Chiến Sĩ QLVNCH

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

12 Tháng Anh Đi
Thơ Phạm văn Bình , nguyên Đại Úy TQLC
Phạm Duy phổ nhạc.

Image




Tháng giêng xuôi quân ra Huế
Cố đô hoang vu điêu tàn
Bãi học chiều, em vắng bóng
Tóc thề đã quấn khăn tang

Tháng hai về trấn ven đô
Chong mắt hoả châu giữ cầu
Gió thoảng vào hơi rượu mạnh
Qua làn sương ánh đèn mầu

. . . . . . . . .
Ba lô lên vai, tới miền Tây Ðô
Quê hương em xanh, xanh ngợp bóng dừa
Ðêm ngủ bìa rừng, thèm làn môi ấm
Ngọt trái sầu riêng, này lúc sang mùa...

. . . . . . . . .
Bây giờ trời mây vào hạ
Mẹ em bận đi lễ chùa
Em cầu nguyện cho chiến sĩ
Trên đường nắng sớm chiều mưa


Tháng năm theo vì sao biếc
Hoa phượng nở quanh sân trường
Ngày xưa những tờ lưu bút
Bây giờ phong thư gói quà


Tháng sáu anh vẫn miệt mài
Hành quân chưa về thăm em
Ðừng khóc ve sầu mùa hạ
Xa thì xa vẫn chưa quên...

. . . . . . . . .
Sang Thu mưa ngâu, nước mù bay mau
Ô hay ta sao trong lòng dâng sầu
Tráng sĩ xưa hề vượt cầu sông ấy
Người đứng đầu sông, người cuối sông này
. . . . . . . . .

Bây giờ còn đâu huyền thoại
Hằng Nga của em bé thơ
Tất cả bầu trời thơ ấu


Ai làm tháng Tám cằn khô
Tháng Chín ta về Cửu Long
Vú sữa căng của mẹ hiền
Anh đi cho đồng tươi thắm
Tặng em này chiến công vang...

. . . . . . . . .
Về Cà Mâu, một phong thư
Gửi cho em, lời gió thương mây, lời chim nhớ rừng,
Lời gió thương mây, lời chim nhớ rừng
Lời gió thương mây, lời chim nhớ rừng, lời ta chờ nhau
. . . . . .

Cuối năm mùa Ðông đan áo
Cuối năm trời đã lạnh rồi
Thiên hạ đua may áo cưới
Ta thì hẹn tới mai sau.
. . . . . . .

Hoa mai nở đầy, em đang chờ đợi
Mười hai tháng rồi dài ước mơ say
Nhớ má cho hồng nhớ môi cho ngọt
Anh về cùng em vui đón giao thừa.




12 tháng anh đi

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

MẶT TRẬN XUÂN LỘC - (4-1975)
Cơn Phẫn Nộ Cuối Cùng của một quân đội bị phản bội
HỒ ĐINH - Nguyên Tiểu Đoàn 1- Trung Đoàn 43 Sư Đoàn 18 BB. KBC 4424.
BĐQVN vừa nhận được tin từ một cựu Pháo Binh SĐ18 đang cư ngụ tại Massachusette cho biết Thiếu Tá Chế hiện còn sống và đang cư ngụ tại Hoa Kỳ. BĐQVN loan tin tin này với mọi sự dè dặt mong những nhân chứng trong cuộc lên tiếng để tránh sự tam sao thất bổn



[left]http://img.photobucket.com/albums/v410/ ... age001.jpg[/left]Trung Đoàn 43 BB là một trong những đơn vị kỳ cựu của QLVNCH, thoát thay từ Trung Đoàn 404 bộ binh của Sư Đoàn 5 Khinh chiến. Năm 1974, Tiểu Đoàn 2/43 và Tiểu Đoàn 1/52 của Sư Đoàn 18 BB được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên dương trước Quân Đội với thành tích hạ nhiều tăng 54 và chiến xa PT 76 của Bắc quân tại Bến Cát (Bình Dương). 2 xe tăng T54 và 76 được lái về làm kiểng trong khuôn viên của Dinh Độc Lập cho đến ngày đổi đời 1-5-75 mới được dời.

Riêng Tiểu Đoàn 1/43 lại là đơn vị chủ lực quân đầu tiên đến trấn đóng tại tỉnh Long Khánh từ đầu năm 1964 khi thành phố Xuân Lộc lúc đó còn nhỏ xíu, buồn hiu với bao nhiêu nỗi bực dọc mùa nắng thì bụi bay đỏ người, trái lại, mùa mưa sình lầy trơn trợt. Muổi mòng, đĩa vắt không thiếu, nhưng đổi lại dân chúng địa phương hiền lành, hiếu khách, đặc biệt các em nữ sinh miền đất đỏ đồn điền rất đỏm dáng và thích lính miền xa.

Năm 1966, Sư Đoàn 10 được thành lập với 3 Trung Đoàn nguyên biệt lập. Trung Đoàn 43 BB, Trung Đoàn 52 và Trung Đoàn 48. Tướng Lữ Lan, ông Tướng có tiếng là tham nhũng nhất nước, được làm Tư Lệnh Sư Đoàn. Có lẽ vì mang số 10 bù, xui xẻo nên cuối năm 1966 Tiểu Đoàn 1/43 đã gần như bị tan hàng khi kịch chiến với 2 Trung Đoàn CS Bắc việt tại xã Võ Xu quận Võ Đắc (Bình Tuy) nên phải trở về tái trang bị và huấn luyện tại Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn (Dục Mỹ). Sau đó Sư Đoàn 10 được đổi danh hiệu là 18 BB. Vị Tư Lệnh cuối cùng là Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo, là vị Tướng đã cùng với 2 phụ tá: Đại tá Lê Xuân Mai (Tư Lệnh phó Sư Đoàn 18 ) và Đại tá BĐQ Phạm Văn Phúc, chỉ huy phòng tuyến thép Xuân Lộc từ rạng sáng 8-4 cho đến khi được lệnh rút quân ngày 21-4.

Cuộc chiến đấu thần thánh của những người lính miền đất đỏ Long Khánh trong lúc đất nước sắp sụp đổ thật ra cũng chỉ là cơn phẫn nộ cuối cùng của một quân đội, trên phần đất còn lại của người Việt Nam, cố níu kéo, gìn giử để dân tộc có chỗ cắm dùi, nhưng cuối cũng những người lính trên đã thất bại não nề vì bị cấp lãnh đạo tối cao bán đứng, đồng minh phản bội, trí thức toa rập kẻ thù, trù dập, đuổi xô và đâm sau lưng chí mạng. Thật não nùng thay.

"Chí chưa thành, danh chưa đạt
Trai trẻ bao năm mà đầu bạc
Trăm năm thân thế, bóng tà dương...

(Thơ Nguyễn Bá Trạc)

Image
T-54 của VC bị các chiến SĐ 18 bắn hạ
Sau này viết về mặt trận Long Khánh tháng 4-75, người thương cũng như kẻ thù VNCH đều cùng chung quan điểm, khi bầy tỏ sự khen ngợi và lòng cảm phục người lính Miền nam. Chính Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tư Lệnh quân đội nhân dân Bắc việt đã viết trong tác phẩm "Đại thắng mùa Xuân 1975" rằng: "Mặt trận Xuân Lộc ác liệt và đẩm máu từ những ngày đầu tiên. Các sư đoàn 6, 7, 341 của ta đã phải tấn công trong thành phố nhiều lần, nhưng gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của Trung Đoàn 43 của địch. Các đơn vị pháo của ta đã sử dụng nhiều hơn số đạn dự trù. Số lớn tăng và xe bọc thép của ta bị hạ..." Còn O. Tood, người ký giả Pháp thân cộng đã viết trong "Cruel April, the fall of Saigon" như sau: "Tinh thần binh sĩ QLVNCH tại Xuân Lộc rất cao, Hệ thống truyền tin rất tốt. Các đơn vị Dù và BĐQ đã đến. Con đường Sàigòn được khai thông. Trực thăng tải thương đang hoạt động. Các sĩ quan của QLVNCH đang gọi pháo binh và không yểm rất chính xác, nhanh chóng, tình trạng chiến đấu của họ gần giống như lúc còn quân đội Mỹ yểm trợ..." Nhưng ý nghĩa và cảm động nhất là báo cáo của Tướng X. Smith, Trưởng phòng Tùy viên Quân sự (DAO) lên Tham Mưu Trưởng Liên Quân Mỹ: "Tại chiến trường Long Khánh, rõ ràng QLVNCH đã chứng tỏ quyết tâm và anh dũng chiến đấu chống lại địch quân đông gấp nhiều lần...". Tướng Smith, với lương tâm của một người lính, không khách sáo và hào nhoáng như miệng lưỡi của chính khách, đã gỡ lại một phần nào danh dự của QLVNCH trước đám trí thức da trắng, da màu đa sự.

I - BỐI CẢNH VNCH TỪ SAU HIỆP ĐỊNH BALÊ 1973 TỚI LÚC MẤT NƯỚC:

Trước khi thỏa hiệp Balê được ký kết ngày 10-10-1972, trong một cuộc hành quân tại Quảng Trị, QLVNCH đã khám phá một hầm bí mật và tịch thu được một bản thảo của hiệp định CHẤM DỨT CHIẾN TRANH và VÃN HỒI HÒA BÌNH tại VIỆT NAM, cùng các kế hoạch của Bắc việt nhằm dành dân lấn đất của VNCH. Điều này chứng tỏ Mỹ đã cấu kết với CS Bắc việt để bán đứng Miền Nam đúng như sự nhận xét của tờ The New York Time ngày 1-5-1975.

Từ đầu đến cuối, người Mỹ tham chiến tại VN với những mục đích có lợi cho họ, và theo Kenneth Galbraith, chủ tịch hội các kinh tế gia Hoa Kỳ viết trong "The age of uncertainly" thì Mỹ đến VN để:

- Thử thách và tiêu thụ vũ khí của Mỹ.
- Làm tác động các sinh hoạt của kinh tế Mỹ.

Đô đốc Sharp, nguyên Tư Lệnh các lực lương Mỹ tại Thái Bình Dương, sau khi chấm dứt chiến tranh Đông Dương lần 2 (1955-1975), năm 1978 đã thố lộ sự thật trong tác phẩm "Strategy for defeat" như sau: "Hiệp định Hòa bình Balê ngày 27-1-73 mà Mỹ chấp thuận và bắt buộc VNCH thi hành, không phải là một cộng thức hòa bình. Theo đó CS Bắc việt không còn sợ Mỹ can thiệp nên tự do xâm lăng Nam Việt Nam mà không bị chế tài..."

Sau năm 1973, đường mòn Hồ Chí Minh biến thành xa lộ đất. Nhiều đơn vị từ Bắc bổ sung vào Nam như Trung đoàn 263 tên lửa phòng không và hỏa tiễn SA-2. 3000 cán bộ công an Bắc việt đến nắm quyền sinh sát tại các vùng vừa lấn chiếm. Một hệ thống ống dẫn dầu hơn 5000 cây số chạy từ Bắc xuống Quảng Trị, xuyên qua cao nguyên Trung phần tới Lộc Ninh, song song với ống dẫn dầu cũ có sẵn từ Vinh chạy đến thung lũng A Shaw. Nhiều lần các thám thính cơ của Không quân Việt Nam đã phát hiện từng đoàn xe của Bắc việt trên xa lộ đất, nhưng bị Mỹ tìm mọi cách ngăn chặn không cho VNCH oanh tạc, và chính quyền VNCH cũng không dám phản đối vì Nixon đã đe dọa "sẽ cắt hết tiền viện trợ".
Tại Mỹ, từ 1971 đến 1973, nền kinh tế và tài chánh đang bước vào thời kỳ khủng hoảng trầm trọng, cán cân thương mại bị thâm thủng nhiều. Mỹ 2 lần liều cho phá giá đồng Mỹ kim. khiến cho các đồng minh của Mỹ đều phải thay đổi hệ thống tiền tệ riêng để khỏi phải chết chìm theo Mỹ. Còn các nhà tư bản thì nhanh chân rút vốn đưa ra ngoại quốc đầu tư, gây cảnh thất nghiệp, tưới dầu thêm cho mồi lửa phản chiến đòi chấm dứt chiến tranh Việt Nam, đang hoành hành bốc cháy dữ dội khắp nơi trên đât Mỹ.

Vì vậy, hồi tháng 8-73, Quốc hội Mỹ ra đạo luật cấm xử dụng ngân khoản yểm trợ quân sự cho các nước Đông Dương. Tháng 10-73 lại ban hành luật War Power Art hạn chế quyền hạn của Tổng Thống Mỹ. Hai đạo luật trên vừa cho phép CS Bắc việt toàn quyền xâm lăng VNCH, vừa bảo đảm Mỹ sẽ không can thiệp vào VN trở lại, đã khiến cho Hànội bất chấp lệnh quan thầy Trung Cộng, họp hội nghị Trung Ương Đảng lần thứ 21, ra lệnh tổng tấn công cưỡng chiếm Miền Nam.

Tại Sàigòn, Tổng Thống Thiệu lại tiếp tục chơi trò gian lận bầu cử lưu manh, hạ tiện, tương lai đất nước sắp nguy khốn vì tham nhũng, bất công, thù trong giặc ngoài, khiến cho hậu phương nát bét, lòng người bất phục, tạo cơ hội tốt cho sự thành công dễ dàng của Bắc việt sau này.

Image
Thiên Thần Mũ Đỏ luôn luôn được dân chúng ủng hộ.
Em bé đang chỉ điểm nơi VC lẩn trốn

3-4-74, Thượng viện Mỹ biểu quyết cắt giảm viện trợ của Nam Việt Nam.
11-4-74, Bắc việt tràn ngập trại Tống Lê Chân (Bình Long) do Tiểu đoàn 92 BĐQ của Trung tá Lê Văn Ngôn, khóa 25 sĩ quan Đà Lạt trấn giữ trong 510 ngày bị vây hãm.
7-8-74, Quận Thường Đức, tỉnh Quảng Nam thất thủ.
9-8-74, Tổng Thống Nixon từ chức vì vụ Watergate, mang theo xuống mồ những lời hứa hẹn với Tổng Thống Thiệu về viện trợ, can thiệp v.v..., khi Ford lên thay thế đã không đếm xỉa gì tới.

Đầu năm 1975, Binh đoàn 301 Bắc việt gồm các Sư đoàn 3, 7 với tăng, đại pháo tấn công Phước Long do Sư đoàn 5 BB và BĐQ trấn giữ. Phước Long lọt vào tay Bắc việt ngày 6-1-75 vì không có quân tiếp viện. Trước sự vi phạm trắng trợn và láu cá của CS, Hoa Kỳ chỉ phản ứng lấy lệ, bằng chứng là Ford không đề cập gì đến tình trạng nguy khốn của Nam Việt Nam trong bài diễn văn nhậm chức trước Quốc hội Mỹ ngày 5-1-75, đã vậy, theo B. Palmer Jr. trong "The 25 years war American's Military Role in Vietnam" xuất bản năm 1984, thì ít ngày sau Ford lại họp báo để dứt khoát là Mỹ chấm dứt can thiệp vào VN. Đây là lý do bằng vàng ròng, khiến CS Bắc việt hồ hởi tổng tấn công cưỡng chiếm Miền Nam.

Rồi chiến dịch 275 mở màn, 2 giờ sáng 10-3-75, Bắc việt tấn công thủ phủ Ban Mê Thuộc của Cao nguyên Trung phần, và thành phố đã mất sau 2 ngày giao tranh đẩm máu, ác liệt giữa Cộng quân và đơn vị trú phòng gồm có Trung đoàn 53 Sư đoàn 23 BB và Tiểu đoàn 21 BĐQ, Địa phương quân và các đơn vị yểm trợ của Sư đoàn 23 BB. Thù trong, giặc ngoài, Mỹ bỏ rơi, trí thức a dua đâm sau lưng lính, khiến Tổng Thống Thiệu mất trí, điên loạn đề ra chiến lược "đầu bé đít to", ra lệnh bỏ Cao nguyên, bỏ dân chúng, bỏ Địa Phương Quân, Nghĩa Quân cho CS, rút tăng, pháo, chủ lực quân về bảo vệ Duy ên hải bằng con đường máu Liên Tỉnh Lộ 7 Phú Bổn - Phú Yên ngày 14-3-75, được chỉ huy bởi bọn Tướng, Tá bất tài, bất lực, tham quyền, sợ chết. Rồi kế đó lại bỏ Quảng Trị, Huế, ngày 20-3-75, khiến cho bao nhiêu người dân vô tội chết uổng trong khi di tản, làm hủy diệt tất cả các lực lượng Pháo binh, Chiến xa M 48, 41, M113 của Quân đoàn I, II. Ba (3) Sư đoàn 1, 3, 23 tan hàng, 200 máy bay các loại bị bỏ lại tại các phi trường Huế, Đà Nẳng, Pleiku, cộng với 100 chiến xa, 900 đại bác không được phá hỏng. Các Sư đoàn 2, 22, TQLC, Sư đoàn 1, 2, 6 Không quân, 1 Lữ đoàn Dù, 11 Liên đoàn BĐQ, các Liên đoàn Công binh, Truyền tin, Tiếp vận v.v... bị tổn thất quá nửa quân số. Tổng Thống Thiệu chỉ trong 1 phút quyết định tại Cam Ranh trước các Tướng Viên, Khiêm, Quang, Phú, đã làm mất 2/3 lãnh thổ và làm tan rã 1/2 lực lượng VNCH.

II MẶT TRẬN XUÂN LỘC:

Image
Nhảy Dù đang tấn công mục tiêu

Sau ngày 1-4-75, Quân đoàn II chỉ còn lại Ninh Thuận, Bình Thuận, nên được sát nhập vào Quân đoàn III. Phan Rang và Xuân Lộc trở thành 2 cửa ngỏ để Cộng sản Bắc việt vào Sàigòn bằng quốc lộ 1 và 20.

Xuân Lộc là Tỉnh lỵ của tỉnh Long Khánh, được Tổng Thống Diệm thành lập từ năm 1957 bằng cách cắt bớt phần đất của tỉnh Biên Hòa, mục đích định cư đồng bào Việt, Mường, Nùng, Thái di cư năm 1954. Tỉnh có diện tích vào khoảng 3457 cây số vuông, đất đai phần lớn là núi thấp, đồi cao, rừng thưa và đồn điền cao su. Long Khánh chiếm một vị trí chiến lược quan trọng, vì là ngã ba của 2 quốc lộ 1 và 20. Cửa ngỏ từ Miền Trung, Miền Cao nguyên vào Sàigòn chỉ cách nhau 80 cây số, do đó Xuân Lộc được coi như vòng đai bảo vệ phi trường Biên Hòa và Thủ đô. Xuân Lộc lại nằm trên đường giao liên giữa chiến khu C và D của VC với các mật khu Mây Tào, Cù Mi, Xuyên Mộc, Đất Đỏ của tỉnh Phước Tuy, con đường mạch máu mà Bắc việt dùng để nhận tiếp tế, bổ sung quân và tiếp liệu bằng đường biển. Vì vậy, từ lâu Sư đoàn 18 BB đã được bố trí tại Tỉnh này để ngăn chận.

Để cắt đứt đường rút quân của VNCH từ 2 tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng, Bắc việt tấn công quận Định Quán do Tiểu đoàn 2/43 trấn giữ, và trong khi đang giao tranh đẩm máu, Không quân VN đã thả 2 trái bom 500 cân Anh vào vị trí của quân ta tại núi Đất, khiến gần 20 người chết và bị thương, trong đó có cả vị Tiểu đoàn trưởng. Còn Định Quán mất ngày 17-3.

Để tấn công Long Khánh, Bắc việt đã tung vào chiến trường này Quân đoàn 4, gồm 3 Sư đoàn 6, 7, 341 và các đơn vị có sẵn của Quân khu 7. Thiếu tướng CS Hoàng Cầm là Tư Lệnh. Chính ủy là Thiếu tướng Hoàng Thế Hiệp. Trận chiến đẩm máu đã đồng loạt xảy ra tại 3 phòng tuyến: ngã ba Dầu Giây, thị xã Xuân Lộc và Gia Rai (nằm tiếp cận giữa Bình Tuy-Long Khánh). Phía VNCH có Sư đoàn 18 BB (các Trung đoàn 43, 48, 52), lực lượng ĐPQ, NQ Tỉnh và các đơn vị tăng phái gồm: Trung đoàn 8 (Sư đoàn 5 BB), Lữ đoàn 3 Thiết Kỵ, Liên đoàn 7 BĐQ, 2 Tiểu đoàn Pháo binh, Liên đoàn 81 Biệt cách Dù và toàn bộ Lữ đoàn 1 Dù với các Tiểu đoàn 1, 2, 8, 9 và Tiểu đoàn 3 pháo binh Dù. Sư đoàn 4 Không quân VN từ phi trường Cần Thơ phụ trách không yểm chiến thuật. Tất cả các lực lượng trên đặt dưới quyền chỉ huy của Tướng Lê Minh Đảo (Tư Lệnh Sư đoàn 18 BB) và 2 phụ tá tài giỏi, uy tín: Đại tá Tư lệnh phó Lê Xuân Mai và Tỉnh trưởng Long Khánh Đại tá Phạm Văn Phúc BĐQ, mới về thay Trung tá Lê Ánh Nguyệt hồi tháng 3-75.

Image
Thiên Thần Mũ Đỏ chuẩn bị tiến chiếm mục tiêu


Chiến trường Long Khánh gồm cả 3 mặt trận chính: Mặt trận ngã ba Dầu Giây di Trung đoàn 52 và 1 Thiết đoàn Chiến xa trấn giữ. Mặt trận núi Chứa Chan, Gia Rai do Liên đoàn 7 BĐQ và Trung đoàn 48 BB. Thị xã Xuân Lộc do Trung đoàn 43 BB và các Tiểu đoàn ĐPQ bảo vệ. BTL hành quân của Tướng Lê Minh Đảo được đặt tại Quận đường Xuân Lộc, mé ngã ba Tân Phong - Long Giao được bảo vệ bởi các đơn vị trừ bị của Sư đoàn, Pháo binh và 1 Thiết đoàn Chiến xa.

Thế rồi vào lúc 5 giờ rưỡi sáng ngày 9-4, khi vạn vật bắt đầu bằng một ngày mới, chim chóc rời tổ kiếm ăn, dân chúng dọn hàng ra chợ, các tín đồ Thiên Chúa Giáo đi lễ sớm tại các nhà thờ, các loa phóng thanh của Ty Thông tin Xuân Lộc mở đầu bằng các bài hát trữ tình thương lính... thì cũng là lúc Bắc việt nã hàng ngàn quả pháo đủ loại vào thành phố, đa số rớt vào chợ, nhà thờ và nhà của dân chúng, khiến cho người dân vô tội chết và bị thương như rạ vì trận pháo kích kéo dài trong 2 tiếng đồng hồ với hơn 300 trái đạn liên tục không hết, nên dân chúng không biết chạy đâu để trốn tránh tử thần.

8 giờ Bắc việt tấn công vào thành phố nhưng bị chận lại bởi Trung đoàn 43 BB và Tiểu đoàn 3/4 ĐPQ Long Khánh nên phải chém vè sau khi bỏ lại tại chỗ 100 tử thi. Nhiều T54, PT76 bị hạ khắp nơi bời các hỏa tiễn M72 và các phản lực cơ A37, F5 của Không quân.

Ngày 10-4, Cộng quân trở lại tấn công Xuân Lộc với 2 Sư đoàn 6, 2 và các Trung đoàn chiến xa, khắp các mặt trận Đông, Tây, Nam, Bắc thành phố, từ tòa Thị chính đến sân bay, nơi nào Cộng quân cũng sử dụng quân số cấp Trung đoàn. Cuộc chiến kéo dài trong nhiều ngày, cả hai phía dành giựt từng ngôi nhà, phòng tuyến để sống. Không quân VN đã yểm trợ tích cực và hữu hiệu cho các đơn vị dưới đất bằng các phản lực cơ tối tân F5E, góp phần tiêu diệt số lớn Cộng quân. Trung đoàn 43 BB mặc dù đã bị Cộng quân cắt ra từng đơn vị nhỏ, nhưng vẫn tiếp tục chống trả mãnh liệt, gây cho địch nhiều tổn thất như Văn Tiến Dũng đã phải xác nhận trong tác phẩm Mùa Xuân Đại Thắng.

Qua đến ngày 4 của cuộc chiến, Lữ đoàn I Dù gồm các Tiểu đoàn 1, 2, 8, 9 và Tiểu đoàn 3 Pháo binh Dù từ Miền Trung về, được lệnh tăng cường cho Xuân Lộc. Tất cả các trực thăng của 2 Sư đoàn 3, 4 Không quân, gồm 100 trực thăng bán phản lực HUIB đã thả hơn 2000 quân Dù từ Trảng Bom vào trận địa, các Pháo đội Dù cũng được trực thăng Chinook chuyển vận đến Bộ chỉ huy Hành quân đóng kề BTL Sư đoàn 18 BB. Hai Tiểu đoàn Dù đầu tiên đã nhảy xuống đầu địch để chiếm lại Bảo Định trên quốc lộ 1, nơi 2 Trung đoàn thuộc Công trường 6 đang tập trung tấn công BTL Sư đoàn 18 BB tại Tân Phong. Một Tiểu đoàn Dù khác nhảy xuống chiếm lại vườn cây của cố Thống Tướng Lê Văn Tỵ. Ngoài ra các Tiểu đoàn khác nhảy vào Xuân Lộc đẻ giải vây cho các Tiểu đoàn ĐPQ và BCH Tiểu Khu Long Khánh.

Tại ngã ba Dầu Giây, Cộng quân cũng đồng loạt tấn công Chiến đoàn 52 từ ngày 12-4 bằng biển người và tăng, pháo. Lần lượt các tiền đồn, phòng tuyến của Trung đoàn 52 từ Kiệm Tân về tới ấp Phan Bội Châu trên quốc lộ 20 bị tràn ngập. Cuộc chiến trở nên ác liệt đẩm máu đã xảy ra chiều ngày 15-4-75 ngay tại xã Dầu Giây, ngã ba 2 quốc lộ 1 - 20, giữa Chiến đoàn 52 BB (gồm Trung đoàn 52, Lữ đoàn 3 Thiết Kỵ, các lực lượng ĐPQ Kiệm Tân - Long Khánh, tổng cộng khoảng 2000 người) và buộc Đoàn 4 Bắc việt trong đó có Sư đoàn Tổng trừ bị của Hà nội 341 vừa từ Thanh Hóa vào, do Trần Văn Trà vừa thay thế Hoàng Cầm chỉ huy, đã cho áp dụng chiến thuật biển người. Trong trận chiến tàn bạo, khủng khiếp này, 1 người lính VNCH đã chọi với 10 lính CS Bắc việt với tăng và pháo. Chiến đoàn 52 đã tan hàng đêm 15-4, tất cả pháo binh, thiết giáp, người, đều bị hủy diệt sau 6 ngày đêm ác chiến, 9 giờ đêm đó, khi chiếc hầm chỉ huy của Chiến đoàn bị bắn sập, Đại tá Chiến đoàn trưởng mới cho rút quân với vỏn vẹn 200 người được sống sót.

III. 2 TRÁI BOM "DAISY CUTTER" TẠI MẶT TRẬN DẦU GIÂY:

Trong cuộc phỏng vấn của nhà văn Phạm Huấn sau ngày 30-4-75, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân đoàn III đã cho biết, sau khi trình Bộ TTM, ông đã ra lệnh cho Không quân sử dụng 2 trái bom "DAISY CUTTER" tại ngã ba Dầu Giây trong đêm 15-4, vào vùng tập trung quân của Bắc việt ngay khi Chiến đoàn 52 BB bị tan hàng gần 10.000 quân Bắc việt cùng với chiến xa T54, đại pháo đang di chuyển trên quốc lộ 20 vừa tới ngã ba Dầu Giây đã bị hủy diệt.

Bom "DAISY CUTTER" còn được gọi là bom Con Heo hay là bom tiểu nguyên tử, có chiều dài và chiều cao gần tương đương với vận tải cơ Hercule C-130, trọng lượng là 7 tấn, vừa vỏ bọc, vừa khối thuốc 15.000 cân Anh TNT. Bom Con Heo dùng để mở bãi đáp cho cấp Sư đoàn hay lộ quân trong bất cứ địa thế nào và có hiệu quả sát hại trong vùng với đường kính là 5 dặm Anh.

10 giờ sáng ngày 16-4, Không quân VN gọi về BTL Quân đoàn III báo cáo về rừng người, chiến xa, đại pháo Bắc việt đang tập trung trong xã Dầu Giây để chuẩn bị về Sàigòn. 11 giờ cùng ngày, 2 vận tải cơ C 130 được lệnh mang 2 quả bom khổng lồ, xuất phát từ phi đạo 39 tại phi trường Tân Sơn Nhất, thả xuống vùng tập trung quân của CS, khiến cho đại quân của Hà Nội rối loạn trong 3 ngày liền và CS lại la làng rằng Mỹ đã vi phạm hiệp định Balê và B 52 đã trở lại Việt Nam.

Việc Mỹ viện trợ bom Con Heo cho VNCH cũng là chuyện khôi hài cười ra nước mắt, vì chỉ cho bom mà không co đầu đạn, cũng như bí mật được phanh phui sau ngày Miền Nam bị cưỡng chiếm rằng: trong khoảng từ 3 giờ đến 3 giờ rưỡi sáng ngày 29-4-75, 3 chiếc C 130 của cơ quan DAO dùng để di tản người, không biết do lệnh của ai, ở đâu, đồng loạt chở vào VN 3 trái bom BLV 82, Daisy Cutter 15.000 cân Anh, rồi trong lúc các chuyên viên Mỹ, Việt đang tháo gỡ đem vào kho an toàn thì phi công Mỹ lại vô tình hay cố ý dùng điện thoại báo cáo để CS Bắc việt biết được, pháo kích vào địa điểm đang bốc dỡ. Mỹ đã tháo chạy, Nam VN sắp mất, lại đem bom đến Sàigòn làm gì, đó là bí ẩn mà các nhà quân sự Mỹ vẫn chưa chịu tiết lộ, cũng như số phận của nhưng trái bom khổng lồ trên đang ở đâu, cũng chẳng ai biết, ngoài Bắc bộ phủ.

IV. QLVNCH BỎ LONG KHÁNH:

Về việc rút bỏ Long Khánh trong khi các đơn vị chiến đấu tại đây (ngoại trừ ngã ba Dầu Giây) vẫn còn giữ nguyên được các vị trí, cũng có nhiều nguồn tin, theo những kẻ thân cận làm việc trong Dinh Độc Lập, thì Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu khi được tin Phan Rang thất thủ, các quân nhân tại đây uất ức trong cảnh gia đình ly tán, đất nước lâm nguy nên bất tuân thượng lệnh, dùng xe ủi đất và chiến xa M 113 San bằng mồ mả gia đình Tổng Thống, bởi vậy quá đau đớn trước khi bỏ ngai vàng, ông đã cho rút khỏi Long Khánh để Bắc việt mau vào Sàigòn thay thế ông, vì theo các thày tướng số mà ông tin, thì nếu ông từ chức, Nam VN không ai có thể thay thế được, trừ Cộng sản.

Image
Thiên Thần Mũ Đỏ trước giờ xuất phát


Nhưng theo lời Tướng Nguyễn Văn Toàn thì chính ông quyết định rút bỏ Long Khánh vì thấy rằng phòng tuyến này không còn được giữ lâu, hơn nữa Cộng quân sau khi bị thiệt hại nặng nề đã cho thay đổi kế hoạch tấn công Sàigòn bằng chiến dịch 2 với 5 Sư đoàn Biên Hòa, Phước Tuy đồng loạt với 3 Sư đoàn khác tại Tây Ninh. Vì vậy Long Khánh không còn là điểm nóng, nên tất cả các lực lương tham chiến tại đây phải rút lui về Biên Hòa để lập phòng tuyến mới.

Qua 12 ngày ác chiến đẩm máu, tuyến thép Xuân Lộc vẫn đứng vững dù Phan Rang đã thất thủ 17-4, Phan Thiết mất đêm 18-4, Bình Tuy bỏ ngỏ, giờ đây Xuân Lộc là vùng giới tuyến của đất nước. Tin thắng trận của Sư đoàn 18, Lữ đoàn 1 Dù, BĐQ, Thiết giáp, ĐPQ, Lôi hổ và Không quân tới tấp bay về Sàigòn như những gáo nước lạnh tạt vào mặt bọn nhà báo, nhà văn, ký giả, trí thức ngoại quốc và VN, khiến chúng không có cách nào hơn để bóp méo sự thật, xuyên tạc, nên cũng cúi đầu kính phục tinh thần bất khuất của người VN, bởi vì đây là chiến thắng vĩ đại cuối cùng của QLVNCH trước khi bị rã ngũ.

10 giờ sáng ngày 20-4-75, lệnh bỏ Long Khánh được ban hành bởi Tư Lệnh Sư đoàn 18 BB, tất cả các lực lượng tại đây dùng Liên tỉnh lộ 2, phát xuất từ Tân Long, Long Giao về Phước Tuy với 3 cánh quân Sư đoàn 18 BB, Tiểu khu Long Khánh và ĐPQ, Lữ đoàn 1 Dù và Tiểu đoàn 3 pháo binh Dù.

Trong cuộc lui quân này, Lữ đoàn 1 Dù bị thiệt thòi và nguy hiểm nhất vì là đơn vị đoạn hậu, đang chống trả với Cộng quân, 2 bên còn đang giao tranh ác liệt tại Bảo Định thì 7 giờ tối 20-4 có lệnh rút quân, trong khi thương binh và tử thi lính chưa được di tản. Nhưng tất cả đã phải bỏ lại như năm nào tại Hạ Lào, bởi vì đối với người còn sống, đoạn đường xác người hơn 40 cây số trong rừng cao su đen nghịt để ra quốc lộ 1, là các cửa địa ngục phải vượt qua. Tất cảthảm trạng trên đều là những oan khiên bi thiết của người lính VNCH.

9 giờ tối, các Tiểu đoàn Dù mới tới quốc lộ 1 và một hoạt cảnh cảm động đã diễn ra, tất cả các con chiên của các xóm đạo Bảo Định, Bảo Toàn, Bảo Hòa đã tập trung sẵn hai bên vệ đường để theo chân lính di tản. Thì ra người lính VNCH trong suốt cuộc chiến 20 năm trời đó, xác thực, luôn luôn là kẻ giữ nhà, giúp dân. Tình quân dân thắm thiết chỉ được nhắc tới trong những lúc cùng khốn, cực nguy. Cộng sản Hà Nội đã biết được cái ưu điểm này của người lính Miền Nam, nên không ngớt quấy phá, xuyên tạc, đầu độc bằng cách cho cán binh trà trộn giả làm lính VNCH trong những lúc rối loạn, chẳng hạn như Tết Mậu Thân, Mùa Hè đỏ lửa 72, 55 ngày cuối cùng, để bêu xấu bằng cách cướp của, hãm hiếp dân. Vịn vào đó, một số trí thức VN viết trường thiên lịch sử tiểu thuyết kể tội lính... Cũng như gần đây Dương Thu Hương và tạp chí Đại Trường, một người là văn sĩ bộ đội Cộng sản, một kẻ là cựu sĩ quan biệt phái Miền Nam, cũng trở lại đề tài cũ rích trong việc nói xấu kẻ ngã ngựa, những người bị thua trận, nhưng càng lúc càng được nhiều người trong thế giới văn minh cảm phục khi khám phá ra cái giá trị tinh thần xứng đáng của họ, đúng như lời Trần Bạch Đằng đã viết trong Kiến thức Ngày nay số 138 phát hành ngáy 1-5-94: "Đối với dân tộc Việt Nam, chiến tranh là điều bất đắc dĩ, xa xưa cũng như hiện tại, chỉ khi nào sự sinh tồn của dân tộc, chủ quyền Quốc gia bị đe dọa, người Việt Nam mới cầm vũ khí để tự vệ".

Mấy chục cây số đường rừng bị bỏ hoang trên Liên tỉnh lộ 2 từ Tân Phong đến Đức Thành, Long Lễ về Bà Rịa không phải là chuyện bình thường của một đoàn quân có dân chúng lẫn lộn, bởi vậy ngay trong đêm rút quân 20-4-75, Trung tá Lê Quang Định, Tiểu khu phó Tiểu khu Long Khánh đã bị tử thương vì nhiều loạt B 40 của Cộng quân trong khi đang di chuyển.

Lữ đoàn 1 Dù rút lui sau cùng, chỉ riêng Tiểu đoàn 3 Pháo binh được di chuyển trên đường lộ với đại đội Trinh sát Dù, các Tiểu đoàn tác chiến đều mở đường bọc sâu trong rừng.

4 giờ sáng ngày 21-4-75, tại ấp Quí Cả, gần ranh giới Long Khánh - Phước Tuy, Tiểu đoàn 3 Dù và đại đội Trinh sát Dù đã bị 2 Tiểu đoàn CS Bắc việt phục kích. Pháo đội C và Trung đội Trinh sát bảo vệ, hầu hết bị thương vong trước biển người tấn công. Cánh quân đi đầu của Tiểu đoàn 9 Dù cũng đụng độ nặng với CS tại thung lũngGia-rai, dưới chân núi Cam Tiêm. Ngoài những thiệt hại kể trên, cuộc rút quân tên Liên tỉnh lộ 2 coi như hoàn toàn kết quả tốt đẹp. Sư đoàn 18 BB được chỉ định về phòng thủ mặt Đông Thủ đô, từ Tổng kho Long Bình đến kho đạn Thành Tuy Hạ, tiếp cận với các lực lượng của Trường Bộ binh Thủ Đức. Trướng Thiết giáp và Lữ đoàn 1 Dù có trách nhiệm bảo vệ quốc lộ 15, từ Long Thành về Bà Rịa. Tất cả chiến đấu với giặc cho đến khi ông Dương Văn Minh ra lệnh bỏ súng, tan hàng vào lúc 11 giờ 30 mới chấm dứt. Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo và Bộ chỉ huy của SĐ18 BB đóng bản doanh sát căn cứ Hải Quân Cát Lái, ngày ngày nhìn thấy thiên hạ bỏ chạy bằng tàu, thuyền, ông và các sĩ quan, binh lính dưới quyền cũng có thể bỏ chạy dễ dàng, nhưng họ đã ở lại, và sau ngày 1-5-75, cái giá máu mà Tướng Đảo đã phải trả là sự đầy ải, hành hạ, chịu tủi nhục trong các trại tù từ Nam, Trung ra đến tận biên giới Việt-Lào-Hoa, cho đến đầu thập niên 90, ông vẫn còn bị Cộng sản hành hạ tại trại Z 30D, Long Khánh.

Cuộc chiến đã tàn phai theo năm tháng, nhưng đồng bào trong nước vẫn không có tự do để thở, cơm áo để ăn mặc và tình trạng đói rách càng ngày càng thê thảm. Thì ra:

"Đất nước điêu tàn, giải phóng thành ra vô ích, Đồng bào rách nát, lãnh đạo quả thị bất nhân".

Ngày nay, ai có dịp được xuôi ngược trên những miền quê hương lửa khói xa xưa, từ cổng Nam của thị trấn Hố Nai đến Bầu Cá, Trảng Bom, Hưng Lộc, ngã ba Dầu Giây lên Cao nguyên, xuôi Miền Trung v.v... không hiểu họ có còn nhớ chăng những ngày lao đao lận đận của đất nước vào tháng 4-75. Cũng chính tại đây, người Miền Nam VN trước sự lộng hành trơ trẽn, bất nhân, bất nghĩa, vô nhân đạo của Cộng sản Miền Bắc, đã thực sự phẫn nộ nên đứng lên cùng họ tử chiến lần cuối cùng trong 12 ngày. Trong khi tại Hà Nội, Đảng ngồi đứng không yên, chờ tin thắng trận. Cùng thời gian đó, tại Sàigòn, hàng hàng lớp lớp lãnh đạo, quan quyền, nhà giàu, kẻ có thế lực tiếp nối di tản, thì tại các mặt trận khắp tỉnh Long Khánh, người Việt trong 2 quân đội thù nghịch, ăn xương uống máu lẫn nhau. Họ từng phút từng giây tắm dưới bom đạn, lội trên máu thịt con người, dành nhau từng bức tường cháy, đống gạch vụn, mái nhà xiêu, đến các công thự phòng thủ để giữ mạng. Tội nghiệp và thê thảm nhất vẫn là dân chiến nạn Miền Nam. Chạy loạn từ các vùng bị giặc chiếm như Đà Lạt, Di Linh, Định Quán, Kiệm Tân về, hoặc xa hơn là Phan Thiết, La Gi, Võ Đắt, Tánh Linh. Tất cả cùng với dân chúng Long Khánh chịu chung số phận của những con cá nằm giữa thớt, dao, bởi đạn bom vô tình từ trên trời rớt xuống, khiến cho:

"Đống xương vô định đã cao bằng đầu..." bởi tử thi của gần mười mấy ngàn người vừa dân vừa lính VNCH, bộ đội Cộng sản Bắc việt. Bỗng dưng thấy u uất, ngậm ngùi khi vô tình được đọc bài Lương Tây Hành của Trần Đào tiên sinh thời Hậu Hán:

"Thê tảo hung nô bất cố thân Ngũ thiên điều cẩm tăng hồ cầm Khả liên vô định hà biên cốt Do thị xuân khuê mộng lý nhân".

Toàn bài cổ thi nói lên tâm trạng người chiến sĩ lúc ra đi, thề quét sạch rợ hung nô, không tiếc đến thân mình. 5000 chiến sĩ mặc chiến bào bằng da chim điêu đã vĩnh viễn chôn xác nơi đất Hồ Thương thay nắm xương tàn của những người vì nước, nằm xuống bên cạnh con sông Vô Định, nơi cực bắc tỉnh Cam Túc đã rã mục lâu rồi. Vậy mà họ vẫn còn là người trong mộng của những thiếu phụ chốn phòng khuê. Nhưng còn người lính Miền Nam thì sao? Thê thảm và bi thiết lắm, bởi họ là kẻ bị bại trận, người sống thì vào tù, người bị thương thì ôm hận với những ngày tàn lụi hẩm hiu và kẻ đã chết cũng chẳng được yên mồ.

Cuối tháng 5-75, cố Tổng bí thư Lê Duẫn vào Sàigòn, ông tuyên bố: "Chiến tranh chấm dứt, không có kẻ thắng người bại". Nhưng ông lại không chịu nói tiếp rằng: "Chỉ có chúng tôi: Cấp lãnh đạo tối cao Miền Bắc và chính quyền cũ Miền Nam (những người đã ra đi) là thắng lợi vênh vang".

Hai mươi năm qua rồi, tóc xanh thành tóc bạc, bạn bè thân thương một còn chín mất, lưu lạc khắp ngàn phương. Cái mộng mơ năm nào được:

"Ngày mai rồi có ngày nào
Cười vui theo gót ai vào Thăng Long..."

(thơ của Vũ Tấn Hoan)

đã tan biến theo mây khói, giờ chỉ còn biết:

Nghiêng bầu mà hỏi
Thiên hạ mang mang
Ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn một Hồ Trường
Hồ Trường! Hồ Trường!
Ta biết rót về đâu?!

(thơ Nguyễn Bá Trạc)

HỒ ĐINH


Trích từ trang nhà Nhảy Dù

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

ÔI ! CHARLIE


Mũđỏ Bùiđứclạc

[left]http://nhaydu.com/index_83hg_files/left ... inhBao.jpg[/left]Nguyễn Đình Bảo, chúng tôi quen nhau thật tình cờ tại Camp Leautey đường Pavie Sài Gòn năm 1955, lúc đó Bình Xuyên vẫn còn làm mưa, làm gió tại Sài Gòn-Chợ Lớn, chúng tôi có chơi với nhau nhưng không thân cho lắm, Bảo nhập ngũ vào trường Võ Bị Đà Lạt, tôi ở lại nhưng không bao lâu rồi cũng nhập ngũ vào Thủ Đức, truân chuyên trong Quân Đội nhưng không gặp mặt nhau một lần, mãi tới năm 1966 chúng tôi mới có dịp gặp nhau, vì cùng nhảy dù bồi dưỡng tại Ấp Đồn.
Vẫn với dáng đi vất vưởng, không cần nhìn mặt, chỉ cần nhìn tướng đi là nhận ra Bảo ngay, tôi không rành về tướng số, nhưng tôi đã nghe chính Bảo nói:
“Thầy tướng nó bảo tao, vì tướng đi của tao mà cuộc đời tao sẽ không khá được”, tôi nói rất tự nhiên như mình rành tướng số, sự thực chẳng hiểu gì về tướng số, cái chuyện trông mặt mà bắt hình dong, đâu có thể phán bừa bãi như vậy được! Nên tôi chấn an ngay:
“Đừng tin nhảm nhí” đó là chuyện đã qua, hôm nay vừa thấy tôi, Bảo mừng rỡ lên tiếng trước.
-Ê , mày về đây hồi nào vậy, mày có biết tao ở đây không? Tại sao không kiếm tao? Anh hỏi mà không cho tôi trả lời; Bảo vồn vã nắm chặt tay tôi. Tôi thật xúc động trước cử chỉ thân mật của Bảo, tôi không ngờ Bảo nhiệt tình như vậy, trước khi nhập ngũ chúng tôi có giao du với nhau, nhưng ít khi hàn huyên tâm sự, khi Bảo rủ tôi thi vào khóa 14 trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, tôi bỏ cuộc Bảo buồn lắm, chúng tôi đều chung hoàn cảnh không có tiền, tiễn nhau lên đường nhập ngũ không bằng chén ly bôi, mà bằng hai đứa uống chung một ly đậu đỏ bánh lọc tại chợ Bến Thành, tôi tình nguyện về phục vụ tại binh chủng Nhảy Dù, tôi không hề biết có Bảo và Tuyển đang ở đây, nhưng khi tôi cầm lệnh thuyên chuyển tôi mới biết là có một số bạn cũ, kể cả các bạn cùng khóa đang phục tại đây, tôi chưa kiếm Bảo có lẽ tôi ngại, không hiểu Bảo có còn nhận ra tôi hay không, những ý nghĩ kỳ quái đó cho nên tôi dứt khoát không đi kiếm Bảo, cũng như những bạn cùng khóa tôi không đi kiếm ai, nhưng bây giờ tôi thật sự hơi ân hận:
-Tao có nghe tụi thằng Tân (là bạn chúng tôi, Đỗ văn Tân cũng ở trại Phú Thọ, Tân vào khóa 8 Thủ Đức, hình như sau này là Trung Tá trung đoàn phó tại SĐ18BB, Tân mất khi mới ra tù) nó nói mày ở đây, nhưng chưa kịp đi kiếm mày, mày biết đó, đơn vị tân lập trăm chuyện phải lo, tao có hỏi thăm biết đơn vị mày đang hành quân, nên chưa kiếm mày, đây là saut bồi dưỡng đầu đời của tao, lính mới tò te mà.
Tối hôm đó chúng tôi đi chơi với nhau khá khuya, nếu sáng sớm hôm sau tôi không phải huấn luyện đơn vị, chắc chúng tôi đi thâu đêm; Bảo cho tôi biết có Tuyển cùng ở Nhảy Dù và đang du học Hoa Kỳ, tôi cùng ở Gia Long với Tuyển, Bảo biết chuyện đó, tôi ngắt lời Bảo.
-Tuyển nó có khá không?
-Nó cũng lằng nhằng như tao vậy thôi. Cầm ly rượu trên tay Bảo nói.
-Mày có biết là Nhảy Dù có luật, nếu ngang nhau thằng nào có bằng Nhảy Dù trước là anh, thằng nào có bằng Nhảy Dù sau là em; vậy ngay từ bây giờ mày phải gọi tao là anh; với tư cách là thằng anh của mày, tao sẽ tặng mày một thứ mà ai trong binh chủng Nhảy Dù cũng thích, tôi nhìn Bảo cười đáp trong hững hờ.
-Bây giờ cấp bậc và chức vụ tao đều kém mày, gọi mày là anh có sao đâu, nhưng tao cũng có cái luật của tao, thằng nào muốn tao gọi bằng anh phải chi địa cho tao.
-Tiểu đoàn phó nghèo lắm em ơi, còn thua mày nữa, nhưng tao sẽ tặng mày thứ khác quí hơn là địa.
Sáng sớm hôm sau, Bảo mang đến cho tôi hai bộ quân phục, dành riêng cho binh chủng Nhảy Dù, một bộ hoa đỏ và một bộ hoa huyết dụ, hai bộ này quí thật, vì không còn phát nữa, tuy vậy dù với chức vụ Pháo Đội Trưởng Pháo Đội tân lập, chuyên môn đi dẹp biểu tình, tôi cũng tự nhiên phải có dễ dàng, lúc đó Sư Đoàn Nhảy Dù mới có hai pháo đội, tôi thành lập pháo đội thứ ba là Pháo Đội C Nhảy Dù, Pháo Đội A Nhảy Dù do Trung Úy Nguyễn văn Nghi thành lập, Pháo Đội B Nhảy Dù do Trung Úy Hà minh Phương thành lập.
Nhận hai bộ quân phục này tôi quí nó vô cùng, vì cách cho của Bảo, tôi trân trọng nhận nó, coi nó như một bảo vật, hiện tới giờ phút này tôi vẫn còn giữ được bộ quân phục mầu huyết dụ, tôi dự trù sẽ tặng bộ quân phục này cho một người bạn dùng để triển lãm, để nó còn được nhiều người chiêm ngưỡng. Tôi quí Bảo ở tính tình thật đôn hậu, lúc nào cũng thật tình với bạn bè, đi chơi với Bảo tôi có cảm tưởng như luôn luôn được bao bọc, anh sãn sàng hy sinh mọi quyền lợi cho bạn bè, ngày còn giang hồ chưa vào quân đội, Bảo quen một cô đầm lai (do tôi giới thiệu, cô này là bạn Hướng Đạo với tôi, khi tôi học bách nghệ tại Camphamine, Hòn Gay, Quảng Yên; vì vậy tôi quen một số đông trong Camp Leautey) nhưng Lợi móm cũng thích cô đó, Bảo nhường ngay cho Lợi móm, không so đo kèn cựa, không bao giờ anh đối xử xấu với ai, cho dù người đó đối thật tệ bạc với anh, anh thật độ lượng, anh tha thứ lỗi lầm cho cả người trên lẫn kẻ dưới, không bằng lòng chuyện gì, anh đối đáp liền, sau đó anh quên ngay và tha thứ, nhưng anh có biết đâu chẳng bao giờ họ tha thứ cho anh.
Khi Bảo lên Trung Tá, cũng vẫn chưa được làm Tiểu Đoàn Trưởng, giữa chiến trường Hạ Lào,(chúng tôi cùng đóng chung với nhau tại căn cứ lấy tên ngụy danh là A Lưới, nhưng tên địa danh trên bản đồ đúng tên là Bản Đông tại đường số 9 Nam Lào, cách Tchépon khoảng 15 cây số, lúc đó Bảo là Phụ Tá Hành Quân cho Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, chức vụ ngồi chơi xơi pháo, không có một người thuộc cấp, như vậy có thảm hay không) mừng Bảo thăng cấp, dưới cơn mưa pháo của địch, tôi và Bảo có thói quen hễ có pháo kích, là hai thằng chạy ra hai hố cá nhân trên tuyến phòng thủ, ngay cạnh đài trung ương tác xạ của tôi, nên tôi mang theo chai rượu martell hai chữ “VS” ngồi dưới hai hố cá nhân, vừa đếm Pháo vừa nhâm nhi, ấy vậy mà có lúc chúng tôi có đại tiệc ngay tại chiến hào, một nhúm tôm khô, một nhúm củ kiệu, bữa tiệc linh đình dưới lằn đạn pháo thú vị chừng nào, chúng tôi nâng ly, tôi chúc Bảo may mắn với cấp bậc mới, mấy ai được uống rượu bên người tri kỷ dưới cơn mưa pháo như chúng tôi, tiếng đạn pháo 130 ly, hòa nhịp cùng hỏa tiễn 120 ly năm nòng, tiếng đạn réo trước khi chạm nổ như xé không gian, cũng không làm cho chúng tôi mất hứng thú, nhưng lại là liều thuốc làm bớt đi suy tư không đâu, thấy đời binh nghiệp của Bảo lận đận tôi ái ngại nói, vu vơ nói trong suy tưởng công bằng :
-Rồi cũng tới phiên mày được làm Tiểu Đoàn Trưởng nay mai,”với thói quen cẩn thận, dù là chúng tôi đang thưởng thức đủ loại tiếng nổ, đủ loại đạn, mới được đem từ Liên Sô qua, nên dù có nói lớn cũng không ai nghe” nhưng Bảo cũng nhoài người trên mặt đất, ghé sát tai tôi nói:
-Mẹ kiếp! Rồi cũng phải tới phiên chúng mình không lẽ cù nhầy thế này mãi sao ?
Đúng ra Bảo phải được làm Tiểu Đoàn Trưởng lâu rồi, có người về Nhảy Dù sau Bảo cả bốn, hay năm năm gì đó, khóa sau Bảo, lên lon sau Bảo, làm tiểu đoàn phó sau Bảo, nay cũng đã nắm Tiểu Đoàn Trưởng cả năm rồi; ôi ! ! ! quả thật Bảo kém may mắn, thời gian làm Tiểu Đoàn Phó, chiến công của Bảo nhiều khi đến với người khác, nhiều chuyện oan của Bảo, tôi chứng kiến tận mắt, tận tai, nhưng bây giờ mọi việc đã qua rồi, mong sao Bảo hiểu cho tôi, lúc đó tôi không nói hết những chuyện đê hèn này với Bảo, tôi muốn chúng tôi ở trên mọi người, hãy tha thứ cho họ.........Bảo nhé ! ! !
Bảo khoái nhất chức vụ mới của Bảo, do tôi bổ nhiệm chức vụ này là: Ngồi Chơi Xơi Pháo .Tại Hạ Lào Trung Tá Trí Tiểu Đoàn Trưởng TĐ9ND bị thương rất nặng vì pháo kích, ngay trong căn cứ A Lưới, cùng trong một Lữ Đoàn, cùng một vị trí, hơn thế nữa Bảo đã làm Tiểu Đoàn Phó TĐ9ND rồi, sau khi Trung Tá Trí tản thương, Bảo vẫn ngồi chơi xơi pháo, chẳng ai ngó ngàng tới, trên lại chỉ định Trung Tá Lê văn Ngọc đang làm Lữ Đoàn Phó LĐ1ND ra chỉ huy TĐ9ND, đúng ra để Bảo chỉ huy TĐ9ND cũng là muộn màng rồi, nhất là nay Bảo đã lên Trung Tá, vậy mà cơ hội làm Tiểu Đoàn Trưởng vẫn chưa đến với Bảo; thế là thế nào? Bảo có làm tiểu đoàn trưởng lúc đó cũng chỉ là người cũ việc cũ, thuận lợi hơn, quen thuộc hơn, tại sao bất công như vậy? Tại sao ? Tại sao? Sau này tôi mới biết vì không có ai đề nghị, cũng như lon Trung Tá của Bảo là do máy điện toán cho lên lon, thật quá hẩm hiu? Tới phiên tôi cũng không hơn gì Bảo cũng máy điện toán cho lên, không thằng Tây nào nó muốn cho lên cả.
Tôi chính thức được làm Tiểu Đoàn Trưởng trước Bảo, anh vui mừng nói như reo lên:
-Mẹ kiếp, tụi mình thân cô thế cô, dân Pavie-Lamothe thằng nào lên là mừng. Một hôm từ đồi Long Bình về căn cứ Hoang Hoa Thám, tôi đón Bảo đi chơi, cũng lúc ly rượu trong tay, tôi mỉm cười nhắc Bảo:
-Mày có biết Nhảy Dù có luật gì hay không ? Bảo trợn mắt không hiểu gì cả, nét ngây thơ cụ làm tôi bật cười, :
-Ở Nhảy Dù có luật chắc mày phải biết chứ ?
-Tao biết chó gì đâu.
-Tao cho mày biết cái luật cổ điển này của Nhảy Dù.......mắt Bảo nhìn tôi chăm chăm, tai lắng nghe trông thật dễ thương, tôi không giám đùa nữa, thật sự tôi không muốn nói nữa, nhưng Bảo thôi thúc.
-Luật gì mày nói đi, tôi đành nghiêm chỉnh nói:
-Thằng nào làm Tiểu Đoàn Trưởng trước, thằng đó làm anh. Tôi vừa nói đến đó, Bảo la làng “cha” anh đập nhẹ tay lên bàn, rồi vừa cười vừa nói:
-Thằng này xỏ lá, nó nhắc khéo mình, Bảo đứng lên khoanh tay nhìn tôi mỉm cười và nói rất tếu:
-Thôi cũng được, thưa anh; anh cho em xin anh một trăm. Chúng tôi cùng cười lớn hòa nhịp với nhau, tôi vội vàng móc túi đưa Bảo một trăm, Bảo biết mình hố đính chính ngay:
-Tao xin một ngàn cưa.
-Bỏ đi tám, quân tử nhất ngôn.
Thế rồi Bảo cũng phải làm Tiểu Đoàn Trưởng trong muộn màng, hôm Bảo nhận bàn giao chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng TĐ11ND với Trung Tá Ngô Lê Tĩnh tại đồi Long Bình, tôi ngồi trên khán đài (ngay phía sau vị anh cả của đơn vị), để chứng kiến cuộc bàn giao, câu chuyện cấp trên nói với nhau, tôi nghe được mới hiểu Bảo bị chậm trễ là do không ai đề nghị cả, ông nhiều việc nên quên Bảo, ông tỏ ra ân hận về việc chậm trễ này.
Vừa nhận chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng ngồi chưa nóng ghế, ngay trận đầu xuất quân, khi giải tỏa quốc lộ 22, Bảo bị thương nơi mắt vì mảnh đạn súng cối của địch. Trong trận Dambe, Campuchia, khi tấn công địch, cũng như khi rút lui, Bảo đã chứng tỏ cho thuộc cấp, đơn vị bạn cùng binh chủng, đơn vị bạn khác binh chủng, đều thán phục khả năng của một Tiểu Đoàn Trưởng, đầy kinh nghiệm chiến trường, khả năng xử dụng hỏa lực, khả năng điều quân, phối hợp liên quân Thiết Giáp-Bộ Binh thật tuyệt vời.
Bạn thân trong binh chủng cũng đông, cùng khóa cũng lắm, nhưng khi đi hoạt động chung, lúc nào tôi cũng lưu tâm đến cánh quân của Bảo hơn những cánh quân khác, anh chỉ huy ngoài chiến trường rất bén nhậy, anh biết tiến thối đúng lúc, nhưng không hiểu vì sao? Dù thắng trận vẻ vang, nhưng quân số của anh cũng bị hao hụt hơn các đơn vị khác, mặc dầu anh điều quân rất dè dặt, không bao giờ húc bậy. Người ta ác miệng nói anh chỉ huy sát quân, tôi không tin như vậy. Đó là lý do nếu có hành quân chung, tôi thường ưu tiên hỏa lực cho Bảo, năm 1969 lúc đó tôi còn làm Tiểu Đoàn Phó TĐ1PBND, Bảo làm Tiểu Đoàn Phó TĐ9BBND, chúng tôi hoạt động chung, lúc nào tôi cũng ưu tiên hỏa lực cho Bảo, có người biết được một nửa chuyện, cho rằng tôi thân với Bảo nên mới ưu tiên như vậy.
Những trận nhỏ không kể, tính trận chính thì trận mùa hè đỏ lửa tại Tân Cảnh là trận thứ Ba trong đời làm Tiểu Đoàn Trưởng của anh.
Charlie. Ai nhận lãnh lấy cái búa này cũng phải lãnh hậu quả tai hại như nhau, ngồi đón pháo địch, như một cuộc xổ số để nhận thương đau cho mọi người, cuộc xổ số không phân biệt cấp bậc hay chức vụ, không phân biệt mầu da hay chủng tộc, một lúc nào đó phải đến phiên mình, không lẽ cuộc xổ số không có người trúng, nếu không có người trúng, cuộc xổ số sẽ không có hồi kết, cuộc chơi như vậy!!!!!!!!!!! Làm gì có cuộc hành quân nào trên thế gian này ngớ ngẩn hơn thế, hay không nhỉ?
Cuộc hành quân không có hay, không có dở, không có can đảm, không có mưu lược, không có thắng không có bại, không có cao không có thấp, không có danh dự, tất cả chỉ là không, thì làm gì có kết luận. Nói rằng cần nút chặn không cho địch quân băng qua, càng điên rồ hơn, bằng cớ rằng sau khi Charlie không còn, địch quân vẫn không băng qua con hẻm đó, để đánh Tân Cảnh hay Kontum. khi đánh Tân Cảnh lực lượng chính của chúng là chiến xa, chúng xuất phát quân từ Darkto tới đánh Tân Cảnh, hơn nữa con sông Pô Cơ là một chướng ngại thiên nhiên đáng kể, nên không thể xuất phát từ Charlie để đánh Tân Cảnh, hay Võ Định, chúng phải đánh Charlie, Delta, Alpha vì đó là cái gai trước mắt, hơn nữa miếng mồi ngon dễ đánh hơn, phòng thủ không kiên cố bằng Tân Cảnh, ngoài ra những vị trí này là tay chân của Tân Cảnh, nên nếu muốn dứt Tân Cảnh phải chặt chân tay trước, mà cái nào dễ thì làm trước! ! ! Có người cho rằng cần Charlie là đài quan sát, nên địch phải tấn công, cũng ngụy biện, vì đỉnh Yankee ngay sát bên cạnh cao hơn nhiều.
Thế rồi cứ nằm nhận mọi hình phạt cho nát tan, một tiểu đoàn phải đương đầu với nguyên một sư đoàn Cộng quân, thêm một sư đoàn trừ bị, thêm trận đòn pháo, không tiến không lùi, một võ sĩ hạng nặng như Mike Tyson, khi lên đài anh có thể hạ một địch thủ to như con bò mộng trong vòng không đầy một phút, nhưng nếu anh đi lạc vào khu cấm kỵ New York cũng chỉ không đầy một phút anh phải đo ván ngay, biết rõ tình hình bất lợi cho ta như vậy, Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng đã nhất mực trình bầy cùng Sư Đoàn 22 Bộ Binh, Quân Đoàn II tình hình tại chỗ, theo như tình hình này, nếu đóng quân một chỗ, sẽ hoàn toàn bất lợi cho TĐ11ND, ông đề nghị cho TĐ11ND được tự do hoạt động, đừng bắt một đơn vị năng động phải đóng quân tại chỗ, nhưng đều đón nhận câu trả lời, như một học sinh lớp đồng ấu trả bài “trên không chấp thuận” mà trên là ai vậy? Đây là một cuộc hành quân hay đây là một cuộc hành hình? Hay là cuộc sổ số, bắt những tử tù, nhốt vào một sân vận động, mỗi người đào một hố cách nhau 5 mét, rồi bắt đầu dội pháo vào đó, bắt buộc kẻ trước người sau phải nhận lãnh pháo, phải nát thây là một chuyện đương nhiên, không khôn không dại, không nhanh không chậm, lúc nào đến phải nhận, không một ai tính toán, cho mình hay cho cấp dưới của mình, mà là từ trên xuống dưới giống nhau, cùng đón nhận lệnh như nhau là nằm đó chờ chết.
Charlie là tiếng gọi chữ C của quân đội đồng minh, quân lực Việt Nam Cộng Hòa gọi là Cải Cách, tiếng học vỡ lòng là Xê, tên căn cứ quân sự không có một ý nghĩa thâm sâu, mà là theo thứ tự A, B, C, D cũng như 1, 2, 3, 4 nó đơn giản và thẳng thắn như tính tình của Bảo vậy, anh không thuộc loại người ồn ào, anh vui vẻ, chịu đựng mọi chèn ép tầm thường, ê chề nhất là những ngày anh làm tiểu đoàn phó; sức chịu đựng của tôi quả thật kém anh xa.
Ngày1 tháng 4 năm 1972, trong lúc căn cứ Delta bị áp lực quá mạnh, thì căn cứ Charlie hoàn toàn yên lặng, Đại Tá LĐT biết rằng địch quân không giám mở hai mặt trận cùng một lúc, khi chúng thất bại nặng nề tại Delta I, Delta II và Alpha ....Chúng biết rằng chúng đang gặp phải một đối thủ lợi hại, cả tinh thần cũng như khả năng tác chiến, đều trên chân chúng, chúng phải đổi chiến thuật mới, dùng pháo để tiêu hao lực lượng của ta. Biết địch, biết ta nhưng LĐ2ND phải bó tay. Phải đón nhận chua cay, lúc đó đã có những phản ứng.......là phải chặt ngay những lệnh điên rồ đo,ù từ nơi phát xuất...nhiều cách có thể làm được........mọi việc đã lên khuôn......nhưng rồi đành để Charlie an bài ! ! ! đau thay. Địch quân như biết được sự bất lực này, nhất là Charlie ta khó phòng thủ hơn, đương nhiên chúng phải dễ đánh hơn, Charlie không phải là một đỉnh quân sự, nên dễ pháo hơn, dễ điều chỉnh pháo binh hơn, khi LĐ2ND xuống thám sát theo chỉ định của Quân Đoàn phải thiết lập một căn cứ tại đây (mặc dù lúc đó đang dưới quyền chỉ huy của SĐ22BB), không hiểu sao Charlie đã có chỗ ủi bằng để làm căn cứ, vết ủi đất mới trước đó ít ngày, sau này chúng tôi mới biết công binh của SĐ22BB đã ủi sẵn như vậy, cho nên có thể địch quân đã thám sát trước LĐ2ND cũng không chừng? Bởi vậy chúng thỏa thuê thi hành ý định mới của chúng, nên đã bắt đầu điều chỉnh pháo 130 ly từ dẫy Big Mama vào Charlie, ngay cả những lúc CNC của Đại Tá LĐT và tôi còn bay trên trời, chúng không sợ bị quan sát thấy vị trí súng, đủ chứng tỏ vị trí súng không quan sát thấy máy bay, và máy bay cũng không thấy vị trí súng, vì khoảng cách quá xa (trên 20 cây số). Cũng chính lúc đó Đại Tá LĐT cho lệnh Bảo thiết lập căn cứ Charlie, đây là một lệnh ông không muốn ban cho thuộc cấp của ông, một lệnh điên rồ, nhưng ông bất lực, nên tôi biết ông lo cho Bảo nhiều, ông thấy rõ những điều bất lợi cho Bảo, ông rất ân cần dặn dò những việc phải làm, mặc dầu ông dư biết Bảo thừa khả năng hiểu việc gì phải làm để đối đáp với tình thế này, chẳng hạn ông nhắc nhở phải làm hai TOC, đây là việc đương nhiên một cấp chỉ huy như Bảo phải biết; tôi cũng không quên nhắc, sĩ quan liên lạc của tiểu đoàn và các tiền sát viên của các đại đội, phải diều chỉnh ngay tác xạ cận phòng, hoạch định ngay tác xạ tiên liệu, tác xạ tiêu hủy ngay trên điểm đóng quân, căn cứ vào những tác xạ cận phòng đã được điều chỉnh kỹ càng, tôi dặn dò các Pháo Đội Trưởng, Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh của TĐ11ND phải thận trọng, trong các tác xạ qua đầu về hướng Tây Bắc của Charlie, đây là những mục tiêu bên sườn đối diện, nên phải bắn góc cao, không thể bắn góc xà được.
Trước khi ra về tôi bàn thảo thật kỹ với Bảo, chúng tôi trao đổi một vài kinh nghiệm về pháo của địch, chúng tôi thông cảm nhau hơn, sự hiểu biết của chúng tôi cùng một cung đàn, buổi nói chuyện không bị lạc điệu, nên rất dễ nói chuyện, trước khi ra về tôi còn nói đùa với Bảo.
-Căn cứ này giống căn cứ A Lưới ở Hạ Lào quá, (tôi và Bảo cùng ở căn cứ A Lưới) mày cứ tưởng tượng, hướng tây ở đây là hướng bắc của A Lưới là đúng ngay boong.
-Ừ nhỉ, tiếng bắn của 130 ly cũng xa như vậy, nhưng ở đây ít súng hơn, nó chỉ có hai khẩu mà thôi.
-Hai khẩu cũng đủ nát người rồi, phải cẩn thận, ở đây tiền sát viên của nó bám mình dễ dàng, nó điều chỉnh là mệt đó, theo tao hiểu nó đang điều chỉnh vào đây.
-Ê mày, mày có biết tụi nó bắn thằng Mạnh (Mạnh là tên của sĩ quan tiểu đoàn trưởng TĐ2ND) loại súng gì mà nó vừa bắn một cái là đạn tới mình ngay?
-Đó là 75 ly (sơn pháo) loại nòng dài, nó cũng được xe kéo như súng 105 ly của mình, hay súng 130 ly của nó, nhưng nó có sơ tốc cao nên đạn tới nhanh vậy thôi, sức công phá của nó yếu, không chính xác như các loại súng có nòng lớn hơn, mày nhớ hôm mình vừa tới A Lưới, ngay ngày đầu nó dùng hai khẩu bên kia sông chơi mình đó, súng này khó nhận ra vị trí của nó, khi tác xạ nó nhả ra rất ít khói, tầm bắn của nó cũng ngắn mà thôi, ngắn hơn 105 của mình.
-Nhớ rồi,sau đó nó bị mình dập tắt ngay. Phải công nhận pháo binh của mình còn trên chân nó xa.
-Thì có đơn vị nào của mình dưới chân tụi nó đâu.
Ngày 7 tháng 4 năm 1972, toàn bộ TĐ7ND vào thay TĐ2ND. Chúng tôi đáp xuống Delta khi hai đơn vị vừa hoán đổi xong, rồi đáp xuống Charlie và Alpha. Hôm đó là lần cuối cùng tôi và Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng có thể đáp xuống Charlie, ông biết sức công phá của pháo binh địch, ông biết là nhờ vào kinh nghiệm, chính BCH/LĐ2ND bị 130 ly hỏi thăm tại chiến trường Hạ Lào, ông cũng biết vật liệu làm hầm của các đơn vị dưới quyền ông, không đơn vị nào có vật liệu làm hầm chỉ huy (TOC) chống nổi các loại đạn pháo nổ chậm(Delay), hay các loại hỏa tiễn 120 ly, ngay cả hỏa tiễn 107 ly với đầu nổ chậm cũng vậy mà thôi, nên ông nhắc lại Bảo là phải có hai TOC và phải phân tán các cấp chỉ huy, không nên ở gần nhau, các hầm không nên làm lớn, cho các con cái bung rộng ra để tránh tổn thất vì Pháo.
kể từ ngày 7 tháng 4 năm 1972 các vị trí của ta đều bị pháo địch quấy phá, nhưng cường độ pháo không cao, tôi trình bầy trong buổi họp hành quân là: Chúng đang điều chỉnh các loại pháo của chúng, vào tất cả các vị trí đóng quân của ta, tôi cũng trinh bầy tầm xa của pháo 130 ly, hiện tại chúng đang đóng pháo tại dẫy núi Big Mama, chúng chỉ có khả năng pháo tới dẫy đồi không tên, tức là các căn cứ 5, căn cứ 6, căn cứ Yankee, Charlie, Delta, Alpha đều trong tầm pháo 130 ly của chúng, còn các căn cứ khác ngoài tầm, kể cả Tân Cảnh, chúng sẽ đánh Charlie nay mai, việc chuyển quân của chúng rất dễ, vì Delta quá gần với Charlie, chúng ta cần phải bung ra diệt các toán tiền sát viên. Nhưng có vị trí không làm được điều này, có vị trí thành công mỹ mãn, thành công nhất phải kể đến ĐĐ2TSND, ban đêm đã cho các toán trinh sát, xuất phát hoạt động chung quanh căn cứ Võ Định, đã tiêu diệt các toán tiền sát viên, cũng như các toán tiền thám của địch, nhờ vậy địch quân ít pháo trúng Võ Định, trong thời điểm này pháo 130 ly của địch bắn, nhiều người cho rằng chúng pháo quấy rối, thật sự chúng đang điều chỉnh cho những loạt đạn vào trúng các căn cứ của ta, nên một hai ngày nay chúng vẫn chưa điều chỉnh xong, chính vì hệ thống liên lạc của chúng bị gián đoạn, cũng chư kỹ thuật của chúng còn non kém, chúng đang khai thác các sơ hở của ta trên hệ thống liên lạc, để giúp chúng có thể đưa các loạt đạn pháo như ý muốn của chúng, cho nên không bao giờ chúng tôi giám báo cáo thật với BTL của SĐ22BB hay QĐII về vị trí các điểm chạm của pháo địch, chúng tôi sợ nhất là nội tuyến của địch sẽ cung cấp tin tức các điểm chạm này cho địch, căn cứ vào đó địch quân sẽ cho chúng tôi lãnh trọn tang thương, kinh nghiệm xương máu của các hành quân trước đã dậy chúng tôi như vậy, quân đoàn muốn chúng tôi trưng bằng cớ (mảnh đạn) các loại đạn pháo binh mà địch đang xử dụng, lúc này quả thật chưa có thể lấy mảnh đạn hay đầu nổ được, vì các loạt đạn vẫn còn trúng ngoài căn cứ, họ không tin có pháo 130 ly, quân đoàn nói rằng: Đường xấu chúng chưa kéo hai loại pháo binh này vào chiến trường Vùng II Chiến Thuật được, có lẽ tin của phòng 2 như thế, mà phòng 2 của ta thì lúc nào cũng nghèo nàn, chỉ dựa vào tin cố vấn Mỹ cung cấp, họ không chịu hiểu rằng chiến xa đi tới đâu, thì pháo có thể đi tới đó được, kinh nghiệm chịu pháo của trận Ha ỉLào, nên chúng tôi không có thể lầm lẫn được, mà lầm lẫn cái nỗi gì, khi tiếng súng bắn đi từ dẫy núi Big Mama, làm gì có loại súng nào khác, ta chỉ có súng 175 ly của ta mới bắn xa được như vậy, còn địch thì chỉ có súng 130 ly mới có tầm xa này, cái đau của chúng tôi là tất cả các cấp chỉ huy của Quân Đoàn, kể cả Cố Vấn Hoa Kỳ chưa một ai biết Pháo 130 ly ra làm sao, nội việc cho lệnh chúng tôi phải lấy mảnh đạn để xác nhận là 130 ly, cũng chứng tỏ là cấp chỉ huy chưa có kinh nghiệm chiến trường, chưa có kinh nghiệm về cách xác định các loại pháo, vì xác định chính xác nhất là đầu nổ của viên đạn hay đầu nổ của hỏa tiễn, vì đầu nổ nó sẽ nằm ngay tại điểm nổ, đất đã bị viên đạn nổ làm cho tan dễ đào, còn mảnh đạn thì (tìm em như thể tìm chim); dãy núi chúng đặt vị trí pháo trên bản đồ cách Charlie trên 20 cây số đường chim bay, chúng ta suy đoán cũng biết là súng gì rồi, lúc này lấy đầu nổ tại điểm nổ, thì không thể lấy được, vì chúng đang điều chỉnh đạn chưa trúng vào trong vị trí của ta, nên lấy mãnh đạn lại càng vu vơ hơn nữa “ khi pháo binh xử dụng đầu nổ nhanh, thì đầu đạn còn nguyên và ghim xuống ngay tại điểm nổ, chỉ cần dùng xẻng cá nhân bới nhẹ là thấy đầu đạn của loại súng nào bắn đến ta, đầu nổ tuy bị trầy sát nhưng các chữ cũng như số in chìm đọc vẫn được, hơn thế nữa theo chiều đầu nổ ghim xuống đất, ta có thể biết được hướng súng tới, nếu từ ba vị trí trở lên cùng bị pháo kích, nhờ phương pháp đo hố đạn, ta có thể xác định được vị trí pháo địch, đây là phương pháp tốt để kiếm ra vị trí pháo địch, nhưng cần phải có kinh nghiệm, phải có kiến thức cao, hiểu kỹ thuật mới làm được, nếu chỉ đo hố đạn ở một vị trí thì không thể xác định vị trị pháo của địch được, trong chiến tranh Việt Nam nhiều vị chỉ huy Pháo Binh lần đầu tiên đo hố đạn rồi cũng cho phản pháo để bịp, đó chỉ là hành động bịp điên rồ, nếu địch dùng đầu nổ chậm thì khó có thể lấy đầu nổ được, vì đầu nổ bị chôn khá sâu, chúng chỉ dùng đầu nổ chậm khi phá hầm hố kiên cố mà thôi, trong thời gian điều chỉnh, cũng như khi bắn tiêu diệt quân đi ngoài trời, hay hầm hố không có nắp thì pháo binh dùng đầu nổ nhanh, hay đầu nổ cao” , đến khi TĐ11ND có thể lấy được đầu nổ thì tiếp tế, tản thương đều khó khăn, rồi không còn tải thương cũng như tiếp tế được nữa, thì làm sao ai đưa đầu nổ ra ngoài đây, hơn nữa địch pháo liên tục, không pháo thì tấn công, làm sao có thì giờ nào đi kiếm đầu nổ, nhưng trên hơi ngớ ngẩn, lúc nào bị pháo cũng muốn đơn vị bị pháo lấy mảnh đạn, họ không hiểu lấy đầu nổ chính xác hơn, trong khi tiếp tế tản thương không được, thì dù có lấy được mảnh đạn hay đầu nổ cũng bằng thừa mà thôi.
Ngày 8 tháng 4 năm 1972 một biến cố vô cùng quan trọng, một rừng phòng không chung quanh Charlie, ngày hôm trước không có một cây phòng không nào xuất hiện, SQLLPB/TĐ11ND cho tôi biết anh đã đếm được 10 vị trí phòng không chung quanh Charlie, tôi cho lệnh điều chỉnh pháo binh để tiêu diệt chúng, nhưng không có hiệu quả cho lắm, vì ta ở dưới thấp hơn, nên không nhận rõ vị trí của chúng, khi CNC vào vùng tôi xác định được một vị trí phòng không, tôi đã điều chỉnh một khẩu đội khóa họng chúng, nhưng không có quân tới lục soát, sau đó khi nào CNC của chúng tôi vào vùng chúng không khai hỏa nên không sao nhận diện được thêm một vị trí nào nữa. Chúng chỉ khai hỏa khi chúng tôi vừa qua đầu chúng, hay những lúc bay vòng lại, những lúc như vậy tôi không thể nào thấy chúng được, CNC không giám xuống thấp vì trực thăng bay chậm làm mồi cho phòng không dễ dàng. Khi các oanh tạc cơ vào vùng là chúng khai hỏa ngay lập tức, tôi đã cho Đại Úy Thạnh Sĩ Quan Liên Lạc Không Quân bên cạnh Lữ Đoàn biết tình hình phòng không, thông báo cho các Quan Sát Viên Phi Cơ, cùng các Phi Công khu trục phải thận trọng kẻo bị rớt, nhưng các phi công lì lợm cất cánh từ phi trường Pleiku, coi sống chết như không, lúc nào cũng xuống thấp để oanh tạc cho đúng mục tiêu, như đùa dỡn với những dàn phòng không, dấu hiệu rõ ràng cho chúng ta thấy Delta không nuốt được nữa, địch nhả Delta và dồn quân về Charlie, địa thế Charlie dễ pháo và dễ đánh bằng bộ binh hơn, charlie không phải là một điểm quân sự tốt, khi không chúng ta đóng quân tại Charlie là dâng một mục tiêu tốt cho địch, chúng không muốn thất bại thêm, chúng cần phải chiến thắng sau bốn lần thất bại liên tiếp, tình thế bắt buộc chúng phải thay đổi chiến thuật, không thể dùng mưu trí hay sức ngưởi để thắng đoàn quân trên chân chúng mọi mặt.
Dù ngu ngơ đến đâu chăng nữa, chúng ta cũng phải nhận thấy rằng Charlie khó có thể cầm cự lâu dài, vì Charlie không phải là điểm quân sự có lợi thế như Delta, những lần chạm địch cấp tiểu đoàn đã nhận thấy tình hình tồi tệ hơn, nhất là buổi sáng ngày 8 tháng 4 năm 1972, khi cánh quân hai đại đội do Thiếu Tá Lê văn Mễ tiểu đoàn phó TĐ11ND chỉ huy, cố gắng chiếm những cao địa hướng đông đông nam, cách Charlie không đầy một cây số, thì đụng phải lực lượng địch, địch có sẵn trận địa pháo, địch đông quân số hơn, cố nhử ta vào bẫy, dù ta có cố gắng bám sát nhưng không sao làm chủ tình hình, nên đành bỏ lại những cao địa này. Tối hôm đó lúc uống trà vói Đại Tá LĐT, nghĩ tới Bảo, tôi đã buột miệng nói nhảm, mà đúng ra tôi nghĩ sao nói vậy:
-Tôi sợ Bảo nó không qua nổi trận này, giặc thì mỗi ngày được tăng cường thêm, còn ta thì mỗi ngày yểm trợ kém đi.
Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng nghiêm mặt nhìn tôi:
-Này, ăn mắm muối gì không đó, mà ăn nói bậy bạ vậy, đừng nói bậy.
Ông có biết đâu tôi là người lo cho Bảo ngày đêm, không lúc nào tôi yên tâm khi thấy Charlie khó thoát nổi đắng cay, không phải tiên tri, nhưng nhìn vào tình hình ai cũng nhận thấy như vậy, tội nghiệp trên sáu trăm sinh mạng, khi không làm vật tế thần hay sao đây? Nỗi đắng cay này ai phải chịu trách nhiệm, cô nhi tử sĩ nào ai hay.
Bất giác như linh cảm được một điều gì không hay đến với Bảo, tôi kể cho ông nghe từ việc tại nhà Bảo, tự nhiên anh cho đóng bộ ghế tại phòng khách, một chiếc giống như chiếc quan tài, tôi thấy như vậy nhưng không giám nói cái ý nghĩ quái gở của mình với Bảo, rồi Bảo cho làm Câu Lạc Bộ mới cho Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, anh tổ chức buổi lễ khánh thành câu lạc bộ, nhà văn Nguyễn đạt Thịnh được mời tham dự, anh Thịnh tặng ngay bức tượng mẹ bồng con, nên những việc đó nó cứ ám ảnh tôi. “Sang tới Hoa Kỳ năm 1987 tôi mới gặp anh Thịnh, tôi vẫn còn thắc mắc và hỏi tại sao anh lại tặng cho Bảo bức tượng Mẹ Bồng Con, tôi được anh trả lời như sau:
-Tôi xin món quà đó từ một người bạn thương gia ở Sài Gòn, tôi cho họ biết là tặng cho một người bạn khác, tổ chức lễ khánh thành câu lạc bộ, tôi dặn họ gói hộ tôi, nên khi tặng món quà này tôi không biết có gì ở bên trong, bây giờ tôi mới biết.............xong anh thở dài”. Tôi hoàn toàn không tin dị đoan, nhưng nó như những điềm báo trước.
Ngay trong buổi họp đầu tiên với Quân Đoàn, có đủ các cấp liên hệ, Trung Tướng Ngô Du Tư Lệnh Quân Đoàn II có nói:
-Hiện nay theo tin tức tình báo thì Sư Đoàn 320 của Cộng Quân có mặt tại vùng II, nhưng chưa kiểm chứng được. Anh em Nhảy Dù cố gắng chạm địch, làm sao có bằng cớ xác nhận được đơn vị địch, chẳng hạn như tịch thu được tài liệu, bắt sống được tù binh, nếu anh em làm được thì công của anh em rất lớn. Cố vấn của Quân Đoàn II sẽ xin B52 để tiêu diệt đơn vị này và anh em sẽ có thưởng.
Nhưng từ ngày ĐĐ2TSND bắt sống được tù binh, xác nhận rõ đơn vị cho đến nay chưa có một box B52 nào xin được chấp thuận, lại thêm một chiếc bánh vẽ nữa, trận giặc sinh tử nhưng cấp trên thờ ơ quá, chúng tôi đâu có cần thưởng, thưởng nhiều quá rồi, chúng tôi cần cấp trên nhìn thấy chúng tôi đang làm gì và đang cần gì, không biết ngôi sao nào trong tử vi chiếu vào chúng tôi mà tệ hại quá vậy.
Lúc này không có cách nào TĐ11ND tránh khỏi tổn thất, xử dụng không quân chiến lược ư, lời hứa của Quân Đoàn như mây như khói, không quân chiến thuật ư, có nhưng hạn chế, quân tăng cường càng không thể được, càng đông quân càng làm mồi cho pháo địch mà thôi, xin cho TĐ11ND tự do hoạt động trong vùng không được chấp thuận, với lý do “trên không chấp thuận” Đại Tá LĐT thấy rõ nguy cơ, nhất là từ khi tất cả các Box B52, các kế hoạch hành quân của ông đều bị bác bỏ, chúng tôi đành dùng pháo binh cơ hữu của mình để thay thế những box B52 đã xin, nhưng đạn dược cũng không được dư dả, vì đường tiếp tế duy nhất từ Pleiku đến Kontum bị trở ngại tại Chu Pao, lúc thông lúc tắc.
Tôi tháp tùng trên máy bay CNC, dàn hỏa tiễn 120 ly khai hỏa vào căn cứ Non Nước, tức vị trí của Pháo Đội C1 của Đại Úy Nguyễn cẩn Ngọc ( sau này là Thiếu Tá, nay đang ở Houston, Texas), ngay lúc chúng tôi trên vùng và nhận rất rõ vị trí, chỉ cách Charlie không đầy 5 cây số về hướng đông bắc, tôi điều chỉnh ngay hai pháo đội B1 và C1 phản pháo trúng đích, có tiếng nổ phụ rất nhiều, chúng tôi cũng hiểu rằng tại vị trí này chỉ có ba dàn phóng và một số đạn dược mà thôi, không có quân, chúng đã pháo bằng thời chỉnh, tức là chúng đặt dàn hỏa tiễn, ghi sẵn mọi yếu tố xong, chúng chỉnh giờ khai hỏa rồi bỏ trốn, khi đúng giờ đã định trước là khai hỏa, nếu có người ở vị trí chúng không giám khai hỏa khi chúng tôi đang có mặt trên vùng, chúng thuộc tên tôi và cả giọng nói của tôi, chúng biết nếu khai hỏa mà tôi biết được vị trí là tự sát, do đó chúng tôi nghĩ tại đó không có quân, cũng như không có BCH nào gần, sau đó chúng tôi thỉnh thoảng bắn một viên đạn pháo binh vào đó, hầu như vị trí này cho tới cuối cuộc hành quân, chúng không xử dụng nữa.
Biết TĐ11ND sẽ bị nguy khốn mà không làm gì được, phải bay điều quân suốt ngày, vừa lao tâm vừa lao lực, bệnh cao máu hoành hành trở lại, cho nên Đại Tá Lịch cáo bệnh với BTL/SĐND xin người thay thế, tuy nhiên ông xin được trị bệnh ngay tại vị trí hành quân, ông nói với tôi trong bực dọc:”thằng 11 sẽ thất bại,sức người chỉ có hạn”, tôi biết việc cáo bệnh của ông đúng ra chưa cần, trong ngày 8 tháng 4, Trung-Tá Nguyễn Thu Lương trưởng phòng III SĐND ra thay thế. Kể tứ ngày 8 tháng 4, ban ngày cũng như ban đêm cứ khi nào hết pháo là chúng tấn công vào Charlie, có khi địch tấn công bằng cấp tiểu đoàn, có khi bằng cấp trung đoàn, không còn cấp đại đội nữa, địch bắt đầu xài toàn giấy năm trăm, canh bạc phé này địch quân có nhiều vốn hơn chúng tôi, cũng may đêm nay sẽ có Box. B52 yểm trợ cho Charlie, đây là box B52 đầu tiên cho Charlie, món quà sinh tử đó, tôi thầm nghĩ nếu chỉ có vậy thôi cũng không cứu được Charlie, có còn hơn không, nhưng rồi không có B52 nào đến, đó chỉ là thông báo vu vơ; đêm nào căn cứ 5, căn cứ 6 cũng báo cáo đoàn xe tiếp tế của địch ban đêm đèn sáng như xa lộ Sài Gòn; cho nên đạn dược, quân số chúng dồi dào hơn mình, canh bạc này phải thua thôi. Các toán viễn thám của ĐĐ2TSND nhận nhiệm vụ vào phá hoại trục giao thông của chúng, nhưng cũng chỉ được một vài lần mà thôi. Tôi cố gắng dùng hỏa lực cơ hữu của mình, may ra có giúp được phần nào cho Charlie hay không, vùng này tôi bay nhiều cho nên tôi nắm vững địa thế, những chỗ khả nghi tôi đều có những hỏa tập bất thường, cho nên trung tâm phối hợp hỏa lực của TĐ1PBND bận rộn suốt ngày đêm, sĩ quan liên lạc Không Quân bên cạnh LĐ2ND làm việc thật giỏi, nhiều kinh nghiệm nhưng cũng khó khăn lắm mới xin được một phi tuần Hoa Kỳ, may mắn là Không Quân Việt Nam lúc nào cũng hết lòng với Nhảy Dù, chính những Phi Công không may gẫy cánh trong trận này như Thặng..Kỳ...là vì quá tận tình với chúng tôi, Hà cũng bị rơi nhưng may mắn Trinh Sát của chúng ta cứu kịp.
Ngày 9 tháng 4 năm 1972 mới sáng sớm, trung đoàn địch được lùa vào trận tuyến, chúng như những con thiêu thân, muốn chiến thắng đầu tay đến với chúng, thây chết ngập sườn đồi, ta thu gần hai trăm súng, lúc này súng đạn của địch rất cần cho các chiến sĩ Mũ Đỏ 11 Nhảy Dù, không tiếp tế không tản thương, nguồn tiếp tế đạn dược chính là địch, con cháu bác lại có dịp được thưởng thức bắp chuối B41, cùng ngô rang AK47. Các cấp chỉ huy của mặt trận B3 và Sư Đoàn 320 sư đoàn mệnh danh là sư đoàn thép, lần này hẳn chúng phải nhận ra rằng chúng đang húc phải một bức tường cứng hơn “thép” của chúng, bằng mọi giá chúng phải thắng trận này để lấy danh dự lại cho quân đội miền bắc, chúng phải thắng một trận cho dù thiệt hại quân số bao nhiêu không kể, nếu không thắng trận này, ngay các đơn vị của chúng tại đây không còn tinh thần chiến đấu nữa, chúng ta coi trọng mạng sống của thuộc cấp, còn cấp chỉ huy của miền bắc cần thắng, thuộc cấp chết không đếm xỉa đến, đó chính là hai quan niệm về chiến tranh khác hẳn nhau, tôi chợt nhớ tới câu nói cũa tướng Westmoreland, khi ông được một phóng viên hỏi về tướng Võ Nguyên Giáp, ông thẳng thắn trả lời : “Tướng Võ Nguyên Giáp là một tướng tài, nhưng nếu để ông chỉ huy quân đội của chúng ta, thì chỉ cần một trận là ông phải triệu hồi, ra tòa án quân sự vể tội thí quân vô ích, tội sát nhân” địch quân phải thắng, vì chúng đang được cấp trên của chúng tôi phụ họa theo, Bảo ơi hãy đón nhận pháo cho rách đơn vị, để rồi lúc sức cùng lực kiệt đón nhận thêm trận biển người của nguyên Sư Đoàn Bùn, lúc đó sẽ có B52 giúp anh trộn lẫn xương thịt của đôi bên trở thành phân bón cho núi rừng Charlie. Đúng 23:30, Box B52 đầu tiên xuống phía đông nam Charlie, núi rừng chuyển động như sóng cồn, người lính Nhảy Dù gác giặc quên cả tiêu lệnh của một lính gác, la lớn tay ôm lấy ngực để máu trong lồng ngực khỏi trào ra, sau đó bị té hất ngược trở lại.
Ngày 10 tháng 4 năm 1972, địch không còn sức tấn công nữa, mũi tấn công nặng nề và thường xuyên nhất mỗi ngày, mỗi giờ, bây giờ im lặng, tất cả im lặng, thân xác của chúng đã bị B52 cuốn trôi, nhường cho tiếng pháo của súng 130 ly, hỏa tiễn 120 ly năm nòng, không còn đếm nổi mỗi ngày chúng trút tới Charlie bao nhiêu đạn nữa, mà phải ước lượng bằng con số hàng ngàn, từ Võ Định lúc nào cũng nghe tiếng pháo địch nổ, nếu trời trong thì thấy bụi đất bay mù mịt suốt ngày, lần đầu tiên hai đài quan sát của ta thấy đoàn xe địch di chuyển ban ngày, tôi cho lệnh pháo đội tại Yankee có vị trí cao nhất, tính yếu tố bắn ở tầm xa dài nhất, nhắm cho đúng hướng thử bắn một viên đạn khói, rồi quan sát xem sao, mặc dầu chúng tôi đã biết trước kết quả, Pháo Đội Trưởng báo cáo: Còn cách quá xa mới tới đoàn xe; khi phi cơ quan sát lên vùng, chúng vẫn di chuyển, nhưng chỉ di chuyển ít xe một, phi cơ quan sát bay quá cao không thấy rõ, khi oanh tạc cơ lên vùng thì chúng chui vào bụi rậm mất hút, hơn nữa lúc đó xử dụng các phi vụ oanh tạc cũng hạn hẹp, không có phi vụ nào bao vùng cả, ban đêm chúng hoàn toàn tự do, các toán Viễn Thám của ĐĐ2TSND có làm cho chúng phải e dè; sức người có hạn làm sao đây.
Chúng tôi tuy không nói với nhau nhưng cũng cùng một ý nghĩ oán hận, tiếp tục nhận những lệnh tồi tệ nhất, lo cho số phận Charlie việc đến sẽ phải đến thôi, chỉ có tất cả đều là Phù Đôũng Thiên Vương thân hình bằng sắt thép pháo không hề hấn, mới qua khỏi trận này, còn bất cứ đơn vị nào vào thế TĐ11ND cũng không thể có đáp số khác, pháo của địch ngày đêm, địch được tiếp tế đạn dược đầy đủ, chưa bao giờ địch quân được ưu đãi như lúc này, không bị nhòm ngó, tự do điều chỉnh, bắn một quả không trúng, thì trăm quả phải trúng, xin nhấn mạnh là Charlie không phải là đỉnh quân sự tốt, nên là mục tiêu tốt cho pháo binh, tôi khẽ ca bản nhạc Mấy Dặm Sơn Khê của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông:
Anh đến đây rồi anh như bóng mây.........
Mấy ai ra đi.........hẹn ngày về dệt thắm tơ vương.
Đang lúc mải mê suy tư, địch pháo hỏa tiễn 120 ly ba nòng vào Võ Định với đầu nổ chậm, ngồi trong hầm chỉ huy, sức đạn nổ làm hầm phải rung ring, sức nổ gần hầm như những nhát búa bổ lên đầu, bước ra khỏi hầm tôi chẳng thèm núp dưới căn hầm nữa, tự nhiên nước mắt tôi lưng tròng, thương Bảo và thương cho chính mình, tại sao chúng tôi phải hy sinh vô lý như thế này nhỉ ?
Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo việc đao cung .
Chàng tuổi trẻ ngày xưa, có bị hy sinh vô lý như thế này hay không? Tại sao bây giờ chúng tôi lại phải hy sinh vô lý như thế này? Sau này khi Đại Tá Đạt hy sinh, tôi hoàn toàn đồng ý với ý nghĩ, phải diệt nguồn gốc những thủ đoạn cấu tạo nên sự hy sinh vô lý này.
Tại sao cấp trên lại muốn TĐ11ND phải chịu đau thương như thế này? Nếu không tại sao không dồn hỏa lực khi đã biết rõ đơn vị, lực lượng địch và có khi còn biết rõ điểm đóng quân của chúng nữa. Lời hứa ban đầu sẽ dùng B52 khi biết đơn vị địch nay đã biến đâu rồi? Cấp chỉ huy gì mà thấy địch không muốn giết, lại muốn lấy quân mình làm mồi cho địch tiêu diệt, hay ở một khâu nào đó có địch làm nội tuyến. Tôi rùng mình với những ý nghĩ như vậy, rồ dại hay nghiêm chỉnh đây? Sau khi địch pháo BCH chắc chắn chúng sẽ tấn công các đơn vị ở ngoài, tôi trở vào Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực, quả đúng như vậy, hai pháo đội đang hoạt động yểm trợ cho Chatlie, hôm nay chắc địch quân có quân tăng cường sau khi tổn thất vì B52, mấy ngày nay lúc nào địch quân cũng muốn chọc thủng hướng tây bắc, hướng này rất khó yểm trợ, vì bắn qua đầu bạn, tôi cho lệnh các pháo đội trong tầm, kể cả pháo đội 155 ly, bắn góc cao, khi đã được điều chỉnh cẩn trọng, sau đó dội đủ loại đạn thay B52, quả nhiên sau gần nửa tiếng TOT, địch quân nhả ra không tấn công nữa, sau đó TTPHHL/TĐ1PBND nhận được sĩ quan TSV báo cáo như sau:
-Bạch Hùng đây Thanh Hùng 133
-Thanh Hùng 133 đây Bạch Hùng
-Báo cáo với Bạch Hùng, tụi nó chết nhiều lắm, súng vất như củi, nhưng con cái chỉ thu đạn mà thôi, không còn chỗ chất súng nữa. Lúc này tin chiến thắng đến với chúng tôi, không hứng thú bằng tin ta vô sư,ỉ tôi cho lệnh hỏi tin tức của ta, ngay tức thì được báo cáo ta chỉ có ba bị thương nhẹ, đó mới chính là niềm vui của chúng tôi, không may bị thương nặng thì chỉ có nằm đó chờ chết, mấy ngày nay không tiếp tế không tản thương. Chúng biết là khi chúng tôi đã đóng quân, thì chúng phải dùng quân số gấp 5 lần tấn công, may ra mới hy vọng báo tin mừng cho Bác, nhưng nay không có một ngày nào chúng làm như vậy, chúng biết rằng Thép mà gặp các Thiên Thần, mà Thiên Thần có sức làm lò luyện thép, nên sư đoàn thép cũng bị chảy thành Bùn, nên lúc nào chúng cũng dùng 10 chọi một, chúng tôi biết canh phé này địch quân nhiều vốn hơn chúng tôi, chúng tôi thận trọng từng nước đi không một sơ hở, dù là sơ hở cỏn con, chúng đi tiền mười lần phải có một lần thắng, dầu sao chăng nữa sức người cũng chỉ có hạn, chúng pháo một ngàn trái không trúng, một vài chục ngàn trái bắt buộc phải trúng, thê thảm ở chỗ đó.
Sau khi họp hành quân cuối mỗi ngày với Trung Tá Lương xử lý thường vụ chức vụ LĐT, tôi vẫn phải trình bầy riêng với Đại Tá Lịch, khi nghe tôi trình bầy xong, tình hình hiện tại của Charlie, Đại Tá Lịch thở dài và nói bâng quơ một mình:
-Cao lắm một tuần nữa thôi ! ! !
Tôi thầm nghĩ trận giặc này chúng tôi thua từ trong thua ra, tôi vô cùng bực bội bất mãn, một mình vừa đi vừa văng tục đủ loại, nhưng khi về đến TTPHHL/TĐ1PBND, tôi vẫn làm ra vui vẻ cho lệnh T/T Tấn ban 3 Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù, cho lệnh các TSV và các Pháo Đội thi hành các tác xạ TOT có điều chỉnh, có quan sát thay thế các Box B52. Chúng tôi lại còn phải quan tâm đến đường tiếp tế đạn dược. May mắn cho chúng tôi là sau nhiều lần chúng dùng Sư Đoàn 2 Sao Vàng cố gắng cắt đứt trục giao thông từ Kontum tới Tân Cảnh, nhưng đều bị các đơn vị thuộc Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù chặn đứng dễ dàng, nay LĐ3ND đã về hoạt động tại chiến trường An Lộc, cùng với LĐ1ND và Bộ Tư Lệnh SĐND/VN, một Liên Đoàn BĐQ vào thay thế nhiệm vụ này.
Trời bỗng dưng u ám, cỏ cây mới tháng tư mà như đã sang Thu, sau khi ban 3 trình bầy tình hình trong đêm, tình hình đạn dược, tôi an tâm vì tình hình đạn dược của các Pháo Đội, hôm nay không ngờ đây là chuyến bay chót trong đời tôi trên vùng trời Charlie còn Bảo ở dưới nói vọng lên, tôi gắng gượng điện đàm ngắn với Bảo, tôi biết lúc này Bảo đang để tâm tới đơn vị của anh, bao nỗi khó khăn đang làm anh phải nhức đầu không ít, không hiểu sao các Mũ Đỏ 11 không ai ra điên vì bất mãn, tôi chuẩn bị trước là nếu có thể được tôi sẽ ném xuống cho Bảo chai Hennessy, nhưng không, ân huệ này không đến với chúng tôi, thời tiết xấu cũng có, rừng phòng không đang rình rập chúng tôi nếu xuống thấp là đi đứt, Bảo cố nhắc tôi đừng có dại làm việc điên rồ, nếu tôi có yêu cầu thì Phi Công cũng chẳng làm, tôi nhìn đồng hồ hôm nay ngày 11 tháng 4 năm 1972, Charlie mờ mờ ảo ảo dưới bụng máy bay, tôi dặn dò các anh em TSV những việc phải làm, sự thực các điều dặn của tôi cũng là thừa, vì các điều này tôi đã nhắc quá nhiều lần, tôi muốn anh em dưới quyền tôi hiểu rằng: Lúc nào tôi cũng quan tâm đến họ, mà thực lòng như vậy.
Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn II, cố vấn J.P. Vann, Đại Tá Tư Lệnh SĐ22BB và phái đoàn tới thăm chúng tôi tại Võ Định. Sau khi chúng tôi trình bầy tình hình dịch, kế hoạch hành quân của chúng tôi, Đại Tá Lịch dù đang bịnh, ông cũng cố gắng gặp phái đoàn, dù không được khỏe cho lắm, nhưng TĐ11ND đang hứng pháo để chịu đau thương làm ông không sao yên lòng cho được; trước mặt phái đoàn ông trình bầy kế hoạch cản địch, tiêu diệt địch mà không cần phải đóng trụ tại Charlie, TĐ11ND nếu lưu động còn có thể khám phá ra nhiều điều có lợi cho ta nhiều hơn, kể cả có thể len lỏi phục kích đoàn xe của địch, nhưng câu trả lời chắc nịch của J.P. Vann: Trên không thuận, trên đây là ai vậy, tại sao Trung Tướng Tư Lệnh không trả lời. Ngay lúc đó TĐ11ND báo cáo đang bị pháo bằng 130 ly và các loại hỏa tiễn, súng cối 82 ly, ngay cả các loại súng không giật như 57 ly, 75 ly.. v..v ..vì phòng làm việc ngay sát với phòng thuyết trình cho nên mọi người đều nghe rõ tình hình, lập tức J.P. Van và TT/TL/QĐ II đều nói với TT Nguyễn Trọng Nhi là cho lệnh TĐ11ND phải lấy mảnh đạn pháo binh địch chứng minh là 130 ly, Nhi nhăn mặt vì không muốn chuyển cái lệnh kỳ khôi này, nhưng rồi cũng phải chuyển: Giọng TT Đoàn Phương Hải ban 3 TĐ11ND oang oang trên loa của máy truyền tin:
-Nếu không phải là 130 ly của địch, thì từ dẫy Big Mama tới đây trên 25 cây số, súng nào có tầm xa như vậy? Bây giờ ra lấy để tự sát hay sao?
Nhưng lệnh là lệnh, Nhi nhăn mặt như anh chàng mắc bệnh trĩ, phải lập lại lệnh lượm vỏ đạn; Hải như điên lên, không còn bình tĩnh
-Bảo họ vào đây mà lấy, không tiếp tế, không tản thương, cứ đòi chuyện trên trời. “đúng ra là lệnh lấy đầu nổ của pháo địch thì hợp lý hơn, vì lúc này lấy đầu nổ dễ hơn, chúng đang pháo trúng vị trí, không như những ngày chúng tôi còn đáp xuống căn cứ, lúc đó địch còn đang điều chỉnh vu vơ xa căn cứ, không thể nào lấy đầu nổ cũng như mảnh đạn được, trên đầu nổ lại có ghi rõ ràng loại đầu nổ nào, dùng cho súng nào, còn mảnh đạn, đôi khi cũng hơi khó phân biệt”, những cuộc đàm thoại trên được ngụy thoại hoàn toàn, hơn nữa lúc này ra lấy đầu nổ, hay mảnh đạn đều có cơ nguy là thêm một quân nhân bị thương, việc làm vô ích. Việc Charlie bị pháo là đúng vì ai cũng có thể nhìn thấy, còn loại pháo nào không phải là việc chính yếu để quyết định nhiệm vụ chiến thuật cho TĐ11ND lúc này, nhưng cấp trên nại những lý do không đâu để lấp liếm, khi LĐ2ND xin cho TĐ11ND được tự do hoạt động.
Quân Đoàn cứ nói là cấp cao hơn không thuận, làm sao hài lòng cho được, không có chứng cớ, nhất là cả Vùng II Chiến Thuật này chưa một ai được nghe tiếng nổ của đạn pháo 130 ly bao giờ, J.P. Vann chỉ là một Trung Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, những ngày 1965 TQLC/HK vào vùng hành quân Quảng Trị, do bạn bè của Hắn kể lại rằng tại vùng DMZ nơi chịu pháo cũng nhiều, nơi địch quân có thể kéo pháo dễ dàng, tuyệt nhiên không có 130 ly, hắn đâu có hiểu rằng ngày đó địch quân chưa có pháo 130 ly, cũng như ngày đó chỉ có B40 chưa có B41 như ngày nay, còn nhiều thứ võ khí khác tối tân hơn nhiều, như phòng không, vũ khí cộng đồng, vũ khí cá nhân đều khác xa, không hiểu vì lý do nào đó, có thể vì tự ái lỡ phủ nhận rồi, hắn ngoan cố không chịu hiểu, rồi cả Quân Đoàn đều như vậy,Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn II quả quyết rằng, vì đường xá khó khăn nên chúng chưa thể kéo súng 130 ly vào vùng 2 được, thấy không khí có vẻ không vui, tôi trình diện theo đúng quân kỷ và trình bầy như sau:
-Thưa Trung Tướng, tôi xác nhận địch pháo 130 ly, thứ nhất do tiếng đạn nổ mà chúng tôi đã chịu pháo tại Hạ Lào, nên chúng tôi không thể lầm lẫn được, thứ hai súng đặt tại dẫy núi Big mama từ đó đến Charlie trên 20 cây số, không có súng nào của địch có tầm xa này, chúng ta không thể mang miểng đạn ra đây, vì chúng pháo liên tục, ngưng pháo là tấn công, rất ít quân nhân di chuyển trên mặt đất lúc này vì sợ bị thương không tản thương được, không lẽ bây giờ đi kiếm miểng đạn để bị thương hay tử thương hay sao? Nếu có sẵn miểng đạn rồi làm sao mang ra đây? Thứ ba địch có thể kéo pháo đến bất cứ chỗ nào, nếu ở đó chiến xa có thể tới được, tôi tin chắc là TĐ11ND báo cáo đúng, hơn nữa chính tôi đã đứng tại Charlie nhận pháo 130 ly của địch, nhưng lúc đó địch đang điều chỉnh chưa trúng vị trí của ta, vì vậy thời gian này không có thể lấy miểng đạn được, báo cáo sai để làm gì, đâu có lợi gì cho chúng tôi đâu? Chúng tôi, những quân nhân Nhảy Dù chưa bao giờ báo cáo sai, quan niệm báo cáo tăng khả năng địch, đối với chúng tôi cũng là một hành động khiếp nhược.
-Anh nói sao chứ phía Cố Vấn Mỹ họ không tin như vậy.
Tôi im lặng, tại sao cấp Quân Đoàn lại có thể lập lại lệnh của Cố Vấn, như cấp Trung Đội Trưởng vậy, thời thế này còn nói gì hơn được nữa, và thầm nghĩ chỉ trừ những quân nhân đã tham dự trận Lam Sơn 719 tại Hạ Lào năm 1971 thì mới biết pháo 130 ly của địch quân, còn lại kể cả cố vấn Mỹ cũng chưa ai biết pháo 130ly ra làm sao? Bây giờ chúng tôi phải nói cho ai hiểu đây? Chúng tôi đã chịu chỉ huy bởi những người chưa đủ kinh nghiệm chiến trường, do đó chúng tôi phải chịu nhận những lệnh thiếu kinh nghiệm chiến trường, là điều đương nhiên phải đến mà thôi, các cấp chỉ huy của quân đội Pháp cũng tin là Việt Cộng không thể mang pháo lên dẫy núi chung quanh Diện Biên Phủ, các cấp chỉ huy như vậy làm sao có khả năng đương đầu với địch quân, quân đội Pháp không may có cấp chỉ huy tiên đoán địch tình như vậy, cho nên mới phải đầu hàng nhục nhã tại Diện Biên Phủ, bây giờ không lẽ chúng tôi phải chịu nhục nhã tương tự hay sao đây?
Bác thang lên hỏi ông trời
Trao thân cho ác....biết đời nào hay. ( láo)
Tối hôm đó tuy rất mệt mỏi, nhưng tôi không giám lơ là, tôi cho lệnh tác xạ TOT trên những mục tiêu mà chắc chắn địch quân đang ở đó, vì chúng đang chờ úp hụi TĐ11ND, tất cả những điểm này đều chung quanh Charlie, không có điểm nào xa quá 2 cây số, nhất là tôi được báo cáo, địch đang pháo vào Charlie dữ dội, sau đợt pháo này chúng sẽ tấn công, kế hoạch tiền pháo hậu xung chúng áp dụng suốt ngày đêm, nhưng những loạt TOT làm chúng không còn tấn công Charlie được sau các đợt pháo như chúng thường làm, chúng trả đũa bằng cách pháo dữ dội vào tất cả các vị trí của ta, lúc đó là 01:00G sáng ngày 12-4-1972. Không ngờ rằng lần TOT đó chính là lần mà tôi tạ từ với Bảo.
Ngày 12-4-1972, ngày quí dậu, tức 19 tháng 2 năm Nhâm Tý lúc 09:00G sáng tôi nhận điện thoại của TT Nguyễn Trọng Nhi Trưởng ban 3 của LĐ2ND cho tôi biết Bảo đã tử thương vì pháo của địch, hầm ngủ của Bảo đã nhận nguyên một trái 130 ly delay, tôi lặng người thầm nghĩ, trước sau cũng phải như vậy, hôm nay chưa xẩy ra thì ngày mai phải đến có vậy thôi, chính tôi cũng lo ngại việc gì sẽ xẩy ra ! ! ! Tôi im lặng, buông ống liên hợp rớt xuống đất, không nói một lời với TT Thông tiểu đoàn phó, TT Tấn ban 3 tiểu đoàn đang đứng bên tôi, còn gì để nói nữa đây, nhưng mọi người trong trung tâm phối hợp hỏa lực cũng hiểu phần nào câu chuyện.
Tôi lững thững ra ngoài hầm nhìn lên Charlie, khuôn mặt Bảo độ lượng hiện ra trong đám sương mù trắng xóa, ánh mắt anh vẫn trong sáng, không cười không nói, không oán than, không phân bua, khuôn mặt anh linh hiển như thánh thần, anh xứng đáng được như vậy, một lằn nước mắt tự nhiên tuôn tràn, tôi nghĩ tới vợ con Bảo lúc này: Chị Bảo chắc đã đi làm, các cháu chắc đang ngồi ngoan ngoãn trong lớp học, màn khăn tang sao sớm vấn trên đầu trẻ thơ, tôi nghĩ tới anh em bạn bè còn đang kiên cường trên Charlie, không hiểu họ còn đủ viên đạn cuối cùng để vinh danh hay không? Hay đành dơ tay chịu nhục đầu hàng, từ ngày 7-4-1972 họ không có tiếp tế lương thực, không có tiếp tế đạn dược, lấy tay không để đỡ đạn, lấy trí dũng hiên ngang che dấu hình hài, làm thân lính chiến mà không được chiến đấu, phải đưa lưng chịu đạn quân thù, huấn luyện một đơn vị xung kích tổng trừ bị để làm công việc này hay sao?
Last edited by phu_de on Sat Mar 04, 2006 4:18 am, edited 1 time in total.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Tại sao chúng tôi vẫn hiên ngang chấp nhận đau thương, trong hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã này, tại sao những anh em Mũ Đỏ 11 Nhảy Dù vẫn chiến đấu không tan hàng, để hấng chịu sự độc ác của cả bạn lẫn thù.
Ngày 14-4-1972 những trận pháo ghê hồn vẫn tiếp diễn, để nghiền nát hình hài, để trộn lẫn thịt xương với đất cát núi rừng, xác địch không còn chỗ nằm, thân bạn nằm cản lối đi, con sâu cái kiến còn biết tìm sống, không lẽ chúng tôi đành gục mặt nhận cái chết từng người một cho đến người cuối cùng hay sao đây?
Không ! Không thể như vậy được, cho nên Lê Văn Mễ, Đoàn Phương Hải đã phải có quyết định cuối cùng để cứu lấy những người còn may mắn, có thể tự di chuyển được, họ phải sống để làm nhân chứng, chứng tích của một mặt trận thê lương – tồi bại nhất, trong bất cứ cuộc chiến tranh nào trên thế gian này không một ai chấp nhận sự bất lương này, đơn vị thất bại vì địch quân là chuyện bình thường, nhưng thất bại vì địch và vì bạn nữa là chuyện có một không hai trong quân sử của thế giới bẩn thỉu này.
Vừa ra khỏi lò nhồi xương thịt, toán nhân chứng vừa lấy đội hình tác chiến chưa hoàn hảo, để vĩnh biệt Charlie, thì pháo và quỉ dữ bám sát ngay, ngay tức thì hàng tấn bom do sáu chiếc B52 dội xuống Charlie, địa ngục trần gian bị cầy nát, chỉ có con tạo mới có khả năng giữ Charlie không trở thành đồng ruộng. Ba tiểu đoàn địch tràn vào Charlie, miệng đang hung hãn với kinh kệ “hàng sống chống chết” cấp chỉ huy của chúng chưa kịp báo cáo điểm đứng, thì thân xác chúng đã biến tan cùng cỏ cây. Tử khí ngất trời cao, lòng người nào chịu ngưng tại đó, toán nhân chứng còn không đầy một đại đội, vậy mà một trung đoàn khác được điều động tới bám sát họ, họ bình tĩnh nắm tay nhau, len lỏi cố gắng đánh lạc hướng địch, mỗi người còn không đầy một băng đạn, khi gặp địch quân cản trở khai hỏa từng viên đạn một, họ bị chia cắt, bị phục kích, bị pháo bằng súng cối, cuối cùng đành phân tán mỏng, từng toán một tự mưu sinh.
Ngày 15-4-1972 những người cuối cùng được cứu bằng trực thăng chấm dứt, cùng hẹn nhau phương giác 800, điểm đến là con đường nối dài từ Tân Cảnh đến Võ Định (nơi đặt BCH của LĐ2ND), sức người cộng với sự trợ giúp của Phật, của Thiên Chúa, không có lương thực không có vũ khí vậy mà từng toán nhỏ vần về tới được Võ Định, hay Non Nước nơi đồn trú của Pháo Đội C1 Nhảy Dù ven sông Pôkơ, đang từng năm phút một bắn đi một viên đạn, tiếng đạn bắn đi để định hướng cho những anh em kém may mắn đang mò mẫm nhận hướng tới, tiếng đạn vang vang như tiếng gầm của mãnh hổ lạc đàn, tiếng gầm giúp cho những anh em không có địa bàn, những anh em Mũ Đỏ 11 Nhảy Dù tới ngày 17-4-1972 là những toán sau cùng, an toàn trở về. Tới đây kể như Charlie không còn nữa, những người trở về được là một phép mầu, là một diễm phúc.,.

Viết xong tháng 4 năm 1996 tại San Jose California,
viết cho anh em, viết cho bạn bè
Mũ Đỏ Bùi Đức Lạc

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

đọc bài "Ôi Charlie , tên vẫn chưa quen người dân thành thị năm 1972.

cảm động quá ....chỉ tiếc hồi đó ...biết địch pháo nhiều...sao không cứu

cứu Trung tá Nguyễn đình Bảo , mà cứ để trấn thủ , để rồi tiếc

thương , hay là số mệnh của cố Trung tá Nguyễn đình Bảo đã an bài.

Một lần nữa , và mãi mãi về sau phải nhớ cố nhạc sĩ Trần thiện Thanh

người nhạc sĩ đã viết nên nhạc phẩm "Người ở lại Charlie " để ca tụng

cái chết Hào Hùng của cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo . vâng chính Anh là

Ngôi sao Quý để Ngàn người Tiếc Thương Vô Cùng.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Bán tiểu đội Biệt Kích Dù
và trận đánh chớp nhoáng sau lệnh đầu hàng 30.04.



Hải Triều/Trung Nghĩa

Thiếu úy Biệt Kích Dù Vũ Văn Tư trằn trọc không ngủ được. Ðơn vị anh được lệnh chuyển quân về đóng ở Tam Hiệp, Biên Hòa, nơi mà tinh thần chống cộng của đồng bào Thiên Chúa giáo vững vàng như sắt, như đá. Sự có mặt của những toán Biệt Cách Dù làm các đơn vị quân dân phòng thủ ở đây lên tinh thần. Tư đi hết nhà dân đến nhà thờ. Có những đêm Tư âm thầm vào nhà thờ nhìn chăm chăm vào tượng Chúa để cầu xin một phép lạ, không phải cho anh, mà cho quê hương, để Bắc quân bị tan biến trong trận Long Khánh và không một tên nào mò qua Tam Hiệp để vây Sài Gòn. Anh thấy tượng Chúa buồn buồn, anh thấy tượng Ðức Mẹ dường như muốn khóc. Anh về lại đơn vị trùm poncho ngủ. Giấc ngủ vỡ tan theo tình hình tin tức chiến sự căng cứng cứ một ngày gần về phía Sài Gòn.

Sáng ngày 28 rạng 29 tháng Tư, đơn vị anh được tin cho biết về các hướng chuyển quân của địch, trong đó có một đơn vị cộng sản có chiến xa sẽ di chuyển t? Tân Phong hướng chiến khu D tiến về vòng đai phi trường Biên Hòa theo lộ trình quốc lộ 1 vào Hố Nai. Tất cả đơn vị đã sẵn sàng trong tư thế chiến đấu. Các đơn vị địa phương và nhân dân tự vệ, súng đủ loại bỗng nhiên thành những người lính tử thủ. Họ phân công, tăng cường phòng thủ và di chuyển đồng bào khỏi vùng có thể sắp xẩy ra những cuộc đụng độ đẫm máu.

Sáng sớm 30 tháng Tư, Tư và các sĩ quan được đơn vị trưởng mời họp khẩn cấp, chờ lệnh Sài Gòn. Trời Tam Hiệp vẫn chờ cơn bão lửa trong tinh thần chuẩn bị cho cuộc thư hùng chết bỏ. Ðến khoảng vừa sau 10 giờ sáng, các sĩ quan quay quanh chiếc radio, im lặng, đợi chờ một cái gì vô cùng nghiêm trọng. Bỗng tiếng tướng Dương văn Minh ồn ồn vang lên lệnh buông súng. Tư đập tay xuống bàn. Chiếc đồng hồ vỡ tung, đứt dây văng xuống đất. Các sĩ quan có mặt, người chửi thề, kẻ ôm mặt khóc. Vị sĩ quan Dù, cấp chỉ huy của Tư đang gục mặt xuống bàn, hai vai ông run lên. Một lúc sau, ông đứng dậy nói trong hai hàng nước mắt:

- Ðịnh mệnh oan nghiệt! Ðịnh mệnh oan nghiệt! Thế là hết! Anh em tan hàng và thoát khỏi vùng này gấp! Chiến xa địch có thể đang rất gần!

- Sao dễ dàng vậy ông thầy? Mơ hay thực ông thầy! Hỏa ngục An Lộc mình coi như pha! Sao bay giờ chưa bắn phát đạn lại tan hàng? - Tổng thống đã bó tay hàng, lệnh chúng ta buông súng. Làm sao chuyển xoay thế nước? Làm sao xoay chuyển lịch sử? Công chuyện bây giờ là cứu mạng anh em? Anh em nghe rõ?

Không khí im lặng, tịch mịch, thê lương. Không một ai trả lời. Một thứ im lặng nặng nề, uất nghẹn. Tư bỗng lên tiếng:

- Không! Tụi em nghe rõ nhưng không buông súng! Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng là chuyện của ông Dương Văn Minh. Tụi em không thể quăng súng! Biệt Kích Dù không bao giờ quăng súng! Ông thầy mặc tụi em!

- Thế cậu làm gì?

Tư không trả lời người chỉ huy của mình. Anh đứng phắt day chào tay người đơn vị trưởng và bỏ ra khỏi phòng:

- Vĩnh biệt ông thầy và anh em!

Ðây là lần đầu tiên trong đời binh nghiệp mà Tư hành sử như vậy đới với cấp chỉ huy. Ðơn vị trưởng Tư lặng lẽ nhìn Tư đi cho đến khi bóng anh khuất ở một góc đường dẫn về vị trí công sự phòng thủ của toán Tư trách nhiệm. Ông thở dài và mọi người giải tán.

Thiếu úy Tư về vị trí anh em đang bố trí chờ địch. Họ thấy nét mặt Tư như căng ra, căng thẳng và quyết liệt. Anh nói với anh em:

- Thằng cha Minh Bự ra lệnh buông súng rồi! Mấy ông đại bàng lớn nhỏ đã chấp nhận lệnh của Dương Văn Minh. Tôi thì không. Anh em nào theo tôi thì gom hết súng đạn và M72 xếp hàng theo tôi. Anh em nào nặng gánh gia đình thì ngay từ lúc này, bẻ súng, hay chôn súng, rời khỏi nơi đây gấp! Tôi còn chỉ huy anh em. Ðây là lệnh! Lệnh sau cùng trước khi chia tay!

Thầy trò Thiếu úy Tư nhom vào nhau, ôm nhau, kẻ khóc, người gạt nước mắt khi chia tay. Tư gom còn lại anh em khoảng một bán tiểu đội chịu ở lại với Tư, mỗi người hai ống M72, lựu đạn, súng cá nhân và ba lô. Tư dẫn anh em di chuyển nhanh về xứ đạo Kim B... Ðó là quê quán của một số anh em trong toán không buông súng của Tư. Tư đưa anh em lẩn vào một dãy nhà quen. Dãy nhà chỉ còn lại một bà cụ già:

- Bác Tám! Cháu là Vũ Văn Tư! Bác còn nhớ cháu? Bà con đâu hết rồi?

- À, tôi nhớ rồi! Cậu Tư Biệt Kích Dù! Cậu Tư về đây làm gì, bà con tản cư về Sài Gòn, vì nghe nói cộng sản có thể vô đây! Mà mấy cậu đói không?

- Sáng giờ tụi con chưa có gì trong bụng hết...

- Còn nồi thịt kho sau bếp. Tôi nấu nồi cơm cho mấy cậu ăn!

Mặt tiền nhà thờ Kim B... bên trái là cột cây số 6 tính từ Biên Hòa lên, bên phải là những căn nhà dân bỏ hoang, cách đó không xa là trường tiểu học Hải Phòng có một địa thế che khuất thuận tiện cho một cuộc phục kích. Tư ra lệnh anh em đào hầm và ngụy trang gấp để sẵn sàng cho một cuộc tấn công chớp nhoáng và rút nhanh theo kế hoạch.

Các Biệt Kích Dù còn lại mặt trận không có lệnh hành quân do Thiếu úy Tư chỉ huy, không có đại bàng trên trời, dưới đất, cũng không có hệ thống truyền tin, không Tổng Tham Mưu, không dinh Ðộc Lập... Chỉ có thầy trò Tư, Văn, Lễ, Hùng, Sự và Bảy đang dàn trận đối đầu với Bắc quân vào xế 30 tháng Tư, 4 tiếng đồng hồ sau lệnh cho quân đội buông súng của tướng Dương Văn Minh. Lúc này, trên mặt những Biệt Kích Dù không còn nước mắt buổi sáng, mà mặt họ lại đăm đăm chờ giặc như những lần phục kích năm xưa, bất chấp cái gì xẩy ra cho họ.

Tư phân phối vị trí tác xạ cho từng anh em và chỉ thị:

- Trận này chỉ sài M72! Không dùng súng nhỏ và lựu đạn, thứ này chỉ để tự vệ trên đường tàng hình mà thôi! Nếu địch xuất hiện trong tầm hiệu quả, xe nhỏ và Molotova vận tải, chơi trực xạ một M72. Nếu T54, tập trung tối thiểu là 2 M72 một chiếc cùng lúc để con cua bị rang muối ngay tức khắc, nếu nó còn sống, nó quay đại liên thì mình không thoát được theo kế hoạch, không về được với vợ con. Tất cả phần đuôi của đoàn xe địch còn lại, chơi xả láng tất cả M72 còn lại vào mục tiêu, kể cả bộ binh tùng thiết... Và tàng hình thật nhanh trước khi địch tỉnh hồn phát giác vị trí tấn công và đường thoát của tụi mình!

- Rồi sau đó tụi em gặp Thiếu úy ở đâu?

- Tại nhà thằng Hùng ở Ngã Ba Hàng Xanh tối ngày mai nếu tụi mình không thằng nào rách áo hay đi phép dài hạn! Nhưng mình chơi cú này như ma như quỷ, bố tụi nó cũng không ngờ! Nhớ! Tụi mình phải gặp nhau lần cuối trước khi chia tay mà không biết bao giờ gặp lại!

Ðúng như nguồn tin hôm trước và dự đoán hôm nay, dưới ánh nắng gay gắt, trước nhất là một chiếc jeep đi đầu, ngay sau là tiếng xích sắt nghiến trên mặt đường của một chiếc T54 nòng đại bác kềnh càng chỉa về trước, hai bên hông xe là một số bộ đội, có cả du kích dép râu có lẽ lần đầu tiên được "cưỡi" xe tăng, rồi tiếp theo là 2 chiếc Molotova đầy bộ đội miền Bắc và du kích dép râu, mũ tai bèo, lá ngụy trang. Họ di chuyển dường như khá chủ quan là sau cả buổi lệnh buông súng của Dương Văn Minh loan báo trên đài, các ổ kháng cự của quân đội VNCH đã rời vũ khí, bỏ trống chiến trường. Họ chuyển quân như đi duyệt binh, như phô trương lực lượng.

Tư và bán tiểu đội Biệt Kích Dù chỉ chú ý đến phần đầu kể từ chiếc xe jeep để có thể tấn công chớp nhóng và rút nhanh trước khi địch hoàn hồn. Ðoàn xe tiến ngày càng gần vào vị trí ổ phục kích. Tư bình thản nói nhỏ vào tai các xạ thủ:

- Jeep có sĩ quan đi đầu, cậu chơi chính xác 1 quả cho tôi!... Chiếc T54 kế, hai cậu chơi hai quả trực xạ ngang hông cùng một lúc!... Hai Molotova đi sau, mỗi chiếc một quả chính xác cho tôi!... Các ống phóng còn lại, các cậu xả láng hết vào bất cứ đoàn xe hay đám tùng thiết nào xuất hiện trong tầm tác xạ! Và ngay sau đó, biến nhanh theo tôi! Không chần chờ ở lại xem kết quả! Hổ nhanh như ma như biến mới sống!

Tiếng xích sắt chiếc T54 nghiến đường kềnh càng mỗi lúc một gần. Chiếc jeep có một sĩ quan cấp đại tá và hai nhân viên truyền tin cùng chiếc T54 vừa lọt vào tầm tác xạ hữu hiệu, có thể nói là quá sát vị trí phục kích, Tư ra lệnh khai hỏa.

- Ầm!

Một vệt lửa vụt đi, quả M72 lao như điện xẹt vào mục tiêu. "Tiến về Sài Gòn. Ta giết sạch giặc thù" chưa thấy đâu, nhưng chiếc jeep đi đầu bị thổi tung lên như con diều giấy bốc cháy. Bị tấn công bất ngờ, chiếc T54 hoảng hồn nã một phát đại bác lên tháp chuông nhà thờ. Tháp chuông bị vỡ sụp một góc. Nhanh như chớp, trước khi đại liên và đại bác tác xạ vào các vị trí nghi ngờ khác, hai quả M72 phóng thẳng vào hông phải chiếc T54:

- Ầm! Ầm!

Chiếc T54 lật ngửa sang một bên, bốc cháy bên vệ đường. Ba quả M72 tấn công quá nhanh, chỉ trong vòng không tới 30 giây, bộ đội Bắc Việt và các du kích bám trên xe không phản ứng kịp, bị văng xuống như sung rụng. Trong một tích tắc tiếp theo đó, hàng loạt M72 phóng thẳng vào hai chiếc Molotova chở đầy lính đủ loại, nón cối, mũ tai bèo và vài chiếc đi sau.

- Ầm! Ầm! Ầm...!

Nguyên một đoạn đường còn lại trong tầm tác xạ của M72 bỗng chốc thành bãi chiến lửa khói đầy xác xe và người chết. Tiếng súng AK khai hỏa từ phía sau đoàn "con-voi" nhưng họ không biết họ bị tấn công từ đâu. Không một tiếng súng nhỏ M16 bắn trả. Bỗng chốc chiến trường thành một thứ chiến trường im lặng chết người. Trong cái khoảnh khắc im lặng mà Bắc quân còn nằm chết dí trên mặt đất bắn lung tung, chưa nắm vững tình hình địch và thiệt hại của các chiếc xe đi đầu, bán tiểu đội Biệt Kích Dù đã biến đi tự lúc nào.

Sau khi không nghe thấy gì nữa, các đơn vị Bắc quân và chiến xa còn lại thận trọng dàn quân thành một vòng cung bọc tròn khu vực nhà dân, nhà thờ và trường tiểu học. Họ di chuyển chậm và họ nghĩ rằng trận phục kích kế tiếp sẽ diễn ra. Nhưng không! Tiếng nổ lác đác còn lại chỉ nghe thấy từ lòng chiếc T54 với những đạn loại nhỏ bị cháy và còn phát nổ. Vòng vây khép lại như một mẻ lưới, càng lúc càng nhỏ dần.

Bắc quân uất giận bắt đi vị linh mục già chánh xứ co ro trong nhà thờ và mấy người dân đau ốm tá túc trong nhà thờ. Họ lục soát trong nhà dân, bắt thêm vài người. Tháp chuông nhà thờ đổ nát nhưng tượng Chúa và tượng Ðức Mẹ vẫn còn, một tên VC lia vào tượng một tràng AK và ra ngoài, hắn lầm lừ như con hổ bị trọng thương. Một tên chỉ huy hạch hỏi hai người dân điều gì không rõ, song sau đó, họ bắn cả hai ngay trước cổng nhà thờ.

Toán quân cộng sản tiếp tục di chuyển, áp tải theo linh mục chánh xứ và những người dân vô tội, đến ngay tại cây số 7, họ dừng chân, họ bàn chuyện gì không biết, nhưng sau đó họ lôi ra bắn tiếp 2 người nữa và vứt xác bên vệ đường. Người dân miền Nam, những người bị bắt còn sống chưa bị hành quyết tại cây số 7, những người còn sống trong các nhà bên đường... kinh hoàng, vài người đã la hét trong cơn hoảng loạn tâm thần. Họ thấy cái chết lắc lư trên đầu họ. Và dường như Bắc quân thấy một cái gì không ổn trong hành động của họ trước những tiếng gào thét tuyệt vọng của đồng bào, họ ngưng hành quyết những người còn lại.

Trên quốc lộ 1, đoạn đường từ cây số 6 trước nhà thờ Kim B đến cây số 7 cũng chính là một phần của đoạn đường "Tiến về Sài Gòn, ta giết sạch giặc thù!" Bài hát "Tiến về Sài Gòn" của Huỳnh Minh Siêng đã hiện thực trên những vũng máu của người dân vô tội.

Ngày 1 tháng 5, thủ đô Sài Gòn tang tóc. Chiều, gió nhe ïthổi từ sông Sài Gòn như hơi thở tàn hơi trên từng sợi tóc của những người dân phờ phạc, âu lo, trên từng tàng cây hai bên đường như cảm nhận một mùa xuân tang tóc. Sài Gòn thoi thóp thở. Ðâu đó, người ta thỉnh thoảng còn nghe tiếng súng, tiếng lưu đạn nổ. Tiếng nổ của những người tự tử chết theo thành. Tiếng súng của những anh em còn chiến đấu tuyệt vọng từ những hẻm hóc giữa thủ đô liệm chết.

Tư lần mò đến địa điểm hẹn anh em ở Ngã Ba Hàng Xanh. Thầy trò Tư lặng lẽ ôm nhau, cùng nhau ăn một bữa cơm ly biệt sau cùng. Tư bùi ngùi nói với anh em:

- Trách nhiệm của chúng ta đối với Tổ Quốc đã tròn. Không ai lệnh cho chúng ta phải đánh trận sau cùng khi Dương Văn Minh đã đầu hàng. Tôi tạ ơn Thiên Chúa, tạ ơn Ðức Mẹ đã bảo bọc chúng ta để còn gặp đủ anh em đêm nay. Nhưng ngay trong đêm nay, tôi không còn là người chỉ huy anh em, anh em mỗi người tự thay tên đổi họ để về nguyên quán, lo cho gia đình, vợ con. Tôi sẽ còn ở lại Sài Gòn ít hôm coi tình hình, và có thể trở lại coi tận mặt chiếc T54 bị bắn cháy trước khi về lại Cao nguyên.

- Em còn độc thân! Ông thầy cho em ở lại và tháp tùng ông thầy!

- Không! Em về với bà cụ! Tình hình vô cùng nguy hiểm! Thôi, chúng ta chia tay! Coi chừng mấy thằng 30 nằm vùng!

Ðèn trong trong phòng vụt tắt. Bán tiểu đội Biệt Kích Dù không còn quân phục, không còn vũ khí của thiếu úy Vũ Văn Tư ôm nhau trong bóng tối. Người ta không thấy nước mắt, chỉ nghe những tiếng nấc ly biệt, nghẹn ngào...

Mấy hôm sau, Tư lẻn về lại Hố Nai một mình. Ðịch vẫn chưa áp đặt gắt gao sự kiểm soát trong vùng. Tư mặc đồ rách rưới như một nông dân lần đến thăm nhà thờ Kim B và khu vực trận địa. Tư lựa một góc nhà khuất, dựa lưng nhìn chiếc T54 và xác chiếc jeep nằm tan nát bên cạnh. Tư được biết một sĩ quan cấp đ?i tá và hai người lính truyền tin đã tử thương trong trận phục kích, số thương vong trên các chiếc Molotova và đoàn quân phía sau không rõ. Về lại Sài Gòn, Tư gặp một số bạn thân kể lại trận đánh và anh biến mất khỏi Sài Gòn sau đó.

Một năm sau, Tư hoàn toàn thay tên, đổi họ và sống như một người dân không biết gì về lính tráng. Lặng lẽ, âm thầm, uất ức và chán đời về sống ẩn dật về sống ở Cao nguyên. Thiếu úy Biệt Kích Dù Vũ Văn Tư đã không còn trên cõi đời. Dần dà, anh trở thành người thất chí rồi mất trí. Anh không điên, nhưng người nhà cho biết anh Tư ngày nào cũng như ngày nào, suốt ngày cứ lầm bầm... những câu " Tại sao đầu hàng? Tại sao đầu hàng? Quân phản bội! Quân hèn nhát! Tại sao đầu hàng? Tại sao đầu hàng?..." Và trong một đêm mưa Cao nguyên sấm động rung trời như hét lời hận uất giữa không trung, mưa như trút nước, anh Tư nằm liệt giường, mê sảng. Trong cơn mê, anh cũng cứ thều thào... " Tại sao đầu hàng? Tại sao đầu hàng?..." Và sáng hôm sau, anh nằm yên, vĩnh viễn ra đi không bao giờ trở lại.

Thiếu úy Biệt Kích Dù Vũ Văn Tư mất năm 1976 dưới một cái tên hoàn toàn xa lạ, không vinh thăng, không phủ cờ, không huy chương, không một cánh hoa dù có mặt cạnh áo quan. Anh nhắm mắt nhưng mối hờn không chết trên quê hương, và chỉ một mình anh mang theo niềm hận uất khôn nguôi của riêng mình xuống đáy huyệt sâu. Khối hờn chung trong hơn ba mươi năm vẫn còn vẫn còn bàng bạc trên từng ngọn cây tấc đất... dẫu dấu tích của cuộc chiến bi hùng đã tàn phai theo tháng, theo năm.

Hải Triều / Trung Nghĩa

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Cám Ơn Anh - Người Thương Binh VNCH

Chiến tranh đến người lính không muốn bởi vì bản chất dân tộc Việt Nam không hiếu chiến. Chiến tranh đi vào căn nguyên cội nguồn là do sự tham lam của chủ thuyết Cộng Sản, bởi một thiểu số lãnh đạo sống với giấc mơ hoang tưởng ban đầu khi mang ý tưởng quốc hữu hóa cuộc sống người dân để mọi người được bình đẳng, cho một thế giới vô sản, không giai cấp. Và từ đó qua những nhà lãnh đạo tham lam và cuồng tín tại miền Bắc Việt Nam đã xua quân xâm chiếm Miền Nam. Miền Nam phải tự vệ, người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) mang vai trò bảo vệ từng tất đất quê hương.

Sở dĩ chúng tôi phải nhập đề về vai trò của người lính VNCH là vì Miền Nam đã có chánh nghĩa như thế ngay từ nguyên thủy của vấn đề, tức họ có tư thế tự vệ chính đáng. Trong cuộc chiến tự vệ bảo vệ bờ cõi, khi chúng ta nhìn về những thiệt thòi, những khổ đau của người lính VNCH trải qua trong cuộc chiến và cũng như sau cuộc chiến, chúng ta sẽ phải ngậm ngùi cho những điều phi lý nhất đã theo đuổi, ám ảnh cuộc sống đầy gian truân của họ, đặc biệt là số phận người thương phế binh VNCH. Trong thời chiến, nói về khía cạnh kinh tế đời sống thì mức lương của người lính tác chiến đuợc trả theo thời giá bằng con số phụ cấp 4.500 đồng VNCH cộng thêm vào mức lương căn bản (quân nhân không tác chiến không có phụ cấp này). Lương trung bình một người Binh Nhì khoảng 18,000 đồng, phụ cấp vợ 2,000 đồng, mỗi con 1,000, nếu tác chiến được nhận thêm 4,500 đồng. Nếu tính hối xuất mỹ kim thời đó thì thật sự lương người lính cộng phụ cấp các thứ kế cả tiền gộp lại tất cả không quá 20 mỹ kim một tháng. Người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa dĩ nhiên chấp nhận túng thiếu đến đỗi mức ăn của một chiến sĩ không thể cứ mỗi ngày mua nỗi một tô phở như chúng ta đang sống tại Mỹ, Úc hay Canada.

Để các bạn trẻ ra đời khi còn quá nhỏ hay sau cuộc chiến có thể có một ý niệm về sự so sánh đơn giản mức sống nghèo khổ của người lính và gia đình so với thời giá lúc đó, chúng ta định tiêu chuẩn bằng mỹ kim. Nếu là hai vợ chồng người lính chưa có con, thì mỗi ngày họ chỉ được phép “ăn xài” tối đa là 1 mỹ kim cho tất cả các khoản thực phẩm tối thiểu như gạo, muối, đường, nước mắm,... và linh tinh, thông thường ăn rau ăn độn với cơm, vì thường đến thăm những gia đình quân nhân quen chúng tôi thấy họ ăn đạm bạc như rau chấm với nước mắm kho quẹt hay cơm chấm muối mè. Nếu là một gia đình 4 người thì mức tiêu xài là 1,5 mỹ kim. Như vậy với đồng lương 20 mỹ kim một tháng chỉ có thể sống sót được tối đa có 20 ngày, còn 10 ngày cuối cùng kia thì chính người vợ và đàn con phải xông pha ra ngoài chợ đời làm lụng thật vất vả để bù đắp vào. Cuộc đời đen tối cứ thế kéo dài mãi, giá sinh hoạt ngày càng tăng vọt vì nạn lạm phát. Một đô la Mỹ đổi được 500 đồng VN trong những năm cuối cùng của thập niên 1970, nhất là năm 1975 nó đã leo lên đến 1,800 đồng VN. Đó là chưa kể đến những nhu cầu cần thiết khác cho đời sống như thuốc men, quần áo, thuốc hút, nhu cầu cho con cái đi học,… đòi hỏi phải chi tiêu rất nhiều tiền bạc. Người lính sẽ thiếu thốn triền miên. Trong hoàn cảnh khó khăn như vậy mà những người chiến sĩ vô danh khiêm nhường ấy vẫn đánh giặc, vẫn ôm ấp lý tưởng bảo vệ giang san bờ cõi quốc gia, và họ đã đánh thắng những trận thật lớn và thật lừng lẫy, rúng động thế giới và cả quân thù cũng phải khiếp vía run sợ. Những người anh hùng của dân tộc Việt Nam ấy đã câm nín, nhẫn nhục, không kêu ca nề hà, bản thân họ gánh vác trên vai cả một trách nhiệm nặng nề, nhiều khổ ải và triền miên chất chứa trong lòng nhiều nỗi lo lắng khôn cùng cho gia đình ở quê nhà. Họ dũng cảm xông vào những cơn bão lửa tàn khốc nhất của chiến tranh từ Bình Giả, Đồng Xoài đến Mậu Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa, và trong cuộc chiến như vậy, chúng ta thấy rằng người lính đã chia một nửa trái tim hiến dâng bảo vệ Tổ Quốc, một nửa trái tim gửi về hậu phương cho gia đình vợ con.

Bài viết này chúng tôi muốn nghĩ đến những anh em thương phế binh (TPB) VNCH, hiện còn ở quê nhà chịu những ngậm ngùi đắng cay nhất sau biến cố đau thương 1975. Những cựu quân nhân bị thương phế còn một chút may mắn đuợc trở về với vợ con hay cha mẹ, sống chuỗi đời còn lại vá víu trong quên lãng của đời nghiệt ngã bằng đủ thứ nghề quá vất vả, nếu được như vậy họ cũng tìm thấy một chút niềm vui của mái ấm gia đình. Nhưng đối với những chiến sĩ thương phế kém may mắn hơn, họ đã chịu những bất hạnh, cô đơn vì gia đình ly tán, xã hội ruồng bỏ và rồi họ không còn nơi để trở về, hoặc không muốn trở về để trở thành gánh nặng cho những người mà họ yêu thương, hoặc bị chính gia đình bỏ rơi. Các anh lính TPB không có niềm vui nào để từ đó gắng gượng sống một cuộc sống lây lất bao phủ bởi những tủi thân, mặc cảm tật nguyền bị lãng quên. Các anh sống hiện tại mà cũng không có, thì nói đến tương lai làm gì? Các anh sống lang thang vất vưởng dưới những mái hiên, gầm cầu, ống cống, bãi tha ma, mái chợ, v.v.. Tiếng hát nấc nghẹn tủi nhục của các anh vang lên trên những chiếc xe đò ầm ĩ lao xao tiếng rao hàng của những người cũng nghèo như các anh, trên những lối chợ sình bùn, trước những quán ăn đông đảo những khuôn mặt mập bóng, đỏ au thừa thãi rượu và thịt, hay trên những đuờng phố nghìn nghịt xe cộ và đầy dẫy màu sắc ăn chơi. Một xã hội vô lý do nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam (CSVN) gây ra và xã hội như vậy, chẳng những bạc đãi chính các anh, mà còn buôn bán cả tương lai vợ con các anh cho ngoại nhân.

Chúng ta còn nhớ trong và sau ngày 30.4.1975, những chiến sĩ mang thương tích hay các thương bệnh binh nằm điều trị trong các quân y viện bị quân giặc xua đuổi đi một cách tàn nhẫn. Xã hội văn minh như trong Thế Chiến Thứ II khi quân Đức Quốc Xã bao vây Quân Đồng Minh, họ tôn trọng qui ước chiến tranh, họ cho tải thương các thương bệnh binh. Còn đối với CSVN như bản chất của sách lược nuôi sự trả thù nhỏ mọn, họ có những hành vi thú tính, man rợ nhất được áp dụng. Có thể nói không ngoa họ không cần biết gì đến hành vi nhân đạo hay đạo lý của tình người, hay tình dân tộc đồng chủng với nhau. Dưới mắt người CSVN, những người ở bên kia chiến tuyến luôn luôn là kẻ thù cần phải bị tiêu diệt. Nếu vì lý do gì đó mà họ chưa hủy diệt được hết một lúc trong thời chiến, thì ngay từ những giây phút ngừng chiến này, họ sẽ tiếp tục giết dần mòn người lính Việt Nam Cộng Hòa, quá khứ cho thấy bằng nhiều phương cách hèn hạ nhất, nhiều cách thức khác nhau. Những tài liệu báo chí quốc tế ghi nhận khi CSVN bắt đầu xâm chiếm Sài Gòn từ các chiến sĩ bị thương tại các quân y viện, không cần biết tình trạng nguy kịch hay không nguy kịch đến tính mạng bệnh nhân, bị thương nhẹ hay thương nặng, các chiến sĩ VNCH bị xua đuổi phải ra khỏi giường bệnh, dắt díu nhau lê la trên các hè phố tìm đuờng về quê nhà. Những chiến sĩ bị thương quá nặng chỉ có thể nằm hấp hối bên vệ đường chờ chết. Những nhân chứng kể lại những túi nylon bọc lấy những mẫu ruột đã đen sậm và đầy bụi đất, hay những vết cắt lở lói ở những cánh tay hay ống chân có thể cho phép người thương phế binh lê về được đến nhà, dù là để chết trong tay vợ con hay trước sự chứng kiến của người thân.

Tôi là người lính Việt không may
Xếp bút nghiên theo cuộc chiến dài
Nào ai đoán biết được ngày mai
Phần số thương binh sau cuộc chiến
Lết cuộc đời lê nẻo tương lai
Ngậm ngùi vợ con sao tan vở?
Ngẩng mặt nhìn đời ngày lại ngày
Ai ơi có thấu lời bi ai?
TPB Cần Đước

Những anh thương phế binh may mắn sống sót sau cơn bão đỏ kinh khiếp này, may mắn được gia đình tìm ra và tiếp cứu kịp lúc đem trở về quê nhà, tiếp tục sống một cuộc sống mờ mịt, hẩm hiu vì không có hiện tại, không cả tương lai. Trước năm 1975, thương phế binh cam chịu sự thờ ơ của người hậu phương. Sau năm 1975, thương phế binh bị ném ra khỏi mọi sinh hoạt xã hội, là thành phần tang thương cùng cực nhất trong hệ thống bậc thang trị giá con người, mà lại là con người trong chế độ cộng sản. Các anh vẫn tiếp tục sống cuộc sống thầm lặng khổ đau trong tối tăm, trong đói rách bao nghịch cảnh ở những chỗ hạ đẳng tận cùng: từ ống cống, gầm cầu, hay đến những bãi tha ma. Niềm mơ ước duy nhất và rất nhỏ bé của các anh, là xin thượng đế nhủ lòng thương cho các anh kiếm đuợc đủ hay xin được thức ăn sống mỗi ngày. Có những anh lê lết những phần thân thể trên mặt đường lâu ngày những phần thân thể bị nhiễm trùng ung mủ lở loét. Nhìn những chiến hữu của chúng ta tang thương như vậy, chúng ta không thể không xót xa đau lòng. Nhưng thân tàn ma dại dó đã lê lết trên quê hương chúng ta, họ sống vô vọng. Những TPB có gia đình khá hơn thì có xe lăn, họ góp được chút vốn thì lăn xe đi bán vé số hay ngồi bán thuốc lá lẻ, đan sọt đan thúng, làm hàng thủ công, hoặc nuôi gà nuôi heo. Ngay cả chuyện nuôi con heo cũng là một mơ ước vô cùng lớn lao, tưởng không thể nào có thể thực hiện nỗi, nếu không có một phép lạ nào đó. Trong những hoàn cảnh cùng cực như vậy mà các anh vẫn cứ đều đặn chống nạng hay lăn xe lên Nghĩa Trang Quân Đội trên xa lộ Biên Hòa để chăm sóc mồ mả của những chiến hữu trong đó. Có còn nghĩa cử nào cao qúi hơn nữa không, để những người còn sống như chúng ta phải cúi đầu chào kính các anh?

Sống cuộc đời tủi cực, làm những người sống ngoài lề xã hội ngay trên đất nước của mình, nhưng những chiến sĩ thương phế Việt Nam Cộng Hòa vẫn an ủi nhau, vẫn nuôi dưỡng một niềm tin. Có nhiều anh chịu không nỗi nhục nhã đã nhảy sông, thắt cổ, hay bất cứ cách nào để chết. Nhưng nhiều anh đã cắn răng khuyên nhau cố gắng sống. Sống để chờ một phép nhiệm mầu nào đó cứu giúp cuộc đời khốn cùng. Thật kỳ diệu, mà cũng thật nghẹn ngào, các anh đã sống vật vờ và nuôi dưỡng niềm tin ấy đến hơn một phần tư thế kỷ. Cái điều được chờ đợi ấy đã bắt đầu hiện đến với các anh, dù mới chỉ là những đóm lửa còn le lói. Những người chiến hữu của các anh bên kia bờ Thái Bình Dương bắt đầu dấy lên những phong trào vận động quyên góp gửi quà và tiền về giúp đỡ cho các anh, dù rằng có người được, người chưa.

Từ những năm 1990 cho đến nay, đã có nhiều hội đoàn cựu quân nhân QLVNCH hay ngay cả nhiều hội đoàn dân sự, cá nhân, truyền thanh, báo chí ở Hoa Kỳ, Canada, Âu châu, Úc châu đã tổ chức những cuộc gây qũy và tích cực cổ động cho việc gửi tiền tương trợ cho các anh thương phế binh ở quê nhà. Những đóm lửa nhỏ này có thể một ngày không xa lắm sẽ bùng lên thành một ánh lửa lớn quy tụ đuợc nhiều tài lực, thêm nhiều phương tiện, từ đó có thể giúp đỡ chiến hữu bên nhà tích cực hơn. Hầu như là các hội đoàn của những quân binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đều có chương trình tương trợ cho các anh thương phế binh. Các bạn hãy cùng lắng nghe vài đoạn thư của Biệt Cách Dù Nguyễn Chí Linh từ Việt Nam, để thấy được nỗi niềm của những người anh em chúng ta, đẩ cảm nhận được ý nghĩa về việc làm của chúng ta: "... gia đình tôi, vợ và các con vui mừng, đứa nào cũng rơi nước mắt, riêng tôi thì vô cùng xúc động... số tiền quá lớn, tôi mua được hai con heo để nuôi, mỗi con 400.000 đồng Việt Nam. Tôi hy vọng là sau sáu tháng, heo bán sẽ có lời, tôi sẽ mua gà Tam Hoàng nuôi, có thu nhập thêm, chứ đời sống còn thiếu thốn lắm... Thành thật cám ơn Thầy và quí hội đã cùng nhau giúp đỡ cho đứa em còn ở lại Việt Nam nghèo khổ này".

Hội Bạn Của Thương Binh Việt Nam Cộng Hòa tại Pháp do ông Nguyễn Quang Hạnh làm Hội Trưởng cùng một số hội viên trong Ban Chấp Hành đã hoạt động rất tích cực trong công tác tương trợ các anh thương phế binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ hơn mười năm qua. Hoạt động của Hội ngày nay đã được biết đến trong cộng đồng người Việt ở châu Âu nhờ Ban Chấp Hành đã cho lưu hành những đặc san NẠNG GỖ để gởi đến đồng bào những bài viết, những hình ảnh tàn phế của những người thương binh ở quê nhà, danh sách thương phế binh xin được giúp đỡ, những lời kêu cứu và hình ảnh thảm thương trong cuộc sống bị vất bên lề xã hội của các anh. Ông Hội Trưởng Nguyễn Quang Hạnh cùng những vị có cùng tấm lòng nhân ái hướng về các anh thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa đã luôn dằn vặt trong lòng nỗi xốn xang:

Khẳng định rằng ngày 30.4.1975 là ngày đại họa, một cái tang lớn phủ trùm xuống đồng bào Miền Nam. Quyền sống của con người không còn nữa, tiếp theo là sự trả thù của chế độ mới tiến hành đối với những người phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Đau thương và tủi nhục hơn hết, tột cùng đau khổ nhiều hơn hết là những anh em thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa. Đó là những người lính chiến đã từng hy sinh và chịu nhiều gian khổ ngoài chiến trường bởi lý tưởng tự do, vì sự sống an bình cho đồng bào ở hậu phương. Các anh đã không may bị súng đạn cướp mất một phần thân thể, lại bị chế độ kỳ thị, phân biệt đối xử, cuộc sống của các anh bị đặt ra ngoài lề xã hội thực tại. Từ hơn 30 năm qua, đối với gần ba triệu người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại này, sự kềm kẹp, kiểm soát của CSVN về mọi biện pháp giúp đỡ các anh TPB, và chính vì thiếu sự nhân đạo đã gây khó khăn cho việc giúp đở TPB của VNCH một cách công khai.

Trong tình thế mới khi đảng CSVN càng o bế quốc tế, sự chấp nhận cho giúp đỡ các anh em TPB có phần khá hơn, Hội Bạn Của Thương Binh Việt Nam Cộng Hòa đã kêu gọi và đã nhận được rất nhiều sự hưởng ứng nồng nhiệt của người Việt ở Pháp và nhiều nước châu Âu. Nhờ sự giúp đỡ này, Hội đã có thể gởi về các anh thương binh ở quê nhà những món tiền tình nghĩa, nhiều chiếc xe lăn tay. Những đồng tiền của đồng bào hải ngoại gởi về cho các anh thương phế binh và gia đình đâu đã là nhiều, nhưng khi nó đến đúng lúc thì cũng có thể giúp cho các anh một niềm vui nhỏ và vượt qua được hoàn cảnh thắt ngặt. Thư cảm ơn của các anh gởi sang rất nhiều với những giòng chữ đơn sơ diễn tả những lời chân thành mộc mạc từ tận đáy lòng của các anh. Có còn cảnh ngộ tuyệt vọng tận cùng nào hơn nữa không đối với anh Võ Văn Huề như trong bức thư này:

"Tôi ký tên dưới đây là Võ Văn Huề, hiện ở tại số 97, Khối 5. Thị trấn Kiến Đức – Dak Rlăp – Đăk Lak – Việt Nam

Kính gởi: Hội cùng Ân Nhân.

Tôi nhận được thư của Hội ngày 21.7.2002, còn tiền vào ngày 27.7.2002. Nay tôi viết thư này để Hội biết lòng biết ơn sâu nặng của tôi. Đối với bản thân, tôi phải khóc, không thể nói hay viết hết lời cho Hội và ân nhân, hội đã hiểu nên tôi không viết thêm. Hiện gia đình tôi có 6 con, đứa đầu đi không vững, nói không rõ, không lớn được và không biết chữ. Còn 5 cháu sau vì đông nên việc học rất khó khăn. Nếu bên đó ai có nhu cầu xin con nuôi, gia đình đồng ý cho không điều kiện,
Một lần nữa xin nói lên lòng biết ơn sâu nặng của gia đình tôi đến với Hội và ân nhân đã cho gia đình tôi có sự sống lẫn tinh thần. Xin chúc Hội và ân nhân được nhiều ơn riêng của trời đất.
Kính thư.
Huề."

Mẹ Việt Nam ơi, đồng bào ruột thịt ta ơi hãy cùng cứu lấy những linh hồn cô đơn bị lãng quên! Anh em chúng tôi viết bài này vì mùa Xuân 2006 những tổ chức khắp nơi Âu châu, Úc và Bắc Mỹ đã gia tăng nỗ lực cứu giúp. Những đoàn thể tại Nam và Bắc Cali đã gây quỹ lạc quyên cho các anh em Thương Phế Binh. Chúng tôi vừa được biết sẽ có một Đại Nhạc Hội tại Nam Cali, ngay thủ đô của người tị nạn Việt Nam, Đại Nhạc Hội mang tên: "CÁM ƠN ANH - NGƯỜI THƯƠNG BINH VNCH".

Cầu mong những điều tốt đẹp nhất đến cho các anh Thương Binh VNCH. Đồng bào tại hải ngoại sẽ không quên các anh, chúng ta sẽ gặp nhau một ngày không xa, cầu mong các anh sẽ tiếp tục hiện hữu chứng kiến sự cáo chung của những người đi ngược lại ý nguyện của dân tộc Việt Nam. Sau cùng anh em chúng tôi xin kết thúc bằng bài thơ dành cho các anh:

“Xưa đồng đội như rừng
Gót giầy vang mặt phố
Nay xa cách muôn trùng
Một thân nơi xó chợ
Những người ba mươi năm
Thoảng như cơn mộng dữ
Còn một khúc thân tàn

Vinh danh ngày tháng cũ"
(Trích “Tạ Ơn Anh”, thơ Đỗ Tiến Đức)

Phạm Phong Dinh và Trần Việt Hải, May 28, 2006

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

THÂN PHẬN NGƯỜI THƯƠNG PHẾ BINH VNCH
SAU 31 NĂM QUỐC HẬN



MƯỜNG GIANG
Phế Binh QLVNCH cấp độ tàn phế 75% có cấp dưỡng


Kính tặng tất cả TPB.VNCH và Những ân nhân đã và đang cưu mang giúp đỡ Họ.
(Riêng Hội Thân Hửu Bình Thuận tại Bắc CA cùng Quý Ô. Nam Lộc-Việt Dũng và Việt Hải)


ImageImage


Những ngày tháng tư năm đó, không biết sao mà trời bổng đổ mưa thật sớm và lớn hơn bao giờ hết. Mưa làm ngập những chiếc hố tránh đạn và giao thông hào của những người lính trận, tại các chiến trường máu lệ Phước Long, Phan Thiết, Long Khánh,Hậu Nghĩa, Long An, Phước Tuy, Biên Hòa và Sài Gòn.



Trong cơn mưa nước mắt năm ấy, có máu, thây người và xác của những cánh hoa học trò, làm nhuộm hồng áo người lính và đồng bào chiến nạn, chạy theo cơn mưa, mịt mù đạn pháo.



‘ Bồ Đào mỹ tửu, dạ quang bôi
dục ẩm tỳ bà, mã thượng thôi
tuý ngọa sa trường, quân mạc vấn ?
cổ lai chinh chiến, kỹ nhân hồi ‘



Bốn câu thơ cổ trong bài ‘ Lương Châu Từ ‘ của Vương Hàn (687-726), tự Tử Vũ, người Tấn Dương, tỉnh Sơn Tây, cũng là một trong những thi gia nổi tiếng đời nhà Đường, đã nói lên thân phận của người lính chiến, sống và chết không có biên giới, nên mấy ai dám nghỉ tới chuyện trở về ? Và giọt mưa nào đây, vừa lăn trên má , đã khiến cho người lính già bồi hồi nhớ lại, một thời chinh chiến củ, những căn hầm tránh pháo ngập mưa, những nấm đất đào đấp vội vàng, để vùi bạn vữa ngã gục và những thương binh rên xiết, đang chờ cấp cứu.



Tất cả đã thành cổ tích..Giờ chỉ còn biết ngồi đây mà nhớ lại những ngày xa củ. Chúng ta, tất cả đều là những người VN tội nghiệp, trót đầu thai lộn trong thế kỷ này, nên đã cùng nối vai lần lượt bước lên những giàn lửa đỏ. Cuối cùng, kẻ chết thì bị dầy mồ, tan xác, còn người sống, nếu không sống kiếp mây chiều lang thang, thì cũng lết lê phận bèo trong vùng giặc chiếm, để gục đầu thương hận, mà khóc cho quê hương vì đâu máu xương chất ngất, vì đâu mà kiếp sống của con người, tới nay vẫn không bằng cây cỏ bên đường.



Tất cả chỉ còn là kỷ niệm trong nhớ , vào những ngày đầu đời, mẹ bỏ con trong gánh, dầm mưa chạy loạn, giữa tiếng bom đạn, máy bay gầm thét, của Việt Minh và Pháp. Tóm lại, chúng ta đều ra đời và trưởng thành trong tiếng súng, cùng với bom đạn làm rách vở da thịt của quê hương. Rồi cũng vì người, vì ‘ tang bồng hồ thỉ, nam nhi trái, mà giôc ngước cả tuổi trẻ, đời trai, vào cốc men đắng cay, uống cạn hạnh phúc của chính mình.
Đất nước hai mươi năm chinh chiến, hai mươi năm dài hờn hận, đã dày vò người lính miền Nam , trong mưa bom đạn xéo trùng hằng Rốt cục những người nằm xuống, những kẻ ra đi hay ở lại chịu cảnh ngục tù khổ sai của VC, ai nấy cũng đả trả xong cái nợ ‘ da ngựa bọc thây ‘, tủi nhìn từng trang lịch sử của nước nhà, bị giặc thù bôi nhọ và khép kín.



Trưa 30-4-1975 Sài Gòn thất thủ, miền Nam VN từ bên này cầu Hiền Lương, trên sông Bến Hải, chạy ngang vĩ tuyến 17, tới mũi Cà Mâu, đã chính thức thuộc về lãnh thổ Xã Hội Chủ Nghĩa, đệ tam quốc tế cọng sản, có tổng đài ở tận Nga Sô. Viết. Cũng từ giơ phút đó, khi mà chiếc mặt nạ hòa bình của người cọng sản đã cởi, để lộ những khuôn mặt thật của các thây ma vô hồn, lạnh băng và hung hiểm, thì cũng là lúc, đồng bào mới sực tỉnh và thương tiếc người lính VNCH. Nhưng than ôi tất cả đã muộn rồi, họ đã ngã gục , không phải tại chiến trường vì đạn pháo của VC, mà ngay trên hè phố Huế, Đà Nẳng, Phan Thiết, Sài Gòn..bởi chính những viên đạn ích kỷ, hám danh, những miệng lưỡi ngòi bút, của chính phe mình.



Ai chẳng một lần về với đất ? khác chăng là sớm hay muộn, vinh với nhục và sống chết sao cho ý nghĩa của một kiếp người. Chỉ tội nhất là những người lính chưa chết nhưng coi như đã chết vì thương tật chiến trận và những vết thương lòng. Họ không chết mà chỉ bị thương nặng và tất cả đã gởi lại chiến trường một phần thịt da của mẹ, ở Khánh Dương, Tháp Chàm, Phan Thiết, Xuân Lộc..và ngay tại Sài Gòn, vào lúc mà cây cột đèn cũng muốn chạy, để khỏi bị VC giết chết. Họ ở lại làm vật hy sinh, cản xe tăng, hứng đại pháo của giặc thù, để kiếm thêm một chút thời gian, một bầu trời an toàn, một dòng sông lặng sóng, giúp cho mọi người , từ dân tới lính, bình yên di tản.



Nay thì từ quan tới lính, ai cũng kiếm cách đi khỏi quê nhà, bỏ lại những bóng ma của quá khứ và những người thương phế binh sống sót, tủi hờn, đang lê lết phận bèo khắp đầu đường xó chợ. Thời gian có thay đổi, lịch sử cũng sang trang nhưng thân phận của người thương binh và gia đình của họ, chẳng có gì mới lạ, vẫn lấy nước mắt làm mưa, rửa mặt hằng ngày. Buổi trước, khi VC tràn vào, họ bị bỏ lại ở những quân y viện , làng phế binh, không còn đại bàng, đồng đội và hậu phương. Bây giờ thì dần hồi chết đói, chết nhục trong thiên đàng xã nghĩa, trước sự xa hoa thừa mứa của VC, Việt Gian và Việt kiều muôn phương, vinh quy bái tổ, aó gấm về làng, mà trong dòng người đổi đời này, không làm sao mà đếm hết, những cấp chỉ huy và đồng đội củ.



‘ Có làm lính mới cảm thông cho kiếp lính nghiệt ngả, đoạn trường. Có làm dân thời ly loạn, mới biết được thế nào là mạng sống của con người, giữa bom đạn vô tình, héo úa còn thua cây cỏ. Có là người thương phế binh, sau khi xuất viện, bỏ lại một phần cơ thể, mới thật tội nghiệp cho tuổi trẻ bạc phước vô phần. Thê thiết tận cùng là đời của người lính về chiều lại còn mang thương tật. Hỡi ôi những mảnh đời cùng khốn ấy rồi sẽ đi về đâu, trong cảnh mưa gió phũ phàng của cuộc đời ?



‘ ngày xưa, là lính vì đời chiến đấu
là cầu đem người sang sông
hôm nay làm ma cô đơn, gục chết bên vệ đường ..’



1-THÂN PHẬN NGƯỜI THƯƠNG PHẾ BINH VNCH :

Đọc Congressional Record, một trong những tài liệu tuyệt mật của Tòa Bạch Ốc vừa được công bố, đẽ làm cho những lính già của VNCH phải cười ra nước mắt và thương xót cho những đồng đôi, đồng bào, suốt hai mươi năm qua, vì chiến đấu chống sự xâm lăng của Bắc Việt, mà chết oan hay bị mang thương tật do đạn bom và bàn tay VC gây ra. Những luật lệ kỳ quái như Lính Mỹ không được bắn VC, trừ phi chúng tấn công trước. Không lực Mỹ không được giội bom vào xe của VC khi chúng ở cách đường mòn Trường Sơn 200m. Phi cơ Mỹ không được tấn công phi cơ Mig nếu chúng không gây hấn, không giội bom các phi cơ VC đậu yên tại phi trường. Cuối cùng , nghiêm cấm quân Mỹ truy đuổi VC, khi chúng chạy sang Lào và Kampuchia..



Chính phủ Hoa Thịnh Đốn, chẳng những cấm Quân Lực Mỹ, Đồng Minh, VNCH không được thẳng tay tiêu diệt kẻ thù, mà còn báo trước những bí mật quân sự, quốc phòng cho VC biết trước, qua những lần oanh tạc tại miền Bắc, trên đường mòn HCM, hành quân Lam Sơn 719.. Đó là tất cả những sự kiện lịch sử có thật, được Thứ Trưởng QP Mỹ Phil Golding, thời TT.Johnson, trả lời thắc mắc của hàng ngàn gia đình tử sĩ Hoa Kỳ :’ Chúng ta đang tham gia vào một cuộc chiến giới hạn, với nhữn mục tiêu hạn chế. Nói chung đây là một cuộc chiến vì chính trị, nên không thể tiêu diệt VC được ‘.



Do sự phản ứng càng lúc càng đông của người Mỹ, trước cái gọi là ‘ đánh không cần thắng ‘, nên dân chúng đã xuống đường, đã đảo mà báo chí thời đó, gọi là do phản chiến giựt dây. Thật sự , người Mỹ đã quá chán ngấy cái trò đem con bỏ chợ, đem trứng cho ác, dai dẳng từ thời Kennedy, Johnson, kế đó là Nixon, nên đã giận dữ đòi Hoa Thịnh Đốn ‘ Hãy cút khỏi VN ngay, hãy chấm dứt cái trò chiến tranh nướng thịt dai dẳng vô ích này .’



Tóm lại qua cuộc chiến VN,do đầu óc con buôn, người Mỹ đã đánh mất tất cả mọi ý thức về trách nhiệm và danh dự, làm tiêu tốn hơn 150 tỷ mỹ kim tiền đóng thuế của dân chúng, hại cho 55.000 chiến sĩ bị chết oan và hơn 300.000 quân nhân các cấp bị thương tật. Trong khi đó, người lính VNCGH, dù là một quân đội bất hạnh nhất thế giới, theo cáo cáo của MACV , Command History hay Dwight Owen, một cố vấn Mỹ tại VN, thì đối với các quân nhân VNCH, CHỈ CÓ CHẾT, TÀN PHẾ HAY ĐÀO NGỦ, mới mong giải thoát được cái thân phận bọt bèo của người Lính chiến trong thời loạn lạc.



Ngoài ra, tài liệu cũng có nói tới việc lính Nam VM đào ngủ, nhưng không phải họ đầu hàng VC, mà trở về quê nhà, gia nhập lực lượng DPQ+NQ, để được chiến đấu bên cạnh vợ con, gia đình. Sau rốt, tính đến đầu năm 1975, QLVNCH đã có 231.508 tử sĩ và 95.371 phế binh. Thương tủi nhất là những ngày tháng sau đó, cho tới khi Nam VN sụp đổ vào ngày 30-4-1975, đã có hằng vạn dân lính vô tội, đã gục ngã trên chiến trường và khắp các nẻo đường chạy loạn. Nhiều tử sĩ cũng như thương binh đã bỏ thây, bỏ xác tại chỗ, vì đồng đội không thể làm gì hơn giữa chốn loạn quân. Chính Nhảy Dù từ ngày thành lập, cho tới khi tan hàng, cũng đã phải nuốt lệ, bỏ lại xác đồng đội, tại Mặt Trận Xuân Lộc tháng 4-1975, như Phạm Huấn đã viết, khi được lệnh rút quân bất ngờ trong đêm, mịt mù lửa đạn..



Trước sự sụp đổ nhanh chóng và vô lý của Nam VN không phải tại chiến trường, mà ngay ở các thành phố lớn Ba Lê, Hoa Thịnh Đón, New York, Luân Đôn, La Mã, Huế-Đà Nẳng và Sài Gòn, khiến cho nhiều trí thức ngoại quốc, đã phẫn nộ và bày tỏ thái độ khinh miệt, đối với một số người trong cũng như ngoài nước, một thời lợi dụng tự do, dân chủ và nghề nghiệp, để bẻ cong ngòi bút, xuyên tạc sự thật, phỉ báng đồng bào và quân đội Nam VN với mục đích đầu độc dư luận thế giới, giúp Bắc Việt cưỡng chiếm VNCH. Đề tài quen thuộc, được một số báo chí Hoa Kỳ và Tây Phương viết lách, đem lên truyền thanh truyền hình, đó là người lính VNCH hèn nhát không chịu chiến đấu nên bị mất tự do và người Mỹ khinh miệt.



Hai câu hỏi trên cách đây vài chục năm được bịa chuyện là có, nhưng bây giờ sự thật đã xác nhận ‘ KHÔNG ‘. Hoa Kỳ khi tới chiến đấu tại Nam VN, có đủ phương tiện tinh thần cũng như vật chất, vẫn nhiều lần bị thương vong, bại nhục., vẫn không thiếu những binh sĩ đào ngủ, bỏ chạy khi trận địa hỗn loạn, vẫn có tham nhũng và chính cưu TT. Bill Clinton, vì hèn nhát nên đã trốn quân dịch pháp định. QLVNCH chỉ mới được thành lập , được coi là một quân đội nghèo nhất trên thế giới, lại bị chiến đấu trong một cuộc chiến không có giới hạn chiến trường, hậu phương, bạn địch.



Thế nhưng những người lính nghèo đó, mà lương năm cộng với tiền tử tuất, phế tật, không bằng một cuốc rượu của những ca ve, me Mỹ..vậy mà họ vẫn một đời đem máu đào xương trắng, phụng sự chính nghĩa, bảo vệ màu cờ, sắc áo và từng sinh mạng cũng như tất đất của quê hương. QLVNCH là sinh mạng của muôn người, nên khi thiếu vắng hay không còn họ, mạng người Nam VN lá rụng, đã gục ngã tại Mậu Thân Huế-Sài Gòn, trên các đại lộ kinh hoàng quốc lộ 1, Kontum, An Lộc mùa hè đổ máu và sau rốt là cùng nhau chết tập thể vào ngày 30-4-1975. Như sử gia Edward S.Creasy viết trong tác phẩm nổi tiếng ‘ Fifteen Decisive Battle Of The World ‘ năm 1851 ‘ Tầm quan trọng của một cuộc chiến, là những gì ta có hôm nay, đối với người thắng cũng như kẻ bai ‘. Những gì đã xảy ra tại Nam VN, sau 30 năm bị cong sản cưởng chiếm, đã đủ trả lời về tấn thảm kịch của VN, mà lần nữa Robert S.McNamara, cựu bộ trưởng QP. Thời TT Kenedy, đã giải thích một chiều, trong hồi ký của mình ‘ In Retrospect-The Tragedy and Lesson of VN ‘.



Nhưng không phải tất cả người Mỹ đều mù quáng và tin tưởng vào truyền thông báo chí lúc đó. Chính những giờ phút cuối cùng, nhìn cảnh đời bi thảm của phận lính bọt bèo Nam VN trên màn ảnh, tờ The New York Times Service, đã thay thế người nhược tiểu, giận dữ tố cáo chính quyền Mỹ là hèn nhát , bỏ đồng minh tháo chạy về nước trước sự tấn cộng của VC. Họ cũng nêu đích danh Henry Kissinger là kẻ bán đứng VNCH cho VC khi bắt ép họ ký vào bản hiệp ước giả mạo 1973, sau đó tàn nhẫn cúp viện trợ, phủi tay đứng nhìn miền nam sụp đổ.



Không có gì tồn tại với thời gian, trừ chân lý. Vì vậy những câu chuyện hề của Henry Winston, chủ tịch đảng cọng sản Mỹ, đem diễn tại Hà Nội vào tháng 5-1975, hay lời tuyên bố vung vít của Nguyễn Hữu Thọ, chủ tích bù nhìn của Mặt Trận Ma giải phóng, tại Mạc Tư Khoa, ngay khi Sài Gòn thất thủ : ‘ cám ơn báo chí và ký giả Tây Phương, đã góp phần lớn cho chiến thắng của Hà Nội, trong số này đáng kể là người Mỹ ‘.



Đây là tất cả sự thật , vừa được một cựu chiến binh Không Quân Hoa Kỳ là Harry H.Noyes, thay mặt những người lính VNCH, qua tác phẩm ‘ Heroic Allies ‘ nói lên vinh quang và sự hãnh diện của một quân lực , từ lâu đã bị bọn trí thức vô liêm sỉ , tước đoạt một cách hèn hạ, bất nhơn và vô nhân đạo. Sự tuyên truyền lố lăng và cuồng ngạo của Hà Nôi cùng những mặt mo bưng bợ, làm cho thiên hạ năm châu chán ghét, sau khi cái thây ma VNCH chỉ còn trơ lại bộ xương gầy đét, không còn gì để cho Huỳnh Liên, Ngô Bá Thành, Huỳnh Tấn Mẫm, Chân Tín và một số quạ đen, diều hâu , bu tới rỉa rói như lúc chợ còn đông khứa.



Trong tài liệu đặc biệt ‘ How Media Bias Distorts Our View of the World ‘ của ký giả Allan Brownnfiels, nói rằng vì hầu hết giới truyền thông Tây Phương, quá mù quáng, ca tụng một chiều về Mao Trạch Đông và Fidel Castro, trong lúc thẳng tay sỉ nhục bôi lọ Tưởng Giới Thạch và chính phủ CuBa lúc đó, tuy vô tình nhưng đã làm cho cọng sản tại hai nước này chiến thắng mau lẹ. Bài học của lịch sử sau đó lại tái diễn ở Nam VN. Lần này do chính những thành phần được ưu tiên trạng trọng trong xã hội lúc đó, là những công tử tiểu thu đài cát của giới địa chủ, địa hào, thương gia, chủ vựa nước mắm, nhờ cha mẹ tổ tiên theo thực dân Pháp bốc lột đồng bào, nên có tiền, có thế, cho con trai, con gái qua Pháp, Mỹ du học thành luật sư, bác sỷ, giáo sư, những thành phần mà Hồ Chí Minh và đảng VC ở miền Bắc, chém giết và khinh bỉ tận tuyệt, sau khi được làm chủ nửa miền đất nước vào năm 1954 .



Nhờ cái mặt nạ trí thức và sự tự do quá trớn của Nam VN, những thành phần ăn chén đá bát này, luôn bẻ cong ngòi bút, làm cho thế giới tự do lầm lạc , nghĩ rằng giặc Cộng tại Nam VN là những người bình thường, yêu nước, nên nỗi dậy chống lại sự độc tài tham nhũng của chế độ. Tóm lại nhờ những trí thức này, mà VC nằm vùng sau ngày tập kết 1954, VC chính thống từ Miền Bắc xâm nhập, kể cả Tàu Cộng, Liên Xô, Cu Ba, Đông Âu..trong bộ đội Hà Nội đang chiến đấu tại Nam VN, đều không có dính líu tới Hồ và cọng sản đệ tam quốc tế. Sự độc ác trên, nhờ tuyên truyền ngay ở miền Nam và các mạng lưới quốc tế, khiến cho cuộc chiến chống xâm lăng cọng sản, của người Việt quốc gia Nam VN, mất đi cái ý nghĩa chính thống, làm cho Hoa Kỳ cũng gặp nhiều khó khăn khi sang chiến đấu bảo vệ tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á. Rốt cục, cả Mỹ lẫn Việt đều đại bại trước mặt trận thông tin ca ngợi VC, của báo chí, truyền thông ngoại quốc và ngay trong nước.



Từ năm 1965, Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân dồn dập vào Nam VN, cũng là thời kỳ lửa máu dồn dập ở hậu phương . Đây cũng là thời kỳ ăn nên làm ra, của những thông tín viên, ký giả ngoại quốc, qua những bài tường thuật , có kèm hình ảnh, không phải để phổ biến những sự thật, mà chỉ để tuyên truyền một chiều, nhằm bôi lọ những quân đội, đang trực diện với cọng sản Bắc Việt, trên chiến trường Nam VN. Có thể nói bài phóng sự chiến trường đầu tiên, của thông tín viên đài CBS tên Morley Safer, viết về cuộc hành quân của một đơn vị TQLC Mỹ, tại một làng xôi đậu, đã trở thành những mẫu thông tin ‘ ăn khách’ , theo đơn đặt hàng của thị trường Mỹ và Tây Phương lúc đó. Cũng nhờ báo chí phản tuyên truyền, Tết Mậu Thân 1968, VC chết thảm khắp nơi, đã thành chiến thắng, chiếm được ngay cả Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn. Tàn nhẫn và đáng khinh tởm nhất, là báo chí Tây Phương, trong suốt cuộc chiến Nam VN, đã không hề một chữ tường thuật những hành vi khủng bố, giết người tàn bảo của VC trong trận Mậu Thân 1968 tại Huế, năm 1972 và những ngày di tản máu lửa hận hờn



Người lính VNCH vừa đánh giặc phương Bắc, vừa chống đỡ búa rìu truyền thông báo chí trong nước cũng như phong trào phản chiến tại Mỹ và tây phương, được liên kết bởi trí thức, sách báo và tuyên truyền. Đó cũng là lý do đưa đến sự sụp đổ tất yếu của một dân tộc hiền hòa, lễ nghĩa nhưng bất hạnh vì mang thân phận nhược tiểu



2 - THƯƠNG QUÁ NGƯỜI PHÊ BINH VN :



Tất cả hình như chỉ còn có kỹ niệm, sau cuộc đổi đời. Là định mệnh mà chúng ta, những kiếp trai thời loạn phải gánh chịu, theo vòng đời nổi trôi của dòng sông lịch sử, dù vô lý, dù hờn căm, dù bất công thương hận.

Mất nước nhà tan, nguời lính sống sót sau cuộc chiến, rã ngũ tan hàng đầu sông cuối bể, tha phương thì dần chết trong men đời cay đắng, còn tù ngục chịu cảnh nhục hờn. Nhưng tất cả giờ cũng đả đi hết rồi, chỉ còn ở đây là những thương phế binh xa củ, những hồn ma cô quạnh , sống với quá khứ liệt oanh, qua những vết thương đời không hề hối hận :



‘ Di tản khó, sâu dòi lúc nhúc
trong vết thương người bạn nín rên
người chết mấy ngày không lấy xác
thây sình mặt nát, lạch mương tanh..’
( Tô Thuỳ Yên)



Ta thán phục, ta hãnh diện biết bao, khi đọc được những trang sử củ. Sẽ vui cười hớn hở cùng với tiền nhân qua những lần bình Chiêm, phá Bắc, đuổi giặc Mông trên sông Bạch Đằng, đốt tàu Pháp tại Vàm Nhật Tảo. Không biết những trang quân vương dũng tướng thời xưa, hành sử thế nào mà muôn người như một, khiến cho người trong nước, gia trẻ lớn bé, đều nguyện một lòng giết giặc cứu nước tại Hội Nghi Diên Hồng. Sau này mới vở lẽ, thì ra đó là tinh thần trách nhiệm, cũng như bổn phân của kẽ sỉ thời tao loạn. Hay đúng hơn, đó là đức tính cao quí của thanh niên-sĩ phu, dù họ chỉ là những người bình dân ít học.



‘ Tôi không là tôi nửa,
từ khi được xuất ngủ
có quạ đen đậu trên đấu
có bao nhiêu đợi chờ đau khổ..’



Thanh niên VN thời nào cũng vậy, tất cả đều đặt trách nhiệm làm trai trên hết, nên chúng ta ngày nay mới còn có đất nước, để mà vui sướng, đau khổ. Hỡi ơi, có làm lính mới hiểu phận bèo của lính, có là thương phế binh, sau khi được xuât ngủ, mới thấm thía được nỗi buồn của một kẻ tàn tật, mất tất cả, ngoài người mẹ già, từ quê xa, đang đợi con trở về. Thê thiết quá cũng như đau đớn tột cùng, kiếp lính chiều tàn là thế. Sự thật là vậy , có khi còn đau đớn trăm chiều. Ai đã tùng thấy chưa, cảnh vợ lính hay người yêu , chỉ một lần vào thăm người thân nơi quân y viện, rồi chẳng bao giờ quay lại, ngoài những giọt lệ cá sấu, vô tình còn vương vãi đó đây. Ai có một lần ngược xuôi trên các nẻo đường thiên lý, tình cờ hội ngộ những chàng trai tàn tật còn rất trẻ, những người mù, què, mặt mày in đầy thương-sẹo bởi đạn bom, đang lần mò ngửa tay chờ bố thí của mọi người. Họ là lính chiến của một thời oanh liệt, là thương phế binh QLVNCH đó, họ đau khổ mang thương tật không phải do bẩm sinh, mà vì đời, vì người gánh chịu :



Theo sử liệu, ta biết Nha Cựu Chiến Binh và Nạn Nhân Chiến Cuộc, trược thuộc Bộ Quốc Phòng. Đầu tiên Nha này là một Bộ, được thành lập vào tháng 8-1952, có một An Dưỡng Đường dành cho Thương Phế Binh. Sau đó, bộ này bị hủy bỏ, tất cả các vấn đề liên hệ tới cưu chiến binh, đều giao cho Bộ Y Tế, với một Nha riêng gọi là Nha Tổng Thư Ký, Cưu Chiến Sĩ và Phế Binh.



Thời VNCH, qua một Đại Hội Cựu Chiến Sĩ toàn quốc tại Toà Đô Sảnh Sài Gòn. Ngày 29-5-1955, Nha Tổng Giám Đốc CCB và NNCC đưọc thành lập, trụ sở ở đường Đoàn Thị Điểm. Sau Tết Mậu Thân 1968, Nha được cải thành Bộ, gồm các Nha Sở Trung Ương và các Ty trực thuộc .



Đầu năm 1969, một biến cố lớn đã xảy ra tai thị xã Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Đó là vụ Y Sĩ Đại Uý Hà Thúc Nhơn, trưởng trại 12 Tai, mắt, mũi, họng, thuộc Quân Y Viện Nguyễn Huệ. Vì dám tố cáo Chỉ Huy Trưởng QYV là Thiếu Tá Phùng Quóc Anh, với sĩ quan hành chánh Đặng Mai,toa rập tham nhũng, ăn xén tiền ẩm thực của thương bệnh binh, cũng như mờ ám trong các vụ cứu xét , phân loại trợ cấp, miễn dịch. Đại Uý Nhơn đã cầm đầu các bệnh binh nổi loạn, nên bị Tỉnh trưởng Khánh Hòa lúc đó là Đại Tá Lý bá Phẩm, nguyên Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 43 Biệt Lập, ra lệnh cho DPQ bắn trọng thương và đã chết khi chở vào cấp cứu tại Cam Ranh.



Ngày đưa tang người xấu số, cũng là thời điểm Phế Binh Khánh Hòa đứng dậy đòi quyền sống. Taị Sai Gòn, Trung Úy mù BDQ.Đổ văn Lai, đang cùng một số phế binh nặng, đang dưỡng thương tại Trung Tâm Chỉnh Hình, đường Bà Huyện Thanh Quan, cũng biểu tình, cắm dùi khắp Đô Thành, đòi Chính Phủ phải cứu xét lại quyền lợi của họ, trước vật giá leo thang đắc đỏ, do sự hiện diện của Mỹ và Đồng Minh, vung đô la xanh đỏ qua cửa sổ như khói thuốc. Phong trào tranh đấu bùng nổ khắp nước, làm cho chính quyền trung ướng cũng như tại các tỉnh bối rối, vì không thể dùng bạo lực để chèn ép hay khóa miệng, bởi phế binh cũng là lính, nên ai nỡ xuống tay .



Rồi Tổng Hội Thương Phế Binh ra đời tại Sài Gòn, bầu PB Nguyễn Đinh làm Hội Trưởng, PB Nguyễn Bính Thịnh, tức nhà văn An Khê, làm phó và PB Đinh Trung Thu, tổng thư ký. Ngoài ra còn có một Hôi Ái Hữu Thương Phế Binh, do cựu Thiếu Tá Nguyễn Văn Hàng thành lập.



Thời Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-1975), nếu TT Thiệu có chính sách ‘ Người cầy có ruộng ‘, thì Phó TT. Nguyễn Cao Kỳ, cũng chủ trương ‘ Phế Binh có nhà’. Nói chung bắt đầu năm 1969 trở về sau, quyền lợi của Phế binh, cô nhi quả phụ càng ngay càng được cải tổ, chăm sóc và dễ thở hơn trước. Nạn chèn ép, dìm sổ trợ cấp để làm tiền cũng chấm dứt, kể từ năm 1972, chính phủ cho thành lập Ty Cựu Chiến Binh tai các Tỉnh, có quyền hạn rất rộng rải, ngoại trừ, sổ trợ cấp đầu tiên được ký cấp từ Bộ. Cũng từ đó, nguời cô nhi, quả phụ và thương phế VNCH, được sống an nhàn hơn buổi trước, với các quyền lợi thiết thực, tương xứng, từ trợ cấp, xin việc làm, y tế, cho tới các kỳ thi, tất cả đều ưu tiên cho họ.



Rồi thì hằng loại Làng Phế binh, lần lượt ra đời tại quận cũng như thị xã. Riêng những phế binh đã có nhà, không muốn vào Làng, dược trợ cấp một ngân khoản 60.000 đồng. Tất cả các làng trên, đều bị VC cướp giựt sau ngày 30-4-1975.
Làm người bình thường , sống trong thời loạn, đã phải khốn khổ vì miếng cơm manh áo, huống chi phận lính nghèo, lãnh đồng lương chết đói, vậy mà còn bị trí thức nguyền rủa, là lính đánh thuê cho Mỹ..



‘ Giọt mưa trên lá, nước mắt mặn mà
thiếu nữ mừng vì tan chiến tranh chồng về
mẹ lần mò, ra trước ao, nắm áo ngưởi xưa, ngỡ trong giấc mơ
tiếc rằng ta, đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ..’
(Phạm Duy).



Nhưng chiến tranh chứa dứt và vẫn còn khốc liệt, nhưng người xưa nay đã thành tàn phế, vô dụng, lê lết đời tan xuân héo, lần mò trở về làng xưa,với những kẻ thân yêu, mong chút tình thân đùm bọc.



Ai có cảm thông chăng người lính mù trẻ tuổi vì đạn B40, lần mò trên chiếc xe lăn, quanh bến phà, bến xe, miệng hát tay đờn kiếm sống ? Có thương không những người lính trận, bán thân bất toại, lê lết khắp các nẻo đường phố thị, để bán vé số, sách báo, đắp đổi qua ngày. Và còn nửa, còn trăm ngàn thảm kịch của tuổi thanh niên thời loạn, chân gỗ tay nạng, mắt mũi vàng khè, khô nám, luôn đau đớn bởi những hậu chứng, sau khi giải phẫu. Nhưng họ vẫn lao động để sinh tồn, đi biển, làm nông, lết lê trên ruộng trên sóng, đội nắng tấm mưa. Kiếp sống phận bèo của người phế binh là thế đó, nên phải chiếm đất cắm dùi, cũng là chuyện bình thường



Hai mươi năm chinh chiến, dù có gọi bằng một thứ danh từ gì chăng nửa, thì xác của nam nữ thanh niên hai miền đất nước, cũng đã chất cao như núi, máu chảy thành sông. Rốt cục chỉ có cái vỏ độc lập, hòa bình, tự do, thống nhất. Người cả nước đói vẫn đói và đời sống càng bị tù hãm tứ phiá, bởi cổ được mang nhiều thứ gông, cả cọng sản, lẫn tư bản và đảng cầm quyền.



Nhưng thê thiết nhất vẫn là những người phế binh VNCH. Ngày xưa lúc chế độ củ còn, được nói, được hưởng đủ thứ quyền lợi..thế nhưng họ vẫn sống bèo bọt, cực nghèo. 30-4-1975, VC vào tóm thu tất cả, thêm vào đó là chuyện trả thù. Lính sống thì đi tù, lính chết thì cầy mộ, còn lính què đui tàn phế, thì bị xua đuổi ra khỏi các quân y viện, làng phế binh và ngay cả ngôi nhà của mình.



19-4-1975 tại Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch, Phan Thiết.
30-4-1975 tại Tổng Y Viện Cộng Hòa-Sài Gòn.



Thảm họa gì đã đến với các thương bệnh binh còn đang điều trị, khi giặc về ? Có ai cầm được nưóc mắt trong cảnh đoạn trường máu lệ, khi từng đoàn thương binh, nối gót đắt dìu ra cổng. Người sáng giắt kẻ mù, kẻ bị thương nhẹ cõng người trọng bệnh. Khắp lối ra vào, máu me vương vãi với nước mắt đoanh tròng của những nạn nhân bị bỏ rơi, không đại bàng, chẳng đồng đội và cũng hết hậu phương. Một số chết vì vết thương quá nặng, số khác sống trong cảnh tàn phế vĩnh viễn, vì vết thương không được tiếp tục điều trị. Đời thê thảm quá, cũng may lúc đó quanh họ, còn có những cô gái bán phấn buôn hương ở Ngã ba Chú Iá, Gò Vấp, những người xích lô ba gác, kẻ cho tiền, người giúp công, đưa hết những bệnh nhân xa xứ, tới bến xe về quê sống tiếp kiếp lính bèo.

Cuộc đổi đời nay đã xa lắc nhưng mỗi lần nhớ cứ tưởng mới hôm qua hôm nay. Ba mươi mốt năm rồi ta còn sống được, để nói chuyện văn chương chữ nghĩa trên đất người, đã là điều đại phúc. Trong lúc đó nơi quê nhà ngàn trùng xa cách, những người phế binh năm nào, không biết nay ai còn ai mất. Nhưng chắc chắn một điều, dù họ có sống hay đã chết, thì hận nhục, thương đau cũng đâu có khác gì.



Bởi tất cả đâu có khác gì bóng ma trơi , những mảng đời nghèo hèn tăm tối. Đâu có ai muốn nhắc tới những thân phận hẳm hiu trong vòng đời tục lụy, kể cả những cấp chỉ huy củ, hiện đổi đời giàu sang, mồm to miệng thét ở hải ngoại.



- Xin hãy thương lấy ho, hãy cứu vớt họ đang trôi nổi trong ngục tù nghiệt ngả.
- Phế binh cũng là một phần của tập thể cựu quân nhân hải ngoại.
- Hãy rớt một chút ân thừa cho những thây người còn sống sót trong bể hận trầm luân.
- Hãy cho họ một chút tình thương trong cơn hấp hối
-.Hãy dành cho họ một chút không gian nho nhỏ, trong căn nhà VN to lớn,đã được các cộng đồng tị nạn hoàn thành trên khắp nẻo đường viễn xứ, để họ an tâm chờ đợi luân hồi và một vòng hoa tặng người chiến sĩ ca khúc khải hoàn, mà chắc chắn phải có trong thời gian gần.

Ngày xưa người chinh phụ, giữ sạch tâm hồn và băng trinh tuổi ngọc, để đợi chồng ngoài quan tái, hy vọng cuộc chiến mau tàn, để phu phụ trùng phùng, kết lại mối duyên xưa :



‘ Xin vì chàng xếp bào cởi giáp
xin vì chàng giũ lớp phong sương
vì chàng tay chuốc chén vàng
vì chàng điểm phấn, đeo hương não nùng
liên ẩm, đối ẩm, đòi phen
cùng chàng lại kết, mối duyên đến già ..’
(Chinh Phụ Ngâm)



Nhưng người chinh phụ VNCH lại không có cái diễm phúc đó, vì khi quê hương vừa ngưng tiếng súng, lập từ quan quân cho tới sĩ thứ, những người bại trận, lớp lớp vào tù. Lính chết đã rục tử thi vẫn bị dầy mồ, lính bị thương tàn phế bị xua đuổi ra khỏi cuôc sống. Thử hỏi trên thế gian này, có kiếp người nào, đáng thương hơn người lính VNCH ?



‘ Dâu binh lửa nước non như củ,
kẻ hành nhân qua đó chạnh thương’
(Chinh Phụ Ngâm)



Cuộc đời thanh niên thời loạn ly, rốt cục chỉ còn lại nổi buồn thiên cổ, xin hãy nâng ly rượu sầu lên môi mà nhớ . Nghiêng mình, cúi đầu cảm tạ những vị ân nhân, đã và đang hết lòng cưu mang, giúp đở tận tình ‘ Thương Phế Binh, gia đình kể cả cô nhị quả phụ VNCH ‘, hiện đang sống kiếp trầm luân rách đói, trong địa ngục VN.
Cám ơn Hội Thân Hửu Bình Thuận tại Miền Bắc CA, năm nào cũng không quên Những Thương Phế Binh, hiện còn sống tại Phan Thiết- Thuận, bằng những món quà tuy ít ỏi nhưng chứa đựng cả một trời tình biển nhớ,tới với những tâm hồn lạc lỏng đang lê lết sống buồn bên lề cuộc đời, ngay chính trên quê hương mình .



Bất chấp nguy hiểm, những người có trách nhiệm của Hội, đã tận tay mang tiền tới nhà TPB theo danh sách đề nghị, để tránh thảm trạng ‘ VC ăn ốc, chúng ta đổ vỏ ‘, mà thời gian qua,không ít người thâu tiền người tị nạn, đem về nuôi mập phề binh bộ đội Bắc Việt.


Xóm Cồn
5 - 2006
Mường Giang

(Viết cho người thương binh VNCH)

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

THƯ TỪ CÀ MAU
Van To

Người viết: VAN TO

Bài số 953-1553-277-vb7040306

*

Tác giả tên thật Tô Văn Cấp, cư trú tại Westminster, cựu sĩ quan VNCH. Tù CS 10 năm, đi diện HO1, hiện làm ở Ocean View School District. Từ năm đầu của giải thưởng, ông gửi hai bài viết về nước Mỹ đề cập tới nạn “coi cọp” báo, vốn rất phổ biến tại Quận Cam. Bài mới nhất của ông là chuyện đang được bàn thảo về “Ngày Cho Thương Phế Binh”.

*

Thấy chị Tư vừa múa gậy vườn hoang vừa hát nho nhỏ lời ca "Còn gì nữa đâu mà âu với sầu", Ba biệt động (BĐ) sợ làm phiền chị nên do dự chưa kịp chào thì chị đã mau mắn lên tiếng trước:

- Chú Ba hả, vào đi, ảnh đang lục đục rửa chai phía sau nhà".

Nói xong chị tiếp tục múa "tai-chi", tiếp tục hát "Còn gì nữa đâu mà buồn với nhơ". Chị Tư vốn là dân Trưng Vương, một liền-chị thứ thiệt, bao dung và vui tính, nói ít hiểu nhiều nên Ba BĐ đùa:

- Sao chị để anh ấy "lục đục" rửa chai một mình sớm thế, chị quên rằng anh ấy là dân ra-đa à? Tư ra-đa trên đỉnh Sơn Chà, sơn và chà chứ ít sao?

- Chú này .. phá chị hoài, còn gì nữa đâu mà Ra với Vào! Chỉ toàn những đau cùng là cao máu! Có cả chú Hai trâu Điên (TĐ) cũng vừa mới đến, đang ở ngoải.

Ba BĐ đi vòng ra phía sau nhà, thấy anh Tư và thằng Hai đang lựa những chai nhựa và lon nhôm riêng ra từng loại rồi cho vào những bao khác nhau. Thông thường thì mỗi sáng Chủ Nhật anh Tư làm công việc này một mình, đôi khi có sự tiếp tay của chị ấy, còn Ba-BĐ và Hai-TĐ chỉ thỉnh thoảng tạt qua, quăng cái bao nilon chứa những thứ lỉnh kỉnh vào phía sau nhà anh Tư rồi lỉnh ra café Factory, không hiểu sao hôm nay thằng Hai này lại chịu ngồi đây "heo" ảnh một tay?

- Hêlô anh Tư, anh và thằng Hai ngừng tay, đi uống café rồi tôi cho coi cái thư này hay lắm, vừa uống café đắng vừa nói chuyện đường dài mới thú vị.

- Hai chú mày cứ đi trước đi, anh còn phải lựa cho xong đề kịp mang đi cân, hôm nay họ ngưng thâu lúc 12 giờ trưa, nếu không đem đi hôm nay mà để tới tuần sau, chai lọ bốc mùi hôi, mấy đứa nhỏ nó cằn nhằn anh, thư gì thì để đó anh đọc sau.

- Thôi, để tụi em phụ anh, bữa nay không lựa nữa, tống hết vào bao rồi mang đi cân, chẳng đáng bao nhiêu mà lựa mất thì giờ, thư này phải cùng đọc mới thấm.

Nhóm này có 3 người làm chung ca hai trong hãng LA laundry trên El Monte, cùng là dân HO nên họ gọi nhau là thằng Hai, chú Ba, anh Tư , nghe có vẻ theo thứ tự trong gia đình người Nam, nhưng ở đây thì ngược lại, "hai-ba-tư" có hàm ý cấp bậc ngày xưa nhưng lại đầy tình nghĩa gia đình mà còn phảng phất "có trên có dưới" hơn là gọi nhau bằng tên. Có lần Hai thắc mắc nếu nó có thêm vài thằng em thiếu úy nữa tham gia thì gọi làm sao (HO thường là từ thiếu úy trở lên)? Anh Tư khôi hài trả lời:

- Thì gọi là Ut một, Ut hai, Ut ba v..v giống như ông già mày đặt tên con đấy.

Anh Tư tên cúng cơm là T. Cao, gốc không quân ra-đa trên đỉnh núi Sơn Chà, vì anh có vẻ già nên tên ma-na-dơ Alfredo thường giao cho anh công việc nhẹ nhàng "clean up". Thấy có nhiều lon nhôm và chai nhựa bỏ phí nên anh gom lại mang về! Hồi mới thấy vậy, vì là tình đồng hương nên Ba-BĐ và Hai-TĐ cảm thấy khó chịu, ngượng với sắc dân khác nên thường nói bóng nói gió, cố ý nhắc Tư-Rada rằng "giấy rách phải giữ lấy lề". Sau một thời gian, khi khám phá ra mục đích việc làm của Cao, họ cảm động và cùng anh hợp tác. Tình huynh đệ ngày càng trở nên thân thiết hơn ruột thịt, khi nào có được con số 50 là Cao ký một ngân phiếu gởi đến hội TPB và Quả phụ của chị H.N. hoặc gởi thẳng đến những TPB có thân hình "không giống ai" đăng trên các nhật báo NV, VB.

Hôm lễ Thankgiving, hãng cho ăn gà tây uống côca côla, Ba chọc quê anh Tư:

- Anh Tư! Phen này ắt hẳn kiếm ăn to? Hỏi thật anh nhá, ai bày cho anh cái trò này, và lúc đầu có thấy xấu hổ không?"

- Xấu hổ quá đi chứ, ngay bây giờ tao vẫn thấy xấu hổ nếu tao làm cho chính tao, nhưng vì người khác nên cảm thấy rất thoải mái. Có lần 2 thăng Hồ-xê và Tony hỏi tao: "Pò-ke?" Tao trả lời " 4 hom-lét", thế là tụi nó gật gật đầu và từ đó mỗi khi uống xong nó mang lon "em-ti" trao tận tay anh chứ không quăng đi như mọi khi. Thực ra thì homless ở đây sướng hơn anh em TPB của mình nhiều, còn được người Mỹ gốc Việt thương! Người bày cho tao thì chú mày còn nhớ mẫu tin đăng trên VB đã lâu lắm rồi không? Một cụ bà đi nhặt lon côca, lon bia đem đi bán rồi đem tiền ủng hộ TPB được 100 đô. Đó là tấm gương sáng cho anh em mình soi.

Sau khi tống đại các thứ vào bao cho xong, ba anh em nhà "Pick UPS" đem đến Recycle-center, góc Westminster và Euclide, trước cửa chợ Người Việt giao hàng rồi thẳng đường hướng tới café Factory. Trên đường đi, Tư -Rađa càm-ràm:

- "Tại tụi bay nên hôm nay thiệt mất 5 đô vì không lựa nhôm riêng ra!"

Café Factory nằm ở góc đường Brookhurt và Mc Faden, là tụ điểm tâm tình của giới cựu binh, có chút không khí Saigon năm xưa ở Mai-Hương, Bô-đa, khách phương xa về Little Saigòn cứ tới đó ngồi nhâm nhi ly café, phì phà điếu thuốc là gặp đủ mặt bạn bè mọi quân binh chủng, huynh đệ chi binh, tứ hải giai huynh đệ.

Tóm lại nếu ngày xưa bạn mê: "Đêm nghe tiếng đại bác"

Thì nay thú vị: "Sáng Chủ nhật nghe cà-nông nổ"!

Ở đây có đủ mọi kích cỡ, lòng dài lòng ngắn, từ 105 tới 175 ly, có nhiều thẩm quyền nạp thuốc bồi 7, nhưng đừng sợ, nổ rất vui tai, vô hại, vì toàn là đầu đạn mã tử .

Băng café đã có mặt đầy đủ, họ quây quanh 2 bàn thành vòng tròn, khói hương nghi ngút, từ Hưng-Trọc đến Bình-Hói, Đuông-Còi, Lâm-Thợ, Đức-ông, Sang-Khều, Bảo-Điệu, Diệu-Đế, Hùng-bìu, Ngọc-Tây lai v.v.. Vì là chỗ quen thân và cùng có một ý hướng nên nhóm Tư-Rađa xà vào nhập bọn.

Sau một chầu "hắc-quẩy", hai chầu "nhậm-xà", dăm ba điếu số 555, pháo đội trưởng Hưng-Trọc cho lệnh ngưng tác xạ để Ba-BĐ báo cáo tóm tắt tình hình bạn qua lá thư từ Cà Mau, thư rằng:


- "Em là Nguyễn văn Ut, năm 1973 bị thương ở U Minh, 1974 ra hội đồng y khoa bệnh viện Nguyễn tri Phương Cần Thơ và giải ngũ, cấp độ tàn phế 100%, đúng hơn là cụt 2 chân trên đầu gối, vắn tắt thế là đủ rồi. Sáng qua thằng Tý, cũng tàn phế nhưng nó còn đi được, thường giúp đẩy xe đi bán vé số, vừa đẩy xe vừa rỉ tai em nói nhỏ:

- "Khoan di bán đã, em đẩy anh ra quan café chị Bẩy uống rồi cho coi cái này hay lắm, không biết có thật hay không, nhưng đã đăng trên computeur của chị Bẩy mấy ngày hôm nay rồi, anh em mình họ xì xào dữ lắm."

Quán chị Bầy có 3 cái computeur cho thuê, giá 5 ngàn 10 phút, Tý bỏ 5 ngàn vào máy bấm bấm gõ gõ, không biết nó học khi nào mà rành thế, một hồi sau nó dục em:

- "Anh coi đi, Tý ra ngoài canh chừng cho, lẹ lẹ lên, hổm rầy hình như tụi cộng an đánh hơi được nên nó hay lảng vảng quanh đây dữ lắm, lẹ lên nhe".

Em đọc được bài "Một ngày cho TPB" của anh trên máy mà cảm xúc dâng trào. Trời Đất! Đây là sự thật ư?Em không nghĩ điều mà tụi em hằng mong lại có người ở hải ngoại nghĩ đến.. ..

... ..Đã 31 năm rồi, vết tích chiến tranh không còn nơi mọi người, nhưng còn trên thân xác những TPB, mọi người đã và đang trở lại.. bình thường nhưng tệ nhất vẫn là TPB, dù tụi em cố vươn lên mà sống, vẫn sống nhăn răng đắp đỗi qua ngày nhưngcam thấy thiếu một cái gì đó. Sự giúp đỡ về vật chất của các anh là vô cùng quý giá đối với chúng em, nhưng làm sao cho ĐỒNG và ĐỦ được? Không thể được và cũng không thật cần thiết. Vì thế nếu các anh làm cho tụi một ngày kỷ niệm gọi là "Ngày TPB" thì thật là bạn ơn cho chúng em, một "Ngày Giỗ" cho những người đã chết nhưng còn THỞ.

.. .. .. .. Em không hề tiếc vì đã bỏ ra 25 ngàn đế nhờ thằng Tý nó gủi thư này cho các anh, nhưng xin đừng hồi âm cho em và bỏ những chi tiết về cá nhân em đi, chắc anh hiểu rõ vì lý do gì rồi.."


Ba-BĐ tóm tắt xong lá thư hồi lâu mà cả đám cái bang vẫn nín khe, hình như có cái gì chọc vào chỗ sâu kín nhất trong tim họ, cuối cùng Lâm-thợ lên tiếng:

- Vì đâu mà có lá thư này? Ai biết? Thực hay giả?

Tư-Rađa vẫn im lặng từ lúc vào ngồi, nay mới nhẹ nhàng lên tiếng:

- Thực hay giả thì nghe kỹ sẽ biết ngay, thăng em này đã nói rõ "quà" là vô cùng quý giá nhưng không thật cần thiết, mà đây cũng chỉ là một trong những lá thư tương tự mà Nguyễn khá Lạt từ Dallas chuyển cho tôi, đầu đuôi như thế này:

"Liên hội cựu chiến sĩ Dallas-FW đang chuẩn bị tổ chức đại nhạc hội gây quỹ TPB và nhân dịp đó gọi là "Ngày TPB" với mục đích để nhớ hằng năm lại tổ chức một lần như hội Bạn Người Cùi vẫn làm vào mỗi dịp cuối năm. Nhưng số phận TPB quả thật là hẩm hiu! Cơn giông tố Katrina ở New Orleans làm chương trình ca nhạc kiếm tiền bị hủy bỏ! Nhưng Nguyển khá Lạt, tuy là Khá Lạt nhưng có tấm lòng đậm đà, tiếp tục đưa ý định có "Ngày TPB" lên internet và báo chí để xin ý kiến các thầm quyền. Tôi đọc dược bài này đăng trên báo Con Ong Texas số 176, trang 79.

Lạt cho tôi biết có hằng ngàn lá thư của dân và quân gửi về đồng ý kiến với đề nghị nên có "Ngày TPB", nhiều lá thư từ trong nước gửi ra với nội dung tương tự như các bạn vừa nghe. Nhưng cũng có hằng chục lá thư gủi đến chửi bới với lời lẽ vô cùng tục tĩu, chẳng hạn như: "Đ.M tụi bay, thua bỏ chạy còn đòi ngày TPB cái gì? Hai chữ Đ.M họ viết nguyên chữ theo lối chửi phía Bắc vĩ tuyến 17! Máy của Lạt cũng bị virus VC phá hỏng 2 lần. Đó là lý do có thư này từ Cà Mau gửi qua."

Đuông-Còi, một lý thuyết gia của nhóm lên tiếng:

- Theo ý tôi thì Ngày TPB không thực tế, anh em người ta cần tiền hơn.

- Rất đúng, cũng có một số thơ nêu ý kiến giống như Đuông, nhưng lại không đưa ra một giải pháp nào cụ thể để có tiền và làm sao trải cho đều. Thực tế tiền là cần thiết nhưng chúng ta có nên cho rằng đối với TPB, đó là niềm an ủi duy nhất không? Lời thơ chân tình của Ut mà các bạn vừa nghe đủ cho chúng ta suy nghĩ. Nếu làm được cả hai điều là quá lý tưởng, bằng không thì "thua me gỡ bài cào", không có tiền thì cũng nên có tiếng nói cám ơn chứ. Ngày TPB chính là lời cám ơn của những ai cảm thấy còn mắc nợ TPB, còn thiếu sót bổn phận với đồng đội, với thuộc cấp TPB

Tại sao lại có ngày "va-lăng-thai" để cầm bó bông đứng chờ ai .. dài cả cổ? Tại sao lại có Ngày-Cha, Ngày-Mẹ để mỗi năm một lần lôi ông bà gìa từ nhà dưỡng lão đến đứng chực ngoài cửa restaurant hằng giờ, rồi ngồi ngắm đàn con cháu ăn uống chẩy nồi trôi dế trong khi các cụ chỉ chấm chấm, có ăn được gì đâu mà sao các cụ lại vui cười hạnh phúc? Trước 75, chúng ta đâu biết đến những lễ này, nhưng ngày nay ở hải ngoại, chúng ta thấy hay nên mọi người theo, đấy là tôi chưa nói đến người CS họ đặt ra cả trăm thứ ngày, tuy bánh vẽ nhiều đấy nhưng cũng có cái hay của nó.

Ngọc Tây lai ra điều hiểu chuyện tiếng Việt nên hất hàm hỏi Bình-hói:

- Vậy bây giờ ta phải làm sao? Tổ chức như thế nào?

- Chú mày hỏi tao hay hỏi Sao? Bình-hói hỏi vặn lại

- "Tú-lê-đơ". Ngọc chêm tí tiếng Pháp để các quan Ta ưa nói tiếng Tây hiểu.

Sợ để tên Tây lai thích nước mắm này phát ngôn thêm dễ gây hiểu lầm làm mích lòng các thượng cấp nên nhà tâm lý chiến Bảo-Điệu xen vào:

- Theo tôi thì không phải chỉ 2 mà là tất cả, "Sao lo sao thì để Sao lo", riêng nhóm chúng ta tôi xin đề nghị tất cả cùng tham gia, ai có khả năng nào lo việc nấy. Thí dụ như anh Hưng-trọc, là hội trưởng TQLC, giầu kinh nghiệm về sinh hoạt cộng đồng, anh có thể liên lạc với một vài hội đoàn quân đội, với hội HO cứu trợ TPB/QP của chị H.N để bàn thảo và đồng đứng ra tổ chức một đại nhạc hội. Còn anh Ba Biệt Động thì về vận động với hội trưởng Minh Chánh, nhờ Thiên Lôi vác loa đi Alô, Alô.

- Rất hợp lý, xin anh Hưng bớt tham gia vào chuyện bầu-bì cộng đồng, cúng Tổ tế Tiên, hãy để quý cụ cao niên, các nhân-sĩ họ nói chuyện với nhau, tại vì quý "liệt vị" ấy chỉ nói mà không chịu mang máy trợ thính nên mới ra cớ sự! Đề nghị anh Hưng đăt ưu tiên chuyện gây quỹ TPB.

Anh Bình-hói rành và quen biết nhiều về truyền thông, xin họ giúp cho tiếng nói, không có truyền thông tham gia thì èo-uột lắm. Anh lại còn là chỗ thân tình với hai anh Nam-Lộc và Việt-Dzũng thì không lo khâu vận động anh chị em văn nghệ sĩ. Ai cũng biết nếu có sự tham gia của 2 anh thì thành công, nhìn vào các hoạt động trong quá khứ tôi chắc chắn hai anh sẽ nhiệt tình nếu chúng ta ngỏ ý. Không riêng 2 anh, mà tôi tin chắc 100% các anh chị em ca sĩ sẽ rất vui và hạnh phúc được hát cho TPB nghe. Cứ xem buổi hát gây quỹ tượng đài thì rõ, nay hát cho TPB, những người "đã chết nhưng còn thở" còn biết thưởng thức được lời ca tiếng hát thì ai nỡ tư chối.

Đừng quên rằng chúng ta còn có trống sĩ Hùng-biu, báo sĩ Billy Hùng, người hùng tham gia công tác từ thiện thì ai nỡ từ chối lời cầu viện của anh.

Đức-ông, một chuyên viên tổ chức những buổi họp mặt tại gia lên tiếng:

- Địa điểm tổ chức thì nên chọn nhà ai? Nhà hàng nào?

- Không nhà ai mà cũng chẳng nhà hàng nào cả, tại sao không là một khoảng trống, một sân vận động? Phải giảm những khoản chi không cần thiết tới mức tối đa.

Sang-khều, chuyên viên luật pháp nên rất cẩn thận:

- Tiền thu được thì xử dụng ra sao? Ai quản lý? Có nên lập thêm một ban.. ..

- Theo tôi chắc không cần thiết, nhà binh thì phải nhanh, gọn, nhẹ, hiệu quả. Từ trước tới giờ ai lo chuyện giúp đỡ TPB? Nhất là những TPB không có gốc? Bước đầu thì BĐQ, ND, TQLC, BK, VB v.v.. vẫn tiếp tục lo chuyện "gia đình" của mình như một phần đóng góp cho NGÀY TPB, còn phần thu được ở đây nên trao tất cả cho hội TPB/QP của chị H.N để họ tiếp tục giải quyết những hồ sơ còn ứ đọng.

- Có gì trở ngại không? Tôi sợ rằng sẽ có nhiều tiếng xì-xào?

- Không sợ gì cả, ngày xưa chú mày xung phong vào trước họng súng địch còn không sợ, nghe đạn bay chéo-chéo nhe răng cười, bây giờ sợ mấy cái xì-xào à? Hãy tin tưởng vào người ta như tin vào chính lòng trong sạch của mình. Hội của chị H.N hoạt động hiệu quả mấy năm nay rồi mà có mấy người biết chị ấy là ai không? Có ai nghe chị ấy phát biểu, tuyên bố tuyên mẹ gì không? Hoàn toàn im lặng làm việc và làm việc. Đôi khi sự yên lặng và khiêm nhường quá khiến chị dự định tổ chức đại nhạc hội cả năm nay rồi mà chưa thực hiện được.

- Tôi ngại sau khi có thêm tiền rồi thì lại nẩy sinh nhiều vấn đề, nhất là từ phía anh em TPB tại quê nhà.

- Đừng lo bò trắng răng, đừng rao bán da gấu trươc khi vác súng đi săn, tất nhiên sẽ có những hồ sơ ma, sẽ có những phao tin đồn nhảm xuất phát từ những kẻ không thích TPB v..v. Cứu trợ được phần nào hay phần ấy, nắm vững quân số TPB của mình như BĐQ, ND, TQLC mà còn gặp nhiều thiếu sót, nhiều tiếng than huống chi là cả một tập thể các SĐBB và ĐPQ, NQ. Vật chất là hữu hạn, nhưng về tinh thần, tất cả mọi TPB của QLVNCH đều có một NGÀY TPB mà anh Ut ở Cà Mau gọi là ngày giỗ.

Thôi buổi thảo luận của anh em "Café đảng" đến đây tạm ngưng, tất cả những ý kiến anh em tôi vừa đóng góp coi như một sự gợi ý để các vị niên trưởng lưu tâm và giúp cho những sáng kiến và phương cách cụ thể hơn hầu trả bớt nợ cho anh em TPB càng sớm càng tốt.

Đã 31 năm rồi, nợ mẹ đẻ nợ con, không lẽ lại khai "băng-cướp-xi".

Riêng tôi sẽ mang cuốn băng thâu âm này về xin nhờ nhật báo Việt Báo lên tiếng dùm, may ra đồng bào ở các tiểu bang xa nghe được sẽ ủng hộ, hoặc chính họ sẽ đứng ra tồ chức một nhạc hội gây quỹ giúp TPB./.

Vanto

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA BẠN TRẺ VỀ QLVNCH

PHẠM PHONG DINH

Nhà văn TRẦN VIỆT HẢI ở Los Angeles đã nhận được thư hỏi của bạn Quách Vi ở thành phố Los Angeles và đã chuyển thư đó đến cho chúng tôi. Những câu hỏi của bạn trẻ Quách Vi thật thú vị, hay và lạ, phản ảnh sự quan tâm của giới trẻ Việt Nam ngày nay đối với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Thú vị bởi các bạn trẻ đa số theo cha mẹ di tản sang Mỹ từ thuở còn rất nhỏ, hoặc sinh ra và lớn lên trên xứ người, nhưng các bạn vẫn tìm kiếm những sự thật về cội nguồn của mình, trong đó có những Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từng một thời anh dũng chiến đấu bảo vệ đất nước và dân tộc, mà chắc rằng gia đình, ông bà, cha mẹ của các bạn trẻ đã thụ nhận công lao và ân nghĩa máu xương ấy của các anh. Sự hiện hữu của gần ba triệu người Việt, trong đó có thành phần thế hệ trẻ Việt Nam trên những đất nước tự do toàn thế giới : Hoa Kỳ, Canada, Úc, Pháp, Nhật,... sau ba mươi mốt năm không phải là một sự đương nhiên, mà chính là do sự tận lực chiến đấu đến tận ngày cuối cùng là ngày 30.4.1975 của Những Ngưới Lính QLVNCH, ngăn chận bước tiến của giặc cộng, để cho hàng trăm ngàn người di tản có được những khoảng thời gian tối thiểu an toàn ra đi. Hayï là vì bạn trẻ đã có lẽ tự tìm hiểu được nhiều danh xưng của những đơn vị chiến đấu của QLVNCH. Lạ là do bạn trẻ đã hỏi chúng tôi làm sao phân biệt được sự khác nhau giữa các binh chủng. Đó là những câu hỏi lần đầu tiên chúng tôi rất sung sướng được nghe và được hỏi, vì bạn Quách Vi đã cho chúng tôi một cơ hội để đem hình ảnh Người Lính QLVNCH đến gần các bạn trẻ hơn. Xin cám ơn bạn rất nhiều.

Bạn trẻ Quách Vi đặt cho chúng tôi ba câu hỏi như sau, mà chúng tôi mạo muội xin các bậc đàn anh trong quân đội cho phép được giải đáp một cách tổng quát :

1./ Tại sao QLVNCH lập ra ba binh chủng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân ? Vai trò của họ có trùng hợp hay không ? Nếu trùng hợp tại sao lại phân chia ra như vậy ?

2./ Biệt Cách Dù và Lực Lượng Đặc Biệt có giống nhau không ? Biệt Kích Mỹ và Lực Lượng Đặc Biệt (Special Forces) là một hay khác nhau ?

3./ Biệt Cách Dù và Nhảy Dù đều dùng Dù thì hai đơn vị này có liên hệ mật thiết về kỹ thuật hành quân, chiến thuật tác chiến, có đúng không ?

Image

Xin được lần lượt trả lời từng câu hỏi của bạn trẻ Quách Vi như sau.
1./ Vai trò của ba binh chủng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân không có sự trùng hợp, bởi sự phân nhiệm chiến đấu từ lúc khởi đầu các binh chủng này được hình thành. Mỗi binh chủng thực hiện phần trách nhiệm của mình trong cuộc chiến tranh tự vệ chống cộng sản Miền Bắc, đáp ứng với sự biến chuyển của từng thời kỳ.

Binh chủng Nhảy Dù : Là một trong những lực lượng chính qui của QLVNCH được thành lập sớm nhất, gắn liền với lịch sử hình thành cùa QLVNCH , là binh chủng anh cả của toàn quân đội. Đơn vị Nhảy Dù Việt Nam được thành lập đầu tiên chính là Đại Đội 1 Nhảy Dù Đông Dương, vào ngày 1.1.1948, chiến đấu dưới sự điều động của quân đội Pháp tại Việt Nam. Những Đại Đội Dù khác tiếp theo được thành lập. Ba năm sau, các Đại Đội Nhảy Dù Việt Nam được nâng lên cấp tiểu đoàn. Các Tiểu đoàn Dù VN hoạt động như là những đơn vị tổng trừ bị, sẵn sàng ứng chiến và phản ứng nhanh trong bất kỳ hoàn cảnh nào, có mặt trong thời gian sớm nhất ở bất cứ mặt trận nào, với nhiệm vụ giải tỏa áp lực địch lên quân bạn, giải quyết cán cân chiến trường. Ở thời điểm đó, quân đội Pháp hãy còn dùng chiến thuật nhảy dù từ trên không xuống để tràn ngập trận địa và thanh toán nhanh chiến trường.

Sau khi đất nước bị phân đôi từ ngày 20.7.1954, thì gần như toàn bộ các lực lượng quân đội Việt Nam đều di chuyển vào Miền Nam. Ngày 1.5.1955, Liên Đoàn Nhảy Dù được thành lập. Mười năm sau, ngày 1.12.1965, chương sử mới của binh chủng Nhảy Dù được mở ra với buổi lễ xuất quân hùng hậu của Sư Đoàn Nhảy Dù với thành phần gồm 3 lữ đoàn bao gồm 9 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh và các tiểu đoàn yễm trợ tiếp vận. Với chiều dầy kinh nghiệm chiến đấu trên mọi chiến trường lớn và khốc liệt từ Bắc vào Nam, với những thành tích lừng lẫy, binh chủng Nhảy Dù vẫn luôn được Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH tin tưởng trong vai trò làm lực lượng Tổng Trừ Bị. Tổng Trừ Bị khác với các sư đoàn bộ binh ở chỗ Nhảy Dù luôn luôn di động khắp mọi miền đất nước để đáp ứng với đòi hỏi khẩn cấp của những mặt trận mà những đơn vị bộ binh hay Địa Phương Quân không giải quyết được. Sư đoàn bộ binh chỉ hoạt động trong khu vực quân khu và khu chiến thuật của mình, rất ít ra khỏi vùng trách nhiệm, ngoại trừ một vài biệt lệ.

Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến: Sau Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến là một lực lượng kỳ cựu của quân đội VNCH, xuất thân từ các Đại Đội Commandos, Đại Đội Yễm Trợ Giang Đoàn của hai quân chủng Hải Quân và Lục Quân (Quân chủng là những lực lượng lớn mà trong đó có thành phần là những lực lượng nhỏ, binh chủng hay sư đoàn). Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến được chính thức thành lập từ Sắc Lệnh ngày 15.10.1954 do Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ký ban hành. Hai điều khoản 1 và 3 của Sắc Lệnh quy định rõ nhiệm vụ của Thủy Quân Lục Chiến như sau :

Điều khoản 1 : Hiệu lực kể từ ngày 1.10.1954, nay thành lập trong tổ chức Hải Quân Việt Nam một binh chủng bộ binh đặc trách kiểm soát các thủy trình và thực hiện những cuộc hành quân thủy bộ dọc theo bờ biển Nam Hải và trong sông ngòi, mang tên “Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến “ hay “Bộ Binh Hải Quân”

Điều khoản 3 : Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến sẽ gồm nhiều đơn vị khác nhau tùy theo nhiệm vụ, đã có sẵn trong quân chủng Hải Quân và Lục Quân, hay sẽ được thành lập tùy theo kế hoạch phát triễn của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 1.1.1955, các Đại Đội Commandos (cũng thuộc quyền điều động của Pháp và vào Nam sau ngày 20.7.1954) cùng các Đại Đội Yễm Trợ Giang Đoàn được kết hợp nâng lên thành Tiểu Đoàn 1 TQLC. Sau đó là việc hình thành Tiểu Đoàn 2 TQLC. Quân số tăng trưởng đến cấp liên tiểu đoàn, nên có đề nghị từ cấp chỉ huy TQLC cho nâng binh chủng lên ngang tầm với Nhảy Dù, trở thành một binh chủng biệt lập với Hải Quân và được làm lực lượng Tổng Trừ Bị cho Bộ Tổng Tham Mưu. Kế hoạch này mãi đến năm 1965 mới được chấp thuận, Bộ Tư Lệnh TQLC được thành lập để chỉ huy hai Chiến Đoàn TQLC với 5 tiểu đoàn TQLC và 1 tiểu đoàn pháo binh, tách ra khỏi Hải Quân và chính thức mang danh xưng dầy kiêu hãnh : Tổng Trừ Bị của QLVNCH. Sau Tết Mậu Thân 1968, với thành tích chiến thắng ở hai mặt trận lớn là Sài Gòn và Huế của Thủy Quân Lục Chiến, Bộ Tổng Tham Mưu thấy đã đến lúc cho thành lập Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Đến năm 1970 thì Sư Đoàn có 3 Lữ Đoàn với 9 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh và các tiểu đoàn yễm trợ tiếp vận. Tình hình chiến trường sau năm 1968 đã trở nên nặng độ, một Sư Đoàn Dù không đủ cáng đáng được nhiều mặt trận lớn cùng một lúc, Sư Đoàn TQLC nhận vinh dự làm lực lượng Tổng Trừ Bị QLVNCH, hãnh diện sánh vai và chia sẻ gánh nặng chiến trường với Sư Đoàn Nhảy Dù, nhưng vẫn giữ nhiệm vụ khởi đầu từ năm 1954 là hành quân thủy bộ, kiểm soát vùng biển và sông ngòi Miền Nam.

Binh chủng Biệt Động Quân : Là một lực lượng đàn em của hai binh chủng Dù và TQLC, ra đời ngày 1.7.1960 để đáp ứng với hình thái chiến tranh du kích của Việt cộng ở Miền Nam bắt đầu dậy lên từ năm 1959 với những hành động tàn bạo của chúng như ám sát, bắt cóc, khủng bố, đấp mô, gài mìn trên đường, phá cầu cống, ngăn trở giao thông,... Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ đã giúp huấn luyện binh chủng Biệt Động Quân. Tổng Thống Ngô Đình Diệm của nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã chỉ thị Nhảy Dù, các sư đoàn bộ binh tuyển những chiến sĩ tình nguyện sang chiến đấu dưới màu cờ của binh chủng Biệt Động Quân. Nên sau này các bạn trẻ thấy nhiều vị chỉ huy BĐQ và sĩ quan có người mang trên ngực áo những cánh dù trắng. Dần dần, có 65 đại đội BĐQ được thành lập. Năm 1961, một dự án được Tổng Thống Diệm phê chuẩn để nâng tổng số lên thành 81 đại đội BĐQ. Biệt Động Quân có nghĩa là một lực lượng quân đội có những công tác hoạt động đặc biệt và hành quân biệt lập. Những đại đội BĐQ được huấn luyện chiến thuật phản du kích, chống sự xâm nhập của thổ phỉ Việt cộng vào những vùng kiểm soát của Quân Đội VNCH, tìm và tiêu diệt địch ngay trong những an toàn khu của chúng.

Tổng Thống Diệm đã đích thân chọn lựa những đại đội ưu tú nhất của các sư đoàn bộ binh để cải chuyển sang thành các đại đội BĐQ. Như vậy, Biệt Động Quân giải quyết những chiến trường nhỏ, đương đầu với những toán Việt cộng, thường thường là cấp đại đội, chủ động tìm và đánh vào chỗ trú ẩn của chúng trước, chứ không chờ đợi mặt trận nổ lớn rồi mới đến, hay mở những cuộc hành quân lùng địch cấp tiểu đoàn, lữ đoàn hoặc chiến đoàn như Dù và TQLC.

Năm 1963, binh đội cộng sản Bắc Việt bắt đầu vào Miền Nam mở những trận đánh lớn cấp tiểu đoàn. Để thích ứng với với tình hình khẩn trương đó, cấp đại đội không còn đủ hỏa lực đối đầu với cấp tiểu đoàn địch, các đại đội BĐQ được kết hợp thành tiểu đoàn. Khi địch mở những trận địa chiến cấp trung đoàn, các tiểu đoàn BĐQ lại được kết hợp thành những liên đoàn, mỗi liên đoàn có 3 tiểu đoàn bộ binh. Đó là thời điểm sau năm 1966, song song với sự phát triễn lớn mạnh của toàn QLVNCH, BĐQ cũng được nâng lên cấp Liên Đoàn, với năm Liên Đoàn 1, 2, 3, 4 và 5 BĐQ. Mỗi liên đoàn được làm thành phần trừ bị của mỗi Vùng Chiến Thuật mang con số tương ứng, riêng Liên Đoàn 5 trực thuộc Vùng III Chiến Thuật. Như vậy từ thời điểm 1966, lực lượng Mũ Nâu BĐQ đã chia gánh nặng chiến tranh với hai binh chủng đàn anh trong vai trò trừ bị Vùng, sau này là trừ bị quân khu (từ cuối tháng 10.1970, Vùng được đổi tên là Quân Khu). Đến cuối năm 1970, Lực Lượng Đặc Biệt được giải thể, nhiều binh sĩ và sĩ quan chuyển sang BĐQ. Đồng thời lực lượng Dân Sự Chiến Đấu Thượng (CDIG) và Biệt Kích Thượng Mike Force cũng được sáp nhập vào BĐQ, nâng tổng số tiểu đoàn lên đến 54. Đầu năm 1973, Bộ Tổng Tham Mưu soạn thảo một kế hoạch tái tổ chức binh chủng BĐQ, kếp hợp 54 tiểu đoàn thành 15 Liên Đoàn BĐQ, làm thành phần trừ bị chiến thuật cho ba Quân Khu I, II và III, bởi Sư Đoàn Dù và TQLC đã được Quân Khu I cầm giữ vô thời hạn, QLVNCH cần đến BĐQ như là một lực lượng thay thế, ít nhất là cơ động phản ứng, tăng viện và tiếp cứu nhanh trong mỗi quân khu.

Tình hình càng đòi hỏi, quân số Tổng Trừ Bị thiếu hụt, nên Bộ Tổng Tham Mưu đã nâng các Liên Đoàn 4, 6 và 7 BĐQ lên thành Tổng Trừ Bị. Năm 1975, có kế hoạch tổ chức đến 4 sư đoàn BĐQ phân phối cho bốn quân khu, nhưng chỉ có Sư Đoàn 101 BĐQ được hình thành trong tháng 4.1975 tại Sài Gòn.

Kết luận : Mỗi binh chủng từ lúc thành lập nhận một nhiệm vụ chiến thuật, chiến lược riêng và dần dần tiến hóa biến đổi theo cùng với tình hình. Từ sau năm 1971 trở đi, cộng sản Hà Nội đã mở những mặt trận kiểu quy ước chiến (có nghĩa là dàn quân đánh lớn bằng đủ loại hỏa lực chúng có, thách thức ý chí và sức mạnh của QLVNCH), nên ba binh chủng xuất sắc nhất của QLVNCH là Dù, TQLC và BĐQ cũng phải dàn đại quân nghênh chiến. Đánh lớn khắp nơi, những đặc điểm riêng của từng binh chủng không còn được phân biệt rõ, để chỉ còn một binh pháp chung, là cùng làm Tổng Trừ Bị. Mỗi binh chủng đều có những kinh nghiệm, quan niệm hành quân và chiến thuật cá biệt, cơ cấu tổ chức và huấn luyện khác nhau. Nói là trùng hợp thì không hẳn đúng, vì quân đội cần rất nhiều lực lượng tổng trừ bị để tung ra các chiến trường đỏ lửa. Mỗi binh chủng có màu cờ, màu mũ đội trên đầu, sắc áo riêng và niềm hãnh diện truyền thống của binh chủng ấy.

2./ Biệt Cách Dù và Lực Lượng Đặc Biệt có giống nhau không ? Câu trả lời là Có và Không. Có là vì các chiến sĩ ấy cùng chiến đấu dưới huy hiệu chung của Lực Lượng Đặc Biệt (Hình con Hổ Nhảy Dù). Không là vì nhiệm vụ mỗi bên khác nhau. Lực Lượng Đặc Biệt được thành lập năm 1957, với những nhiệm vụ bí mật và đặc biệt như nhảy ra Bắc lấy tin tức, sách động dân chúng, các sắc tộc nổi dậy, viễn thám sang đất Lào, quấy phá vùng biển miền Bắc. Năm 1961, LLĐB thành lập thêm một số Đại Đội Biệt Cách Nhảy Dù Biệt Lập để làm thành phần hỗ trợ, ứng cứu cho những toán nhảy qua Lào hay ở những vùng biên giới nguy hiểm. Năm 1964, các Đại Đội BCD được kết hợp thành Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù, vẫn chịu sự chỉ huy của LLĐB. Năm 1968, Tiểu đoàn được cải danh thành Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Song song với hoạt động của Tiểu Đoàn 91 BCD, LLĐB còn thành lập Trung Tâm Hành Quân Delta. Tháng 8.1970, LLĐB được giải thể (bởi sau năm 1968, LLĐB không còn phụ trách xâm nhập đất liền và vùng biển miền Bắc nữa), binh chủng chỉ còn tồn tại Trung Tâm Hành Quân Delta và Tiểu Đoàn 81 BCD, hai đơn vị này sáp nhập lại thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, quân số dần dần lên đến 3,000 chiến sĩ và được chia ra làm ba Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật. Mỗi Bộ Chỉ Huy Chiến thuật có 4 Biệt Đội, mỗi Biệt Đội có 200 chiến sĩ.

Biệt Cách Nhảy Dù (Mỹ gọi là Airborne Ranger) có nghĩa là hành quân biệt lập và cách biệt với mọi binh chủng bạn, bởi nhiệm vụ quá đặc biệt và bí mật của binh chủng này. Nhiệm vụ chính yếu là nhảy toán (mỗi toán thông thường là 6 người), thâm nhập vào các mật khu, hậu cứ địch để lấy tin tức, quấy rối, phá hoại căn cứ địch, bắt cóc tù binh, cung cấp tọa độ đánh bom cho Không Quân, khám phá những kho vũ khí, thực phẫm của địch. Khi tình thế cho phép thì các chiến sĩ BCD cũng tổ chức đánh địch ngay trong lòng địch. Nói chung, Liên Đoàn 81 BCD được hình thành không phải để nhận nhiệm vụ đánh trận địa chiến. Các chiến sĩ BCD được ví von như là những chiếc “chén kiểu” quí giá vô cùng, vì các anh được huấn luyện cho những công tác thật đặc biệt. Sở trường của BCD là đánh đêm. Tuy nhiên, khi tình hình nguy ngập như trong Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lừa 1972, Phước Long 1974, Bộ Tổng Tham Mưu đã sử dụng Liên Đoàn 81 BCD như là một lực lượng Tổng Trừ Bị tăng viện, tiếp cứu và thanh toán chiến trường. Sau chiến thắng Mùa Hè 1972 ở An Lộc và Quảng Trị, Liên Đoàn 81 BCD được vinh dự làm lực lượng Tổng Trừ Bị sánh vai với các binh chủng tinh hoa bậc nhất của QLVNCH. Cán binh Hà Nội học thuộc lòng câu kinh nhật tụng sau đây : “Có ba thứ trong Nam là tử thần, đừng gặp là hơn : Nhảy Dù – Biệt Cách Dù và Bom B 52”.

Xin trả lời câu hỏi: Biệt Kích Mỹ và Lực Lượng Đặc Biệt (Special Forces) là một hay khác nhau. Câu trả lời là hoàn toàn khác nhau.
Xin nói về LLĐB trước : Thành lập năm 1957 và nằm dưới quyền điều động của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH để thực hiện những công tác đặc biệt và tối mật : nhẩy ra Bắc lấy tin tức, trà trộn vào dân chúng Việt Nam hay người sắc tộc, thám sát những hệ thống tiếp vận trên đường mòn Hồ Chí Minh, nhẩy sang Lào thám sát hệ thống đường mòn HCM, đổ bộ và quấy phá vùng biển miền Bắc. LLĐB là một binh chủng nằm trong QLVNCH. Mối tương quan duy nhất của LLĐB với Biệt Kích Mỹ là cùng đóng chung trong những trại biên phòng dọc theo biên giới Việt – Miên – Lào.

LLĐB được giải thể tháng 8.1970 vì đã hết nhiệm vụ nhẩy Bắc, nhẩy Lào và đổ bộ biển.

Biệt Kích Mỹ : Danh từ này rất mơ hồ, dùng để chỉ chung hai lực lượng được CIA Mỹ mướn và trả lương, hoàn toàn không thuộc về QLVNCH :

a./ Phòng Vệ Dân Sự : CDIG (Civil Defence Irregular Group). Gồm toàn những thanh niên người Thượng của nhiều bộ tộc ở cao nguyên miền Trung, ở vùng biên giới Việt – Miên – Lào, một số khác là người Việt gốc Miên. CDIG có nhiệm vụ đồn trú trong những trại dọc biên giới Việt – Miên – Lào ở những nới CIA nghi ngờ là những điểm từ đó binh đội Bắc Việt xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. CIA nghĩ rằng người Thượng, người Miên là dân tộc miền núi chiến đấu giỏi, thông thuộc rừng núi, là nơi sinh ra và lớn lên của họ. Thông thường mỗi trại quân số lên đến vài trăm người, có sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ chỉ huy, sau này lại có thêm sĩ quan LLĐB Việt Nam đến, nhưng coi bộ quân CDIG không thích mấy và rất miễn cưỡng chịu thi hành lệnh của sĩ quan LLĐB Việt Nam. Các trại biên phòng luôn là mục tiêu tấn công của quân cộng, vì các trại ấy là trở ngại rất khó chịu trên đường xâm nhập hay hoạt động của chúng trong lãnh thổ VNCH.

b./ Biệt Kích Mỹ : hay còn gọi là Mike Force do danh xưng Mobile Strike Force (Lực Lượng Tấn Công Cơ Động). Lính Biệt Kích Mỹ giống như Phòng Vệ Dân Sự, do CIA mướn và trả lương, với thành phần là người Thượng và Miên. Họ mặc áo rằn ngụy trang(camouflag) rất khác biệt và rất dễ nhận ra so với áo rằn Dù, rằn TQLC, BCD, hay hoa rừng của BĐQ. Lính Mike Force, như danh xưng, là một lực lượng hành quân tích cực hơn CDIG, thông thường là tiếp cứu những trại Phòng Vệ Dân Sự bị cộng quân tấn công. Biệt Kích Mỹ không có nhiệm vụ tiếp cứu các đồn trại của QLVNCH. Nhưng ngược lại, nếu cần thì chính các đơn vị QLVNCh sẽ tiếp cứu các trại CDIG và Biệt Kích Mỹ.

Năm 1970, LLĐB Mỹ rút về nước, bàn giao CDIG và Mike Force cho QLVNCH, từ đó quân số hai lực lượng này nằm trong quân số của QLVNCH, do chính quyền VNCH quản trị và trả lương. Bộ Tổng Tham Mưu đổi tên hai lực lượng này thành Biệt Động Quân Biên Phòng cấp tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn trấn đóng một trại biên phòng dọc theo biên giới Việt – Miên – Lào khắp bốn Vùng Chiến Thuật. Cuối năm 1973, Bộ Tổng Tham Mưu quyết định bãi bỏ các trại biên phòng, cho sáp nhập BĐQ Biên Phòng vào hợp chung với Biệt Động Quân bình thường, và đều nằm chung dưới quyền chỉ huy của Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân. Có tất cả 54 tiểu đoàn BĐQ vừa biên phòng vừa bình thường được gom lại thành 45 tiểu đoàn, từ đó thành lập 15 liên đoàn BĐQ phân phối trên ba Quân Khu I, II và III (Quân Khu IV với các sư đoàn bộ binh và lực lượng Địa Phương Quân – Nghĩa Quân lớn mạnh, đủ sức đánh dẹp quân cộng, nên không cần các binh chủng Tổng Trừ Bị và BĐQ nữa).

Image

3./ Biệt Cách Dù và Nhảy Dù đều dùng dù thì có liên hệ mật thiết về kỹ thuật hành quân và tác chiến không ? Câu trả lời là Không, bởi lẽ nhiệm vụ chiến thuật, chiến lược của hai binh chủng hoàn toàn khác nhau.

Nhảy Dù: Binh chủng Tổng Trừ Bị, có nhiệm vụ đánh trận địa chiến, kết hợp liên binh chủng rất hùng hậu như pháo binh, thiết giáp, không quân. Tuy mang tiếng nhảy dù, nhưng những trận đánh có nhảy dù thực sự từ trên máy bay xuống rất ít, chỉ một đôi lần, thí dụ rõ nhất là trận Ấp Bắc năm 1963. Về sau, vì hỏa lực phòng không của địch quá mạnh, chiến trường đa số thuộc vùng rừng núi rất trở ngại cho việc nhảy dù, nên kỹ thuật được ưa thích nhất là nhảy từ trực thăng xuống (gọi là chiến thuật trực thăng vận), vừa an toàn, vừa tập họp binh sĩ một cách nhanh chóng và đầy đủ nhất. Tuy vậy mỗi năm, mỗi chiến sĩ Dù từ binh sĩ lên đến hàng sĩ quan, ai cũng phải nhảy dù gọi là “Nhảy bồi dưỡng” một số saut ở những địa điểm an toàn.

Biệt Cách Dù : (Airborne Ranger) Cũng là một binh chủng Tổng Trừ Bị nhưng hoàn toàn không nằm dưới quyền điều động của sư đoàn Nhảy Dù, quan niệm và kỹ thuật hành quân, tác chiến cũng rất khác biệt. Bởi nhiệm vụ đặc biệt và bí mật, nhảy toán nhỏ, nên chiến sĩ BCD hoạt động sâu trong vùng địch, hoàn toàn cách biệt với các binh chủng bạn. Binh chủng liên hệ mật thiết và luôn luôn là “ good and super friends” của BCD là các chiến sĩ trực thăng của Không Quân, vì các anh Không Quân có nhiệm vụ đưa các anh BCD đến địa điểm để nhảy xuống, rồi bay đến bốc các BCD về. Cũng được học nhảy dù như các chiến sĩ Dù Mũ Đỏ, nhưng các chiến sĩ Dù Mũ Xanh BCD chưa từng nhảy dù trên trận địa bao giờ, vì rất dễ bị địch phát hiện từ trên không. Biệt Cách Dù không được huấn luyện đánh trận địa chiến, trang bị hỏa lực nhẹ, đi rừng rất giỏi, đánh trong thành phố thần sầu, sở trường đánh đêm. Tuy vậy, khi cần thì các BCD cũng được Bộ Tổng Tham Mưu ném vào những chiến trường lớn như An Lộc, Quảng Trị Mùa Hè 1972, Phước Long 1974 để đánh trận địa chiến, các anh đã anh dũng hoàn thành sứ mạng.

Nhân ngày Quân Lực 19.6 năm nay, kỷ niệm 41 năm ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đứng ra gánh vác trách nhiệm lèo lái, bảo vệ Tổ Quốc và Dân Tộc, chúng ta, những người còn sống dù là lính hay là dân, là thế hệ thuộc chiến tranh hay thế hệ trẻ Việt Nam trong thời bình, xin chân thành cúi đầu tưởng nhớ đến anh linh của 250 ngàn chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng hy sinh trên khắp nẽo chiến trường trong ròng rã hai mươi năm, ngậm ngùi tiếc thương các anh và chia sẻ niềm đau cùng với hàng triệu quả phụ cô nhi, chân thành tri ân 500 ngàn chiến sĩ QLVNCH chiến thương vẫn còn sống khoắc khoải, đói khổ cùng cực ở quê nhà. Những người lính đã chết, các anh thương binh bên kia bờ Thái Bình Dương và những người lính chúng ta còn sống, tất cả đều tự hào đã từng mặc chiếc áo lính màu xanh ô liu, hoa Dù, áo rằn Cọp Biển, Biệt Cách Dù, áo hoa rừng Biệt Động Quân, áo trắng Hải Quân, áo xanh Không Quân, kiêu hãnh được chiến đấu dưới Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ Đại Nghĩa Việt Nam và dưới bóng Lá Quân Kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Dù có một lần QLVNCH bị các thế lực thù và “bạn” bức tử, nhưng tất cả NHỮNG NGƯỜI LÍNH QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA vẫn luôn ngẫng cao đầu đi vào lịch sử chống xâm lăng từ phương Bắc vì đã bền bỉ đổ máu xương bảo vệ TỔ QUỐC, làm tròn TRÁCH NHIỆM của người trai thời chiến. Những người lính ấy luôn nêu cao DANH DỰ của một quân đội mà luôn là cơn ác mộng triền miên của cộng sản và binh đội Bắc Việt. Chúng chỉ thắng được chúng ta, những Người Lính QLVNCH khi chúng ta đã bị buộc phải buông súng. Nếu cây súng còn trên tay, viên đạn cuối cùng vẫn còn nằm trong nòng súng, thì bọn tiểu nhân Hà Nội chưa chắc đã dám ngỗ ngáo đắc chí đến tận ngày nay.

Sau ba mươi mốt năm, chúng ta, Những Người Lính QLVNCH đã không còn súng, ấy vậy mà cộng sản Hà Nội vẫn cứ ăn không ngon, ngủ không yên. Bởi lẽ, Người Lính QLVNCH là khắc tinh, là cơn ác mộng hãi hùng của chúng đến vô tận vô cùng.

Phạm Phong Dinh

Post Reply