôi cũng không có ý kiến. Chuyện đã qua cách đây gần nửa thế kỷ, tức đã đi vào lịch sử, phải để cho lịch sử phán xét. Phương pháp viết sử là người viết chỉ trình bày, không mạt sát các nhân vật đã đi vào lịch sử. Bởi vì làm như vậy các đời sau sẽ bị lầm lẫn, cậu thanh niên “đéo hiểu gì hết” sẽ bị lầm lộn, hiểu sai cho tiền nhân.
Vậy thì, nhân ngày 1-11 (1963-2005), 42 năm, 15,330 cái nắng hoàng hôn đã tắt rồi, Đoàn Dự tôi xin ghi lại dòng tộc hai họ Ngô, Trần để quý bạn và cậu thanh niên “phê bình văn học một cách tức cười” bên Mỹ hiểu rõ. Quý bạn hãy tin đi, tôi đã tìm tòi rất kỹ. Chỉ có một điều tôi không thể hiểu được là tại sao một dòng tộc như vậy mà đến khi suy vong lại tan nát khủng khiếp đến thế. Giống như dòng họ Kennedy chăng? Cả vua Quang Trung nữa cũng thế, mất đột ngột năm 42 tuổi, sau đó con cái, cháu chắt bị tru di, cả hai đứa con của Ngọc Hân công chúa cũng bị cho uống thuốc độc. Trời có mắt hay không có mắt? Không thể hiểu được.
Sau đây xin mời quý bạn tường lãm.
*
TÔNG TỘC HỌ NGÔ
Gia đình họ Ngô xưa kia là người Bắc, gốc ở tỉnh Sơn Tây gần với Hà Nội. Ông nội của ông Ngô Đình Diệm khi ở Sơn Tây rất nghèo, nhà ở bên bờ sông, thường đi làm thuê và chèo đò, một tấc đất không có nên phải đưa gia đình vào miền Trung, cũng ở bên bờ sông thuộc làng Đại Phong, huyện Phong Lộc (sau sáp nhập vào huyện Lệ Thủy) tỉnh Quảng Bình, làm dân ngụ cư.
Ông nội nghèo quá nên chẳng bao giờ biết tới chùa chiền, chỉ thờ cúng tổ tiên. Khi gia đình vào đất Quảng, vẫn làm nghề chèo đò và sinh ra cậu bé Ngô Đình Khả. Cậu bé Khả thường chơi đùa thân thiết với một cậu bé ở trong làng cũng trạc tuổi cậu, nhà cũng rất nghèo, gia đình theo Thiên Chúa giáo, tên là Nguyễn Hữu Bài. Hai cậu bé này học hành hết sức thông minh mặc dầu cậu Khả cứ lúc rảnh lại phải ra phụ việc cơm nước, coi đò cho bố. Cậu rất ngoan ngoãn.
Cậu Nguyễn Hữu Bài có người chú ruột tên là Nguyễn Hữu Thơ làm linh mục, trông coi chăn dắt giáo dân trong địa hạt. Lúc ấy số người theo Thiên Chúa giáo tương đối còn ít, nhất là những người biết tiếng Tây để có thể đi tu thì lại càng hiếm hơn nữa. Linh mục Thơ thấy cháu và cậu bé Khả thông minh, ngoan ngoãn, rất quý mến nên hết lòng giúp đỡ. Ông lái đò cha của cậu Khả cảm cái ơn đó nên tự nguyện theo Thiên Chúa giáo. Linh mục Thơ bèn làm giấy tờ “bổn đạo”, can thiệp xin cho cậu Khả vào học trong một trường dòng với hy vọng sau này Ngô Đình Khả sẽ trở thành linh mục. Tiếp theo, ông lại xin cho Nguyễn Hữu Bài, vậy là hai cậu bé học chung cùng trường, cùng lớp.
Học xong tại tiểu chủng viện, hai cậu được đưa sang Pénang (Malaysia) học tại đại chủng viện để sau khi trở thành linh mục sẽ về nước phục vụ tại các giáo phận Đàng ngoài (miền Bắc). Các cậu thông minh, nói tiếng Pháp rất giỏi nên đối với các giáo sĩ bản xứ trong Đại chủng viện có ý hơi kiêu. Sau khi hai ông đậu xong Cử nhân thần học (thuộc về triết học), Đại chủng viện đánh giá, đa số các giáo sĩ đều nhận xét rằng cả hai đều kiêu, không đúng bản chất của một linh mục, nên cho ra ngoài đời. Vậy là hai ông về nước.
Lúc ấy triều đình Huế đang cần người giỏi cả tiếng Pháp lẫn chữ nho để làm nghề thông dịch và dịch sách. Các linh mục Pháp tiến cử, vậy là hai ông được nhận vào làm trong triều đình Huế.
Ở trong triều, ngoài việc dịch các văn bản chữ nôm, chữ Hán sang tiếng Pháp, cả ông Khả lẫn ông Bài còn thay đổi nhau làm thông dịch viên cho vua và các quan đại thần trong triều khi tiếp xúc với khách nước ngoài. Với đức tính cần cù của người miền Trung (cậu Khả gốc Bắc, sinh tại Quảng Bình nên nói tiếng Trung và trở thành người Trung) cộng với khả năng biết nhiều hiểu rộng của người đã đậu Cử nhân thần học trong Đại chủng viện, hai cậu được cả triều đình quý nể. Khi vua Thành Thái lên ngôi, hai ông làm quan dưới đời Thành Thái, dần dần lên tới chức thượng thư.
Lịch sử VN chỗ này hơi phức tạp, chúng ta nên xem xét kỷ:
Vua Gia Long lên ngôi, làm vua được 18 năm, mất, tới các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.
Vua Tự Đức không có con, nuôi 3 người cháu tên là Dục Đức, Chánh Mông và Dưỡng Thiện là con của hai người em ruột (Thụy Thái vương và Kiên Thái vương) làm con nuôi.
Khi vua Tự Đức chết, ngài di chiếu cho ông Dục Đức lên ngôi nhưng được ba ngày thì bị hai quan Phụ chánh đại thần là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết bỏ tù cả gia đình rồi bỏ đói, bắt uống thuốc độc chết.
Dục Đức chết, đáng lẽ ông Chánh Mông là người con nuôi thứ hai được lên nhưng người này đã lớn, Tường và Thuyết sợ mất quyền nên bèn đem người em ruột còn nhỏ của vua Tự Đức lên làm vua, đó là vua Hiệp Hòa.
Được mấy hôm, Tường và Thuyết lại giết vua Hiệp Hòa, đưa người con nuôi thứ ba là ông Dưỡng Thiện lên làm vua, đó là vua Kiến Phúc.
Được ba tháng, Tường và Thuyết lại giết vua Kiến Phúc, đem người em ruột mới 10 tuổi của vua Kiến Phúc lên làm vua, đó là vua Hàm Nghi.
Trong bốn tháng, Tường và Thuyết giết ba vị vua nên trong ca dao tục ngữ tại Huế lúc đó có câu: “Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết, tứ nguyệt tam vương triệu bất tường”. Nghĩa là một con sông Hương mà bên này là triều đình Việt, bên kia là “triều đình” Pháp (lưỡng quốc) thì khó nói năng gì được; bốn tháng mà ba vị vua là điềm chẳng lành. Nhưng sự thực cứ cuối mỗi câu nói trên lại kể tên một kẻ gian thần, giết vua.
Vua Hàm Nghi lớn lên, lánh vào trong núi ở Quảng Bình, Quảng Trị đứng đầu cho nghĩa quân chống Pháp. Pháp đánh mạnh, chiêu dụ đầu hàng không được, bèn đưa ông Chánh Mông là người con nuôi thứ hai của vua Tự Đức lên làm vua, đó là vua Đồng Khánh.
Ba năm sau, vua Đồng Khánh chết, các con còn nhỏ, Pháp bèn đưa người con của vua Dục Đức (tức người làm vua được 3 ngày bị Tường và Thuyết giết) mới 12 tuổi, đang bị Tường và Thuyết giam với mẹ trong ngục lên làm vua, đó là vua Thành Thái. Hai ông Ngô Đình Khả và Nguyễn Hữu Bài làm thượng thư dưới triều ông vua nhỏ này.
Pháp nhờ một tù trưởng người thiểu số tên Trương Quang Ngọc làm nội gián nên bắt được vua Hàm Nghi trong rừng núi thuộc huyện Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình, bèn bí mật đưa vua xuống tàu, đem sang Algérie giam lỏng ở đấy, mỗi năm phát cho 25 ngàn Frăng làm tiền ăn. Lúc ấy vua còn trẻ, mới 18 tuổi nên lấy vợ người bản xứ sinh được hai người con. Cách đây 2 năm, các con cháu dòng tộc của vua về VN chơi thăm hoàng cung Huế nhưng họ hoàn toàn là người Algérie, nói tiếng Pháp, không biết nói tiếng Việt.
Vua Thành Thái lớn lên, lại có tư tưởng chống Pháp. Pháp bắt các quan đại thần làm bản thỉnh nguyện nói rằng vua bị điên, đề nghị Pháp đưa người con của vua lên thay thế và đem vua ra nước ngoài chữa bệnh (tức đi đày). Mọi người đều ký, chỉ riêng có quan đại thần đầu triều Ngô Đình Khả là ném bút đi và nói: “Thà không làm quan còn hơn mang tội đày vua”. Sau này, dân gian Huế có câu: “Đày vua không Khả, đào mả không Khôi”. Chuyện ông Ngô Đình Khôi không chịu ký tên vào bản kiến nghị cho phép Pháp đào các lăng tẩm ở Huế lấy vàng bạc ta sẽ nói sau. Quan thượng thư Ngô Đình Khả bị cho về vườn, vua Thành Thái bị đày sang đảo Martinique thuộc địa của Pháp ở gần đảo Réunion. Pháp đưa người con mới 8 tuổi của vua Thành Thái lên thay, đó là vua Duy Tân. Ông Nguyễn Hữu Bài tiếp tục làm quan dưới triều vị vua con này.
Lớn lên, vua Duy Tân lại chống Pháp, Pháp đày sang đảo Réunion rồi đưa người con của vua Đồng Khánh bây giờ đã lớn lên ngôi, đó là vua Khải Định. Đến đời vua Khải Định
thì ông Nguyễn Hữu Bài đã già nên cáo quan về hưu. Sau khi vua Khải Định chết, hoàng tử Vĩnh Thụy từ bên Pháp về nối ngôi, đó là vua Bảo Đại. Năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, Bảo Đại thoái vị, nhà Nguyễn mất ngôi từ đấy.
*
[left]http://img.photobucket.com/albums/v283/ ... nhdiem.jpg[/left]Ông Ngô Đình Khả trước khi mất chức làm quan rất lớn trong triều (thượng thư, tương đương với bộ trưởng bây giờ) nên các con đều được học hành đến nơi đến chốn.
Ông có 9 người con, 6 trai, 3 gái. Sáu người con trai lần lượt là: Ngô Đình Khôi (con cả), Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Luyện, và Ngô Đình Cẩn (út).
Giữa ông Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu chen vào ba người con gái đó là:
Bà Ngô Đình Thị Giáo đã mất từ khi còn ít tuổi, chưa lập gia đình.
Bà Ngô Đình Thị Hiệp lấy chồng là ông Nguyễn Văn Ấm, sinh ra đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Cụ bà Hiệp sinh năm 1900, thọ 104 tuổi, mới mất tại Úc năm ngoái, 2004.
Bà Ngô Đình Thị Hoàng lấy chồng là ông Nguyễn Văn Lễ (thường gọi là ông Cả Lễ), thuộc gia đình thầu khoán, tỉ phú, giàu có bậc nhất ở Huế. Ông bà Cả Lễ sinh ra cô Nguyễn Kim Anh, năm 1958 gả cho Luật sư Trần Trung Dung, phụ tá Bộ trưởng Quốc Phòng thời ông Ngô Đình Diệm, nhưng năm 1960 từ chức.
Bây giờ chúng ta nói đến những người con trai:
Ông Ngô Đình Khôi, con cả, học trường Hậu Bổ ở Hà Nội rồi ra làm Tổng đốc tỉnh Quảng Nam, một tỉnh lớn thứ nhì của miền Trung. Ông Khôi lấy con gái của cụ Nguyễn Hữu Bài, sinh ra ông Ngô Đình Huân, cũng đậu đạt cao, làm Thanh tra lao động của Pháp. Ông Huân vừa giỏi tiếng Pháp vừa giỏi tiếng Nhật nên khi Nhật chiếm Đông Dương thì làm thông ngôn cao cấp cho Nhật. Năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng minh,
Việt Minh cướp chính quyền, cựu Tổng đốc Ngô Đình Khôi và người con trai Ngô Đình Huân này bị Việt Minh xử lý (giết).
Cụ cố Ngô Đình Khả chết bệnh, không do VM giết như mọi người hiểu lầm.
Cụ Nguyễn Hữu Bài có hai người con gái, người lớn gả cho ông Ngô Đình Khôi như đã nói trên, người nhỏ định gả cho ông Ngô Đình Diệm nhưng việc không thành vì ông Diệm sống rất thanh đạm, thích ăn cháo và ăn khoai lang, không thích lấy vợ.
Ông Ngô Đình Thục là con thứ nhì sau ông Khôi, được cho đi tu và trở thành một linh mục. Năm 1938 ông được Tòa thánh phong chức Giám mục, về coi giáo phận Vĩnh Long. Năm 1960 được phong Tổng giám mục, coi giáo phận Huế, đến năm 1963 thì được Tòa thánh gọi sang Vatican trước khi có biến cố 1-11.
Kế ông Thục là ông Ngô Đình Diệm, cũng học trong trường dòng nhưng gia đình đã có ông Thục làm linh mục rồi nên ông ra ngoài đời, học trường Hậu Bổ để ra làm quan. Tốt nghiệp trường Hậu Bổ, ông còn rất trẻ nhưng làm tới chức Tuần vũ rồi lên tới chức Thượng thư dưới triều Bảo Đại. Cụ cố Khả bị Pháp đuổi về vườn nên ông không mấy ưa Pháp. Trong khi đó Pháp lại đưa ông Phạm Quỳnh chủ báo Nam Phong tạp chí là người rất thân Pháp lên làm Thượng thư nên ông khinh bỉ, hai người không vừa mày vừa mặt với nhau. Làm thượng thư được hai tháng, ông tự ý xin cáo lui, về nhà sống chờ thời. Năm 1945, cha con ông Ngô Đình Khôi bị giết, ông lánh mình ra Hà Nội, cải trang thành một tu sĩ, sống giấu giếm trong nhà thờ Giáp Bát thuộc vùng ngoại ô Hà Nội cách trung tâm thành phố 6 km rồi được đức Hồng y Mỹ Spellman cho người bí mật đưa ông “vượt biên”sang Mỹ.
Ông Ngô Đình Nhu là người con thứ 7 sau ba anh và ba bà chị, được cho du học ở Pháp, đậu Cử nhân Khảo cổ học, được Pháp bổ làm Quản thủ thư viện Đông Dương tại Hà Nội năm 1943.
[right]http://img.photobucket.com/albums/v283/ ... inhNhu.jpg[/right]Ông Nhu có chí hướng làm lãnh tụ nên ông đã soạn ra học thuyết Cần Lao Nhân Vị lấy việc coi trọng lao động và phẩm giá con người làm chính. Sự thật học thuyết này ảnh hưởng từ học thuyết của nhà triết học Munie (Pháp). Khi ông Ngô Đình Diệm được Mỹ can thiệp với Pháp, đưa về làm Thủ tướng năm 1954 rồi truất phế vua Bảo Đại bấy giờ đang ở bên Pháp, lên làm Tổng thống tại miền Nam thì ông Nhu làm cố vấn chính trị hoạch định mọi đường lối, chính sách cho ông Diệm, một chức vụ riêng, không do chính phủ bổ nhiệm hoặc trả lương nhưng quyền hành rất lớn, chỉ sau ông Diệm thôi.
Người con thứ 8 của cụ Ngô Đình Khả là ông Ngô Đình Luyện, cũng được cho du học tại Pháp và đậu Kỹ sư Công chánh. Khi ông Diệm làm Thủ tướng và Tổng thống thì ông Luyện được cử làm đại sứ miền Nam tại Anh quốc. Tính ông không thích chính trị, chỉ thích đánh mạt chược và khiêu vũ, vì vậy suốt đời ông không bị ai phê phán gì.
Ông Ngô Đình Cẩn là người thứ 9, con út trong gia đình. Ông ít được học hành nhất, chỉ qua hai năm trung học (cỡ lớp 7) rồi phải ở nhà trông nom hầu hạ thân mẫu tại Huế vì các anh chị đều ở xa.
Ngoài gia đình cụ Nguyễn Hữu Bài gốc người Trung tại Quảng Bình, họ Ngô còn kết thông gia với họ Trần, gốc Nam Bộ, một dòng họ có tên tuổi. Điển hình là ông Trần Văn Thông, Tổng đốc ba tỉnh Nam Định - Hà Nam - Ninh Bình thời Pháp thuộc.
*
TÔNG TỘC HỌ TRẦN
Ông Trần Văn Thông là người miền Nam, sinh tại Biên Hòa (Đồng Nai), gia đình giàu có nên được theo học trường Pháp, ban Văn chương, chuyên về ngôn ngữ cổ điển Việt Nam. Năm 1907 được Pháp cho làm Giám đốc trường quan lại tập sự ở Hà Nội. Năm 1911 giữ chức Tổng đốc Nam Định rồi làm Tổng đốc cả ba tỉnh Nam Định - Hà Nam - Ninh Bình, là hội viên Hội đồng Tư vấn Đông Dương, Hội đồng Bảo hộ Bắc Kỳ, Đông Các Đại học sĩ Nam Triều...
Ông Trần Văn Thông làm Tổng đốc tại miền Bắc nhiều năm, sinh ra ông Trần Văn Chương ở Nam Định năm 1898. Trần Văn Chương được gia đình cho học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, rồi sau được sang Pháp du học và đậu Tiến sĩ Luật tại Paris. Ông Trần Văn Chương là bạn đồng học với ông Ngô Đình Nhu khi ở Pháp.
Khi về nước, ông Trần Văn Chương mở Văn phòng luật sư tại Sóc Trăng rồi sau dời về Hà Nội. Ông có vợ là bà Thân Thị Nam Trân, con gái của ông Thân Trọng Huề. Dưới triều vua Khải Định, ông Thân Trọng Huề làm Đại thần Cơ mật viện kiêm Hộ bộ Thượng thư, khi chuyển sang làm Binh bộ Thượng thư thì được gia phong Thái tử Thái bảo (tức là thầy dạy dỗ thái tử, nhưng nhà Nguyễn không phong thái tử, chỉ có hoàng tử). Ông Thân Trọng Huề có vợ là một công chúa, con của Kiên Thái Vương. Như vậy, mẹ của bà Thân Thị Nam Trân (vợ ông Chương) là em gái vua Kiến Phúc và vua Hàm Nghi.
[left]http://www.vietnet.no/Fig/ndd1.jpg[/left]Vợ chồng ông Trần Văn Chương sinh được ba người con. Người thứ nhất là bà Trần Lệ Chi, lấy Luật sư Nguyễn Hữu Châu, một Tiến sĩ Luật nổi danh ở Pháp, quê ở Gò Công thuộc gia đình tỷ phú Nguyễn Hữu Hào. Ông Nguyễn Hữu Hào là bố vợ của Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn. Người con gái thứ hai là bà Trần Lệ Xuân, lấy ông Ngô Đình Nhu. Ông Trần Văn Chương và ông Ngô Đình Nhu là bạn đồng học nhưng vợ chồng ông Chương rất quý ông Nhu nên gả con gái là bà Trần Lệ Xuân cho ông Nhu. Người con thứ ba của ông Trần Văn Chương là Trần Văn Khiêm cũng học luật và làm luật sư tại Sài Gòn.
Xem như vậy, gia đình họ Trần và họ Ngô đều là danh gia vọng tộc, riêng bà Trần Văn Chương nhũ danh Thân Thị Nam Trân, mẹ của bà Trần Lệ Xuân thì lại là cháu gọi Kiên Thái Vương bằng ông ngoại, tức thuộc hoàng tộc. Nhưng khi tới lúc suy vong, chẳng những họ Ngô mà ngay cả họ Trần cũng có những thảm kịch con người không thể hiểu nổi.
Như chúng ta đã biết, ông Ngô Đình Khả làm quan tới chức Thượng thư dưới triều Thành Thái nhưng sau bị huyền chức do không chịu ký “thỉnh nguyện” đày vua. Năm 1932, ông Ngô Đình Khôi sau khi làm Tổng đốc tỉnh Quảng Nam, được gọi về triều làm Cơ mật Đại thần kiêm Quốc vụ viện, Pháp lấy lý do phải xây dựng nhiều, thiếu hụt công quỹ, bắt các quan phải ký kiến nghị đồng ý cho Pháp đào các lăng tẩm lấy vàng bạc gọi là “cải táng”, ông Ngô Đình Khôi không ký, cũng bị huyền chức. Cha con ông được câu ca dao tục ngữ truyền tụng: “Đày vua không Khả, đào mả không Khôi”, tiếng thơm để đời. Rồi đến ông Ngô Đình Diệm, mới ngoài 30 tuổi, đang làm Lễ bộ Thượng thư, khinh bỉ Học bộ Thượng thư Phạm Quỳnh thân Pháp, được Pháp nâng lên làm quan đầu triều kiêm nhiệm nhiều thứ, gần như “mật thám” của Pháp, chỉ huy các quan, ông ghét, từ chức, không làm quan nữa.
Năm 1960, đức Giám mục Ngô Đình Thục được Tòa thánh Vatican nâng lên hàng Tổng Giám mục và được cai quản Tổng giáo phận Huế. Khi về Huế, Đức Cha Thục tỏ ra kiêu căng với cái mộng được Tòa thánh nâng lên Hồng y, từ đấy sinh ra sự chia rẽ giữa Công giáo và Phật giáo, lấy cớ cho người Mỹ thanh trừng, loại bỏ hai ông Nhu và Diệm sau này.
Năm 1963, cuộc tranh đấu Phật giáo xảy ra chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm. Mỹ không trực tiếp nhúng tay vào việc lật đổ nhưng giật dây cho cho các tướng tá, đoàn thể, đảng phái và cả tu sĩ... để làm cuộc đảo chánh. Khi cuộc tranh đấu đã tới giai đoạn quyết liệt, Vatican biết trước sau gì anh em ông Ngô Đình Diệm cũng bị lật đổ nên bèn triệu Đức Cha Ngô Đình Thục sang Roma dự Hội nghị Giám mục thế giới. Đức cha Thục rời Việt Nam vào tháng 9-1963 thì ngày 1-11-1963 cuộc đảo chánh diễn ra do các tướng Trần Văn Đôn, Dương Văn Minh cầm đầu và hai anh em ông Diệm ông Nhu bị sát hại.
“Cách mạng” thành công, họ lập ra tòa án kết tội, xử bắn thêm cả “cậu út” Ngô Đình Cẩn nữa.
Biết Mỹ đã gián tiếp loại bỏ chế độ nhà Ngô và kết quả là ba anh em ông Diệm bị sát hại, Đức Cha Thục căm giận lây cả Tòa thánh Vatican không chịu can thiệp, bỏ sang Tây Ban Nha sống với nhóm linh mục ly khai tiêu biểu là linh mục Le Fevre. Sau đó, nghe lời xúi giục của cha Le Fevre, Đức Cha Tổng giám mục Thục tự phong cho một số linh mục lên hàng Giám mục mà không được phép của Tòa thánh Vatican. Hậu quả là cha Thục bị Tòa thánh rút phép thông công, không cho hành lễ. Năm 1984, cha Thục đã hơn 80 tuổi, ông đâm ra quẫn trí, được đưa vào dưỡng trí viện, được các cháu tìm cách ly khai khỏi nhóm của cha Le Fevre rồi đưa sang dưỡng bệnh tại dòng Đồng Công ở Mỹ. Trước khi qua đời, ngài viết thư cho đức Giáo hoàng tỏ ý ăn năn, được đức Giáo hoàng chấp nhận, trả phép thông công. Ngày 13-12-1984 ngài tạ thế, thọ 87 tuổi.
BỐN NĂM, 5 CÁI TANG!
Trong thời gian súng nổ đảo chánh thì bà Trần Lệ Xuân vợ của ông Ngô Đình Nhu và người con gái đầu lòng tên Ngô Đình Lệ Thủy đang ở Mỹ để đi diễn thuyết, “giải độc” cho chính quyền của TT Ngô Đình Diệm.
Bà Trần Lệ Xuân là vị quả phụ mang nhiều cái tang do thảm kịch của gia đình nhà chồng nhất:
Ngày 1-11-1963, chồng bà là ông ngô Đình Nhu và anh chồng bà là ông Ngô Đình Diệm bị sát hại.
Ngày 9-5-1964, em chồng bà là ông Ngô Đình Cẩn bị tòa kết án tử hình đem ra xử bắn.
Năm 1964, mẹ chồng bà là cụ cố Ngô Đình Khả tạ thế.
Ngày 12-4 -1967, người con gái cưng của bà là cô Ngô Đình Lệ Thủy, cựu nữ sinh ban C (ban Văn chương) trường Nữ trung học Gia Long bị tử nạn xe hơi tại Pháp.
Như vậy, chỉ từ năm 1963 đến năm 1967 - bốn năm - trên đầu người đàn bà này có 5 cái tang.
Đến năm 1984 thì Đức Tổng giám mục Ngô Đình Thục, anh chồng của bà qua đời. Năm 1999, ông Ngô Đình Luyện, em chồng của bà tạ thế tại Pháp .
Riêng về gia đình nhà bà, năm 1986, không hiểu vì sao ông bà Trần Văn Chương bị người con trai là Trần Văn Khiêm dùng súng hạ sát. Người ta nói Trần Văn Khiêm vì không được ông bà Chương viết di chúc để lại tài sản nên Khiêm bắn bố mẹ. Nhưng cũng có người nói ông Khiêm mất trí.
Bà quả phụ Ngô Đình Nhu hiện nay đã hơn 80 tuổi, đang sinh sống tại Paris trong một căn hộ chung cư ở tầng 2 rất đơn giản, không lấy gì làm sang trọng lắm.
Qua đó chúng ta thấy hai họ Ngô-Trần khi lên thì lên cũng dữ nhưng khi xuống cũng xuống rất dữ và bài ca mở đầu ... kết thúc tác phẩm Tam Quốc Chí nói lên một điều gì đó rất thấm thía:
...Thị phi, thành bại, chuyển đầu không
Thanh sơn y cựu tại
Kỷ độ tịch dương hồng
Bể dâu chớp mắt ngoảnh đầu thành mơ
Non xanh còn đó trơ trơ
Tà dương lần lữa sưởi hơ ánh hồng....
Câu chuyện đến đây xin chấm dứt.
Đoàn Dự
Chuyện của Lão Mộc
Dạo phố dạo đến trước cửa một quán ăn chuyên bán sủi cảo, tôi đã nghe được câu chuyện về ông chủ của cái quán ăn này, rằng cái quán sủi cảo này vốn là cửa hiệu nhỏ, trong có mấy năm làm ăn phất lên, đã mở mang xây thành cao lâu ba tầng, thế là tâm tư của ông chủ cũng lớn lên, nghĩ rằng thời nay cái gì cũng chú trọng đến văn hoá, thì ta cũng phải mần cái gì đấy về thứ sủi cảo này chứ.
Thế là bỏ ra hai mươi vạn đồng, nhờ vả mời cho được một nhóm các chuyên gia học giả trong nước đến để hội thảo nghiên cứu về sủi cảo. Nhóm chuyên gia học giả này hội họp những bẩy ngày, cái kết luận được hình thành là sủi cảo khởi nguồn từ sự sùng bái đối với giới tính, hình trạng của bánh cảo đã diễn biến từ việc mô phỏng bộ máy sinh dục nữ giới, kết quả hội thảo được trình lên ông chủ quán, ông ta nói: Tôi bỏ ra hai mươi vạn là để các anh minh chứng rằng tôi là thằng bán… hả?!
Người kể chuyện là Lão Mộc, Lão còn đang muốn kể tiếp thì một viên cảnh sát trợn mắt tiến đến. “Nộp ngay con dao ra!” viên cảnh sát nói. Trong túi xách Lão Mộc đúng là đang có một con dao, chuôi dao rất dài lòi cả ra ngoài túi. Thế là con dao bị cảnh sát thu giữ. Lão Mộc ngây ra chẳng hiểu ra sao: Tại sao lại tịch thu dao? Cảnh sát nói: “Mang dao ra đường có tình nghi cướp giật!” Thế là Lão Mộc phẫn nộ: “Thế thì tôi còn mang theo cả bộ máy sinh dục nữa, cũng có tình nghi hiếp dâm hả?!”
Cuối cùng thì con dao cũng đã không bị tịch thu. Tôi nói với Lão Mộc: “Câu chuyện bữa nay tôi cũng phải kể cho người khác nghe đấy, sủi cảo có văn hoá ẩm thực, con dao có văn hoá trị an, con người văn hoá như ông cũng phải có văn hoá của người văn hoá chứ!”.
Giả Bình Ao
Thế là bỏ ra hai mươi vạn đồng, nhờ vả mời cho được một nhóm các chuyên gia học giả trong nước đến để hội thảo nghiên cứu về sủi cảo. Nhóm chuyên gia học giả này hội họp những bẩy ngày, cái kết luận được hình thành là sủi cảo khởi nguồn từ sự sùng bái đối với giới tính, hình trạng của bánh cảo đã diễn biến từ việc mô phỏng bộ máy sinh dục nữ giới, kết quả hội thảo được trình lên ông chủ quán, ông ta nói: Tôi bỏ ra hai mươi vạn là để các anh minh chứng rằng tôi là thằng bán… hả?!
Người kể chuyện là Lão Mộc, Lão còn đang muốn kể tiếp thì một viên cảnh sát trợn mắt tiến đến. “Nộp ngay con dao ra!” viên cảnh sát nói. Trong túi xách Lão Mộc đúng là đang có một con dao, chuôi dao rất dài lòi cả ra ngoài túi. Thế là con dao bị cảnh sát thu giữ. Lão Mộc ngây ra chẳng hiểu ra sao: Tại sao lại tịch thu dao? Cảnh sát nói: “Mang dao ra đường có tình nghi cướp giật!” Thế là Lão Mộc phẫn nộ: “Thế thì tôi còn mang theo cả bộ máy sinh dục nữa, cũng có tình nghi hiếp dâm hả?!”
Cuối cùng thì con dao cũng đã không bị tịch thu. Tôi nói với Lão Mộc: “Câu chuyện bữa nay tôi cũng phải kể cho người khác nghe đấy, sủi cảo có văn hoá ẩm thực, con dao có văn hoá trị an, con người văn hoá như ông cũng phải có văn hoá của người văn hoá chứ!”.
Giả Bình Ao
“Vua chó” và thơ
Ông chủ của vương quốc chó mèo ở Hà Nội là Nguyễn Bảo Sinh. Ông nổi tiếng không chỉ bởi tài nuôi chó, chọi gà mà còn là một nghệ sĩ nghiệp dư đa tài: tài thơ, tài vẽ, tài võ.
Được gọi bằng tên của... chó
Vua chó (biệt danh của, hay còn gọi Sinh chó), dáng người thấp nhỏ, da đồi mồi, trông như một nông dân, cười toe toét phô ra chiếc răng cửa đã bị gãy một nửa:
“Nói về chó thì vô kể. Tôi có thể kể triền miên ngày qua ngày”. Bắt đầu là hai chiếc sẹo, một trên trán, một dưới cằm do ngày xưa còn bé không hiểu tính chó, cứ nghĩ lúc chó sinh con cũng hiền như bình thường nên chui vào gầm giường cho ăn, thế là bị con chó mẹ đớp cho một nhát vào mặt.
Bây giờ kể lại có người cho là mình “bịa” vì làm sao hai chiếc sẹo lại cách nhau xa thế, họ không nghĩ ra là khuôn mặt của đứa bé 5 tuổi đã khác khi là một ông già.
Một thời cả Hà Nội rộ lên phong trào nuôi chó Nhật với biết bao bi kịch. Pitơ là con chó đực giỏi “làm tiền”. Một ngày, nó có thể “nhảy” được bốn con cái mà đều cho kết quả mỹ mãn!
Ngày đó, có một cán bộ Nhà nước đã về hưu mang con chó Nhật của mình đến nhà ông phối giống, than thở: “Tôi mất đứt ba tháng lương hưu cho một lần phối giống chó của ông mà kết quả thì chưa biết thế nào”. Nguyễn Bảo Sinh cầm tiền nói: “Tôi lấy ngần này tiền của ông thì cái tâm tôi cũng phải nghĩ chứ” và ông bật ra câu thơ:
Khi mê bùn chỉ là bùn
Ngộ rồi mới biết trong bùn có sen
Khi mê tiền chỉ là tiền
Ngộ rồi mới biết trong tiền có tâm.
Thơ về chó của Nguyễn Bảo Sinh không nhiều nhưng đều được người nghe rất “khoái”. Có lần, nhà thơ Đăng Trung đang công tác ở Đắk Lắk gọi điện về cho ông nói, dân ở trong này hình như ai cũng thuộc bài thơ của cậu:
Đêm qua anh đi chơi về
Hương tình men rượu bay đi ít nhiều
Vợ con chẳng nói một điều
Chỉ con chó mực vẫy liều cái đuôi.
Kinh doanh chó... siêu mệt, siêu lời
Nói về tài kinh doanh chó, mèo thì chưa ai “qua mặt” được Nguyễn Bảo Sinh. Không chỉ trong nước mà tiếng tăm của ông còn bay sang cả nước ngoài, nhất là từ vụ ông đứng lên khởi xướng cuộc thi hoa hậu chó, mèo toàn quốc vào hồi tháng 1-2004. Nuôi chó thì ai cũng nuôi được song kinh doanh chó thì:
Siêu mệt, siêu chết, siêu lời
Lạc vào làng chó ít người thoát ra.
Mới lập trại chó hôm nào
Đống xương vô địch đã cao bằng đầu.
“Mấy câu thơ đó của tôi là quá đủ khi nói về công việc này rồi”, ông nói. Tôi sống như người nghệ sĩ nhưng tỉnh táo và khôn ngoan hơn nhiều doanh nhân khác đấy.
Rồi Nguyễn Bảo Sinh cười đắc ý, mình cũng phải đối với chó thế nào thì nó mới giúp mình kiếm được nhiều tiền thế chứ. Này nhé, có ở đâu mà loài động vật bốn chân luôn chạy loăng quăng, sủa ông ổng đó được sống sung sướng như ở đây không?
Có phòng thoáng mát trong một không gian hết sức trữ tình, có nhân viên phục vụ, có bác sĩ thú y theo dõi sức khỏe định kỳ. Nếu chẳng may “lìa đời” thì cũng có nghĩa trang chôn cất tử tế, có đài hóa thân hoàn vũ, có bia tưởng niệm.
Ngày rằm và mồng một có thân chủ đến “thăm hỏi”, thắp hương, đọc kinh cho đỡ tủi thân... chó! Con người mà biết yêu thương động vật như thế thì trái đất này sẽ chẳng bao giờ có hận thù, chiến tranh...
Song, đây không phải là trại chó tình thương mà là công việc kinh doanh nghiêm túc. Không thế, làm sao đủ sức gắn bó với nghề này gần 40 năm? Giá cho một khách hàng chó ở khách sạn này từ 40.000 đến 50.000 đồng/ngày.
Có thể sẽ có người thắc mắc: “Nghe có vẻ kỳ, ai lại mang chó vào đây gửi làm chi cho mệt?”. Đấy là những người yêu chó như con, có việc đi công tác xa muốn yên tâm về “cục cưng” của mình thì đem gửi vào đây.
Giá trị của chú khuyển không quan trọng bằng tình cảm mà chủ nhân dành cho nó. Gửi một tháng thì tiền thanh toán cho khách sạn có thể mua được cả chục con. Còn nếu muốn chăm sóc tại gia, chỉ cần “a lô”, các nhân viên của khách sạn sẽ đến ngay.
Một mình một cõi vô vi
Nguyễn Bảo Sinh luôn tự nhận mình là dân giang hồ nhưng cả đời ông gần như chỉ quanh quẩn với chó, mèo và ngự trị một giang sơn mà ông gọi là Vô vi quán:
Vô vi quán, quán vô vi
Vào trong xem thử có gì mua chơi
Ở đây bày cả đất trời
Vô vi quán chỉ mời người chân không.
Nhiều văn nghệ sĩ Hà thành có sở thích vào Vô vi quán tận hưởng sự thanh bình của chốn “bồng lai tiên cảnh” và có dịp thưởng thức những thú chơi khác người của ông vua chó.
Trên mặt hồ thả đầy cá vàng là tượng bốn thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh, tượng Bồ tát, Tiên đồng, Ngọc nữ và Nguyễn Bảo Sinh chắp tay A-di-đà theo sau do chính Nguyễn Bảo Sinh tự tay đắp. Ông còn xây cả Cửu trùng đài, đắp tượng 18 vị La hán xếp thành hàng bên tường rào, trước mỗi vị là một bát hương.
Trên cổng, các bức tường dù cao hoặc thấp và ở bất cứ chỗ nào có thể “trưng bày” chữ được là có những câu thơ Huyền thi của Nguyễn Bảo Sinh. Thơ ông là loại thơ không giống ai, khó khen mà cũng khó chê nhưng đã đọc một lần thì rất khó quên:
Mình ngu nhiều kẻ ngu hơn
Cho nên được gọi là khôn hơn người
Em xinh đâu bởi nụ cười
Em xinh là bởi nhiều người xấu hơn.
Hoặc “Vợ là thánh chỉ vua ban / Có sao dùng vậy không bàn đúng sai”. “Tự nhiên buồn đến với ta/Tự nhiên buồn sẽ đi ra khỏi mình”. Nhà văn Tô Hoài từng thốt lên: “Đây là cách chơi siêu rồi!”.
Thế nhưng, nghề truyền thống của ông lại là vẽ tranh truyền thần. Ông và anh trai Nguyễn Bảo Nguyên được coi là cặp họa sĩ vẽ truyền thần vào bậc nhất miền Bắc.
Tranh của ông được treo ngay trong phòng khách của Vô vi quán. Những ngày cuối năm 2005, Nguyễn Bảo Sinh đang cho tiến hành xây một gallery bên trên phòng khách để có thể tự triển lãm những tác phẩm của mình.
Thu Huyền
Ông chủ của vương quốc chó mèo ở Hà Nội là Nguyễn Bảo Sinh. Ông nổi tiếng không chỉ bởi tài nuôi chó, chọi gà mà còn là một nghệ sĩ nghiệp dư đa tài: tài thơ, tài vẽ, tài võ.
Được gọi bằng tên của... chó
Vua chó (biệt danh của, hay còn gọi Sinh chó), dáng người thấp nhỏ, da đồi mồi, trông như một nông dân, cười toe toét phô ra chiếc răng cửa đã bị gãy một nửa:
“Nói về chó thì vô kể. Tôi có thể kể triền miên ngày qua ngày”. Bắt đầu là hai chiếc sẹo, một trên trán, một dưới cằm do ngày xưa còn bé không hiểu tính chó, cứ nghĩ lúc chó sinh con cũng hiền như bình thường nên chui vào gầm giường cho ăn, thế là bị con chó mẹ đớp cho một nhát vào mặt.
Bây giờ kể lại có người cho là mình “bịa” vì làm sao hai chiếc sẹo lại cách nhau xa thế, họ không nghĩ ra là khuôn mặt của đứa bé 5 tuổi đã khác khi là một ông già.
Một thời cả Hà Nội rộ lên phong trào nuôi chó Nhật với biết bao bi kịch. Pitơ là con chó đực giỏi “làm tiền”. Một ngày, nó có thể “nhảy” được bốn con cái mà đều cho kết quả mỹ mãn!
Ngày đó, có một cán bộ Nhà nước đã về hưu mang con chó Nhật của mình đến nhà ông phối giống, than thở: “Tôi mất đứt ba tháng lương hưu cho một lần phối giống chó của ông mà kết quả thì chưa biết thế nào”. Nguyễn Bảo Sinh cầm tiền nói: “Tôi lấy ngần này tiền của ông thì cái tâm tôi cũng phải nghĩ chứ” và ông bật ra câu thơ:
Khi mê bùn chỉ là bùn
Ngộ rồi mới biết trong bùn có sen
Khi mê tiền chỉ là tiền
Ngộ rồi mới biết trong tiền có tâm.
Thơ về chó của Nguyễn Bảo Sinh không nhiều nhưng đều được người nghe rất “khoái”. Có lần, nhà thơ Đăng Trung đang công tác ở Đắk Lắk gọi điện về cho ông nói, dân ở trong này hình như ai cũng thuộc bài thơ của cậu:
Đêm qua anh đi chơi về
Hương tình men rượu bay đi ít nhiều
Vợ con chẳng nói một điều
Chỉ con chó mực vẫy liều cái đuôi.
Kinh doanh chó... siêu mệt, siêu lời
Nói về tài kinh doanh chó, mèo thì chưa ai “qua mặt” được Nguyễn Bảo Sinh. Không chỉ trong nước mà tiếng tăm của ông còn bay sang cả nước ngoài, nhất là từ vụ ông đứng lên khởi xướng cuộc thi hoa hậu chó, mèo toàn quốc vào hồi tháng 1-2004. Nuôi chó thì ai cũng nuôi được song kinh doanh chó thì:
Siêu mệt, siêu chết, siêu lời
Lạc vào làng chó ít người thoát ra.
Mới lập trại chó hôm nào
Đống xương vô địch đã cao bằng đầu.
“Mấy câu thơ đó của tôi là quá đủ khi nói về công việc này rồi”, ông nói. Tôi sống như người nghệ sĩ nhưng tỉnh táo và khôn ngoan hơn nhiều doanh nhân khác đấy.
Rồi Nguyễn Bảo Sinh cười đắc ý, mình cũng phải đối với chó thế nào thì nó mới giúp mình kiếm được nhiều tiền thế chứ. Này nhé, có ở đâu mà loài động vật bốn chân luôn chạy loăng quăng, sủa ông ổng đó được sống sung sướng như ở đây không?
Có phòng thoáng mát trong một không gian hết sức trữ tình, có nhân viên phục vụ, có bác sĩ thú y theo dõi sức khỏe định kỳ. Nếu chẳng may “lìa đời” thì cũng có nghĩa trang chôn cất tử tế, có đài hóa thân hoàn vũ, có bia tưởng niệm.
Ngày rằm và mồng một có thân chủ đến “thăm hỏi”, thắp hương, đọc kinh cho đỡ tủi thân... chó! Con người mà biết yêu thương động vật như thế thì trái đất này sẽ chẳng bao giờ có hận thù, chiến tranh...
Song, đây không phải là trại chó tình thương mà là công việc kinh doanh nghiêm túc. Không thế, làm sao đủ sức gắn bó với nghề này gần 40 năm? Giá cho một khách hàng chó ở khách sạn này từ 40.000 đến 50.000 đồng/ngày.
Có thể sẽ có người thắc mắc: “Nghe có vẻ kỳ, ai lại mang chó vào đây gửi làm chi cho mệt?”. Đấy là những người yêu chó như con, có việc đi công tác xa muốn yên tâm về “cục cưng” của mình thì đem gửi vào đây.
Giá trị của chú khuyển không quan trọng bằng tình cảm mà chủ nhân dành cho nó. Gửi một tháng thì tiền thanh toán cho khách sạn có thể mua được cả chục con. Còn nếu muốn chăm sóc tại gia, chỉ cần “a lô”, các nhân viên của khách sạn sẽ đến ngay.
Một mình một cõi vô vi
Nguyễn Bảo Sinh luôn tự nhận mình là dân giang hồ nhưng cả đời ông gần như chỉ quanh quẩn với chó, mèo và ngự trị một giang sơn mà ông gọi là Vô vi quán:
Vô vi quán, quán vô vi
Vào trong xem thử có gì mua chơi
Ở đây bày cả đất trời
Vô vi quán chỉ mời người chân không.
Nhiều văn nghệ sĩ Hà thành có sở thích vào Vô vi quán tận hưởng sự thanh bình của chốn “bồng lai tiên cảnh” và có dịp thưởng thức những thú chơi khác người của ông vua chó.
Trên mặt hồ thả đầy cá vàng là tượng bốn thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh, tượng Bồ tát, Tiên đồng, Ngọc nữ và Nguyễn Bảo Sinh chắp tay A-di-đà theo sau do chính Nguyễn Bảo Sinh tự tay đắp. Ông còn xây cả Cửu trùng đài, đắp tượng 18 vị La hán xếp thành hàng bên tường rào, trước mỗi vị là một bát hương.
Trên cổng, các bức tường dù cao hoặc thấp và ở bất cứ chỗ nào có thể “trưng bày” chữ được là có những câu thơ Huyền thi của Nguyễn Bảo Sinh. Thơ ông là loại thơ không giống ai, khó khen mà cũng khó chê nhưng đã đọc một lần thì rất khó quên:
Mình ngu nhiều kẻ ngu hơn
Cho nên được gọi là khôn hơn người
Em xinh đâu bởi nụ cười
Em xinh là bởi nhiều người xấu hơn.
Hoặc “Vợ là thánh chỉ vua ban / Có sao dùng vậy không bàn đúng sai”. “Tự nhiên buồn đến với ta/Tự nhiên buồn sẽ đi ra khỏi mình”. Nhà văn Tô Hoài từng thốt lên: “Đây là cách chơi siêu rồi!”.
Thế nhưng, nghề truyền thống của ông lại là vẽ tranh truyền thần. Ông và anh trai Nguyễn Bảo Nguyên được coi là cặp họa sĩ vẽ truyền thần vào bậc nhất miền Bắc.
Tranh của ông được treo ngay trong phòng khách của Vô vi quán. Những ngày cuối năm 2005, Nguyễn Bảo Sinh đang cho tiến hành xây một gallery bên trên phòng khách để có thể tự triển lãm những tác phẩm của mình.
Thu Huyền
Những Vấn Đề Của Khớp Xương
(Problems With The Joints)
Nguyễn Mộng Khôi Nắng mưa là chuyện của Trời.
Đau xương, nhức khớp, chuyện người tuổi cao.
( BS. Nguyễn Ý Đức)
Nghỉ hưu được 2 năm thì những khớp xương của tôi bắt đầu có vấn đề (problems), khi thì đau mắt cá chân, lúc nhức đầu gối. Đau nhức mấy ngày thì hết. Những lần sau thì nặng hơn. Vợ tôi khuyên đi khám bệnh. Tôi gọi điện thoại cho Dr. Charles Adison là bác sĩ gia đình ( family docter) để xin giớùi thiệu cho một bácsĩ chuyên khoa về Viêm Khớp Xương (Rheumatologist). Ông bảo tôi lấy hẹn ở phòng mạch để ông khám cho. Cô y tá nói bác sĩ Adison không phải chuyên khoa viêm khớp, nhưng có nhiều kinh nghiệm, vì bản thân ông cũng bị từ 10 năm nay. Vợ chồng tôi là thân chủ đã lâu mà không biết. Chúng tôi chọn Adison vì ông vui vẻ, đặc biệt thích người Việt, cơm Việt, có lẽ vì trước 75 ông đã sống ở Nha Trang 2 năm và có người bạn gái mà ông hay nhắc tới.
Adison khám kỹ và giải thích rõ ràng, nhưng tôi vẫn còn nhiều thắc mắc mà ở phòng mạch không có nhiều thì giờ. Tôi đề nghị, mời vợ chồng ông thứ sáu đến nhà dùng cơm tối để nói chuyện thêm. Adison vui vẻ nhận lời và nói đùa, nhớ cho ăn món ‘’chả giò’’ đấy nhé!
Hai vợ chồng ông đến sớm, trước 6 giờ., mang theo chai rượu chát. Chúng tôi vừa ăn, vừa nói chuyện. Gần 3 tiếng đồng hồ, chỉ xoay quanh những thắc mắc của tôi:
Adison nói, bệnh tôi là Rheumatoid Arthritis, mà gọi chung là Arthritis hay Viêm Khớp Xương (VKX). VKX là bệnh có lâu nhất trên địa cầu. Những xác ướp khai quật ở Ai Cập, những người tiền sử, những con khủng long cũng bị VKX. Có gần 40 triệu người Mỹ đang mang bệnh này; và năm tới có thêm cả triệu người. Nếu bạn đang đọc bài này, có thể bạn cũng bị VKX đấy. Bệnh VKX không chữa khỏi đâu, nhưng anh có thể làm đỡ đau nhức nếu biết quan tâm săn sóc đến chúng.( Arthritis may be the oldest known ailment on earth. Mummies uncovered in Egypt had it, prehistoric man had it, dinosaurs had it. Close to 40 million Americains have it; and millions more will have it a year from now. If you are reading this, perhaps you have it. It may not be possible to cure the arthritis, but you can prevent a lot of pain by being kind to your joints).
Adison giải thích thêm rằng danh từ ARTH-RITIS là tiếng Hy Lạp
-Arth nghĩa là Joint ( khớp xương )
-Ritis là inflammation ( xưng tấy, xưng đỏ..)
Nhưng thực tế thì nhiều người VKX mà chỗ đau nhức không hề tấy, đỏ..Vậy thì Arthritis nên dịch là Những Vấn Đề Với Khớp Xương ( Prolems With The Joints ). (Tuy nhiên, người viết vẫn dùng từ ngữ VKX là Arthritis cho thông dụng.) Có hơn 100 loại VKX. Nhưng 3 loại mà chúng ta thường bị là:
-Viêm Xương Khớp ( Osteo-arthritis ) do sụn ở đầu khớp xương thoái hóa( breakdown of joint cartilage ). Nhức nhối ở ngón tay, đầu gối hoặïc háng.. Từø tuổi 45 là hay bị. Khi đau nhức tôi uống Tylenol, Asperin..Adison bảo, có thể uống thêm Glucosamine và Chondroitin..để giảm bớt VKX ( take control of arthritis ).
-Viêm Khớp Phong Thấp ( Rheumatoid Arthritis ) do màng bao quanh lớp sụn bị sưng ( inflammation of synovium ), thường nhức nhối, sưng đỏ tấy ở tay, cổ tay và chân. Tuổi từ 30 tới 40. Đàn bà bị nhiều hơn đàn ông.
-Thống Phong hay Gút ( Gout ) do sự tích lũy dần dần những tinh thể của acid uric chỗ nước nhờn khớp xương. Khi mới đột khởi thì nhức nhối kinh khủng và sưng tấy; thường ở những chỗ như ngón chân cái, mắt cá chân, đầu gối, cổ tay, khủy tay. Phần nhiều đàn ông trên 40; có lẽ uống rượu và ăn đồ lòng càng làm trầm trọng thêm. (build-up of uric acid crystals in the joint fluid. Sudden onset of burning pain, stiffness, and swelling; common in big toe, ankle, knee, wrist, elbow. Most common in men over 40; may be aggravated by alcohol and organ meats) . Khi mới đột khởi, Adison cho tôi uống Ibuprophen. Bây giờ hết nhức thì uống Allopurinol ( phải uống suốt đời! )
Về ẩm thực, Adison nói là một số đồ ăn có thể bớt đau nhức. Ăn vài trăm gam cá mỗi ngày thì có thể giảm cứng khớp. Cà chua hoặïc broccoli làm bớt đau viêm khớp. Dr. Kremer ở trường Y Khoa New York cho biết là uống dầu cá viên trong 2 tuần lễ thì giảm sưng. Những người bệnh gút nên ít ăn thịt, nhất là những thịt mầu đỏ như thịt bò ..Một điều quan trong là tránh nặng ký; vì nặng ký làm cho khớp xương đầu gối phải chịu sức nặng .Luôn luôn theo dõi trọng lượng sao cho đạt tới mức lý tưởng của từng cá nhân ( It’s important to avoid heavy weight. Heavy weight puts weight on joints of knees. Always take up weight control. Get closer to your ideal weight)
Trước khi về Adison bảo ‘’là tôi phải tập đều đặn vì những động tác lập lại không thường xuyên có thể làm tăng nhức nhối khớp xương; Tập để tăng dinh dưỡng cho chất sụn đầu khớp xương. Nó cũng làm mạnh thêm cơ bắp bao quanh khớp xương. Tập dưới nước và bơi cũng có thể làm cho dễ chịu các khớp xương’’( You must exercise regularly. While repeated jarring activities can increase joint pain. Exercise is needed to nourish the joint cartilage. It strengthens the muscles around the joint. Water exercises and swimming can also be easy on the joints.)
Vợ Chồng tôi đưa tiễn ông bà Adison ra cửa. Trước khi lên xe, Adison căn dặn thêm ‘’ Cái đau nhức của bệnh VKX có thể gây ra sự suy trầm, và chính sự suy trầm lại gây đau nhức. Tôi biết bà già Moses bị VKX. Bà không chán nản buồn bực. Năm 76 tuổi, bà mới theo dõi kỹ và kiểm soát cái trọng lượng thân thể và bắt đầu học vẽ. Những tác phẩm trưng bày đầu tiên lúc bà 80 và tiếp tục vẽ tới ngoại trăm tuổi. ( Arthritis pain can cause depression, and depression can increase pain. I have known Grandma Moses. She has been arthritis. She has never depressed. She took up weight control and painting at the age 76. She first showed her paintings when she was 80 and continued to paint until she was over 100 years old.)
Adison kể chuyện bà già moses, có lẽ một phần an ủi tôi và phần là an ủi chính ông.
Tôi bảo ông, tuổi già như ông và tôi là nhiều bệnh, nhất là cái bệnh ‘’ ĐAU XƯƠNG, NHỨC KHỚP’’ và đọc 2 câu thơ trào phúng của bác sĩ Nguyễn Ý Đức:
Sun or Rain is in God’s domain,
For the Elderly, there are only aches and pain.
( Nắng Mưa là chuyện của Trời,
(Đau xương, nhức khớp, chuyện người Tuổi cao.
Ông ngồi vào xe, cười và bảo, hay quá! Sẽ đọc cho thân chủ cao niên của ông./.
Nguyễn Mộng Khôi
(Problems With The Joints)
Nguyễn Mộng Khôi Nắng mưa là chuyện của Trời.
Đau xương, nhức khớp, chuyện người tuổi cao.
( BS. Nguyễn Ý Đức)
Nghỉ hưu được 2 năm thì những khớp xương của tôi bắt đầu có vấn đề (problems), khi thì đau mắt cá chân, lúc nhức đầu gối. Đau nhức mấy ngày thì hết. Những lần sau thì nặng hơn. Vợ tôi khuyên đi khám bệnh. Tôi gọi điện thoại cho Dr. Charles Adison là bác sĩ gia đình ( family docter) để xin giớùi thiệu cho một bácsĩ chuyên khoa về Viêm Khớp Xương (Rheumatologist). Ông bảo tôi lấy hẹn ở phòng mạch để ông khám cho. Cô y tá nói bác sĩ Adison không phải chuyên khoa viêm khớp, nhưng có nhiều kinh nghiệm, vì bản thân ông cũng bị từ 10 năm nay. Vợ chồng tôi là thân chủ đã lâu mà không biết. Chúng tôi chọn Adison vì ông vui vẻ, đặc biệt thích người Việt, cơm Việt, có lẽ vì trước 75 ông đã sống ở Nha Trang 2 năm và có người bạn gái mà ông hay nhắc tới.
Adison khám kỹ và giải thích rõ ràng, nhưng tôi vẫn còn nhiều thắc mắc mà ở phòng mạch không có nhiều thì giờ. Tôi đề nghị, mời vợ chồng ông thứ sáu đến nhà dùng cơm tối để nói chuyện thêm. Adison vui vẻ nhận lời và nói đùa, nhớ cho ăn món ‘’chả giò’’ đấy nhé!
Hai vợ chồng ông đến sớm, trước 6 giờ., mang theo chai rượu chát. Chúng tôi vừa ăn, vừa nói chuyện. Gần 3 tiếng đồng hồ, chỉ xoay quanh những thắc mắc của tôi:
Adison nói, bệnh tôi là Rheumatoid Arthritis, mà gọi chung là Arthritis hay Viêm Khớp Xương (VKX). VKX là bệnh có lâu nhất trên địa cầu. Những xác ướp khai quật ở Ai Cập, những người tiền sử, những con khủng long cũng bị VKX. Có gần 40 triệu người Mỹ đang mang bệnh này; và năm tới có thêm cả triệu người. Nếu bạn đang đọc bài này, có thể bạn cũng bị VKX đấy. Bệnh VKX không chữa khỏi đâu, nhưng anh có thể làm đỡ đau nhức nếu biết quan tâm săn sóc đến chúng.( Arthritis may be the oldest known ailment on earth. Mummies uncovered in Egypt had it, prehistoric man had it, dinosaurs had it. Close to 40 million Americains have it; and millions more will have it a year from now. If you are reading this, perhaps you have it. It may not be possible to cure the arthritis, but you can prevent a lot of pain by being kind to your joints).
Adison giải thích thêm rằng danh từ ARTH-RITIS là tiếng Hy Lạp
-Arth nghĩa là Joint ( khớp xương )
-Ritis là inflammation ( xưng tấy, xưng đỏ..)
Nhưng thực tế thì nhiều người VKX mà chỗ đau nhức không hề tấy, đỏ..Vậy thì Arthritis nên dịch là Những Vấn Đề Với Khớp Xương ( Prolems With The Joints ). (Tuy nhiên, người viết vẫn dùng từ ngữ VKX là Arthritis cho thông dụng.) Có hơn 100 loại VKX. Nhưng 3 loại mà chúng ta thường bị là:
-Viêm Xương Khớp ( Osteo-arthritis ) do sụn ở đầu khớp xương thoái hóa( breakdown of joint cartilage ). Nhức nhối ở ngón tay, đầu gối hoặïc háng.. Từø tuổi 45 là hay bị. Khi đau nhức tôi uống Tylenol, Asperin..Adison bảo, có thể uống thêm Glucosamine và Chondroitin..để giảm bớt VKX ( take control of arthritis ).
-Viêm Khớp Phong Thấp ( Rheumatoid Arthritis ) do màng bao quanh lớp sụn bị sưng ( inflammation of synovium ), thường nhức nhối, sưng đỏ tấy ở tay, cổ tay và chân. Tuổi từ 30 tới 40. Đàn bà bị nhiều hơn đàn ông.
-Thống Phong hay Gút ( Gout ) do sự tích lũy dần dần những tinh thể của acid uric chỗ nước nhờn khớp xương. Khi mới đột khởi thì nhức nhối kinh khủng và sưng tấy; thường ở những chỗ như ngón chân cái, mắt cá chân, đầu gối, cổ tay, khủy tay. Phần nhiều đàn ông trên 40; có lẽ uống rượu và ăn đồ lòng càng làm trầm trọng thêm. (build-up of uric acid crystals in the joint fluid. Sudden onset of burning pain, stiffness, and swelling; common in big toe, ankle, knee, wrist, elbow. Most common in men over 40; may be aggravated by alcohol and organ meats) . Khi mới đột khởi, Adison cho tôi uống Ibuprophen. Bây giờ hết nhức thì uống Allopurinol ( phải uống suốt đời! )
Về ẩm thực, Adison nói là một số đồ ăn có thể bớt đau nhức. Ăn vài trăm gam cá mỗi ngày thì có thể giảm cứng khớp. Cà chua hoặïc broccoli làm bớt đau viêm khớp. Dr. Kremer ở trường Y Khoa New York cho biết là uống dầu cá viên trong 2 tuần lễ thì giảm sưng. Những người bệnh gút nên ít ăn thịt, nhất là những thịt mầu đỏ như thịt bò ..Một điều quan trong là tránh nặng ký; vì nặng ký làm cho khớp xương đầu gối phải chịu sức nặng .Luôn luôn theo dõi trọng lượng sao cho đạt tới mức lý tưởng của từng cá nhân ( It’s important to avoid heavy weight. Heavy weight puts weight on joints of knees. Always take up weight control. Get closer to your ideal weight)
Trước khi về Adison bảo ‘’là tôi phải tập đều đặn vì những động tác lập lại không thường xuyên có thể làm tăng nhức nhối khớp xương; Tập để tăng dinh dưỡng cho chất sụn đầu khớp xương. Nó cũng làm mạnh thêm cơ bắp bao quanh khớp xương. Tập dưới nước và bơi cũng có thể làm cho dễ chịu các khớp xương’’( You must exercise regularly. While repeated jarring activities can increase joint pain. Exercise is needed to nourish the joint cartilage. It strengthens the muscles around the joint. Water exercises and swimming can also be easy on the joints.)
Vợ Chồng tôi đưa tiễn ông bà Adison ra cửa. Trước khi lên xe, Adison căn dặn thêm ‘’ Cái đau nhức của bệnh VKX có thể gây ra sự suy trầm, và chính sự suy trầm lại gây đau nhức. Tôi biết bà già Moses bị VKX. Bà không chán nản buồn bực. Năm 76 tuổi, bà mới theo dõi kỹ và kiểm soát cái trọng lượng thân thể và bắt đầu học vẽ. Những tác phẩm trưng bày đầu tiên lúc bà 80 và tiếp tục vẽ tới ngoại trăm tuổi. ( Arthritis pain can cause depression, and depression can increase pain. I have known Grandma Moses. She has been arthritis. She has never depressed. She took up weight control and painting at the age 76. She first showed her paintings when she was 80 and continued to paint until she was over 100 years old.)
Adison kể chuyện bà già moses, có lẽ một phần an ủi tôi và phần là an ủi chính ông.
Tôi bảo ông, tuổi già như ông và tôi là nhiều bệnh, nhất là cái bệnh ‘’ ĐAU XƯƠNG, NHỨC KHỚP’’ và đọc 2 câu thơ trào phúng của bác sĩ Nguyễn Ý Đức:
Sun or Rain is in God’s domain,
For the Elderly, there are only aches and pain.
( Nắng Mưa là chuyện của Trời,
(Đau xương, nhức khớp, chuyện người Tuổi cao.
Ông ngồi vào xe, cười và bảo, hay quá! Sẽ đọc cho thân chủ cao niên của ông./.
Nguyễn Mộng Khôi

