Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ha ...Ha...Ha.....

Công nhận Em Gái của ông anh có cặp mắt sắc như dao cạo , cái gì cũng thấy hết trơn hết trọi , không thua cái ông sư đệ Ông Ổng của ông anh chút nào ... :D :D :D

Nhưng Em Gái à !!! Cái lúc này là lúc đang thoải mái ngồi đàm đạo với nhau nên mới có thì giờ chụp hình chụp ảnh .....Chứ lúc mà bắt đầu ăn nhậu phía sân trong thì thì giớ đâu mà ảnh với hình ...thành ra lúc này Em Gái thấy trên bàn tàn là Đậu Đỏ với Đậu Phọng mà thôi !!!! :D :D :D

DaHuong
Posts: 124
Joined: Sat Dec 11, 2004 6:04 am

Post by DaHuong »

khieulong wrote:Ha ...Ha...Ha.....

Công nhận Em Gái của ông anh có cặp mắt sắc như dao cạo , cái gì cũng thấy hết trơn hết trọi , không thua cái ông sư đệ Ông Ổng của ông anh chút nào ... :D :D :D

Nhưng Em Gái à !!! Cái lúc này là lúc đang thoải mái ngồi đàm đạo với nhau nên mới có thì giờ chụp hình chụp ảnh .....Chứ lúc mà bắt đầu ăn nhậu phía sân trong thì thì giớ đâu mà ảnh với hình ...thành ra lúc này Em Gái thấy trên bàn tàn là Đậu Đỏ với Đậu Phọng mà thôi !!!! :D :D :D

Hihihihihi...... hỏng tin đâu là hỏng tin đâu !!!! :lol: :lol:

Ông anh phải có hình nào trên bàn có thức ăn khác ngoài món " đỗ lạc , đậu phọng....chiêu bài " đó thì mới tin. hehehe...... :lol: :lol: :lol: :lol:


***** hỏng có hình là em của ông anh đoán chúng chóc đó nhen ! :lol: :lol:




:lol:

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

DaHuong wrote:
khieulong wrote:Ha ...Ha...Ha.....

Công nhận Em Gái của ông anh có cặp mắt sắc như dao cạo , cái gì cũng thấy hết trơn hết trọi , không thua cái ông sư đệ Ông Ổng của ông anh chút nào ... :D :D :D

Nhưng Em Gái à !!! Cái lúc này là lúc đang thoải mái ngồi đàm đạo với nhau nên mới có thì giờ chụp hình chụp ảnh .....Chứ lúc mà bắt đầu ăn nhậu phía sân trong thì thì giớ đâu mà ảnh với hình ...thành ra lúc này Em Gái thấy trên bàn tàn là Đậu Đỏ với Đậu Phọng mà thôi !!!! :D :D :D

Hihihihihi...... hỏng tin đâu là hỏng tin đâu !!!! :lol: :lol:

Ông anh phải có hình nào trên bàn có thức ăn khác ngoài món " đỗ lạc , đậu phọng....chiêu bài " đó thì mới tin. hehehe...... :lol: :lol: :lol: :lol:


***** hỏng có hình là em của ông anh đoán chúng chóc đó nhen ! :lol: :lol:




:lol:
Zậy là coi như tiêu ông anh của Em Gái mất rồi , Chạy te te dìa nơi tiệc tùng để chớp vài tấm hình mong làm bằng chứng tại toà thì bà con đã dọn đi đâu mất hết cả rồi , bây giờ thì lấy cái gì mà chứng minh với wan toà bây giờ hén !!!!!


:D :D :D

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Bức Chân Dung

Có một người đàn ông yêu thích mỹ thuật. Ông ta say mê đến mức gần như
sống vì niềm say mê của mình. Sưu tập tranh là mục tiêu cả đời của ông.
Ông làm việc rất chăm chỉ để dành tiền tiết kiệm nhằm mua thêm các tác
phẩm hội họa cho bộ sưu tập của mình. Ông mua rất nhiều tác phẩm của
các họa sỹ nổi tiếng.
Người đàn ông này đã góa vợ. Ông chỉ có một người con trai. Ông đã truyền
lại cho con mình niềm say mê sưu tầm đó. Ông rất tự hào về con trai của
mình khi anh ta cũng trở thành một nhà sưu tầm nổi tiếng như ông.
Một thời gian sau, đất nước bỗng có chiến tranh. Người con trai, cũng như
mọi thanh niên khác, lên đường tòng quân. Và sau một thời gian thì câu
chuyện xảy ra...
Một hôm, người cha nhận được một lá thư thông báo rằng người con đã
mất tích khi đang làm nhiệm vụ. Người cha đau khổ đến tột cùng. Thật là
khủng khiếp khi người cha không thể biết được điều gì đang xảy ra với con
mình.
Vài tuần sau ông nhận được một lá thư nữa. Lá thư này báo với ông rằng
con ông đã hy sinh khi làm nhiệm vụ. Ông gần như chết đi một nửa người.
Thật khó khăn khi đọc tiếp lá thư đó, nhưng ông vẫn cố. Trong thư, người ta
báo rằng con ông đã rút lui đến nơi an toàn. Nhưng thấy trên bãi chiến
trường vẫn còn những đồng đội bị thương, con ông đã quay lại và đưa về
từng thương binh một. Cho đến khi đưa người cuối cùng về gần đến khu
vực an toàn thì con ông đã trúng đạn và hy sinh.
Một tháng sau, đến ngày Noel, ông không muốn ra khỏi nhà. Ông không thể
hình dung được một Noel mà thiếu con trai mình bên cạnh. Ông đang ở
trong nhà thì có tiếng chuông gọi cửa. Đứng trước cửa nhà là một chàng trai
tay cầm một bọc lớn.
Chàng trai nói "Thưa bác, bác không biết cháu, nhưng cháu là người mà con
bác đã cứu trước khi hy sinh. Cháu không giàu có, nên cháu không biết
đem đến cái gì để đền đáp cho điều mà con bác đã làm cho cháu. Cháu
được anh ấy kể lại rằng bác thích sưu tầm tranh, bởi vậy dù cháu không
phải là một họa sỹ, cháu cũng vẽ một bức chân dung con trai bác để tặng
cho bác. Cháu mong bác nhận cho cháu."
Người cha đem bức tranh vào nhà, mở ra. Tháo bức tranh giá trị nhất vẫn
treo trên lò sưởi xuống, ông thay vào đó là bức chân dung người con. Nước
mắt lưng tròng, ông nói với chàng trai "Đây là bức tranh giá trị nhất mà ta có
được. Nó có giá trị hơn tất cả các tranh mà ta có trong căn nhà này."
Chàng trai ở lại với người cha qua Noel đó rồi hai người chia tay. Sau vài
năm, người cha bị bệnh nặng. Tin tức về việc ông qua đời lan truyền đi rất
xa. Mọi người đều muốn tham gia vào cuộc bán đấu giá những tác phẩm
nghệ thuật mà người cha đã sưu tầm được qua thời gian. Cuối cùng thì buổi
bán đấu giá cũng được công bố vào ngày Noel năm đó. Các nhà sưu tầm và
những nhà đại diện cho các viện bảo tàng đều háo hức muốn mua các tác
phẩm nổi tiếng. Toà nhà bán đấu giá đầy người. Người điều khiển đứng lên
và nói "Tôi xin cám ơn mọi người đã đến đông đủ như vậy. Bức tranh đầu
tiên sẽ là bức chân dung này..."
Có người la lên "Đó chỉ là chân dung đứa con trai ông cụ thôi! Sao chúng ta
không bỏ qua nó, và bắt đầu bằng những bức có giá trị thật sự?"
Người điều khiển nói "Chúng ta sẽ bắt đầu bằng bức này trước!"
Người điều khiển bắt đầu "Ai sẽ mua với giá $100?"
Không ai trả lời nên ông ta lại tiếp "Ai sẽ mua với giá $50?"
Cũng không có ai trả lời nên ông ta lại hỏi "Có ai mua với giá $40?"
Cũng không ai muốn mua. Người điều khiển lại hỏi "Không ai muốn trả giá
cho bức tranh này sao?" Một người đàn ông già đứng lên "Anh có thể bán
với giá $10 được không? Anh thấy đấy, $10 là tất cả những gì tôi có. Tôi là
hàng xóm của ông cụ và tôi biết thằng bé đó. Tôi đã thấy thằng bé lớn lên và
tôi thật sự yêu quý nó. Tôi rất muốn có bức tranh đó. Vậy anh có đồng ý
không?"
Người điều khiển nói "$10 lần thứ nhất, lần thứ nhì, bán!"
Tiếng ồn ào vui mừng nổi lên và mọi người nói với nhau "Chúng ta có thể bắt
đầu thật sự được rồi!" Người điều khiển nói "Xin cảm ơn mọi người đã đến.
Thật là vinh hạnh khi có mặt những vị khách quý ở đây. Bữa nay chúng ta
sẽ dừng tại đây!"
Đám đông nổi giận "Anh nói là hết đấu giá? Anh vẫn chưa đấu giá toàn bộ
các tác phẩm nổi tiếng kia mà?" Người điều khiển nói "Tôi xin lỗi nhưng buổi
bán đấu giá đã chấm dứt. Mọi người hãy xem chúc thư của ông cụ đây,
" NGƯỜI NÀO LẤY BỨC CHÂN DUNG CON TÔI SẼ ĐƯỢC TẤT CẢ CÁC
BỨC TRANH CÒN LẠI! Và đó là lời cuối cùng!”

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Nội
Tiểu Tử


[left]http://img.photobucket.com/albums/v283/ ... uc/noi.jpg[/left]
- Nội xuống kìa !

- Nội xuống ! Ê ! Nội xuống !

- Nội xuống !

Bầy con tôi reo mừng, chạy ùa ra ngõ. Ngoài đó, tiếng xích lô máy cũng vừa tắt.

Trong buồng, vợ tôi gom vội mấy giấy tờ hồ sơ nhét vào xắc tay, nhìn tôi, im lặng.Tôi hiểu : bà già xuống như vậy, làm sao giấu được chuyện tôi và hai đứa lớn sẽ vượt biên ? Sáng sớm mai là đi rồi …

Tôi choàng tay ôm vai vợ tôi, siết nhẹ :

- Không sao đâu. Để anh lựa lúc nói chuyện đó với má.

Khi vợ chồng tôi bước ra hiên nhà thì bầy nhỏ cũng vừa vào tới sân. Đứa xách giỏ, đứa xách bao, đứa ôm gói, hí hửng vui mừng. Bởi vì mỗi lần bà nội chúng nó từ Gò Dầu xuống thăm đều có mang theo rất nhiều đồ ăn, bánh trái thịt thà… Những ngày sau đó, mâm cơm dưa muối thường ngày được thay thế bằng những món ăn do tay bà nội tụi nó nấu nướng nêm-nếm. Nhờ vậy, mấy bữa cơm có cái phong vị của ngày xưa thuở mà miền Nam chưa mất vào tay Việt Cộng… Mấy con tôi thường gọi đùa bà Nội bằng « trưởng ban hậu cần » hoặc chị « nuôi » và lâu lâu hay trông có bà nội xuống. Và lúc nào câu chào mừng của chúng nó cũng đều giống như nhau : « Nội mạnh hả Nội ? Nội có đem gì xuống ăn không Nội ? ». Mới đầu, tôi nghe chướng tai, nhưng sống trong sự thiếu thốn triền miên của chế độ xã hội chủ nghĩa, lần hồi chính bản thân tôi cũng chỉ nghĩ đến miếng ăn thôi !

Con gái út tôi, mười một tuổi, một tay xách giỏ trầu của bà nội, một tay cặp-kè với bà nó đi vào như hai người bạn. Bà nó cưng nó nhứt nhà. Lúc nào xuống, cũng ngủ chung với nó để nghe nó kể chuyện. Nó thích bà nội ở điều đó và thường nói : « Ở nhà này chỉ có nội là thích nghe em kể chuyện thôi ! ».Thật ra, nó có lối kể chuyện không đầu không đuôi làm mấy anh mấy chị nó bực. Trái lại, bà nó cho đó là một thi vị của tuổi thơ, nên hay biểu nó kể chuyện cho bà nghe, để lâu lâu bà cười chảy nước mắt.

Tôi hỏi má tôi :

- Sao bữa nay xuống trưa vậy nội ?

Vợ chồng tôi hay gọi má tôi bằng « nội » như các con. Nói theo tụi nó, riết rồi quen miệng. Lâu lâu, chúng tôi cũng có gọi bằng « má » nhưng sao vẫn không nghe đầm-ấm nồng-nàn bằng tiếng « nội » của các con. Hồi cha tôi còn sống, tụi nhỏ còn gọi rõ ra « ông nội » hay « bà nội ». Cha tôi mất đi, ít lâu sau, chúng nó chỉ còn dùng có tiếng « nội » ngắn gọn để gọi bà của chúng nó, ngắn gọn nhưng âm thanh lại đầy trìu mến.

Má tôi bước vào nhà, vừa cởi áo bà ba vừa trả lời :

- Thôi đi mầy ơi !… Mấy thằng công an ở Trảng Bàng mắc dịch ! Tao lên xe hồi sáng chớ bộ. Tới trạm Trảng Bàng tụi nó xét thấy tao có đem một lon ghi-gô mỡ nước, vậy là bắt tao ở lại. Nói phải quấy bao nhiêu cũng không nghe. Cứ đề quyết là tao đi buôn lậu !

Rồi má tôi liệng cái áo lên thành ghế bàn ăn, nói mà tôi có cảm tưởng như bà đang phân trần ở Trảng Bàng :

- Đi buôn lậu cái gì mà chỉ có một lon mở nước ? Ai đó nghĩ coi ! Nội tiền xe đi xuống đi lên cũng hơn tiền lon mỡ rồi. Đi buôn kiểu gì mà ngu dại vậy hổng biết !

- Ủa ? Rồi làm sao nội đi được ? Bộ tụi nó giữ lại lon mỡ hả nội ? Con gái lớn tôi chen vào.

- Dễ hôn ! Nội đâu có để cho tụi nó « ăn » lon mỡ, con ! Mỡ heo nội thắng đem xuống cho tụi con chớ bộ.

Ngừng lại, hớp một hớp nước mát mà con út vừa đem ra, xong bà kể tiếp, trong lúc các con tôi quây quần lại nghe :

- Cái rồi … cứ dan ca riết làm nội phát ghét, nội đổ lì, ngồi lại đó đợi tụi nó muốn giải đi đâu thì giải.

Nghe đến đây, bầy con tôi cười thích thú. Bởi vì tụi nó từng nghe ông nội tụi nó kể những chuyện « gan cùng mình » của bà nội hồi xưa khi cùng chồng vào khu kháng chiến, nhứt là giai đoạn trở về hoạt động ngầm ở thành phố sau này, trước hiệp định Genève…

Con út nóng nảy giục :

- Rồi sao nữa nội ?

- Cái rồi… lối mười một mười hai giờ gì đó nội hổng biết nữa. Ờ… cở đứng bóng à. Có thằng cán bộ đạp xe đi ngang. Nó đi qua khỏi rồi chớ, nhưng chắc nó nhìn thấy nội nên hoành xe lại chào hỏi : « Ũa ? Bà Tám đi đâu mà ngồi đó vậy ? » Nội nhìn ra là thằng Kiểu con thầy giáo Chén ở Tha-La, tụi bây không biết đâu. Kế nội kể hết đầu đuôi câu chuyện cho nó nghe. Nó cười ngất. Rồi nhờ nó can thiệp nên nội mới đi được đó. Lên xe thì đã trưa trờ rồi… Ti ! Kiếm cây quạt cho nội, con !

Ti là tên con út. Cây quạt là miếng mo cau mà má tôi cắt, vanh thành hình rồi đem ép giữa hai tấm thớt dầy cho nó bớt cong .Má tôi đem từ Gò Dầu xuống bốn năm cây quạt mo phân phát cho mấy cháu, nói : « Nội thấy ba má tụi con gỡ bán hết quạt máy, nội mới làm thứ này đem xuống cho tụi con xài. Kệ nó, xấu xấu vậy chớ nó lâu rách ».

Con út cầm quạt ra đứng cạnh nội quạt nhè nhẹ mà mặt mày tươi rói : tối nay nó có « bạn » ngủ chung để kể chuyện ! Vợ tôi đem áo bà ba của má tôi vào buồng mấy đứa con gái, từ trong đó hỏi vọng ra :

- Nội ăn gì chưa nội ?

- Khỏi lo ! Tao ăn rồi. Để tao têm miếng trầu rồi tao với mấy đứa nhỏ soạn đồ ra coi có hư bể gì không cái đã.

Rồi mấy bà cháu kéo nhau ra nhà sau. Tôi nhìn theo má tôi mà bỗng nghe lòng dào dạc. Từ bao nhiêu năm nay, trên người má tôi chẳng có gì thay đổi. Vẫn loại quần vải đen lưng rút, vẫn áo túi trắng ngắn tay có hai cái túi thật đặc biệt do má tôi tự cắt may : miệng túi cao lên tới ngực chớ không nằm dưới eo hông như những áo túi thường thấy. Mấy đứa nhỏ hay đùa : « Cha… bộ sợ chúng nó móc túi hay sao mà nội làm túi sâu vậy nội ? » Má tôi cười : « Ậy ! Vậy chớ túi này chứa nhiều thứ quí lắm à bây ». Những thứ gì không biết, chớ thấy má tôi còn cẩn thận ghim miệng túi lại bằng cây kim tây !

Tôi là con một của má tôi. Vậy mà sau khi cha tôi chết đem về chôn ở Gò Dầu, quê tôi, má tôi ở luôn trên đó. Nói là để châm sóc mồ mả và vườn tược cây trái. Thật ra, tại vì má tôi không thích ở Sài Gòn, mặc dù rất thương mấy đứa cháu. Hồi còn ở chung với vợ chồng tôi để tránh pháo kích - dạo đó, Việt cộng hay bắn hỏa tiễn vào Gò Dầu về đêm – má tôi thường chắc lưỡi nói : « Thiệt… không biết cái xứ gì mà ăn rồi cứ đi ra đi vô, hổng làm gì ráo ». Cái « xứ » Sàigòn, đối với má tôi, nó « tù chân tù tay » lắm, trong lúc ở Gò Dầu má tôi có nhà cửa đất đai rộng rãi, cây trái xum xuê, và dù đã cao niên, má tôi vẫn thường xuyên xách cuốt xách dao ra làm vườn, làm cỏ. Vả lại chung quanh đất má tôi, là nhà đất của các anh bà con bên ngoại của tôi, thành ra má tôi qua lại cũng gần. Các anh chị bà con tới lui thăm viếng giúp đỡ cũng dễ. Cho nên, dù ở một mình trên đó, má tôi vẫn không thấy cô đơn hiu quạnh. Lâu lâu nhớ bầy con tôi thì xuống chơi với chúng nó năm bảy bữa rồi về. Má tôi hay nói đùa là « đi đổi gió » !

Mấy năm sau ngày mất nước, cuộc sống của gia đình tôi càng ngày càng bẩn chật. Cũng như thiên hạ, vợ chồng tôi bán đồ đạc trong nhà lần lần để ăn. Má tôi biết như vậy nên xuống thăm mấy đứa nhỏ thường hơn, để mang « cái gì để ăn » cho chúng nó. Nhiều khi nằm đêm tôi ứa nước mắt mà nghĩ rằng lẽ ra tôi phải nuôi má tôi chớ, dù gì tôi cũng mới ngoài bốn mươi lăm còn má tôi thì tuổi đã về chiều. Vậy mà bây giờ, mặc dù là công nhân viên nhà nước xã hội chủ nghĩa với lương kỹ sư « bật hai trên sáu », tôi đã không nuôi nổi má tôi, mà trái lại chính má tôi phải cắt-ca cắt-củm mang đồ ăn xuống tiếp tế cho gia đình tôi, giống như má tôi mớm cơm đút cháo cho tôi thuở tôi còn thơ ấu ! Thật là một « cuộc đổi đời » ( Việt Cộng thường rêu rao : « Cách mạng là một cuộc đổi đời » ). Nhưng cuộc đổi đời của mẹ con tôi thì thật là vừa chua cay vừa hài hước !

Lắm khi tôi tự hỏi : « Rồi sẽ đi đến đâu ? ». Bấy giờ tôi đã trở thành « trưởng ban văn nghệ » của cơ quan, một lối đi « ngang » mà nhờ đó tôi còn được ở lại với sở cũ. Bởi vì mấy chục năm kinh nghiệm trong nghề nghiệp chánh của tôi, nhà nước cách mạng cho là vô dụng, không « đạt yêu cầu ». Thành ra, tối ngày tôi chỉ lo cho đoàn « nghiệp dư » của cơ quan tập dượt hát múa. Thật là hề. Còn về phần các con tôi, tương lai gần nhứt là đi đánh giặc Kampuchia, tương lai xa hơn thì thật là mù mịt !

Trong lúc tôi không có lối thoát thì một người bạn đề nghị giúp chúng tôi vượt biên, nhưng chỉ đi được có ba người. Vậy là chúng tôi lấy quyết định cho hai đứa lớn đi theo tôi. Chuyện này, chúng tôi giấu má tôi và mấy đứa nhỏ, kể cả hai đứa đã được chọn. Phần vì sợ đổ bể, phần vì sợ má tôi lo. Ai chẳng biết vượt biên là một sự liều lĩnh vô cùng. Rủi đi không thoát là bị tù đày chẳng biết ở đâu, may mà đi thoát cũng chưa chắt là sẽ đến bờ đến bến. Người ta nói trong số những người đi thoát, hai phần ba bị mất tích luôn. Thành ra, « vượt biên » là đi vào miền vô định…

Theo chương trình thì sáng sớm ngày rằm cha con tôi đi xe đò xuống Cần Thơ rồi từ đó có người rước qua sông ông Đốc để xuất hành ngay trong đêm đó. Tôi thắc mắc hỏi : « Tổ chức gì mà đi chui nhằm ngày rằm cha nội? ». Bạn tôi cười : « Ai cũng nghĩ như anh hết. Tụi Việt Cộng cũng vậy. Cho nên hể có trăng sáng là tụi nó nằm nhà nhậu, không đi tuần đi rỏn gì hết. Hiểu chưa ? »

Bữa nay là mười bốn ta nhằm ngày thứ bảy, vợ chồng tôi định không nói gì hết, chờ sáng sớm mai gọi hai đứa lớn dậy đi với tôi xuống Cần Thơ. Như vậy là chúng nó sẽ hiểu. Và như vậy là kín đáo nhứt, an toàn nhứt. Rồi sau đó vợ tôi sẽ liệu cách nhắn tin về cho má tôi hay. Chừng đó thì « sự đã rồi »…

Bây giờ thì má tôi đã có mặt ở đây, giấu cũng không được .Đành phải nói cho má tôi biết. Nhưng nói lúc nào đây ? Và nói làm sao đây ? Liệu má tôi có biết cho rằng tôi không còn con đường nào khác ? Liệu má tôi có chấp nhận cho tôi không giữ tròn đạo hiếu chỉ vì lo tương lai cho các con ? Liệu má tôi… liệu má tôi… Tôi phân vân tự đặt nhiều câu hỏi để chẳng thấy ở đâu câu trả lời…

Tôi ngồi xuống thềm nhà, nhìn ra sân. Ở đó, bờ cỏ lá gừng xanh mướt ngày xưa đã bị chúng tôi đào lên đấp thành luống để trồng chút đỉnh khoai mì, một ít khoai lan, vài hàng bắp. Không có bao nhiêu nhưng vẫn phải có. Cho nó giống với người ta, bởi vì nhà nào cũng phải « tăng gia » cho đúng « đường lối của nhà nước » . Thật ra, trồng trọt bao nhiêu đó, nếu có… trúng mùa đi nữa, thì cũng không đủ cho bầy con tôi « nhét kẻ răng » ! Vậy mà tên công an phường, trong một dịp ghé thăm, đã tấm tắc khen : « Anh chị công tác tốt đấy chứ. Tăng gia khá nhất khu phố đấy ! Các cháu tha hồ mà ăn ». Anh ta không biết rằng mấy nhà hàng xóm của tôi, muốn « tăng gia », họ đã phải đào cả sân xi-măng hoặc sân lót gạch, thì lấy gì để « làm tốt » ?

Khi tôi trở vào nhà thì con út đang gãi lưng cho nội. Nó vén áo túi nội lên đến vai, để lộ cái lưng gầy nhom, cong cong và hai cái vú teo nhách. Tôi tự hỏi : « Lạ quá ! Chỉ có mình mình bú hồi đó mà sao làm teo vú nội đến như vậy được ? ». Rồi tôi bồi hồi cảm động khi nghĩ rằng chính hai cái núm đen đó đã nuôi tôi lớn lên với dòng sữa ấm, vậy mà chẳng bao giờ nghe má tôi kể lể công lao. Tôi cảm thấy thương má tôi vô cùng. Tôi len lén từ phía sau lòn tay măn vú má tôi một cái. Má tôi giựt mình, rút cổ lại :

- Đừng ! Nhột !Thằng chơi dại mậy !

Rồi má tôi cười văng cốt trầu. Con Ti la lên :

- Má ơi ! Coi ba măn vú nội nè !

Tôi cười hả hê thích thú. Trong khoảnh khắc thật ngắn ngủi đó, tôi bắt gặp lại những rung động nhẹ nhàng sung sướng khi tôi măn vú mẹ thuở tôi mới lên ba lên năm…Và cũng trong khoảnh khắc đó, tôi đã quên mất rằng má tôi đã gần tám mươi mà tôi thì trên đầu đã hai thứ tóc ! Và cũng quên mất rằng từ ngày mai trở đi, có thể tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại má tôi nữa, để măn vú khi bất chợt thấy má tôi nhờ cháu nội gãi lưng như hôm nay…

Chiều hôm đó, khi ngồi vào bàn ăn, mắt bầy con tôi sáng rỡ. Bữa cơm thật tươm tất, đầy đủ món ăn như khi xưa. Có gà nấu canh chua lá giang, một loại giây leo có vị chua thật ngọt ngào mà hình như chỉ ở miệt quê tôi mới có. Món này, bà nội mấy đứa nhỏ nấu thật đậm đà. Bà thường nói : « Canh chua phải nêm cho cứng cứng nó mới ngon ». Mà thật vậy. Tô canh nóng hổi, bốc lên mùi thơm đặc biệt của thịt gà lẫn với mùi chua ngọt của lá giang, mùi mặn đằm thấm của nước mắm và mùi tiêu mùi hành… Húp vào một miếng canh chua, phải nghe đầu lưỡi ngây ngây cứng cứng và chân tóc trên đầu tăng tăng, như vậy mới đúng. Nằm cạnh tô canh chua là tộ cá kèo kho tiêu mà khi mang đặt lên bàn ăn nó hãy còn sôi kêu lụp-bụp, bốc mùi thơm phức vừa mặn vừa nồng cay lại vừa béo, bỡi vì trong cá kho có tóp mỡ và trước khi bắt xuống, bà nội có cho vào một muỗng mỡ nước gọi là « để cho nó dằn » ! Đặc biệt, khi làm cá kèo, bà không mổ bụng cá, thành ra khi cắn vào đó, mật cá bể ra đăng đắng nhẹ nhàng làm tăng vị bùi của miếng cá lên gấp bội. Ngoài hai món chánh ra, còn một dĩa măng luộc, tuy là một món phụ nhưng cũng không kém phần hấp dẫn nhờ ở chỗ sau khi luộc rồi măng được chiên lại với tỏi nên ngã màu vàng sậm thật là đậm đà…

Sau khi và vài miếng, vợ tôi nhìn tôi rồi rớt nước mắt. Nội hỏi :

- Bộ cay hả ?

Vợ tôi “dạ”, tiếng “dạ” nằm đâu trong cổ. Rồi buông đũa, mếu máo chạy ra nhà sau. Tôi hiểu. Bữa cơm này là bữa cơm cuối cùng, bữa cơm mà cả gia đình còn xum họp bên nhau. Rồi sẽ không còn bữa cơm nào như vầy nữa. Gia đình sẽ chia hai. Những người đi, rồi sẽ sống hay chết ? Còn những người ở lại, ai biết sẽ còn tan tác đến đâu ? Tôi làm thinh, cắm đầu ăn lia lịa như mình đang đói lắm. Thật ra, tôi đang cần nuốt thật nhanh thật nhiều, mỗi một miếng nuốt phải thật đầy cổ họng… để đè xuống, nén xuống một cái gì đang trạo trực từ dưới dâng lên. Mắt tôi nhìn đồ ăn, nhìn chén cơm, nhìn đôi đũa, để khỏi phải nhìn má tôi hay nhìn bầy con, ngần đó khuôn mặt thân yêu mà có thể tôi sẽ vĩnh viễn không còn thấy lại nữa. Trong đầu tôi chợt hiện ra hình ảnh người đang hấp hối, trong giây phút cuối cùng lưỡi đã cứng đơ mắt đã dại, vậy mà họ vẫn nhìn nuối những người thương để rồi chảy nước mắt trước khi tắt thở. Rồi tôi thấy tôi cũng giống như người đang hấp hối, không phải chết ở thể xác mà là chết ở tâm hồn, cũng một lần vĩnh biệt, và cũng sẽ bước vào một cõi u-minh nào đó, một cõi thật mơ hồ mà mình không hình dung được, không chủ động được !

Má tôi gắp cho tôi một cái bụng cá to bằng ngón tay cái :

- Nè ! Ngon lắm ! Ăn đi ! Để rồi mai mốt hổng chắc gì có mà ăn !

Ý má tôi muốn nói rằng ở với Việt Cộng riết rồi đến loại cá kèo cũng sẽ khan hiếm như các loại cá khác. Nhưng trong trường hợp của tôi, lời má tôi nói lại có ý nghĩa của lời tống biệt. Nó giống như : ”Má cho con ăn lần này lần cuối. Ăn đi con ! Ăn cho ngon đi con !”. Tôi ngậm miếng cá mà nước mắt trào ra, không kềm lại được. Nếu không có mặt bầy con tôi, có lẽ tôi đã cầm lấy bàn tay của má tôi mà khóc, khóc thật tự do, khóc thật lớn, để vơi bớt nỗi thống khổ đã dằn vật tôi từ bao nhiêu lâu nay… Đằng này, tôi không làm như vậy được. Cho nên tôi trạo trực nuốt miếng cá mà cảm thấy như nó thật đầy xương xóc !

Má tôi nhìn tôi ngạc nhiên :

- Ủa ? Mày cũng bị cay nữa sao ?

Rồi bà chồm tới nhìn vào tộ cá. Các con tôi nhao nhao lên :

- Đâu có cay, nội.

- Con ăn đâu thấy cay. Hai có nghe cay hôn Hai ?

- Chắc ba má bị gì chớ cay đâu mà cay.

- Con ăn được mà nội. Có cay đâu ?

Các con tôi đâu có biết rằng cái cay của tôi không nằm trên đầu lưỡi, mà nó nằm trong đáy lòng. Cái cay đó cũng bắt trào nước mắt !

Tôi đặt chuyện, nói tránh đi :

- Hổm rày nóng trong mình, lưỡi của ba bị lở, nên ăn cái gì mặn nó rát.

Rồi tôi nhai thật chậm để có thời gian cho sự xúc động lắng xuống. Miếng cơm trong miệng nghe như là sạng sỏi, nuốt không trôi…

Sau bữa cơm, bà cháu kéo hết vào buồng tụi con gái để chuyện trò. Thỉnh thoảng nghe cười vang trong đó. Chen trong tiếng cười trong trẻo của các con, có tiếng cười khọt khọt của nội, tiếng cười mà miếng trầu đang nhai kềm lại trong cổ họng, vì sợ văng cốt trầu. Những thanh âm đó toát ra một sự vô tư, nhưng lại nghe đầy hạnh phúc. Lúc này, có nên nói chuyện vượt biên với má tôi hay không ? Tội nghiệp bầy con, tội nghiệp nội… Ngoài phòng khách, tôi đi tới đi lui suy nghĩ đắn đo. Vợ tôi còn lục đục sau bếp, và cho dù vợ tôi có mặt ở đây cũng không giúp gì tôi được với tâm sự rối bời như mớ bòng bong. Tôi bèn vào buồng ngủ, trải chiếu dưới gạch-từ lâu rồi, vợ chồng tôi không còn giường tủ gì hết- rồi tắt đèn nằm trong bóng tối, gác tay lên tráng mà thở dài…

Thời gian đi qua… Trăng đã lên nên tôi thấy cửa sổ được vẽ những lằn ngang song song trắng đục. Trong phòng bóng tối cũng lợt đi. Không còn nghe tiếng cười nói ở phòng bên và tôi nghĩ chắc đêm nay vợ tôi ngủ với hai đứa lớn ngoài phòng khách, để trằng trọc suốt đêm chờ sáng.

Bỗng cửa phòng tôi nhẹ mở, vừa đủ để tôi nhìn thấy bóng má tôi lom khom hướng vào trong hỏi nhỏ :

- Ba con Ti ngủ chưa vậy ?

Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng cũng trả lời nho nhỏ vừa đủ nghe :

- Dạ chưa, má.

Má tôi bước vào đóng cửa lại, rồi mò mẫm ngồi xuống cạnh tôi, tay cầm quạt mo quạt nhè nhẹ lên mình tôi, nói :

- Coi bộ nực hả mậy ?

- Dạ. Nhưng rồi riết cũng quen, má à.

Tôi nói như vậy mà trong đầu nhớ lại hình ảnh tôi và thằng con trai hè hụi tháo gỡ mấy cây quạt trần để mang đi bán. Im lặng một lúc. Tay má tôi vẫn quạt đều. Rồi má tôi hỏi:

- Tụi bây còn gì để bán nữa hông ?

- Dạ…

Tôi không biết trả lời làm sao nữa. Chiếc xe hơi bây giờ chỉ còn lại cái sườn, không ai chịu chở đi. Trong nhà bây giờ chỉ còn bộ bàn ăn, cái tủ thờ nhỏ và bộ xa-long mây “sứt căm gãy gọng”. Ngoài ra, trên tường có chân dung “Bác Hồ” dệt bằng lụa và nhiều “bằng khen”,”bằng lao động tiên tiến”… những thứ mà nhà nào cũng có hết, cho, chưa chắc gì có ai thèm lấy ! Bỗng tôi nhớ có một hôm tôi nói với bầy con tôi : ”Ba tự hào đã giữ tròn liêm sỉ từ mấy chục năm nay. Bây giờ, đổi lấy cái gì ăn cũng không được, đem ra chợ trời bán cũng chẳng có ai mua. Sao ba thấy thương các con và tội cho ba quá !”. Lúc đó, tôi tưởng tượng thấy tôi đứng ở chợ trời, dưới chân có tấm bảng đề “Bán cái liêm sỉ, loại chánh cống. Bảo đảm đã hai mươi năm chưa sứt mẻ”. Thật là khùng nhưng cũng thật là chua chát !

Nghe tôi “dạ” rồi nín luôn, má tôi hiểu, nên nói:

- Rồi mầy phải tính làm sao chớ chẳng lẽ cứ như vầy hoài à ? Tao thấy bầy tụi bây càng ngày càng trõm lơ, còn mầy thì cứ làm thinh tao rầu hết sức.

Má tôi ngừng một chút, có lẽ để lấy một quyết định :

- Tao xuống kỳ này, cốt ý là để nói hết cho mầy nghe. Tao già rồi, mai mốt cũng theo ông theo bà. Mày đừng lo cho tao. Lo cho bầy con mầy kìa. Chớ đừng vì tao mà bắt mấy đứa nhỏ phải hy sinh tương lai của tụi nó. Mầy liệu mà đi, đi ! Kiếm đường mà kéo bầy con mầy đi, đi ! Ở đây riết rồi chết cả chùm. Không chết trận trên Miên thì cũng chết khùng chết đói. Thà tụi bây đi để tao còn thấy chút đỉnh gì hy vọng mà sống thêm vài năm nữa. Mày hiểu hôn ?

Nghe má tôi nói, tôi rớt nước mắt. Chuyện mà bao lâu nay tôi không dám nói với má tôi thì bây giờ chính má tôi lại mở ngỏ khai nguồn. Và tôi thật xúc động với hình ảnh bà mẹ già phải đẩy đứa con duy nhứt đi vượt biên để vui mà sống với ít nhiều hy vọng ! Thật là ngược đời : có người mẹ nào lại muốn xa con ? Chỉ có ở chế độ xã hội chủ nghĩa mới xảy ra những chuyện “đổi đời” như vậy !

Tôi nắm bàn tay không cầm quạt của má tôi, lắc nhẹ :

- Má à ! Lâu nay con giấu má. Bây giờ má nói, con mới nói. Sáng sớm mai này, con và hai đứa lớn sẽ xuống Cần Thơ để vượt biên.

Tôi nghe tiếng cây quạt mo rơi xuống gạch. Rồi yên lặng. Một lúc lâu sau, má tôi mới nói :

- Vậy hà…

Tôi nghe có cái gì nghẹn ngang trong cổ. Tôi nuốt xuống mấy lần, rồi cố gắng nói :

- Con đi không biết sống hay chết. Con gởi má vợ con và ba đứa nhỏ, có bề gì xin má thương tụi nó …

Nói tới đó, tôi nghẹn ngào rồi òa lên khóc ngất. Tôi nghe có tiếng quạt phe phẩy lại, nhanh nhanh, và bàn tay má tôi vuốt tóc tôi liên tục giống như hồi nhỏ má tôi dỗ về tôi để tôi nín khóc.

Một lúc sau, má tôi nói :

- Thôi ngủ đi, để mai còn dậy sớm.

Rồi bước ra đóng nhẹ cửa lại. Sau đó, có tiếng chẹt diêm quẹt rồi một ánh sáng vàng vọt rung rinh lòn vào khuôn cửa, tôi biết má tôi vừa thắp đèn cầy trên bàn thờ. Tiếp theo là mùi khói nhang, chắc bà nội mấy đứa nhỏ đang cầu nguyện ngoài đó.

Tôi thở dài, quay mặt vào vách, nhắm mắt mà nghe chơi vơi, giống như đang nằm trong một cơn mộng…

Năm giờ sáng hôm sau, má tôi kêu tôi dậy đi. Hai con tôi đã sẵn sàng, mỗi đứa một túi nhỏ quần áo. Chúng nó không có vẻ gì ngạc nhiên hay xúc động hết. Có lẽ mẹ tụi nó đã gọi dậy từ ba bốn giờ sáng để giảng giải và chuẩn bị tinh thần. Riêng tôi, thật là trầm tĩnh. Nước mắt đêm qua đã giúp tôi lấy lại quân bình. Thật là mầu nhiệm !

Tôi vào buồng hôn nhẹ mấy đứa nhỏ đang ngủ say, xong ôm vợ tôi, ôm má tôi. Hai người thật là can đảm, không mảy may bịn rịn.

Tôi chỉ nói có mấy tiếng :

- Con đi nghe má !

Rồi bước ra khỏi cổng.



-oOo-



Lần đó, tôi đi thoát.

Rồi phải ba bốn năm sau, tôi mới chạy chọt được cho vợ con tôi rời Việt Nam sang sum họp với tôi ở Pháp. Má tôi ở lại một mình.

Mấy ngày đầu gặp lại nhau, vợ con tôi kể chuyện “bên nhà” cho tôi nghe, hết chuyện này bắt qua chuyện nọ. Bà Nội được nhắc tới nhiều nhứt và những chuyện về bà nội được kể đi kể lại thường nhứt.

Tụi nó kể :

“Ba đi rồi, mấy bữa sau cơ quan chỗ ba làm việc cho người đến kiếm. Tụi con trốn trong buồng, để một mình nội ra. Nội nói rằng nội nhờ ba về Tây Ninh rước ông Tư xuống bởi vì trên đó đang bị Cao Miên pháo kích tơi bời, tới nay sao không thấy tin tức gì hết, không biết ba còn sống hay chết nữa. Nói rồi, nội khóc thật mùi-mẫn làm mấy cán bộ trong cơ quan tin thiệt, họ an ủi nội mấy câu rồi từ đó không thấy trở lại nữa”.

Rồi tụi nó kết câu chuyện với giọng đầy thán phục : “Nội hay thiệt !”.

Nghe kể chuyện, tôi bồi hồi xúc động. Tôi biết lúc đó má tôi khóc thiệt chớ không phải giả khóc như các con tôi nghĩ. Bởi vì, trong hai trường hợp dù sự việc xảy ra có khác nhau, nhưng hoàn cảnh sau đó vẫn giống nhau y hệt. “Ba con Ti đi không biết sống hay chết” vẫn là câu hỏi lớn đè nặng tâm tư của má tôi. Bề ngoài má tôi làm ra vẻ bình tĩnh để an lòng con dâu và cháu nội, nhưng là một cái vỏ mỏng manh mà trong khi kể chuyện cho các cán bộ, nó đã có dịp bể tung ra cho ưu tư dâng đầy nước mắt…

“Rồi sau đó -tụi con tôi kể tiếp- nội ở lại nhà mình để chờ tin tức và cũng để ra tiếp chuyện hàng xóm và chánh quyền địa phương, chớ má thì ngày nào cũng đi chùa, còn tụi con nội sợ nói hé ra là mang họa cả đám. Lâu lâu, nội về Gò Dầu bán đồ rồi mua thịt thà đem xuống tiếp tế cho tụi con. Thấy nội già mà lên lên xuống xuống xe cộ cực nhọc quá, tụi con có can ngăn nhưng nội nói nội còn mạnh lắm, nội còn sống tới ngày con Ti lấy chồng nội mới chịu theo ông theo bà !”.

Tôi biết : má tôi là cây cau già - quá già, quá cỗi - nhưng vẫn cố bám lấy đất chỉ vì trên thân cây còn mấy dây trầu… Hình ảnh đó bỗng làm tôi ứa nước mắt. Thương má tôi và nhớ cả quê hương. Cái quê hương tuyệt đẹp của tôi mà Việt Cộng đã cướp mất. Cái quê hương mà trên đó tôi không còn quyền sống như ý mình muốn, phát biểu những gì mình nghĩ, ca tụng những gì mình thích. Ở đó, ở quê hương tôi, tôi còn bà mẹ già, bà mẹ tám mươi đã cắt ruột đuổi con đi, bỏ quê hương mà đi, để bà còn chút gì hy vọng sống thêm vài ba năm nữa ! Bây giờ, vợ con tôi cũng đã đi hết. Má tôi còn lại một mình. Thân cây cau giờ đã nhẵn dây trầu, thêm tuổi đời một nắng hai mưa. Tôi biết ! Má ơi ! Con biết : cây cau già bây giờ đang nhớ thắt thẻo mấy dây trầu non …

Theo lời các con tôi kể lại, hôm tiếp được điện tín của bạn tôi ở Pháp đánh về báo tin tôi và hai đứa lớn đã tới Mã Lai bình yên, cả nhà tưng bừng như hội. Tụi nó nói : “Nội vội vàng vào mặc áo rồi quì trước bàn thờ Phật gõ chuông liên hồi. Đã giấu không cho ai biết mà nội gõ chuông giống như báo tin vui cho hàng xóm !”

“Mấy hôm sau, bỗng có công-an phường lại nhà. Công an đến nhà là lúc nào cũng có chuyện gì đó cho nên nội có hơi lo. Thấy dạng tên công an ngoài ngõ, trong này nội niệm Phật để tự trấn an. Sau đó, nội cũng kể chuyện ba về Tây Ninh rồi nội kết rằng ba đã chết ở trên đó. Rồi nội khóc…”

Mấy con tôi đâu biết rằng đối với má tôi, dù tôi còn sống, sống mà vĩnh viễn không bao giờ thấy lại nhau nữa thì cũng giống như là tôi đã chết.

“ Sau đó nội than không biết rồi sẽ ở với ai, rồi ai sẽ nuôi nội, bởi vì má buồn rầu đã bỏ nhà đi mất. Nghe vậy, tên công an vội vàng an ủi :

- Bà cụ đừng có lo ! Rồi chúng cháu sẽ đem bà cụ về ở với chúng cháu. Cứ yên chí !”. Sau khi tên công an ra về, nội vào buồng kể lại chuyện đó cho tụi con nghe, rồi nói : “Nội nghe thằng công an đòi đưa nội về nuôi mà nội muốn xỉu luôn ! Không phải vì cảm động mà vì sợ ! Ở với tụi nó, thà chết sướng hơn !”

Vợ con tôi được đi chánh thức nên hôm ra đi bạn bè thân quyến đến chia tay đầy nhà. Lúc mẹ con nó quì xuống lạy má tôi để giả biệt -hay đúng ra để vĩnh biệt- tất cả mọi người đều khóc. Đó là lần cuối cùng mà má tôi khóc với bầy cháu nội. Và tôi nghĩ rằng má tôi khóc mà không cần tìm hiểu tại sao mình khóc, chỉ thấy cần khóc cho nó hả, chỉ thấy càng khóc thân thể gầy còm càng nhẹ đi, làm như thịt da tan ra thành nước mắt, thứ nước thật nhiệm mầu mà Trời ban cho con người để nói lên tiếng nói đầy câm lặng.

Bầy bạn học của các con tôi đứng thành hai hàng dài, chuyền nước mắt cho nhau để tiễn đưa tụi nó ra xe ngoài ngõ. Tôi hình dung thấy những cặp mắt thơ ngây mọng đỏ nhìn các con tôi đi mà nửa hồn tê-dại, không biết thương cho bạn mình đi hay thương cho thân phận mình, người ở lại với đầy chua xót…

Mấy con tôi nói : ”Nội không theo ra phi trường. Nội ở nhà để gõ chuông cầu nguyện”.



-oOo-



Tôi làm việc ở Côte d'Ivoire ( Phi Châu ), cách xa vợ con bằng một lục địa, và cách xa mẹ tôi bằng nửa quả địa cầu. Những lúc buồn trống vắng, tôi hay ra một bãi hoang gần sở làm để ngồi nhìn biển cả. Mặt nước vuốt ve chân cát, tiếng sóng nhẹ nghe như thì thào… những thứ đó làm như chỉ dành cho riêng tôi. Tự nhiên tôi cảm thấy như được dỗ về an ủi. Những lúc đó, sao tôi nhớ má tôi vô cùng. Trên đời này má tôi là người duy nhứt an ủi tôi từ thuở tôi còn ấu thơ cho đến khi trên đầu tôi đã hai thứ tóc. Ngay đến đêm cuối cùng trên quê hương, cũng chính trong vòng tay khẳng khiu của má tôi mà tôi khóc, khi gởi vợ gởi con… Lúc nào tôi cũng tìm thấy ở má tôi một tình thương thật rộng rãi bao la, thật vô cùng sâu đậm, giống như đại dương mà tôi đang nhìn trước mặt.

Bây giờ tôi hiểu tại sao tôi hay ra ngồi đây để nhìn biển cả…
Image Tiểu Tử

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Chuyện DA VINCI CODE

Lữ Giang
Trong bốn năm qua, cuốn tiểu thuyết “The Da Vinci Code” (Mật mã của Da Vinci) của Dan Brown được coi là thuộc loại “best seller” trên thế giới và đã gây ra rất nhiều tranh luận. Cuốn tiểu thuyết này được xuất bản vào tháng 3 năm 2003. Kể từ đó, nó đã được dịch sang 42 thứ tiếng và bán được trên 40 triệu bản. Một bản dịch tiếng Việt cũng đã được in tại Việt Nam. Tuy nhiên, bản dịch này bị chỉ trích là dịch ẩu và có nhiều thiếu sót. Đây là một hiện tượng xuất bản. Sau đó, cuốn tiểu thuyết đã được đóng thành phim và sắp chiếu vào cuối tháng 5 tới đây. Tác giả đã hài lòng khi thấy cuốn The Da Vinci Code gây nhiều tranh luận. Tác phẩm này đã chứa đựng những gì mà gây nhiều phản ứng như vậy?

CẢM HỨNG CỦA DAN BROWN

Dan Brown sinh ngày 22.6.1964 tại thành phố Exeter, tiểu bang New Hampshire, Hoa Kỳ. Cha là một giáo viên dạy toán và mẹ là một nhạc sĩ thường trình diễn thánh ca. Dan tốt nghiệp trung học năm 1982 tại Exeter Academy, một trường trung học dành cho con nhà giàu, nơi đó cha ông dạy toán và mẹ ông trình diễn thánh nhạc. Sau đó ông đến học tại Amherst College ở Massachusetts. Sau khi tốt nghiệp, ông đến Los Angeles làm việc như là một nhà sáng tác âm nhạc, rồi qua Seville, Tây Ban Nha, theo học ngành nghệ thuật. Không thành công với nghề nghiệp của mình, năm 1993 Dan trở về Exeter và dạy Anh văn ở trường cũ.
Có lần, sau khi đọc truyện của Sidney Sheldon, Dan cao hứng tuyên bố với vợ rằng nếu ông viết tiểu thuyết thì sẽ viết hay hơn. Từ đó, vợ ông là bà Blythe, một sử gia về nghệ thuật, thường khuyến khích ông viết văn.
Dan Brown cho biết ý tưởng viết một cuốn sách về Leonardo Da Vinci đã chớm nở trong ông khi ông đang theo học ngành lịch sử nghệ thuật tại đại học của thành phố Seville, Tây Ban Nha. Tại đây ông được học về những bí ẩn trong những hoạ phẩm của các đại danh họa. Một hôm, khi quan sát kiệt tác “The Last Supper” (Bữa tiệc cuối cùng hay Bữa tiệc ly) của đại danh họa Leonardo da Vinci, mô tả cảnh Chúa Jesus đang ngồi dự tiệc với 12 môn đệ trong đêm trước ngày Ngài đi chịu tử nạn, Dan Brown phân tích nhiều bí ẩn trong bức ảnh này, nhất là hình ảnh của John (tiếng Việt là Gioan), một môn đệ trẻ đẹp ngồi cạnh Chúa Jesus. Ông cho rằng hình ảnh người trẻ đó nhất định không phải là một người đàn ông, mà là một người đàn bà, và ông nghĩ rằng đó là bà Mary Magdalene. Từ ý nghĩ đó, ông quyết định viết một cuốn tiểu thuyết có nhan đề là “The Da Vinci Code”, tức Mật mã của Da Vinci, dựa trên sự khám phá đó!
Trên trang Web của đài BBC ngày 16.5.2005, dưới đầu đề “Cuốn sách nổi tiếng nói gì về Chúa Giêsu”, đài này ghi rằng “cuốn Da Vinci Code lấy ý từ “mật mã” nhà khoa học vĩ đại Leonardo Da Vinci để lại trong bức tranh Mona Lisa...”. Nhưng điều này không đúng. Cuốn Da Vinci Code đã lấy ý từ “mật mã” của bức họa “The Last Supper”.
Như vậy cảm hứng của Dan Brown đã bắt nguồn từ bức họa “Last Supper” của đại danh họa Leonardo da Vinci và sự liên tưởng đến hình ảnh của bà Mary Magdalene trong Thánh Kinh. Vậy chúng ta cần tìm hiểu qua hai nguồn cảm hứng này:
1.- Đại danh họa Leonardo da Vinci và kiệt tác “The Last Supper”: Leonardo da Vinci sinh ngày 15.4.1452 tại Anchiano, gần Vinci, thuộc Cộng Hòa Florence ngày xưa, nay nằm trong nước Ý. Ông qua đời ngày 2.5.1519 tại Cloux (nay là Clos-Lucé) ở Pháp. Ông là một họa sĩ, một nhà vẽ đồ án, một nhà điêu khắc, một kiến trúc sư và là một kỹ sư có thiên tài. Ông để lại nhiều tác phẩm danh tiếng, nhất là hai bức danh họa kiệt tác “The Last Supper” (1498) và Mona Lisa (1506). Các tranh của ông được coi là chứa đựng nhiều ẩn ý.
Kiệt tác “The Last Supper” được khởi sự sáng tác năm 1495 dưới sự bảo trợ của Công Tước thành Milan là Ludovoco Sforza, nhưng phải mất 7 năm mới hoàn thành. Đây là tác phẩm mô tả lại “Bữa tiệc cuối cùng” (The Last Supper) của Chúa Jesus và 12 môn đệ được nói đến trong Phúc âm Thánh John, chương 13, khái lược như sau:
Trước lễ Vượt Qua, Chúa Jesus biết giờ của Ngài đã đến, giờ phải bỏ thế gian về với Đức Chúa Cha, nên trong một bữa ăn tối với 12 môn đệ, Người đứng dậy, lấy khăn thắt lưng và bưng chậu nước đi rửa chân cho từng môn đệ để dạy họ về tinh thần phục vụ và biết thương yêu nhau, sau đó Ngài nói những lời nhắn nhủ rất quan trọng và rất cảm động. Người cũng báo trước “có một người trong anh em sẽ nộp Thầy” để ám chỉ Judas Iscariost. Mọi người đều xao xuyến. Trong số các môn đệ, có một người được Chúa Jesus thương mến (đó là John, người trẻ nhất), đang ngồi ăn đầu tựa vào lòng Chúa, nên Simon Peter liền ra dấu cho John hỏi Thầy muốn nói về ai. Chúa Jesus liền trả lời: “Thầy chấm bánh đưa cho ai thì chính là kẻ ấy.”
Đây là cốt lõi câu chuyện phải được Leonardo da Vinci mô tả lại một cách sinh động trong tác phẩm “The Last Supper”. Muốn vậy, Leonardo da Vinci phải dùng hình ảnh những người sống để làm mẫu cho ông vẽ.
Vai trước tiên được chọn để vẽ là vai Chúa Jesus. Hàng trăm thanh niên trẻ đã được đưa đến cho Leonardo da Vinci ngắm nhìn. Ông đòi hỏi người đó phải là người có khuôn mặt và nhân cách của một người không bị ảnh hưởng bởi tội lỗi. Cuối cùng, một thanh niên 19 tuổi đã được chọn. Ông đã vẽ đi vẽ lại hình Chúa Jesus trong 6 tháng mới hoàn tất. Sâu đó, ông tiếp tục chọn và vẽ các môn đệ khác. Cuối cùng, ông mới vẽ Judas Iscariost, kẻ phản bội. Một tù nhân được ông chọn để đóng vai Judas. Người này phải ngồi trước ông 6 tháng, ông mới hoàn tất được hình vẽ của Judas!
Quả thật, khi nhìn hình John đang ngồi bên phải Chúa Jesus trong tranh, được Simon Peter lấy tay kéo nằm ngửa người ra để nói nhỏ nhờ hỏi Chúa Jesus ai là kẻ phản bội, chúng ta thấy John gióng một người đàn bà đang lả lơi hơn là một người đàn ông, đúng như Dan Brown đã nghĩ.
2.- Hình ảnh Mary Magdalene trong Thánh Kinh: Có lẽ Phúc âm của Thánh Luke là cuốn phúc âm nói về hình ảnh nhân vật Mary Magdalene (tiếng Việt thường viết là Maria Madalêna) một cách rõ ràng nhất:
Đoạn 7: Đoạn này dài, xin tóm lược như sau: Khi Chúa Jesus đang ăn cơm ở nhà một người Pharisees, bỗng có một người phụ nữ ở trong thành là người tội lỗi (sinner), đến đứng đàng sau Chúa mà khóc, nước mắt rớt ướt chân Người. Cô ấy lấy tóc mà lau, rồi lấy dầu thơm mà xức. Một người Pharisees tên là Simon nghĩ bụng: Nếu ông này là ngôn sứ chắc phải biết người đang đụng đến mình là thứ nào: một người tội lỗi! Chúa Jesus liền nói với người Pharisees đó: Tôi vào nhà ông, nước lã ông cũng không đổ lên chân tôi, còn cô ấy lấy nước mắt tưới lên chân tôi. Dầu ô-liu ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn cô ấy lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi. Vì thế, tôi nói cho ông hay: “Tội chị ấy rất nhiều, nhưng đã được tha...” Rồi Chúa nói với người phụ nữ: “Tội của cô đã được tha rồi.” Bây giờ những người đồng bàn liền hỏi: “Ông này là ai mà lại tha được tội?” Nhưng Chúa Jesus đã nói với người phụ nữ: “Lòng tin của cô đã cứu cô. Cô hãy đi bình an.” (Luk. 7: 36-50)
Đoạn 8: “Sau đó Đức Jesus rảo qua các thành phố, làng mạc và rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người có Nhóm 12 và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Mary gọi là Mary Magdalene, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Joanna, vợ ông Chuza quản lý của vua Herod, bà Susanna và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp Đức Jesus và các môn đệ.” (Luk. 8: 1-3)
Trên đây là hai nguồn cảm hứng mà Dan Brown đã dựa vào đó để xây dựng hư cấu cho cuốn tiểu thuyết The Da Vinci Code.

HƯ CẤU ĐÃ ĐƯỢC XÂY DỰNG

Dựa trên những cảm hứng nói trên, Dan Brown muốn viết một câu truyện mô tả Chúa Jesus đã không bị đóng đinh trên thập giá, mà lại cưới bà Mary Magdalene và qua đời một cách bình thường. Chúa Jesus đã quyết định truyền ngôi cho bà. Chúa Giêsu thực sự là một nhân vật hoạt động cho nữ giới bình quyền, nhưng Giáo Hội đã che đậy đi tất cả những điều ấy bằng các thứ dối trá về thần tính của Người.
Với những ý nghĩ như thế, tác giả đã cố gắng đi tìm các sử liệu có thể giúp xây dựng một kết cấu câu chuyện nghe cho nó có vẻ hợp lý. Dan Brown đã tự nghỉ việc để miệt mài ngồi viết. Vợ ông, bà Blythe Brown, đã giúp ông rất nhiều trong việc tra cứu các tài liệu.
Dan Brown đã khôn khéo liên kết những nhân vật, những biến cố, những câu chuyện, những tổ chức... riêng rẻ có thật, lại thành một một tổng thể dính chặt vào nhau để tạo cho hư cấu của câu chuyện có vẽ như là một chuyện có thật một trăm phần trăm.
Cuối Da Vinci Code được viết theo loại chuyện trinh thám, mở đầu bằng một vụ án mạng. Trên trang Web của BBC ngày 16.5.2005, đài BBB có tóm lược câu chuyện này, nhưng không được đúng lắm, có lẽ vì người tóm lược không biết nhiều về những câu chuyện trong Kitô giáo và không nắm vũng các danh từ chuyên môn trong lãnh vực này.
Trong một chuyến kinh doanh tại Paris, đang đêm giáo sư Robert Langdon, nhà biểu tượng học Mỹ thuộc đại học Harvard, đã nhận được một cú điện thoại cho biết: người quản thủ già của Viện Bảo Tàng Louvre ở Paris đã bị ám sát ngay trong viện. Cảnh sát đã tìm thấy bên xác chết của ông một cuốn sổ để phá các mật mã.
Trong cuộc điều tra nhằm giải án vụ này, giáo sư Langdon đã hết sức bàng hoàng khi khám phá ra cuốn sổ nói trên đã ghi những “mật mã” trong các tác phẩm của đại danh họa Leonardo da Vinci, những “mật mã” mà ai cũng thấy hiện lên trong cả tác phẩm, nhưng đã được Leonardo da Vinci che giấu một cách rất khéo léo.
Vì thế, Giáo sư Langdon đã hợp tác với một chuyên viên phá mật mã đại tài người Pháp là bà Sophie Neveu để khám phá các bí mật. Bà này chính là cháu gái của người quản thủ thử viện bảo tàng vừa bị giết. Trong khi điều tra, họ khám phá ra rằng người quản thủ viện bảo tàng đó có dính líu tới một hội kín phát sinh từ Tu Viện Kín Sion (The Priory of Sion) cổ xưa. Theo Dan Brown, khi đến chiếm đóng thánh địa Jerasalem vào năm 1099, một số hiệp sĩ của Tòa Thánh đã khám phá ra một số tài liệu lịch sư quan trọng liên quan sự sống còn của Giáo Hội. Biết được chuyện này, Giáo Hội đã tìm cách tiêu diệt họ. Họ đã phải thành lập một hội kín để bảo toàn các tài liệu này. Trong những tài liệu đó có cả sách Phúc âm của Mary và Phúc âm của Phillip đã được tìm thấy ở thư viện Nag Hammadi và những cuộn giấy tìm được ở Biển Chết (Dead Sea Scrolls). Dan Brown cho rằng đây là những sách Phúc âm mà lúc tiên khởi đã bị Toà Thánh Vatican cho là ngụy thư và loại khỏi Thánh Kinh. Qua thời gian, hội kín này đã quy tụ nhiều nhà bác học lừng danh như Leonard da Vinci, Victor Hugo, Isaac Newton, Botticelli... Leonard da Vinci đã mã hóa những bí mật khám phá được vào tác phẩm The Last Supper của mình.
Dưới vai trò những con buôn thương mại hay chính trị, những nhà mối... giáo sư Langdon và Neveu đã thực hiện những cảnh truy lùng đầy kỳ thú và không biết sợ sệt, từ Paris qua London, để khám phá cho xong sự thật, vì sợ rằng nếu không khám phá được, sự thật lịch sử sẽ bị giấu kín mãi mãi.
Khi truy lùng sự thật lịch sử, Robert Langdon và Sophie Neveu còn bị một nhóm bí mật bám sát để tìm cách thanh toán, đó là nhóm Opus Dei, một “giáo phái” được Tòa Thánh Vatican công nhận!
Trong thực tế, Opus Dei (có nghĩa là “Kỳ công của Thiên Chúa”) là một tu hội công giáo được Giám mục Jose Maria Escriva de Balaguer y Albas thành lập tại Tây Ban Nha ngày 2.10.1928 và được Tòa Thánh phê chuẩn vào cuối năm 1950. Mục tiêu của tu hội này là quy tụ những giáo dân công giáo muốn thánh hóa đời sống của họ và dấn thân phục vụ tha nhân giữa dòng đời. Hiện nay tu hội có khoảng 77.000 hội viên và 1500 Linh mục linh hướng. Đây là một tổ chức thực hiện được nhiều công tác rất hữu ích và chẳng bao giờ làm những công việc như thế.
Trên đường truy lùng, hai người cũng phát hiện ra rằng người ông của Sophie Neveu vừa bị giết là người cuối cùng giữ bí mật về Grail, vốn được coi là bí mật lớn nhất của văn minh Thiên Chúa Giáo. Hội kín nói trên đã thề bảo vệ Grail mãi mãi, mặc dầu Giáo Hội đã bác bỏ “sự thật” về Grail, còn một nhóm trong Vatican tìm cách tiêu diệt bí mật đó.
Grail là gì? Grail - còn được gọi là Holy Grail - là cái chén thánh. Theo truyền thuyết Trung Cổ, chén này đã được Chúa Jesus dùng trong buổi tiệc cuối cùng (the Last Supper) và được ông Joseph Arimathé dùng để hứng những giọt máu cuối cùng của Chúa Jesus trên Thánh Giá, thường được hiểu là biểu tượng của tinh thần Kitô giáo tinh tuyền đã bị mất đi.
Nhưng Dan Brown đã lấy ý từ “mật mã” trong tranh “The Last Supper” của đại danh họa Leonardo da Vinci, cho rằng Grail không phải là gì khác mà chính là bí mật về cuộc hôn nhân giữa Chúa Jesus và Nữ Thánh Mary Magdalene.
Nhìn trang phục của Chúa Jesus và John mà Dan Brown cho là Mary Magdalene, Dan Brown thấy rằng trang phục của Jesus và Mary Magdalene đối xứng nhau về màu sắc: Chúa mặc áo trong màu đỏ, áo choàng màu xanh, còn Mary Magdalene mặc áo trong màu xanh, áo choàng đỏ. Hình dáng hai người ngồi kế nhau tạo thành một chữ M, tượng trưng cho Mary Magdalene. Dan Brown kết luận rằng Chúa Jesus và Mary Magdalene là một cặp vợ chồng.
Theo Dan Brown, Magdalene đã trốn tránh đến tận xứ Gaule (ngày nay thuộc Pháp) để bảo vệ huyết thống của Chúa Jesus. Giáo Hội từ khởi thuỷ đã dùng mọi thủ đoạn khám phá ra dòng dõi này để thủ tiêu, nhưng không thành công. Con trai của hai người đã đến Pháp và truyền lại dòng máu “Vương triều” đó cho một số người Châu Âu. Tòa Thánh, hay ít ra một số Giám mục trong tổ chức Opus Dei, đã tìm cách chiếm đoạt và che giấu những dấu tích của cặp Jesus và Mary Magdalene để lại.
Với những lập luận này, tác giả cho rằng từ trước đến nay Tòa Thánh Vatican luôn nhấn mạnh đến quyền lực của phái nam và triệt hạ uy tín của phái nữ, phỉ báng Nữ Thánh Mary Magdalene, mặc dầu Chúa Jesus muốn truyền ngôi lại cho bà chứ không phải cho Peter. Tác giả gợi ý rằng đã đến lúc ngôi vị thiêng liêng này phải được trao lại cho nữ giới trong kỷ nguyên của Nữ đang đến.
Cuốn truyện kết thúc với cảnh Robert Langdon và Sophie Neveu thoát mọi hiểm nguy và yêu nhau. Cô Sophie Neveu được mộ tả như là hậu duệ của Chúa Jesus và Thánh Mary Magdalene.


NHỮNG PHẢN ỨNG TẤT NHIÊN

Trong 20 thế kỷ qua, những sách và tài liệu bổ báng Kitô Giáo như kiểu The Da Vinci Code nhiều vô số kể và nó còn xuất hiện dài dài, như "Jesus Did Not Die on the Cross but Jesus Did Ascend Into LightMary Magdalene", hay "Knights Templar Recover Jesus’ Truths", hay “The 21st Century Descendants of Jesus and Mary Magdalene Welcome You". v.v.
Giáo sư thần học Mark Shea ở Seatle nói rằng qua lịch sử, chúng ta thấy gần như mỗi thời đại đều có người muốn tạo ra một “Chúa Jesus thật” (!) theo họ tưởng tượng để phục vụ cho những mục tiêu mà họ muốn theo đuổi, chẳng hạn như: Trong giai đoạn phát triển doanh thương bừng rộ vào thập niên 1920, dân chúng được giới thiệu một “Chúa Jesus thật” là một thằng bé dán quảng cáo cho việc buôn bán. Vào thập niên 1939, Đảng Nazi của Đức nói đã khám phá ra một “Chúa Jesus thật” là một người Aryan chứ không phải người Do Thái, trong khi đó Cộng Sản lại tuyên truyền một “Chúa Jesus thật” là một kẻ chủ trương chủ nghĩa Maxít tiên khởi! Vào thập niên 1960, một “Chúa Jesus thật” này lại xuất hiện như là một bé bông hoa trong cuốn “Godspell” và là một kẻ hâm mộ những thứ nấm gây ảo giác, một con người dẫn giải tất cả mọi thị kiến và phép lạ một cách tuyệt vời. Vào thập niên 1970, một “Chúa Jesus thật” lại là một ‘siêu minh tinh’ theo các tay diktats của văn hóa nhạc rock, v.v.
Tuy nhiên, ít khi các giáo hội Kitô Giáo hay giáo dân có phản ứng mạnh vì ảnh hưởng của những thứ tài liệu nhảm nhí như thế thường không đáng kể. Nhưng với cuốn Da Vinci Code, người ta không thể coi thường được. Dan Brown đã khéo léo tạo được một hư cấu cho câu chuyện rất hấp dẫn để đưa những điều ông muốn nói vào lòng người. Cứ xem số sách đã bán được trong một thời gian ngắn thì biết rõ kết quả đó. Vì thế, các giáo hội Thiên Chúa Giáo đều phải lên tiếng. Hình thức phản ứng và mức độ phản ứng túy thuộc từng tổ chức và cá nhân. Đa số lên tiếng để chận đứng những ảnh hưởng không tốt mà họ cho rằng cuốn tiểu thuyết và cuốn phim The Da Vinci Code có thể đem lại.
Trong một cuộc phỏng vấn kéo dài 30 phút tại trụ sở của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin ở Vatican, Đức Hồng Y Bertone đã lên tiếng khuyên tất cả mọi người tín hữu như sau: “Đừng mua quyển sách này, và cũng đừng đọc nó vì đó là một loại thức ăn hôi thối và bệnh hoạn. Có rất nhiều cuốn tiểu thuyết rất hay và đáng đọc, thế nhưng rủi thay, cuốn sách này thì không, vì nó chỉ gây ra sự nguy hại, sự nghi ngờ và những điều không hay khác nữa.” Đức Hồng Y cũng khuyến cáo “Các nhà sách Công Giáo nên loại bỏ ngay cuốn sách giật gân này ra khỏi kệ sách và lên án tác giả của cuốn sách, ông Dan Brown, một người Hoa Ky,ø về thái độ ‘ngạo mạn’ của ông ta".
Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ có lẽ đã thấy được rằng mặc dù đã có khuyến cáo đừng nên đọc hay xem những thứ đó, nhiều tín hữu vẫn sẽ tìm đọc hay xem để biết trong đó đã nói những gì, nên Tiểu Ban về Truyền Thông của Hội Đồng đã biên soạn và cho phổ biến tập sách có nhan đề “Đức Jesus đích thực” để phản bác những sai lầm mà cuốn tiểu thuyết ‘The Da Vinci Code” đã đưa ra. Tập sách cũng trình bày giáo huấn chân thực của Công Giáo về Chúa Jesus và thần tính của Người, về Tân Ước, về Giáo Hội, về chủ thuyết bất khả thần tri, về nữ giới... Tập này được trình bày dưới hình thức vấn đáp nên rất dễ đọc.
Một cuốn phim tài liệu dưới tựa đề “Jesus Decoded” (Phá mật mã Chúa Jesus) với nội dung gồm giáo huấn Công Giáo thực sự về Chúa Giêsu Kitô sẽ được trình chiếu trên các đài truyền hình NBC bắt đầu vào cuối tuần lễ thứ ba của tháng năm. Cuốn phim tài liệu này sẽ cho thấy những chi tiết chính xác về bản thân Chúa Jesus, về môn đệ của Người và việc hình thành các cuốn sách thành sổ bộ Tân Ước, cùng với ba thế kỷ đầu liên quan tới việc phát triển của lịch sử Giáo Hội. Cuốn phim còn có cả những cuộc phỏng vấn các học giả về nghệ thuật, lịch sử và Thánh Kinh... để phân biệt chân lý Công Giáo với tiểu thuyết trần tục.
Ngoài ra, một trang Web của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ có địa chỉ là www.jesusdecoded.com, vừa được thiết lập để hướng đẫn cho thấy cuốn tiểu thuyết và cuốn phim The Da Vinci Code chỉ là chuyện nhảm nhí. Trang Web cũng có một trang trả lời những câu hỏi của độc giả.
Một cuốn sách và DVD có tên là “Decode Da Vinci Code” (Giải mã Mật mã The Da Vinci) của cô Amy Welborn cũng đã được phổ biến để nói về những sai lầm trong cuốn The Da Vinci Code.
Về phía các giáo hội Tin Lành, tại Houston, Texas, nhiều nhà thờ Tin Lành đã mở các cuộc hội thảo về các đề tài “The Da Vinci Code, fiction or facts?” (Cuốn The Da Vinci Code, sự thật hay giả tưởng) hay “The Da Vinci Code, the anti-Christ book” (Da Vinci Code, cuốn sách chống Chuá Kitô?), v.v.
Trong một bài báo được đăng trên tờ Los Angeles Times hôm 11.5.2004, ký giả Stephanie Simon cho biết các giáo hội thuộc Giáo phái Tin Lành Evangelical khắp nước Hoa Kỳ đang mạnh mẽ phát động nỗ lực truyền giáo bằng cách đề cập tới truyện phim “The Da Vinci Code” mà nhiều người Kitô giáo khác cho là “phạm thánh”.
Mục sư Garry Poole ở Chicago đã lấy đề tài “Phim Da Vinci Code” quảng cáo và giảng về Chúa Jesus chân chính và sứ điệp của Ngài, vào Chúa nhật cuối tháng tư vừa qua, thu hút khoảng 22.000 người tham dự. Một mục sư ở Coast Hills, Aliso Viejo, đã phát ra miễn phí 325 máy iPods trong đó có bài giảng giải thích về Da Vinci Code cho các bạn trẻ. Tại thành phố Denver, Mục sư Gene Barron đưa ra chương trình 5 tuần hội thảo về “The Da Vinci Code”, v.v.


ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO?

Tờ USA Today số ra ngày 25.4.2006 cho biết theo cuộc thăm dò của tạp chí Catholic Digest, có 73% người công giáo nói rằng cuốn The Da Vinci Code không ảnh hưởng gì đến niềm tin của họ. Và có đến nhà thờ sau khi đọc cuốn sách này. Có 23% đã đọc toàn bộ hay một phần cuốn sách và 63% cho biết họ không đọc cuốn sách hoặc không thích đọc những cuốn sách giả tưởng (fiction) như thế. Và 91% cho rằng việc đọc một cuốn sách như thế chẳng có gì là sai cả.
Đa số người Mỹ và người Âu châu nói chung, dù theo Thiên Chúa Giáo hay không theo, dù trẻ con hay người lớn, đều có một kiến thức khá cao, phân biệt được một cách dễ dàng đâu là sự thật (facts) và đâu là giả tưởng (fiction), họ lại đã biết nhiều về lịch sử Thiên Chúa Giáo, nên cuốn truyện và phim The Da Vinci Code khó ảnh hưởng đến suy nghĩ của họ. Sở dĩ họ tìm đọc hay xem là vì tính tò mò. Do đó, những nỗ lực giải thích của các giáo hội tại Hoa Kỳ như hiện nay có thể được coi là vừa đủ. Trái lại, cuốn sách và cuốn phim đó, nếu được phổ biến tại các dân tộc có trình độ văn hóa thấp, chắc chăn nó sẽ ảnh hưởng đến suy nghĩ của người đọc hay xem ngay. Trong trường hợp này, những sự hướng dẫn rất cần thiết.
Henri Lacordaire nói: “La réligion, fut-elle fausse, est un élément necessaire à la vie d’un people.” Tôn giáo, dù nhảm nhí chăng nữa, vẫn là một yếu tố cần thiết cho một dân tộc. Vì thế, không bao giờ nên bổ báng nó.

Lữ Giang

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nhã Ca Ra Mắt Sách Tại Paris,
Nói Chuyện “Đường Tự Do Saigon”
Thứ Bẩy 20-5, đông đảo đồng bào đã tham dự buổi phát động phong trào “Trả Lại Ta Saigon” tổ chức tại Paris.

Sau đây là bài nói chuyện của Nhã Ca:

Thưa quí vị, thưa các bạn,

Tôi vừa từ Little Saigon bên Cali bay sang đây hôm kia, trên đường về Thụy Điển thăm các con các cháu, và thêm một lần, được nhìn lại Paris với biết bao ngưỡng mộ.

Paris mùa này đẹp tuyệt vời.

Tôi nhớ một thi sĩ Tây Ban Nha đầu thế kỷ trước, ông Federico Garcia Lorca. Lần đầu thấy Paris, lần đầu đứng bên dòng sông Seine, ông ta bật kêu lên thành thơ:

"Ôi, thành phố của tôi, dòng sông của tôi!"

Một ông Tây Ban Nha có thể ôm lấy thành phố nước Pháp, dòng sông nước Pháp, mà kêu là "của tôi."

Tiếng kêu ấy, câu thơ ấy hạnh phúc biết bao.

Mười bẩy năm trước đây, khi trở thành một người Việt lưu vong, tôi đã có dịp đến Paris lần đầu. Nhớ Lorca và muốn được hạnh phúc như ông, tôi đã bắt chước ông, đã cố kêu trong đầu: "Ôi, thành phố …" Nhưng chỉ kêu được tới đó là… nghẹn.

Không. Sông Seine không phải là "dòng sông của tôi."

Paris không phải là "thành phố của tôi".

Thì ra cái ông nhà thơ Tây Ban Nha kia, lòng dạ ông ta rộng rãi, hồn nhiên, bay bổng. Còn mình thì than ôi, sao mà thấy nặng nề, hẹp hòi, cố chấp. Tôi đã tự nhủ vậy. Nhưng nghẹn thì cứ nghẹn.

May quá, hôm nay, giữa Paris, bà con chúng ta ngồi lại với nhau, không phải để lo chuyện thành phố nước Pháp, mà để cùng hướng về Saigon.

Nhờ có quí vị và các bạn, tôi thấy mình đỡ quê, đỡ nghẹn.

Và bây giờ, xin nói chút chút về Saigon của chúng ta. Saigon của tôi.

Thưa Quí vị và các bạn,

Tôi sinh tại Huế, nói tiếng Huế, nhưng từ tuổi 20 cho tới ngày phải bỏ nước ra đi, đã có hơn 30 năm được làm dân Saigon.

Saigon của chúng ta, từ khi đất nước bị chia đôi năm 1954, là thủ đô Việt Nam Cộng Hoà. Vai trò thủ đô của Saigon trong các lãnh vực chính trị, kinh tế, quân sự… ra sao tôi không biết. Nhưng tôi biết rất rõ điều này: Saigon chính là thủ đô văn học nghệ thuật không chỉ riêng cho miền Nam, mà còn chung cho cả nước Việt Nam. Vì một lẽ giản dị: thi ca, âm nhạc, hội hoạ, cũng như mọi thứ văn học nghệ thuật nhân bản khác, không thể ở chung với chế độ phi nhân tại miền Bắc.

Dù cả miền Nam đã bị dìm sâu dưới bạo lực Cộng sản, dù Saigon bị đổi tên, đổi đời, tôi luôn luôn tin chắc Saigon bao giờ cũng vẫn là Saigon.

Đúng 50 năm trước đây, năm 1956, Saigon sau chiến tranh có đoàn cải lương Hoa Sen còn diễn tuồng bắn súng. Các ngõ hẻm đầy giọng Bắc di cư. Các vỉa hè đầy trẻ bụi đời. Nhưng với hoà bình trước mắt, với sức mạnh của Saigon trẻ trung và tự do, chúng ta có thể tin tưởng biết bao khi thấy "Các Em Đi Về Mai Sau." Đó là tựa đề bài thơ của anh Trần Lê Nguyễn:

Các em là hoa nở chen khắp ngõ
Cửa đời rộng mở
Thơm bước chân xinh
Có từng đêm trắng
Về ngõ một mình
Muốn khóc rưng rưng
Chợt nhìn gác nhỏ
Nhà em đầu phó
Tiếng học bài một sớm tinh sương
Giọng em của thủ đô Hà Nội nhiều thong nhớ
Trước tản cư hậu phương
Giờ di cư vào Nam
Tôi thức trọn đêm mà như sáng dậy
Tôi cũng mấy thằng em
Em là con Hê Len, cha người Ma Rốc
Hết trận giặc Đông Dương
phải về Bắc Phi để đánh người da đen
Một đêm uống rượu say mèm
Bỏ em lại Saigon
Em theo họ mẹ
Em đánh vần Việt Nam
Ăn sâu vào ngõ
Mấy ông trời nhỏ
Tay làm hàm nhai
Chia nhau từng khu phố
Đói no đổi lạ thành quen
Đánh giầy, đưa báo, bán kem
Tối về tụ cột đèn
Học bình dân rồi coi Hoa Sen

Các em đang lớn mạnh
Quen từ tuổi nằn nôi
Tiếng máy bay săn giặc
Oe oe tiếng khóc chào đời
Nhỏ chua từng hơi sữa mẹ
Lớn khôn nẻo đời sóng gió
Trưởng thành giữa hàng rào dây thép gai
Các em vững chắc đi vào ngày mai
Ngày mai
Trên gạch ngói Đông Âu
Trên tháp canh giới tuyến
Các em đi về mai sau.

(Tạp chí Sáng Tạo, Xuân 1957, trích theo trí nhớ)

Cả miền Nam, cả Saigon và các em thuộc thế hệ những năm 50 đã lên đường. Nhưng rồi bị đón đầu bởi một cuộc chiến tranh tàn bạo, đau thương do miền Bắc xua quân vào Nam.

Sau đổi đời tháng Tư 1975, bạo lực Cộng Sản biến cả nước thành nhà tù. Thành phố, đường phố bị đổi tên. Nhà nhà bị cướp bóc, người người bị đầy ải. Ngày ngày, tài sản Saigon bị ăn cướp chở ra miền Bắc. Đêm đêm, cư dân Saigon bị đẩy lên xe bít bùng đưa vào rừng sâu. Toàn bộ nhà văn, nhà thơ, nhà báo Saigon, bị bắt đi cầm tù. Nhiều nhân vật của văn học nghệ thuật Việt Nam bị đầy ải tới chết, trong đó có các tên tuổi lớn, từ Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Việt Sơn, Dương Hùng Cường, Hoàng Vĩnh Lộc… bị đầy ải tới chết.

Là kẻ sống sót trở về từ trại tù, nhà cửa bị tịch thu, tôi cùng đàn con tá túc trên con đường ngày xưa mang tên là Tự Do, và đã có nhiều đêm ngày kề cận với đám trẻ bụi đời tràn ngập đường phố.

Khác với hình ảnh "Các Em Đi Về Mai Sau" trong bài thơ từ 20 năm trước, hoàn cảnh đám trẻ trong các xóm bụi ở Saigon những năm 70. 80 cùng cực và bi thảm hơn nhiều. Trong đám này, có Thằng Bò, một em bé ăn mày, bằng cả bốn chân tay teo tóp, ngày đêm bò lê trên vỉa hè. Đó là hình ảnh, là số phận mà chế độ cộng sản muốn dành một thành phố bị đổi tên, đổi đời.

Nhưng Saigon bao giờ cũng vẫn là Saigon.

Chính là với niềm tin này, từ khi cầm bút trở lại tại hải ngoại, tôi đã viết tập truyện "Saigon Cười Một Mình", và liên tục 12 năm nay, viết bộ truyện trường thiên "Đường Tự Do, Saigon".

Niềm tin ấy nói với chúng ta: Không thứ độc tài nào xoá nổi tên Saigon.

Cái tên ấy theo những người vượt biển ra đi, sinh sôi khắp năm châu bốn bể. Hôm nay, chúng ta có tên Saigon viết hoa trên bảng hiệu ở nhiều nơi, từ quận 13 Paris, tới các khu phố mang tên Saigon rải rác khắp Bắc Mỹ. Không thứ chuyên chế nào cản nổi sức Saigon.

Sức mạnh ấy, từ lớp trẻ hè phố tới những cư dân Saigon cũ còn lại, nay đã lớn lên gấp bội, thành đầu tầu kinh tế thị trường kéo cả nước đi theo.

Và hai tiếng Saigon, từ trong nước tới hải ngoại, vẫn nguyên vẹn, ngày càng thân thương hơn, không thể thay thế.

Saigon, chỉ hai tiếng ấy thôi, là đủ.

Một bà ở Hà Nội có thể kêu "Nhớ Saigon quá". Bà ta không thể nói "Nhớ Hồ Chí Minh quá."

Một bài ca có thể bắt đầu bằng cách gọi "Saigon ơi". Thử tưởng tửợng một nữ ca sĩ ở Việt Nam hát "Hồ Chí Minh ơi", mọi thứ sẽ ra sao.

"Nắng Saigon anh đi mà chợt mát" trong thơ Nguyên Sa không thể thay bằng thứ nắng khác.

"Mưa Saigon, Mưa Hà Nội" trong bài ca Phạm Đình Chương không thể thay bằng thứ mưa khác.

Saigon có trong nắng, trong mưa, trong thơ, trong nhạc, trong tiếng nói, trong hơi thở, khắp nơi.

Saigon nguyên vẹn đó, ngay trong lòng chúng ta.

Cái chế độ mang tên lãnh tụ áp đặt vào tên một thành phố lịch sử, ngay ở nơi phát sinh ra nó là nước Nga, đã chết từ lâu rồi.

Bản sao của nó ở Việt Nam chẳng còn thọ lâu nữa.

Saigon, mãi mãi, vẫn cứ là Saigon.

Trân trọng cám ơn ban tổ chức và kính chào quí vị,

Nhã Ca

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Gặp Lại Thầy Doãn Quốc Sỹ Tại Irvine Ra khỏi khu vực Glendale nhà của Trần Khang Thụy , bốn anh em chúng tôi lại lái thật nhanh trở về khu Little Saìgon cho Viêm và Chiển lấy xe rồi cùng nhau đến thẳng nhà chị Bích Huyền trong khu Ervine CA để thăm lại thầy Doãn Quốc Sỹ người thầy cũ của chúng tôi trong gian chung học dưới mái trường Hồ Ngọc Cẩn ..... hôm nay thầy là khách mời trong buổi họp mặt của nhóm Trưng Vương Việt Báo do chị Bích Huyền tổ chức .

Hơn bốn mươi năm mới gặp lại thầy , lòng chúng tôi thật vui khi thấy thầy vẫn vô cùng mạnh khoẻ , linh hoạt , vui tươi mặc dù tính đến năm nay thầy đã bước vào tuổi 84 . Chúng tôi tuần tự chào thầy cũng như tự giới thiệu về mình , kể lại những năm tháng học với thầy .....kỷ niệm được nhắc lại với những xúc động ở những ngày xa xưa của cả thầy lẫn trò . Thầy nói thầy rất thật vui khi mà thời gian trôi qua đã quá lâu nhưng vẫn có những học trò còn nhớ đến thầy với niềm kính yêu và trân trọng , Thầy cũng kể lại ngày đó thầy chỉ dạy ở Trường Hồ Ngọc Cẩn có hai năm , sau đó thuyên chuyển về làm hiệu trưởng một trường trung học khác dưới Hà Tiên ....và sau đó ....

Trong buổi họp mặt tại nhà chị Bích Huyền ngoài thầy Doãn Quốc Sỹ còn có nhà thơ Cao Nguyên đến từ Virgina , nhà thơ Trần Nhất Lang tức là Tướng Trần Quốc Lịch ngày xưa , bên cạnh các chị Bích Huyền , Hồng Vũ Lan Nhi , Cát Ngọc , Ninh Thuận còn có các anh Hà Phương Hoài , Lê Hải , Lâm Thùy Giang , Lê Đình Khoát , Minh Châu , nhạc sĩ Nguyễn Đức Cường , nhạc sĩ Đinh Sinh Long , một điều đặc biệt là cả hai anh Châu và anh Đinh Sinh Long cũng đều là cựu học trò Hồ Ngọc Cẩn ....như vậy trong buổi họp mặt này có tới sáu anh em thuộc gia đình Hồ Ngọc Cẩn hội ngộ lại với thầy Doãn Quốc Sỹ .....

Bẩy giờ tối nhà thơ Trần Nhất Lang xin được đưa thầy trở lại gia đình như lời đã hứa ...Chúng tôi cùng chia tay với thầy với những lời chúc thầy sức khoẻ , an vui và những điều thật tốt lành trong cuộc sống sau một chiều hội ngộ đầy kỷ niêm.....

Khieu Long
GÌN VÀNG GIỮ NGỌC
VỚI NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ
Xem văn thì biết người, nhưng chúng ta lại rất hân hạnh gặp được người là nhà văn Doãn Quốc Sỹ để biết văn, để có dịp nhìn thẳng vào cái tâm của một người đã từng bị đầy đọa vùi giập theo vận nước nổi trôi cả mấy chục năm nay.

Ông đã bị nhốt tù 2 lần, tổng cộng trên 12 năm, vì chữ và nghĩa, vì lương tâm. Ông kiên quyết tin tưởng vào khối vàng mỏ ngọc của cõi tâm con người. Ông được trả tự do và đến Mỹ tháng 2.1995.

Gặp lại thân hữu, ông không có lời nào nhắc nhở đến những gian truân khổ cực mà ông gánh chịu suốt bằng ấy năm. Ông hướng về tương lai với niềm tin sâu sắc vào sức sống mạnh mẽ của dân mình, và quả quyết: “Cái ác đến rồi đi, mưu mô xảo quyệt thể hiện rồi tàn lụi.”

Và hôm nay ông đến đây để chia sẻ một đề tài giáo dục về Gìn Vàng Giữ Ngọc. Giới trẻ có tin người Việt mình có vàng có ngọc không để mà giữ, mà truyền? Vàng và ngọc của mình có ăn thua gì với đà tiến mới của thế giới không? Vì đang khi Âu Mỹ giầu có văn minh, thì dân Việt mình vẫn nghèo xác nghèo xơ với gia tài tả tơi rách nát!

Nhưng có điều rất lạ là Mẹ Teresa ở Calcutta sau nhiều vòng tiếp xúc với Âu Mỹ thì lại nhận xét rằng trẻ em Mỹ nghèo nhất thế giới. Thế là thế nào?

Thì nay nhà văn Doãn Quốc Sỹ trả lời: Giầu mà lại nghèo; nghèo mà vẫn giầu. Ông thấy được mỏ vàng mỏ ngọc từ cõi tâm người Việt, nguồn sinh lực vốn chứa sẵn ở trong lòng, vẫn kiên trì chuyển diễn dù bất cứ gian ác và đầy đọa nào, chỉ cần cái tâm trong sáng là kho tàng biểu hiện ra liền. Như Ông đã trả lời qua mấy chục tác phẩm như:

Chiếc chiếu hoa cạp điều,

Gìn Vàng Giữ Ngọc,

Người Việt Ðáng Yêu,

Ba Sinh hương lửa,

Người đàn bà bên kia vĩ tuyến,

Sầu Mây,

Dòng Sông Ðịnh Mệnh v.v.

Và mới xuất bản tại hải ngoại sau khi ông tới Mỹ:

Dấu chân cát xóa,

Người vái tứ phương,

Mình lại soi mình.

Ông vẫn tỏ nét trong sáng một nguồn nhân ái bất tận của cái tâm, của cái thiện.

Ở Người Ðàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, ông thương khi “chứng kiến cảnh nghèo của nhà chị Cầu, nghe tiếng khóc đau đớn của thằng bé để tưởng như tiếng khóc của dân tộc...”

Vì nhà quá nghèo lúc tản cư thời chiến tranh Việt-Pháp nên phải nói dối một lần về Chiếc Chiếu Hoa Cạp Ðiều nhặt được cho em đắp, vậy mà: “Sau này khi về vùng quốc gia, rồi di cư vào Nam, tôi còn trải qua nhiều gian lao nghèo túng và nhiều lần bị khinh rẻ, nhưng dù nghèo túng đến đâu, dù bị khinh rẻ đến đâu, điều đau nhục nhất với tôi vẫn là truyện chiếc chiếu hoa cạp điều...

Cũng kể từ sau ngày xảy ra chuyện đó, thái độ của tôi đối với người đời khác xưa nhiều. Tôi thận trọng tránh mọi hẹp hòi, kiêu ngạo, ích kỷ, sắc cạnh. Lòng dễ xúc động, tôi thương người như thương chính mình vậy.

Tôi thương những em nhỏ sớm phải lăn lưng vào cuộc đời để tự nuôi sống, tôi thương những người đói khát ham ăn ham uống, tôi thương những hình ảnh lam lũ một sương hai nắng, những hình ảnh nghèo túng giật gấu vá vai, tôi thương những kẻ thù dân tộc hôm qua, ngày nay thất thế ngơ ngác đi giữa kinh thành. Ở thế giới thực dân tư bản người ta tung vật chất để giam lỏng linh hồn; ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.”

Người với ta tuy hai mà một

Ta với người tuy một mà hai.

Thương người như thể thương thân, đó là nét gìn vàng giữ ngọc của cõi tâm người Việt. Ông diễn ta trong cuốn “Con Chuột Chù”:

“Làm nhục người khác là làm nhục chính mình, nhìn người khác quị lụy, nhất là vì miếng ăn, việc hay xảy ra ở trại tù binh, chàng có cảm tưởng như chính nhân phẩm mình bị sa sút. Bất cứ mọt cá nhân nào đề mang trọn vẹn hình ảnh nhân loại nói chung. Tước đoạt nhân phẩm của một cá nhân nào là thương tổn đến nhân phẩm của cả nhân loại...”

Vậy cái Ác dù có hiện hình hung hãn tung hoành như được kể trong Mình lại soi Mình, hoặc ngay bây giờ phải đối diện với xã hội mới cũng đầy bất trắc như thời Ba Sinh Hương Lửa:

Ai xui ta đến chốn đây

Bên kia không óc bên này không tim.

Ông vẫn luôn tin rằng: “Cái ác đến rồi đi, mưu mô xảo quyệt thể hiện rồi tàn lụi.” Những đầy đọa của thân phận Việt Nam cũng như những đợt sóng lên xuống, dòng sức sống vẫn chảy tới, như trong Sầu Mây:

Bao giờ chúng ta cũng là những kẻ chiến thắng... nếu chúng ta biết nhìn trước thấy dòng luân lưu của sự vật.”

Có những lúc tôi đọc ông mà xúc động muốn khóc: "Chiến tranh tàn phá gây ra biết bao cảnh đổi đời, nhưng có một cái gì đó mà không gì tàn phá nổi... đó là tiếng hát tự lòng đất, từ cõi tâm con người, tiếng hát sầu dằng dặc nhưng là tiếng hát bất tuyệt vỗ về an ủi sự sống làm cho sự sống càng phì nhiêu và bất tuyệt như nó.”

Phải, chúng ta có một cái gì mà không một quyền lực ác độc nào có thể tàn phá được. Chính cái không thể tàn phá nổi đó mà hôm nay, không phải chỉ là ngàn dặm ra đi như công chúa Huyền Trân, mà là ngàn ngàn dặm ra đi, bước sang ngàn năm thứ ba, trước đà tiến của nhân loại, chúng ta không chịu cúi đầu nuốt nhục, mà cùng đến đây chia sẻ cái cốt lõi của một nền văn minh mà nhân loại đang mong chờ lúc sửa soạn bước vào thiên kỷ 3: đó là khai mở được kho tàng cõi tâm. Tự tin như vậy, người Việt mới có cơ may phát triển, và mới có cái gì thật quí mà đóng góp với thế giới.

Tôi xin mượn lời nhà văn Võ Phiến mà nói về ông:

Với ông Doãn Quốc Sỹ đến Mỹ “Cộng đồng người Việt hải ngoại giầu thêm bằng một người Việt đáng yêu, và bếp lửa cộng đồng ấm hơn.”

Phải, chúng tôi hãnh diện vì ông, cùng tin tưởng và hãnh diện để Gìn Vàng Giữ Ngọc, và chúc mừng ông vẫn bước tới với đầu cao mắt sáng:

Làm sao cũng chẳng làm sao

Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi.

Làm chi cũng chẳng làm chi

Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao.

Lm. TRẦN CAO TƯỜNG

(Mấy lời giới thiệu nhà văn Doãn Quốc Sỹ trong buổi mạn đàm Gìn Vàng Giữ Ngọc và Truyền Thụ Nét Trân Quí của người mình cho thế hệ trẻ tại Trường Lê Bảo Tịnh, Avondale, Louisiana.)
Image
Thầy Doãn Quốc Sỹ tại CaLi

Image

Thầy Doãn Quốc Sỹ với anh Nguyễn Ngọc Tuấn

Image

Thầy Doãn Quốc Sỹ tại nhà chị Bích Huyền đài VOA

Image
Thầy Doãn Quốc Sỹ và các học trò cũ Trường Hồ Ngọc Cẩn K Long , Tuấn , Viêm , Châu, Đinh Long

Image

Anh Lê Hải, Nhà thơ Cao Nguyên, Nhà thơ Trần Nhất Lang , Thầy Doãn Quốc Sỹ , Khiếu Long, Ngọc Tuấn , Bùi Qúy Viêm , Anh Hà Phương Hoài ,Bùi Qúy Chiển ,Anh Lê Đình Khoát .

Image

Anh Lê Hải , Nhà văn Hà Phương Hoài , Khieu Long, Thầy Doãn Quốc Sỹ , chị Bích Huyền,Nhà thơ Trần Nhất Lang

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Doãn Quốc Sỹ một tâm hồn thanh thản, đôn hậu, cao thượng.

Nguyễn Văn Quảng Ngãi

MỘT THOÁNG HƯƠNG XƯA: Ôi, dòng sông, cánh đồng năm ngàn năm của chúng ta, mênh mông thanh thản dưới mắt nhân loại kẻ nào mà làm hoen ố nổi
Thuở xưa, ngót bốn mươi năm rồi, trong Tiền Kiếp của Gìn Vàng Giữ Ngọc, Doãn Quốc Sỹ đã mạnh dạn, tự hào viết như vậỵ
Gìn Vàng Giữ Ngọc. Sao mà cái tên cuả tác phẩm đẹp đến vô cùng! Không ít người đã quên khuấy đi mất cái nguồn gốc từ truyện Kiều: Gìn vàng giữ ngọc cho haỵ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời mà Kim Trọng đã ân cần dặn dò Thúy Kiều trước khi giã biệt về nhà hộ tang chú. Nhất định cụ Nguyễn Du chẳng những đã không trách họ Doãn mà còn vui mừng khi thấy hậu thế đã biết khéo léo dùng lại ngôn ngữ của mình để khuyên nhủ thế nhân.
Còn nữa, Doãn Quốc Sỹ còn nhiều tác phẩm mà tên gọi vừa đẹp, vừa ý nghĩa như: Dòng Sông Định Mệnh, Ba Sinh Hươ ng Lửa, Trái Cây Đau Khổ...
Cùng với Lỡ Bước Sang Ngang của Nguyễn Bính, Ngàn Năm Một Thuở của Hồ Hữu Tường, Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân... đó là những tác phẩm có tên gọi hay nhất, đã trở thành những điển tích mà nhiều người hay mượn tiêu đề để trích dẫn nhiều hơn là nội dung của tác phẩm...
Nhưng khi nói đến Doãn Quốc Sỹ là nhiều người nói đến Dòng Sông Định Mệnh, tác phẩm đã gây xúc động trong lòng rất nhiều người từ năm 1959.
Tôi đã yêu Dòng Sông Định Mệnh từ đó, thuở mà tâm hồn còn xanh tươi, bầu nhiệt huyết còn đầy ắp. Mãi đến ngày nay, đôi khi nhắm mắt ôn lại một thoáng hương xưa thân yêu đó, tôi vẫn còn tìm lại được nguyên vẹn cái cảm giác đầy rung động, thích thú khi đọc Dòng Sông Định Mệnh:
Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung Có ai đàn lẻ để tơ chùng Có ai tiễn biệt nơi xa ấy Xui bước chân đây cũng ngại ngùng.
Dòng sông gợi cho chúng ta nhiều cảm giác, lắm suy tư: khi nỉ non tâm sự, lúc ôm ấp hiền hoà, khi giông tố ba đào, lúc trầm tư mặc tưởng. Dòng sông còn gợi cho chúng ta biết bao là kỷ niệm mà bụi thời gian đã phủ mờ theo năm tháng:
Con nước ấy đã bao lần sóng vỗ Chút tàn phai đọng lại dưới chân cầu (Hà Nguyên Thạch)
Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu (Hoài Khanh)
Nhưng có ai chận đứng được thời gian nên phương Đông đã tra vấn nước sông: Chảy mãi như thế này ư chẳng kể ngày đêm?
Và có ai tìm lại được những ngày xưa thân ái nên phương Tây đã than thở: Người ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông.

...Với Doãn Quốc Sỹ thì khác!
Dù thời gian có hững hờ trôi như nước chảy qua cầu, dù cuộc đời có gây nhiều đau thương, tang tóc cho nhân thế, dù cuộc thế có đầy rẫy lọc lừa phản trắc, dù cầu Hiền Lương qua sông Bến Hải thuở đó như là một vết thương còn rướm máu mà Định Mệnh vừa mới tàn nhẫn chia cắt đất nước thân yêu... Doãn Quốc Sỹ vẫn một lòng tự hào tin tưởng: "Cánh đồng và dòng sông năm ngàn năm của chúng ta kẻ nào mà làm hoen ố nỗỉ".
XUÔI DÒNG THỜI GIAN: Là độc giả thường xuyên của Bách Khoa, tờ báo có tuổi thọ cao nhất và thành công nhất ở miền Nam trước 1975, ngoài những bài vở giá trị về nhiều phương diện, có một dạo tôi rất thích thú với những bài phỏng vấn tài tình Sống Và Viết Với... của Nguyễn Ngu Í. Bài viết về Doãn Quốc Sỹ là bài xuất sắc nhất - theo tôi - trong loạt những bài phỏng vấn này và sau được Nguyễn Ngu Í cho in thành sách với tên gọi như trên (Ngày Xanh xuất bản 1966). Ngoài những chi tiết liên quan đến Sống Và Viết... của Doãn Quốc Sỹ, điều mà cho mãi tới ngày nay vẫn còn ghi đậm trong tôi là bức hình chớp toàn gia đình của ông. Bà Doãn Quốc Sỹ với nét dịu hiền thanh tú của một mệnh phụ Việt Nam (bà là con nhà thơ Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu) cùng ông và rất đông con (đông thật!) mà cô nào cậu nấy đều tươi cười, xinh xắn. Đặc biệt là những đôi mắt: tất cả đều tròn xoe, trong sáng!...
Đọc sách của ông, cảm được tấm lòng đôn hậu và nhân ái của ông, hiểu được tình yêu dân tộc Việt Nam tha thiết của ông, thấy được niềm tin bao la và sâu sắc của ông về chân-thiê.n-mỹ cho nhân thế, biết được cuộc sống của ông: dạy học (Trung và Đại Học), viết văn, chủ trương nhà xuất bản Sáng Tạo, xem hình cả gia đình ông... đã cho tôi đi đến kết luận: Đó là mẫu người lý tưởng cho một xã hội Việt Nam lý tưởng!
Trên đây là tất cả những điều tôi biết về Doãn Quốc Sỹ trước năm 1975.
Trong 9 năm tù ngục có thời gian dài tôi ở nhà giam Kim Sơn và Nước Nhóc (K18 ) thuộc tỉnh Nghĩa Bình (Quảng Ngãi và Bình Định sát nhập) và cùng làm chung một bộ phận lao động với một nhà nho ẩn danh. Anh làm thơ rất hay, có kiến thức về Hán văn rất rộng và đặc biệt là biết rất nhiều về những nhà văn, nhà thơ ở miền Nam. Theo anh thì nhân loại đã và đang bị lún sâu vào cuộc chiến tranh lạnh tranh chấp giữa hai khối (dạo đó).
Nếu những tác phẩm của ông Doãn được dịch ra Anh hoặc Pháp văn để loài người đọc và suy gẫm về cái tâm của ông cho tình yêu (gia đình, bằng hữu, quê hương, nhân loại), về tấm lòng cương quyết và tin tưởng hướng đến chân-thiê.n-mỹ của ông... thì những điều đó sẽ có ảnh hưởng sâu đậm và Doãn Quốc Sỹ xứng đáng nhận giải thưởng No bel về văn chương. Chúng tôi cũng bàn đến những tác phẩm và văn tài của Võ Phiến, nhà văn Bình Định chòm xóm gần gũi từ thuở Mùa Lúa Mới mà chúng tôi rất quý kính để có cùng chung một kết luận: Doãn Quốc Sỹ và Võ Phiến là hai nhà văn tiêu biểu ở miền Nam về văn tài, về lập trường Quốc Gia - Dân Tộc và về tư cách và đạo đức.
Sau vài chuyến vượt biển thất bại, bị bắt, vượt ngục, cuối cùng tôi đến được trại tị nạn Galang ở Nam Dương năm 1985. Một hôm tôi đang ngồi tại văn phòng Trung Tâm Thiếu Nhi Không Có Thân Nhân (Unaccom-panied Minors Center) thì anh bạn Chủ Tịch Ban Đại Diện Cộng Đồng đưa một thanh niên đến thăm và giới thiệu:
- Đây là trưởng nam của nhà văn Doãn Quốc Sỹ đang dạy level C (trình độ cao nhất của ESL).
- Có phải em đang cho đăng truyện của bố trên tờ Tự Do không? (Tự Do là tờ báo Việt Ngữ của trại).
- Sao anh biết?
- Trước kia ai đã đọc nhiều sách của bố thì, dù bố có ký dưới bút hiệu nào đi nữa, khi đọc truyện người ta sẽ nhận ngay ra văn phong của bố... Tôi cố nhớ lại tấm hình chớp toàn gia đình của Doãn Quốc Sỹ trên Bách Khoa thuở trước để đối chiếu với anh bạn thanh niên trắng trẻo, đẹp trai, ăn nói nhỏ nhẹ, lễ phép nàỵ
Vài tháng sau đó, một buổi sáng, anh ăn mặc chỉnh tề, vai đeo chiếc xách nhỏ vội vàng ghé lại thăm tôi trước khi lên đường sang Úc định cự Việc này đã thực sự làm tôi cảm động vì ai đã từng ở trại tị nạn đều biết là ngày cuối cùng vô cùng bận rộn và vội vàng: nào phải lo hoàn tất những thủ tục cần thiết bắt buộc của Cao Ủy tị nạn, của cơ quan IOM, nào phải lo soát xét lại hành trang cá nhân, nào kẻ còn ở lại nhờ nhắn tin, gởi thư, nào bằng hữu đưa tiễn... nên nhín một chút thì giờ tạt lại thăm nhau quả thật là đặc biệt quý giá!
Mãi đến năm 1996 tôi mới có duyên gặp tác giả Dòng Sông Định Mệnh khi cả hai chúng tôi được Cộng Đồng Việt Nam tại Wichita - Kansas mời nói chuyện trong dịp lễ kỷ niệm 30 tháng 4. Anh bạn Lê Hồng Long, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tạp chí Thế Giới Ngày Nay đã dành cho chúng tôi sự tiếp đãi ân cần, chu đáo khó kiếm. Chúng tôi mỗi người ở một phòng riêng với đầy đủ tiện nghi tại nhà anh. (Hoàn toàn trong tình văn nghệ chứ anh không có trách nhiệm gì trong cộng đồng hay trong ban tổ chức ngày lễ). Sau những phút xã giao ngắn ngủi chúng tôi dễ dàng trở nên tương đắc khi tâm sư..
Vâng, tôi đang đối diện với tác giả Dòng Sông Định Mê.nh. Dù đã qua tuổi cổ lai hy, với nhiều năm dài trong tù ngục nhưng anh vẫn còn mạnh khoẻ từ thể xác đến tinh thần. Dáng cao, gầy, nước da ngăm đen, khuôn mặt chữ điền. Đôi mắt sáng, vừa hiền hòa vừa cương quyết. Nụ cười cởi mở, bao dung. Nói chuyện với anh tôi có cảm tưởng như mình đang hầu chuyện với một bậc thiền sư vì anh lắng nghe từng chi tiết nhỏ, anh tâm tình chậm rãi, khoan dung trong tinh thần hồn nhiên, phá chấp...
Đề tài anh nói chuyện với Cộng Đồng là: Đời Sống Văn Nghệ Sĩ Trong Lao Tù Cộng Sản. Anh nói nhỏ nhẹ như đang chia xẻ với bằng hữu thâm giaọ Anh kể một vài mẫu chuyện thoạt nghe tưởng như chẳng có gì đáng nói nhưng gẫm lại thì rất chí lý. Bởi vì anh nói bằng cả con tim của anh. Do đó phải nghe anh bằng cả tâm hồn mình mới tâm đắc được hết tâm sự anh muốn giải bàỵ Nhà văn Võ Đình đã rất chí lý khi viết về Doãn Quốc Sỹ trong ngục tù: ...Ngày nay, dẫu có đắng cay khổ nhục mấy đi nữa, ông vẫn còn nhìn với đôi mắt thương hại những công tố viên đang xỉa xói ông, những cán bộ chấp pháp đang truy vấn ông, những cai tù đang kềm giữ ông. Và như vậy ông mới có "Tự Do", cái tự do ông trả với tất cả đau đớn ê chề cả thể xác lẫn tinh thần. Trái tim ông vẫn không suy suyễn. Bạo lực có thể uy hiếp ông. Nhưng bạo lực không cách gì đập nát trái tim ông và đặt vào đó lò lửa căm thù. Ông chỉ căm thù bạo lực, ông không thể căm thù con người, dù đó là con người dùng bạo lực để hành hạ ông...
Vâng, chìa khóa của kiếp nhân sinh là cái "Tâm". Các vấn nạn trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng chỉ có thể giải quyết bằng cái "Tâm"...
Ba ngày tại Wichita - với lòng hiếu khách đặc biệt của anh Lê Hồng Long và gia đình - chúng tôi đã tạo được sự cảm thông quý giá và tôi thật sự vinh hạnh được anh xem như bạn hiền. Từ đó, mỗi lần biên thư cho tôi anh thường nhắc đến nhà báo họ Lê và mong có ngày gặp lại nhau ở thành phố Wichita nhỏ bé xa xôi nhưng thắm tình đồng hương của tiểu bang Kansas.
Tháng 4 năm 1999 anh Doãn Quốc Sỹ và tôi lại có dịp gặp nhau tại thành phố Dallas, Texas khi chúng tôi cùng được mời sung vào ban Giám Khảo cuộc thi truyện ngắn năm 1998 do hai tờ tuần báo Viet nam Weekly News và Người Việt Dallas tổ chức. Một chi tiết nhỏ chứng tỏ tấm lòng luôn luôn vì văn hóa dân tộc của anh. Thoạt đầu quý anh Trần Lộc, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tuần báo Vietnam Weekly News và anh Thái Hóa Lộc, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tuần báo Người Việt Dallas mời hai người điạ phương là anh Đàm Trung Pháp, Giáo sư ngôn ngữ học tại Đại học ở Dallas và tôi sung vào ban Giám khảọ Tự biết mình chỉ viết lách một cách tài tử, nhưng, để khích lệ việc làm ý nghĩa này và tạo dễ dàng cho ban tổ chức, chúng tôi đã vui vẻ nhận lờị Khi thấy số người gởi bài tham dự cuộc thi khá đông (gần 100 người từ nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ và từ một vài nước khác), để tăng giá trị cho cuộc thi và vinh dự cho những người trúng giải, vào giờ chót, hai anh đã nhờ tôi mời anh Doãn Quốc Sỹ vào ban Giám khảọ Dù biết mời khá muộn là chuyện không phải nhưng tôi vẫn viết thư trình bày chi tiết gởi đến anh kèm theo bản sao của 31 truyện dự thi đã được ban tổ chức chọn vào chung khảọ Anh đã chấm từng truyện cẩn thận, cho điểm, ghi chú và gởi trả lại ban tổ chức trước cả anh Đàm Trung Pháp và tôị Và anh đã về Dallas tham dự lễ phát giải thưởng. Anh Đàm Trung Pháp, dù rất bận rộn với Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương của Cộng Đồng, vẫn đưa chị Pháp đến thăm thầy (Giáo sư Pháp vốn là học sinh cũ của anh Doãn Quốc Sỹ). Hành động ấy, mấy lời thăm hỏi nhẹ nhàng, ngắn ngủi ấy đã nói lên cái "tình thầy trò" đậm đà cao quý cuả nền văn hóa Việt Nam đầy nhân nghĩa, thủy chung khó tìm được ở xứ này! Dạo đó tôi vừa nhận cuốn hồi ký Việt Nam, Một Thế Kỷ Qua do tác giả, Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, gởi tă.ng. Trong sách có đoạn nói đến nhà thơ Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu... chất phát, hiền hậu, khiêm tốn, ít nói về mình và đặc biệt là luôn luôn đi xe đạp một cách chậm chạp, từ tốn như đi dạo mát...
Anh Doãn Quốc Sỹ rất cảm động khi đọc đoạn này cùng một số nhận xét đặc biệt nữa về nhạc phụ mình và chép ngay tại chỗ tặng tôi bài thơ cuả cụ Hồ Trọng Hiếu "Tú Mỡ đi xe bình bịch":
Tú rững mỡ cưỡi xe bình bịch Máy nỗ vang sình sịch chạy như bay Bóp còi toe như quát tháo giương vây Khách đường cái vội rãn ngay tăm tắp Tú nhớ thuở còn đi xe đạp Một thứ xe chậm chạp hiền lành Trên đường dù chuông bấm liên thanh Khách đủng đỉnh làm thinh không chịu tránh ...Ồ ngán nhỉ ở trên cõi tục.
Con người ta bất độc bất anh hùng - Phần phát biểu trong buổi lễ phát giải anh nói về đề tài như một nhắn gởi tha thiết, nhẹ nhàng đến tất cả mọi người hãy cố gắng duy trì tiếng Việt ở miền đất mớị Anh đọc lại bài thơ Ông Đồ Già nổi tiếng của Vũ Đình Liên (thầy cũ của anh ở Hà Nội thuở xa xưa) và một nỗi buồn thấm thía gợn lên trong lòng mọi người về một viễn ảnh suy thoái, tàn lụi của tiếng Việt trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại:
... Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâủ Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nhiên sầu
Ông Đồ vẫn ngồi đấy Qua đường không ai hay Lá vàng rơ i trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay
Anh cũng đọc thơ của hai người bạn thân trong nhóm "Sáng Tạo". Một đã ra đi là nhà văn Mai Thảo: Thế giới có triệu điều không hiểu Càng hiểu không ra lúc cuối đời Chẳng sao khi đã nằm trong đất Đọc ở sao Trời sẽ hiểu thôi
Bốn câu thơ này Mai Thảo làm như là một linh tính báo trước ngày ra đi của mình và đã được khắc trên bia mộ của Mai Thảo ở Nam Calị Một còn sống là nhà văn Nguyễn Sỹ Tế: Đỉnh Trời gió quét mây tan tát Trăng lưởi liềm ngơ ngác lạnh căm Trăng sao giọt lệ u trầm Trăng sao quá đổi âm thầm hỡi trăng?
Bốn câu thơ này anh dịch từ một bài thơ trong tập thơ bằng tiếng Pháp của Nguyễn Sỹ Tế kể lại thời gian hai người cùng ở trại giam Gia Trung. (Hai anh Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút Trần Lộc và Thái Hóa Lộc cùng nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp rất đáng được tuyên dương vì đã tổ chức rất chu đáo và thành công cuộc thi truyện ngắn 1998!)
PHỤ TRANG: Hòa trong nỗi đau khổ chung của cả dân tộc sau biến cố kinh hoàng 30-4-1975, anh Doãn Quốc Sỹ đã phải vào tù hai lần trước sau hơn 12 năm. Khổ đau từ thể xác đến tinh thần của các tù nhân do bạo quyền gây nên chữ nghĩa trần gian đâu đủ viết cho hết, tả cho tròn! Nhưng khổ đau không thay đổi được anh vì anh đã viết, từ 1965, trong Người Việt đáng yêu: "... Không có sự trưởng thành đáng kính nào bằng sự trưởng thành trong đau khổ... khổ đau là một sự thiêng liêng ở trên thế gian này... Dân tộc Việt Nam phải là một sự thiêng liêng đối với nhân loại..."
Thuở xưa anh đã ân cần khuyên nhủ mọi người: "Hãy quay trở về với chính mình, vun xới tâm hồn mình là chuốc lọc danh dự cho dân tộc, là gieo hươ ng hạnh phúc cho nhân loại". (Tiền kiếp)
Và anh tha thiết ước ao: "Niềm ao ước vĩnh cửu của tâm hồn nhân loại, và cũng là sự thực vĩnh cửu cuả vũ trụ là: bao giờ cuối cùng "thiện cũng thắng ác".
Khổ đau, bạo lực chẳng những không làm anh căm thù mà - như một sự thiêng liêng - đã làm tâm hồn anh dịu lạị Trong truyện ngắn Người vái tứ phương, một mặt anh diễn tả thật đầy đủ xã hội miền Nam sau bảy năm bị đọa đày bằng những từ ngữ nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, mặt khác anh vẫn tiếp tục ân cần khuyên nhủ mọi người: "Cuộc sống đầy rẫy những khác biệt và đụng chạm. Hãy cảm thông và bao dung những vui buồn phải trái cuả nhau... Cuộc đời tự nó đã quá nhiều phức tạp, sầu khổ, còn gây thêm sầu khổ cho nhau mà làm gì!".
Noi gương người xưa đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân mà thay cường bạo nên Giáo sư Hoàn, dù tốt nghiệp tiến sĩ sinh vật học tại Hoa Kỳ đã không được tiếp tục dạy lại tại Đại học Khoa học, vẫn đầy lòng từ tâm thánh thiện đã bình thản, không có một lời nói hay cử chỉ thất thố nào khi đối diện với viên trung tá công an hạ trác đòi mình đến trình diện: "Tôi rất mực điềm đạm thùy mị trả lời... Tôi trả lời như thể tự ngàn xưa vốn dĩ tôi như thế và cho tới ngàn sau tôi không thể khác hơn..."
Và giáo sư Hoàn đã chinh phục, cảm hóa được viên trung tá nàỵ Một ghi nhận nhỏ là thuở xưa có rất ít người xấu, việc xấu trong các tác phẩm của anh nên nhà văn Võ Phiến đã viết: "Hầu hết các nhân vật tiểu thuyết cuả Doãn Quốc Sỹ đều tốt ... Hoạ hoằn lắm mới có một nhân vật xấu..." (Văn Học Miền Nam - Truyện I) và đã dí dỏm một cách khéo léo: "Đọc sách ông thơm tho cả tâm hồn". (Văn Học Miền Nam Tổng Quan). Nhưng trong Người vái tứ phương, anh đã viết: Trong cõi tương đối này chúng ta há chẳng thấy thường khi cái đúng và cái sai chỉ là đường tơ kẻ tóc, hoặc giả chính vì cái sai này mà cái đúng kia hiển hiện. Thực ra trên dòng biến dịch không ngừng nghỉ của vạn hữu, cái sai cũng mầu nhiệm như cái đúng...
Kiếp nhân sinh là như vậy đó: Cái tốt nương tựa cái xấu, nỗi buồn gắn bó với niềm vui, khổ đau quyện theo hạnh phúc.
Rồi anh tiếp tục ân cần khuyên nhủ mọi người:
"...Thế giới này là nơi cộng đồng trách nhiệm. Khi cái đẹp, cái thiện đã được khơi nguồn, thắp sáng, người ta dễ bề mở rộng cái tôi cá biệt đi vào cái ta hoà đồng...
...Bất kỳ hành động thiện, hành động đẹp nào của bất kỳ ai đều có khả năng mầu nhiệm bảo vệ giá trị sản nghiệp tinh thần của cả nhân loại...
... Khi nhân tính vươn vai thức giấc, mọi chủ nghĩa, đảng phái không thành vấn đề...."
Cuối thu năm ngoái, ở tuổi 75, trong một lá thư gởi cho tôi anh đã viết: "...Nhà tôi ở hiện giờ còn giữ nguyên màu xanh ngút ngàn của thiên nhiên: đó là những rừng oak và thông đẹp tuyệt vờị Sáng sáng tôi cùng bà xã đi bộ độ nửa giờ, sau đó tôi đạp thêm 1 giờ bằng chiếc xe đạp được một anh học trò cũ tă.ng. Vì vậy sức khoẻ giữ đều không ốm đau vặt như thường thấy khi tới tuổi cổ lai hi của tôi...".
Trong tất cả những tác phẩm cuả anh - từ tập trường thiên qui mô và quan trọng nhất là Khóm Rừng Lau đến những truyện cổ, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài hoặc khảo luận, tuỳ bút - tình thươ ng bàng bạc khắp cùng: Anh đã gánh trọn cái trách nhiệm luân lý nặng nề. Ngày nay, ở tuổi hoàng hôn của cuộc đời, ước mong từ miền Houston sầm uất đó, anh hưởng được đầy đủ cái hương nhân loại lâng lâng tỏa ra từ bốn phương tám hướng mà anh đã ước mơ vào một chiều bên hồ Lạc Thiện vùng Ban Mê Thuộc thuở xa xưa trong Gìn Vàng Giữ Ngọc.
Đã có rất nhiều người viết về Doãn Quốc Sỹ. Từ những vị có đầy đủ uy tín và tuổi tác trong văn giới đến những độc giả đã từng mến mộ anh và văn chương anh đã ảnh hưởng nhiều đến đời sống tinh thần của ho.. Những bài viết, nhận xét thật đầy đủ, thật chi tiết. Do đó xin được gọi những dòng tâm tình này là "Một Phụ Trang" để bày tỏ lòng quý kính của tôi đối với một nhà văn hàng đầu tôi được biết qua nhiều tác phẩm và, do một duyên lành, được quen thân qua những dịp tâm tình tương đắc. Đã gọi là phụ trang - mà là một phụ trang tâm tình - thì không thể viết dài (Mà nếu muốn viết nữa thì cũng vẫn không thể nói hết những điều mình muốn viết).
Để chấm dứt bài viết tôi xin chép lại đây cảm tưởng cuả nhà văn Đổ Thiên Như về lần đầu tiên cô được gặp gỡ tác giả mà cô đã ngưỡng mộ và xem như là thần tượng từ vài thập niên qua và còn giữ mãi cho tới ngày nay tại thành phố Seatt le tháng 6 năm 1995:
"... Doãn Quốc Sỹ ngồi đó, và ông đúng như hình ảnh tôi tưởng tượng buổi thiếu thờị Dáng người dong dỏng, gầy, khuôn mặt nhân hậu và trí thức. Hình như bao năm cơ cực tù đày cũng không xóa mất nụ cười khoan hòa và nhân ái, cái nhân ái bàng bạc trong văn chương ông. Những dòng văn chương diễn tả được cái đẹp vô cùng nhân bản và tình người... Ông hỏi tôi có học với ông không? Tôi thưa là tôi học ở Huế, không được học với thầy nhưng văn chương của thầy đã dạy con biết mơ mộng và tư duy từ thuở hoa niên cho mãi đến bây giờ... Chỉ trong mấy giây với Doãn Quốc Sỹ mà tôi tưởng như được trở về với ngày xưa có sắc hương thầm kín lụa là...
Tôi sống thật đầy, thật đẹp với vầng trăng của Doãn Quốc Sỹ. Đã qua rồi những mùa trăng trầm thống nhưng hồn tôi vẫn giữ mãi vầng trăng mười sáu nguyên vẹn của ông... Hình như thời gian đang ngừng lại, tôi đang đi trên lối xưa đầy diễm ảo và tôi đã được gặp một nhà văn biểu tượng cho tình yêu, sĩ khí và bất khuất của nhiều thế hê.. Hạnh phúc thay!".

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Vũ Hoàng Chương, ngôi bắc đẩu của thi ca Việt Nam

Image



Có một bài thơ, được truyền khầu như là chứng tích của một thời thế đảo điên. Có một thi sĩ, cả đời chỉ muốn làm thơ ca tụng tình yêu nhưng lại có những bài thơ ghi lại được những thời điểm khốc liệt của lịch sử.

Tôi nghĩ tới bài thơ “Vịnh tranh gà lợn“ của nhà thơ Vũ Hoàng Chương làm trong khoảng thời gian tranh tối tranh sáng của thời sự. Lúc ấy, ngày tết Bính Thìn, khi Cộng Sản vừa chiếm được cả đất nước và một chính sách trả thù phân biệt được áp đặt lên toàn dân tộc. Lúc ấy, viên chức, sĩ quan của chế độ VNCH bị tù đày đến gần cả triệu người. Lúc ấy, văn nghệ sĩ bị truy bức, bắt bớ, sách vở bị tịch thu đốt bỏ. Lúc ấy, buổi hỗn quân hỗn quan, lúc thú vật đội lốt người, tác yêu tác quái :

“Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
Gà lợn om sòm rối bức tranh
Ràng vách có tai, thơ có họa
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác nữa chi đừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh“

Những thành ngữ, tục ngữ của dân gian dưới tay nghệ sĩ đã thành đắc địa. Chữ không còn là một nghĩa nữa mà thành nhiều nghĩa, và, sự thâm trầm sâu lắng trong ngữ nghĩa làm bài thơ lột tả được một tâm sự chung mang của cả một thế cuộc tao loạn đầy bất trắc.

Bài thơ được truyền tụng trong thời buổi ấy và cũng là nguyên nhân để những người cầm quyền Cộng Sản bắt giam tác giả. Thi sĩ bị giam tại khám Chí Hòa, sau vì đau yếu nên được thả về nhà và mấy ngày hôm sau thì từ trần, đúng vào ngày 6 tháng 9 năm 1976.

Trong tù, ông viết bài thơ cuối cùng của đời mình, gửi cho người thân, như linh cảm thấy một chuyến đi đã kề sẵn. Thơ như tiếng khóc nén thầm của những dòng thơ, từ dòng cổ thi từ thuở Nguyễn Du xưa xa, của nỗi niềm “bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” đến nỗi đau mất nước quặn thắt bây giờ:


“Thấm thoát vào đây tháng đã tròn
Lông hồng gieo xuống nặng bằng non
Một manh chiếu lỉa hồn ngây ngất
Ba chén cơm rau xác mỏi mòn
Ngày tới bữa ăn càng nhớ vợ
Đêm về giấc ngủ lại thương con
Bao nhiêu nước chảy qua cầu nữa
Chẳng dễ gì phai một tấm son“

Con chim trước khi chết, tiếng hót bi thương. Người thi sĩ, trước khi lìa bỏ trần gian, lời kêu ai oán. Bài thơ thất ngôn bát cú gói ghém cả một tâm tình. Quốc phá, gia vong, thân trong ngục tù, nhưng, tất cả rồi sẽ trôi qua như nước chảy dưới cầu và không bao giờ phai nhạt tấm lòng son sắt với đời, với người, với dân tộc, với đất nước.

Nhà văn Võ Văn Ái, đã viết về trường hợp nhà thơ bị Việt cộng bắt giam như sau:

“… Và ai ngờ rằng, một nhà thơ sẽ chết vì Thơ. Đúng ngay Phât Đản ngày 25 tháng 5 năm 1976, khi đất nước của Nắng Vàng chuyển sang Máu Đỏ. Giữa khuôn viên trường đại học Vạn Hạnh, lần đầu tiên có sự đưa tượng Phật xuống giữa sân làm lễ. Lần ấy, lần độc nhất ấy, giữa Sài Gòn im lặng, Vũ Hoàng Chương ốm nhom trong chiếc áo the tàng, cất tiếng ngâm bài thơ Lửa Từ Bi trước đám người chung tình dự lễ. Liền sau đó Vũ Hoàng Chương bị bắt, viện đại học Vạn Hạnh bị chiếm đóng. Bài thơ bừng lửa này, Hoàng sáng tác giữa thời khốn đốn năm 1963 mà chỉ có giọng ngâm vi diệu của Hoàng Oanh mới lột tả hết. Nay từ miệng nhà thơ, bài thơ ngân lên giữa một thời cùng cực khốn đốn mới…”

Bài thơ Lửa Từ Bi, là lời của lương tâm nhân loại. Ngôn ngữ, không phải là lời kêu gọi sắt máu, đòi hỏi hy sinh. Mà, chính là cái Dũng của kẻ sĩ của người hiểu được sự cao cả của quên mình hy sinh. Lửa, không phải là ngọn lửa thiêu đốt, của chiến tranh chết chóc. Mà, ngọn lửa ấy, là ánh sáng để soi rọi hồn người vượt thoát đêm tối. Lửa, kêu gọi yêu thương.

“Lửa ! Lửa cháy ngất Tòa Sen
Tám chín phương nhục thể trần tâm
Hiện thành Thơ, quỳ cả xuống
Hai vầng sáng rưng rưng
Đông Tây nhòa lệ ngọc.
Chắp tay đón một Mặt trời Mới Mọc
Ánh Đạo Vàng phơi phới đang bừng lên, dâng lên..
Thương chúng sinh trầm luân bể khổ
Người rẽ phăng đêm tối đất dày
Bước ra, ngồi nhập định, hướng về tây
Gọi hết LỬA vào xương da bỏ ngỏ
Phật Pháp chẳng rời tay
Sáu ngã luân hồi đâu đó
Mang mang cùng nín thở
Tiếng nấc lên ngừng nhịp Bánh Xe Quay
Không khí vặn mình theo
Khóc òa lên nổi gió
NGƯỜI siêu thăng
Giông bão lắng từ đây
Bóng NGƯỜI vượt chín từng mây
Nhân gian mát rượi bóng cây Bồ Đề
Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc
Lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi
Chỗ NGƯỜI ngồi một thiên thu tuyệt tác
Trong vô hình sáng chói nét Từ Bi
Rồi đây, rồi mai sau, còn chi?
Ngọc đá cũng thành tro lụa tre dần mục nát
Với thời gian lê vết máu qua đi
Còn mãi chứ! Còn Trái Tim Bồ Tát
Gội hào quang xuống tận ngục A tỳ…”

Lửa thiêu đốt thịt da. Nhưng vẫn còn lại trái tim Bồ tát. Thơ, là tiếng nói của lương tâm tỉnh thức con người. Lửa, không phải đỏ máu hung tàn mà là Lửa của tâm linh soi sáng kiếp người. Lửa làm bừng tình cơn mê. Lửa thắp chờ bình minh sắp tới.

Nhà văn Mai Thảo trong bài viết tưởng niệm thi sĩ đã thố lộ :


“Rồi Vũ Hoàng Chương ra thoát được cái ngục mình. Cuộc phục sinh thành, đã trao cho thi sĩ một chìa khóa ngọc mở vào những ngày tháng cuối cùng, những ngày tháng sung sướng. Và Vũ Hoàng Chương đã mang con người sung sướng ấy của mình đi qua đổi đời, đi qua Cộng sản, đi vào vĩnh viễn. Thời gian ấy sống gần ông (mấy tuần chót ở Gác Mây, mười tháng ở Gác Bút trước lúc bị bắt giữ) cho tới buổi trưa ngày 30 tháng 11 năm 1976, từ chỗ ẩn một vùng ngoại ô Chợ Lớn âm thầm trở lại phường Cây Bàng lần cuối để thắp một nén hương vĩnh biệt trước di ảnh bạn, cho tới những buổi trưa đảo nằm một mình trong một đáy rừng Mã Lai Á khuất tịch, tôi thường suy nghĩ, tìm kiếm lý giải về một cuộc vận động từ bi thảm đưa tới thăng hoa sung sướng phóng thoát của một đời người. Vũ Hoàng Chương đã có được thăng hoa ấy. Qua thái độ ông buổi sáng bị bắt. Trong bốn thnag nằm trong hầm tối. Trong năm ngày trở về Gác Bút. Bằng vào những chi tiết chị Vũ kể lại, sẽ được nói tới ở phần sau này. Tâm thức tôi, thiếu hụt tầm vóc, không sao đạt tới được thăng hoa như bạn. Bởi vậy mà giải thích hiện tượng rất buồn thảm và cũng rất cực nhọc.


Đó là ngọn lửa và trái tim Thích Quảng Đức, ngọn lửa và trái tim tươi thắm phóng thoát trần the từ một ngã tư đường Lê văn Duyệt? Những cuộc đàm đạo trong tao nhã tịch lặng với Thượng Tọa Thích Trí Thủ, một tâm thái phóng thoát khác, ở cái hiên sau xa đời của ngôi chùa Gia Định? (thời gian sau này, Già Lam tuần nào cũng cho đón thi sĩ tới chùa giữ ông cả buổi) Hay đơn giản đó chỉ là sự bắt gặp trên một mức đo tràn đầy của bản thể viên mãn với đời sống, với nghệ thuật, với thi ca, qua những biến thiên cùng ý nghĩa và chân tướng biến thiên được soi tỏ qua cái hình ảnh một người đi mãi, đã vượt khỏi đỉnh núi bấy lâu chắn lấp, thấy được từ cái hết chắn lấp cả biển, cả trời và cả chính mình? Hay là sự mầu nhiệm của tuổi? Sự màu nhiệm mà Nguyễn Khuyến đã thấy trong bài thơ Khóc Bạn bất hủ:” Tuổi già giọt lệ như sương”.

Mấy chục năm trước, thi sĩ đã làm người tiên tri. Đã thấy được những thương hải biến thiên. Đã mô tả những cuộc đời của Việt Nam trôi dạt sau cơn hồng thủy tháng tư năm 1975. Trong tập thơ in thời tiền chiến, có bài thơ Phương Xa có những câu mà mấy chục năm sau thấy rõ rệt là tình cảnh của những người Việt liều chết vượt Biển Đông đi tìm tự do :

“Nhổ neo rồi thuyền ơi xin mặc sóng
xô về Đông hay giạt tới phương Đoài
xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng
Lòng cô đơn cay đắng họa dần vơi
Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh
Bể vô tận xá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh
…. Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang sơ.. “

Tâm linh nào đã khiến thi sĩ viết lên những vần thơ như thế. Có phải, cái phút linh cầu ấy chỉ đến với những người mà tâm hồn sống lạc lõng như lạc vào một thế giới khác, của cảnh giới hoang sơ, của những nỗi bí nhiệm khó ai hiểu biết được. Cái thảm trạng mà cả triệu người vùi mình trên biển đã được mô tả một cách khá chính xác cả về tâm tư lẫn hiện trạng, có lẽ cũng khá kỳ lạ ! Cả triệu thuyền nhân sống lưu lạc khắp mặt địa cầu chắc cũng chia sẻ chung với nhà thơ nỗi niềm ấy.

Thi ca của Vũ Hoàng Chương có nhiều thời kỳ mà lúc nào ông cũng có vị trí của một vì sao Bắc Đẩu, một văn tinh sáng rực cõi trời. Từ thời tiền chiến, với Say, với Mây, đã chễm chệ trên chiếu văn chương, đã được Hoài Thanh & Hoài Chân ghi tên trong “Thi nhân Việt nam”. Đến hai mươi năm văn học miền Nam, cũng Hoa Đăng, Rừng Phong, Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau,.., là những châu ngọc của một thời viết về những tâm sự của muôn đời. Và, đến khi chết, những bài thơ tuyệt mệnh cũng là những áng gương thi ca vằng vặc.

Trong Thi Nhân Việt Nam, có những dòng về Vũ Hoàng Chương, những dòng chữ cảm nhận khá chính xác về vóc dáng thi sĩ lừng lẫy một thời:

“Ý giả Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào xưa của Đông Á: cái nghiệp say.người say đủ thứ : say rượu, say đàn, say ca, say tìnhđong đưa. Người lại còn “hơn” cổ nhân xưa những thứ say mới nhập cảng: say thuốc phiện, say nhẩy đầm. Bấy nhiêu say sưa đều nuôi bằng một say sưa to hơn mọi say sưa khác: say thơ. Vũ Hoàng Chương có cái dụng ý muốn say để làm thơ.cái dụng ý ấy không khỏi có hại. Nhưng một lần kia, bước chân vào tiệm nhảy, người bỏ quên dụng ý làm thơ ngoài cửa, và lần ấy người đã làm một bài thơ tuyệt hay.


Tôi yêu những vần thơ chếnh choáng, lảo đảo mà nhịp nhàng theo điệu kèn khiêu vũ:

……..Âm ba gờn gợn nhỏ
Aùnh sáng phai phai dần
Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân
Lui đôi vai, tiến đôi chân
Riết đôi tay, ngả đôi chân
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió…
Quả là những vần thơ say.


Cái dụng ý làm thơ Vũ Hoàng Chương cũng còn bỏ quên ít lần nữa.


Kể, cái say sưa của Vũ Hoàng Chương là một thứ say sưa có chừng mực, say sưa mà không hẳn là trụy lạc, mặc dù từ say sưa đến trụy lạc đường chẳng dài chi.nhưng trụy lạc hay say sưa đều mang theo một niềm ngao ngán. Niềm ngao ngán ấy ta vốn đã gặp trong thơ xưa. Duy ở đây nó có cái vị chua chát, hằn học và bi đát riêng…”

Sau đó mấy chục năm, khi đã sang sống lưu lạc ở Hoa Kỳ, nhà văn Mai Thảo trong “Chân dung mười lăm nhà văn nhà thơ Việt Nam” đã viết:

“… Một đêm tôi ở lại với ông thât khuya, tới sát giờ giới nghiêm cộng sản. Xã hội thê lương nằm phục bốn chung quanh tường Gác Bút. Ông đưa tôi xem một lá thư Trần Dần.Bị trừng phạt nặng nề, bị treo bút vĩnh viễn, nhà thơ Trần Dần, tài thơ trác tuyệt nhất của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, không được vào Nam, đã gửi cho ông một lá thư đầy những lời lẽ kính trọng như ông vẫn nguyên vẹn là thi bá của cả một thế hệ thi sĩ đã hai miền chia cách suốt 30 năm chiến tranh. Lá thư, tôi chỉ còn nhớ được câu này :”Thơ anh, thơ Đinh Hùng sống muôn đời với thi ca Việt Nam”. Đêm đó, cầm lá thư với nỗi kính phục của Trần Dần đối với ngôi sao Bắc đẩu miền Nam trên tay, tôi nhìn bạn ngồi thư thái êm đềm trước mặt, đã chia sẻ với thi ca một niềm sung sướng thống khoái vô tả.kính phục của Trần Dần chắc còn lớn lao hơn gấp bội. Nếu nhà thơ miền Bắc còn nhìn thấy được cõi thơ cuối đời và cái hiện tượng thăng hoa của tâm thức phóng thoát,ở thi sĩ…”

Nhà văn Võ Phiến, với lối viết nhận định văn học khá đặc biệt cũng có những diễn tảbiểu hiện chân ndung thi sĩ:

“Năm 1982 trên một số báo Đất Mới ở Seatle (tiểu bang Washington) tưởng niệm Vũ Hoàng Chương, bà Quỳ Hương có nhắc lại câu chuyện hồi năm 1960 tại trung tâm Bút Việt ở Sài Gòn, khi giới thiệu diễn giả là Vũ Hoàng Chương nói về thi cà, Nhất Linh đã gọi Vũ thi sĩ là “ông vua thơ”. Thi sĩ tiền chiến đã bao người xuất hiện và thành danh trên báo Ngày Nay hay từ nhà xuất bản Đời Nay của Nhất Linh : Thế Lữ, xUÂN Diệu, huy Cận… Giữa bấy nhiêu tài danh, được Nhất Linh chọn phong vương! Vũ Hoàng Chương tiền chiến có cái thành tích đáng sợ chứ…”

Ở một đoạn khác, Võ Phiến nhận định về những bài thơ hào hùng nhập cuộc, của Hoa Đăng, Rừng Phong, của những ngày bắt đầu của chế độ quốc gia ở miền Nam, ở những kêu gọi nức lòng của lịch sử:

“Nói một bên dấn thân một bên phiêu du, như vậy không có nghĩa cho rằng Vũ Hoàng Chương thoát ra ngoài thế sự, lòng không bận đến cuộc hưng vong của quốc gia.

Ông không nuôi trong lòng cái oán thù sùng sục của kẻ nghèo đói với người giàu, ông không đứng vào hàng ngũ giai cấp này chống giai cấp nọ. Oâng không ca ngơi ánh sáng của chủ nghĩa này, không tố cáo chủ nghĩa kia.. Nhưng ông đâu có bao giờ thờ ơ đối với chuyện đất nước. Sao vàng xòe năm cánh trên năm cửa ô, ông mừng vui ngây ngất. Giặc tây tràn đến, ông khẳng khái đòi trả ta sông núi.nhà cầm quyền cộng sản thiết lập chế độ độc tài khát máu, ông phừng phừng kêu gọi Bắc Tiến. Một tôn giáo gặp khó khăn, ông ca ngợi lửa từ bi, đốt “ thơ cháy lên theo với kinh” Cuối cùng khi miền Nam mất vào tay cộng sản thì ông đi tù, chịu chết, không thay đổi thái độ.

Vũ Hoàng Chương cũng như Nhất Linh, những người quan niệm làm thơ cốt cho đẹp, viết truyện trước hết cốt cho được chuyện hay, những người chơi lan ở suối Đa-Mê, hút htuốc ở gác Mây… những người ấy không ngại cái chết vì nước non. Từ một quan niệm nghệ thuật mà suy diễn đến nhân cách, đến thái độ ở đời, thái độ chính trị của người ta, e là chuyện phiêu lưu…”

Đã có những câu thơ:
“Mặc cho những kẻ mài gươm sắc
Ta chỉ mài riêng ngọn bút này “
Hay:” Giờ điểm rồi đây, hởi Tuổi xanh
Có nghe nét chữ réo tung hoành
Có nghe giòng mực sôi trên giấy
Nhịp bốn ngàn thu Sử Đấu Tranh..”


Nhưng, nổi bật nhất vẫn là những bài thơ tình. Tình yêu đã lên ngôi, với đam mê như ma túy cho đời. Những cõi tình thiết tha, của thời gian không tuổi tác, của không gian vời vợi qua những biến thiên của cuộc nhân sinh. Thơ là những ám ảnh đeo đuổi suốt quãng đời, qua những mốc thời gian đánh dấu bằng kỷ niệm.

Tập thơ “Ta đợi em từ ba mươi năm“ mà các môn sinh của ông đã in lại ở hải ngoại có lẽ là một tập thơ mà ông cho rằng có nhiều bài đắc ý nhất của mình. Trong bài mở đầu thi tập, tác giả viết:

Đã từ lâu tôi có ước nguyện gom góp lại những bài thơ “tình yêu” viết trong tuổ hoa, để in thnah tập riêng, điều đó sẽ giúp tôi sống trọn vẹn cùng muôn ngàn ảo ảnh xa xưa.


Đành rằng tình yêu không chịu ràng buộc nào, giới hạn nào- vâng, Tình Yêu vốn không tuổi!_ nhưng tôi nhiều khi cảm thấy mình đặc biệt ưa thích những bài thơ ”tình yêu” viết từ trước tuổi Bốn Mươi; nghĩa là trước buổi Qua Phân đau đớn, trước cái giờ phút tôi giã biệt hồ Gươm, cửa Bắc để gắng gượng làm thân “con chim đại bàng vỗ cánh dời sang Nam minh..”


Bài thơ “ Chờ đợi hoài công”như một lời tụng ca của trái tim cho một tình yêu muôn tuổi. Ba mươi năm, quá dài cho một đời người, nhưng lại thật ngắn, với cuộc thi ca chép bằng ngôn ngữ bất diệt :

”Ta đợi em từ ba mươi năm
Uổng hoa phong nhụy hoài đêm rằm
Heo may chớm đã lên mùa gió
Ngăn ngắt chiêm bao lạnh chỗ nằm
Cúc tả tơi vàng mộng xác xơ
Hiên sương ngõ lá vẫn trông chờ
Đêm dài quạnh quẽ đôi song lớn
Nguyệt đọng vòng tayùa giấc mơ
Ngai trống vàng son lợt sắc rồi
Lòng ta Hoàng Hâu chẳng về ngôi
Hồ ly không hiện người không đến
Chỉ ánh trăng vào khuôn cửa thôi…”


Viết về Vũ Hoàng Chương, chỉ một bài thôi không đủ. Bởi, trong cái thế giới vừa đơn sơ vừa phức tạp, vừa khinh bạc vừa yêu đời, vừa sống của một đời sống nào chỉ có trong cổ tích nhưng lại dấn thân vào cuộc. Cũng như, thơ có lúc gọt dũa kiêu sa nhưng lại có lúc bình dị của ngử ngôn thường nhât, khi thì là thơ tự do phóng túng nhưng lúc là những bài Đường thi vần điệu nghiêm túc ý nghĩa thâm trầm. Dù là thơ” nhị thập bát tú” cô đọng hay thơ “truyền Kiều” châu ngọc, hoặc thơ lục bát, bảy chữ, tám chữ thời “Thơ mới“ ngày nào, tất cả đều là những tìm kiếm của một đời thi thánh. Và, ở ngôi Bắc Đẩu của thi ca Việt nam, suốt một chặng đường mấy chục năm, để đến lúc mất, thơ vẫn nở hoa trên mộ như bài thơ nào truyền tụng :

“ta ngắm trông vào cái chính ta
hồn xanh trong nếp áo thu già
Tay kia từng níu trời cao mãi
Nay chống ô chờ đất nở hoa”

Vâng thơ đã nở hoa trên mộ phần thi sĩ, như người đời đã thấy một sự lạ sau ba tháng chôn cất ở nghĩa trang. Nhưng, ở một liên tưởng nào, thơ nở hoa muôn đời trên thi ca không tuổi của cõi người…


Nguyễn Mạnh Trinh

Post Reply