Quán Bên Đường
THÁNG TƯ UẤT HẬN
Mày một ly
Uống cho vơi niềm uất hận
Tao một ly
Uống để oán giận cuộc đời
Tháng Tư mình mất cuộc đời
Ngày buông tay súng chơi vơi hận cuồng
Trời quê hương chợt nhuốm buồn
Một đời chinh chiến hào truông biên thuỳ
Đời ta sống chết xá gì
Thương quê hương buổi từ ly đoạ đày
Chiều nay đất khách mưa bay
Em còn mòn mỏi tháng ngày đợi trông
Rồi từ đó làm thân viễn xứ
Mất ngưòi tình mất cả quê hương
Những đêm gió lạnh bên đưòng
Nhớ quê hương đến mắt vương lệ trào
Nhớ đêm nằm dưới chiến hào
Nhớ bạn bè cũ phương nao bây giờ
Mày nằm huyệt lạnh chơ vơ
Tao thân lưu lạc bao giờ gặp đây
Hận thù ngút tận trời mây
Tim ta rỉ máu tháng ngày đớn đau
Tìm nhau ngày tháng mai sau
Cùng nhau về dựng lại màu cờ xưa
Vũ Phong
Mày một ly
Uống cho vơi niềm uất hận
Tao một ly
Uống để oán giận cuộc đời
Tháng Tư mình mất cuộc đời
Ngày buông tay súng chơi vơi hận cuồng
Trời quê hương chợt nhuốm buồn
Một đời chinh chiến hào truông biên thuỳ
Đời ta sống chết xá gì
Thương quê hương buổi từ ly đoạ đày
Chiều nay đất khách mưa bay
Em còn mòn mỏi tháng ngày đợi trông
Rồi từ đó làm thân viễn xứ
Mất ngưòi tình mất cả quê hương
Những đêm gió lạnh bên đưòng
Nhớ quê hương đến mắt vương lệ trào
Nhớ đêm nằm dưới chiến hào
Nhớ bạn bè cũ phương nao bây giờ
Mày nằm huyệt lạnh chơ vơ
Tao thân lưu lạc bao giờ gặp đây
Hận thù ngút tận trời mây
Tim ta rỉ máu tháng ngày đớn đau
Tìm nhau ngày tháng mai sau
Cùng nhau về dựng lại màu cờ xưa
Vũ Phong
KHI NƯỚC MẮT ÐÃ KHÔNG TRÒN Ý NGHĨA
(Xin thân ái gởi đến Ðồng Bào quốc nội và quốc ngoại
với tất cả niềm đau và hy vọng)
Ôi, nước mắt đã không tròn ý nghĩa
Ðồng bào ơi, ta nhất loạt vùng lên
Giang sơn này do xương máu tổ tiên
Ðã bồi đắp cho xanh từng tấc đất
Bởi quê hương là tình yêu lớn nhất
Là gia tài, là máu thịt, là nôi
Chốn chôn nhau, cắt rốn tự bao đời
Là chiếc tổ, tình thương, là tất cả !!!
Nhưng hôm nay, than ôi, đau đớn quá
Ải Nam Quan, bạo chúa cắt dâng người !
Hỡi Nam Quan ! kìa quốc sử còn tươi
Từng giọt lệ của anh hùng Nguyễn Trãi !
Máu lại chảy, Trời ơi, vùng quan ải
Núi sông ta thêm nữa, lưỡi dao hờn
Dưới bạo quyền, dân, nước cứ từng cơn
Ðau như xé những cơ tim, mạch máu !
Ðâu bất khuất, đâu chí hùng nung nấu ?
Ðâu tự hào, danh dự ? Hỡi thanh niên !!!
Có thể nào ta cúi mặt lặng yên
Trước nỗi nhục mà lòng không phẫn uất ???
Có thể nào ta cúi đầu chấp nhận
Mà lương tâm không hổ thẹn, đau buồn ?
Có bao giờ ta thấy tội to hơn
Trước lịch sử vì thờ ơ trách nhiệm ?
Hỡi những anh hùng dưới trăng mài kiếm
Hỡi những lòng tha thiết với tình quê
Xin tuốt gươm thiêng, chung một lời thề:
Phải trị tội phường buôn dân, bán nước
Phải nối chí hào hùng muôn thuở trước
Ðòi Nam Quan, ải cũ, trả về ta !
Ðứng lên nào, chính nghĩa phải thăng hoa
Vì Tổ Quốc, vì tương lai nòi giống !
Không thể nữa, ngồi nhìn và than khóc
Hãy đứng lên hành động, hỡi muôn người !!!
Ðến nước này ta phải thế mà thôi
Khi nước mắt đã không tròn ý nghĩa !
Hỡi Quốc Toản, hỡi Trưng Vương, Nguyễn Huệ
Hỡi toàn dân, cứu quốc, đứng lên nào !
Ðất nước này phải hết bóng cờ sao
Thì đất nước mới thanh bình hạnh phúc !
Còn cờ đỏ là dân còn hoả ngục !
Ngô Minh Hằng
(Xin thân ái gởi đến Ðồng Bào quốc nội và quốc ngoại
với tất cả niềm đau và hy vọng)
Ôi, nước mắt đã không tròn ý nghĩa
Ðồng bào ơi, ta nhất loạt vùng lên
Giang sơn này do xương máu tổ tiên
Ðã bồi đắp cho xanh từng tấc đất
Bởi quê hương là tình yêu lớn nhất
Là gia tài, là máu thịt, là nôi
Chốn chôn nhau, cắt rốn tự bao đời
Là chiếc tổ, tình thương, là tất cả !!!
Nhưng hôm nay, than ôi, đau đớn quá
Ải Nam Quan, bạo chúa cắt dâng người !
Hỡi Nam Quan ! kìa quốc sử còn tươi
Từng giọt lệ của anh hùng Nguyễn Trãi !
Máu lại chảy, Trời ơi, vùng quan ải
Núi sông ta thêm nữa, lưỡi dao hờn
Dưới bạo quyền, dân, nước cứ từng cơn
Ðau như xé những cơ tim, mạch máu !
Ðâu bất khuất, đâu chí hùng nung nấu ?
Ðâu tự hào, danh dự ? Hỡi thanh niên !!!
Có thể nào ta cúi mặt lặng yên
Trước nỗi nhục mà lòng không phẫn uất ???
Có thể nào ta cúi đầu chấp nhận
Mà lương tâm không hổ thẹn, đau buồn ?
Có bao giờ ta thấy tội to hơn
Trước lịch sử vì thờ ơ trách nhiệm ?
Hỡi những anh hùng dưới trăng mài kiếm
Hỡi những lòng tha thiết với tình quê
Xin tuốt gươm thiêng, chung một lời thề:
Phải trị tội phường buôn dân, bán nước
Phải nối chí hào hùng muôn thuở trước
Ðòi Nam Quan, ải cũ, trả về ta !
Ðứng lên nào, chính nghĩa phải thăng hoa
Vì Tổ Quốc, vì tương lai nòi giống !
Không thể nữa, ngồi nhìn và than khóc
Hãy đứng lên hành động, hỡi muôn người !!!
Ðến nước này ta phải thế mà thôi
Khi nước mắt đã không tròn ý nghĩa !
Hỡi Quốc Toản, hỡi Trưng Vương, Nguyễn Huệ
Hỡi toàn dân, cứu quốc, đứng lên nào !
Ðất nước này phải hết bóng cờ sao
Thì đất nước mới thanh bình hạnh phúc !
Còn cờ đỏ là dân còn hoả ngục !
Ngô Minh Hằng

THÍCH LÀM... CON DẾ
Tuổi nhỏ - anh như con dế
Re re... rả rích đêm ngày
Sớm chiều trèo me, trèo khế
Nghịch như "quỷ phá nhà chay"
Tuổi nhỏ - anh như con dế
Rung rung "râu bắp" - ông già...
Khệnh khạng chân tay hát bộ
Cung, tên, kiếm, gậy đầy nhà
Tuổi nhỏ - anh như con dế
Những đêm trăng dạo vườn hoang
Len lén trèo cây tre cụt
Bắt con chim sáo, mỏ vàng
Tuổi nhỏ - anh như con dế
Khẽ thôi... cái "vụ"... học hành...
Việc làm càng nên... nói nhỏ...
Cả ngày chỉ uống với ăn!
Muốn làm con dế mãi mãi
Để nghe cổ tích của bà
Để được tự do bay nhảy
Vui cùng trời đất bao la.
Lê Viết Cho
Văn Tế Chiến Sĩ Trận Vong Ngày Quốc Hận
Nguyễn Mạnh Trinh
Ô hô!
Xưa, truyền tụng bài Điếu Cổ Chiến Trường Văn, lời Lý Hoa đã dãi dầu cùng thiên cổ.
Nay, đọc lại Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, tiếng Đồ Chiểu còn sang sảng với non sông.
Than ôi
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi, trung nghĩa đài lửa thắp nhớ người xưa.
Đất linh thiêng vùi chôn thân xác, đàn trận vong lời vẳng tận thiên thu.
Vận nước đến thời
Anh hùng mạt vận
Hai mươi năm xây đắp quốc gia, ngăn sóng đỏ, cầm gươm giữ nước
Một thế kỷ lầm than dân tộc, xót thế thời, đứng dậy dưới cờ.
Tháng tư đen, bỗng tình cảnh xảy đàn tan nghé
Ất mão buồn, chợt tang thương tan cửa nát nhà
Phe Cộng hung hăng, đằng sau Nga Tàu tận tình chi viện, xe tăng súng lớn thừa thãi ê hề, đạn vung vãi tối trời mù đất
Phía ta thế thủ, mặt trước đồng minh buông tay không giúp, máy bay tàu thủy thiếu thốn xăng dầu, pháo nhỏ giọt làm sao chiến thắng.
Muốn tận tình tranh đấu, mà ai xui bỏ đất bỏ dân.
Thích xông thành đụt pháo, ngỡ mình đang giữ xóm giữ làng.
Cơ đồ mất, tướng quân tử tiết, sáng trưng tinh đẩu, linh hiển thành phúc thần phù hộ non sông
Chính quyền tan, dân chúng khóc than, xâm lược đã bạo tàn bắt người cướp của.
Nhớ linh xưa,
Mắt biếc môi hồng, tuổi trai trẻ dập dồn bao ước vọng
Đôi mươi xanh tóc, vào lửa binh đâu ngại chuyện tương lai
Nhập binh ngũ phận kẻ nam nhi, đời chinh khách dậm ngàn vó ngựa
Khoác nhung bào kiếp sống hào hùng, thân bách chiến xá gì sinh tử
Mùa hè đỏ lửa, ghìm tay súng giữ vững biên cương.
Mậu thân khói tỏa, vững niềm tin yên bình phố thị.
Bảo quốc trấn không, cánh chim trời dọc ngang, đi chẳng về, không trung gửi xác thân.
Đại dương vùng vẫy, kình ngư ngoài biển lớn, bỏ bến bờ, sóng dữ náu hình hài.
Nào nhảy dù, biệt động,.. trăm trận xông pha, chiến tích đã nức danh kim cổ
Nào thiết giáp, pháo binh,.. khí thế đằng đằng, sấm sét dáng lên đầu giặc dữ.
Dù chán ghét chiến chinh, nhưng vẫn phải dấn thân binh lửa.
Mặc tình đời đen bạc, mãi một lòng báo quốc trung trinh.
Trí vốn quen sách vở thư sinh, bỏ trường lớp đi vào chiến trận.
Óc chất chồng lục thao tam lược, có xá gì làn đạn mũi tên.
Ghét giặc bạo tàn, pháo kích dân lành, chẳng xót thương đồng bào ruột thịt.
Chở che bá tánh, chiến địa tung hoành, sức đoạn kình yên hàn xã tắc.
Nào ngờ đâu
Da ngựa bọc thây, chữ quy khứ đã đành về âm cảnh.
Đầu non trăng dãi, câu chiêu hồn đủ sót chốn dương gian.
Bàn cờ thua, ai cứu được giang san.
Gặp vận bĩ, liều thân cùng đất tổ.
Hỡi ơi!
Một trận tan tành,
Trời thủ đô vần vũ áng mây tang.
Muôn dân thương khó,
Đất phương nam ngơ ngác ngọn cờ hàng.
Cuối tháng tư, thế cùng lực tận, tướng trấn ải cam đành tự tận, nêu tiếng thơm để lại ngàn sau.
Đầu tháng năm, hàng ngũ vỡ tan, quân tử thủ liều tấm thân, đời anh kiệt ghi cùng sử sách.
Mặt trận Sài Gòn ngày rã ngũ, cả tiểu đội nắm tay ôm lựu đạn, sống cùng nhau và chết cũng cùng nhau.
Bản doanh Cần Thơ đêm buông súng, khắp quân đoàn lệ khóc thương tư lệnh, sinh vi tướng và tử cũng vi thần.
Bao nhiêu người gục ngã, vạn chiến sĩ vô danh tô máu sắc cờ.
Bấy nhiêu gương nghĩa dũng, muôn anh linh hiến mình vì nước hy sinh.
Thế mà
Đài tưởng niệm chỉ đành trong tâm tưởng, phận kẻ thua đâu có được đền miếu huy hoàng.
Bức tượng Tiếc Thương đem dập vùi hoang phế, khiến nhân tâm đau xót thảm thương.
Nghĩa trang Quân Đội đành rêu loang cỏ áy, xui quốc dân thống hận đoạn trường.
Ở hải ngoại, muôn lòng tưởng niệm, cuối tháng tư thắp nén nhang thơm.
Nơi lưu lạc, vạn lời thương cảm, đầu tháng năm đốt nến nhớ người. Vọng hồn trung liệt
Ly rượu nồng tựa nước mắt muôn thu
Tưởng đấng hùng tài.
Chén nước trong giống suối nguồn son tạc.
Thác chẳng cần đền miếu, sống muôn thuở lừng danh
Sống không kể gian nguy, thác ngàn năm nhang khói.
Ơi hỡi anh hùng chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Về đây chứng giám.
Hồn linh thượng hưởng.
Nguyễn Mạnh Trinh
Ô hô!
Xưa, truyền tụng bài Điếu Cổ Chiến Trường Văn, lời Lý Hoa đã dãi dầu cùng thiên cổ.
Nay, đọc lại Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, tiếng Đồ Chiểu còn sang sảng với non sông.
Than ôi
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi, trung nghĩa đài lửa thắp nhớ người xưa.
Đất linh thiêng vùi chôn thân xác, đàn trận vong lời vẳng tận thiên thu.
Vận nước đến thời
Anh hùng mạt vận
Hai mươi năm xây đắp quốc gia, ngăn sóng đỏ, cầm gươm giữ nước
Một thế kỷ lầm than dân tộc, xót thế thời, đứng dậy dưới cờ.
Tháng tư đen, bỗng tình cảnh xảy đàn tan nghé
Ất mão buồn, chợt tang thương tan cửa nát nhà
Phe Cộng hung hăng, đằng sau Nga Tàu tận tình chi viện, xe tăng súng lớn thừa thãi ê hề, đạn vung vãi tối trời mù đất
Phía ta thế thủ, mặt trước đồng minh buông tay không giúp, máy bay tàu thủy thiếu thốn xăng dầu, pháo nhỏ giọt làm sao chiến thắng.
Muốn tận tình tranh đấu, mà ai xui bỏ đất bỏ dân.
Thích xông thành đụt pháo, ngỡ mình đang giữ xóm giữ làng.
Cơ đồ mất, tướng quân tử tiết, sáng trưng tinh đẩu, linh hiển thành phúc thần phù hộ non sông
Chính quyền tan, dân chúng khóc than, xâm lược đã bạo tàn bắt người cướp của.
Nhớ linh xưa,
Mắt biếc môi hồng, tuổi trai trẻ dập dồn bao ước vọng
Đôi mươi xanh tóc, vào lửa binh đâu ngại chuyện tương lai
Nhập binh ngũ phận kẻ nam nhi, đời chinh khách dậm ngàn vó ngựa
Khoác nhung bào kiếp sống hào hùng, thân bách chiến xá gì sinh tử
Mùa hè đỏ lửa, ghìm tay súng giữ vững biên cương.
Mậu thân khói tỏa, vững niềm tin yên bình phố thị.
Bảo quốc trấn không, cánh chim trời dọc ngang, đi chẳng về, không trung gửi xác thân.
Đại dương vùng vẫy, kình ngư ngoài biển lớn, bỏ bến bờ, sóng dữ náu hình hài.
Nào nhảy dù, biệt động,.. trăm trận xông pha, chiến tích đã nức danh kim cổ
Nào thiết giáp, pháo binh,.. khí thế đằng đằng, sấm sét dáng lên đầu giặc dữ.
Dù chán ghét chiến chinh, nhưng vẫn phải dấn thân binh lửa.
Mặc tình đời đen bạc, mãi một lòng báo quốc trung trinh.
Trí vốn quen sách vở thư sinh, bỏ trường lớp đi vào chiến trận.
Óc chất chồng lục thao tam lược, có xá gì làn đạn mũi tên.
Ghét giặc bạo tàn, pháo kích dân lành, chẳng xót thương đồng bào ruột thịt.
Chở che bá tánh, chiến địa tung hoành, sức đoạn kình yên hàn xã tắc.
Nào ngờ đâu
Da ngựa bọc thây, chữ quy khứ đã đành về âm cảnh.
Đầu non trăng dãi, câu chiêu hồn đủ sót chốn dương gian.
Bàn cờ thua, ai cứu được giang san.
Gặp vận bĩ, liều thân cùng đất tổ.
Hỡi ơi!
Một trận tan tành,
Trời thủ đô vần vũ áng mây tang.
Muôn dân thương khó,
Đất phương nam ngơ ngác ngọn cờ hàng.
Cuối tháng tư, thế cùng lực tận, tướng trấn ải cam đành tự tận, nêu tiếng thơm để lại ngàn sau.
Đầu tháng năm, hàng ngũ vỡ tan, quân tử thủ liều tấm thân, đời anh kiệt ghi cùng sử sách.
Mặt trận Sài Gòn ngày rã ngũ, cả tiểu đội nắm tay ôm lựu đạn, sống cùng nhau và chết cũng cùng nhau.
Bản doanh Cần Thơ đêm buông súng, khắp quân đoàn lệ khóc thương tư lệnh, sinh vi tướng và tử cũng vi thần.
Bao nhiêu người gục ngã, vạn chiến sĩ vô danh tô máu sắc cờ.
Bấy nhiêu gương nghĩa dũng, muôn anh linh hiến mình vì nước hy sinh.
Thế mà
Đài tưởng niệm chỉ đành trong tâm tưởng, phận kẻ thua đâu có được đền miếu huy hoàng.
Bức tượng Tiếc Thương đem dập vùi hoang phế, khiến nhân tâm đau xót thảm thương.
Nghĩa trang Quân Đội đành rêu loang cỏ áy, xui quốc dân thống hận đoạn trường.
Ở hải ngoại, muôn lòng tưởng niệm, cuối tháng tư thắp nén nhang thơm.
Nơi lưu lạc, vạn lời thương cảm, đầu tháng năm đốt nến nhớ người. Vọng hồn trung liệt
Ly rượu nồng tựa nước mắt muôn thu
Tưởng đấng hùng tài.
Chén nước trong giống suối nguồn son tạc.
Thác chẳng cần đền miếu, sống muôn thuở lừng danh
Sống không kể gian nguy, thác ngàn năm nhang khói.
Ơi hỡi anh hùng chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Về đây chứng giám.
Hồn linh thượng hưởng.
Trên Vá Cờ
Tôi Thấy Núi Sông

Tôi bắt gặp nỗi xúc động bàng hoàng, nguyên khôi, khi thưởng ngoạn bức ảnh Vá Cờ của Nhiê'p ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh. Như trước đây thoạt ngắm nhìn tác phẩm nhiếp ảnh Tiếc Thương cuả anh và tác phẩm điêu khắc cùng tên (?) của Nguyễn Thanh Thu .
Cái bàn tay thiếu phụ khi rút sợi chỉ lên đã cho tôi một ấn tượng vô cùng mạnh mẽ. Ở nỗi chia sẻ tận cùng, nếu không muốn nói là cuối cùng . Nàng như đang vá lại những mảnh tim đã vỡ, vá một hạnh phúc đã lìa, vá một hào hùng đã góp. Và cuối cùng là một tình yêu thắm thiết cho quê, mà lá cờ ấy là biểu trưng cho hồn thiêng sông núi. Cho núi xương sông máu.
Sợi chỉ ấy chưa cắn đứt. Hoạt cảnh bi hùng ấy vẫn còn. Còn mãi với thiên thu . Như nỗi tang thương còn là miên viễn. Sợi chỉ thẳng băng như một đường kiếm chém ngang đời thiếu phụ. Gương mặt buồn trầm tích, hoá thạch, như chưa muốt cắt đứt cái hiện tại não người. Nàng như muốn hôn lên vết thương lòng, hôn lên dòng máu thă'm Của nàng, và của bao người đã đổ xuống cho màu cờ chính nghĩa hôm nay. Dòng máu đổ dài hơn một kiếp người.
Vá Cờ mang nhiều biểu tượng nhờ bố cục đẹp và mạnh. Tôi thích vô cùng đường chéo của lá cờ từ bên phải . Tưởng như không có nó thiếu phụ sẽ đổ xuống.
Với những đường nét vô cùng sắc xảo, nghệ thuật thế đó, tôi nghĩ rằng Vá Cờ là một tác phẩm lớn cuả Nguyễn Ngọc Hạnh. Và sẽ mãi mãi ở lại với lòng người thưởng ngoạn.
Khuyết điểm rất nhỏ. Thẹo tôi, chỉ là chiếc mũ sắt nên được lật ngửa, và khung hình bên phải nên được co vào tới mép vạch đỏ cuối của lá cờ. Như vậy khuôn mặt goá phụ sẽ kéo ra gần với Strong point hơn. Phải không anh Nguyễn Ngọc Hạnh?
hahuyenchi
May, 2000
Vá Cờ
*Cảm đề tác phẩm Vá Cờ của Nguyễn Ngọc Hạnh
Đường chỉ thẳng, một đường gươm bén
Chém ngang đời vết chém như mơ
Vá tim tan tác như cờ
Vá hồn vị quốc chưa mờ linh quang
Vá hạo khí dọc ngang trời đất
Bốn ngàn năm bất khuất kiêu hùng
Trên cờ thấy núi thấy sông
Người vì nghĩa cả đã dâng hiến đời
Nhấm dòng máu còn tươi nỗi hận
Nghiêng mái đầu súng trận còn vang
Yêu người, yêu lá cờ vàng
Lệ thầm nuốt nghẹn từng hàng mỗi đêm
Đời chinh phụ thoắt chìm trong tối
Tình yêu quê réo gọi đầy lòng
Lửa tim hận nước, thù chồng
Lửa thiêng còn cháy bập bùng ngàn thu.
hahuyenchi
Tôi Thấy Núi Sông

Tôi bắt gặp nỗi xúc động bàng hoàng, nguyên khôi, khi thưởng ngoạn bức ảnh Vá Cờ của Nhiê'p ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh. Như trước đây thoạt ngắm nhìn tác phẩm nhiếp ảnh Tiếc Thương cuả anh và tác phẩm điêu khắc cùng tên (?) của Nguyễn Thanh Thu .
Cái bàn tay thiếu phụ khi rút sợi chỉ lên đã cho tôi một ấn tượng vô cùng mạnh mẽ. Ở nỗi chia sẻ tận cùng, nếu không muốn nói là cuối cùng . Nàng như đang vá lại những mảnh tim đã vỡ, vá một hạnh phúc đã lìa, vá một hào hùng đã góp. Và cuối cùng là một tình yêu thắm thiết cho quê, mà lá cờ ấy là biểu trưng cho hồn thiêng sông núi. Cho núi xương sông máu.
Sợi chỉ ấy chưa cắn đứt. Hoạt cảnh bi hùng ấy vẫn còn. Còn mãi với thiên thu . Như nỗi tang thương còn là miên viễn. Sợi chỉ thẳng băng như một đường kiếm chém ngang đời thiếu phụ. Gương mặt buồn trầm tích, hoá thạch, như chưa muốt cắt đứt cái hiện tại não người. Nàng như muốn hôn lên vết thương lòng, hôn lên dòng máu thă'm Của nàng, và của bao người đã đổ xuống cho màu cờ chính nghĩa hôm nay. Dòng máu đổ dài hơn một kiếp người.
Vá Cờ mang nhiều biểu tượng nhờ bố cục đẹp và mạnh. Tôi thích vô cùng đường chéo của lá cờ từ bên phải . Tưởng như không có nó thiếu phụ sẽ đổ xuống.
Với những đường nét vô cùng sắc xảo, nghệ thuật thế đó, tôi nghĩ rằng Vá Cờ là một tác phẩm lớn cuả Nguyễn Ngọc Hạnh. Và sẽ mãi mãi ở lại với lòng người thưởng ngoạn.
Khuyết điểm rất nhỏ. Thẹo tôi, chỉ là chiếc mũ sắt nên được lật ngửa, và khung hình bên phải nên được co vào tới mép vạch đỏ cuối của lá cờ. Như vậy khuôn mặt goá phụ sẽ kéo ra gần với Strong point hơn. Phải không anh Nguyễn Ngọc Hạnh?
hahuyenchi
May, 2000
Vá Cờ
*Cảm đề tác phẩm Vá Cờ của Nguyễn Ngọc Hạnh
Đường chỉ thẳng, một đường gươm bén
Chém ngang đời vết chém như mơ
Vá tim tan tác như cờ
Vá hồn vị quốc chưa mờ linh quang
Vá hạo khí dọc ngang trời đất
Bốn ngàn năm bất khuất kiêu hùng
Trên cờ thấy núi thấy sông
Người vì nghĩa cả đã dâng hiến đời
Nhấm dòng máu còn tươi nỗi hận
Nghiêng mái đầu súng trận còn vang
Yêu người, yêu lá cờ vàng
Lệ thầm nuốt nghẹn từng hàng mỗi đêm
Đời chinh phụ thoắt chìm trong tối
Tình yêu quê réo gọi đầy lòng
Lửa tim hận nước, thù chồng
Lửa thiêng còn cháy bập bùng ngàn thu.
hahuyenchi
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
30 năm - Cuộc Đổi đời .
Phú Yên
Ba mươi tháng bốn lại về
Hồn người luân lạc nắng thề còn soi
30 năm - nhớ thương ơi
Trông về quê mẹ rối bời nỗi đau
30 năm non nước úa nhàu
30 năm khổ ải ngục tù oan khiên
Còn đâu một thuở bình yên
Mắt em tôi thiếu hồn nhiên nụ cười
30 năm - cuộc đổi đời
Em trong lao ngục - tôi ngoài lưu vong
Phú Yên
Ba mươi tháng bốn lại về
Hồn người luân lạc nắng thề còn soi
30 năm - nhớ thương ơi
Trông về quê mẹ rối bời nỗi đau
30 năm non nước úa nhàu
30 năm khổ ải ngục tù oan khiên
Còn đâu một thuở bình yên
Mắt em tôi thiếu hồn nhiên nụ cười
30 năm - cuộc đổi đời
Em trong lao ngục - tôi ngoài lưu vong
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
ƯƠM NẮNG ....
Thiên Nhất Phương
1/ Mai về ươm chút nắng vàng
Xong đem tơ rối hong hàng dậu thưa
Mong trời nắng cả ,đừng mưa
Tơ lòng hết rối , tôi vừa học xong
2/ Tơ khô dệt áo lụa hồng
Cau vườn ta chín , trầu không....nhà nàng
Nhà nàng cách một đò ngang
Qua cầu nho nhỏ là sang thôn đoài.
3/ Tháng sau họp chợ làng ngoài
Thôi đâu còn dịp sang đoài thăm em
Về thôi ...đóng cửa buông rèm
Không hong tơ nữa ,chong đèn học thi.
Hương tình theo gió bay đi
Chắt chiu kỷ niệm những khi nhớ nàng
Cách nhau chỉ một đò ngang
Mà sao cách trở quan san thế này
Thiên Nhất Phương
1/ Mai về ươm chút nắng vàng
Xong đem tơ rối hong hàng dậu thưa
Mong trời nắng cả ,đừng mưa
Tơ lòng hết rối , tôi vừa học xong
2/ Tơ khô dệt áo lụa hồng
Cau vườn ta chín , trầu không....nhà nàng
Nhà nàng cách một đò ngang
Qua cầu nho nhỏ là sang thôn đoài.
3/ Tháng sau họp chợ làng ngoài
Thôi đâu còn dịp sang đoài thăm em
Về thôi ...đóng cửa buông rèm
Không hong tơ nữa ,chong đèn học thi.
Hương tình theo gió bay đi
Chắt chiu kỷ niệm những khi nhớ nàng
Cách nhau chỉ một đò ngang
Mà sao cách trở quan san thế này
Trường hận ca - Hồng nhan phận bạc
Mượn tên từ một bài thơ của thi sĩ Bạch Cư Dị, Trường hận ca của Vương An Ức đi vào cuộc sống của những ngõ nhỏ lắt léo, bên ngoài rộng mở nhưng bên trong rất bí ẩn của thành phố Thượng Hải.
Đó là nơi cất giữ những câu chuyện đồn đại chẳng đâu vào đâu, là địa điểm cư trú của những chú chim câu sáng suốt nhưng lại âm thầm, và giữa cuộc sống có phần mờ xám, u uẩn đó, nổi lên nhân vật Vương Kỳ Dao.
Nàng được gọi là Người đẹp Thượng Hải, từng gây xôn xao khi giành giải á khôi 2 trong một cuộc thi sắc đẹp của thành phố. Giữa những cô gái đẹp thi hoa hậu, nàng không phải là người nổi bật nhất, chói lọi nhất trên sàn diễn, mà là người có duyên. Trong phần thi áo cưới ngập tơ lụa gấm vóc, chỉ có nàng là tạo nên vẻ cô dâu nhất. Danh hiệu á hậu 2 của Kỳ Dao thật gần gũi với thực tế đời thường.
Nhưng mọi trắc trở đã lần lượt săn đuổi nàng từ đó. Một người đàn ông giàu có, bí ẩn, tượng trưng cho quyền lực, ý chí kiên định đã lôi cuốn nàng vào một cuộc tình ái. Kỳ Dao lập tức xuôi lòng theo chủ nhiệm Lý ra ở riêng, bỏ qua những rào cản gia đình, bỏ rơi tấm chân tình của chàng nhiếp ảnh trẻ tuổi. Nhưng nàng vẫn phải sống trong xót xa bởi yêu một người mà trước đó nàng gọi bằng chú, bởi ông Lý còn có gia đình và bao việc hệ trọng cần gánh vác. Nàng đi theo tiếng gọi của tình yêu mà như sống trong sự bao bọc của cô đơn. Kỳ Dao khó lòng nhận được sự đồng cảm từ phía người đời, bởi những cuộc tình đến rồi đi, với đủ lớp người, đủ lứa tuổi, thậm chí có người đàn ông còn trẻ hơn nàng cả chục tuổi. Kỳ Dao an thường, thủ phận nhưng vẫn biết đón nhận tình yêu, biết chấp nhận để tạo cho mình những đốm sáng hạnh phúc. Chính vì thế mà nàng trở nên gần gũi, thân thương trong vị trí bé nhỏ của mình. Thế nhưng thật trớ trêu, quá khứ huy hoàng đôi khi trở lại cùng những điều uẩn ức, khiến nàng không thể giãi bày.
Một cái kết trong bế tắc là điều tất phải đến, dù Kỳ Dao cố giãy giụa để tránh. Nàng bị chết bởi chính một người đã đến chăm sóc nàng, đã sắc thuốc, lau nhà cho nàng. Thật oái oăm, nàng chết không phải vì tình, mà bởi vì tên trộm muốn tìm vàng, trong phút túng bách đã bóp cổ khiến nàng tắt thở. Dẫu đau lòng song có thể coi như sự giải thoát khỏi kiếp người trầm luân.
Trường hận ca lôi cuốn bởi cách kể chuyện có duyên, bởi sự khăng khít giữa tình và cảnh, giữa con người với con người giữa bao la vô thường. Tác giả chia nhỏ câu chuyện để tạo nên những điểm nhấn, hút người đọc vào thân phận Vương Kỳ Dao, bi kịch của một con người nhỏ bé. Nàng thuộc về những ngõ hẻm tối tăm, nàng bị trói buộc bởi sức mạnh của lời đồn đại, người hiểu nàng hơn cả là những chú chim bồ câu chứng kiến niềm vui và cái chết tức tưởi của nàng.
Từ vài thập kỷ nay, nhà văn Vương An Ức được đánh giá cao trên văn đàn Trung Quốc. Kể từ khi hoàn thành từ năm 1996 đến năm 2000, Trường hận ca đã được tái bản nhiều lần với số lượng mỗi lần 50.000-100.000 bản. Năm 2000, Trường hận ca được trao giải Mao Thuẫn, giải thưởng lớn nhất của Hội Nhà văn Trung Quốc dành cho tiểu thuyết.
Hoàng Dung
Đó là nơi cất giữ những câu chuyện đồn đại chẳng đâu vào đâu, là địa điểm cư trú của những chú chim câu sáng suốt nhưng lại âm thầm, và giữa cuộc sống có phần mờ xám, u uẩn đó, nổi lên nhân vật Vương Kỳ Dao.
Nàng được gọi là Người đẹp Thượng Hải, từng gây xôn xao khi giành giải á khôi 2 trong một cuộc thi sắc đẹp của thành phố. Giữa những cô gái đẹp thi hoa hậu, nàng không phải là người nổi bật nhất, chói lọi nhất trên sàn diễn, mà là người có duyên. Trong phần thi áo cưới ngập tơ lụa gấm vóc, chỉ có nàng là tạo nên vẻ cô dâu nhất. Danh hiệu á hậu 2 của Kỳ Dao thật gần gũi với thực tế đời thường.
Nhưng mọi trắc trở đã lần lượt săn đuổi nàng từ đó. Một người đàn ông giàu có, bí ẩn, tượng trưng cho quyền lực, ý chí kiên định đã lôi cuốn nàng vào một cuộc tình ái. Kỳ Dao lập tức xuôi lòng theo chủ nhiệm Lý ra ở riêng, bỏ qua những rào cản gia đình, bỏ rơi tấm chân tình của chàng nhiếp ảnh trẻ tuổi. Nhưng nàng vẫn phải sống trong xót xa bởi yêu một người mà trước đó nàng gọi bằng chú, bởi ông Lý còn có gia đình và bao việc hệ trọng cần gánh vác. Nàng đi theo tiếng gọi của tình yêu mà như sống trong sự bao bọc của cô đơn. Kỳ Dao khó lòng nhận được sự đồng cảm từ phía người đời, bởi những cuộc tình đến rồi đi, với đủ lớp người, đủ lứa tuổi, thậm chí có người đàn ông còn trẻ hơn nàng cả chục tuổi. Kỳ Dao an thường, thủ phận nhưng vẫn biết đón nhận tình yêu, biết chấp nhận để tạo cho mình những đốm sáng hạnh phúc. Chính vì thế mà nàng trở nên gần gũi, thân thương trong vị trí bé nhỏ của mình. Thế nhưng thật trớ trêu, quá khứ huy hoàng đôi khi trở lại cùng những điều uẩn ức, khiến nàng không thể giãi bày.
Một cái kết trong bế tắc là điều tất phải đến, dù Kỳ Dao cố giãy giụa để tránh. Nàng bị chết bởi chính một người đã đến chăm sóc nàng, đã sắc thuốc, lau nhà cho nàng. Thật oái oăm, nàng chết không phải vì tình, mà bởi vì tên trộm muốn tìm vàng, trong phút túng bách đã bóp cổ khiến nàng tắt thở. Dẫu đau lòng song có thể coi như sự giải thoát khỏi kiếp người trầm luân.
Trường hận ca lôi cuốn bởi cách kể chuyện có duyên, bởi sự khăng khít giữa tình và cảnh, giữa con người với con người giữa bao la vô thường. Tác giả chia nhỏ câu chuyện để tạo nên những điểm nhấn, hút người đọc vào thân phận Vương Kỳ Dao, bi kịch của một con người nhỏ bé. Nàng thuộc về những ngõ hẻm tối tăm, nàng bị trói buộc bởi sức mạnh của lời đồn đại, người hiểu nàng hơn cả là những chú chim bồ câu chứng kiến niềm vui và cái chết tức tưởi của nàng.
Từ vài thập kỷ nay, nhà văn Vương An Ức được đánh giá cao trên văn đàn Trung Quốc. Kể từ khi hoàn thành từ năm 1996 đến năm 2000, Trường hận ca đã được tái bản nhiều lần với số lượng mỗi lần 50.000-100.000 bản. Năm 2000, Trường hận ca được trao giải Mao Thuẫn, giải thưởng lớn nhất của Hội Nhà văn Trung Quốc dành cho tiểu thuyết.
Hoàng Dung

Cà phê cuối ngõ
Cuối ngõ ấy là quán cà phê quen
Anh đã tin vì uống cà phê mà mắt em nâu đến thế
Vì viên đá tròn xinh
Vì bông hoa be bé
Mà nụ cười em trong hơn
Cuối ngõ ấy anh vẫn tìm nỗi cô đơn
Khi anh nhìn trong mắt em và không thấy mình trong đó
Cà phê nâu, màu môi em đo đỏ
Nỗi thất vọng màu gì, em có biết không?
Cuối ngõ ấy có bao người mà em nói thật đông
Anh chỉ thấy toàn người lạ
Người lạ thì chẳng là gì cả
Thế giới thu vào một mái tóc em
Cuối ngõ ấy anh đã tìm được một thói quen
Một thói quen dễ thương giữa chật chội cuộc đời và bộn bề toan tính
Chỉ cần em và buổi chiều thanh tịnh
Một ly nâu đủ ấm áp nụ cười
Cuối ngõ ấy anh đã tìm thấy một góc nhỏ cuộc đời
Anh đã trao, dẫu em không nhận
Thủy Vũ

