Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Văn Tế Chiến Sĩ Trận Vong Ngày Quốc Hận


Nguyễn Mạnh Trinh


Ô hô!

Xưa, truyền tụng bài Điếu Cổ Chiến Trường Văn, lời Lý Hoa đã dãi dầu cùng thiên cổ.
Nay, đọc lại Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, tiếng Đồ Chiểu còn sang sảng với non sông.
Than ôi
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi, trung nghĩa đài lửa thắp nhớ người xưa.
Đất linh thiêng vùi chôn thân xác, đàn trận vong lời vẳng tận thiên thu.
Vận nước đến thời
Anh hùng mạt vận
Hai mươi năm xây đắp quốc gia, ngăn sóng đỏ, cầm gươm giữ nước
Một thế kỷ lầm than dân tộc, xót thế thời, đứng dậy dưới cờ.

Tháng tư đen, bỗng tình cảnh xảy đàn tan nghé
Ất mão buồn, chợt tang thương tan cửa nát nhà
Phe Cộng hung hăng, đằng sau Nga Tàu tận tình chi viện, xe tăng súng lớn thừa thãi ê hề, đạn vung vãi tối trời mù đất
Phía ta thế thủ, mặt trước đồng minh buông tay không giúp, máy bay tàu thủy thiếu thốn xăng dầu, pháo nhỏ giọt làm sao chiến thắng.
Muốn tận tình tranh đấu, mà ai xui bỏ đất bỏ dân.
Thích xông thành đụt pháo, ngỡ mình đang giữ xóm giữ làng.
Cơ đồ mất, tướng quân tử tiết, sáng trưng tinh đẩu, linh hiển thành phúc thần phù hộ non sông
Chính quyền tan, dân chúng khóc than, xâm lược đã bạo tàn bắt người cướp của.

Nhớ linh xưa,
Mắt biếc môi hồng, tuổi trai trẻ dập dồn bao ước vọng
Đôi mươi xanh tóc, vào lửa binh đâu ngại chuyện tương lai
Nhập binh ngũ phận kẻ nam nhi, đời chinh khách dậm ngàn vó ngựa
Khoác nhung bào kiếp sống hào hùng, thân bách chiến xá gì sinh tử
Mùa hè đỏ lửa, ghìm tay súng giữ vững biên cương.
Mậu thân khói tỏa, vững niềm tin yên bình phố thị.
Bảo quốc trấn không, cánh chim trời dọc ngang, đi chẳng về, không trung gửi xác thân.
Đại dương vùng vẫy, kình ngư ngoài biển lớn, bỏ bến bờ, sóng dữ náu hình hài.
Nào nhảy dù, biệt động,.. trăm trận xông pha, chiến tích đã nức danh kim cổ
Nào thiết giáp, pháo binh,.. khí thế đằng đằng, sấm sét dáng lên đầu giặc dữ.
Dù chán ghét chiến chinh, nhưng vẫn phải dấn thân binh lửa.
Mặc tình đời đen bạc, mãi một lòng báo quốc trung trinh.
Trí vốn quen sách vở thư sinh, bỏ trường lớp đi vào chiến trận.
Óc chất chồng lục thao tam lược, có xá gì làn đạn mũi tên.
Ghét giặc bạo tàn, pháo kích dân lành, chẳng xót thương đồng bào ruột thịt.
Chở che bá tánh, chiến địa tung hoành, sức đoạn kình yên hàn xã tắc.

Nào ngờ đâu
Da ngựa bọc thây, chữ quy khứ đã đành về âm cảnh.
Đầu non trăng dãi, câu chiêu hồn đủ sót chốn dương gian.
Bàn cờ thua, ai cứu được giang san.
Gặp vận bĩ, liều thân cùng đất tổ.
Hỡi ơi!
Một trận tan tành,
Trời thủ đô vần vũ áng mây tang.
Muôn dân thương khó,
Đất phương nam ngơ ngác ngọn cờ hàng.

Cuối tháng tư, thế cùng lực tận, tướng trấn ải cam đành tự tận, nêu tiếng thơm để lại ngàn sau.
Đầu tháng năm, hàng ngũ vỡ tan, quân tử thủ liều tấm thân, đời anh kiệt ghi cùng sử sách.
Mặt trận Sài Gòn ngày rã ngũ, cả tiểu đội nắm tay ôm lựu đạn, sống cùng nhau và chết cũng cùng nhau.
Bản doanh Cần Thơ đêm buông súng, khắp quân đoàn lệ khóc thương tư lệnh, sinh vi tướng và tử cũng vi thần.
Bao nhiêu người gục ngã, vạn chiến sĩ vô danh tô máu sắc cờ.
Bấy nhiêu gương nghĩa dũng, muôn anh linh hiến mình vì nước hy sinh.

Thế mà
Đài tưởng niệm chỉ đành trong tâm tưởng, phận kẻ thua đâu có được đền miếu huy hoàng.
Bức tượng Tiếc Thương đem dập vùi hoang phế, khiến nhân tâm đau xót thảm thương.
Nghĩa trang Quân Đội đành rêu loang cỏ áy, xui quốc dân thống hận đoạn trường.
Ở hải ngoại, muôn lòng tưởng niệm, cuối tháng tư thắp nén nhang thơm.
Nơi lưu lạc, vạn lời thương cảm, đầu tháng năm đốt nến nhớ người. Vọng hồn trung liệt
Ly rượu nồng tựa nước mắt muôn thu
Tưởng đấng hùng tài.
Chén nước trong giống suối nguồn son tạc.
Thác chẳng cần đền miếu, sống muôn thuở lừng danh
Sống không kể gian nguy, thác ngàn năm nhang khói.
Ơi hỡi anh hùng chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Về đây chứng giám.

Hồn linh thượng hưởng.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tần ngần giữa chợ Chị đi chậm, bước chân hơi ngập ngừng, đắn đo, chị xách giỏ dạo vòng qua chỗ cá, chỗ thịt, chỗ rau rồi vòng về chỗ cá, đứng ngây ra, vẻ mặt hơi dại đi, ngẩn ngơ. Lại đi hai ba vòng chợ nữa, chị dừng chân, thở hắt, kêu lên, “mèn ơi…”. Bạn đoán coi chị đang nghĩ gì? a. không biết mua gì; b. đang lo lắng vì giá lên mau như một cái chớp mắt; c. làm sao để chuẩn bị một bữa ngon cho cả nhà. Tôi chọn d, chị nghĩ tới tất cả các điều trên.

Có lần thấy chị đứng tần ngần giữa chợ, tôi bỗng nghĩ, phải mình là điêu khắc gia, thể nào cũng chở đá Non Nước về mà tạc tượng chị. Chỉ sợ là tượng đẽo xong mờ nhạt (như những tượng đài anh hùng luôn giống nhau, giống nhau cả ở nét mặt chẳng hồn vía gì), tôi làm sao tạc được vào đá gương mặt chị, như lo lắng, như ngơ ngẩn, như đang nghĩ lung lắm mà cũng có vẻ trống rỗng, vô định, như chẳng biểu lộ gì mà chan chứa thương yêu. Chị còn làm khó tôi – một điêu khắc gia (giả bộ) cả ánh mắt ngượng nghịu của chị khi bắt gặp người khác đang nhìn mình. Chị cười xòa, phân trần, không biết mua gì…

Vì chợ sớm mai có quá nhiều thứ để mua. Những con cá đen nhẫy đang quẫy nước trong tiếng kêu ôi ối của mấy người đàn bà. Đống rau cải mướt sương đêm chất ngồn ngộn dưới nền chợ. Những tảng thịt đỏ tươi, còn ấm nóng trên tay... Hàng hóa ê hề, nhưng ít dần, trừ dần khi chị nghĩ tới từng người ở nhà. Chị có mẹ chồng, không thích thịt, hay cá lóc, bí xanh, khoai ngọt, củ cải, mỗi lần nấu canh mướp, bà mẹ than đau nhức khắp mình. Chồng chị lại không mặn mà cá trê, ghét bông bí, đậu bắp, cải xanh (trời ơi, toàn là những thứ chị khoái mới khổ chứ). Thằng con lớn trèo lên mâm thấy cá rô kho với dĩa dưa giá là nhăn mặt toan tụt xuống. Và cứ thế, chị chẳng còn bao nhiêu cơ hội chọn lựa. Cầm cái bắp cải hay bó cải rổ, lại lo người ta tưới lên ấy những gì. Mua trái lê, trái táo, tần ngần nghĩ không biết mấy thứ này có bị ngâm hóa chất giữ cho tươi lâu? Ngó con gà nằm trên sạp da vàng óng, chị tần ngần nghĩ tới cúm gia cầm.

Lâu rồi, chị đã không ăn những món mà chị thích (người trong nhà thì không). Chị bưng tô rau má (hay rau dền) nấu canh nghi ngút khói lên bàn, nhìn bà mẹ hớn hở suýt xoa để vui, để quên mình đã ăn mấy thứ này hồi còn ở quê, suốt mười mấy năm, mắc chán. Thế nhưng món bí đỏ hầm dừa thì lâu lâu chị lại nhớ nức nở, bỏ công nấu một nồi con con, chẳng ai trong nhà hưởng ứng. Đi ngang qua chỗ bán rau cải, chị nhìn mớ bông bí thòm thèm, nhưng nghĩ chỉ một mình ăn thì vui gì.

Biết bao điều phải nghĩ, đã cực lòng lắm rồi, lại thêm giá vùn vụt lên. Mau như trở bàn tay, món tiền hôm nay chỉ mua được nửa nắm rau hôm trước. Con cá trong giỏ cứ nhỏ dần đi, nỗi áy náy thì ngược lại, lớn ngợp lòng. Người nào rời mâm cơm trước chị cũng bần thần hỏi vói theo, “bộ đồ ăn không ngon hả ?”. Trời ơi, làm nội trợ, ai nói sướng nào?

Đóng vai thần thừ giữa chợ năm ba lần, tôi đã biết cảm giác bồi hồi của chị khi lướt nhanh qua con cá to nhất, con cua chắc nhất, về đến nhà vẫn ám ảnh, nghĩ mình vừa bỏ lỡ một bữa ăn ngon cho cả nhà. Tôi biết chị yêu thương nặng oằn mà mớ tiền lại nhẹ hẫng trên tay. Trải qua mới hiểu, những lúc ấy mình dụng công suy nghĩ, cảm xúc đầy còn hơn… viết văn. Nhiều lúc quên đây là chỗ kẻ bán người mua, bởi nhìn thấy chùm trái giác, hay mấy cái bắp chuối đặt cạnh rổ rau đắng đất, hay xô ốc lác đầu mùa mưa, hay những trái mãng cầu chín… là kỷ niệm tuổi thơ kéo ra dài ngoằng có dây có nhợ, những ngày lam lũ thức giấc dậy động trong lòng.

Tôi biết, có nhiều lần, anh thấy chị trở về chỉ mấy trái cà, vài ba con cá, anh gắt “Đi cả buổi…”, nhưng anh biết không, trong cái giỏ đồ ít ỏi đó, oằn trĩu niềm lo nghĩ, nỗi thương yêu…

Nguyễn Ngọc Tư

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

TIÊU PHONG
Lê Như Đức

Image

Hầu hết dân nghiền kiếm hiệp đều phải biết đến tác giả Kim Dung. Nói đến truyện kiếm hiệp Kim Dung không ai lại không nhắc tới một đại anh hùng, một đại bang chủ tên Tiêu Phong trong truyện Thiên Long Bát Bộ tập thượng và Lục Mạch Thần Kiếm tập hạ.
Tiêu Phong được nhắc tới nhiều vì cuộc đời và cuộc tình của ông quá sức bi thảm đã xẩy đến cho một đại hào kiệt vì những âm mưu đê tiện và ích kỷ của con người. Cái chết bi thảm của Tiêu Phong vì lê dân của cả hai nước Đại Tống và Khất Đan ngoài Nhạn Môn Quan đã làm thổn thức và đau lòng độc gỉa cả nam lẫn nữ bao năm qua mỗi lần nhắc đến. Không một ai không nuối tiếc, không đau lòng cho sự hy sinh vì đại nghĩa, vì dân, vì nước của một vị đại anh hùng.
Tiêu Phong có cha là Tiêu Viễn Sơn, vốn dòng giõi thế gia của nước Khất Đan. Tiêu Viễn Sơn lại được thụ huấn võ công từ một người trong Trung Nguyên, thuộc nước Đại Tống.
Năm Tiêu Phong một tuổi, Tiêu Viễn Sơn mang vợ con qua Nhạn Môn Quan nhập Trung Nguyên về thăm ngoại. Gia đình Tiêu Viễn Sơn bị đột kích bất ngờ bởi một nhóm người yêu nước như Huyền Từ đại sư chưởng môn phái Thiếu Lâm, Uông Kiếm Nam bang chủ Cái Bang, Trí Quang đại sư, Đàm ông, Đàm bà, Triệu Tiền Tôn…
Sở dĩ có chuyện đột kích bất ngờ này là do qủy kế của Mộ Dung Bác, hậu duệ của vua nước Đại Yến năm xưa, muốn khôi phục lại giang sơn khỏi tay Tống triều nên bầy ra. Mộ Dung Bác lợi dụng lòng yêu nước và tình bạn cố tri với Huyền Từ đại sư, phao tin thất thiệt về âm mưu của người Khất Đan tính gửi một nhóm người nhập Trung Nguyên ăn cắp bí phổ võ công của Thiếu Lâm tự để nghiên cứu hầu thôn tín Đại Tống. Chính sách của Mộ Dung Bác là gây chiến tranh giữa các nước lân bang Đại Tống để hưởng lợi “ngư ông” hầu khôi phục Đại Yến, cướp lại ngai vàng của cha ông ngày xưa.
Lòng thâm độc và ích kỷ của Mộ Dung Bác đã gây thảm họa đến cho gia đình Tiêu Viễn Sơn. Kết quả là vợ chết, con chết, Tiêu Viễn Sơn quẫn trí, đau lòng viết vài dòng tuyệt bút kể sự thật lên vách núi và nhẩy xuống vực thẳm tự sát. Vừa nhẩy khỏi vực sâu, Tiêu Viễn Sơn nghe tiếng khóc của con trai mình nên quăng đứa bé lại cho Huyền Từ đại sư. Cũng vì tiếng khóc này mà Tiêu Viễn Sơn đã bỏ ý định tuyệt tự, bám vào thân cây mọc ngang vách núi, tự cứu sống lấy thân.
Khi biết được sự lầm lẫn, Huyền Từ và Uông Bang Chúa mang Tiêu Phong về Trung Thổ giao cho một cặp vợ chồng Kiều gia sống dưới chân núi Thiếu Thất nuôi dưỡng, đổi họ thành Kiều Phong. Vì hối hận đã gây ra thảm họa cho gia đình Tiêu Phong, Huyền Từ đại sư và Uông Bang Chủ đã âm thầm bồi đắp cho Tiêu Phong trở thành một đại cao thủ tên tuổi trong võ lâm và đại bang chúa của Cái Bang sau này. Riêng Mộ Dung Bác đã giả chết, trốn trong Tàng Kinh Các của Thiếu Lâm Tự để lén học võ công và mưu đồ phục quốc. Tiêu Viễn Sơn muốn báo thù cho gia đình mình nên cũng âm thầm núp trong Thiếu Lâm Tự hơn ba mươi năm dài lén học võ công và điều tra bí mật của kẻ thù.
Cái Bang, còn có tên Cùng Gia Bang, là một bang hội lớn mạnh nhất trong Trung Nguyên thời bấy giờ. Kiều Phong hay Kiều Bang chúa là nhân vật uy quyền tột đỉnh nhất trong giang hồ. Bí mật thân thế của Tiêu Phong có lẽ sẽ vĩnh viễn nằm im trong lòng đất cùng với Từ Đại Nguyên, phó bang chúa của Cái Bang, nếu không có sự ganh tuôn của người vợ trẻ đẹp và đa tình của ông ta.
Ngày Tiêu Phong nhận chức bang chủ, Từ Đại Nguyên có dẫn vợ tới chúc mừng. Thấy Tiêu Phong hững hờ trước nhan sắc của mình, Từ thị sinh lòng đố kỵ, thù oán nên lập mưu, thông dâm với phân đà chủ Toàn Quán Thanh giết chết ông chồng già và đem bí mật thân thế của Tiêu Phong phơi bầy trước mặt bang chúng.
Khất Đan là kẻ tử thù của Đại Tống. Người Tống gọi người Khất Đan là “chó Khất Đan”. Cùng Gia Bang chuyên diệt chó Khất Đan để bảo vệ Đại Tống. Tiêu Phong phải từ chức bang chủ để đi tìm thân thế thực sự của mình.
Tứ một bang chủ uy quyền nhất Trung Nguyên, Tiêu Phong đã lên voi, giờ xuống chó làm kẻ thù cho mọi người nguyền rủa. Tiêu Viễn Sơn lại giả dạng con mình đi giết những kẻ năm xưa đột kích gia đình ông ngoài Nhạn Môn Quan khiến cho Tiêu Phong bị mọi người trong giang hồ hiểu lầm, đuổi giết.
Nhị vị trang chủ Tụ Hiền trang là sư bá và cha của Du Thản Chi tụ tập anh hào tại trang trại của mình để tìm cách trừ khử ác nhân Khất Đan Tiêu Phong. Tiêu Phong tới Tụ Hiền Trang trổ thần uy Giáng Long Thập Bát Chưởng đánh long trời lở đất khiến nhị vị trang chủ phải tự sát. Du Thản Chi bỏ nhà theo dấu Tiêu Phong ra quan ngoại tính chuyện trả thù cho sư bá và cho cha mình.
Tuy Du Thản Chi sau này có may mắn học được võ công trong Dịch Cân Kinh của Đạt Ma Tổ Sư chùa Thiếu Lâm và được Toàn Quán Thanh mưu đồ đưa lên chức bang chủ Cái Bang nhưng cũng không thể đánh thắng nổi Tiêu Phong để báo thù nhà vì võ công cực cao của Tiêu Phong.
Ra quan ngoại, Tiêu Phong có may mắn cứu được vua Khất Đan là Gia Luật Hồng Cơ, kết nghĩa kim lan và được phong làm Nam Viện Đại Vương. Sau này Gia Luật Hồng Cơ ra lệnh Tiêu Phong nam chinh, xâm lăng Đại Tống. Tiêu Phong uy hiếp được Gia Luật Hồng Cơ phải thề trước ba quân tướng sĩ Khất Đan suốt đời không đánh Tống để cứu cư dân hai nước. Tiêu Phong đã vì đại nghĩa cứu hai dân tộc nhưng đối với triều đình Khất Đan, Tiêu Phong lại là kẻ khi quân phạm thượng nên đành phải lấy cái chết để chịu tội với nước nhà.
Trong truyện Kim Dung tiên sinh tả cái chết dũng cảm của Tiêu Phong trên đỉnh đá Nhạn Môn Quan thật gắn gọn, chỉ vài dòng.
“Tiêu Phong lớn tiếng đáp:
- Tâu bệ hạ! Thần Tiêu Phong là người Khất Đan, nay lại uy hiếp bệ hạ thành kẻ đại tội với tổ quốc. Thần còn mặt mũi nào ở lại trên thế gian nữa.
Ông nói xong lượm hai khúc mũi tên lên vận công, rồi hai cánh tay đâm mạnh vào trái tim mình.
Gia Luật Hồng Cơ la lên một tiếng:
- Ui chao!
Rồi phóng ngựa chạy đến, nhưng vừa đi được mấy bước liền buông cương dừng lại.
Hư Trúc cùng Đoàn Dự hồn lạc phách xiêu, đồng thanh la lên:
- Đại ca! Đại ca!
Nhưng thấy hai đoạn tên cắm vào trái tim. Tiêu Phong hai mắt nhắm nghiền và tắt hơi rồi.”
Tiêu Phong có hai người em kết nghĩa là Hư Trúc và Đoàn Dự.
Hư Trúc sống từ nhỏ trong chùa Thiếu Lâm thấm nhuần từ bi của đạo Phật nên rất hiền lành và ngây ngơ. Hư Trúc chính là con riêng của Huyền Từ Đại Sư và Diệp Nhị Nương. Tiêu Viễn Sơn muốn trả thù nên ngầm bắt cóc Hư Trúc lúc mới sinh bỏ vào chùa Thiếu Lâm. Diệp Nhị Nương mất con, thường lên cơn ghen, bắt con nít của người khác giết trả thù, trở thành một trong tứ đại ác nhân.
Đoàn Dự là thế tử của Trấn Nam Vương Đoàn Chính Thuần nước Đại Lý. Cũng như Hư Trúc, Đoàn Dự thường nghe kinh Phật từ nhỏ nên không muốn nhìn cảnh chém giết. Chính vì vậy mà Đoàn Dự đã vô tình học được Lục Mạch Thần Kiếm là đệ nhất võ công trên giang hồ nhưng chẳng bao giờ muốn sử dụng, chỉ chuyên dùng Lăng Ba Vi Bộ để trốn chạy mỗi khi gặp hiểm nghèo.
Đoàn Dự lại có cái cá tính thật dễ thương của người đàn ông đó là tật mê gái. Thấy Vương Ngọc Yến đẹp là Đoàn Dự mê tít cứ mặt dầy theo tới cùng cho dù bộ hạ của Mộ Dung Phục có nói sỏ nói xiên để bảo vệ người yêu cho chủ tướng mình.
Mùa hè năm nay phim bộ kiếm hiệp của Trung Quốc có đóng lại tập truyện này của Kim Dung. Đây là lần thứ ba tôi được coi bộ truyện này đóng thành phim. Tập phim đầu tiên xuất hiện khoảng hai mươi năm trước lúc tôi còn là sinh viên năm thứ ba. Tập phim thứ hai xuất hiện khoảng mười năm sau. Tập thứ ba cũng được đóng khoảng mười năm sau bộ thứ hai. Hai tập đầu do điện ảnh Hồng Kông làm. Tập cuối được đóng từ Hoa Lục.
Phim tập Hồng Kông, Đài Loan, Trung Cộng và Đại Hàn đã tràn ngập thị trường Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước từ nhiều năm qua. Những tên tuổi như Huỳnh Nhật Hòa, Thượng Tuấn, Hoàng đảo chủ, cô Long không còn xa lạ gì với người Việt chúng ta.
Ngày Cộng nô chiếm miền Nam Việt Nam, việc đầu tiên của chúng là bài trừ mãi dâm. Chúng bắt những phụ nữ làm gái, treo trước ngực các bảng thật to “Tôi làm đĩ”, tròng dây thừng vào cổ, kéo đi khắp đường phố. Việc thứ hai là đốt những sách, nhạc, truyện, truyện chưởng mà chúng cho là “văn hóa đồi trụy, ủy mị ru ngủ”. Việc kế đến là cho cả trăm ngàn người vào tù để cải tạo tư tưởng theo hệ Mác Lê, và cuối cùng là đổi tiền, bần cùng hoá cả một dân tộc để làm giầu cho một giai cấp mới: đảng viên đảng cộng sản Việt Nam.
Việt cộng chỉ đạt được chỉ tiêu việc cuối, thất bại hoàn toàn ba việc đầu.
Ba mươi năm trôi qua, ai ai cũng thấy nước Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tệ nạn mãi dâm hơn xưa gấp trăm lần. Tiến nhanh tiến mạnh lên…Nhà Thổ Chủ Nghĩa như lời bác dậy, Việt cộng còn cho quảng cáo việc buôn hương bán phấn quốc tế trên cả Internet nữa. Văn minh càng cao thì trình độ kỹ thuật buôn bán càng tinh xảo. Về Việt Nam hôm nay có thể mướn cả một “em thơm” tới nhà ăn ở cung phụng nguyên tháng như một người vợ. Mướn ba tháng thì được một tuần...free. Sáu tháng thì chỉ tính giá năm tháng mà thôi.
Các bà, các cô, các chị, các em ngoan có chồng thích về Việt Nam để làm phước, làm ăn, muốn giúp họ hàng, thăm quê ngoại, chữa bệnh nan y, tìm người thân, nhớ xóm cũ, mở công ty, xây nhà từ đường, sửa chùa, dời mả tổ, mua đồ cổ, viếng mả bố, gặp bạn hiền, trao đổi tin tức hai vùng, hay muốn kêu gọi hòa hợp hòa giải dân tộc như tướng kẽm nên coi chừng chút chút.
“Đừng tin những gì anh ấy tính, mà hãy nhòm kỹ những gì anh ấy tiêu”.
Tôi có biết một người cứ lâu lâu hai vợ chồng lại cuốn gói về Việt Nam chơi một tháng. Anh ta có kể ngoài xa lộ Biên Hòa có nhiều quán cà-phê võng. Khách vô quán được một em mặc váy ngắn ngồi cùng võng mớm cà-phê cho. Cái võng khi ngồi sức nặng thân thể sẽ kéo trũng ở giữa xuống. Em ngồi chung võng thì tự động võng sẽ kéo em chun vô mình là hết cựa. Tôi có giả bộ khờ, “théc méc” hỏi:
- Bộ bà xã ở nhà họ Lãnh tên Cảm hay sao mà đằng ấy cứ đi cà-phê võng hoài mà bả không hay ?
Anh ta khôn khéo “giả nhời”:
- Ối dzời ơi, bộ ngu hay sao mà lại nói đi uống cà-phê võng. Cứ mỗi lần bả đòi về Việt Nam là tớ phải giả bộ chống cộng không muốn về. Nhưng cuối cùng cũng vì mả bố tớ “treo” ở Biên Hòa nên đành “hy sanh” cả cuộc đời chính “chị”, nhắm bừa mắt bay về thăm em. Bả thích về để thị oai, thỏa mãn làm người cao sang thì tớ đây cũng được nhờ ơn mưa móc chút đỉnh. Hai bên đều vui vẻ cả mà.
Tôi cũng muốn đi thăm mả bố của anh ta, các bà ơi. Hãy khôn ra đôi chút đi cho thằng nhỏ nó nhờ.
Truyện chưởng, ngày xưa được xếp vào loại văn hóa đồi trụy, loại đồ quốc cấm, ngày nay đảng lại cho dân chúng coi líp ba ga, cả truyện lẫn phim vì ông anh cả Trung cộng đã đổi ý, cho là sách…thánh. Có nhiều Websites từ Việt Nam và Trung quốc đăng đầy truyện chưởng, quảng cáo lung tứ tung.
Gia đình một người bạn thân của tôi chuyên làm nghề cho mướn truyện ở góc ngã tư Phú Nhuận cũng bị đám công an phường cùng mấy em thiếu nhi khăn quàng đỏ tới đòi xé sách, đốt truyện năm xưa. Đôi bên đang cãi nhau ỏm tỏi, anh của bạn tôi tức mình rút chốt hai quả lựu đạn ra tặng chúng. Lựu đạn nổ tung, lũ công an ác độc và dăm em thiếu nhi ham vui đều “ô hô ai tai” theo đồng chí Lênin về gặp tổ Các Mác.
Ước mong hương hồn bạn tôi có linh thiêng nên về bóp cổ cái đám người trong ban tư tưởng đảng Cộng sản ở Bắc Bộ Phủ để hỏi tại sao chúng cứ thay đổi tư tưởng soành soạch mãi.
Lần đầu coi chuyện chưởng được đóng thành phim, tôi chỉ chú ý cảnh đấm đá hay quyền chưởng nhiều hơn tình tiết. Tôi chịu Đoàn Dự hơn mọi nhân vật khác vì có lẽ lúc đó tôi còn độc thân thường hay mê gái đẹp và thích lắm vợ, nhiều người yêu.
Lần thứ hai coi lại, tôi thích Tiêu Phong hơn nhiều vì lúc đó tôi mới quen nhà tôi nên “chuyên chính vô sản” chỉ biết yêu có một người. Tiêu Phong yêu A Châu là một nha hoàn hèn mọn của một người cùng nổi danh với mình là Mộ Dung Phục, con của Mộ Dung Bác. “ bắc Kiều Phong, nam Mộ Dung”, Tiêu Phong không ngần ngại yêu A Châu cho dù đã biết rõ lai lịch của người yêu. Đây cũng chính là bản sắc của một vị đại anh hùng.
Một điều tôi không đồng ý với Tiêu Phong là ông ta đã quá đại quân tử. Vợ Từ Đại Nguyên mặc đồ đẹp ra chào mà cũng không thèm nhòm một tí để đến nỗi làm người đẹp nổi giận tố lung tung làm tiêu đời trai thì thật là đại bất trí. Thấy người đẹp mà hờ hững không hồ hởi, phấn khởi như bác là đại bất…lực. Nhìn người đẹp mà không thấy đẹp là đại bất…mục.
Làm người phải biết thưởng thức cái đẹp của tạo hóa. Thượng đế đã có công mãi mới tạo dựng được người đẹp, mỗi người có một nét đẹp riêng. Nhòm một tí thì có chết thằng Tây nào đâu. Cũng như ngắm một nụ hoa hồng tươi, hay thưởng thức một bức tranh đẹp. Nếu trong lòng mình trong sạch, thanh thản phơi phới thì muốn ngắm, muốn nhìn cũng chả ai chê được là chê.
Kinh Phật có nói “Sắc tức là không. Không tức là…sếch”. Cuộc đời tứ đại giai không. Nhòm tức là không nhòm, không nhòm tức là nhòm. Ăn thua là trong lòng mình có thèm nhòm hay không.

Vợ tôi có lần coi thi hoa hậu trên TV gọi tôi:
- Anh xuống nhà coi thi hoa hậu nước Mỹ.
Tôi đang bận làm vội hỏi:
- Tới khúc nào rồi em ?
- Đang thi áo dạ hội.
Tôi từ chối ngay:
- Thi áo dạ hội coi chán phèo. Khi nào tới thi áo tắm kêu anh.
Thấy vợ tôi im lặng không trả lời. Tôi tưởng nhà tôi giận hờn. Nửa tiếng sau nghe nhà tôi kêu to:
- Tới thi áo tắm rồi, xuống coi anh ơi.
Tôi lật đật chạy xuống nhà như mới uống nửa chai Viagra. Không những tôi ngắm một mà cả năm chục cô mặc ti tí đồ, đi cà tỏn cà ten ra trình diễn. Lòng vẫn thấy thơi thới, hân hoan như chả nhòm ai.
Tôi sắp ngộ tới nơi rồi chúng sinh ơi.
Có lần đi coi thi hoa hậu, tôi thấy có gia đình con cái mời cả bố mẹ lẫn ông bà đi xem. Mọi người ngồi ngắm rồi phê bình ỏm tỏi. Nếu ai ai cũng hờ hững như Tiêu Phong thì những cuộc thi hoa hậu thế giới sẽ tiêu tùng hết. Vân Sơn Production phải khai phá sản ngay.
Lần thứ ba coi phim chưởng tôi để ý hầu như đến tất cả các nhân vật trong phim, vai chính lẫn vai phụ, phe chính lẫn phe tà. Không những thế tôi còn để ý đến cả những hậu cảnh, những tình tiết nhỏ nhặt của mọi diễn viên, từ điệu bộ đến lời nói, cả khung cảnh lẫn địa danh.
Trong Lục Mạch Thần Kiếm, Kim Dung có tả về Nhạn Môn Quan làm tôi liên tưởng đến Ải Nam Quan của nước Việt. Kim Dung tiên sinh có Tiêu Phong chết vì nước trên đỉnh Nhạn Môn Quan, thì chúng ta cũng có Nguyễn Phi Khanh dặn con Nguyễn Trãi đừng sầu đau khóc thương cho cha mà hãy về lo việc phục quốc tại Ải Nam Quan. Hình ảnh này còn bi hùng hơn nhiều vì nó là chuyện có thật.
Những kẻ đại ác trong tập truyện Thiên Long Bát Bộ, ngoài Mộ Dung Bác và Toàn Quán Thanh ra còn có Cưu Ma Trí và Tinh Tú Lão Tiên. Cưu Ma Trí làm tới quốc sư nước Thổ Phồn nhưng vẫn bị danh lợi làm mê hoặc nên đi vào tà ma lúc nào không hay. Cưu Ma Trí có mộng trở thành tuyệt đỉnh cao thủ trong võ lâm nên lập mọi muu mô ăn cắp kinh điển võ công của Trung Nguyên. Tinh Tú Lão Tiên thì ác độc, giết thầy hại sư huynh để cướp bí phổ nhất thống giang hồ làm bá chủ võ lâm. Tinh Tú Lão Tiên chuyên về luyện độc thuật đại pháp để giết người và bắt các để tử lúc nào cũng kèn trống bô bô ca tụng mình như những ông thánh sống của phe xã hội chủ nghĩa mà mặt dầy không thấy mắc cở.
Bốn tay đại ác đều theo đuổi một mục đích riêng tư của mình nên không thể làm bá chủ giang hồ, khuynh đảo võ lâm. Nếu bốn tên ác độc này liên kết với nhau thì chắc chắn Trung Nguyên sẽ điêu đứng thảm sầu. Đó là trường hợp của Việt Nam ta. Mộ Dung Bác như tên gọi…Người, bác Hồ, chỉ muốn làm vua muôn đời. Cưu Ma Trí tả đúng như Hồ Chí Minh, mặt ngoài trông đạo đức như một cao tăng trong lòng thì tham sân si có đủ. Tinh Tú Lão Tiên ắt hẳn là Trần Dân Tiên chuyên tự viết khoe khoang, khoát lát chính mình. Toàn Quán Thanh âm vang đâu đây như Paul Tất Thành mưu mô ném đá giấu tay thì số một.
Bốn tên đại ác tập trung vào một con người thì làm sao võ lâm Việt Nam không tan tành, tà ma ngoại đạo nẩy sinh khắp nơi?
Đoàn Dự, thì chả khác nào quân lực Việt Nam Cộng Hoà, mang trong người tuyệt đỉnh võ công Lục Mạch Thần Kiếm nhưng chả mấy khi thèm dùng, chỉ thủ không công, lo tìm tránh né để chống sát sinh. Ai ai cũng biết nếu quân đội ta Bắc tiến thì chỉ trong vài ngày là Hà Nội thất thủ ngay. Nhưng chúng ta chỉ lo phòng thủ từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào Nam, chứ không hề tấn công miền Bắc. Việt cộng nắm được yếu điểm này nên cứ bỏ trống miền bắc, dồn quân “sinh Bắc, tử Nam” vào đánh. Đánh giặc như đánh cờ, chỉ thủ không công thì trời cũng phải thua.
Đoàn Đự cũng có tật bay bướm, mê gái như những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa xưa kia. “Thư của lính ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay. Nhưng thư của lính viết giữa rừng sâu nên nét chữ đa tình” hoặc “Một trăm em ơi chiều nay một trăm phần trăm. Này em yêu ơi chiều nay lại cắm trại rồi”.
Hỏi sao các em không mê tít thò lò?
Tiêu Viễn Sơn nằm trong Thiếu Lâm tàng kinh các học những võ công thượng thặng ba mươi năm, rồi một ngày đẹp trời lại xuống tóc đi tu. Người Việt, trốn cộng sản qua các nước tân tiến của thế giới cũng gần ba mươi năm qua, học hỏi được đủ mọi chiêu lạ về cả dân chủ lẫn nhân quyền, kinh doanh lẫn kiến trúc, khoa học lẫn nghệ thuật rồi có người lại xuống tóc đi tu, đòi về Việt Nam ở luôn, tính chuyện hòa hợp hòa giải.
Có ông kiếm được chút tiền lại đâm ra chết nhát sợ cộng sản quắng đít, làm âm nhạc không dám cho hát các bài về lính, ra trước đám đông không dám nói chuyện cười của những cán ngố, của đám lãnh tụ. Cứ ba cái chuyện đàn ông sợ vợ, đàn bà shopping lải nhải hoài nghe mà buồn, chả cười nổi.
Người Việt quốc gia đại để có thể chia làm ba loại. Loại thứ nhất rất tích cực chống cộng. Thấy có mùi cộng sản là chửi tưng bừng không nể nang. Chửi ngoài đường chưa đã, về nhà chửi tiếp. Chửi ngày không đủ tranh thủ chửi đêm. Nằm mơ cũng thấy chửi. Việt cộng rất ớn loại này, thường lẩn trốn, tránh xa.
Loại thứ hai là loại lừng khừng, hứng thì chống, buồn buồn thì nghảnh mặt làm ngơ. Việt cộng thường tìm cách khủng bố, đe dọa loại này để chia rẽ thủ lợi.
Loại cuối cùng là loại phi chính trị, đứng giữa hai làn ranh để làm kinh tế hay văn hoá. Do đó lúc thì theo chính, lúc quay hướng tà. Việt cộng rất ưa loại này vì muốn dùng họ để tuyên truyền cho chế độ. Thường thì Việt cộng ra lợi kinh tế trước để câu cá, nhử mồi. Sau đó sẽ từ từ bẻ hướng, dụ nói hay làm theo chiều có lợi cho chúng. Nếu không được sẽ xuất chiêu “phản động” để tố khổ.
Việt cộng rất ma đạo khi dùng chữ. Động từ “phản động” mang nhiều ý nghĩa. Khi chúng ta nghe ai nói “phản động” thì lập tức trong ý thức hệ đều nghĩ là người đó đã có một thời gian theo chúng, đồng ý với chúng và bây giờ vì bị mua chuộc nên theo kẻ ác trở cờ làm bậy, phản lại đất nước và nhân dân.
Vì vậy nếu chúng ta nghe Việt cộng dùng từ phản động thì cách hay nhất là phải chửi vào mặt chúng ngay, đừng có lải nhải giải thích làm chi cho mất thì giờ, chỉ lộ ra cái yếu của mình mà thôi.
Thứ nhất, chúng tôi chưa bao giờ theo các anh, chưa bao giờ chấp nhập chủ nghĩa của các anh nên không là phản động. Thứ hai là chúng tôi “chống cộng” chứ không “phản động”. Các anh là giống lang sói ác độc, độc tài, độc đảng, nên tôi chống. Thứ ba là các anh làm bậy ai ai cũng biết, cả thế giới đều lên án, nên chúng tôi có nói người dân Việt hiện nay nghèo đói nhất nhì trên trái đất này, nước Việt Nam là nước không có dân chủ, nhân quyền nhất nhì là điều hiển nhiên, thằng ngu nhất cũng biết thì tôi cần quái gì phải lục tài liệu từ sách này hay coi tạp chí nọ để mà nói. Tôi nói đúng hay sai tức khắc người dân Việt cả trong lẫn ngoài nước đều biết. Cả thế giới đều biết. Tôi chả thèm nghe sự phê phán một chiều của các anh chi cho mệt.
Người quốc gia yêu tự do nên ai thích ở loại nào thì ở, chả thắc mắc, chả chống đối. Miễn là tôi tôn trọng tự do của anh thì anh phải ý thức sự chống đối của tôi. Thường thì hai loại đầu ít bị trục trặc trong đời sống chíng trị. Loại thứ ba rất dễ trở thành kẻ thù của hai bên chính tà vì lập lờ không rõ phe nào. Cộng sản lại quỷ quyệt bầy mọi kế hãm hại để kéo về phe chúng.
Đây là bài học cho những ai cứ tưởng là ta làm văn nghệ sẽ không dính gì đến chính trị, xin miễn đấu tranh, phê bình. Thật là ngây thơ. Ai ai cũng biết Việt cộng rất chú trọng đến chính trị. Văn nghệ là chính trị tuyên truyền. Nó là cơ sở căn bản cho những thủ đoạn lừa bịp, mị dân của bọn chúng. Chết sống gì Việt cộng cũng phải bám lấy báo chí, truyền thanh và truyền hình. Ngày nào chúng cho tự do văn nghệ, tự do báo chí, tự do phát biểu là ngày ấy chúng chết. Chết chắc.
Năm 1962, trong đại hội văn nghệ toàn quốc, Trường Chinh đã nhân danh đảng, ra lệnh :
1) Văn nghệ sĩ phải thừa nhận rằng, làm văn nghệ là để phục tùng chính trị và phục vụ đường lối chính sách của đảng, phải trung thành với lý tưởng của đảng và hy sinh cho sự thành công của xã hội chủ nghĩa.
2) Văn nghệ sĩ bằng sáng tác của mình, giúp đảng đứng vững, để đảng bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lê.
3) Văn nghệ sĩ ngoải phục vụ đúng chủ trương của đảng, phải chống lại tất cả.
4) Văn nghệ sĩ là một đảng viên cộng sản nên phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước đảng về tác phẩm của mình.
Xuân Diệu vội vã bợ đít ngay:
“Mỗi lần tranh đấu gay go
Chúng con đã được bác Hồ tới thăm
Chúng con dưới vực sai lầm
Đang vươn mình được bác cầm tay lên..”
Do đó, với cộng sản một điều ta nên nhớ cho kỹ: làm văn nghệ là làm chính trị. Càng nổi tiếng thì Việt cộng càng chú ý đến nhiều. Nói với Việt cộng ta làm văn nghệ không làm chính thị thì chả khác nào bảo họ ta là lực sĩ điền kinh chạy rất mau nhưng chưa biết…đi.
Với người quốc gia thì làm văn nghệ chính là làm văn hoá. Ngày nay, làm văn nghệ còn hiểu là làm kinh tế nữa. Không ai làm văn nghệ chỉ để đủ chi tiêu. Người càng nổi tiếng càng phải tiêu nhiều. Ra đường mặc quần thủng đít như tôi sẽ bị phê bình lia chia. Áo quần không phải đồ hiệu nổi tiếng cũng không được mặc. Nói với người quốc gia ta làm văn nghệ mà không làm kinh tế thì chả khác nào bảo họ ta là lực sĩ điền kinh bơi rất nhanh nhưng lại sợ …nước.
Cuộc chiến ngày nay là cuộc chiến đòi tự do và nhân quyền. Cả hai phe đều biết nếu có tự do, dân chủ thì độc tài, độc đảng sẽ chết. Việt cộng trước khi chết sẽ tìm đủ cách dụ những nhân vật nổi tiếng để nói tốt cho chế độ, kéo dài giờ hấp hối. Nếu không được thì đừng nói xấu tí gì về đảng hay đất nước Việt Nam. Những văn nghệ sĩ là những người có tiếng tăm, thường chỉ chú ý đến nghệ thuật nên rất đễ bị lèo lái cho những mưu đồ chính trị.
Người quốc gia tôn trọng sự tự do và hoàn cảnh của mỗi văn nghệ sĩ nên im lặng, chỉ thầm ước sự ý thức và khôn khéo của từng cá nhân để cứu dân tộc và đất nước ra khỏi cảnh nghèo đói, đọa đày. “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”. Đất nước giầu nghèo là trọng trách của tất cả mọi người, mọi công dân, của già trẻ, của trai, gái, lớn, bé, không riêng của một ai.
Chính tà hai bên đều rõ. Xin hãy khôn ngoan mà chọn con đường mình đi, chọn lời mà nói. Ước mong đừng vì quyền lợi cá nhân quá nhiều, nên ý thức ra, khôn hơn chút chút, không bị mắc bẫy cộng sản.
Tao ngộ của Du Thản Chi cũng như cuộc đời của các ông Huỳnh Tấn Phát, Trần văn Giàu và Dương Quỳnh Hoa trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Là những người có học thức, mê danh vọng, khi thì lên voi, được chọn đi họp đại diện bốn bên ở Paris, lúc bị cho ra rìa như sau khi Việt cộng chiếm miền nam năm 75, thống nhất đất nước tự động giải thể Mặt Trận.
Toàn Quán Thanh lợi dụng võ công cao cường của Du Thản Chi để đạt mục đích bá chủ cho mình. Paul Tất Thành dùng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để đưa quân xâm lăng. Xong việc thì bên này vắt chanh bỏ vỏ, bên kia vắt chanh lại nhai luôn vỏ. Bài học Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, hy vọng những kẻ háo danh nhớ kỹ.
Hư Trúc thì như những tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa. Mang trong mình một tuyệt kỷ của Cung Linh Thứu, có cái nhân của kẻ sĩ, cái dũng của người anh hùng, nhưng bị bó tay bó chân vì những quyền năng và ngăn cản của Bạch Cung.
Nghe Vương Ngọc Yến tâm sự ta cảm thấy như những tấm lòng son sắt của các cô gái Việt đi thăm chồng tù Việt cộng.
“Vương Ngọc Yến thở dài đáp:
- Đoàn lang! Ta tuy là người đàn bà ngu xuẩn, nhưng không đến nỗi coi rẻ đức hạnh. Bữa nay ta cùng Đoàn lang đính ước ba sinh, nếu còn có lòng một, dạ hai há chẳng tổn hại đến danh tiết ? Vả lại đối với tấm lòng thành của Đoàn lang sao cho phải đạo?
Đoàn Dự sung sướng quá ôm nàng nhẩy lên nhưng lại rớt xuống bùn.”
Năm xưa cộng nô toan tính từ từ thủ tiêu hết những sĩ quan Việt Nam cộng hòa qua chế độ lao lực trong các trại tù được mệnh danh trại cải tạo. Một phần lớn đã sống sót được là nhờ những tấm lòng son sắt và sự hy sinh cao cả của những người vợ đức hạnh. Những lời trung trinh, chí tình, chí nghĩa của người vợ là mạch sống duy nhất của tù nhân. Việt cộng đã thất bại vì những mối tình bền chặt và muôn thuở này.
Tôi được nghe kể có người vợ đi thăm nuôi, nghe tin chồng mình làm ăng-ten trong tù nên xấu hổ, nghẹn ngào vất đồ thăm nuôi xuống đất, bỏ về. Câu chuyện không những là một sự an ủi vô cùng mà còn là một nguồn sống vô biên cho những người lính đã bị đồng minh tàn nhẫn bỏ rơi. Tôi vẫn ao ước có cơ hội gặp được người đàn bà có đức tính tuyệt đẹp và thật khả kính này.
Chùa Thiếu Lâm thì cứ tự do ra vào như là nước Mỹ, chứa đủ mọi thành phần, cả chính lẫn tà, ẩn nấp học thiệt và học lén võ công. Khủng bố nấp ở đây cũng khá đông.
Ngoài những nhân vật chính trong truyện, ta còn thấy những nhân vật phụ ẩn hiện đâu đây. Lý Tống như Tống trưởng lão, có lòng, có quyết tâm nhưng thế lực đơn bạc nên chỉ gây được những tiếng vang lớn chứ không đánh đổ được chế độ. Võ Đại Tôn như Triệu Triền Tôn, cũng một lòng thiết tha với chính nghĩa, với dân tộc nhưng chỉ là một ngọn đuốc cháy sáng chứ chưa được là một vừng thái dương.
Mọi nhân vật chính tà đều xuất hiện. Riêng Tiêu Phong vẫn chưa thấy đâu. Dân tộc Việt Nam đang mỏi cổ trông chờ Tiêu Phong xuất hiện để cứu họ ra khỏi cảnh lầm than gần ba mươi năm qua.
Tôi cũng đang chờ…

Houston, những ngày tháng mong chờ, năm 2004
Lê Như Đức

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nỗi đau từ những lời xin lỗi Chuyện các cô gái Việt Nam mơ lấy chồng Hàn Quốc, được mô tả trong một bài báo của phóng viên Che Sung Woo, đăng trên báo Chosun (Hàn Quốc) đã làm dấy lên làn sóng phẫn nộ ở Việt Nam. Những phản ứng của phía Việt Nam đã có kết quả nhất định. Đã có lời xin lỗi chính thức của đại diện Sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam và của tác giả bài báo; đã có lời đồng cảm sâu sắc từ một số tổ chức xã hội và người dân Hàn Quốc.

Tuy nhiên, trước những lời xin lỗi và đồng cảm ấy, tôi lại có cảm giác chua xót.

Không biết có bao nhiêu phần trăm sự thật trong câu chuyện của bài báo đó. Nhưng chắc chắn, đã từ lâu, việc lấy chồng “ngoại” là sự lựa chọn của nhiều cô gái Việt Nam mơ ước đổi đời. Trong đại đa số trường hợp, cuộc sống đói nghèo và bế tắc là nguyên nhân khách quan của sự lựa chọn đó.

Hầu hết những cô gái Việt Nam ấy đều ít học, không có năng lực nghề nghiệp gì đặc biệt, xuất thân từ những gia đình nghèo khó ở các vùng nông thôn. Họ có các bậc cha mẹ vốn là những người không có hoài bão cao xa, bất lực trong việc thoát nghèo, vươn lên bằng cách đầu tư, động viên con cái nỗ lực trên con đường học vấn hoặc trau dồi kỹ năng lao động. Việc những cô gái ấy lấy chồng “ngoại” đi theo logic của những điều bình thường nhất.

Họ tham gia vào các cuộc ứng tuyển cô dâu với suy nghĩ của một người tìm kiếm lối thoát cho cuộc sống bản thân và cho gia đình. Có thể có cô hiểu rằng làm như vậy là tự hạ thấp phẩm giá của mình. Có cô không nghĩ ra được như thế. Nhưng gần như chắc chắn, không cô nào ý thức được rằng khi vào vai ứng viên cô dâu, thì với tư cách một phụ nữ-công dân, họ đã làm xấu đi hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam trong mắt người nước ngoài. Lý do rất đơn giản: họ không được giáo dục để có được ý thức đó. Họ ngay tình và, do đó, không có lỗi.

Không thể phủ nhận rằng bài báo trên tờ Chosun mô tả một thực trạng, nêu những điều có thật về sự hình thành của đa số các cuộc hôn nhân Việt-Hàn. Có những cô gái bản xứ chấp nhận một cách tự nguyện để cho mình được trưng bày với hy vọng được lựa chọn, như một món hàng. Có thể, tác giả bài báo ấy hoàn toàn vô cảm khi thực hiện công việc của mình. Nhưng điều chắc chắn: họ không phải là những người đầu tiên đả động đến chủ đề này. Báo chí Việt Nam đã từng có nhiều bài vở về những vụ môi giới hôn nhân mang tính chất mua bán phụ nữ; về những bi kịch của các cô dâu sống ở xứ người. Thậm chí có bài viết đã được minh họa bằng những hình ảnh đau thương của những cô dâu bị tật nguyền do sự bạo hành của người chồng nước ngoài. Tóm lại, tất cả những chuyện nêu trong bài báo gây phẫn nộ đó đã được mọi người biết từ lâu.

Vả lại, cần phải thấy rằng sự xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Việt Nam không chỉ đến từ những người nước ngoài. Có những phụ nữ đã phải chấp nhận làm trò vui cho những cuộc chơi sa đọa của chính những đồng bào có tiền, có quyền nhưng hư hỏng của mình, kiểu như Bùi Tiến Dũng, Nguyễn Việt Tiến. Loại “đồng bào” này không phải hiếm.

Suy cho cùng, cho dù tác giả bài báo và Ban Biên tập báo Chosun có vô cảm trước những cuộc gả bán cô dâu Việt Nam, thì danh hiệu “người vô cảm đầu tiên” không thuộc về họ.

Bởi vậy, nếu cứ buộc người ta phải xin lỗi vì đã nói sự thật, chúng ta sẽ tiếp tục tự đánh lừa mình khi không chọn nhìn thẳng vào sự thật. Điều đáng nói là dù sao người Hàn Quốc cũng đã chính thức lên tiếng xin lỗi phụ nữ Việt Nam, nhân dân Việt Nam. Không loại trừ khả năng họ xin lỗi chỉ theo phép lịch sự hoặc vì lý do ngoại giao; khi đó, lời xin lỗi chẳng khác một lời an ủi xuất phát từ lòng thương hại. Nhưng cũng có thể họ thực lòng xin lỗi; mà nếu đúng là họ đã xin lỗi một cách chân thành, thì bằng cách đó, họ và dân tộc họ tiếp tục hoàn thiện phẩm chất của mình.

Còn chúng ta, trong vụ này, chúng ta nợ đến hai lời xin lỗi. Đáng lý ra, trước khi đi đòi nợ những người Hàn Quốc, chúng ta phải trả cho xong nợ của mình. Chúng ta phải xin lỗi đồng bào của mình, vì đã để cho một bộ phận phụ nữ, do cuộc sống quá khó khăn và không được hưởng sự giáo dục tốt, đã thực hiện những hành động làm hoen ố hình ảnh phụ nữ Việt Nam. Và chúng ta cũng phải thắp một nén hương tạ lỗi với tiền nhân vì đã chưa làm tròn nhiệm vụ bảo vệ danh dự, phẩm giá của giống nòi.

Nguyễn Ngọc Điện

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Khi Nhà Thơ ( Văn). . .Chết !!! Có những tiền lệ, thông lệ hay định luật, lề luật bất thành văn đại loại, để những kẻ còn sống phối trí và phối hợp mà thi hành và cử hành sau khi một nhà văn có ít nhiều (tai hoặc tăm) tiếng qua đời.
Thường thì là những bài diễn từ hay diễn văn và đôi khi là tế văn (hoặc văn tế) để đọc lên mà bày tỏ những nổi niềm thương tiếc đối với một “người cầm viết” vừa nhắm mắt xuôi tay.
Những câu kiểu “ông mất đi là một mất mát lớn cho văn học Việt Nam nói riêng và văn học thế giới nhân loại nói chung”, tôi đã nghe đến ứ cả hai lỗ tai từ những năm qua. Từ những ngày còn con nít thích tắm mưa và dĩ nhiên là phải tắm truồng.
Còn sự vụ “nhân ngày tang lễ”, tức ngày chết của đương sự, rồi viết những tùy bút hay tạp bút tạp văn gì đó, tỏ tình thân thiết và thương tiếc kẻ mới qua đời thì vốn là chuyện dĩ nhiên. Thậm chí, tôi còn biết có những trường hợp mà đương sự thuộc loại lúc còn sống thường “làm phiền hàng xóm”, nên khi anh ta xuất hiện ở đâu, thì hầu hết mọi người không rũ nhau mà cứ lần lượt rút lui lẳng lặng và âm thầm. Nhưng bỗng một hôm anh ta đùng đùng lăn ra ngưng thở! Thế là bao nhiêu văn thơ thương tiếc, ngậm ngùi cứ thế mà đăng rùm lên các báo cứ như là bươm bườm chào xuân.

Nguyễn Tất Nhiên là một điển hình. Với tính khí thất thường, lại hay chửi bới tùm lum và nhìn ai cũng thấy là người ta đang “âm mưu” hại mình, Nhiên thường bị mọi người mà đa số là trong giới văn nghệ viết lách né mặt. Nhưng sau khi Nhiên tự tử chết trước cổng chùa sư của Pháp Châu ở Los Angeles, tôi đọc trên rất nhiều báo, thấy bỗng nhiên hầu hết văn nghệ sĩ đều là “bạn thân” của Nhiên. Thậm chí, có bà nhà văn ở vùng Washington D.C. mà tôi biết chắc là chưa từng giao thiệp cũng như có chút cảm tình nào với Nhiên, cũng có viết bài “Nhiên ơi Nhiên à” và than tiếc sự mất mát của văn học vì Nguyễn Tất Nhiên đã chết!

Truyền thống quan hôn tang tế trong văn học Việt Nam là như vậy! Xin quý độc giả đừng hiểu lầm là tôi “chống phá” việc bày tỏ sự phân ưu hay lòng quan hoài của người sống đối với người chết! Có điều, nó phải là lòng phân ưu và quan hoài thật. Còn những màn, lớp trình diễn theo công thức (để làm gì không biết? Hay là để cáo tri với thiên hạ là mình có liên quan tới nhân vật nổi tiếng vừa nằm xuống này???) , thì tôi xin cứ thực lòng mà phát biểu là tôi… rất tởm!!!

Tuần rồi, tình cờ vào Internet tôi đọc được một bài viết ký tên là Trúc Quỳnh từ trong nước gửi ra. Bài viết có tít “Về Một Cái Chết”, và nhân vật làm “nguyên nhân” của bài viết là một tên tuổi rất lớn trong văn học Việt Nam: Nguyễn Tuân.
Nguyễn Tuân nổi tiếng trên thế giới chỉ thua Hồ Chí Minh chừng chút xíu! Ông Nguyễn có bạn là những nhà văn Nga, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Ba Lan v.v… Sau Tản Đà, Nguyễn Tuân là nhà văn nghệ thích (ham) ăn ngon và ăn uống cầu kỳ vào bậc nhất.
Tôi là một người ăn uống rất xuề xòa. Tôi vẫn nghĩ đời một con người ăn để mà sống. Và quan trọng là sống sao cho ra… sống. Một người quá bận tâm về chuyện ăn uống phải ngon như thế này, phải đúng cách như thế kia… thì còn thì giờ đâu mà làm… người!.
Tôi mê sách (hay) và cái đẹp mà không nhất thiết phải cổ. Do đó, những bài viết về đồ cổ hay “phương pháp” ăn món gì cần phải có gia vị và phụ tùng gì của ông Nguyễn thì tôi chẳng lấy chi để tâm cho lắm. Chỉ nhớ khi đọc ông viết về môn ném bút chì và sau đó có tìm hiểu về môn này, thì tôi công nhận là ông tả rất tới.

Trở lại bài viết “Về Một Cái Chết” của Trúc Quỳnh, tôi liếc đọc vì tò mò và khi thực sự đọc thì bắt đầu thích thú. Thích thú vì trước hết cái tính “ra ngoài truyền thống” của nó. Hơn nữa, từ bài viết của Trúc Quỳnh, cho tôi nhiều thông tin mà tôi chưa từng nghe qua.
Nguyễn Tuân chết đã 17 năm (ông mất ngày 28 tháng 7 năm 1987). Bài của Trúc Quỳnh, thực ra, đã được tác giả viết rất sớm, chừng chưa tới một năm sau ngày ông Nguyễn Tuân lìa đời. Trúc Quỳnh mở đầu như sau: “Ở cái thành phố vài triệu dân này, ngày nào chả có người chết. Khu chết trọ Văn Điển cho mườn từng m2 đất để các cư dân chờ nhập cảnh vào đại đế quốc Vĩnh Hằng, ba năm mới có thị thực. Thời chiến tranh B52, tôi có dịp dạn dĩ với những cái chết đổ đồng, chết ngả rạ, ruột gan lòng thòng trên cây, tay chân di tản khỏi mình vô trật tự khắp các cống rãnh Khâm Thiên, chết trong hộp cầu thang bêtông, chết trong ống trú ẩn than xỉ, chết tức chết tưởi trong một Guernica ảo giác.
Vậy nên phải nói về một cái chết lẻ nhiều chữ nghĩa quá, tôi thấy phiền.”
(Trúc Quỳnh, Về Một Cái Chết)

Viết về cái chết mà với một giọng văn như vậy, thì quả là không đúng khuôn phép. Nhất là cái chết của Nguyễn Tuân! Nhưng qua vài câu mở đầu của Trúc Quỳnh, tôi được biết là ở Hà Nội, người chết cũng cơ khổ chẳng thua gì người sống! Bạn đã có bao giờ nghe qua hai chữ “chết trọ” chưa? Trúc Quỳnh vừa dùng hai chữ “chết trọ” để chỉ cái khu Văn Điển cho người chết mướn từng m2 nằm chờ được nhà nước “thị thực”, tức là chứng nhận “cho phép chết” rồi mới được mang đi chôn!!! Mà thời gian để có được cái giấy “thị thực” cho phép chết ấy, theo Trúc Quỳnh là… phải ba năm.
Trúc Quỳnh đã từng tiếp xúc với các kiểu chết: chết đổ đồng, chết ngả rạ, chết… tứ chi phân li, chết trong Guernica ảo giác v.v… Nên thấy phiền khi “phải” viết về một cái chết “lẻ” lại nhiều chữ nghĩa quá!

“Cụ Nguyễn Tuân, bậc danh sĩ Giao Chỉ qui tiên chưa kịp giỗ đầu mà tôi khai quật uy thế của cụ, chẳng để tôn vinh người sống lẫn người chết, chẳng để truy phong truy tặng cụ danh dự này mỹ hiệu nọ, chẳng để làm gì hết, chỉ để bàn về một cái chết, nguyên văn. Cụ Nguyễn sinh thời hiền lành, chẳng giết chóc áp bức ai, khí tiết nho phong đáng trọng, văn chương bay bướm tài hoa, đáng mặt bậc tiên chỉ trong làng ngoài xã. Nay phải ai điều muộn mằn cho cụ bằng những lời lẽ thiếu phần long trọng, kẻ hậu sinh thật lấy làm chua chát.”
(Trúc Quỳnh, bài đã dẫn)

Trúc Quỳnh quả là tay đâm hơi có hạng. Ngay trong lời mào đầu đã có dụng ý gùn ghè. Sau đó thì a thần phù vào hất mặt kiếm chuyện ngay. Tất nhiên là không phải kiếm chuyện với Nguyễn Tuân. HỒi ông Nguyễn còn sống, không kiếm chuyện với ông ta thì thôi. Bây giờ, thì… nói gì! Ông Nguyễn, nói cho cùng, chỉ là một cái cớ! Cũng như tôi mượn bài của Trúc Quỳnh làm một cái cớ để viết bài hôm nay. Lắm lúc, hậu quả hay kết quả cái cớ của một người này, sẽ thành ra một cái cớ tuyệt hảo cho người khác, là vậy!
Câu cuối của phần mào đầu là than phiền phải viết về một cái chết lẻ nhiều chữ nghĩa. Chấm xuống hàng xong, bèn phân bua là chỉ viết về một cái chết (nguyên văn). Dù là cái chết của Nguyễn Tuân! Sau đó, lại nhắc về Nguyễn Tuân là bậc danh sĩ nho phong và hiền lành, sinh thời chẳng giết chóc áp bức ai, đáng bực khí tiết nho phong khả kính!

Trời ạ! Viết về một nhà văn hóa lừng lẫy như Nguyễn Tuân, mà câu khen “quan trọng” nhất là “hiền lành, chẳng giết chóc áp bức ai” thì có khác gì đánh domino mà đi cú triệt buộc không? Câu khen này cứ như là một lí giải nghịch lí rằng Nguyễn Tuân nổi tiếng là khó tính, khó chịu, khinh thế ngạo vật nhưng chỉ là với lớp đàn em văn nghệ thôi! Đối với “quy chế” của Đảng và Nhà Nước cai trị, ông lại rất hiền lành, chả khi nào dám “bức hiếp hay giết ai”. Viết về một nhà văn hóa thành danh lớn, mà khen là chẳng “giết chóc hay bức hiếp”! Làm người ta cứ tưởng là tác giả đang viết về một nhà cai trị phó vương vậy! Suy ra, câu này chỉ mượn Nguyễn Tuân như là một cái cớ (tôi đã nói ở phần trên), để cho thấy là một người ngạo cốt “khí tiết nho phong” như Nguyễn, mà vẫn phải yên lép một bề trong bàn tay của Đảng và Nhà nước! Tiếp đó, lại mỉa ngay một câu chua còn hơn củ cải ngâm dấm muối: “văn chương bay bướm tài hoa”, rồi thì “đáng bậc tiên chỉ trong làng ngoài xã”. Một người mà theo Trần Đăng Khoa, đã được các nhà văn Nga La Xô Viết xem là biểu tượng của Văn Hóa Việt Nam, nay, Trúc Quỳnh lại khẳng định chỉ là bậc tiên chỉ của làng xã thôi!
Viết như vậy, để rồi kết câu là “kẻ hậu sinh thật lấy làm chua chát!”
Chua chát cho Nguyễn Tuân. Hay là chua chát cho nguyên cả một cái truyền thống văn hóa làng xã Việt Nam? Nguyễn Tuân được các nhà văn Nga La Xô Viết nể trọng, kính phục nhưng đối với Đảng và Nhà Nước thì … chẳng ra làm sao!
Nguyễn Tuân cả một đời sống bằng phong cách riêng của ông. Giới văn nghệ sĩ Hà Nội e dè, kiềng mặt ông. Nhưng câu hỏi đặt ra là: Cái phong cách riêng của Nguyễn Tuân, nó có được thể hiện “đúng như là” khi ông đối diện với Đảng và Nhà nước?
Xin chú thích ở đây, Nguyễn Tuân không chỉ là một nhà văn, ông còn là một huyền thoại. Những cung cách, câu nói của ông thường được truyền tụng trong giới văn nghệ sĩ trí thức. Một trong những câu rất nổi tiếng của ông là, tôi chỉ ghi theo trí nhớ, đại khái: “Tôi còn sống đến ngày hôm nay, là vì tôi biết sợ!”
Những chuyện Nguyễn Tuân từng thắt giây thòng lọng, treo cổ (?) Vang Bóng Một Thời, Tùy Bút Nguyễn Tuân… Khước từ những đứa con từng được người đọc và văn học tiếp nhận một cách nâng niu nồng nhiệt… Và câu nói “biết sợ” của Nguyễn, phải chăng là “cái cớ” để Trúc Quỳnh phải viết bài Về Một Cái Chết?
Tôi nghĩ đây có thể là một trong những lí do thôi. Lí do lớn và chính vẫn là ông Trúc Quỳnh nào đó, qua bài viết về Nguyễn Tuân, thực ra là muốn “ý tại ngôn ngoại” vài điều, về cái xã hội mà ông ta đang sống trong nó.
Xin đọc tiếp Trúc Quỳnh:

“Cụ khôn thiêng xin chứng giám lòng thành, bát cơm quả trứng luộc không đủ bữa rượu âm cho đấng ăn chơi một thời lừng lẫy. Nhưng thôi, xin cụ liệu cơm gấp trứng, bớt giận làm lành để cháu con vịn vong linh cụ mà bầy chuyện dương gian.
Ô hô, phục duy, thượng hưởng!”
(Như trên)

À! Thì ra Trúc Quỳnh đang viết “điếu văn” cho Nguyễn Tuân đây. Quả là một bài điếu văn độc đáo và xem ra cũng độc nhất (thuộc loại như thế này, cho đến bây giờ, trong những bài văn điếu cho Nguyễn), và thêm phần độc hại nữa.
Nổi tiếng là ăn chơi lừng lẫy, là ăn uống phong lưu cầu kỳ. Nhưng thực chất, qua một số bài ký mà tôi đọc được của vài người viết về “gặp gỡ Nguyễn Tuân”, thì ông “ăn nhậu” cũng đạm bạc lắm! Một chai rượu ngọt (rẻ tiền) của Ba Lan, một bát canh dấm… cũng là xong một bữa rượu! Nhập gia tùy tục. Nhập giang tùy khúc. Ong Nguyễn đã co cụm để vừa với “cái nhà” Cộng Sản., để qua cái khúc sông Xã Hội Chủ Nghĩa và để tồn tại? Có thể lắm! Vì như đẵ dẫn, Nguyễn Tuân từng thú nhận ông sở dĩ vẫn sống… phây phây, vì ông… biết sợ!
Biết sợ là điều thiên kinh địa nghĩa.
Vấn đề là con dân, lại là một con dân “đặc biệt” như Nguyễn Tuân, tại sao phải biết sợ mới sống tồn tại được trên đất nưốc của mình??? Xem chừng, lúc sống Nguyễn Tuân cũng đã dầy phen phải “đóng tuồng” để “nhắm mắt qua sông”!
Thử xem, cái đoạn chót trong vở kịch đời ông nó ra làm sao:

“Tôi đã bất đắc dĩ dự tang lễ cụ, chỉ vì chiều ý một người bạn tò mò, muốn biết người ta thao diễn lòng thương tiếc trước một chuyến đi không khứ hồi theo kịch bản phân cảnh nào? Tôi đã dại dột góp bản mặt cô hồn của mình vào bộ sưu tập ủ dột của các thứ nhăn nhó trong một đám rước lễ. Tô đậm cái lạc lõng của tâm trạng bực bội vì thiên hạ nhiểu sự, tôi không còn lòng dạ nào mà quan sát mà xúc động mà suy tưởng về Nguyễn lẫn tất cả những gì vo ve xung quanh mớ hình hài đã bắt đầu quá trình tan rữa.”
(Như trên)

Chẳng phải chỉ có đám thiên hạ nhiễu sự. Cái ông Trúc Quỳnh cũng là trong cái đám thiên hạ nhiễu sự, chứ bộ không à? Dù cho rằng chỉ vì lòng tò mò của người bạn, Trúc Quỳnh nhà ta cũng đã gia nhập vào đám đông. Mà thường thường theo tôi, thì đám đông ắt phải là… đám ngu dốt bất tài! Cứ nhìn xung quanh xã hội mà chúng ta đang sống, ở bất cứ đâu, đặc biệt là trong lãnh vực văn học văn chương, những kẻ ngu dốt bất tài thường… khoái tụ tập để củng cố tinh thần và… xây dựng niềm tin.
Những người thông minh, tài hoa tài ba thực sự, họ tách biệt ra khỏi… đám đông.
Ông Nguyễn cũng từng đứng riêng… ra khỏi đám đông, ở một chừng mực nào đó. Tất nhiên là ông chẳng dám đứng tách ra khỏi Đảng… Mà Đảng, là một loại đám đông “vô hình khuất mặt” với chủ trương Đảng viên càng ngu dốt càng tốt! Càng biết vâng lời và chỉ biết thi hành chứ không có ý kiến.
Trúc Quỳnh viết tiếp:

“Cụ nhấm nháp gần 80 năm sống như một miếng giò lụa tan ra trong cái tâm thể vặt vãnh của một nền văn chương vặt vãnh. Cụ biểu trưng cho giấc mơ lai tạp nữa hủ nho nửa tiểu thị dân mà xã hội Giao Chỉ đã chuẩn hóa trong thẩm mỹ, trong hành vi, trong từ vựng, nhất là trong văn phong của cụ. Cụ được tôn vinh rất mực là chí phải!”
(như trên)

Đến đây, Trúc Quỳnh mới nói về cái mục đích thực sự cho bài viết của ông ta. Một tâm thể vặt vãnh… “háu ăn ngon”, một văn tài vặt vãnh chuyên miêu tả chi li về những cái… chẳng lấy gì làm cần thiết lắm cho cuộc đời, cho văn chương nữa… Nhưng lại đúng tiêu chỉ nửa nho phong, nửa kia chẳng phải thị dân mà là kiểu cách phong lưu Đông Tây khế hiệp nhưng đã được xem là khuôn thước thẩm mỹ trong xã hội chậm tiến nông nghiệp của Việt Nam bốn năm ngàn năm văn hóa… làm ruộng!
Cụ được tôn vinh như vậy là thậm chí phải! Xin tiếp lời Trúc Quỳnh như trên.
Hãy xem tiếp vài màn trình diễn khác của nền văn hóa văn hiến làng xã đã được đúc thành khuôn vàng cho những tuân thủ cần thiết:

“Vô số đấng văn nghệ nửa mùa khắp ba kỳ đã vươn xúc tu tới cái chết nổi tiếng để kiếm tìm những thực phẩm tâm lý. Người ta nhận họ nhận hàng với danh sĩ trên mọi thang bậc xã hội học. Ai cũng thấy vinh dự vì đã khề khà trà rượu với Nguyễn, đã huyên thuyên lý sự với Nguyễn, đã được Nguyễn xoa đầu véo tai, ít nhất cũng đã tự véo tai xoa đầu mình sau khi hân hạnh gặp Nguyễn. Tóm lại, người ta thấy mình rất Nguyễn.”
(như trên)

Đọc đến đoạn này, thì tôi thấy những con người Việt Nam ít ra, trong một tiềm thức giới hạn của sự ù lì và chậm tiến, cả ba miền và ngay cả những con người Việt Nam đã lưu vong ra hải ngoại hàng ba chục năm, cùng hùng hồn có một điểm chung. Đó là căn bệnh ồn ào nhận họ hàng với danh sĩ vừa qua đời. Như câu chuyện về Nguyễn Tất Nhiên mà tôi viết ở phần đầu. Bao nhiêu người bỗng hốt nhiên thành thân nhân hoặc bạn thân của Mai Thảo, của Trịnh Công Sơn, của Bùi Giáng… vừa ngay sau khi mấy ông này từ giả cuộc đời! Đọc Trúc Quỳnh “ngợi ca” Nguyễn Tuân, mà tôi chẳng đặng đừng thấy tội cho Nguyễn:

“Nguyễn quả là một tâm hồn Việt Nam 100%. Còn hơn tấm giấy gắn trên thập giá kẻ chịu nạn đóng đinh 2000 năm trước, cụ phải được tấn phong xứng đáng theo tinh thần sôvanh.
Đóng góp của cụ cho chữ nghĩa xứ này ra sao là một chuyên đề chắc chắn sẽ gây tranh cãi, nhưng cụ đã để lại cho đám hậu sinh ấn tượng về một bảo vật bằng gỗ gụ, chạm trổ tinh xảo những dơi gậm chữ thọ, sóc leo cành nho, lưỡng long tranh châu, mai lan cúc trúc… Người ta lại gần tác phẩm đó với một niềm kính cẩn xa lạ, xuýt xoa bái phục rồi thờ ơ quên lãng. Nguyễn sành đồ cổ, chơi đồ cổ trong tâm hồn và trên giấy mực, cụ đã thành một đồ cổ hiếm hoi mà giá trị tăng tiến theo thời gian. Nhưng không một ai sáng mắt sáng lòng vì một thứ đồ cổ, không một ai nguyện suốt đời sẽ trở thành đồ cổ. Thời gian sẽ đẩy tất cả những tán dương, những tụng niệm vào một không khí bảo tàng. Người ta đến thăm viện bảo tàng nhưng người ta không sống trong viện bảo tàng…”
(như trên)

Chẳng riêng gì Nguyễn Tuân, mà ngay cả một ông Nguyễn khác còn lừng danh hơn là Tiên Điền Nguyễn Du, cũng cần phải được phong kín trong viện bảo tàng của quá khứ. Của nền văn minh nông nghiệp bán khai. Nếu, thực sự những con người Việt Nam muốn vươn lên và bước tới.
Sự suy tôn tiền nhân danh nhân hay cổ nhân cần phải được đặt để đúng tầm nhìn lịch sử và xã hội. Quan điểm của tôi là, con người càng về sau, càng “ngày nay” tất nhiên phải giỏi hơn, hiểu biết hơn những con người… “cổ tích”.
Thường, “cổ tích” chỉ có chức năng làm công việc của ngụ ngôn.

Trần Nghi Hoàng

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Cái mà người đàn bà muốn nhất là gì? Vua Iase trẻ tuổi, trong một cuộc chiến tranh với nước láng giềng, thua trận, bị bắt làm tù binh. Vương phi nước láng giềng thấy nhà vua đẹp trai, phóng khoáng, không nỡ giết, vì vậy đã đưa ra một điều kiện, yêu cầu trong một năm nhà vua phải tìm được một câu trả lời khiến bà ta vừa lòng, và tạm thời thả nhà vua. Còn nếu sau một năm, Iase vẫn không có được câu trả lời khiến bà vừa lòng, nhà vua phải tự nguyện quay lại nhận chết. Nếu không đáp ứng điều kiện này, sẽ bị giam suốt đời trong nhà tù.

Câu hỏi của bà ta là: “Cái mà người đàn bà muốn nhất là gì?”
Nhà vua trở về nước mình, làm mấy cuộc điều tra, nhiều lần thỉnh giáo các bậc trí giả, hỏi mẹ và chị, em gái... nhưng vẫn chưa tìm được câu trả lời vừa ý. Một mưu sĩ thưa với nhà vua, có thể đến thỉnh giáo một người đàn bà thần bí, bà ta nhất định có câu trả lời, nhưng bà ta hỉ, nộ bất thường lắm.
Mãi đến ngày cuối cùng của thời hạn, không còn cách gì nữa, vua Iase đành phải cùng các tùy tùng đến tìm người đàn bà thần bí đó. Người đàn bà này dường như đã biết yêu cầu của nhà vua nên đã nhanh chóng đưa ra cái giá phải trả: “Ta bảo đảm đưa cho nhà vua một câu trả lời đạt yêu cầu, nhưng điều kiện là Gewen phải lấy ta làm vợ”. Gewen là một kỵ sĩ đẹp trai, phóng khoáng nhất trong các vũ sĩ và cũng là người bạn tốt nhất của nhà vua.
Vua Iase quan sát người đàn bà thần bí xấu xí trước mặt mình và nghĩ là mình quyết không thể bán bạn bè để cầu sống, nên đã từ chối ngay, chuẩn bị ngày mai lên đường tới nhận cái chết. Thế nhưng các tùy tùng đã đem tình hình báo cho Gewen biết. Cảm động trước nghĩa khí của nhà vua đối với bạn bè, Gewen quyết định hy sinh bản thân, bí mật đến gặp người đàn bà thần bí và đồng ý lấy bà ta.
Người đàn bà thần bí cũng là người nói lời giữ lời, đã nói câu trả lời cho vua Iase: “Cái mà người đàn bà muốn nhất là có thể làm chủ cuộc sống của mình”.
Nhà vua mang câu trả lời đó đến gặp Vương phi. Vương phi vui vẻ tiếp nhận, thả Iase về nước. Lúc đó Gewen và người đàn bà bí mật đang cử hành hôn lễ chính thức rất linh đình. Nhìn thấy bạn, vì mình mà phải chịu hi sinh lớn đến vậy, nhà vua đau khổ như không muốn sống nữa.
Gewen vẫn giữ được phong độ kỵ sĩ, vui vẻ giới thiệu vợ mình với các bạn bè. Vào đêm động phòng, theo tập quán, Gewen vẫn bế cô dâu vào phòng mới. Người đàn bà thần bí xấu hổ quay mặt đi, đợi đến lúc Gewen đặt bà ta xuống giường, anh mới chợt phát hiện ra bà ta đã đột nhiên biến thành một thiếu nữ xinh đẹp, tươi vui, dịu dàng. Gewen vội hỏi chuyện gì đã xảy ra thế? Người đàn bà thần bí trả lời:
“Để đền đáp tấm lòng thiện lương và phong độ quân tử của chàng, thiếp đã vui lòng khôi phục bộ mặt vốn có của mình. Thế nhưng thiếp chỉ có thể xuất hiện với tư thế một mỹ nữ trong một nửa ngày, còn nửa ngày kia vẫn phải trở về một bộ mặt xấu xí mà người ta chán ghét. Tuy vậy, thưa phu quân thân mến, chàng có thể lựa chọn bộ mặt của thiếp xuất hiện theo ý muốn vào ban ngày hoặc ban đêm. Thiếp sẽ làm theo chỉ thị đó”.
Gewen suy nghĩ rồi trả lời bằng giọng nói kiên định: “Phu nhân thân mến, ta cảm thấy kết quả của sự lựa chọn có ảnh hưởng với nàng lớn hơn nhiều so với ảnh hưởng đối với ta, vì vậy chỉ nàng mới có tư cách quyết định sự việc này”.
“Phu quân thân mến, trên toàn thế giới này chỉ có chàng là người hiểu thiếp nhất, cái mà người đàn bà muốn nhất là có thể làm chủ cuộc sống của mình, vì vậy thiếp phải 24 giờ trong một ngày khôi phục bộ mặt vốn có của mình để đền đáp chàng”.
Thực ra, điều mà người đàn bà muốn nhất là: “tìm được một người đàn ông lúc nào cũng yêu mình.

Dương Quốc Anh

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

TRỜI MƯA, ÐỌC LẠI "CHINH PHỤ NGÂM"


Tại sao trời mưa, mới đọc lại "Chinh Phụ Ngâm"? Tôi cũng chẳng biết phải trả lời như thế nào! Chỉ có thể nói, mỗi khi mây vẩn vũ xám trên bầu trời, những vạt nắng úa dần và tan vào không gian, là tôi chỉ muốn nằm trong phòng một mình, đọc lại những dòng thơ của cổ nhân.

Thơ Ðường mà đọc trong lúc trời đang mưa thì phải biết!
Yên ba giang thượng sử nhân sầu!
Trên sông khói sóng gợi sầu thương
(Hoàng Hạc Lâu)

Chẳng cần sông. Chẳng cần khói sóng. Một bầu trời ủng thủy và hơi nước cùng cái se lạnh của một chút gió đã đủ làm nao long người và ta lại tìm đến với thơ. Nhưng phải là những dòng thơ của người xưa...

Tác phẩm Chinh Phụ Ngâm tác giả là Ðặng Trần Côn thì ai nấy cùng đã biết. Nhưng Chinh Phụ Diễn Âm song thất lục bát cho đến bây giờ, người đã diễn dịch Chinh Phụ Ngâm từ cổ phong Hán ra song thất lục bát Nôm vẫn còn là một công án.

Không ít các bậc trí giả đã bỏ công truy tầm di chỉ văn học sử liệu để chứng minh ai thực sự là dịch giả của Chinh Phụ Ngâm. Ðoàn Thị Ðiểm hay Phan Huy Ích. Sở dĩ chúng ta thường hay gặp những khó khăn trong vấn đề truy nguyên các văn bản cổ thư, một phần là vì đất nước Việt Nam luôn phải đương đầu với chiến tranh ngoại xâm hay nội loạn. Một phần khác là do ý thức lưu trữ và tàng trữ những văn bản di chỉ văn học từ bấy nay rất là hời hợt.

"Tổng Tập Văn Hoc Việt Nam tập 13, (trọn bộ 42 tập) do học giả Nguyễn Quảng Tuân sưu tập và biên soạn, bao gồm những công trình lý giải và khảo dị rất đáng ca ngợi về một số tác phẩm cổ của Việt Nam. Những tác phẩm Chinh Phụ Ngâm, Cung Ỗ?n Ngâm Khúc, Ai Tư Vãn, Thu Dạ Lữ Hoài Ngâm, Tự Tình Khúc, Tỳ Bà Hành, Trường Hận Ca, Chức Cẩm Hồi Văn, Truyện Hoa Tiên, Sơ Kính Tân Trang, Truyện Kiều, Mai Ðình Mộng Ký, Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh được tận tình phục hoạt và tầm nguyên.

Hôm nay trời không mưa, nhưng lại hơi lành lạnh và dường như trong không gian tôi cảm được cái mùi của mưa. Một cơn mưa khuất mặt còn nằm bên kia những đám mây. Gần cuối tháng Chín, trời đất như se mình để bước vào thu. Và tôi lần dở lại những trang Chinh Phụ Ngâm...

Thiên địa phong trần,
Hồng nhan đa truân
Dud u bỉ thương hề, thùy tạo nhân?
Cổ bề thanh động Tràng thành nguyệt,
Phong hỏa ánh chiếu Cam Tuyền vân.
........
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây

Người dịch hay thì có hay, dù là Ðoàn Thị Ðiểm hay Phan Huy Ích! Từ năm câu cổ phong, chuyển thành sáu câu song thất lục bát. Thiên địa phong trần, hồng nhan đa truân... mà dịch là Thuở trời đất nổi cơn gió bụi, khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên... thì quả là tài hoa. Tuy nhiên, trong sáu câu song thất vẫn còn bị một khuyết điểm là có quá nhiều chữ "nổi" và "nỗi"... Dù là "nổi" dấu hỏi hay "nỗi" dấu nga, ba âm "nổi" (nỗi) xà quần đi lại liên tục làm hơi thơ chừng như bị rối!

Tôi thử làm công việc... thay mận đổi đào, cả gan mà sửa đi vài chữ của bà Ðoàn Thị Ðiểm hay ông Phan Huy Ích xem sao:

Thuở trời đất dậy cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều buổi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này...

Sẽ có người hỏi rằng (lại hỏi) "buổi truân chuyên" là cái buổi khỉ mốc gì? Xin tận tình giải thích như sau:

Ngày xưa, người đàn bà Việt Nam dù có lỡ sinh ra trong một gia đình nghéo khó đi chăng nữa, thì cùng lắm là mỗi ngày chỉ có một "buổi" truân chuyên mua gánh bán bưng hay cày sâu cuốc bẩm... Nhưng ngày hôm nay, phận má hồng phụ nữ nước Việt Nam thì truân chuyên đủ ngày bốn buổi sáng trưa chiều tối!!!

Chinh Phụ Ngâm là tác phẩm nói về nỗi truân chuyên sầu khổ của người phụ nữ trong thời giặc giả loạn lạc. Chính tự tác phẩm Chinh Phụ Ngâm cũng dường như bị ám vào cái đề tài do tác giả Ðặng Trần Côn đã chọn cho tác phẩm văn chương của ông. Chinh Phụ Ngâm khi xuất hiện, đã tục thì được các nhà Nho trân trọng, "coi là một áng văn hay".

Về sau có người đã diễn âm theo thể song thất lục bát và được truyền tụng là do bà Ðoàn Thị Ðiểm. Học giả Nguyễn Quảng Tuân viết:

"Sự truyền tụng đã trải qua nhiều đời nên đã trở thành một niềm tin chung và cũng là niềm tự hào cho nữ giới vì có được một bậc văn taì như vậy.

Cho đến cuối thế kỷ thứ XIX, văn bản Chinh Phụ NGâm cũng chưa được khắc in hoặc đã được khắc in nhưng không còn lưu giữ được bản nào nên chỉ được truyền bá bằng cách sao đi chép lại và bằng cách truyền miệng.

Mãi đến đầu thế kỷ thứ XX, năm Nhâm Dần, Thành Thái thứ 14 (1902) nhà Nho Vũ Hoạt mới cho khắc in bài Chinh Phụ Ngâm trong tập Danh Gia Quốc Âm gồm ba bài: Chinh Phụ Ngâm, Phan Trần và Cung Ỗ?n Ngâm Khúc.

Bài Chinh Phụ Ngâm Bị Lục được khắc in ở 34 tờ đầu, hàng tám; mỗi trang chia làm ba phần: giữa là Hán văn, dưới là diễn ca, trên là chú thích.

Vũ Hoạt trong lời bait đã cho rằng Ðoàn Thị Ðiểm là người đã dịch Chinh Phụ Ngâm ra quốc âm. Ông viết:

"Nhớ xưa Ðặng Tiên Sinh làm sách ấy. Ðoàn phu nhân diễn ra quốc âm. Trải qua bao năm, càng lâu thì khắc lại càng sai. Bù chỗ sót chữa chỗ ngờ, thì lão này đâu dám..."

(Nguyễn Quảng Tuân, Tổng Tập Văn Học Việt Nam, tập 13. Trung Tâm Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Quốc Gia. Trang 79)

Tuy nhiên, vấn đề ai thực sự là dịch giả Chinh Phụ Ngâm vẫn còn là một tồn nghi. Cho đến năm 1926, một người thuộc dòng dõi Phan Huy là Phan Huy Chiêm gửi thư cho Ðông Châu Nguyễn Hữu Tiến, nói rằng hiện họ nhà Ohan Huy còn giữ được bản chính Chinh Phụ Ngâm vừa chữ Nôm vữa Phan huy Ích dịch, thì câu hỏi tồn nghi ai là dịch giả Chinh Phụ Ngâm được ham nóng lại.

Học giả Nguyễn Quảng Tuân viết: "Trên tạp chí Nam Phong số 106, tháng 6 năm 1926 Ðông Châu Nguyễn Hữu Tiến có viết bài nói về Phan Dụ Am tiên sinh văn tập. Trong bài ấy ông có đưa ra bài thơ ngẫu thuật của Phan Huy Ích làm sau khi dịch xong bài Chinh Phụ Ngâm của Ðặng Trần Côn ngyên văn như sau:

Nhân Mục tiên sinh Chinh phụ ngâm
Cao tình data điệu bá từ lâm.
Cận lai khoái trá tương truyền tụng,
Ða hữu thôi xao vi diễn âm.
Vận luật hạt cùng văn mạch túy,
Thiên chương tu hướng nhạc thanh tầm.
Nhàn trung phiên dịch thành tân khúc,
Tự tín suy minh tác giả tâm.
Nghĩa là:
Bài Chinh Phụ Ngâm của Ðặng tiên sinh người làng Nhân Mục (Mọc),
Tình cao điệu lạ đã được truyền bá khắp rừng văn.
Gần đây mọi người truyền tụng lấy làm thích thú lắm.
Ðã có nhiều người tìm cách diễn ra quốc âm
Nhưng theo về âm luật thì dịch sao cho hết được cái tinh túy trong mạch văn.
Vậy phải theo từng thiên chương và hiệp với âm nhạc mà diễn ra thì mới được.
Nay nhân buổi nhàn hạ, ta dịch ra thành khúc mới (tân khúc).
Chắc tin rằng đã suy minh được long tác giả."
(Nguyễn Quảng Tuân, sách đã dẫn. Trang 80)

Tuy nhiên, câu chuyện ai là thực sự dịch giả của Chinh Phụ Ngâm Khúc vẫn chưa có gì ngả ngũ. (Và đặc biệt là đối với miền Nam Việt Nam dưới hai triều Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa, các hoọ sinh vẫn học Chinh Phụ Ngâm Diễn Ca và đương nhiên tin là của dịch giả Ðoàn Thị Ðiểm.)

Trong giới trí thức văn học tuy cũng có vài người đặt nghi vấn về vấn đề này, nhưng bằng một cách rất thụ động.

Trong khi đó, sau công bố của gia đình Phan Huy về bản dịch và nguyên bản chính Chinh Phụ Ngâm, từ năm 1944 đã có những bài viết giá trị công phu để biện luận và chứng minh về thân phận thực sự của bản dịch Chinh Phụ Ngâm.

Ðông Châu Nguyễn Hữu Tiến yêu cầu Phan Huy Chiêm công bố bản diễn Nôm của Phan Huy Ích để chứng thực với mọi ngươờ. Nhưng ông Chiêm đã giữ im lặng một cách khó hiểu.

Học giả Nguyễn Quảng Tuân viết: "Tiếp theo sau đó, Trúc Khê Ngô Văn Triện, trên tiểu thuyết thứ bảy số 4, tháng bảy năm 1944 và Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm trên tạp trí Tri Tân số 113, ra ngày 23 tháng 9 năm 1943 cũng đã bàn thêm về vấn đề Ai là dịch giả Chinh Phụ Ngâm?

Hoa Bằng lại yêu cầu các con cháu nhà họ Phan nên công bố bản dịch của ông Phan huy Ích ra để gỡ cho xong một mối ngờ lớn về văn học này. Nhưng mặc dầu có lời yêu cầu của Hoa Bằng, ông Phan Huy Chiêm vẫn không công bố được Có thể là nhà họ Phan chỉ căn cứ vào bài thơ ngẫu thuật của Phan Huy Ích mà nói như ở trên thôi chứ thực ra gia đình, con cháu đã không còn giữ được bản Nôm nào để công bố.

(NGuyễn Quảng Tuân, sách đã dẫn. Trang 80 & 81)

Như vậy, công án ai là dịch giả Chinh Phụ Ngâm vẫn chưa đi đến đâu!

Cho đến năm 1953, ông Hoàng Xuân Hãn cho xuất bản một công trình nghiên cưứ rất công phu: "Chinh Phụ Ngâm Bị Khảo". Trong đó, ông Hoàng Xuân Hãn khẳng định rằng bản dịch lâu nay thông dụng là của Phan Huy Ích.

Nguyễn Quảng Tuân viết: "Ðến năm 1964, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội cho in quyển Chinh Phụ Ngâm do Lại Ngọc Cang khảo thích và giới thiệu.

Ông Lại Ngọc Cang có ý dựa vào thuyết của Hoàng Xuân Hãn cho rằng Phan Huy Ích là dịch giả Chinh Phụ Ngâm.

Trong lời nói đầu, ông đã cho biết: "trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cố gắng làm việc hết sức mình, mặt khác cũng đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu. Ngoài ông Phan Huy Sửu và một số người khác trong họ Phan Huy đã vui lòng cho biết mọi điều can thiết trong dịp chúng tôi về Sài Sơn, tháng 7 năm 1961, đông đảo các vị và các bạn trong và ngoài giới nghiên cứu văn học... đã tận tình giúp cho tôi nhiều ý kiến bổ ích..."

.......

Lại Ngọc Cang ở đầu trang sách đã theo Hoaàg Xuân Hãn mà coi Phan Huy Ích là dịch giả bản dịch Chinh Phụ Ngâm hiện hành. Ông đã cho rằng:

"Dù sao, với bản dịch Chinh Phụ Ngâm hiện hành, chẳng những Phan Huy Ích đã "vạch rõ được tấm long của tác giả" như ông đã tự tin, mà còn có những sáng tạo đáng kể, phát huy được sâu rộng hơn nữa tác dụng, giá trị của tác phẩm."

TỚi đây, chúng tôi tưởng Lại Ngọc Cang đã dứt khoát theo Hoàng Xuân Hãn, nhưng sau đó ông thay đổi lập trường mà cho rằng: "Việc coi Phan Huy Ích là dịch giả Chinh Phụ Ngâm có phần hơi sớm, vì đây mới chỉ là giả thuyết".

Và ông đã viết rằng: "trong khi chờ đợi các công trình nghiên cưứ đáng tin hơn, người soạn (Lại Ngọc Cang) sẽ coi bản dịch Chinh Phụ Ngâm hiện hành như là một dịch phẩm hãy còn khuyết danh, chưa dứt khoát nên ghi rõ tên Phan Huy Ích hay Ðoàn Thị Ðiểm". (Nguyễn Quảng Tuân, sách đã dẫn. Trang 81)

Cái ông Lại Ngọc Cang này rõ là lẫm cẩm! Ông bỏ bao nhiêu là thời giờ, công trình công phu, giao tiếp với những con cháu của Phan Huy Ích, được sự tận tình góp ý của trong và ngoài giới nghiên cứu văn học, để rồi ông không đi đến một kết luận nào để biểu dương cho thuyết của ông. Nghĩa là ông Lại Ngọc Cang nói thật nhiều để rồi không kết luận gì cả. Lại Ngọc Cang "chưa" dứt khoát hay "không thể" dứt khoát???

Kết luận của Lại Ngọc Cang chẳng khác chi kết luận của Hoa Bằng về đề nghị tác giả Khuyết Danh cho bản dịch Chinh Phụ Ngâm, cho đến khi "chứng minh được minh bạch" ai là dịch giả.

Mãi đến năm 1970:...

".... Ông Nguyễn Văn Xuân đã tìm được ở Huế tập Tân Khắc Chinh Phụ Ngâm diễn âm từ khúc. Quyển này gồm có:

Trang 1 đề: Gia Long thập tứ niên cốc nguyệt cát nhật. TÂN KHẮC CHINH PHỤ NGÂM DIỄN ÂM TỪ KHÚC Chính trực đường.

Trang 2 đề: Tân san Chinh Phụ Ngâm từ khúc tự.

Trang 3 đề: Chinh Phụ Ngâm diễn âm tân khúc nguyên tự.

Bài nguyên tựa chỉ có hai trang, mất trang tiếp theo nên không biết là của ai viết ra. (Nguyễn Quảng Tuân, sách đã dẫn. Trang 82)

Tuy bài "nguyên tựa" bị mất trang cuối, nhưng Nguyễn Văn Xuân vẫn khẳng quyết:

"Sở dĩ tôi biết chắc chắn là của Phan Huy Ích vì nội dung của bài tựa giống heat với tất cả những gì mà con cháu họ Phan cùng các nhà văn ở miền Bắc đã cho biết từ năm 1926. (Nguyễn Quảng Tuân, sách đã dẫn. Trang 83)

Sau đó, Nguyễn Văn Xuân đã gửi những phát hiện của mình cho Hoàng Xuân Hãn. Và Hoàng Xuân Hãn đã hồi đáp lại cho Nguyễn Văn Xuân như sau:

"Sự hiện diện của bản sao này thật là quý và làm ngạc nhiên.

Thật rõ raàg đã có bản in năm đời Gia Long và nay không còn dấu vết trước khi thấy bản sao này! Tôi đã đọc kỹ bài nguyên tự. Rất tiếc rằng dã mất phần sau, vậy mất phần lạc khoản: năm, tháng, ngaỳ và ký tên, nhưng đúng như ông dã đoán, chắc chắn rằng tác giả là Phan Huy Ích. Về thời điểm về sự kiện thì câu: "Giáp Tý sơ xuân dư phụng ứng hầu sứ sự tại Bắc Thành và "đúng vào cảnh ngộ Phan Huy Ích". (Nguyễn Quấ??g Tuân, sách đã dẫn. Trang 83)

Nguyễn Văn Xuân đã kết luận. Hoàng Xuân Hãn đã kết luận. Và bây giờ Nguyễn Quảng Tuân cũng sẽ kết luận. Nguyễn Quảng Tuân viết: "Chúng tôi cũng nhận thấy Nguyễn Văn Xuân đã có lý.

Cuối năm Quý Hợi (1803) Tổng trấn Bắc Thành đã triệu Phan Huy Ích ra để hỏi ý kiến về việc noun sứ thần nhà Thanh. Sự việc này cũng trùng hợp với điều đã được ghi trong bản nguyên tựa của bản Chinh Phụ Ngâm diễn âm tân khúc khắc in năm Gia Long thứ 14 (1815):

"Sơ xuân năm Giáp Tý (1804), tôi phụng mệnh ứng hầu việc sứ tại Bắc Thành (Hà Nội) trong lúc nhàn muộn, giở sách cũ ra đọc, nhân ngứa nghề, mới lấy nguyên âm kiểm điểm thật kỹ lưỡng, có câu rút ngắn, có ý kéo dài, đều dùng từ khúc cộng hai trăm lẻ bốn liên (408 câu). Tôi chỉ cốt ý cho rõ tinh hần lý mạch của nguyên tác, kẻ đọc sẽ lấy làm thỏa thích, chứ không có ý cạnh tranh....'

Hơn nữa, qua sự trình bày về cách diễn âm, chúng ta cũng thấy cùng một ý với bài thơ "ngẫu hứng":

Văn luật hạt cùng văn mạch túy
Thiên chiên tu hướng nhạc thanh tầm.
Nhàn trung phiên dịch thành tân khúc,
Tự tín suy minh tác giả tâm.
(Nguyễn Quảng Tuân, sách đã dẫn. Trang 83)

Gần như, phát hiện của Nguyễn Văn Xuân, sự đồng tình của Hoàng Xuân Hãn và nay của Nguyễn Quảng Tuân, dã đủ sức thuyết phục giới văn học. Thế là bà Ðoàn Thị Ðiểm đã mất tác quyền bản dịch Chinh Phụ Ngâm Khúc!

Song le, đối với cá nhân tôi thì lại có một phương cách lý luận khác:

Tôi cho rằng bản dịch Chinh Phụ Ngâm Khúc bắt buộc là phải của bà Ðoàn Thị Ðiểm! Lý do hùng hồn nhất chỉ là lối dùng chữ, những mạch thơ mang đầy nữ tính trong Chinh Phụ Ngâm diễn Nôm. Phan Huy Ích sẽ rất là khó khăn để mà viết những câu như sau, nhất là dưới thời kỳ phong kiến đầu thế kỷ XIX ở Việt Nam:

Ngoài đầu cầu nước trong như lọc,
Ðường bên cầu cỏ mọc còn non
Ðưa chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền..
Nước có chảy, mà phiền chẳng giã
Cỏ có thơm, mà dạ chẳng khuây.
Nhủ rồi nhủ, lại cầm tay,
Bước đi một bước dây dây lại dừng.
Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi
Chàng sầu xa tìm cõi Thiên San..."

Nhà Nho Phan Huy Ích thời đầu thế kỷ XIX chẳng thể nào mơ mộng mềm mềm kiểu "dặc dặc buồn", rồi lại "bước đi một bước dây dây lại dừng"! Với lại, đang tưởng nhớ chinh phu, người chồng đi vào nơi kinh hiểm, dù là nhớ đứt ruột, nhưng phải là bà Ðoàn Thị Ðiểm, tức là đàn bà chính hiệu mới dịch được những câu như sau:

Tự tòng biệt hậu phong sa lũng,
Minh nguyệt tri quân hà sứ túc?
Cổ lai chinh chiến trường,
Vạn lý vô nhân ốc.
Phong khẩn khẩn, đả đắc nhân nhan tiều,
Thủy thâm thâm, khiếp đắc mã đề súc...
.....
Chàng từ đi vào nơi gió cát
Ðêm trăng này nghỉ mát phương nao?
Xưa nay chiến địa dường bao?
Nội khôn muôn dặm xiết bao dãi dầu!
Hơi gió lạnh người rầu, mặt dạn,
Dòng nước sâu ngựa nản chân bon...

..Thương nhớ chồng thì rất là thiết tha. Nhưng vì là bản dịch của bà Ðoàn Thị Ðiểm nên bà đã cố chen vào vài câu ghen bóng, ghen gió! Người ta đi đánh giặc, chẳng biết bỏ mạng sa tràng lúc nào, mà bà Ðoàn nở đành long dịch câu "Minh nguyệt tri quân hà xứ túc?" là "Ðêm trăng này nghỉ mát phương nao?". Ði đánh giặc, gác giặc, chong giáo suốt phiên canh mà bà hỏi là nghỉ mát ở đâu? Rồi bà còn hoạnh hoẹ nào là "Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn, Dòng nước sâu ngựa nản chân bon". Trời lạnh, anh buồn vì không có em rồi anh mặt dày mày dạn... làm gì đó ai biết! Ngựa nản chân bon mà!

Ôi thôi! Ðể chứng minh là bản dịch Chinh Phụ Ngâm bấy lâu nay chúng ta vẫn biết, vẫn họ hồi trung học là của bà Ðoàn Thị Ðiểm, tôi có thể dẫn ra hàng nghìn bằng chứng. Ngoài cái vụ ghen bóng ghen gió như vừa trên, còn thêm những so đo "ai buồn hơn ai" chỉ có mấy bà mấy cô mới đủ khả năng và nhạy bén mà... làm như vậy:

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp, ai sầu hơn ai????

Cải lại là chàng buồn hơn nàng hoặc anh buồn hơn em, coi chừng sẽ phải trả thêm những cái giá khó lường khác! Chịu thua đi cho yên, cánh đàn ông yếu đuối nhé!

Trần Nghi Hoàng

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Thử Bàn Về " Bệnh Ghen";
Hoàng Dung Trong " Anh Hùng Xạ Điêu" Có Ghen Hay Không ?
“Ghen” có phải là một hội chứng? Tại sao có người lại gọi “ghen” là “bệnh ghen”? “Bệnh ghen” chữa được không hay là một thứ “bệnh” nan y?

Vương Hải Hồng và Trương Hiểu Yến trong “Giải Mã Tiểu Thuyết Kim Dung (Bản dịch của Cao Tự Thanh, do nhà xuất bản Trẻ và công ty văn hóa Phương Nam xuất bản năm 2002), đã bàn về “Bệnh Ghen” như sau:
“Đàn ông là nguồn gốc của bệnh ghen tuông. Sức sản xuất phát triển mau lẹ, đàn ông từ chỗ săn bắn chuyển qua săn cả thú lẫn người, bắt đầu no cơm ấm cật dậm dật tứ chi, năm thê bảy thiếp, sự ghen tuông trở thành nguồn lợi riêng của phụ nữ. Phụ nữ vừa đưa thoi vừa dệt tấm vải ghen tuông. Ghen tuông là cái bóng của tình yêu, giống như âm hồn bất tán. Lã Hậu nhà Hán biến Thích phu nhân thành con heo người, Vũ Tắc Thiên nhà Đường giết Vương hoàng hậu, không ngừng khuynh loát hậu cung. Nhà sau bốc lửa khiến đàn ông lo lắng không yên. Vì thế bắt đầu từ thời Hán đã giáo dục phụ nữ “Không ghen tuông”.
(Giải Mã Tiểu Thuyết Kim Dung, Vương Hải Hồng & Trương Hiểu Yến, Cao Tự Thanh dịch, trang 146).

Đoạn văn trên chắc chắn là do Trương Hiểu Yến cô nương phóng bút! Chỉ có phụ nữ mới bàn về cái ghen bằng giọng điệu “trăm tội đổ lên đầu đàn ông” là hết chuyện!

Theo tôi, chính ra, phụ nữ mới là nguồn gốc của “bệnh ghen tuông”! Đàn ông chỉ là công cụ để “bệnh ghen tuông” của quý phụ nữ phát triển và thành tựu. Nếu “nhà sau có lửa bốc” lên là do ai đốt? Đập nát chén bát nồi niêu là do bởi hai bàn tay của ai? Đó là hai bàn tay thon thả mà thường khi rất mềm mại dịu dàng, có móng dài sơn đỏ sơn hồng. Quý ông có thể không tiếc vài trăm bạc mua một chai cognac, nhưng lại sẽ rất ngại ngùng do dự khi cầm lên một cái tô, cái bát chỉ mua với giá dăm ba đồng để ném vào vách tường cho hả giận. Quý ông sẽ làm một công việc rất ngu xuẩn là dộng nắm đấm của mình vào cửa tủ lạnh hay vào cái ngực có chứa trái tim “lầm lỡ” của chính mình!

Chín mươi chín phần trăm quý đàn ông thường là ngu như vậy!

Hãy nghe Vương Hải Hồng nói về Trương Hiểu Yến:

“Vì thế tôi bắt đầu khai triển võ công.

Người đầu tiên tham dự là cô Trương Hiểu Yến. Cô trở thành người hợp tác với tôi, viết một nửa quyển sách này. Cô là bạn tâm giao với Hoắc Thanh Đồng, quả nhiên quạt lông áo vàng, thanh tân thoát tục.”

(Giải Mã Tiểu Thuyết Kim Dung, Vương Hải Hồng & Trương Hiểu Yến, Cao Tự Thanh dịch, Lời Cuối Sách của Vương Hải Hồng, trang 300)

Cái khí thế khai sơn phá thạch của Vương Hải Hồng ở câu: “Vì thế tôi bắt đầu khai triển võ công”, bỗng không dưng xìu xuống thấy rõ sau khi có sự “áp tải” của Trương Hiểu Yến!

Hoắc Thanh Đồng quạt lông áo vàng, thanh tân thoát tục từ Đại Mạc phóng ngựa vút vào Trung Nguyên, mang theo một đóa hoa trên tóc, một thanh kiếm trong tay. Trương Hiểu Yến tóc không xịt keo, miệng nhai nhóc nhách kẹo chewingum hay ngậm me cam thảo, tay vung vẫy ví đầm Gucci bảy trăm đô la Mỹ một cái, tay kia lắc lắc chùm chìa khóa xe Lexus...

Hoắc Thanh Đồng vào Trung Nguyên theo đám người bộ tộc của mình đi tìm đoạt lại cuốn kinh Coran. Cuốn kinh Coran hiện nay nhiều tổ chức Hồi giáo in ra những ấn bản cực đẹp phát không ở nhiều nơi. Nếu tôi gặp Hoắc Thanh Đồng quạt lông áo vàng, thanh tân thoát tục hiện ra bây giờ, tôi sẽ đưa cô đi lấy bao nhiêu cuốn kinh Coran tùy ý cô muốn!

Còn Trương Hiểu Yến lái xe Lexus vào Giải Mã Tiểu Thuyết Kim Dung, làm một Trấn Ải Cô Nương giữ Nhạn Môn Quan cho Vương Hải Hồng.

Cô Trương Hiểu Yến viết về “cái ghen” của Hoàng Dung như sau:

“Hoàng Dung thích ăn chua uống giấm, Hoa Tranh và Mục Niệm Từ đều khiến nàng lửa ghen bốc cháy trong lòng, không thể kìm chế. Vương Nhất Thiếp trong Hồng Lâu Mộng vì muốn Giả Bảo Ngọc vui vẻ, bốc một “Liệu đố thang” (Thuốc chữa ghen) để trị bệnh ghen cho Hạ Kim Quế: dùng lê mùa thu sên nước đường, mỗi ngày uống một thìa, lúc già chết đi sẽ thấy công hiệu. Đại khái ghen tuông là tuyệt chứng không thuốc nào chữa được, thuộc loại bệnh mạn tính, cũng không có quy luật phát bệnh.”

(Giải Mã Tiểu Thuyết Kim Dung, Vương Hải Hồng & Trương Hiểu Yến, Cao Tự Thanh dịch, trang 146)

Lê mùa thu đã ngọt, lại sên với nước đường thì cái ngọt có thể nói là bất khả tư nghị! Nhưng “Mỗi ngày uống một thìa cho đến lúc già chết đi sẽ công hiệu” thì quả nhiên là hết thuốc chữa. Bệnh ghen là một thứ công phu, trên nguyên tắc thông thường thì nó ám cả hai phái cả Nam lẫn Nữ. Nhưng người phụ nữ có tâm chất để luyện thứ công phu này đến chỗ thượng thừa cảnh giới Tam Hoa Tụ Đỉnh, Ngũ Khí Triều Nguyên hơn giới đàn ông gấp một triệu lẻ hai lần.

Trương Hiểu Yến kiến thức cục bộ, chỉ biết tới những nào là Lã Hậu đời Hán, Võ Tắc Thiên đời Đường. Cô chưa biết tới các quý bà quý cô lừng lẫy khác của thời cận đại và hiện đại. Thí dụ: cô Hườn đốt chồng, bà trung tá Thức tạt acid vũ nữ Cẩm Nhung của Việt Nam... Thậm chí, một nhân vật nổi tiếng ghen lừng lẫy trong văn chương Việt Nam, nhưng vốn xuất thân tự bên Tàu là Hoạn Thư trong Vương Thúy Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, được Tiên Điền Nguyễn Du đã lục bát hóa thành Đoạn Trường Tân Thanh, Trương Hiểu Yến cũng xem chừng mù tịt. Và còn nhiều nhiều nữa các quý vị nữ lưu mà công phu ghen tương đã đạt tới mứa lư hỏa thuần thành trên khắp thế giới...

So với những bậc nữ lưu đã thành danh trong lãnh vực ghen, Hoàng Dung chỉ là một thiếu nữ thuần hậu dễ thương.

Để trả lời cho Hoàng Dung về chuyện Hoa Tranh, Quách Tĩnh nói:

“Chuyện hôn nhân này là đại hãn định cho ta, lúc ấy không gì không thích, cũng không biết là rất thích, chỉ nghĩ đại hãn nói thì không sai. Bây giờ Dung nhi ạ, ta làm sao bỏ cô để cưới người khác được?

Hoàng Dung nói: “Vậy ngươi tính thế nào?”. Quách Tĩnh nói: “Ta cũng không biết nữa”.

(Kim Dung, Anh Hùng Xạ Điêu tập 5, Cao Tự Thanh dịch, trang 324).

Hỏi Quách Tĩnh “tính thế nào” thà đi hỏi “bao giờ củ khoai đi kiện con kiến”. Cuộc đời Quách Tĩnh ngoài chuyện yêu nước thương dân, là một chính nhân quân tử (Tàu) không bao giờ (dám) làm chuyện (bậy) trái với những đạo lý thông thường kiểu kinh điển của Trung Quốc Nho Gia; trong mối tình với Hoàng Dung, Quách Tĩnh đúng là một tên “cụ trâu” đáng ăn dăm bảy cái bạt tai đích đáng.

Kim Dung dựng nên nhân vật Quách Tĩnh nhiều “thần tính” hơn là “nhân tính”. Như vậy, có phải thường các vị thần luôn có tính hơi... ngu chăng? Điều đó tôi thấy là một đương nhiên. Đa số các vị thần bất cận nhân tình. Các ông này chỉ suy luận cái “phải, trái” trên một mặt của đồng tiền kẽm.

Sau khi nghe Quách Tĩnh trả lời câu: “Vậy ngươi tính thế nào?” của mình bằng câu: “Ta cũng không biết nữa.”, tức là câu trả lời kinh điển của Quách Tĩnh mỗi khi Hoàng Dung hỏi ý kiến về một vấn đề gì đó, Hoàng Dung chỉ còn biết:

“Hoàng Dung thở dài một tiếng, nói: “Chỉ cần trong lòng ngươi vĩnh viễn tốt với ta, thì cho dù ngươi cưới cô ta, ta cũng không để bụng”.

(Kim Dung, Anh Hùng Xạ Điêu tập 5, Cao Tự Thanh dịch, trang 324)

Một tiểu cô nương thắm tươi, thiên kiều bá mị như Hoàng Dung, lại là con gái duy nhất của Đào Hoa Đảo Chủ Đông Tà Hoàng Dược Sư mục hạ vô nhân. Hoàng Dung thừa hưởng của mẹ cái nhan sắc, lại vốn giống tính cha chỗ “ngông cuồng bất chấp”, mà đối với anh tình lang “cụ trâu” Quách Tĩnh cô chỉ còn biết thở dài thốt ra một lời nhũn nhặn như thế kia, thì quả là thật tội nghiệp. Hoàng Dung nhũn nhặn, chịu đựng trong giây phút đó xong, cô mới phát tiết cái “ngông cuồng bất chấp” bẩm sinh của mình:

“ngừng lại một lúc lại nói: “Có điều đừng cưới cô ta thì tốt hơn, ta không thích có nữ nhân khác cả ngày ở bên cạnh người, biết đâu ta lại nổi nóng lên, một kiếm đâm suốt tim cô ta thì ngươi sẽ chửi mắng ta. Thôi đừng nói chuyện đó nữa...”

(Kim Dung, Anh Hùng Xạ Điêu tập 5, Cao Tự Thanh dịch, trang 324)

Hoàng Dung có ghen, cô không muốn bất cứ nữ nhân nào khác cả ngày quanh quẩn bên Quách Tĩnh. Chuyện Hoàng Dung một kiếm đâm suốt tim bất cứ nữ nhân nào “dám” dành giật “Tĩnh ca” của cô là chuyện mà ai cũng phải tin. Hoàng Dung con gái Đông Tà thì chuyện giết một hai người hay vài ba chục người, những người mà theo hai cha con Đông Tà là “không đáng giá một đồng xu” là chuyện chả có gì là quan trọng. Tuy nhiên, chỉ vì sợ sau khi giết “cái con nữ nhân khác cả ngày quanh quẩn” bên Quách Tĩnh kia, thì sẽ bị Quách Tĩnh “chửi mắng”, nên Hoàng Dung sẽ không làm chuyện đó, chuyện “giết con nữ nhân khác kia vì ghen tuông là nó đang la cà với Quách Tĩnh”.

Khi thấy câu chuyện tình của mình với Quách Tĩnh lâm vào sự bế tắt, Hoàng Dung chỉ còn biết buông xuôi.

Đến khi Quách Tĩnh tuyên bố “phải kết hôn với em Hoa Tranh” vì quân tử (Tàu) thì phải “Đại trượng phu nói ra như núi”, rồi hiên ngang giải thích:

“Quách Tĩnh bước lên vài bước, nắm chặt hai tay nàng nói: “Dung nhi, ta không biết cô nói đúng hay không, nhưng trong lòng ta chỉ có cô, cô đã hiểu rõ rồi. Bất kể người ngoài nói là đúng hay không, cho dù đốt ta thành tro, trong lòng ta cũng chỉ có cô thôi.” Hoàng Dung ứa nước mắt: “Vậy tại sao ngươi lại nói muốn cưới cô ta?” Quách Tĩnh nói: “Ta là một kẻ ngu ngốc, chuyện gì cũng không hiểu rõ. Ta chỉ biết đã ưng thuận rồi thì quyết không được hối hận...”

(Kim Dung, Anh Hùng Xạ Điêu tập 6, Cao Tự Thanh dịch, trang 43)

Khi Quách Tĩnh đã tự nhận mình là một “kẻ ngu ngốc, chuyện gì cũng không hiểu rõ”, thì Hoàng Dung chẳng biết nên khóc hay cười!

Chỉ có Hoàng Lão Tà là thấy chẳng có gì khó giải quyết dưới mắt ông ta. Quách Tĩnh yêu Hoàng Dung, con gái Đông Tà cũng hết sức yêu Quách Tĩnh. Nhưng Quách Tĩnh phải cưới Hoa Tranh bỏ Hoàng Dung, vì đã lỡ hứa với Thành Cát Tư Hãn thân phụ của Hoa Tranh công chúa. Vậy, chỉ cần không còn Hoa Tranh trên đời, thì Quách Tĩnh sẽ thảnh thơi lấy Hoàng Dung mà không có trở ngại nào nữa. Thế là Hoàng Dược Sư phóng chưởng toan “thủ tiêu” Hoa Tranh. Chẳng ngờ Hoàng Dung đã đoán biết trước, nên ra tay cứu được Hoa Tranh.

“Hoàng Dược Sư không rõ tại sao con gái lại xuất thủ cứu Hoa Tranh, đứng ngẩn người ra, kế hiểu ý, biết nếu mình giết chết cô gái Phiên này thì Quách Tĩnh ắt sẽ trở mặt thành kẻ thù của con gái. Hừ, trở mặt thì trở mặt... Chỉ nhìn con gái một cái, thấy nàng thần sắc thê thảm,... biết nàng đã thương yêu Quách Tĩnh vô cùng, nghĩ thầm đây chính là tính nết si tình của cha mẹ nàng, không sao hóa giải được, lúc ấy thở dài một tiếng, ngâm: “Thả phù trời đất là lò chừ, thợ ấy hóa công! Âm dương là tro chừ, vạn vật đại đồng!”

(Kim Dung, Anh Hùng Xạ Điêu tập 6, Cao Tự Thanh dịch, trang 44)

Quách Tĩnh đúng là “mèo mù vớ cá rán”! Một anh “cụ trâu” lại được lọt vào mắt xanh của một cô nương tao nhã thanh tân.

Khi Hoàng Dược Sư hỏi:

“Từ nay về sau con còn gặp thằng tiểu tử này nữa không?”

Hoàng Dung nhìn Quách Tĩnh một cái, thấy y nhìn mình chằm chằm, ánh mắt đầy vẻ yêu thương, thâm tình vô hạn, ngoảnh lại nói với cha “Cha, y muốn cưới người khác thì con cũng lấy người khác. Trong lòng y chỉ có con thì trong lòng con chỉ có y”. Hoàng Dược Sư nói: “Hô, con gái của đảo Đào Hoa không thể thua thiệt, như thế cũng không sai. Nếu người ngươi lấy không cho ngươi gặp y thì sao?” Hoàng Dung nói: “Hừ, ai dám cản con? Con là con gái cha mà.” Hoàng Dược Sư nói: “Nha đầu ngốc, cha sống không bao lâu sẽ chết thôi”. Hoàng Dung buồn rầu nói: “Cha, y đối xử với con như thế, chẳng lẽ con còn sống được lâu sao?” Hoàng Dược Sư nói: “Vậy ngươi còn đi cùng thằng tiểu tử vô tình vô nghĩa này không?” Hoàng Dung nói: “Con đi cùng y thêm một ngày thì vui sướng thêm một ngày”. Lúc nói câu ấy dáng vẻ thê thảm như muốn chết.”

(Kim Dung, Anh Hùng Xạ Điêu tập 6, Cao Tự Thanh dịch, trang 46)

Đúng là có cha đó thì mới có con đó! Chỉ có Đông Tà Hoàng Dược Sư mới sinh ra được con gái như Hoàng Dung.

Cuộc đối đáp của hai cha con Đông Tà có thể nói “tiền vô cổ nhân, hậu vô lai giả”. Và sau cuộc đối đáp này của Hoàng Dung với cha cô, chúng ta thấy “bệnh ghen” không phải là chứng bệnh có thể hoành hành đối với Hoàng Dung.

Thực ra, Hoàng Dung không phải ghen vối Hoa Tranh hay với Mục Niệm Từ. Hoàng Dung tuy là một cô gái cực kỳ thông minh, nhưng cô vẫn còn là một cô gái bé ngây thơ. Cô biết Quách Tĩnh yêu mình, một lòng một dạ với mình. Không ai hiểu rõ Quách Tĩnh bằng Hoàng Dung. Những phản ứng “dường như là ghen tuông” của Hoàng Dung chẳng qua là sự phản kháng trong cô đối ứng lại với những gò bó, ràng buộc của thế tục. Cô vừa chiếm lĩnh trái tim của Quách Tĩnh, vừa đem Quách Tĩnh tử táng vào trái tim cô! Nhưng những thói tục của xã hội, của đời sống cứ từng chút quấy rầy, xung phạm vào mối tình của cô với Quách Tĩnh...

Nào là lời hứa của Quách Tĩnh với Thành Cát Tư Hãn về cuộc hôn nhân với Hoa Tranh. Nào những áp đặt của các sư phụ Giang Nam Thất Hiệp về chuyện Mục Niệm Từ... Lại còn vấn đề chính tà tương tranh trên những quan điểm cứng ngắt của xã hội đương thời..v...v

Nhưng trên tất cả những thứ đó, trên cả “lòng ghen tuông” thường tình, là tâm thức phóng hoạt không gò bó của Hoàng Dung đã làm nên cuộc chiến thắng.

Nếu Thành Cát Tư Hãn không ép chết mẹ của Quách Tĩnh, tôi tin chắc rằng rồi Quách Tĩnh cũng sẽ không bao giờ cưới Hoa Tranh. Quách Tĩnh sẽ đi tìm Hoàng Dung hoặc sẽ “một đao tự đâm vào tim mình” để khỏi phụ lòng Hoàng Dung.

Trong con người Quách Tĩnh, cái đáng ca ngợi nhất là sự chân chất và chuyên nhất.

Phải chăng, nhờ những đức tính này mà Quách Tĩnh đã “lấy đư ợc trái tim” của Hoàng Dung tiểu cô nương.

Trần Nghi Hoàng

CNN
Posts: 1017
Joined: Wed Dec 01, 2004 8:18 am

Post by CNN »

HÁCH XÌ XẰNG? Đàn ông tổn thọ vì tính gia trưởng

Thái độ gia trưởng của nam giới đối với phụ nữ là một trong những nguyên nhân khiến tuổi thọ trung bình của họ luôn thấp hơn phái đẹp. Đó là kết quả một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Anh.

Các nhà khoa học đã tiến hành tìm hiểu, phân tích các số liệu về tỷ lệ phụ nữ bị ngược đãi và tỷ lệ tử vong ở nam giới, được thu thập từ 51 quốc gia ở châu Á, châu Âu, châu Úc, Bắc và Nam Mỹ.

Tình trạng gia trưởng của đàn ông ở mỗi nước được đánh giá dựa vào tính phổ biến của các hành động bạo hành chống lại phụ nữ. Ngoài ra, các yếu tố về kinh tế xã hội cũng được quan tâm. Kết quả cho thấy phụ nữ ở tất cả 51 nước nghiên cứu đều có tuổi thọ cao hơn nam giới.

Hơn nữa, những nước có tỷ lệ phụ nữ bị ngược đãi hoặc hành hung cao (đồng nghĩa với tính phổ biến cao của tư tưởng gia trưởng) thì nam giới ở nước đó có tuổi thọ trung bình thấp hơn và tỷ lệ tử vong cao hơn so với những nước có tỷ lệ phụ nữ bị ngược đãi thấp.

Theo các nhà nghiên cứu, sự phân tích số liệu này cho thấy một điều rằng, những biến đổi về mức độ bạo hành đối với phụ nữ ở các quốc gia chiếm gần một nửa (49%) sự biến đổi trong tỷ lệ tử vong ở nam giới.

Các nhà khoa học cho biết thêm, thái độ áp đặt hoặc gia trưởng đối với phụ nữ không chỉ làm tổn hại đến chính bản thân những người mang trong mình dòng máu gia trưởng đó mà còn làm tổn hại đến những phụ nữ phải chịu đựng họ. Thực trạng tỷ lệ tử vong cao cũng như tuổi thọ trung bình thấp ở nam giới là hoàn toàn có thể cải thiện được, thông qua các chính sách xã hội mà mỗi quốc gia đưa ra, đặc biệt là các chính sách làm nâng cao nhận thức của các thanh niên trẻ đối với vấn đề bình đẳng giới.

Source:VNExpress

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Cẩu Xực, Xực Cẩu Bạn hiền,

Người Mỹ vẫn ví con chó là bạn tốt của đàn ông. Bạn tốt của ai BTL tôi không biết, nhưng chắc chắn loài vật 4 chân này không phải là bạn tốt của mấy ông đưa thư làm việc cho bưu điện rồi. Nói đúng hơn, giống chó là kẻ thù của kẻ phát thư!

Bạn hiền, mới đây ông Billy Ace, một nhân viên phát thư của Luân Đôn bị hội từ thiện mang ra tòa cái tội sút con cẩu. Cũng tại vì con chó này nó cắn ông ta nên ông phải tự vệ, đá cho nó 1 phát tung 4 mét trên không, rớt xuống bị chấn thương sọ, và người ta phải thủ tiêu con vật để cho nó khỏi bị đớn đau. Bản tin không nói thêm là sau khi bị giết, con chó có được đám tang linh đình, mang ra nghĩa địa chôn, hay là bị dội nước sôi, cạo lông, và biến thành những món nhậu ngon tuyệt của các bợm?

Bạn hiền, khi bị con vật cắn, bất kể loài vật gì thì chúng ta phải tự vệ, điều đó có gì đáng ngạc nhiên. Ở Việt Nam mấy con chó hiền khô, không dám sủa càn, cắn bậy mà còn bị đập đầu, cắt cổ, thọc tiết mà mấy tay sát cẩu có tên nào bị mang ra tòa bao giờ!

Trở lại câu chuyện con chó cắn người đưa thư. Cuối cùng thì hội bảo vệ súc vật rút đơn kiện, tha cho Billy, nhưng họ khuyên ông ta nên ghi danh học khóa tâm lý loài chó, vì họ cho rằng những ai hiểu tâm lý chó sẽ không bị chó cắn! BTL tôi thấy cái giải pháp này không có lí tí nào hết, vừa mất thì giờ vừa tốn tiền vô ích. BTL tôi có giải pháp hay hơn. Như bạn hiền cũng biết ở Việt Nam mấy bợm nhậu thịt cầy đi đến đâu là chó nó cụp đuôi chạy dài vì chúng nó không muốn thành món nhậu của mấy bợm. Thế thì bây giờ chỉ việc "hạ cờ tây" cho Billy đánh chén no nê, bảo đảm không con chó nào dám lại gần, cần gì phải tìm hiểu tâm lý của chúng.

Còn những ai đòi kiện kẻ đá chó vì chúng cắn mình, hãy hỏi họ chả nhẽ chó cắn cứ đưa chân cho nó ngoặm như ngoặm xí quách à? Nếu thế thì mấy ông mấy bà trong hội bảo vệ súc vật hãy ngoan ngoãn đứng yên đó khi bị chó táp!



BTL

Post Reply