Góc nhỏ của anh 3 Giang

Tung cánh chim tìm về mái trường xưa. Mong tìm bạn học cũ, nay ở đâu xin nhắn đôi lời!!!

Moderator: CNN

dongbui
Posts: 443
Joined: Tue Nov 30, 2004 5:43 pm
Contact:

Post by dongbui »

linhgia wrote:
dongbui wrote: Chúc mừng anh Giang và Congratulations to Cháu Bo Bo Bảo Ngọc !!! Cháu Bobo xinh quá hỉ mà ca hay nửa ? Thi Hoa Hậu này có phải biểu diễn tài nghệ như ca hát múa hay không anh Giang???
OTGH ơi,

Cháu ghi tên thi hát, nhung vào giờ chót vì chương trình quá dài nên Ban Tổ Chức "CANCEL" phần thi này, thay vào đó chấm Á Hậu 3

Làm cháu mất trúng giải Miss Talent

Cháu sẽ trình diễn trong Ngày Dạ Vũ Lien Trường Thứ Bẩy 04 Feb. 2006 sắp tới, chú Bùi Đồng mời các tỉ mụi Vancouver xuống tham-dự đi, hình như trước đây có cô nào nói Thứ Bảy thì đi được đó

Vé cần mua sớm kẻo hết vé đó nghe, quí vị San Jose coi bộ ngứa chân dữ lắm rồi

He he he

Giang già
Hihihi ....so dzi anh Giang đã trả lời trể cái post này ! Tại vì cận Tết wa' thành ra mấy Cô trên Van đều có tiệc tùng hết cả ... chắc là không xuống vào ngày Dạ Vũ LT thứ bảy này đâu ! :( :D :D Mong là sẽ gặp lại anh chị Giang và anh chị Dần thứ Bảy này .... :shock: :D :D :D :D
OTGH

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

HNC 58-65 Saigon Mừng Xuân


Image
Thày trò đồng ca Hồ Ngọc Cẩn Hành Khúc

Image
Thày Tuấn, Thày Xương......


Image
Nguyễn Mạnh Trưu, Ngô Đình Tụy


Linhgia Trinh Long Giang

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Da-Vũ Liên Trường Bắc California

Cháu Trịnh Bảo Ngọc có trình diễn 2 màn đơn ca và một màn hoạt cảnh Cô Hàng Chè Xanh

Xin mời quí vị click vào hàng chữ đỏ bên dưới để xem hình ảnh



Dạ Vũ Liên Trường

Trịnh Long Giang

dongbui
Posts: 443
Joined: Tue Nov 30, 2004 5:43 pm
Contact:

Post by dongbui »

linhgia wrote:Da-Vũ Liên Trường Bắc California

Cháu Trịnh Bảo Ngọc có trình diễn 2 màn đơn ca và một màn hoạt cảnh Cô Hàng Chè Xanh

Xin mời quí vị click vào hàng chữ đỏ bên dưới để xem hình ảnh



Dạ Vũ Liên Trường

Trịnh Long Giang
Cám ơn anh 3 Giang đã cho coi thêm hình của hôm Dạ Vũ Liên Trường 2006 Bắc Cali --- Hình anh Giang chụp đẹp wa' !!! Anh thấy tấm hình này Đồng gởi bên mục hình ảnh đó. Thân tặng anh chị tấm này nghen....

Image
OTGH

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Cám ơn OTGH dã quá khen, chỉ là múa rìu qua mắt thợ mà thôi

Thân tặng OTGH những tấm hình này
Image

Image

Image
Trịnh Long Giang

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Hồ Chí Minh - Thiên phiếm truyện nhiều tập


Nguyễn Thái Hoàng



Tiểu phẩm 1: Việt Nam có một Bác Già




Image
Hồ Chí Minh statue (Ảnh: Community.webshots.com)
--------------------------------------------------------------------------------

Việt Nam có một Bác Già
Râu dài, tóc bạc tên là Chí Minh

Bình sinh Bác vốn đa tình
Cho nên Bác lấy Tuyết Minh - vợ Tàu

Tuyết Minh đâu phải vợ đầu
Lạc, Xuân, Trưng nữa, ngõ hầu dăm cô...

Cuối đời Bác thấy bơ vơ
Cho nên Bác muốn một cô theo hầu

Tái hôn với cả vợ Tàu
Anh Ba phản đối, lầu bầu Bác rên

Cả đời Bác sống đảo điên
Việt Nam đểu nhất có tên... Bác Hồ.


Đoạn thơ trên nhắm vào một số thiên tình sử quan trọng trong cuộc đời hoạt động ‘‘kách mệnh” của Bác mà hầu hết người Việt ở nước ngoài đều biết, nhưng đa số đồng bào trong nước vẫn hoàn toàn mù tịt.

Chỉ cần nghe nói một câu "Bác Hồ có vợ" là tất cả mắt chữ O, mồm chữ I, ngây ra: "Ô thế á!, Làm gì có chuyện ấy?”. Y như thể Bác có cấu tạo đặc biệt khác người, thiếu hẳn cái "cần tăng dân số" không bằng!

Không ít người cho là chuyện tào lao, vớ vẩn, buôn dưa lê, hòng thoá mạ hình ảnh vĩ đại của Người. Thậm chí có những kẻ nhảy chồm chồm như cào cào rang trên chảo nóng, phồng mang trợn má bảo vệ hình ảnh Bác đến cùng vì người kể chuyện đã dám vuốt râu... hùm. Tuy người bạo gan này không bị hùm ngoạm mất chỗ đội nón, nhưng chắc chắn sẽ bị cả đám xúm vào xâu xé, vì tội dám coi thường hình ảnh tôn kính của Bác trong lòng quần chúng (nó).

Triều đình cộng sản Việt Nam đã vô cùng sai lầm khi suy tôn Bác thành "Cha" mà lại bỏ qua một động tác căn bản mà người Trung Hoa vẫn làm, đó là đáng ra phải nhờ ngay tay thợ hoạn ngoại hạng Đỗ Mười cắt béng ‘‘cái của nợ” của Bác đi, để Bác vô tư, toàn tâm với dân với nước.

Cũng vì trí trá nên ngoài 58 họ tên, bút danh, trong suốt cuộc đời hoạt động "kách mệnh" của mình Bác còn sử dụng một số khác như T. Lan, Trần Dân Tiên , Tống văn Sơ, ông Ké, già Thu (1) v.v. Cũng còn phải thêm vài bút danh độc đáo khác như KĐB, KGG, CĐT, GNT... Diễn nôm nghĩa mấy chữ viết tắt là: không đàn bà (KĐB), không gái gú (KGG), chỉ độc thân (CĐT), gần như thiến (GNT)...

Cũng bởi sai một ly mà đi một dặm, cái xảy nảy thành cái ung...

Bao nhiêu gà non, gà già, cho đến gà mái ghẹ đã nhẹ dạ, tưởng được ban ân sủng, hoặc bị cưỡng bức mà chui hết vào miệng hùm... của Bác.

Cho dù cái đuôi có to đến đâu (2) có thể che được bộ mặt đội lốt mèo ngoan của Bác, cũng không giấu được bao nhiêu việc làm tội lỗi.

Lớp trẻ trước 1975 bị đầu độc đến mức u mê dám nhận xét rằng: Trên đời này chỉ có hai thứ vô duyên nhất là... vú đàn ông và ... ‘‘cái ấy” của bác Hồ (!). Xin nói có sách, mách có chứng để biện giải điều ngược lại. Thứ vô duyên thứ hai không phải ‘‘cái ấy” của Bác mà chính là những cái đầu u mê, khốn khổ của những kẻ ngốc, cuồng tín ông Hồ còn hơn cả những kẻ Hồi giáo cực đoan. ‘‘Cái ấy” của Bác Hồ coi chừng vậy mà không phải vậy!

Sở dĩ câu thơ viết: Tuyết Minh đâu phải vợ đầu, là bởi khi cưới Tăng Tuyết Minh (có bà Đặng Dĩnh Siêu - vợ Chu Ấn Lai, Bảo La Đình, Thái Sương v.v.. đến dự, tại nhà hàng Thái Bình, ở trung tâm thành phố Bắc Kinh, vào tháng 10/1926), lúc đó Bác đã băm mươi sáu cái xuân xanh rồi. Người như Bác: Mặt gầy gò, nhỏ thó, hai mắt đặt gần nhau, tinh nhanh như mắt chồn, mắt cáo, hễ thấy gái ở đâu là như mèo thấy mỡ, như quạ thấy gà con, làm gì có chuyện tròn ba giáp mới chịu lấy vợ?!

Cho dù sợ cảnh "vơ lấy tội" (nói lái) thì cũng đã từng "vơ hại", "vơ bạ", "vớ bộn", "vớ tạm"(3) ở đâu rồi ấy chứ. Người đời truyền miệng rất hài hước: Khi các đồng chí có ý nhắc nhở Bác không nên lấy Tuyết Minh vì tổ chức cách mạng non trẻ đang cần người dẫn dắt, thì được Bác ...giải thích: bản thân tôi lúc nào cũng chỉ có gái trong đầu nên hoạt động cách mạng tuy căn bản, nhưng hoạt động phong trào phụ nữ mới là chính. Cứ túm lấy ‘‘hai điểm trên”, đi sâu vào ‘‘một điểm dưới”, nhất định ‘‘phong trào ở giữa” sẽ đến lúc phình. Làm được như vậy sẽ có hai cái lợi: một là không xảy ra tình trạng "lửng lơ chính sách, đung đưa phong trào", hai là tích cực tạo ra các mầm mống hạt nhân (con) cho phong trào cộng sản sâu rộng khắp thế giới. Các hạt nhân (con) này sẽ áp dụng triệt để kinh nghiệm, cách làm của cha, anh chúng...

Cho nên cái đám cuồng tín đến phát rồ nêu trên, không phải là số ít. Cả nước đều là con cháu Bác Hồ mà nị! (Đâu như là lời của tổng bí thư họ Nông).

Phàm đã sinh ra ở đời thì chuyện "vơ lấy tội" và "trông lấy tồi"(4) là chuyện ... phình phường. Tạo hoá khi nặn ra một mình chàng Adam thấy buồn tẻ quá bèn cấu lấy hai dẻ xương sườn của chàng để nặn thành Eve, và đặt toàn bộ sự khoái lạc của cuộc đời chàng vào hai mảnh xương yêu mảnh mai kỳ diệu ấy.

Vì thế đời này qua đời khác, đàn ông lớn lên đều phải đi tìm đàn bà và cả cuộc đời còn lại gắn bó với họ dưới danh nghĩa và chức phận vợ chồng. Có gì là tồi tệ xấu xa đâu? Tất cả diễn ra theo quy luật tự nhiên, hoàn toàn đúng với bản chất bảo tồn nòi giống của con người cơ mà.

Nhưng vì Đảng cố tình che giấu sự thật, chống lại tự nhiên, lại quên "hoạn" Bác, nên đã gây ra bao cảnh bi hài, lộn ẩu. Cười không được, khóc không xong, để lại bao tì vết ô danh, khiến hậu thế đời đời nguyền rủa, hệt thơ bà chúa thơ Nôm tả:

Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc
Trái gió cho nên phải lộn lèo (5)
( Vịnh sư hoang dâm)

Ở trong nước, người mon men bên chân Bác nhiều nhất có lẽ là nhà văn Sơn Tùng với chín tác phẩm viết về Người: ‘‘Búp sen xanh" (1980), "Bông sen vàng" (1984) Hoa dâm bụt (1999) v.v...

Còn một bài viết nổi tiếng mà ai cũng biết đó là bài: ‘‘Đi tìm Út Huệ” đăng trên tạp chí ‘‘Thế giới mới” số 222 năm 1997. Bài này đã được dựng thành phim với đầu đề ‘‘Hẹn gặp lại Sài gòn”, một bộ phim ngốn 2 tỉ đồng VN hồi đó (1986), chỉ để chứng minh một điều Bác là người có chí hướng cách mạng lớn lao, vì theo đuổi con đường ‘‘kách mệnh” cho dân cho nước mà phải hy sinh tình cảm riêng tư của mình.

Nghe đâu bộ phim - khi còn là kịch bản đã gây nhiều tranh cãi ở Bộ chính trị. Lê Duẩn, kẻ thống soái lúc bấy giờ đã không cho in bài cũng như chuyển thể thành kịch bản vì muốn giữ nguyên hình tượng Bác Hồ, không đề cập bất cứ điều gì về đời tư kín đáo. Bác có trái tim chỉ đập những nhịp đập chí tình chí nghĩa với dân với nước chứ không đập vì chuyện đàn bà đa cảm vụn vặt. Nhờ có tư liệu của anh trai, chị gái là bà Nguyễn thị Thanh và ông cả Khiêm cung cấp mà nhà văn Sơn Tùng thắng cuộc...

Sau khi "đi tìm út Huệ" không thành, Bác sang Pháp. Theo nhiều nguồn tài liệu, ngay trong khi là thợ ảnh Bác đã có những liên hệ tình cảm với cô Bourdon, dù cô này vốn chỉ là khách hàng đến chụp ảnh. Vốn tính mê gái, nắm bắt được cơ hội khi trả ảnh, Bác đã có những lời tán tỉnh rẻ tiền. Do trình độ tiếng Pháp còn ngọng nghịu, lơ ngớ, nên trong thư tỏ tình rất dài có nhiều sai sót về văn phạm. Kết quả không khác được là Bác ngã sóng soài trước cửa nhà người đẹp cùng lá thư cự tuyệt, cấm cửa của nàng.

Tuy vậy trong thời gian ở Pháp (1917 -1923) Bác cũng kiếm được một nàng cho mình và kết quả của mối tình vụng trộm này là một đứa con lai ra đời. Điều này được nói lên từ tờ di chúc của Bác ngày 14/08/1969, tuy trong điều kiện hiện nay chưa thể kiểm chứng chính xác nhưng được dư luận xem là đáng tin cậy, trong đó Bác viết: "Trước khi viết phần cuối của tờ di chúc này, tôi xin thú nhận, tôi là một người không phải thần thánh gì nên khi tôi còn sống cũng đủ "bảy tính" như kinh nhà Phật đã đề cập. Tôi không có vợ, nhưng cũng có được đứa con gái lai Pháp. Tôi ước mong con gái tôi, khi đọc tờ di chúc này sẽ tha thứ cho tôi đã không đủ bổn phận làm cha, nhưng phụ tử tình thâm, tôi luôn nhớ tới con gái tôi với muôn vàn âu yếm”. (6)



Suốt ngày Bác chẳng làm chi
Sáng ra bờ suối tối thì vào hang...

Thơ dân gian
--------------------------------------------------------------------------------

Khi sang Nga, Thái Lan, rồi Hồng Công, Trung Quốc, Bác liên tục đi tìm cho mình nhiều cô gái khác, theo đúng quan điểm hiện sinh của thời hiện đại: "Đàn ông cần đàn bà như thành phố cần có người khơi cống". Nào là Li Sam (Hồng Công), nào Tuyết Lan (Thái Lan) nào Mao Từ Mẫn (Trung Quốc), Vera Vasiliéva (Nga) (7) v.v... Cũng bởi không biết Bác "khơi cống" lúc nào nên dư luận quốc tế chỉ công nhận những "chiếc cống" có thật, nổi bật nhất trong thời gian ở Nga là Nguyễn thị Minh Khai (chị ruột của Nguyễn thị Minh Thái - vợ đầu của tướng Giáp). Cả hai đã từng là ‘‘vợ chồng" trong suốt những ngày học lớp chính trị mở tại trụ sở chi nhánh Bộ Đông Phương của Quốc tế cộng sản Đảng. Trong hồ sơ hoạt động, bà Minh Khai ghi rõ chồng là Lin - bí danh của Nguyễn Ái Quốc lúc ấy. Phiếu ghi nhận đồ đạc trong phòng riêng hai người tại nhà tập thể của cán bộ thuộc Quốc Tế Cộng Sản đều vẫn nằm tại Viện Lưu Trữ của Nga ở Moskva. Thì ra, ngoài giờ học chính trị, "Lin" còn chơi trò chơi trò chính... em với Minh Khai bằng cách chung phòng, chung giường, chung đồ, chung thân thể...(8)

Tất nhiên khi lửa gần rơm thì việc má áp, môi kề, trai trên, gái dưới là điều tất yếu, như ngày xưa các bậc già cả vẫn gọi nôm na là "cơm nhà bụng vợ". Đó là hai yếu tố cơ bản của cuộc sống, thiếu một trong hai thứ đó không thể làm nên bản chất... đàn ông, càng không làm nên sự nghiệp ‘‘kách mệnh" của Bác Hồ. Điều này được phát ngôn từ chính miệng các đồng chí lãnh đạo đảng ta, những người thay Bác khẳng định: Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi(!?).

Theo dư luận của nhiều bậc lão thành cách mạng và các nhà sử học trong nước thì Minh Khai rất xinh gái lại thông minh sắc sảo. Khi tình đang nồng, nghĩa đang mặn, Bác buộc phải chia tay với người đẹp, ‘‘nhường” vợ cho "thượng cấp" để lấy hên cho con đường danh vọng, vì khi ấy Bác khá lép vế so với Lê Hồng Phong - người được Quốc tế cộng sản tin tưởng, đào tạo và "đánh bóng mạ kền" để trở thành tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. (9) Vì thế ca dao miền Nam mới có câu:

Bác Hồ đại trí, đại hiền
Chơi Minh Khai chán, gán liền cho Phong
Minh Khai phận gái chữ tòng
Bác Hồ sái nhất, Hồng Phong sái nhì

Không may cho lịch sử cách mạng Việt Nam là Nguyễn thị Minh Khai (tức Nguyễn thị Vịnh) đã chết năm 1941, nếu không biết đâu trang sử vàng của dân tộc còn được viết tiếp những dòng đặc biệt quý giá nữa (vì tính chất độc đáo của Đảng cộng sản là tài sản chung và vợ chung...) như ca dao từng viết:

Nếu Minh Khai chẳng chết đi
Sái ba, sái bốn ắt thì Duẩn, Tôn
Chơi cho thủng trống long bồng
Sái năm, sái sáu... hết chồng thì thôi

Trước đó ở với Tuyết Minh được 6 tháng (từ tháng 10 năm 1926 đến tháng 4 năm 1927) đang thời kỳ hương lửa nồng nàn, người này là xương thịt của xương thịt người kia, Bác phải bỏ vợ để đi làm cuộc cách mạng cho sự nghiệp "làm cha mẹ dân" nhưng cũng không quên được những cuộc cách mạng nhỏ, lẻ tẻ bùng lên trong lòng quần... chúng phụ nữ.

Ngày 6/6/1931, khi cảnh sát Hồng Kông phát hiện ra Lý Thụy cũng chính là Nguyễn Ái Quốc liền cho người đến bắt tại thị trấn Cửu Long (gần Hồng Kông). Lúc đó Bác đang hoạt động cùng một phụ nữ Trung Hoa tên là Li Sam. Chỉ vì mải mê với loại hình hoạt động đặc biệt này: Túm lấy ‘‘hai điểm trên”, đi sâu vào ‘‘một điểm dưới” làm cho ‘‘phong trào ở giữa” nổi phình, tạo ra các hạt nhân mới cho phong trào cộng sản khắp thế giới, mà Bác bị cảnh sát túm ngay đỉnh đầu và bị giam vào ngục tối. Nhờ viên luật sư người Anh biện luận giỏi nên Bác thoát khỏi cửa tử, song không dễ gì thoát khỏi cửa .. mình chị em.

Trước khi bị cầm tù ở Trung Quốc, Bác có cả một thời gian dài dằng dặc tự "cầm tù" mình trong lòng hang Pắc Bó Cao Bằng (từ tháng 2/1941 đến tháng 8/1942), khi ấy Bác lấy tên là ông Ké (tức “Chú Thu”). (10) Bấy giờ có cô gái Nông thị Ngát (tức Nông thị Trưng) đã có chồng nhưng chồng bị Pháp bắt, đến phục vụ Bác.

Tám tháng trong lòng hang vắng (từ tháng 9/1941 đến giữa tháng 8/1942) Bác đã ân cần xoá nạn mù cho cô học trò nhỏ người thiểu số vô cùng xinh xắn này. Không kể công việc liên lạc phải qua lại thường xuyên, mỗi ngày hai chú cháu Thu - Trưng lại kề cận bên nhau một tiếng để Bác dạy học, trò chuyện. Từ chủ nghiã cộng sản đến thế giới đại đồng, lời Người dạy uyên bác cộng với cách cư xử hàng ngày chu đáo, khiến cô trò nhỏ phải lắng nghe như nuốt lấy từng lời. Vì vậy chẳng ai dám khẳng định là ma không thèm ăn cỗ? Nhất là cỗ vắng chủ và hơ hớ xuân thì như vậy?

Sau 10 năm biệt tăm biệt tích, cô Nông thị Trưng trở về làm chánh án Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng, đồng thời là tỉnh uỷ viên, uỷ viên Ban chấp hành trung ương. Quả là chuyện lạ, mà người tạo ra chuyện lạ này chắc chỉ có "chú Thu", bởi cháu Ngát không những được Bác đặt lại tên, còn là người duy nhất trong số 31 triệu đồng bào cả nước được Bác "hạ mình chiếu cố" cho gọi là Chú (thay vì phải gọi Bác như tất thảy dân Việt sống trên dải đất xanh xao hình chữ S) .

Cho đến năm 1969, khi "Chú Thu" mất, người dân Cao Bằng vẫn truyền tai nhau những lời dân dã:

Rừng núi âm u
Già Thu dạy chữ
Bà Trưng ở cữ
Sinh một thằng cu...

Không biết thằng cu này có phải con “Già Thu” hay không vì chưa đủ bằng chứng khẳng định, chỉ biết rằng có một ‘‘thằng Cu họ Nông” do bà Trưng đẻ ra, vào năm 1942, nhưng hình như Đảng bắt bà "rặn" sớm trước... hai năm, nên trong lý lịch "Thằng Cu" ghi sinh vào năm 1940 - vừa trước thời điểm “Già Thu” về nước, vừa để hợp pháp hoá thời gian chồng bà Trưng đi tù (1940-1945)?!!!

Năm 1944, sau khi Bác được thả khỏi nhà tù Tưởng Giới Thạch, trong đoàn quân 22 người cùng về lại Cao bằng thì gặp cô gái là Đỗ thị Lạc, còn gọi là Thuần. Trong cuốn "Một cơn gió bụi" xuất bản tại Sài Gòn 1969 (trang 75), Trần Trọng Kim kể: "Bà Lạc đã có con gái với ông Hồ, nhưng sau đó lại bị bắn chết ở bến đò Bắc Giang vì tội không chịu theo cộng sản".

Tiếp theo là mối tình oan nghiệt giữa "Cha già dân tộc" và "đứa con" ngây thơ đến tội nghiệp là Nông thị Xuân (theo tác phẩm Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên thì là Nguyễn Thị Xuân, căn cứ theo đơn của em gái ruột Nguyễn thị Vàng gửi cho chính phủ), sinh ra cậu bé Nguyễn Tất Trung mà ngày này hầu hết người dân Việt Nam nào cũng biết. Cho dù Đảng có định lấy thúng úp voi, nhưng tài của đảng không sao úp được miệng con voi dư luận. Cứ úp đầu lại lộ đuôi...

Nhân dân mượn hình ảnh con nai vàng ngơ ngác trong bài "Tiếng thu" của nhà thơ Lưu Trọng lư để kể:

Em có nghe hồn Xuân
Dưới đáy mồ thổn thức
Em có nghe huyền thoại
Một hoàng hậu không ngai

Em có nghe Đảng kể
Về một vụ hoang thai
Xác nai vàng ngơ ngác
Bọc trong ngọn cờ dài...

Năm 1959 khi sắp sang tuổi cổ lai hy (xưa nay hiếm) Bác vẫn không gạt được bóng dáng chị em trong đầu, vẫn không sao quên được các cuộc cách mạng nhỏ, lẻ tẻ, vui vẻ.

Theo nhiều nguồn tin trong dân chúng, sau khi bị cô gái nữa là Nguyễn thị Phương Mai thẳng thừng từ chối vì Bộ chính trị không chịu công khai mối quan hệ vợ chồng của hai người, Bác liền bám vào cái gấu váy cuối cùng là một cô vợ Tàu ở Quảng Ðông. Khi Đào Chú - uỷ viên thường vụ bộ chính trị đảng Cộng Sản Trung quốc, phó thủ tướng chính phủ Trung Quốc sang thăm Việt Nam, Bác đã lặng lẽ nhờ một người thân tín trong hàng ngũ lãnh đạo Hà Nội để nói riêng với Ðào Chú rằng Hồ Chí Minh muốn tái hôn với một người vợ cũ ở Quảng Ðông. Ðào Chú đã vui vẻ nhận lời, không ngờ hết thời gian Đào Chú điều dưỡng, hy vọng của Bác cũng tan thành mây khói. Thủ tướng Chu Ân Lai sau khi nghe vị phó thủ tướng dưới quyền kể lại, đã thận trọng đưa ra nhận định: "Phải đề nghị phía Việt Nam xem xét đã”.

Việc "Cha già" có vợ đâu phải chuyện đùa! Tất nhiên, Lê Duẩn, cũng một kẻ hám gái, đa thê, lại một lần nữa hô cao khẩu hiệu: "Hồ Chí Minh muôn năm!”. Và không người đàn bà nào được phép nắm lấy ‘‘cái ấy” của bác, kể cả người vợ cũ để làm hỏng hình tượng của “Cha già dân tộc”, của Đảng quang vinh. Do đó chuyện … tái động phòng đã không xảy ra.(11)

Sau lời đề nghị hớ hênh đó, Bác già đi trông thấy, tàn tạ y hệt Ngũ Tử Tư trong Đông Chu Liệt Quốc (chỉ sau một đêm suy nghĩ tóc râu trắng xoá). Rõ ràng bọn học trò, đàn em của "Cha" thì cha vơ chú váo hết em này đến em kia, mà Bác chỉ vì (chót) làm phận "Cha già dân tộc" đành phải chịu cảnh uất ức, tái tê. Và cũng chính vì có quá nhiều "bí mật đen" trong cuộc đời riêng (thậm chí là đảng viên Đảng CSVN nhưng chưa bao giờ qua thủ tục kết nạp), Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã nắm bắt để khống chế, khuynh loát, qua mặt Bác trong nhiều quyết định quan trọng cho đến ngày Bác chuyển qua... từ trần.

Ngày 2/9/1969 Bác vĩnh viễn đi vào huyền thoại. Nhân dân cả nước sau phút bàng hoàng tê tái khóc Bác liền bừng tỉnh ngộ, làm thơ "ca ngợi" Đảng:

Đảng là mẹ, Bác là cha
Từ khi Bác mất Đảng ta goá chồng...
Ông Chinh, ông Duẩn, ông Đồng
Ông nào cũng muốn làm chồng Đảng ta
Làm chồng chẳng muốn làm cha
Thế lên cơ sự dân ta thế... lày

Chuyện về “Bác già” ở Việt Nam còn dài, dài hơn cái đuôi của cáo. Bởi viết trước lăng Người, luôn bị cảnh vệ theo dõi, xin hẹn bạn đọc vào một dịp đẹp trời khác trên DCVOnline...

Hà Nội, nhân ngày sinh nhật Đảng 3/2/2006


--------------------------------------------------------------------------------

Chú thích:
1. Sách "VN Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ" ( trang 114- 122) nói rõ: Trong cuộc đời hoạt động bác đã qua 28 lần thay tên đổi họ và 26 bút danh từ A đến Z, song lại cố tình gạt ra hai bút danh quan trọng là Trần Dân Tiên và T. Lan mà ai cũng biết là của bác ca ngợi... Hồ
2. Đảng luôn suy tôn bác là người "Vĩ đại", có một không hai trong lịch sử nước nhà (Hơn cả Lê Lợi, Hưng đạo Đại Vương). “Vĩ đại” theo cách hiểu của dân gian là “đuôi to”)... Bác vốn mang họ Hồ , là “Đuôi”, nên có đuôi dài, đuôi to là phải nhẽ!
3. Theo cách nói ngược (nói lái): “Vơ hại” là hai vợ; “Vơ bạ” là ba vợ; “Vớ bộn” là bốn vợ; “Vớ tạm” là tám vợ v.v.
4. Người miền Bắc thường lẫn lộn giữa TR và CH nên trong nói lái nhiều khi được hiểu: Tôi lấy vợ thành “vơ lấy tội”; Tôi lấy chồng thành “trông lấy tồi”.
5. Thơ Hồ Xuân Hương. Hiểu theo nghĩa tục là: Chó giái cho nên phải lẹo l...
6. Xem "Đọc lại di chúc Hồ Chí Minh", Vietnam News Network ngày 18/10/2005.
7. Một số tác giả ở nước ngoài cho rằng: Thời gian hoạt động ở Xiêm (Thái lan), Bác có yêu một cô gái tên là Tuyết Lan, đây cũng chính là tên T. Lan mà bác đã dùng để viết sách.
8.Theo Thành Tín (tức Bùi Tín) trong tập sách "Về ba ông thánh " xuất bản tại California, 1995 ( trang 136)
9. Khi đó Lê Hồng Phong đã giữ chức ủy viên trung ương dự khuyết của Quốc tế 3 và được coi như nhân vật quan trọng số 1 về phương Đông của Quốc tế cộng sản Đảng.
10. Theo Thiên Lý, tác giả bài viết "Cô học trò nhỏ của Bác" báo Phụ Nữ Việt Nam, số xuân 1997 do bà Trưng kể lại. Trong bài có đoạn "ông Ké" dặn riêng cháu Ngát khi ấy là liên lạc viên được bác huấn luyện đào tạo và giác ngộ: "Từ nay ai hỏi thì cháu nói mình là cháu chú Thu, tên Trưng".
11. Nguyên văn "Hồ Chí Minh tằng tưởng tái hôn". Tuần báo Nguyệt san Phụng Sự, tháng 1/1991, ngày 15/10/1996, Tao Zhu dịch sang tiếng Việt (xem "Huyền thoại về cuộc sống độc thân giản dị" - Trần Gia Phụng).

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

CHÓ QUA THÀNH NGỮ VÀ ĐIỂN TÍCH


Trong Hán tự, cẩu là chó , đồng nghĩa với chữ khuyển xưa hơn và có nhiều danh từ kép, mà Từ Hải đã thu thập được 174 chữ, còn Khang Hi tự đỉễn lên tới 444 chữ trong bộ khuyển.

- Khuyển Mã: Chỉ hai giống vật 'chó ngựa' luôn trung thành với chủ. Thành ngữ 'làm thân khuyển mã' chỉ bầy tôi hay đầy tớ, ăn ở trung hậu. Trong ' Tự tình khúc' Cao Bá Nhạ viết 'giải được lòng khuyển mã là vinh', còn 'Nhị độ mai' cũng có câu ' đem lòng khuyển mã đền nghì bể sông'.

- Khuyển Nho: Tên một hệ phái triết học, do Anisthène và đệ tử là Socrate, sáng lập tại Hy Lạp khoảng thế kỷ thứ IV trước Tây lịch. Phái này tỏ ra khinh miệt những tập tục lễ nghi của xã hội đương thời. Những người thuộc hệ phái này luôn sống đời du mục, ràt đây mai đó, để chế giểu và châm biếm những cái rởm của đời, từ đó chẳng màng danh lợi, không bon chen thị phi phù phiếm.

Do sự lập dị chẳng giống ai, nên người đương thời gọi họ là 'bầy chó'. Sau đó có phải 'khắc kỷ' xuất hiện , phản đối những thai độ vô lý của đời đối với phái trên, nên từ đó danh từ 'khuyển nho' mới ra đời, rất hợp với chủ trương của Anisthène, lấy chó làm biểu tượng của triết phái, khi sáng lập.

- Khuyển Ưng: chỉ hai loài chim ưng và chó săn, qua ngụ ý nói tới đám đầy tớ trung thành với chủ sai đâu đánh đó, dù có làm chuyện bất nhân, bất nghĩa. Trong tác phẩm Quốc Sử Diễn Ca, có câu 'khuyển ưng còn nghĩa đá vàng, Yết Kiêu-Dã Tượng, hai chàng cũng ghê'. Trong Đoạn Trường Tân Thanh cũng viết 'sửa sang buồm gió lên mây, khuyển ưng lại lựa một bầy côn quang'.

- Khuyển Nhung: Chỉ một giống dân ở phía tây bắc nước Tàu. Vua U vương vì mê say Bao Tự, muốn làm vừa lòng người đẹp, nên theo lời nịnh thần, cho đốt lửa Phong Hỏa Đài trên núi Ly Sơn cháy rực trời, cùng lúc với tiếng trống ầm ầm như sóng dậy. Chư hầu khắp nơi tưởng Kiểu Kinh có loạn, nên đồng loạt đem quân tới tiếp cưu nhưng chỉ thấy trên lầu vua và Bao Tự đang vui say giữa đờn ca xướng hát rượu thịt ê chề. Chừng đó chư hầu mới biết mình bị gạt, nên xấu hổ kéo quân về nước, trong khi trên lầu cao Bao Tự vỗ tay cười khoái lạc, còn U Vương cũng lấy làm đắc chí về công trình vĩ đại của mình. Sau đó không lâu, vua bị nước Thân liên kết với Khuyển Nhung tới đánh, phải đốt lửa Phong Hỏa Đài trên Ly Sơn cầu cứu, nhưng chẳng còn được ai tin nữa. Cuối cùng nước mất chỉ vì một nụ cười của mỹ nhân. Trong 'Sãi Vãi' Nguyễn Cư tring đã viết 'Khuyển Nhung phá phách nhà Chu, Sãi giận gã Thân Hàu thiết kế'.

- Sài Lang Đương Đạo: Năm Hán An nguyên niên triều Thuận Đế nhà Hậu Hán (142), triều đình sai tám vị đại thần tới các địa phương để thanh tra hành vi của các quan lại. Trong số này có Trương Cương tuổi nhỏ chức quan thấp. Ngày lên đường, ông tháo bánh xe của mình chôn bên vệ đường, tại dịch trạm ngoại thành Lạc Dương. Mọi người kinh ngạc hỏi lý do, được Cương trả lời 'Sai lang còn đang chặn đường, sao lại hỏi đến chồn cáo' ý ông muốn nói kẻ đại ác chưa trừ được , thi sao lại nói tới việc trừ loài tiểu ác.

Bởi vậy ông không đi đâu hết, mà ở lại triều quyết tâm loại trừ tên gian tặc đại thần Lương Ký, kẻ đã làm hủ bại triều cương, hư hại mối nước. Nhưng vua dù biết sự thật cũng không dám làm lớn chuyện vì Ký là hoàng thân quốc thích. Cuối cùng Trương Cương bị đầy tới Quảng Lăng và chết tại đó, sau khi diệt được giặc cướp. Điển tích này được chép trong 'Trương Cương truyện' , đời sau rút ra được thành ngữ 'Sài Lang đương đạo' , để am chỉ kẻ ác đang nắm quyền sinh sat đất nước, làm cho dân chúng không được ấm yên hạnh phúc, phải khổ sở lầm than.

- Kê Minh Cẩu Đạo: Thời chiến quốc Mạnh Thường Quân Điền Văn nước Tề, sang thăm Tần Chiêu Tương Vương rất được trọng vọng. Nhưng tướng quốc Tần là Sư Lý vì ganh tị nên sàm tấu với nhà vua, khuyên nên giết Điền Văn để trừ hậu hoạn. May nhờ có em vua Tần là Kinh Dương Quân, vốn là bạn thân của Mạnh Thường Quân được tin, mật báo cho người biết và bày kế đem của đút lót cho ái thiếp nhà vua là Yên Cơ, để được về nước.

Nghe lời, Quân đem vàng bạc tới dâng cho Yên Cơ nhưng bà ta chỉ đòi một chiếc áo bằng da chồn bạch, mà áo đó đang được cất trong kho của nhà vua. Một thực khách của Mạnh thường Quân giỏi bắt chước tiếng chó sủa, ban đêm vừa bò vừa sủa tới cung vua Tần, gạt được lính gác kho, lấy trộm chiếc áo quý đem về cho chủ. Quả nhiên Chiêu Tương Vương nghe lời Yên Cơ cho Mạnh Thường Quân về nước an toàn.

Vì sợ vua đổi ý, nên Quân cùng các thực khách ngay lúc đó ráng sức đi nhanh để mong ra khỏi nước Tần. Nhưng khi đến Hàm Cốc Quan thì trời còn tối, nên quan ải đóng chặt. Cũng may có một thực khách khác biết giả tiếng gà gáy, làm quân giữ ải tưởng đã sáng, nên mở cửa cho mọi người qua. Đến khi vua Tần đổi ý, cho quân theo đuổi bắt thì Mạnh thường Quân đã chạy khỏi nước này ngoài 100 dặm. Từ điển tích trên, người sau rút ra được thành ngữ 'kê minh cẩu đạo (gà gáy chó trộm)' , để nói tới những người vì muốn đạt mục đích mà bất chấp mọi thủ đoạn. Thành ngữ trên cũng ám chỉ bọn bất lương trộm cưóp, kết thành bè đảng 'kê minh cẩu đạo'.

- Lang Bái Vi Gian: Lang và Bái là tên gọi của hai nòi thú thuộc giống chó sói. nhưng Lang thì có hai chân trước dài, hai chân sau ngắn, còn Bái thì hai chân trước ngắn, hai chân sau dài. Loài này thường đi chung với nhau trong lúc săn mồi. Có lần hai con sói trên mò tới một chưồng dê cạnh bìa rừng. Vì chuồng cao lại kiên cố, chúng không thể nào nhảy vào hay ủi sập để bắt dê, nên bày kế Bái có hai chân sau dài thì đứng tựa vào thành chuồng làm thang cho Lang leo lên với hai chân trước dài, nên bám được thành tường mà nhảy vào trong, mở cửa bắt dê đem ra ngoài dễ dàng, nhờ sự hợp sức của Lang-Bái.

Tù điển tích trên được ghi trong sách 'Bác vật điển vựng', người sau rút ra được thành ngữ 'Lang vô Bái bất lập, Bái vô Lang bất thành' hay 'Lang Bái vi gian', để nói bọn bất lương kết bè làm chuyện gian ác. Thành ngữ trên thực chất chỉ là một câu chuyện ngụ ngôn được viết ra, nhằm khuyên răn người đời phải cẩn trong trước khi muốn hợp tác với bất cứ ai, kẻo bọ bọn gian tà lợi dụng, chẳng những hao tài tốn sức mà thân bại danh liệt.

- Họa Hổ Thành Khuyển: Mã Viện thời Đông Hán, trong một bức thư khuyên cháu mình 'nếu bọn ngươi khi nghe ai đó nói đến những lỗi lầm của kẻ khác, thì cũng chú ý như khi nghe nói tới lầm lỗi của cha mẹ mình. Đương thời có Long Bá Cao đôn hậu cẩn trong, ta mong các ngươi bắt chứoc. Còn Đổ Quý Lương tài giỏi hơn nhưng ta lại không các ngươi noi theo, vì vói Lương dù chỉ học được một phần, ít ra các người cũng có tính cẩn trong. Giống như một người muốn vẽ con chim Hộc nhưng dù có vẽ không đúng, người khác nhìn vào cũng biết ngươi đang vẽ chim. Nhưng bắt chước Đổ Quý Lương mà học không hết nghề, thì sẽ trở thành kẻ phóng túng lang bạt hại đời mà thôi. như kẻ muốn vẽ con cọp mà vẽ trật, thành ra hình con chó vậy ..'

Do điển tích trên, người sau rút được thành ngữ 'Họa Hổ Thành Khuyển' . Câu nói trên cũng hàm ý mỉa mai khinh bỉ những người không tự biết mình là ai, trước khi làm một việc gì, rốt cục chẳng những bị thất bại, mang nhục mà còn để hại tới người khác. Vì hổ là chúa tể sơn lâm, còn chó chỉ là con vật thấp hèn, nịnh bợ để cầu xin sự thương hại cưu mang của chủ, nên nên giá trị cách nhau trời vực, thì làm sao vói tới cho được.



- Phong Mục Sài Thanh: Sở Thành Vương thời Xuân Thu muốn lập con trưởng là Thương Thần làm thái tử, nên mời quan Lệnh Doãn là Tử Thương vào bàn bạc. Thương hết lời can ngăn nhà vua không nên vội vàng lập thái tử quá sớm, ngoài ra nhận xét tướng mạo của Thương Thần có con mắt ong đáng sợ, còn giọng nói như chó sói đang tru tréo, theo sách tướng số, ai có tướng như vậy cũng đều hung tàn, nếu lập làm vua chỉ hại cho dân nước mà thôi.

Sở Thành Vương nghe tâu nhưng không tin, vẫn lập Thương Thàn làm thái tử. Riêng Thần biết chuyện giận lắm, thừa dịp Sở có chiến cuộc với nước khác, vu cáo Tử Thương tư thông với giặc, nhà vua không cần xét xử, khép ông vào tội chết, sau đó rõ chuyện thì đã muộn. Không lâu Thành Vương có ý nhường ngôi cho con thứ là Chức, Thượng Thần bèn hợp mưu với đồng đảng vào cung giết vua cha, lên ngôi tức Sở Mục Vương. Đời sau qua điển tích trên , rút ra thành ngữ 'Phong Mục Sài Thanh - Mắt ong, tiếng sói' , để nói về tướng mạo của người hung tàn độc ác, chuyên làm những chuyện bất lương.

Tóm lại người xưa nhất là Đông Phương rất là thâm thúy và sâu sắc, ngay đến nụ cười cũng hàm chứa nhiều học thuyết truyền thống với ý nghĩa minh triết thâm hậu. Cho nên những câu chuyện mượn chó để chửi xéo đời, khiến cho ta mới thật thấm thía với câu 'Làm cho thì dễ, còn làm người mới khó'. Cao Bá Quát kẻ tài hoa sinh bất trùng thời, bởi bản tính tự cao coi đời như cỏ rác, nên dù rất được Vua Tự Đức quý trọng thi tài nhưng con đường hoạn lộ vẫn mịt mù, rốt cục đã thất chí phải theo giặc cướp làm loạn, để cả dòng tộc mang tội tru di tam tộc. Trong lúc còn làm quan tại kinh, nhân có hai viên quan ấ đã trước buổi lâm triều, nên vua Tự Đức ra lệnh cho Cao Bá Quát làm tờ trình. Do đó ông viết "Bất tri ý hà. Lưỡng tương đấu khẩu. Bỉ viết cẩu. Thử diệc viết cẩu. Dĩ chi đấu ẩu. Thần kiến thế nguy "..

Nghĩa là "Chẳng biết vì sao. Hai bên cãi cọ. Bên này rằng CHÓ. Bên kia cũng CHÓ. Trên dưới đều CHÓ. Dẫn đến đấm đá. Thần thấy thế nguy. Thần sợ thần chạy. Thần tấu ".

Ông Ích Khiêm người Phong Lệ, Điện Bàn, Quảng Nam. Ông làm quan dưới triều vua Tự Đức, tài kiêm văn võ, đã lập được nhiều chiến công hiển hách với nước nhưng tính tình kiêu căng tự phụ, do một phần ảnh hưởng cái hào khí coi đời như rác cỏ của Cao Bá Quát, nên không bao giờ chịu xu nịnh bọn quyền thần đương thời và do đó đã bị bọn chúng trù dập khi có dịp. Khi thực dân Pháp tấn công cửa Thuận An, lúc đó Ông Ích Khiêm là trấn thủ ch3 huy Kinh thành Huế, đã cực lực lên án thái độ chủ hòa của Nguyễn Văn Tường, nên bị bãi chức và giải về giam tại ngục Bình Thuận, ở đó ông bị bỏ đói tới chết. Người sau có làm thơ thương tiếc một đấng nhân tài của đất nước "Ngục trung Bình Thuận sao nên tội? Rằng nhớ rằng quên tài hỡi tài!".

Viết về Ông Ích Khiêm, các nhà biên khảo hay nhắc tới "Bữa tiệc thịt chó" như một giai thoại đẹp nhưng càng nghĩ càng cười ra nước mắt, nhất là đối với những giai đoạn lịch sử quốc phá gia vong của thời Pháp thuộc, hay hiện tại đất nước ta đang đắm chìm trong vũng bùn ô uế của xã nghĩa thiên đàng. Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, năm Canh Ngọ (1870), Ông Ích Khiêm làm Tiểu Phủ Sứ , đã đánh tan quân Ngô Côn, dư đảng Thái Bình Thiên Quốc của Hồng Tú Toàn,từ bên Tàu chạy qua cướp phá tỉnh thành Bắc Ninh. Về kinh, ông được thăng Án Sát nên thiết tiệc ăn mừng, hầu như ai cũng được mời kể cả Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường , cũng có mặt và chễm chệ ngồi trên mâm cổ cao nhất. Bữa tiệc thật linh đình , từ thức ăn tới rượu uống đều ngon lành, ai nấy đều thỏa mãn vì lạ miệng, nên không tiếc lời khen tặng. Đang lúc tiệc còn vui, một quan có hỏi là thịt gì, nên được Ông Ích Khiêm, sau khi trình bày xuất xứ, roi chỉ từ mâm Thuyết-Tường đang ngồi, xuống tới những mâm thấp dưới, rồi ung dung nói "Từ mâm trên xuống thấp, chỉ toàn là một thứ CHÓ cả".



Chưa hết chuyện, nhân thấy các quan đang buông đũa, Ông Ích Khiêm vôi quay xuống bếp gọi lớn "Nước bay! dạ dạ" nhưng đợi chặp lâu chẳng thấy nước nôi gì cả. Chừng đó Ông Ích Khiêm mới to tiếng "Cái lũ này hễ được dịp thỉ đục đầu vô ăn, chứ có biết lo lắng gì việc nước đậu? Tất cả câu chuyện diễn ra quá thảm tuyệt, khiến cho bách quan đều chín ruột, còn Tường-Thuyết thì toát cả mồ hôi hột nhưng chỉ biết ngậm tăm, chờ mãn tiệc. Từ đó căm thù càng thê sâu nặng và kết quả Ông Ích Khiêm đã bị vu cáo và chết đói trong ngục Bình Thuận.

Thòi Pháp thuộc, tại Nam Kỳ có tên cai tổng Lê Hoa Hồng nhờ bưng bợ giặc Tây và cướp bốc dân nghèo nên rất giàu có và thế lực. Để dương oai với xóm làng, Cai Hồng cho xây một Quán bên vệ đường vào làng và đặt tên là "QUÁN GIAI " hiểu theo nghĩa chữ Hán là "Quán đẹp" nhưng nói lái là thứ của qui của quan. Các bậc nho học trong làng đều biết, nên đã trả đũa bằng cách dựng một Quán đối diện và đặt tên là "QUÁN BÔ" là chữ Pháp (Beau) cũng có nghĩa là "Quán đẹp" nhưng nếu nói lai là "Bô` Quan". Trong ngày khánh thành, Cai Hồng thiết tiệc mời đủ khách tham dự có cả Quan Phủ Ngãi tham dự. Khi tất cả ngà ngà say, Cai Hồng sính chữ ứng khẩu làm thơ "Ông phủ Ngãi nhậu say phải ngủ" và được đối lại "thầy cai Hồng của cáy công hái".

Cai Hồng biết thiên ha chơi xỏ tức lắm, nên cũng xỏ xiên lại "CÁC THẦY" giỏi thiệt, mà Các Thầy nói lái là "Cầy Thác" tức là "Đồ Chó Chết". Nhưng người làng cũng chẳng vừa gì, nên đáp lại rằng "thầy Cai là người CÓ CHỨC" dân quèn chúng tôi luôn kính trọng. Cai Hồng mới nghe đắc chí lắm nhưng chợt hiểu "Có Chức" nếu nói lái là "Cứt Chó" thì giận tím ruột. Từ đó không dám lên mặt nói chữ với ai nữa.

Trong giòng thơ trào phúng của nước ta vào thế kỷ XIX, không ai không biết tới những Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Ba Giai, Học Lạc..Một năm Tuất nọ trên đất Bắc thời Pháp thuộc, Ba Giai (Nguyễn Văn Giai) tới quán trọ rũ các thầy khóa "Hạ Cờ Tây" trước khi chia tay giã từ nhau về quê vui xuân. Biết Ba Giai là tay chọc trời khuấy nước, tên tuổi được mật thám Pháp xếp đầu sổ phong trần, anh em yêu cầu làm một bài thơ, gọi là khai bút đầu xuân. Nể mặt mọi người, Ba Giai ứng khẩu một bài thơ Đường, qua đề tài "Ngắm cảnh Hà Nội buôi sáng" như sau:

Bốn bên hàng phố tiếng xôn xao
Trở dậy mà xem những thế nào
Lục sở trò bày trong rạp tối
Tam tài cờ cắm giữa trời cao
Giày Tàu bịt gót,Ngô đi bãi
Váy lỉnh phơi trên, đĩ rửa hào
Nhuốm, Vện, Khoang, Vần, vô số chó
Ra tuồng đắc ý, chạy nhông nhao.








Cùng năm đó, ngẫu nhiên Học Lạc (Nguyễn Văn Lạc), hiệu Sầm Giang, quán làng Mỹ Chánh, tỉnh Định Tường, nức tiếng khắp Nam Kỳ là người chống thực dân Pháp và bọn chó xăn tay sai của giặc. Trong một buổi nhậu đầu Xuân năm Tuất, Học Lạc đã ứng khẩu làm bài thơ Đường "Chó Chết Trôi" tặng bạn bè:

Sống thì bắt thỏ, thỏ kêu rêu
Thác thả lòng sông xác nổi phều
Vần vện xác còn phơi hửng dửng
Thúi tha danh hãy nổi lều bều
Tới lui bịn rịn bầy tôm tép
Đưa đón lao xao lũ quạ diều
Một trận gió dìu cùng sóng dập
Tan tành xương thịt biết bao nhiêu.

Từ xưa VN đã có thành ngữ "Cáo mượn oai hùm" , rút ra từ điển tích Sở Hoàn Vương thời Chiến Quốc, một hôm hỏi quần thần, tại sao các nước ở phía tây bắc Trung Hoa lại sợ hãi Chiêu Hồ Tuất. Câu hỏi được quan đại thần Giang Ất giải đáp bằng câu chuyện ngụ ngôn, lấy tích có con hổ bắt được con cáo, định ăn thịt nhưng bị nó hù dọa, lại xưng là thiên sứ từ trời xuống để thống trị muôn loài thú và thách thức hổ đi theo mình, để biết sự thực. Quả nhiên cáo và hổ tới đâu, thú rừng đều bỏ trốn hết. Trong lúc đó hổ đậu biết, là các thú vì sợ mình, chứ đâu có ngán cáo. Chuyện Chiêu Hồ Tuất cũng vậy, các nước khác vì sợ binh lực hùng mạnh của nước Sở, chứ đâu có sợ gì Tuất.. Ngày nay nước ta đang sống dưới ách nô lệ của cọng sản, cũng vì súng đạn và màng lưới công an bộ đội, nên đồng bào cả nước phải chịu khổ đau bởi bọn cán bộ ngu dốt tầm thường "Cáo đội lớp hùm" , hống hách, bốc lột và tàn hại, mà chẳng dám làm gì.

Giống như nước Tống có người xem tướng chó rất giỏi, nên được láng giềng nhờ mua giùm một con về bắt chuột. Nhưng rồi một năm trôi qua, chẳng thấy chó bắt được con chuột nào cả, người láng giềng mới hỏi, thì được anh xem tướng chó trả lời " Con chó này thuộc giống tốt nên cái chí của nó là đuợc theo chủ đi săn để bắt nai, hươu, dê, hoảng. Vì vậy nó không thèm bắt chuột, nếu muốn phải cùm chân nó lại. Người láng giềng làm y theo lời, quả nhiên chó trở thành hèn, chỉ còn biết bắt chuột mà thôi.

Câu chuyện ngụ ngôn này nếu ở các nước Âu Mỹ tự do, sẽ chẳng làm ai cười được hay tốn công suy nghĩ. Thế nhưng với xã nghĩa thiên đàng VN giờ đây, chắc chắn mọi người, nhất là thành phần trí thức, khoa bảng..khi đọc phải khóc ngất vì tủi hổ tức nghẹn cho kiếp người. Giống như một con cho săn tài giỏi , chỉ vì bị cùm chân mà trở thành hèn mọn phải bắt chuột., quả thật là thương hại. Dân tộc VN cũng vậy, tự dưng cõng voi cọng sản quốc tế về dầy mồ tiên tổ và đất nước. Rồi cũng tự chính mình "cùm chân trói tay" làm bù nhìn bình vôi ngày ngày tháng tháng suốt mấy chục năm qua, để từ một con người tự do, biến thành con vượn hú, thì thật không biết nên cười hay khóc cho số phận ?

Xóm Cồn

Cuối Đông 2005

HỒ ĐINH

dongbui
Posts: 443
Joined: Tue Nov 30, 2004 5:43 pm
Contact:

Post by dongbui »

linhgia wrote:Cám ơn OTGH dã quá khen, chỉ là múa rìu qua mắt thợ mà thôi

Thân tặng OTGH những tấm hình này

Image

Trịnh Long Giang
Cám ơn anh Giang,
Cái tấm hình này anh chụp đẹp wa' , ai coi cũng khen là : "tấm này đẹp nhứt" trong album của anh ...hehehe... làm ổNG khoái wa' .
OTGH

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

LỊCH SỬ “NGÀY TÌNH YÊU"

"THE VALENTINE’S DAY”



Maranatha tổng hợp

Ngày 14 tháng 2 Giáo Hội mừng lễ thánh Valentinô. Trong khi đó xã hội lại mừng Ngày Tình Yêu, mà ở Việt Nam gọi là ngày Va-len-tin, một cách đọc mà chỉ người tại Việt Nam mới hiểu. vì không biết ai đó đã đọc tiếng Anh theo tiếng Pháp. Thật vậy, St. Valentine (tiếng Anh) đọc là Va-len-tai-n (valen’tain) và St Valentin (tiếng Pháp) đọc là Va- lâng- tenh (valãtẽ).
Thánh Valentinô là ai mà ngày lễ của ngài đưọc chọn làm ngày Tình Yêu?
Hiện nay, Giáo Hội Công giáo công nhận ít ra là ba thánh khác nhau mang tên là Valentinô, và cả ba vị đều tử đạo.
Một truyền thuyết cho rằng thánh Valentinô là một linh mục sống tại Rôma vào thế kỷ thứ III. Khi hoàng đế Claudiô II quyết định rằng những chàng trai độc thân là những chiến sĩ thiện chiến hơn những quân nhân có gia đình, vì thế ông cấm các thanh niên có vợ. Thánh Valentinô thấy rằng quyết định này quá bất công, nên bất tuân lệnh hoàng đế và bí mật làm phép hôn phối cho các tình nhân. Hành vi này bị khám phá và ngài bị Claudiô kết án tử hình.
Một số truyền thuyết khác cho rằng thánh Valentinô bị giết vì giúp các Kitô hữu trốn thoát cảnh đánh đập và tra tấn trong ngục tù La Mã. Trong thời gian bị giam cầm, Valentinô và con gái của người cai ngục yêu nhau. Trước khi bị hành hình, Valentinô viết cho cô một bức thư tình và ký tên “Valentinô của em” (From your Valentine), và câu này được sử dụng cho đến ngày nay, và Valentinô trở nên đồng nghĩa với ‘Người Yêu”. Các chuyện kể thêm thắt những nét cảm động, anh hùng và nhất là lãng mạn cho nhân vật này. Vì thế, vào thời Trung Cổ, Valentinô là một trong những thánh được mến mộ nhất tại Anh và Pháp, và là hình ảnh của Người Yêu hoàn hảo.
Nhiều người cho rằng Giáo Hội mừng lễ thánh Valentinô vào giữa tháng 2 để tưởng niệm ngày chết hay ngày chôn của ngài (ngài bị giết vào khoảng năm 270). Nhiều người khác lại cho rằng Giáo Hội đã quyết định mừng lễ thánh Valentinô – biểu tượng của Tình Yêu – vào giữa tháng 2 nhằm Kitô hóa một ngày lễ ngoại giáo là ngày Lupercalia. Thời La Mã cổ đại, tháng 2 là tháng khởi sự mùa xuân và là lúc để làm nghi lễ tẩy uế. Trong nghi lễ này, rác được quét ra ngoài rối người chủ lễ vẩy muối và bột khắp nơi trong nhà. Lupercalia, được mừng vào ngày 15 tháng 2, là ngày lễ cầu mùa dâng lên Faunus, vị thần canh nông, cũng như dâng lên Romulus và Remus là hai người sáng lập ra Rôma.
Theo truyền thuyết, ngày hôm ấy, các thiếu nữ trong thành phố bỏ tên mình trong một cái hũ lớn. Các chàng trai độc thân sẽ rút ra một tên cô gái và làm quen với cô ấy trong vòng một năm. Thường thường thì đôi trai gái kết hôn với nhau. Tập tục này được xem là phi Kitô giáo và bị giáo hội lên án, và khoảng năm 498, Đức Giáo Hoàng quyết định rằng ngày 14 tháng 2 là ngày thánh Valentinô.
Ngày lễ thánh Valentinô, được mừng như ngày Tình Yêu, trở nên rầm rộ vào khoảng đầu thế kỷ thứ XVI. Họ viết cho nhau những bức thư tình và gửi tặng hoa hồng cho nhau. Người Mỹ dường như gửi thiệp viết tay cho nhau vào đầu thế kỷ 1800. Năm 1840, Esther Howland bắt đầu bán những thiệp Valentine hàng loạt. Một số nước mừng ngày Valentinô là Canada, Mexicô, Anh Quốc, Pháp và Úc. Tại Việt Nam, lễ này mới xuất hiện trong vòng 10 năm vừa qua.
Khởi sự là Ngày Tình Nhân, rồi trở thành Ngày Tình Yêu, ngày lễ thánh Valentinô trở thành lễ của các mối tình khác nhau. Năm 1981, các cặp vợ chồng tại Baton Rouge, Louisiana đề nghị thống đốc tiểu bang và giám mục công bố lễ thánh Valentinô là “Ngày Hôn Nhân.” Năm 1983, cả nước Hoa Kỳ và một vài nước khác đã mừng ‘Ngày Hôn Nhân Thế Giới’ (World Marriage Day), và được cử hành vào ngày Chúa nhật thứ hai của tháng 2 hằng năm. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban phép lành tòa thánh cho những ai tham dự nghi lễ mừng Ngày Hôn Nhân Thế Giới này. Không biết đến bao giờ tại Giáo hội Việt Nam sẽ cử hành ngày đặc biệt này cho các đôi phối ngẫu Công giáo?

Valentine

dongtay
Posts: 1
Joined: Tue Feb 07, 2006 1:49 pm

THÂN TẶNG

Post by dongtay »

THÂN TẶNG ANH GIANG GIÀ.. :D
Attachments
BRASILz.jpg
BRASILz.jpg (95.07 KiB) Viewed 474 times

Post Reply