Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!
(Gởi những ai sợ hãi bóng đêm)
Hồi tôi sống với ngoại, lúc sáu, bảy tuổi gì đó, tôi bắt đầu biết sợ... ma. Sợ vì tin rằng có ma trên đời. Để ý thì thấy, lần nào ngoại tôi vấp chân, bà cũng từ tốn nhìn quanh, giọng nửa trách móc, nửa tôn kính: “Mô Phật, ai mà giỡn kỳ, đẩy bà già này làm chi?”. Không ai trả lời, chỉ có gió rợn sau nhà. Đám giỗ, ngoại bày năm mâm cúng, lúc nâng ba cây nhang nghi ngút khói ngang trán, ngoại lâm râm vái có kinh có kệ có dò có dọc như thể người nào đó đang ngồi chình ình trước mặt. Tàn nhang cong queo, ngoại mừng húm nói bữa nay có ông bà về. Nhưng ngoài tôi ra, trước sân chỉ rụng xuống một vài lá vú sữa rập rờn. Tôi tin có những người nào đó tồn tại quanh mình, trong một thế giới vô hình, dù ngoại không hề dọa ma. Vì vậy, suốt những năm sống với ngoại trong khu vườn gần đồn Chẹt, tôi chẳng bao giờ lẻn ra vườn bởi ghê cái ao trước đây có ông lính cộng hòa say rượu té chết, một mình không dám ra sông vì ngoại kể hồi chiến tranh, sông trôi xơ xác những xác người. Cũng không leo trèo hái trái trên những cây me cổ thụ, loại cây mà ma khoái ở (thì nghe nói vậy). Nửa đêm thoi thóp nghe chim cú kêu bên hè (khốn khổ, vì vườn xưa, nhiều cây cao nên chim cú thích ở, đêm nào cũng kêu xa kêu gần). Quãng đó tôi sống tốt dễ sợ, đến nỗi không dám... ăn vụng vì nghĩ mình làm bất cứ chuyện xấu xa nào cũng có kẻ nhìn thấy, ớn muốn chết.
Ma đem lại cho tôi rất nhiều cảm xúc mãnh liệt (điều này hơi giống... tình yêu). Trong sợ hãi có một chút thích thú. Muốn quay đi nhưng cũng rất tò mò, hiếu kỳ. Sợ, nhưng thích xem phim kinh dị, tới đoạn rùng rợn lại che mặt. Người sợ ma nhất luôn có bộ sưu tập nhiều chuyện ma nhất. Và trí tưởng tượng được sử dụng hết cỡ. Những cây tre cọ vào nhau trong đêm giông, tiếng cú kêu, tay chuối khô vật vờ bay trong đêm, vài con bướm lớn màu xám lặng lẽ đậu im lìm trên vách, một góc nhà hơi tối và lạnh lẽo... đều là mối dây liên hệ với... ma. Ngay cả chạy trên đường, tiếng bước chân mình mà tưởng chân ma rượt, báo hại càng chạy càng thấy nó đuổi sát bên mình. Buộc phải sợ, thế giới đó quá bí hiểm, chưa ai được mon men ra biên giới giữa hai cõi hỏi thăm, người đi về cõi đó cũng không trở lại để... kể.
Phải sợ, vì người ngoài sáng, ma trong tối. Ma lượn lờ quanh mà mình chẳng thấy, đến lúc chợp mắt, ma lại hiện ra trong những giấc chiêm bao. Tôi, cũng như nhiều người chưa thấy ma bao giờ, nhưng nghe kể chuyện đã thấy ám ảnh, hãi hùng. Người đời thêu dệt hàng ngàn câu chuyện ma khác nhau, nhưng đối tượng chính thì giống hệt, thường là những người phụ nữ xinh đẹp mặc toàn đồ đen hay trắng (có lẽ thế giới đó không chuộng mốt, chưa nghe ma mặc áo chim cò, áo yếm hoặc váy ngắn), tóc đen dài, và khi muốn làm con người sợ hãi, ma khoe cái lưỡi dài, đỏ lòm. Ma hay vật vờ than khóc trên những cây cổ thụ, hay mời người ăn bánh (nhưng khi tỉnh ra thì thấy bánh là bùn). Rất nhiều truyện kể ma đứng bên đường quá giang xe những người đàn ông, rồi biến mất bằng nhiều cách, hoặc đi vào ngôi cổ miếu nào đó, hoặc lặng lẽ tan đi mặc cho anh nọ vẫn nói huyên thuyên đằng trước.
Những câu chuyện ma bắt đầu làm cho tôi thích thú, đơn giản vì tôi hết sợ. Tôi không tin tuyệt đối vào sự huyền bí, nếu có thì ma đâu sao không vặn cổ bọn người xấu đang nhởn nhơ giữa đời kia. Hiểu ra điều đó, tôi tiếc vì mất đi một lý do để mình sống... tử tế. Nghịch lý, là khi tôi tỉnh táo, thấu đáo được một điều gì đó thì đời bỗng buồn hơn.
Bỗng ngỡ ngàng thấy người đáng sợ hơn ma. Chẳng biết được ai là bạn, là thù, ai yêu mình, ai ghét mình, trong khi ma đã tách bạch ở một giới tuyến tối tăm khác. Nói tới ma, biết ngay là giặc. Còn người thì lẫn lộn trắng đen, khó nắm bắt. Ma muôn đời đơn điệu vài chiêu dọa người, người lại nghĩ trăm phương nghìn cách hại nhau. Vậy mới sợ.
Phát hiện ra điều này, tôi buồn suốt một khúc thời gian, ganh tị với kẻ sợ ma rón rén trông buồn cười mà hạnh phúc. Tháng Giêng rồi, tôi đi H. chơi. Nghe nói nhà trọ xây trên nền nghĩa địa cũ, cả đêm hai đứa con gái cùng phòng mở đèn sáng rực, nghe gió rít qua khe cửa sổ, trằn trọc chờ... ma. Báo hại tôi ngủ không được. Trăn trở nghe bụng cồn cào, tôi mò ra quầy bar, mua ly sữa nóng. Anh chàng trực quầy cao lớn đang ép nước trái cây. Lúc anh ngẩng lên, tôi giật mình trước nét mặt đẹp, rất nam tính nhưng lạnh tanh, thật ngầu. Lúc ấy tôi bị bội thực những nụ cười giao đãi nên thấy thích anh chàng này, đứng nấn ná nói một vài câu chuyện bâng quơ. Tôi kể mình vừa thấy ma. Anh cười. Tôi nói em thấy ma thiệt. Anh lại cười. Tôi nói bạn em cũng thấy ma, nó đang sợ phát khóc trong phòng. Mắt anh ta nhìn tôi có vẻ tần ngần, cuối cùng anh hỏi, con ma ra làm sao. Tôi ngập ngừng, ra bộ vẫn còn hãi hùng lắm, nói chị đó mặc đồ nâu đen, tóc dài, cài nơ đen. Anh ta im lặng, nhìn chăm chăm vào cái máy xay đang kêu tè tè. Anh bỗng ngẩng lên: “Em à, con nhỏ đó hiền lắm”.
Tôi đứng day ly sữa trong tay, cảm động muốn chết. Chẳng ai nói về ma, về nỗi sợ hãi thường trực trong lòng bằng cái giọng ấm áp, bao dung, bình thản, chân thành như vậy. Như thể anh đang nói về một đứa em nhỏ, một người bạn thân, một đồng loại...
Thật đơn giản, lâu nay người ta cứ nghĩ ai đó là kẻ thù trong khi họ cũng có thể làm bạn. Tôi lại tin có ma ở trên đời, nhưng không phải để sợ hãi...
Ngày 25 tháng 6 tới đây một Đại nhạc Hội Rất lớn lao , qui tụ Nhiều Nam Nữ ca sĩ Tên Tuổi ở Nam Cali , sẽ được tổ chức ở Sân Vận động Trường Trung học BOLSA thuộc Thành phố Garden Grove. Để tổ chức gây quỹ Cứu Trợ Thương Phế binh QLVNCH ,hiện còn ở Quê nhà.
Được biết buổi Đại nhạc hội này do Hội H.O Cứu trợ Thương phế Binh QLVNCH phối hợp với báo giới ,Truyền thông , Trung tâm Asia ,Tổng hội Sinh viên. v..v..
Tất cả các ca sĩ nổi tiếng đều TÌNH NGUYỆN tham gia không nhận thù lao.
Sẽ có tất cả 4 ban nhạc đảm trách với những MC - Kỳ Duyên , Leyna
Nguyễn , Minh Phượng , Việt Dũng , Trịnh Hội ,Trần quốc Bảo và Nam Lộc.
Giá vé tượng trưng là 10 $ USA.
▪ Ngựa về gục khóc trường giang lạnh
Gươm súng đưa chàng theo núi sông
(Khúc Minh)
George Patton, viên tướng lừng danh trong Đệ Nhị Thế Chiến của quân lực Mỹ, người đã đánh bại Tướng Rommel của Ý ở Châu Phi, đã áp đảo toàn diện quân Đức quốc xã ở Châu Âu, cũng là người nổi tiếng về những lời hiệu triệu với quân sĩ của ông trước những trận đánh quyết định. Ông nói: “ Người lính phục vụ hữu hiệu nhất cho Tổ Quốc mình không phải bằng cách chết cho tổ quốc, mà là chiến đấu hết sức mình để cho những người lính bên phe đối phương phải chết cho tổ quốc của họ.”
Chiến tranh luôn luôn đồng nghĩa với chết chóc và hủy diệt. Vì đó là nhiệm vụ của người lính. Bạc như dân, bất nhân như lính. Như Patton đã nói, người lính phải làm hết sức để tiêu diệt kẻ thù, đem thắng lợi về cho tổ quốc mình. Nhưng trong chiến trận, cả bên thắng lẫn bên thua, đều có những tổn thương, mất mát. Và cái chết của những người lính trên trận địa – dù bên thắng hay bên thua – đều đáng ngưỡng mộ như nhau. Họ đều đã nằm xuống cho tổ quốc của họ. Họ đều đã đi vào cuộc chiến theo tiếng gọi của đất nước mình, dân tộc mình.
Vì thế, dân tộc nào cũng có ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong để tưởng nhớ đến những người con của mình đã nằm xuống trên chiến trường.
Cuộc chiến tranh Việt Nam đã phân hóa nước Mỹ không chỉ giữa thế hệ chiến tranh cùng thời, mà còn gây tranh cãi ở cả thế hệ tiếp theo vốn rất mù mờ về những nguyên nhân khiến nước Mỹ đã đem hơn 2 triệu con em mình đi chiến đấu ở một vùng đất xa lạ tên gọi là Việt Nam. Trong số đó, hơn 58 ngàn đã trở về nhà trong những chiếc quan tài có phủ quốc kỳ. Khi chiến tranh chấm dứt, có hơn hai ngàn năm trăm chiến binh Mỹ tuy được báo cáo là chết hoặc mất tích trong chiến trận nhưng vẫn chưa tìm được xác hoặc chứng cứ xác định sự hy sinh của họ.Sau hơn 30 năm nỗ lực tìm kiếm, đến nay vẫn còn 1,870 người (MIAs) chưa được xác nhận .
Mặc cho những tranh cãi kéo dài, mặc cho những vết thương gọi là Hội Chứng Việt Nam vẫn còn mở miệng trong tâm thức thế hệ chiến tranh nay đã chuẩn bị về hưu, mặc cho nỗi ám ảnh về sự thua trận của một nước Mỹ hùng cường trước một đối thủ không cân sức, nước Mỹ vẫn tưởng nhớ đến những đứa con của mình đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh ấy. Họ là những người đã hy sinh mạng sống của mình để đáp lời kêu gọi của Tổ Quốc. Nếu sự có mặt của nước Mỹ trên mảnh đất Việt Nam 30 năm về trước là một sự sai lầm, thì sự sai lầm ấy thuộc về các chính trị gia cầm quyền và họ phải chịu trách nhiệm với lịch sử. Đối với người lính, không hề có cuộc chiến tranh sai hay đúng, bởi vì xương máu của họ, sự sống của bản thân họ cùng với gia đình, không thể bị đem ra đánh cược trên một bàn cờ đúng sai thua được.
Tương tự như vậy là cuộc chiến tranh ở Iraq hiện nay. Một lần nữa, nước Mỹ lại đứng trước một cuộc chiến tranh hao tổn nhân lực, vật lực tuy không thực sự xẩy ra ngay trên đất Mỹ. Hàng ngày, các màn ảnh truyền hình truyền đi trực tiếp những cảnh bom đạn , chết chóc trên mảnh đất đầy bạo lực này. Đã có hơn 2,400 lính Mỹ nằm xuống nơi đây, trong đó, có cả một người Việt Nam trẻ tuổi tình nguyện gia nhập lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ (Andrew Dang, 20 tuổi, gia nhập quân đội ngày 13 tháng 4 năm 2003, tử trận tại thành phố Faluja, Iraq, ngày 2 tháng 3 năm 2004 ). Tuy không hoàn toàn đồng ý với quyết định của chính Phủ Bush đưa quân tham chiến ở Iraq, nhưng dân Mỹ luôn trân trọng sự hy sinh của con em mình. Những người mãn hạn nhiệm vụ, sống sót trở về vẫn được đón tiếp như những anh hùng. Những người nằm xuống vẫn được đón tiếp bằng nước mắt, sự biết ơn và lòng ngưỡng mộ.
Đó là đạo lý của một quốc gia , một dân tộc, một tập thể.
Còn với những người Cộng sản thì sao ?
Sau ngày 30 tháng 4, các nghĩa trang của quân đội miền Nam, nơi chôn cất những người lính đã nằm xuống cho một lý tưởng mà họ theo đuổi, đã bị những người Cộng sản chiến thắng san bằng, cào rỡ để dựng trại lính, xây nhà hoặc trồng tỉa.
Đó là những hành vi độc ác, thiếu văn hóa và không mã thượng. Truyền thống lâu đời của người Việt không tệ mạt như vậy. Chỉ vì những người theo Chủ nghĩa Cộng sản đã mù quáng đi theo một học thuyết khộng tưởng, vô luân, cổ vũ cho hận thù giai cấp nên đã không thừa nhận những giá trị nhân bản nền tảng cho sự tồn tại của thế giới con người. Họ không thừa nhận và tôn trọng cả sự kiện là trong lúc còn chiến tranh, nhiều lần họ chứng kiến quân đội miền Nam – phe thù địch của họ – chôn cất tươm tất những đồng đội của họ đã ngã xuống tại chiến trường theo đúng truyền thống nghĩa tử là nghĩa tận của văn hóa Việt Nam.
Sự hy sinh của người lính trên chiến địa, dù ở bất cứ phe nào trong cuộc đối đầu, đều rất đáng được tôn trọng và ghi nhớ.
Sau chiến tranh, chế độ cầm quyền ở Việt Nam còn xử dụng số hài cốt lính Mỹ mà họ tìm thấy được như những món hàng mặc cả với chính phủ Hoa Kỳ, không đếm xỉa gì đến nỗi đau của thân nhân cha mẹ vợ con những người lính ấy, họ vẫn ngày đêm trông chờ được nhìn thấy dù chỉ là một đốt xương, chút kỷ vật quen thuộc để yên lòng rằng , quả thật người thân của họ đã không còn sống trên trần gian này.
Cũng những con người biến chất vì hận thù giai cấp ấy, bây giờ chính thức lên tiếng rêu rao về con số 300 ngàn bộ đội mất tích, tử thương trong chiến tranh đến nay vẫn chưa tìm được nơi họ đã nằm xuống hoặc những nấm mồ chôn vội vã với những dấu mốc cắm sơ sài nên đã hoàn toàn mất dấu. Tất nhiên, nỗi đau của thân nhân 300 ngàn tử sĩ nói trên cũng giống như nỗi đau của bất cứ một con người nào trên thế giới này có con em chồng cha chết trận. 30 năm qua, những người thân của họ cũng đã sẵn sàng tốn công tốn của để đi tìm, nhưng ngược lại với những người cùng cảnh ngộ bên Mỹ, họ không hề nhận được sự trợ giúp nào – hoặc nếu có thì rất nhỏ, không đáng kể - về phía chính quyền, những người đề xướng ra cuộc chiến tranh ấy để con em của họ phải hy sinh.
Thân nhân của những tử sĩ trong quân đội miền Nam lại càng thêm phần chua xót. Họ đã không còn một chính quyền để giúp họ trong công cuộc tìm kiếm chút dấu vết còn lại của người mất tích. Thậm chí, cuộc sống hàng ngày của họ còn bị đe dọa, hạn chế vì có con em chồng cha đi lính rồi hy sinh cho quân đội miền Nam.
Nhưng dù ở bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, người ta cũng không được phép quên chồng cha con em của mình đã hy sinh trong cuộc chiến . Đạo lý con người, dù thuộc bất cứ nền văn hóa nào , cũng không cho phép người ta được coi nhẹ bổn phận ấy. Chính vì thế, mà chủ nghĩa cộng sản phi nhân vô thần phải bị cáo chung.
Nỗi đau của chiến tranh thì vô tận. Bởi vì lịch sử nhân loại được viết bằng máu và nước mắt của con người trải qua nhiều thế hệ, với những lỗ hổng chỉ được lấp đầy bởi hằng hà sa số xác người nằm xuống trên chiến địa. Bao lâu còn lịch sử nhân loại, sẽ vẫn còn những cuộc chiến tranh, vì đó là hoạt động tất yếu và cách thức chứng minh sự tồn tại duy nhất của mọi quần thể chủng tộc. Và tất nhiên, đội ngũ những oan hồn tử sĩ chập chờn trong cõi vô hình sẽ ngày một thêm đông đảo.
Không tôn trọng và tưởng nhớ những người lính đã nằm xuống cho sự tồn tại của một tập thể, một quốc gia, một dân tộc, thì tập thể ấy, quốc gia ấy, dân tộc ấy chỉ là một đàn thú hoang tụ tập nhau lại nhằm mục đích đi kiếm mồi mà thôi.▄
Bí mật thành công của Dan Brown
Trong hai ngày 13 và 14.3 qua, Dan Brown, tác giả cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất thế giới từ 3 năm trở lại đây, The Da Vinci code, đã đi hầu toà ở tư cách là một nhân chứng, trả lời cho những cáo buộc ông đã “đạo văn”.
Mật mã Da Vinci , sách bán chạy khắp thế giới năm rồi và đã được dựng thành phim
Là người luôn tránh né đám đông, nhà văn Mỹ này đã không thể không trình diện toà thượng thẩm ở London kể từ ngày 27.2, khi hai sử gia và nhà nghiên cứu Michael Baigent, Richard Leigh tố cáo ông đã trộm ý tưởng chính mà họ đã viết trong cuốn The Holy Blood and the Holy Grail phát hành từ năm 1982.
Đó là lý thuyết cho rằng Jesus Christ đã có con với Maria Magdalene, người con ấy sau này sống ở Phap, bí mật dòng dõi của Jesus Christ được bảo vệ bởi các tu sĩ Dòng Tu sĩ Đền thờ.
Tác giả thứ ba có tham gia vào cuốn The Holy Blood and the Holy Grail, ông Henry Lincoln, nay đã ngoài 70 tuổi, thì không tham gia vụ kiện. Chỉ sau khi The Da Vinci code trở thành sách bán chạy khắp thế giới thì các tiểu thuyết trinh thám mà Dan Brown viết trước đây, Angels and Demons; Deception Point… mới được nhiều người tìm đọc.
Từ sự hỗ trợ của vợ
“Tôi rất ngỡ ngàng khi nghe tin này, đó là chuyện hoàn toàn bịa đặt vì tôi biết đến cuốn ấy sau khi đã thu gom nhiều tài liệu lịch sử và sắp đặt ý tưởng để hoàn tất sách của mình,” ông nói. Qua lời khai trong một văn bản dài 69 trang ông trình cho toà xem xét thì ít nhất trong số 40 triệu người đã mua The Da Vinci code đọc từ năm 2003 đến nay có thể phần nào biết được nhờ đâu, nhờ ai mà ông đã thành công lớn đến như vậy. “Tôi nhớ mình ngồi phác thảo nội dung chính của The Da Vinci code trong căn phòng giặt nhỏ xíu, trên chiếc ghế gỗ dặt cạnh cái giá ủi áo quần dùng làm bàn, ở nhà của bố mẹ tôi,” Dan Brown viết như thế.
Đằng sau thành công của tác giả Da Vinci Code là sự giúp sức của người vợ.
Và “phát hiện” quan trọng hơn từ tài liệu mà ông trình cho quan toà là vai trò của vợ ông trong quá trình hình thành cuốn The Da Vinci code. Có thể nói tóm tắt rằng không có bà Blythe Brown thì không có cuốn tiểu thuyết bán chạy nay đã được chuyển thành phim truyện có kinh phí lớn, diễn xuất của ba tài tử nổi tiếng thế giới (gồm Tom Hanks, Audrey Tautou và Jean Reno) và dự kiến khởi chiếu từ ngày 19.5 trở đi. Nhờ nó mà Dan Brown nay xếp hạng 6 trên danh sách Forbes những nhân vật nổi tiếng thế giới và giàu có nhất năm 2005 với tài sản khoảng 77 triệu USD.
Theo nội dung bản khai ấy thì rõ ràng bà Blythe, nay 53 tuổi đã là “đối tác âm thầm” nhưng đắc lực nhất của Dan Brown, 41 tuổi, kể từ 16 năm qua. Từ khi The Da Vinci code trở thành tiểu thuyết bán chạy, đến nay bà Blythe chưa một lần xuất hiện trước báo giới, nhưng Dan Brown không bao giờ quên cám ơn vợ ở các trang đầu các tiểu thuyết của mình. Nay trước toà, ông còn nói rằng chính Blythe, một hoạ sĩ kiêm sử gia nghệ thuật, là “cảm hứng” cho ông khi viết The Da Vinci code.
Họ lần đầu quen nhau vào năm 1991 khi Blythe Newlon, một phụ nữ quê ở Palmdale, California, làm giám đốc và phát triển nghệ thuật ở Trường quốc gia sáng tác ca khúc tại Los Angeles. Dan Brown, người ở New England, kể rằng, “khi tôi còn là một con cá bị lôi ra khỏi nước, cố kiếm sống với nghề soạn lời ca khúc tại Los Angeles thì tôi đã quen Blythe. Lúc ấy tôi đã soạn cho mình một danh sách liệt kê 187 loại người cần phải tránh và đã đưa nó cho Blythe đọc, Blythe cười nhưng sau đó đã gửi một phần danh sách ấy đến cho một số chuyên gia săn lùng tài năng sáng tác văn học. Thật không ngờ, tôi đã nhận được nhiều cú điện thoại của họ và có người đã đề nghị mua nó với giá 12.500 USD”.
Rồi Dan Brown đã hoàn tất cuốn tiểu thuyết Angels and Demons. Nhưng thay vì in 60.000 cuốn như kế hoạch ban đầu, nhà xuất bản nọ chỉ in 12.000 bản. “Đó là một tin buồn cho tôi và Blythe, chúng tôi đành phải bán chúng ở các hội chợ sách ít nổi tiếng. Thời ấy chúng tôi không thoải mái về tài chánh”.
Và từ nỗ lực bản thân
Họ đã thành hôn với nhau vào năm 1997 và cho đến nay vẫn chưa có mụn con nào.
Ngoài việc được vợ phụ giúp đắc lực trong khâu lục tìm tài liệu lịch sử, tôn giáo, văn học làm chất liệu cho The Da Vinci code, bí mật thành công của Dan Brown còn được giải thích bởi sự chăm chỉ làm việc của ông. “Tôi thường thức dậy lúc 4 giờ sáng, tập thể dục rồi ngồi vào bàn viết”, ông tâm sự.
Ông nay vẫn duy trì thói quen làm việc như thế. Cuốn tiểu thuyết kế tiếp mà ông viết về nhân vật giáo sư Robert Langdon sẽ có tựa là The Solomon key, “đề tài về Hội thợ nề, một dòng hội kín lâu đời nhất trong lịch sử,” ông tiết lộ.
Khiến đau thương thấm tràn, lấp Thuận An, để lan biển khơi . . .
(Tiếng Sông Hương - Phạm Đình Chương ).
Bài hát cũ hàng gần nửa thế kỷ. Tác giả bài hát cũng đã hóa ra người thiên cổ từ nhiều năm về trước, nhưng, miền Trung nước Việt vẫn cứ nghèo, mùa đông vẫn cứ thiếu áo và hè thì vẫn cứ thiếu ăn. Và, những cơn bão lụt, hàng năm cũng vẫn cứ theo với thời gian mà quay về.
Những ngày giữa tháng 5 vừa qua, cơn bão số 1 – còn có tên là Chan Chu, đã tràn vào vùng biển miền Trung, phủ một màu tang trắng xóa lên nhiều tỉnh miền Duyên Hải, nặng nhất là ở Đà Nẵng, rồi Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiền –Huế, Bình Định, Bình Thuận –Phan Thiết . . .
1.
Khởi đi từ biển Thái Bình Dương ngày 8/5/2006, Chan Chu băng qua quần đảo Phi Luật Tân, rồi đổ vào biển Đông. Bất ngờ, ngày 15/5/2006 cơn bão quay chiều, ngược thẳng lên hướng Bắc. Vừa bị bất ngờ, vừa thiếu phương tiện thông tin liên lạc, những đòan tàu ngư dân Việt Nam thuộc Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi đã trở thành những nạn nhân trực tiếp của cơn bão Chan Chu, cơn bão đầu mùa vùng biển Thái Bình Dương, cơn bão đầu mùa một vùng quê hương nghèo khó.
Tính cho đến sáng ngày 20/5/2006, con số người chết ghi nhận được từ 30 cho đến 50 ngư dân. Con số mất tích thì khác biệt khá lớn, từ 143 cho đến 300. Đó là chưa kể những đòan tàu đánh cá mà đất liền vẫn chưa có cách nào liên lạc được, nên không được nằm trong danh sách mất tích. (*)
Theo một phóng viên ở trong nước, thì “không khí tang tóc bao trùm cả dọc bãi biển Thanh Bình (Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng). Khi hi vọng sống sót của những người bị nạn càng trở nên mỏng manh thì trên bờ biển từng chiếc lán được thân nhân, gia đình những người bị nạn dựng lên. "Dù gì thì cũng mong còn tìm được xác mà đưa về chôn cất". Đó là lời một người vợ tức tưởi khi nói về người chồng mất tích của mình, hòa với tiếng tức tưởi của chị là tiếng khóc thút thít của đứa con gái nhỏ 4 tuổi, và đứa em 17 tháng tuổi thẫn thờ bên người mẹ mắt đã hóm sâu sau mấy đêm thức trắng nhưng chứa đầy nỗi tuyệt vọng.
Ở một chỗ khác, là những bàn thờ được dựng lên ngay trên bãi cát, hướng về bờ biển. Những bát nhang nghi ngút, những tấm ảnh đàn ông trụ cột trong gia đình, và những lời khấn vái, khóc lóc, kể lể và cả nguyền rủa sự độc ác của thiên nhiên.
Cả những hình ảnh người mẹ gìa ngất đi khi không có tin con (có bà mẹ không phải chỉ mất một đứa con). Những đôi mắt khô khốc của người cha nhắm lại cũng hình dung ra được cái phút giây cơn bão cuốn con mình vào dưới đáy biển khơi, vì đời ông, cũng đã bao phen sống sót qua những cơn thịnh nộ của đất trời.
Trong một căn chòi xơ xác cuối làng, 5 đứa bé nằm co quắp ôm nhau. Đứa lớn nhất mới 14 tuổi và đứa nhỏ nhất 14 tháng. Người cha đi biển đã mấy hôm không tin tức. Người mẹ, nghe tin bão, đã hóa điên, cứ lang thang suốt ngày suốt đêm trên bãi biển vừa gọi tên chồng vừa cười sằng sặc
Đã bảo rằng “ Trời hành cơn lụt mỗi năm . . . “
20 năm trước, một người mẹ đã trở thành góa bụa vì một cơn bão cuốn đi mất người chồng, người cha trong gia đình. Bà ở vậy nuôi 2 đứa con gái, lo cho chúng có được tấm chồng chăm chỉ làm ăn. Nay, cùng với hai con gái phút chốc trở thành góa bụa như bà, đau lại nỗi đau từ 20 năm trước, bà kinh nghiệm rằng, nỗi đau 20 năm trước và nỗi đau 20 năm sau đều quá mức chịu đựng như nhau. Với bà, cuộc đời này quả thật bất công. Ông Trời này, quả thật không có mắt.
Người sống sót trở về thì như những cái xác không hồn. Anh thanh niên ngồi bệt xuống giữa bãi cát, mắt vẫn đăm đắm nhìn ra biển khơi, nơi anh vừa được cứu thoát sau nhiều ngày tưởng chết, ôm mặt khóc như một đứa trẻ. Nhiều bạn bè, thân nhân của anh không có được may mắn như anh nên đã không sống sót trở về. Anh đau lắm, vì bây giờ làng đánh cá chỉ còn lại được vài người đàn ông hiếm hoi, trong đó có anh.
Chuyện bão ở những làng ven biển chuyên sống bằng nghề chài lưới vốn không có gì lạ. Nhiều gia đình cha truyền con nối với nhiều thế hệ ngày đêm lênh đênh trên sông , trên biển, cho nên, cái lời nguyền rủa “nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá “ cũng chẳng làm họ nao núng , nghĩ đến việc bỏ nghề, dù biết “sinh nghề, tử nghiệp“. 50 năm trước, 30 năm trước, 20 năm trước, 10 năm trước, bão đã từng gieo tang thương cho nhiều gia đình ngư dân trên miền Duyên Hải Việt Nam. Nhưng không phải vì thế mà người ta (các giới chức chính quyền) cứ để mặc cho những mất mát đau thương ấy tiếp tục tái diễn hàng năm, khi mà khoa học kỹ thuật ngày nay đã có thể tiên đóan một cách chính xác mọi thay đổi của thiên nhiên, khiến những “cơn thịnh nộ“ khủng khiếp trong quá khứ như gió xóay (tornado), sóng thần (tsunami) và bão cấp 8 (hurricane) nay đã không còn gây nên những thiệt hại về nhân mạng như xưa nữa.
Sống giữa thời đại bùng nổ về thông tin, về khả năng thần sầu của kỹ thuật. mà sao vẫn còn những thảm cảnh lẽ ra có thể tránh được.
2.
Thực ra, đường đi của cơn bão Chan Chu không có gì bất ngờ. Ngày 13/5, tin bão vào đến Phi Luật Tân. Ngày 15/5, trên màn hình các máy dò tâm bão ở Phi Luật tân, ở Hawaii, ở Hồng Kông, ở bộ chỉ huy viễn dương Hải quân Mỹ xác định rõ ràng hướng đi của Chan Chu đang trở lên phía Bắc, khu vực Đảo Hải Nam và Đài Loan. Các tỉnh Duyên hải miền Trung Việt Nam thở phào nhẹ nhõm, vì bão đã “tha” trận này. Tất cả các tàu bè của ngư dân Trung quốc được lệnh thu hết vào bờ, tránh bão. Không có thiệt hại nhân mạng nào được ghi nhận về phía Trung quốc
Nhưng các tàu bè đánh cá của Việt nam thì không biết được hướng đi mới của bão mà đất liền đã biết từ rất sớm. Trên các tàu, không có những phương tiện liên lạc hữu hiệu, ngọai trừ một số máy móc cũ kỹ chỉ họat động khi trời trong gió nhẹ. Vì thế, các ngày 17 và 18 tháng 5, họ bị lọt vào đường đi của tử thần mà các các máy dò thông dụng đã vẽ ra từ ngày 15 tháng 5.
Trước tình trạng đó, báo chí trong nước đã đặt được những vấn đề một cách khá sắc sảo. Họ nêu vấn đề trách nhiệm. Theo họ,” không thể đổ trách nhiệm cho cơn bão Chan Chu vô tri vô gíac, không thể đổ trách nhiệm cho những tàu đánh cá, cho những người đi biển, bởi họ không còn lựa chọn nào khác trong cuộc mưu sinh này. . . Lâu nay chúng ta cứ hồ hởi hô: tiến ra biển khơi, đánh cá xa bờ, nhưng gần như "quên" trang bị cho ngư dân đánh cá xa bờ những phương tiện thông tin liên lạc tốt, những kiến thức cần thiết nhất khi gặp bão gặp nạn, và phổ biến cả những kinh nghiệm tránh bão chứ không chỉ là kinh nghiệm đánh bắt cá. Hình như chúng ta chưa bao giờ nghĩ phải huấn luyện, tập huấn cho ngư dân đánh cá xa bờ thành những người đi biển chuyên nghiệp, những thủy thủ đánh bắt hải sản theo đúng nghĩa. Chúng ta chỉ cho họ vay vốn đóng thuyền, và thế là hết, coi như xong nhiệm vụ. Và không chỉ đến khi tai họa xảy ra, mới lo giải quyết hậu quả. . . (Thanh Thảo – Thanh Niên On-line 21/5/06)”.
Về phía những người có trách nhiệm, trong khi những ngư dân Việt Nam đang ở trong vùng tâm bão chiến đấu tuyệt vọng với sóng to gió cả, thì họ, hoặc là “không biết có tàu đánh cá của dân mình trong vùng bão (Phó ban chỉ huy phòng chống bão lụt thành phố Đà Nẵng), hoặc “không nghĩ mật độ tàu thuyền cao như vậy. Với phạm vi quá xa, hơn 1,400 km, là vượt khả năng thông tin của chúng ta . . .(Trưởng ban phòng chống bão lụt trung ương).
Ngay cả khi biết tin hàng trăm ngư dân của các tỉnh duyên hải cùng với hơn 30 chiếc thuyền đánh cá hiện đang lâm nạn ngòai xa khơi, mãi đến ngày 20/5/06 một cuộc họp liên ngành các cơ quan trách nhiệm mới được triệu tập tại thành phố Đà Nẵng, nơi có sự thiệt hại nhân mạng cao nhất, để bàn các biện pháp nhằm cứu nạn và khắc phục hậu quả thảm họa.
Về khả năng đối phó với việc cứu hộ cứu nạn tầm xa, “Việt nam hiện có 7 chiếc tàu cứu nạn hàng hải (có tên gọi là SAR, tại miền Trung có 3 chiếc neo ở Đà Nẵng) được xem là hiện đại nhất hiện nay, cũng chỉ họat động trong tầm 250 hải lý, nếu đi xa hơn sẽ có thể mắc nạn do không đủ nhiên liệu ( Minh Tư- Tuổi trẻ on-line- 23/5/06)”.
Một quốc gia đã từng có một đạo quân hùng mạnh được liệt vào hàng nhất nhì thế giới, với 80 triệu dân đã phải bó tay để mặc cho hàng trăm đồng bào mình thiệt mạng vì sóng, vì bão, đơn giản chỉ do thảm cảnh xảy ra “quá xa . . . vượt khả năng thông tin“, “ không biết có dân mình ở đó“, “ không có phương tiện cứu nạn hữu hiệu“, trong khi đó, ở vài nơi khác trên thế giới, ngay đến một con chó, một con mèo mắc nạn người ta vẫn huy động các phương tiện máy móc tối tân để cứu sống cho bằng được.
3.
Người chết đã chết, mặc cho những óan than trách móc, họ sẽ không sống lại được. Những gia đình tan nát vì mất đi người trụ cột trong nhà – người chồng, người cha – cũng sẽ không bao giờ tìm lại được cuộc sống an vui ngày cũ. Và dù những tấm lòng “máu chảy ruột mềm“ trong nước đã không quản ngại bớt đi một phần trong bữa ăn khiêm tốn hàng ngày đã mau chóng có những cử chỉ nhường cơm xẻ áo, nhanh hơn cả phản ứng của những người có trách nhiệm, để gởi chút lòng đến những người đồng bào bất hạnh, những cử chỉ ấy bao giờ cũng làm cho cả người cho lẫn người nhận ấm lòng, vì nhờ đó, người ta thêm yêu thương trần gian khốn khổ này. Nhưng, quan trọng hơn hết, vẫn phải làm sao để những thảm cảnh như thế không bao giờ tái diễn. Bởi vì, trong khả năng con người thế kỷ 21, những thảm cảnh như thế có thể tránh được một cách dễ dàng, nhờ vào hệ thống vệ tinh tòan cầu, công nghệ tin học hiện đại và mạng lưới thông tin nhanh chóng đến từng giây. Chỉ cần sự đầu tư và quan tâm của những cơ quan thẩm quyền và trách nhiệm.
4.
Cộng đồng người Việt tại Hải Ngọai đã bao lần chứng tỏ tấm lòng con người đau với nỗi đau của con người từ thảm họa Tsunami ở vùng biển Nam Á cuối năm 2004 cho đến cơn bão Katrina mới đây ở nước Mỹ, nay, trước thảm nạn bão Chan Chu ở miền Trung Việt Nam hẳn cũng sẽ không ngỏanh mặt làm ngơ. Tôi có đọc được đâu đó có người nói rằng tình thương rồi cũng sẽ một ngày mệt mỏi. Tôi không nghĩ vậy. Chỉ có những nỗi đau mới biết đến sự mệt mỏi, vì không ai có thể sống mãi với những nỗi đau, dù đó là nỗi đau riêng của mình hay nỗi đau chung của đất nước, dù nỗi đau ấy có khó quên đến như thế nào. Nhưng, tình thương, đặc tính nổi bật nhất của những con người đúng nghĩa con người, thì luôn luôn tươi rói dù có phải trải qua thật nhiều những trạng huống xé lòng của đồng lọai.
Xét cho cùng, con người chỉ thực sự tồn tại khi còn biết đến yêu thương và chia xẻ.
T. Vấn
( Mùa bão 2006)
*Ghi thêm: tính đến cuối ngày 28-5 đã có đến 273 người chết và mất tích do cơn bão số 1 gây ra. Trong đó, hiện vẫn còn 256 người mất tích, gồm Đà Nẵng 73 người; Quảng Nam 153 người; Quảng Ngãi 23 người; Thừa Thiên - Huế 3 người; Bình Định 3 người; Tiền Giang 1 người. Đây là con số chính thức từ phía giới chức hũu trách.
(Nghiên cứu của nhà sử học Bill Laurie)
Dịch giả: Nguyễn Tiến Việt
Lời người dịch: Bill Laurie là sử gia Hoa Kỳ, một trong những chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam và nhân chứng được mời trình bày quan điểm trong cuộc hội thảo mang tên "Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa: Suy ngẫm và tái thẩm định sau 30 năm” (ARVN: Reflections and reassessments after 30 years) do Trung Tâm Việt Nam thuộc Ðại Học Texas Tech tổ chức tại Lubbock trong hai ngày 17 và 18 Tháng Ba năm 2006.
Trong số nhiều diễn giả Việt-Mỹ, ông Laurie là người nêu ra quan điểm của riêng ông về một quân đội mà ông từng sát cánh với cương vị một chuyên viên tình báo cao cấp trong nhiều năm. Bài này được chuyển ngữ từ nguyên bản bài viết của Bill Laurie, mà ông dùng để trình bày, vắn tắt hơn, trong buổi hội thảo. Bill Laurie gửi tặng bài viết cho dịch giả, cho phép được dịch và phổ biến trong giới truyền thông Việt ngữ. Những chữ viết ngả để trong ngoặc đơn là chú thích của tác giả để câu văn chuyển dịch mang được đầy đủ ý nghĩa của nó.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thay đổi một cách đáng kể cả về số lượng lẫn phẩm chất trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1975. Sự thay đổi không hề được giới truyền thông tin tức (Hoa Kỳ) lưu ý, và nhìn chung thì đến nay vẫn không được công chúng Mỹ biết đến, vẫn không được nhận chân và mô tả đầy đủ trong nhiều cuốn sách tự coi là "sách sử". Một phần nguyên nhân của sự kiện này là do bản chất và tầm mức của sự thay đổi không dễ được tiên đoán hay tiên kiến, dựa trên hiệu quả hoạt động và khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1968.
Bài này không hề muốn chối bỏ những vấn đề nghiêm trọng đã hiện hữu, hay phủ nhận rằng vấn đề tham nhũng, lãnh đạo kém cỏi không tiếp tục gây hiểm họa cho khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ đất nước họ. Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó, những vấn đề này có được giải quyết, và những khía cạnh tích cực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không thể bị xóa khỏi trang lịch sử vinh quang.
Tôi đã tự chứng nghiệm điều này, khi đến Việt Nam cuối năm 1971 và phục vụ 1 năm tại MACV(Phái Bộ Quân Viện Hoa Kỳ tại Việt Nam), rồi sau đó trở lại thêm hai năm, từ 1973-1975, làm việc ở Phòng Tùy Viên Quân Sự. (DAO)
Khởi thủy, được huấn luyện và dự trù phục vụ như một cố vấn, tôi tham dự khóa huấn luyện căn bản sĩ quan lục quân tại Fort Benning, Georgia, tình báo chiến thuật và chuyên biệt về Ðông Nam Á ở Ft. Holabird, Maryland, và học trường Việt ngữ tại Ft. Bliss, Texas. Tới Việt Nam thì được biết những nhiệm vụ cố vấn đang được giảm dần để đi đến chỗ bỏ hẳn; nên thay vào đó tôi được chỉ định vào MACV J-2 với cương vị một chuyên viên phân tích tình báo, trước hết phụ trách Cambodia, rồi tập trung vào Quân Khu IV, bao quát toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Công việc này mở rộng một cách không chính thức để bao gồm công tác liên lạc giữa Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, các toán cố vấn Mỹ, các chính quyền tỉnh thị của Việt Nam, và cả các đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ở vùng IV. Trong 3 năm đó tôi có mặt lúc chỗ này, lúc chỗ khác, trên khắp 18 trong số 44 tỉnh của Việt Nam Cộng Hòa, liên lạc không những với các đơn vị Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa mà cả với người Úc, cơ quan viện trợ Mỹ USAID, và CIA. Khi thì đứng vào vị trí rất cao cấp trong những buổi thuyết trình ở tổng hành dinh của MACV cũng như ở Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tuần lễ sau đó tôi có thể đã lội trên những ruộng lúa tỉnh Kiến Phong cùng với các binh sĩ Ðịa Phương Quân, hay bay ngang tỉnh Ðịnh Tường trên một chiếc trực thăng Huey của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, hoặc là nằm trong căn cứ Biệt Ðộng Quân Trà Cú bên sông Vàm Cỏ Ðông.
Nói tiếng Việt là điều vô cùng quan trọng, và trong vòng một tháng sau khi tới Việt Nam, thật rõ ràng hiển nhiên là những điều tôi từng nghe ở Mỹ, dù là tin tức báo chí hay là những cuộc thảo luận ngốc nghếch trong các trường đại học, mà có thể diễn tả được những gì tôi đang trải qua và gặp phải. Nói vắn tắt, tôi tự hỏi “Nếu quả thật tất cả những người ở Mỹ đang nói về Việt Nam, thì mình đang ở nơi nào đây?"
Những thời khắc ngoài giờ làm việc của tôi được dàn trải trọn vẹn trong một kích thước thực tế hoàn toàn Việt Nam. Dù là ở Sài Gòn, Cao Lãnh, hay Rạch Giá, tôi cũng lui tới những cái quán nhỏ, với những bàn cà-phê, mì, cháo... háo hức lắng nghe người dân, người lính Việt Nam nói chuyện, tôi hỏi han, và học được thật nhiều, nhiều hơn những gì tôi từng học ở Hoa Kỳ.
Sự học tập của tôi không dừng lại ở năm 1975. Từ đó đến nay tôi đã đọc hằng feet/khối những tài liệu giải mật và hằng trăm cuốn sách, kể cả những tác phẩm tiếng Việt, phỏng vấn đến mức từ kỷ lục này qua kỷ lục nọ với những cựu chiến binh gốc Ðông Nam Á và gốc Hoa Kỳ, săn tìm trong hằng trăm trang web Việt Nam và Ðông Nam Á trên Internet. Vẫn còn rất nhiều điều về Việt Nam, Lào, Cambodia và Thái Lan hơn là những gì công chúng Hoa Kỳ tưởng, và những kết luận do những người ở các xứ ấy tự trình bày lên thì lại không phù hợp với những gì mà hầu hết mọi con người (ở Mỹ) tưởng là họ biết.
Quả là có những vấn đề nghiêm trọng về tham nhũng. Ðúng là có những tấm gương về lãnh đạo bất xứng. Tuy nhiên, chẳng phải ai nói hay gợi ý gì với tôi, mà chính là ngay lần đầu tiên đến với Sư Ðoàn 9 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa, tôi đã phát giác khả năng dày dạn và đầy chuyên nghiệp trong những hoạt động mà tôi chứng kiến ở một trung tâm hỏa lực cấp sư đoàn. Cũng chẳng ai nói với tôi là Sư Ðoàn 7 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa, đơn vị cứ mãi bị kết tội vì khả năng chiến đấu kém cỏi ở Ấp Bắc nhiều năm trước, đã biến thái thành một đơn vị có hiệu năng chiến đấu cao dưới tài lãnh đạo chỉ huy của Tướng Nguyễn Khoa Nam, một con người thanh liêm không một tì vết, song song với tài năng về chiến thuật, mà đến nay vẫn không hề được công chúng Hoa Kỳ biết tới, tuy đã được người Việt Nam tôn sùng đúng mức. Cũng không hề có ai ngụ ý hay nói với tôi rằng có thể là lực lượng Ðịa Phương Quân tỉnh Hậu Nghĩa, là những dân quân của tỉnh, đã làm mất mặt chẳng những 1 mà tới 3 trung đoàn chính quy của quân đội miền Bắc trong chiến dịch tấn công năm 1972 của Hà Nội. Họ đã nhai nát và nhổ ra nguyên cả lực lượng xung kích của đối phương, một lực lượng có thể đã làm đổi chiều lịch sử vào thời kỳ đó.
Ðịa Phương Quân không được Pháo Binh và Không Quân sẵn sàng yểm trợ như lực lượng chính quy Việt Nam Cộng Hòa, trong đó kể cả Nhảy Dù, Biệt Ðộng Quân, Thủy Quân Lục Chiến. Quân địa phương chỉ dựa vào kỹ thuật chiến đấu căn bản bộ binh. Nếu quân Bắc Việt đánh thủng được chiến tuyến này thì họ đã lập tức trực tiếp đe dọa Sài Gòn, chỉ cách đó 25 dặm, buộc Sư Ðoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa phải rút khỏi quốc lộ 13, từ đó để cho lực lượng Bắc Việt hướng thẳng vào An Lộc. Và như Tiến Sĩ James H. Willbanks viết trong tác phẩm xuất sắc của ông (về trận An Lộc), Sư Ðoàn 21 tuy không thành công trong việc phá vòng vây An Lộc nhưng cũng đã buộc Bắc Việt phải đưa một sư đoàn đổi hướng khỏi chiến trường An Lộc, nếu không, nơi này có thể đã sụp đổ với những hậu quả khốc liệt.
Nói vắn tắt, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một cách toàn diện, đã có khả năng cao hơn nhiều so với những gì tôi biết trước khi tôi qua Việt Nam, và càng cao hơn nhiều so với những gì được chuyển tới cho người dân Mỹ. Ngày trước... và ngày nay cũng vậy.
***
Trở lại thời kỳ đang thảo luận trong bản thuyết trình này, ai cũng biết Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vướng mắc nhiều vấn đề trầm trọng. Ðiều này là hiển nhiên. Nếu không như vậy thì đã chẳng cần phải yêu cầu những đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ, Úc, Nam Hàn, Thái Lan và New Zealand tới đó.
Tuy nhiên, còn có những chỉ dấu cho thấy lực lượng Việt Nam Cộng Hòa khi được trang bị đúng mức và chỉ huy tốt đẹp thì sẽ có khả năng tới đâu.
Năm 1966 một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân Việt Nam Cộng Hòa đã gây thiệt hại nặng và đã "giúp" giảm quân số chỉ còn 1 phần 10 cho một trung đoàn Bắc Việt đông gấp ba lần họ ở Thạch Trụ. Tiểu đoàn này được Tổng Thống Johnson tặng thưởng "Huy chương của tổng thống Hoa Kỳ". Ðại Úy Bobby Jackson, cố vấn tiểu đoàn này, đã mô tả người đối tác của ông, Ðại Úy Nguyễn Văn Chinh (hay Chính?), như là con người tuyệt nhiên không hề sợ hãi. Tiểu Ðoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến, mang huy hiệu Trâu Ðiên, đã từng bắt nạt nhiều đơn vị cộng sản miền Nam và chính quy Bắc Việt, chứng tỏ sự xứng hợp của huy hiệu trâu điên (càng có ý nghĩa đối với những ai đã từng gặp phải một con trâu đang nổi giận (và bị nó ăn hiếp!) Công trạng của họ không hề được tường trình trong giới truyền thông tin tức của Hoa Kỳ, và về sau cũng bị bỏ quên trong cái gọi là "lịch sử"...
Năm 1968, trong bối cảnh cuộc tổng công kích 68 thất bại của Hà Nội, các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ thấy rõ là kế hoạch Việt Nam hóa phải được tăng tiến, nhưng nhiều người (Mỹ) lại lầm tưởng đó là ranh giới giữa hai thời kỳ, thời kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không chiến đấu, và bây giờ là lúc họ bắt đầu chiến đấu. Thái độ này đã bỏ quên dữ kiện là mức tử vong vì chiến sự hằng tháng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã vượt xa mức tổn thất trong toàn cuộc chiến của tất cả các lực lượng đồng minh cộng lại.
Rốt cuộc thì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng được cung cấp vũ khí tối tân, thay thế những trang bị thời Thế Chiến Thứ Hai mà hầu hết quân lực này phải sử dụng (khoảng đầu năm 1968 chỉ có 5% quân đội Việt Nam Cộng Hòa được trang bị súng M16), nhìn chung thì thua kém vũ khí của Việt Cộng và bộ đội Bắc Việt. Ðồng thời, quân số cũng tăng tiến, theo như bảng dưới đây trình bày:
(Bảng ghi những con số gia tăng quân số của các lực lượng chính quy và Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân, từ năm 1968 đến năm 1972, cho thấy quân số tổng cộng tăng 28%, từ 820 ngàn lên 1 triệu 48 ngàn quân. Trong đó, Không Quân gia tăng quân số tới 163%, Hải Quân tăng 110%, Lục Quân tăng gần 8% quân số)
Trong bảng này, nhóm từ Anh ngữ ARVN, tức the Army of Republic of Vietnam, có nghĩa là Lục Quân Việt Nam, chỉ bao gồm 38% Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (tác giả không đồng ý dùng nhóm chữ ARVN để chỉ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và ông dùng nhóm chữ RVNAF, Republic of Vietnam's Armed Forces). Ngoài ra còn những thành phần khác, gồm Cảnh Sát Dã Chiến, Nhân Dân Tự Vệ, và các toán Xây Dựng Nông Thôn.
Lực lượng xây dựng nông thôn không được coi là lực lượng chiến đấu, còn lực lượng Nhân dân tự vệ thường bị chế diễu nhưng (những lực lượng này) cũng là chướng ngại cho quân Việt cộng và quân đội Bắc Việt (North Vietnam's Army trong nguyên bản). Có lần một toán cán bộ xây dựng nông thôn đã đẩy lui cả một tiểu đoàn Việt cộng ở tỉnh Vĩnh Long. Các toán viên biết gọi pháo binh của tỉnh yểm trợ. Chuyện này cũng không được biết đến để ghi nhận vào tài liệu.
Thành phần của lực lượng Nhân dân tự vệ thì quá trẻ, hay quá già, hay vì thương tật nên không gia nhập quân đội chính quy, chỉ phục vụ như lực lượng phòng vệ làng ấp chống lại những toán thu thuế, tuyển mộ, hay tuyên truyền của cộng sản địa phương. Nhưng Nhân dân tự vệ cũng là một yếu tố mà cộng sản địa phương phải đối phó sau năm 1968. Trước đó không có lực lượng này, Việt cộng ở địa phương tự do đi vào ấp xã lúc ban đêm. Nhiều lúc Nhân dân tự vệ không có hiệu quả, nhiều khi họ bị tuyên truyền để đi theo Việt cộng, nhưng có nhiều lúc khác lại có những báo cáo như sau: (Trích từ các sách vở của các tác giả người Mỹ).
“Hai Việt cộng đang bắt cóc một Nhân dân tự vệ thì một Nhân dân tự vệ khác xuất hiện, bắn chết hai Việt cộng này bằng súng M1 (không ghi rõ garant hay carbine), tịch thu được một súng AK47 và một súng lục 9 ly."
Và "cả hai ấp Prey Vang và Tahou đêm nay bị bắn súng nhỏ và B-40. Nhân dân tự vệ địa phương đẩy lui hai toán trinh sát nhẹ.”
Còn nữa: Một Nhân dân tự vệ 18 tuổi đã là người bắn cháy chiếc xe tăng đầu tiên trong rất nhiều xe tăng T 54 của Bắc Việt bị tiêu hủy tại An Lộc trong cuộc bao vây năm 1972.
Hà Nội không mấy hài lòng về lực lượng này, theo như tài liệu sau đây:
“Chúng (QLVNCH) tăng cường các lực lượng bù nhìn, củng cố chính quyền bù nhìn và thiết lập mạng lưới tiền đồn cùng các tổ chức Nhân dân tự vệ bù nhìn ở nhiều làng xã. Chúng cung cấp thêm trang bị kỹ thuật và tính lưu động cho lực lượng bù nhìn, thiết lập những tuyến phòng vệ, và dựng ra cả một hệ thống phòng thủ và đàn áp mới ở những khu vực đông dân cư. Kết quả là chúng đã gây nhiều khó khăn và tổn thất cho lực lượng bạn (Việt cộng)."
Sự kiện này không thể xảy ra trước năm 1968, khi lực lượng Nhân dân tự vệ được thành lập và trang bị bằng những vũ khí thời thế chiến thứ hai do các lực lượng QLVNCH chuyển giao lại.
Tương tự như vậy, lực lượng Nghĩa quân, Ðịa phương quân với sự trợ giúp của các toán cố vấn Mỹ lưu động, được tuyển mộ thêm từ năm 1968 và trang bị vũ khí tốt hơn, khởi sự tiến bộ, như cố vấn David Donovan thuộc một toán lưu động chứng kiến trong một trận tấn công bộ binh năm 1970:
"Chúng tôi vừa vượt khỏi khu mìn bẫy chính thì bị hỏa lực từ một rặng cây trước mặt bắn tới. Nước văng tung tóe xung quanh, đạn bay véo véo trên đầu, trong tiếng súng nhỏ nổ dòn. Binh sĩ bây giờ phản ứng tốt lắm, không giống như trước kia cứ mỗi khi bị bắn là họ gần như tê liệt. Trung sĩ Abney chỉ huy cánh đuôi của đội hình hàng dọc, bung qua bên phải, sử dụng như thành phần điều động tấn kích, trong khi chúng tôi ở phía trước phản ứng lại hỏa lực địch. Khi toán của Abney tới được chỗ địa thế có che chở thì họ dừng lại và bắt đầu tác xạ. Dưới hỏa lực bắn che đó chúng tôi tràn tới một vị trí khác. Hai thành phần chúng tôi yểm trợ nhau như vậy và tiến được tới hàng cây, sẵn sàng xung phong. Ba người trong toán của tôi bị trúng đạn, không biết nặng nhẹ ra sao nhưng mọi người đều xông tới. Chúng tôi đã hành động khá hay."
Kinh nghiệm của Donovan không phải là độc nhất. Cố vấn John Cook nhắc lại niềm lạc quan của ông vào năm 1970:
"Chúng tôi (tức Cook và sĩ quan đối tác phía Việt Nam) đang rất lên tinh thần, cảm thấy như mình là "kim cương bất hoại". Tinh thần chiến đấu và hăng hái chủ động tấn công trong quận hết sức cao, khiến chúng tôi truy kích quân địch một cách gần như khinh suất, liều lĩnh."
Những thành tích như vậy không phải mọi nơi đều có. Có những đơn vị không đáp ứng được trong thời kỳ thay đổi và vẫn bị lãnh đạo chỉ huy kém cỏi, chẳng thực hiện một cuộc hành quân lục soát với chiến thuật chủ động tấn công nào. Có khi cố vấn Hoa Kỳ suýt bị giết hay bị dọa giết bởi những sĩ quan địa phương của Việt Nam mà họ không hòa thuận được. Nhiều cố vấn Mỹ khác không gặp cảnh ngộ khó chịu đó, nhưng cũng chẳng có ấn tượng tốt nào về hoạt động của những đon vị mà họ cố vấn. Dù sao thì những chuyện tích cực và thích thú do cố vấn Mỹ chứng kiến cũng đầy rẫy, nhưng lại hoàn toàn vắng bóng trong những cuộc thảo luận trên nước Mỹ hay trong ý tưởng của những người Mỹ bình thường, cũng như trong những gì được dạy dỗ tại các trường học Hoa Kỳ.
Sự tiến bộ hay những tấm gương xuất sắc ngay trước mắt không phải chỉ hiển hiện trong những lực lượng lãnh thổ và những sư đoàn bộ binh VNCH, (là những đơn vị) thường bị cho là không mấy nổi trội về chiến thuật chủ động tấn công. Cố vấn về kế hoạch bình định của tỉnh Quảng Trị Richard Stevens, trước đó từng phục vụ trong Thủy quân lục chiến Mỹ tại Việt Nam, tỏ ra ngạc nhiên trước thành tích của một đơn vị thuộc sư đoàn 1 bộ binh Việt Nam trong trận tấn công một vị trí phóng hỏa tiễn của quân Bắc Việt:
"Tôi có ấn tượng hoàn toàn tốt, và thực sự là kinh ngạc, về cách thức hành quân và sự táo bạo của họ trong mọi việc... Ðây là cuộc hành quân thứ 13 như vậy do vị tiểu đoàn trưởng này chỉ huy. Ta đang nói chuyện về những chuyên gia hết sức tinh thục trong những gì họ làm, những người đã từng thực hiện những công tác sởn tóc gáy và vẫn tiếp tục thực hiện... Các cố vấn của trung đoàn này luôn luôn nói với tôi lúc tôi ra đó, rằng ‘anh đang làm việc với những người giỏi nhất. Chúng ta không có điều gì để mà có thể nói cho những người này làm. Chúng ta (các cố vấn) chỉ có việc yểm trợ hỏa lực mà thôi. Còn về sự hiểu biết trong hành quân, thì họ là người dạy chúng ta.' Chúng tôi có các cố vấn người Úc và người Mỹ, họ đều nói y như nhau." (tác giả trích luận án Master năm 1987 của Howard C.H Feng, đại học Hawaii).
Ở miền Nam, trong lãnh thổ tỉnh Ðịnh Tường thuộc quân khu IV, sư đoàn 7 bộ binh VNCH cũng thi hành nhiệm vụ không hề có khuyết điểm, theo lời xác nhận của các cố vấn và các phi công Mỹ lái trực thăng chuyển quân cho các binh sĩ sư đoàn 7 trong những trận tấn công. Sư đoàn này từng bị mang tiếng là sư đoàn "lùng và né" (thay vì "lùng và diệt", search and destroy), có thể vì trận Ấp Bắc hồi 1963, nhưng những ai trực tiếp công tác với họ không thể nói gì hơn là những lời ca tụng, ngưỡng mộ về sự tinh thông chiến thuật và tinh thần hăng hái xông xáo. Một cựu cán binh Bắc Việt xác nhận về sự dũng cảm của sư đoàn 7 bộ binh:
"Vùng giải phóng bị thu hẹp... Tôi mất thêm thời gian di chuyển quanh, cố tránh xa các cuộc hành quân của quân đội VNCH.
Ở Bến Tre (tức tỉnh Kiến Hòa) sư đoàn 7 VNCH là lực lượng chính gây nên nhiều khó khăn. Hầu hết sư đoàn được tuyển mộ ở vùng châu thổ sông Cửu Long nên họ biết rành hết cả vùng. Họ thông thuộc vùng này cũng như chúng tôi." (tác giả trích dẫn David Chenoff và Ðoàn văn Toại, sách Chân dung kẻ địch, Random House ở New York xuất bản năm 1986).
Tình hình còn tồi tệ hơn khi các đơn vị quân đội Bắc Việt điền khuyết cho các đơn vị “Việt cộng”, không hiểu biết chút nào về vùng này và được trang bị kém cho cuộc chiến kiểu các rặng cây ở phía Bắc vùng châu thổ. Một tù binh cho biết bị bắt sống không bao lâu sau khi tới, lúc anh ta và những người khác được lệnh phục kích một cuộc hành quân càn quét của sư đoàn 7 vào ngày hôm sau. Bố trí xong trước bình minh, đội quân đáng lẽ phục kích người ta thì lại bị tấn công từ phía sau do thành phần bên sườn của sư đoàn 7, trước khi tới lượt lực lượng chính. (Tài liệu trích dẫn).
Kết quả của điều này thêm hiển nhiên trong thời gian giữa 1968 và 1971, thời kỳ mà quân số lực lượng Hoa Kỳ giảm thiểu hơn một nửa, trong khi những cuộc hành quân tấn công của Việt cộng và quân Bắc Việt lại bị suy giảm rõ rệt:
(Bảng thống kê trong bài ở đoạn này cho thấy lực lượng Mỹ ở Việt Nam từ năm 1968 đến 1971 đã giảm 322 ngàn quân, tức 58%, các cuộc tấn công của Việt cộng và quân Bắc Việt cấp tiểu đoàn trở lên giảm 98%, chỉ còn 2 trận, những cuộc tấn công lẻ tẻ của phía cộng sản cũng giảm, kể cả những vụ bắt cóc, khủng bố, trong khi số xã ấp có an ninh tăng 56%, diện tích trồng tỉa lúa tăng 9.8%, thương vong vì chiến tranh của dân và quân phía VNCH giảm 55%, quân số của Việt cộng, Bắc Việt trên toàn miền Nam giảm 21%).
Tỉ lệ về các cuộc tấn công lớn nhỏ của phía cộng sản giảm hơn là tỉ lệ giảm quân số, cho thấy một sự sa sút toàn diện về khả năng quân sự, dưới tỉ lệ dự đoán là 21% quân số sụt giảm. Ðiều này xảy ra trong khi quân số tham chiến của Hoa Kỳ giảm tới 58%. Quân cộng sản Bắc Việt và Việt cộng không những chỉ có mặt ít hơn trên toàn lãnh thổ, mà còn kém khả năng tung ra những cuộc hành quân tấn kích.
Nhiều con số thống kê của VNCH không chính xác, nhất là con số xã ấp có an ninh thì lại còn kém xác thực hơn, nhưng biểu đồ khuynh hướng khá rõ ràng, và không có bằng chứng dù về thống kê hay tin đồn vặt, mà nêu ra điều gì khác hơn là sự xuống dốc thẳng đứng trong thời vận của quân Việt cộng và quân đội Bắc Việt trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1971. Trong khi Việt cộng, gọi như vậy để phân biệt với quân Bắc Việt, không bị tiêu diệt hoàn toàn, và những ổ kháng cự có ảnh hưởng mạnh do họ kiểm soát vẫn tồn tại ở những tỉnh như Chương Thiện, Ðịnh Tường, Quảng Nam, Quảng Ngãi, thì Việt cộng ở địa phương cũng không còn là một lực lượng chiến lược. Nếu không có sự xâm nhập đại quy mô của quân Bắc Việt và sự cung cấp vũ khí hiện đại, thì chiến tranh đã dần dần tự tàn lụi. Những đơn vị và khu vực của Việt cộng tồn tại được cũng hoàn toàn không phụ thuộc vào quân đội Bắc Việt để sống còn. Tác giả "phản chiến" Frances Fitzgerald của cuốn "Lửa trong hồ" (thật khôi hài, là cuốn sách bị đả kích bởi cả người chỉ đạo về tư tưởng của Hà Nội, Nguyễn Khắc Viện, lẫn người ủng hộ Mặt trận Giải phóng và Hà Nội, Ngô Vĩnh Long), nhìn nhận rằng khả năng sinh tồn của cả Việt cộng lẫn QLVNCH hồi năm 1966 là mỗi bên 50%, nhưng đến 1969 thì cơ hội sống còn của Việt cộng chỉ còn 10%, trong khi tỉ lệ này phía QLVNCH lên hẳn 90%. Nguyễn Văn Thành, sau 23 năm theo Việt cộng, hồi chánh năm 1970, cho rằng cứu cánh của Mặt trận giải phóng là vô vọng. Ông ta nêu ra những cuộc hành quân gia tăng của QLVNCH, sự phát triển những đơn vị Nghĩa quân xã quận và các chương trình Nhân dân tự vệ, cùng với kế hoạch cải tổ về ruộng đất của chính phủ VNCH, coi đó là những việc không thể đối phó được nữa. Stanley Karnow khẳng định thằng thừng trong cuốn sách được đánh giá cao quá đáng của ông, không cần giải thích nguyên do, rằng đến năm 1971, thì "riêng phía Việt cộng không phải là đối thủ của quân đội chính quyền Sài Gòn."
Don Colin trải qua nhiều năm ở Việt Nam, được nhiều người biết đến qua lối bày tỏ thô lỗ, phản bác thô bạo và quá đáng, cộng với lối rủa sả om sòm những gì mà ông ta coi là tào lao nhảm nhí. Ông này đã phải chịu đựng những khó khăn trở ngại, những khởi đầu sai lạc cùng những vấn đề tương tự, bị coi như toàn những điềm gở. Nhưng năm 1971 Don Colin cũng thấy những kết quả tích tụ hiển hiện ở vùng châu thổ:
“Ba mươi tháng trước, con số những cấp chỉ huy giỏi ở quân khu IV chỉ đếm được trên một bàn tay. Ngay cả tư lệnh quân đoàn, một cấp chỉ huy tốt, trong sạch và tương đối có khả năng, cũng nhút nhát, thiếu óc sáng tạo và không đủ sức kích động thuộc cấp vào những hoạt động xông xáo và tích cực. Cấp tư lệnh sư đoàn thì phần lớn thiếu khả năng, hầu hết các tỉnh trưởng cũng kém cỏi và tham nhũng. Các cấp chỉ huy thuộc quyền của họ thì chẳng những noi gương xấu mà nhiều khi còn phạm khuyết điểm quá hơn cấp trên nữa. Nhưng nay thì chuẩn mực chung về tài năng, sự trong sạch và tận tâm đã tăng lên tới mức mà trước kia tôi cho là không thể tưởng tượng được. Sự thay đổi đặc biệt này khiến tôi thêm lạc quan tin tưởng ở khả năng tối hậu của chính phủ trong việc kiểm soát được Việt Nam và thành lập một chính quyền ổn định."
Rồi tới cuộc tấn công 1972 của Hà Nội, một cuộc tấn công tốc chiến phối hợp phương tiện cơ khí kiểu cổ điển (a classical blitzkrieg), với đặc điểm là những vũ khí hạng nặng và những vũ khí chết người được đưa ra sử dụng như hỏa tiễn tầm nhiệt phòng không SA-7, hỏa tiễn công phá điều khiển bằng dây AT-3, những đoàn chiến xa T-54 được yểm trợ bằng mấy trăm khẩu đội hỏa tiễn 122 ly, đại bác 130 ly, hơn hẳn tất cả mọi thứ từng được Hoa Kỳ cung cấp cho lực lượng pháo binh QLVNCH. QLVNCH bị đánh tơi bời, có lúc đã gần tới kết cuộc, và sự đổ vỡ hiển hiện rõ ràng. Nhưng cái quân lực đang nằm đo ván đã đứng dậy ở tiếng đếm thứ 8, hồi phục sức lực và bẻ gãy cuộc tấn công nặng nề nhất ở Việt Nam, tính tới lúc đó.
Không ai khác hơn là học giả hàng đầu của Hoa Kỳ về Việt Nam, Douglas Pike, đã tuyên bố cuộc xâm lược của Hà Nội thất bại là vì "...Nam Việt Nam chiến đấu hơn hẳn quân đội xâm lăng đến từ phương Bắc." Nhiều nhà bình luận, kể cả Tướng Ngô Quang Trưởng, nói tới không lực Hoa Kỳ như một yếu tố quyết định, thì đó đúng là yếu tố chính. Nhưng những điều ngụ ý nói là QLVNCH không thể chiến đấu nếu như không có không lực Mỹ, thì đã thiếu sót hai điều căn bản. Thứ nhất, quân đội Mỹ cũng chỉ được yểm trợ bằng không lực giống như QLVNCH đã được. Thứ hai, là điểm người ta ít nhìn ra: Không lực Hoa Kỳ là một yếu tố bổ sung để cân bằng với hai lực lượng vượt trội của Bắc Việt là thiết giáp và, lợi hại hơn cả, là lực lượng pháo binh hơn hẳn, hỏa tiễn 122 ly chính xác và đại pháo 130 ly gây tàn phá quy mô ở tầm tối đa 19 dặm (32 km).
Hoa Kỳ không cung cấp cho đồng minh của họ, VNCH, những vũ khí lợi hại ngang bằng, nhất là về pháo binh, như Liên Xô và Trung Cộng cung cấp cho Hà Nội. Hà Nội có hằng trăm hỏa tiễn 122 và đại pháo 130. QLVNCH không đủ đại bác để phản pháo, chỉ có 24 khẩu 175 ly, không chính xác bằng, bắn chậm hơn các loại 122 ly và 130 ly. Cả pháo đài kiên cố cũng không chịu nổi đạn 130 ly khoan hầm, nổ chậm. Tựu chung, trở lại đề tài không lực, thì không quân Việt Nam đã thi hành nhiệm vụ một cách đáng kính phục trong các trận chiến năm 1972, nhưng vẫn bị giới bình luận Hoa Kỳ hoàn toàn quên lãng. Một chuyên viên điều không tiền tuyến của Hoa Kỳ tỏ ra ngưỡng mộ một phi công A-37 của Việt Nam mà anh ta cùng thi hành một vụ tấn công không lục vào vị trí quân Bắc Việt:
“Anh ta đâm chúc đầu chiếc máy bay xuống tới tầm vũ khí liên thanh, và quả nhiên tôi thấy nhiều lằn đạn lửa vạch đường sáng bao quanh Pepper dẫn đầu. Tôi la lên báo động, thì đã thấy anh thả bom ở độ cực thấp và ghi một bàn tuyệt hảo trúng ngay bức tường. Trong những lần oanh kích tiếp theo ngay đó, các phi công của không quân Việt Nam cũng ghi bàn hoàn hảo mỗi lần đâm xuống, cũng là mỗi lần họ bị đạn phòng không bắn lên xối xả... Hỏa lực từ mặt đất vô cùng mạnh mẽ. Quân Bắc Việt có vẻ như biết rằng đối thủ của họ là người Nam Việt Nam.
"Tôi tin chắc là hai chiếc A-37 sẽ bị bắn rơi, nhưng cả hai đều xả hết bom đạn của họ trúng đích, không hề hấn gì. Hai phi công không quân Việt Nam đã trình diễn một màn tuyệt vời, và tôi ngưỡng phục lòng can đảm của họ trên cả sự thông minh. Trong giây phút đó lòng can đảm ấy đã vượt hẳn sự khôn ngoan trong những tính toán hơn thiệt về sự an toàn của cá nhân họ."
Ðây không phải là một sự kiện riêng lẻ, theo như một quan sát viên không quân của Mỹ chứng thực:
"Không quân Việt Nam tự chứng tỏ sự trưởng thành trong cuộc tấn kích 1972... Trong trận phòng thủ Kontum KQVN thật cừ khôi, hết sức tuyệt diệu."
QLVNCH lãnh cú mạnh nhất của Hà Nội năm 1972, mạnh hơn nhiều so với trận Tết Mậu Thân 1968, về khía cạnh quân số và hỏa lực. Ước lượng có khoảng gần 150 ngàn quân Bắc Việt đã tham chiến trong giai đoạn 1, và thêm 50 ngàn quân khác bổ sung khi trận chiến tiếp diễn. Mặt khác, trong trận Tết 1968 chỉ có 84 ngàn quân Việt cộng và Bắc Việt tham chiến, với pháo binh và xe tăng rất hạn chế. (ngoại trừ ở quân khu I).
QLVNCH tiếp tục hoạt động tốt đẹp sau khi hiệp định Paris gian lận được ký kết và bị vi phạm lập tức. Cuối Tháng 11 năm 1973 một lực lượng đặc nhiệm VNCH đã đánh đuổi sư đoàn 1 Bắc Việt ra khỏi căn cứ Thất Sơn, gây tổn thất nặng tới nỗi sư đoàn 1 này của Bắc Việt phải giải thể, số quân sống sót phải gia nhập các đơn vị khác. Ít tháng sau sư đoàn 7 VNCH tung ra cuộc hành quân lớn để quét các đơn vị Bắc Việt khỏi mặt khu Tri Pháp ở vùng giáp ranh ba tỉnh Ðịnh Tường-Kiến Tường-Kiến Phong, gây tổn thất nặng cho địch. Tri Pháp chưa bao giờ bị xâm phạm trong suốt cuộc chiến tranh, có đặc điểm là những vị trí phòng thủ kiên cố; cuộc thất trận gây hổ thẹn tới mức nhà cầm quyền cộng sản cảnh cáo các cấp là phải dấu sự thất bại đừng để bộ đội của họ biết, sợ bộ đội xuống tinh thần. Các phái đoàn Ba Lan và Hungary trong cái Ủy ban liên hiệp quân sự bốn bên bất lực, chỉ là gián điệp cho cộng sản Hà Nội. Nhưng một trong những báo cáo của họ năm 1973 xác định là không có đơn vị Việt cộng nào ngang sức với QLVNCH, và cả những đơn vị thiện chiến nhất của Bắc Việt cũng không sánh được với các đon vị Nhảy Dù và Thủy quân Lục chiến của VNCH.
Tuy nhiên đến giữa 1974 thì việc Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ bắt đầu từ từ siết cổ QLVNCH, và đạo quân này chỉ còn nước xuống dốc dần dần từ khi ấy. Ðến 1975 cấp số cung ứng có sẵn (Available Supply Rate- ASR) dành cho đạn đại bác đã giảm nhanh tới mức không thể chấp nhận, như theo bảng dưới đây, cho mỗi khẩu đội bắn trong một ngày:
Năm 1972 Năm 1975 Tỉ lệ giảm
Ðạn 105 ly 180 viên 10 viên; 94%
Ðạn 155 ly 150 viên 5 viên; 97%
Ðạn 175 ly 30 viên 3 viên; 90%
Mọi thứ bị cắt đến tận xương, rồi tận tủy. Nhiều binh sĩ bộ binh được cấp số đạn căn bản là 60 viên M16 cho một tuần lễ. Nhiều đơn vị cấm binh sĩ bắn M16 liên thanh, chỉ được bắn phát một. Các đơn vị chạm địch có khi bị giới hạn chỉ còn được bắn yểm trợ hai trái đạn đại bác, ngoại trừ khi bị tràn ngập. Thiếu cơ phận thay thế, xe tăng, tàu giang tuần, máy bay... nằm ụ chờ rỉ sét (“cho mối mọt ăn”). Tệ hơn nữa, binh sĩ QLVNCH và gia đình họ phải chịu thiếu thốn khi nền kinh tế bị lạm phát 50%, và 25% thất nghiệp. Một bản nghiên cứu của cơ quan DAO thực hiện năm 1974 tiết lộ 82% binh sĩ VNCH không có đủ thực phẩm cho nhu cầu của gia đình. Ðói kém và suy dinh dưỡng làm xuống tinh thần cùng khả năng chiến đấu. Tình hình những tháng sau đó càng xuống dốc, và người ta đau lòng chứng kiến một cái chết chắc chắn sẽ đến vì hằng ngàn vết thương. Một năm sau, khi chính phủ Việt Nam cuối cùng sụp đổ, và, theo như những sách gọi là sách sử, thì nhiều người Mỹ ngạc nhiên, tự hỏi tại sao mọi thứ có thể sụp đổ nhanh chóng như vậy. Lẽ ra câu hỏi đáng chú ý hơn phải là tại sao QLVNCH đã có thể chiến đấu dài lâu sau thời gian giữa năm 1974, với sự thiếu thốn về vũ khí, trang bị, đạn dược, nhiên liệu, thuốc men, với những cái bụng lép kẹp, và gia đình cũng đói khát không kém?
Khi bắt đầu sự đổ vỡ tan hoang, và đám đông hỗn độn theo lệnh ông Thiệu rút khỏi vùng cao nguyên, thì khủng hoảng và kinh hoàng xảy đến, phần nào tăng thêm vì những lệnh lạc trái ngược phát xuất từ dinh Tổng Thống. Nhưng trong sự sụp đổ nhục nhã sau cùng, vẫn có không ít những trận "Alamo" nhỏ của những người lính VNCH chiến đấu đến phút cuối.
Sư đoàn 18 đứng vững ở Xuân Lộc là một trận anh hùng ca, nhưng sự có mặt và vai trò của của Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù trong trận này không hề được biết đến. Khi quân khu II đổ vỡ và kết cuộc đã gần, sư đoàn 7 VNCH vẫn đánh bại một nỗ lực của quân Bắc Việt muốn cắt quốc lộ 14, con đường quốc lộ duy nhất nối vùng châu thổ Cửu Long vói Sài Gòn. Vào ngày cuối, gọi là "ngày quốc hận" (tác giả viết bằng tiếng Việt), một máy bay AC-119 trang bị liên thanh sáu nòng do các Trung Úy Thanh và Trần Văn Hiền (hay Thành, Hiển?) còn bay quanh Sài Gòn yểm trợ hỏa lực cho những đơn vị VNCH lâm chiến sau cùng. Hết xăng, hết đạn, họ đáp xuống đổ xăng và lấy thêm đạn, sĩ quan hành quân biểu họ không cần cất cánh nữa, tất cả đã mất hết rồi. Nhưng các Trung Úy Thanh và Hiền vẫn vững chí, nhận nhiên liệu và đạn dược, và được hai chiếc A1H-Skyraider tháp tùng do Thiếu Tá Trương Phụng và Ðại Úy Phúc lái, họ tiếp tục lại một trận chiến tuyệt vọng. Sau cùng chỉ còn Ðại Úy Phúc sống sót, oanh kích đến khi hết đạn. Hai Trung Úy Thanh, Hiền và Thiếu Tá Trương Phùng đều bị SA-7 bắn rơi, tử trận. Họ đã chiến đấu đến mãi tận giây phút cuối cùng!
Một cách tổng quát, cứ bị đói như QLVNCH đã bị thì không một quân đội nào có thể chống lại cuộc tấn công cuồng bạo của quân đội Bắc Việt, vói thừa ứ những khẩu pháo, xe tăng, vũ khí, nhiên liệu, xe tải quân, đạn dược, do khối cộng sản cung cấp. Trước một đạo quân VNCH bị rút ruột vì cắt viện trợ như vậy, quân đội Bắc Việt đã phải tung ra tất cả những gì họ có. Chừng 400 ngàn quân cộng sản, gần 90% là bộ đội miền Bắc, được đưa ra trận để đánh bại QLVNCH. Hà Nội chưa bao giờ từng tung ra một lực lượng khổng lồ và hiện đại như họ đã ném vào trận chiến năm 1975. Hà Nội chưa từng rút ra tất cả các đơn vị từ Lào, Cambodia. Về lượng, quân số 400 ngàn là gần gấp 5 số quân Việt cộng và Bắc Việt lâm chiến hồi tết 1968, trong khi về phẩm, còn có hằng trăm đại bác tầm xa, hằng trăm xe tăng, hằng ngàn xe tải, và nguyên một kho vũ khí hiện đại, Ðoàn quân viễn chinh năm 1975 có hơn gấp năm lần khả năng chiến đấu của lực lượng cộng sản hồi Tết Mậu Thân 1968.
Xem xét sự việc từ một khía cạnh khác, có thể phán đoán mà không sợ sai lầm rằng giả sử quân đội Bắc Việt bị yếu đi vì cắt giảm mức cung ứng như QLVNCH đã gánh chịu, thì họ không bao giờ có thể tung ra một cuộc tổng công kích sau cùng, mà hẳn đã yếu kém hơn thế nhiều. Ưu thế hỏa lực quyết định chiến trường, chẳng phải là điều gì mới lạ trong lịch sử quân sự. Vào lúc cuối, QLVNCH chịu sự tổn thất khoảng 275 ngàn tử trận, không kể con số bị ám sát, trong một quốc gia mà dân số trung bình khoảng 17 triệu. Nước Mỹ với dân số 200 triệu, nếu chịu tổn thất với tỉ lệ tương đương trong cùng khoảng thời gian ấy, con số tử vong sẽ là 3 triệu 200 ngàn, cần dựng thêm 56 bức tường đá đen nữa mới đủ ghi tên tử sĩ.
Ðiều này không lọt qua mắt của một số nhà quan sát. Sir Robert Thompson, tuy biết rõ những nhược điểm của QLVNCH, cũng kết luận:
“Quân đội và chính phủ VNCH vượt qua những cuộc khủng hoảng quốc gia và cá nhân mà có thể đã nghiền nát hầu hết mọi người, và mặc dù mức tổn thất có thể gây kinh ngạc và làm sụp đổ Hoa Kỳ, VNCH vẫn duy trì được một triệu quân dưới cờ sau hơn 10 năm chiến tranh. Vương quốc Anh cũng làm được như thế, theo tỉ lệ tương đương, trong năm 1917, sau ba năm chiến tranh, nhưng không bao giờ làm được nữa. Hoa Kỳ chưa bao giờ làm được điều này.” (được nhấn mạnh và thêm vào).
Ký giả Peter Kann, sáng suốt hơn rất nhiều so vói những đồng nghiệp, cũng nhập cuộc, sau khi Sài Gòn thất thủ:
“Nam Việt Nam quả đã phấn đấu để kháng chiến trong nhiều năm ròng rã, không phải lúc nào cũng được Hoa Kỳ giúp đỡ dồi dào. Ít có quốc gia hay xã hội nào mà tôi cho là có thể chiến đấu được lâu dài đến thế.”
Kế hoạch Việt Nam hóa có hiệu quả không? QLVNCH có trưởng thành nên một lực lượng chiến đấu có khả năng?
Có thể biện luận rằng kế hoạch Việt Nam Hóa có hiệu quả, nhưng lại bị moi ruột vì cắt giảm viện trợ chí tử. Năm 1974 có cuộc thăm dò các tướng lãnh Hoa Kỳ từng phục vụ tại Việt Nam, nhằm tìm hiểu chương trình Việt Nam hóa thành công tới mức nào. Các câu hỏi và trả lời như sau:
1. QLVNCH là lực lượng chiến đấu rất đáng chấp nhận?: 8% đồng ý.
2. QLVNCH xứng đáng và cơ may hơn 50% đứng vững trong tương lai?: 57% đồng ý.
3. Có nghi ngờ khả năng QLVNCH có thể đẩy lui một cuộc tấn công mạnh của lực lượng Việt cộng-Bắc Việt trong tương lai?: 25% nghi ngờ.
4. Ý kiến khác và không ý kiến: 10%.
Như vậy 65% các tướng lãnh chỉ huy của Hoa Kỳ dành cho QLVNCH tỉ lệ phiếu thuận, tuy nhiên những câu trả lời này có thể đã mang khuynh hướng lệch theo chiều xuống. Không biết bao nhiêu vị tướng phục vụ trong khoảng 1966-1967, trước khi QLVNCH thực hiện những đổi thay to lớn nhất. Chức vụ mà các sĩ quan này đảm trách là gì, họ làm việc với ai, và họ quen thuộc với quân đội VNCH ở mức độ nào, sự tăng tiến hiệu năng của lực lượng Ðịa phương quân, Nghĩa quân, vân vân... cũng không được tiết lộ. Câu hỏi cũng không hỏi: “Nếu quân đội Mỹ cũng bị cắt giảm cung ứng như QLVNCH vào năm 1974-1975 thì còn đứng vững được bao lâu?”
Ðiều có thể nói chắc chắn, là QLVNCH từ 1968 trở đi đã hoàn thành nhiệm vụ tốt đẹp hơn nhiều so với những gì được biết đến một cách chung chung, rằng các đơn vị QLNCH đã thi triển tài năng để có thể đứng vững và đánh bại quân xâm lược Bắc Việt trong năm 1972, thường là không cần tới sự yểm trợ hỏa lực ồ ạt của pháo binh và không quân chiến thuật, như trong trường hợp của Nghĩa quân và Ðịa phương quân. Ðiều có thể nói chắc chắn nữa là sự hiểu biết của người Mỹ về việc này thấp kém đến kinh tởm, thấp tít mù xa như vực thẳm không đáy.
Một yếu tố rất quan trọng nữa mà nhiều nhà bình luận bỏ qua và tới nay vẫn không biết gì hơn, là thế hệ các sĩ quan, hạ sĩ quan QLVNCH trẻ trung hơn, hết lòng hết dạ vì mục tiêu một nước Việt Nam không cộng sản. Họ cởi mở, ngay thật, biết lẽ phải, trong sạch, biết nhìn nhận phải trái, ví dụ như họ cho là người Thượng không nên được đối xử thấp kém hơn, rằng tham nhũng cần bị công kích, rằng một quốc gia Việt Nam mới cần được tạo thành, bung ra khỏi mọi xích xiềng quá khứ. Nhiều người trong số này có thể có vị trí tốt để tránh quân dịch hay giữ một chỗ an toàn, không ra trận; nhưng họ không cần cả hai thứ đó, đã có mặt trong hàng ngũ phục vụ tại những vị trí chiến đấu đầy nguy hiểm, với tư cách những người tình nguyện. Thái độ của họ được một sĩ quan trẻ của QLVNCH bày tỏ:
"Những người ở cỡ tuổi tôi vào quân đội vì chúng tôi có một lý tưởng, chúng tôi hiểu được cuộc sống trong một thế giới tự do ra sao, và sống trong thế giới cộng sản ra sao. Không phải như người ta nói, rằng những ai vào quân đội thì chỉ vì đến tuổi lính và không có lý tưởng gì riêng cho mình. Nhưng người Mỹ không bao giờ có vẻ hiểu ra điều đó.”
Trần Quốc Bửu là chủ tịch Liên Ðoàn Lao công Nam Việt Nam, tương đương với AFL-CIO của Hoa Kỳ. Ông có ảnh hưởng và có thể xếp đặt cho con trai ông tìm một chỗ an toàn, an toàn hơn nhiều so với vị trí của anh này là một sĩ quan bộ binh VNCH. Trong những tuần lễ sau cuối của VNCH, lúc bị Bắc Việt dập pháo tơi bời, tuyệt vọng trong cảnh thiếu đạn, con ông Bửu viết cho ông một lá thư:
"Ba phải giải thích cho người Mỹ hiểu sự nghiêm trọng của tình hình chúng ta... Họ phải cung cấp viện trợ quân sự và kỹ thuật như họ đã hứa. Con xin ba, ba à, hãy can thiệp với họ. Nếu không, chúng ta sẽ bị đè bẹp và thất trận. Tụi con không hèn nhát. Tụi con không sợ chết... Trong mọi tình huống, con sẽ giữ vững vị trí và không rút lui."
Con ông Bửu hy sinh tại chiến trường.
Bác sĩ Phan Quang Ðán là quốc vụ khanh về định cư và tị nạn, một cựu đối lập với ông Ngô Ðình Diệm, nổi tiếng nhờ trong sạch. Ông có đủ quyền lực và ảnh hưởng để giữ con trai là Phan Quang Tuấn khỏi bị nguy hiểm. Cả hai cha con đều không chọn điều đó, và Tuấn tình nguyện lái A-1E Skyraider, chỉ dùng để yểm trợ chiến thuật gần cho các dơn vị dưới đất. Sau khi tiêu diệt 7 xe tăng quân Bắc Việt tại khu vực ngưng chiến, trong trận tấn công 1972 của Hà Nội, Ðại Úy Tuấn bị hỏa lực phòng không địch bắn rơi, tử trận.
Những cá nhân ấy không phải là duy nhất. Người viết bài này hằng ngày gặp những phi công trực thăng võ trang trẻ tuổi, những sĩ quan trẻ trong Biệt động quân, Thủy quân lục chiến, Nhảy dù, tất cả đều tình nguyện lãnh nhiệm vụ tác chiến nguy hiểm, bị "lưỡng đầu thọ địch”, với hệ tư tưởng về một nước Việt Nam cộng sản, và với nạn tham nhũng trở thành thông lệ hằng ngày ở Sài Gòn.
Một trong những tấm gương gây xúc động hơn nữa về lòng tận tụy với chính nghĩa quốc gia, là cảnh các sinh viên sĩ quan trường Võ Bị quốc gia Ðà Lạt chuẩn bị cho trận đánh sau cùng của họ, mà ký giả Pháp Raoul Coutard chứng kiến, vào lúc họ tiến ra để chặn các đơn vị quân đội Bắc Việt đang tiến tới:
“- Anh sắp bị giết đó!
- Vâng. Một sinh viên sĩ quan trả lời.
- Sao vậy? Ðã kết thúc rồi mà!
- Tại vì chúng tôi không ưa cộng sản."
Và, lòng đầy can đảm, những sinh viên trẻ tuổi trong bộ quân phục mới toanh, tuyệt đẹp, giày bóng loáng, tiến ra để chờ chết.”
Trường Thiếu Sinh quân ở Vũng Tàu, là trường nội trú, trong học trình có dạy quân sự cho các thiếu niên Việt Nam có cha tử trận. Khi đến lúc cuối, những em trai 12-13 tuổi đuổi các em thiếu sinh quân nhỏ hơn về nhà, lập chướng ngại vật bảo vệ trường và đối đầu với các đơn vị quân Bắc Việt:
“Họ tiếp tục chiến đấu sau khi tất cả mọi người khác đã đầu hàng!... Nhiều người trong số họ bị giết. Và khi quân cộng sản tiến vào, các thiếu sinh quân đánh trả. Cộng sản không vào được ngôi trường ngay lúc đó.”
Những con người tương tự (lúc đó) đang gia tăng trong mọi cấp bực của QLVNCH, và nhu cầu cấp bách của tình hình buộc sự thăng thưởng phải dựa trên khả năng, không dựa trên quan hệ chính trị hay quan hệ gia đình.
Giới truyền thông Hoa Kỳ đã thất bại tại Việt Nam, thua bại hoàn toàn và thê thảm hơn nhiều so với các lực lượng quân sự của VNCH, Hoa Kỳ và các đồng minh. Họ thường lên án bằng những lối can thiệp đầy tự phụ và tự mãn. Một cuộc thăm dò 9,604 chương trình truyền hình của NBC, CBS và ABC từ 1963 đến 1977 cho thấy rõ những sự thiếu sót của những cái gọi là bài tường thuật truyền hình. 0.7% chương trình nói về việc huấn luyện QLVNCH. 0.8% về bình định. 2.7% về chính quyền hay quân lực VNCH hay Cambodia. Tổng cộng chỉ có 392 chương trình, tức 2.7% toàn bộ các chương trình tin tức truyền hình Mỹ, tường trình về Việt Nam. Không có một lời nào về hơn 200 ngàn hồi chánh viên, không một lời về QLVNCH thiện chiến. Không có gì về những phi công "Ong Chúa" (King Bee) lừng danh của trực thăng Việt Nam cứu mạng cho những toán lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ chạm địch dọc đường mòn Hồ Chí Minh. Hầu hết người Mỹ, nếu không phải là tất cả, đều nhớ hình ảnh bi hùng của một người Trung Hoa đứng trước đoàn xe tăng ở quảng trường Thiên An Môn, nhưng không ai biết Trung Sĩ thủy quân lục chiến Việt Nam Huỳnh Văn Lượm đứng trên cầu Ðông Hà chặn đứng đoàn xe tăng Bắc Việt, tác xạ bằng khẩu súng chống tăng LAW của anh:
"Cảnh tượng anh lính TQLC nặng có 95 cân Anh trụ ngay trên đường tiến của 40 xe tăng không có ý nào muốn dừng lại, trên một khía cạnh thì là dại dột một cách khó tin. Trên khía cạnh khác, quan trọng hơn, hình ảnh này mang đầy niềm phấn khích đối với một lực lượng phòng thủ mỏng manh đến thê thảm, và với nhiều người tị nạn, ít ai trong số đó từng chứng kiến một hành động thách đố dũng cảm đến thế... Sự anh dũng lạ thường của người lính thủy quân lục chiến Nam Việt Nam này đã khiến đợt tấn công bằng xe tăng, tới lúc đó chừng như chắc chắn phải thắng lợi, đã bị mất đà tấn kích."
Trong một khoảnh khắc mà giới truyền thông mang tật cận thị lên tiếng, thì phóng viên Donald Kirk tuyệt đối không tỏ ra sự quan tâm nào khi đến thăm sư đoàn 7 bộ binh VNCH, nơi đã trở nên một đơn vị có hiệu năng cao tuyệt dưới tài lãnh đạo của Tướng Nguyễn Khoa Nam. Quân nhân trong sư đoàn nhận thức rõ giá trị những nông trại của sư đoàn do tướng Nam thiết lập để giảm bớt gánh nặng kinh tế cho binh sĩ của sư đoàn 7. Nhưng khi Kirk và các phóng viên khác bị giữ lại ở một điểm chắn đường của quân đội Bắc Việt rồi được thả ra sau đó, thì Kirk lại thất vọng vì anh ta không có cơ hội để nói chuyện với bộ đội Bắc Việt:
"Tôi cứ nghĩ mãi về việc trông họ như vừa bước ra khỏi cuốn phim... Họ có vẻ là những tay chính quy, vậy đó. Tôi chỉ mong sao chúng tôi đã có thể ở lại thêm và nói chuyện với họ lâu hơn."
Ông Kirk có thể yên tâm rằng quân sĩ sư đoàn 7 đều là "những tay chính quy", rất đáng để nói chuyện, và học hỏi nơi họ. Anh chàng này, cũng như đông đảo trong giới truyền thông làm tin tức, đã không để ý gì đến việc đó, cho nên không có gì kỳ bí về nguyên nhân vì sao hầu hết những người Mỹ từng phục vụ tại Ðông Nam Á đều nhìn cái giới truyền thông tin tức này với sự khinh miệt gay gắt.
Phải chi giới này chịu khó quan hệ với quân dân Việt Nam mà họ gặp gỡ, như tôi đã làm nhiều lần, thì đám ký giả hẳn đã biết trong mắt những người Việt ấy chủ nghĩa cộng sản của Hà Nội là điều đáng khinh bỉ và kinh tởm, như một loại phản bội văn hóa và truyền thống Việt Nam. Không phải những người Việt này chiến đấu và hy sinh để bảo vệ “chế độ tham nhũng của Thiệu”, mà là để gìn giữ một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân, cho con cái, và cho đất nước của họ. Một thủy quân lục chiến Việt Nam diễn giải và lột tả chân xác nhất về điều này, khi anh ta nói với tôi rằng sau khi quân đội VNCH giải quyết xong với quân đội miền Bắc, họ sẽ quay súng lại chống đám tham nhũng ở Sài Gòn. Những sự kiện thảm thiết bi thương sau năm 1975 đã chứng thực tính thuận lý và giá trị của điều quyết tâm ấy.
Giới truyền thông giải trí và giới giáo dục ở Hoa Kỳ cũng chẳng khá gì hơn, mà còn mãn nguyện khi lặp lại, nếu không phải là thêm mắm thêm muối vào cái chuyện thần thoại do truyền thông dựng lên. Một cuốn sách sử trung học được sử dụng rộng rãi ở Mỹ có chương sử về Việt Nam không hề nói đến Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chỉ viết rằng: "Việt Nam hóa thất bại," ngoài ra còn gom góp hơn 200 điều khẳng định có thể được chứng minh là sai trái và mang hoàn toàn tính chất dẫn dắt lạc hướng, trong 13 trang bài học. Có nói đến vụ tấn công sang Cambodia, nhưng không nói gì về việc quân Việt Nam Cộng Hòa tham dự đông đảo hơn lực lượng Hoa Kỳ, 29 ngàn quân so với 19,300 quân Mỹ tham chiến. Sách cũng không nói lên rằng trước khi chính thức mở chiến dịch, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã tấn công trước vào các vị trí phòng thủ của quân đội Bắc Việt ở Cambodia. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn toàn vô hình, như một đề tài sẽ được trình bày nơi đây (trong cuộc hội thảo).
Phim ảnh và truyền hình lại càng tệ hơn, mặc dù có được một số phim tài liệu lịch sử. Cả cuốn phim "Bat 21", nhằm miêu tả cuộc tìm cứu trung tá Iceal Hambleton năm 1972, không thể hiểu được tại sao đã loại hẳn sự kiện là một chiến sĩ Người Nhái Việt Nam, Nguyễn Văn Kiệt, người cùng thi hành công tác tìm cứu đó với người nhái Hoa Kỳ Tom Norris, được tặng thưởng huy chương US Navy Cross do sự dũng cảm và anh hùng của Kiệt. Làm sao công chúng có thể trông mong được biết bất kỳ điều gì khi mà chế độ "kiểm duyệt" trên thực tế đã bôi xóa tất cả và từng dấu vết của sự hoạt động gương mẫu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa?
***
Sau cùng, cần phải nhìn nhận rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị đè bẹp bởi một gánh nặng trầm kha không thể nào vượt thắng: đó là một đồng minh bất xứng, ngu dốt và gây rối một cách đáng kinh ngạc, dưới hình thức cái chính phủ Hoa Kỳ.
Một hội nghị chuyên đề toàn diện nên được tổ chức về đề tài này, và cần phải có hội nghị đó. Những chiến lược giả hiệu phát xuất từ Washington, về bản chất, phải bị coi là cẩu thả mang tính cách tội ác. Không một hành động nào được tung ra để chặn và giữ đường mòn Hồ Chí Minh. Không có con đường này thì cuộc chiến tranh của Hà Nội đã không thể nào tiến hành được. Không một việc gì được thi hành để giao chiến với chiến tranh thông tin tuyên truyền-phản tuyên truyền dưới hình thức gọi là địch vận, một trong những chiến lược quan trọng của Hà Nội, được thi hành với những sự lừa gạt quỷ quyệt xuất chúng. Không làm một việc gì mãi đến khi cơ quan CORDS được thành lập để ra kế hoạch và phối hợp những hoạt động quân sự và bình định về mặt tình báo. Không làm một việc gì để khai triển một liên minh rộng lớn như một chiến trường chung của người Việt, người Lào, người Cambodia và Thái Lan, chống lại kẻ thù chung, trong khi Hà Nội đã làm y như vậy: thiết lập một cấu trúc chỉ huy chiến trường Ðông Dương nhằm kết hợp mọi yếu tố vào một chiến lược gắn bó cho toàn khu vực. Lý cớ về lãnh đạo của Hoa Kỳ là mù lòa, lần mò vụng dại như con heo trên tảng băng, như một con cóc vàng, rất giàu có nhưng cũng rất ngu độn. (Những chữ in đậm là những chữ tác giả viết bằng tiếng Việt)
Những kế hoạch, những đề nghị đi ngược dòng lịch sử khó có thể được chứng minh hoàn toàn chắc chắn, và có thể chiến tranh (Việt Nam đã qua) là một cuôc chiến không thể nào thắng được.
Có thể như vậy. Tuy nhiên những người Mỹ, người Úc đã phục vụ sát cánh những chiến hữu của họ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, "những chiến hữu, bạn bè, giống như anh em ruột," (viết tiếng Việt trong nguyên bản) mang trong lòng họ nỗi buồn sâu xa vì đã thua cuộc, hay đã mất biết bao bạn bè tận tụy, mất cả niềm vinh dự lớn lao cho việc đã cố gắng đạt cho kỳ được một thế giới tốt đẹp hơn cho những người dân thường của Việt Nam, Lào, Cambodia và Thái Lan. Họ không bị thúc đẩy vì những quan niệm tinh vi về địa lý chính trị thế giới, nhưng đúng hơn, là do sự kính trọng và ngưỡng mộ đối với nhiều người Ðông Nam Á đã biết yêu quý xứ sở, những con người đã "thề bảo vệ giang sơn quê hương".
Nhiều trang lịch sử còn chưa được lật ra, phản ảnh sự tiếp nối cái khuynh hướng của Hoa Kỳ chỉ toàn nhìn qua con mắt người Mỹ, bị lọc qua định kiến của người Mỹ. Một số sách vở nói đến Việt Nam như một “giai đoạn thử thách đầy khổ đau của Hoa Kỳ,” mà chưa từng một lần hỏi xem người Ðông Nam Á đã trải qua loại thử thách khổ đau nào. Ðầy dẫy những dữ kiện lịch sử quý giá và những nét quan sát sắc sảo nằm trong những cuốn sách được viết do người Việt Nam (và cả người Lào). Thiếu những sách đó, không thể nào có được sự hiểu biết toàn diện. Những tác phẩm của Lý Tòng Bá, Hà Mai Việt, Phạm Huấn, Phan Nhật Nam, Trần Văn Nhựt, và nhiều người khác, đang kêu gào đòi được dịch thuật, cũng như hằng chục bài phổ biến hằng năm trên sách báo tạp chí quân sự và các ấn bản khác. Nhiều bài trong đó mô tả những trận đánh, những diễn tiến và những nhân cách, không hề được các sử gia Hoa Kỳ biết đến. Không tham khảo những nguồn đó thì chắc chắn là chiến tranh Việt Nam, cũng là Chiến Tranh Ðông Dương của Hà Nội, sẽ mãi là những bí ẩn không thể giải đoán, và lịch sử chân thực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ mãi bị chôn vùi dưới tầng lớp này qua tầng lớp nọ của những chuyện hoang đường, của sự không thông hiểu, và của sự giả định vô căn cứ.
Bill Laurie - March 18, 2006;
Nguyễn Tiến Việt chuyển ngữ
Có người sinh ra để làm thơ. Có người sinh ra để đọc thơ. Và có người sinh ra không biết để làm gì! Tôi thuộc loại người sau cùng này. Có ai đó [hoặc nhiều ai đó] đã nói mỗi người Việt Nam là một thi sĩ. Tôi cũng từng nghĩ như vậy nên đã có lần tập tành ... làm thơ. Đáng thương thay, sức người có hạn, cố gắng cho lắm cũng chỉ "nặn" ra được vài câu đại khái như
Thói thường cóc ở trong hang
Áo cơm giục cóc lang thang góc trời
Sóng buồn cuốn mộng xa khơi
Cóc sầu da nhám mơ lời trơn tru...
Toàn những cóc là cóc, cho nên đành bỏ cuộc. Ngay cả khi đọc thơ của người khác cũng vậy. Thỉnh thoảng bắt gặp ở đâu đó một câu thơ, một bài thơ, thấy hay mà không biết "nó" hay ra làm sao, hay như thế nào! Có ai bảo giải thích cái hay thì ấp a ấp úng, ngắc nga ngắc ngứ, rồi gân cổ lên mà quát ràng thì là ... "Hay quá chứ còn hay ra làm sao nữa!" Cho nên, tôi thuộc loại người chả được cái tích sự gì cả.
Cũng may mà có Trần Trung Đạo. Anh thuộc loại người thứ nhứt, sinh ra để làm thơ. Anh sinh ra để làm thơ cho cả những người vô tích sự như tôi đọc. Tôi làm quen với thơ Trần Trung Đạo cũng mới gần đây. Tình cờ đọc bài thơ của anh trong một số Văn Học, những vần thơ vừa đọc qua đã "thấm" vào hồn tôi một cách dễ dàng.
Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm Mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi
Vào lúc tôi đọc những giòng này, cái mốc mười năm ly xứ cũng đã cận kề. "Mới đó mà đã mười năm," tôi vẫn nghe mình mơ hồ than thở. Và Mẹ, những người Mẹ già bên kia bờ đại dương, họ đã nghĩ gì, làm gì trong mười năm xa cách?
Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc Mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về! Mười năm trước, âm thầm lặng lẽ hoặc sướt mướt nghẹn ngào đưa tiển con đi, ở cuối bãi miền Nam, ở đầu ghềnh miền Trung, và ngay cả ở góc trời miền Bắc. Mẹ dừng lại ở bên này cầu sinh tử, gởi gấm con yêu cho trùng dương bão bùng.
Và sau đó là những ngày, những tháng, những năm dài dằng dặc phủ màu tang trắng. Trên tóc Mẹ, trong lòng Mẹ, và lắm khi, trên vành khăn sô quấn vội cho bầy ngựa non đã bất hạnh chìm đáy biển sâu!
Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá ngàn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương.
Nào chỉ gió tạt với mưa tuôn. Còn biết bao nhục nhằn mà Mẹ phải chịu đựng! Những hạch sách răn đẹ Những nhắn nhe hăm dọa. Nhưng có cần gì, con Mẹ đã đến được chân trời mơ ước. Ở đó sẽ những bước truân chuyên, sẽ những ngày gian khổ. Nhưng con sẽ đứng vững, bởi vì con có Mẹ trong lòng. Mẹ, ngọn gió mát mùa Xuân xua đám mây mù cho đường đời con quang đãng.
Tiếng Mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao với
Biết đến bao giờ trông thấy nhau
Mẹ xa xôi quá làm sao với! Nào chỉ có riêng Mẹ đã quá xa xôi. Cả quê hương dấu yêu giờ cũng mịt mù. Hận thù, chia rẽ, tù ngục, đọa đày, và máu, và nước mắt! Tất cả những bất hạnh chừng như hùa nhau đến, đẩy Mẹ và quê hương vào chốn vô cùng của đêm đen. Và con, cách
một đại dương bát ngát, bất lực, nghẹn ngào. Lẽ nào Mẹ và con đã muôn trùng vĩnh biệt?
Đừng khóc Mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ
Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng Mẹ cười
Ví mà tôi đổi được thời gian cho một điều gì mình mơ ước, có lẽ tôi sẽ phân vân lắm. Có lẽ tôi sẽ bắt đầu với một chiếc xe hơi mới toanh để thay thế chiếc xe cà khổ của mình. Hoặc một người tình xinh đẹp. Nhưng tại sao không là một triệu đô la nhỉ? Như vậy tôi có thể được luôn cả xe và người tình. Nhưng mà phải có một điều gì đó quý giá hơn một triệu đô la chứ? Mười triệu? Cuối cùng thì có lẽ tôi cũng làm theo Trần Trung Đạo thôi. Đổi cả thiên thu tiếng Mẹcười. Có lẽ vậy...Chắc là như vậy... Chắc chắn như vậy! Và vẫn không biết làm sao trả lời nếu có ai đó hỏi tôi bài thơ hay ở chỗ nào!
Phùng Nguyễn
12.01.96
-------------
* Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười - Thơ Trần Trung Đạo