Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Trận Đấu Anh với Trinidad&Tobago 2-0
Hai bàn thắng muộn đưa Anh qua vòng bảng


Trước một Trinidad&Tobago chọn lối đá phòng ngự với số đông, "đoàn quân ba sư tử" đã gặp không ít khó khăn. Họ chiếm quyền sở hữu bóng vượt trội, nhưng thiếu uyển chuyển trong tấn công, lãng phí nhiều thời cơ và chỉ giành thắng lợi 2-0 ở ít phút cuối sau khi tận dụng tối đa quyền thay người.


Image
Crouch mở tỷ số, nhưng cũng có quá nhiều phá xử lý vụng về. Ảnh: BBC

Với dàn cầu thủ chất lượng cao đang thi đấu cho những CLB hàng đầu châu Âu, không có gì bất ngờ khi Anh kiểm soát bóng tới gần 70%. Lối đá tử thủ bằng số đông của đại diện nhỏ bé vùng Caribe rất khó chịu (từng mang lại cho họ trận hoà 0-0 với Thuỵ Điển ngày ra quân), nhưng cũng không đủ để ngăn các cơ hội ngon ăn tới với các học trò của ông Eriksson. Tuy nhiên, Anh đã phải thất vọng rời sân nghỉ giữa hiệp cùng hai bàn tay trắng vì khả năng dứt điểm quá kém của Crouch, Owen và cả Lampard. Đầu hiệp hai, kịch bản gần như lặp lại, và đội bóng xứ sương mù khiến các CĐV lo lắng. Nhưng 3 sự thay đổi người (Rooney thế chỗ Owen, Lennon - Carragher, và Downing - Joe Cole) như tiếp thêm sức trẻ và lửa chiến đấu cho "những chú sư tử". Rooney chạy vẫn chưa thực sự thanh thoát và dũng mãnh, còn "nhát chân" sau chấn thương kéo dài, nhưng anh cùng với hai đồng đội trẻ mới vào sân đã góp công lớn đẩy tốc độ trận đấu lên cao. Nhưng tuyển Anh cũng phải đợi tới phút 83 mới được ăn mừng bàn mở tỷ số của Peter Crouch, trước khi Steven Gerrard thực hiện cú dứt điểm đẳng cấp ấn định thắng lợi vào phút 91.
Kết quả ngày 15/6
Ecuador - Costa Rica 3-0 (Tenorio 8', Delgado 54', Kaviedes 90')
Anh - Trinidad&Tobago 2-0 (Crouch 83', Gerrard 91')
Thụy Điển - Paraguay (2h, 16/6)
Anh đã vào vòng 16 đội, bất chấp kết quả lượt cuối đấu với Thuỵ Điển. Họ thậm chí còn sớm giành ngôi đầu bảng B trong trường hợp trận Thuỵ Điển - Paraguay diễn ra sau đó có kết quả hoà. Có điều, để tiến xa hơn, ông Eriksson và các cầu thủ còn quá nhiều thứ cần cải thiện. Đầu tiên là vấn đề ở hàng công. Crouch phá thế bế tắc, nhưng anh mờ nhạt gần như suốt thời gian trước đó cùng với Owen. Rooney thì mới bình phục chấn thương, nên khó đòi hỏi anh chơi với phong độ cao nhất. Nơi tuyến giữa, Beckham vẫn có những đường tạt "chết người", nhưng Joe Cole không đạt được phong độ như khi thi đấu cho Chelsea. Gerrard có cú sút thành bàn tuyệt đẹp, nhưng sức mạnh của anh vẫn chưa được phát huy tối đa khi phải chơi cạnh Lampard cùng có thiên hướng tấn công. Tiền vệ của Liverpool đã phải chấp nhận lùi sâu hỗ trợ phòng ngự, để Lampard được tự do dâng cao. Ở hàng thủ, hai hậu vệ biên đá chính trận này là Carragher và Ashley Cole hỗ trợ tấn công không tốt.
Anh dứt điểm quá kém trong hiệp một
Như trận hoà 0-0 với Thuỵ Điển, Trinidad&Tobago tiếp tục áp dụng sơ đồ 4-5-1 ưu tiên hoàn toàn cho phòng ngự, với Yorke chơi như tiền vệ thủ. Mặc dù vậy, Anh không khó để giành quyền làm chủ thế trận. Họ tạo ra không dưới ba thời cơ ngon ăn ngay trong 45 phút đầu, tuy nhiên những ngôi sao tấn công đã dứt điểm quá tồi. Phút thứ 5, đón đường kiến tạo của Crouch, Frank Lampard tung cú sút xa buộc thủ thành Hislop phải vất vả đẩy bóng. Chưa đầy 5 phút sau, đến lượt Crouch chân dài nhưng di chuyển chậm, lóng ngóng tiếp bóng cận thành hỏng ăn, lãng phí một pha ép thành nguy hiểm.
Phút 41, thêm một cơ hội cho tuyển Anh bị quẳng đi. Owen loại được các hậu vệ đối phương, tiến sát tói biên ngang và trả bóng lại rất vừa tầm, nhưng Lampard có pha xử lý quá tồi: đệm bóng vọt xà từ cự ly gần. Chỉ khoảng một phút sau, Beckham có quả tạt đẹp vào giữa khu cấm thành, nhưng Crouch trụ không vững và vôlê lỏng chân như một cầu thủ nghiệp dư.
Bỏ phí những tình huống ăn bàn rõ ràng, đội quân của ông Eriksson thiếu chút nữa còn "dính đòn" ngay trước giờ nghỉ. Stern John tì người Ferdinand để dứt điểm cận thành bằng vai sau khi thủ thành Robinson không cắt được quả căng ngang, nhưng Terry kịp tung chân phá bóng ngay vạch cầu môn. Cả hai trung vệ của tuyển Anh đều đau đớn sau pha bóng thót tim này.
Rooney vào sân, và Anh có chiến thắng


Image
Rooney đã hoàn toàn bình phục chấn thương. Ảnh: AFP

Vẫn với những con người cũ, tuyển Anh nhập cuộc ở hiệp hai chẳng khác 45 phút đầu là mấy: thi đấu thiếu uyển chuyển, không liền mạch và bỏ lỡ cơ hội. Phút 56, cú đá phạt đẳng cấp thường thấy mang thương hiệu Beckham đưa bóng tới đúng vị trí của Owen, nhưng tiền đạp này lao người đánh đầu chệch đích gang tấc.
Không thể kiên nhẫn hơn, ông Eriksson buộc phải cải thiện sự bế tắc bằng việc tung cùng lúc Rooney vào thế chỗ Owen, còn Lennon thay Carragher. Nhà cầm quân người Thuỵ Điển tiếp tục đưa Downing vào chỗ của Joe Cole phút 74. Lối chơi của tuyển Anh cơ động và tốc độ hơn hẳn, khi chuyển từ 4-4-2 sang 3-5-2. Mặc dù vậy, sự điều chỉnh cũng phải tới cuối trận mới được đền đáp
Phút 83, tuyển Anh phá thế cân bằng. Beckham đón đường chuyền dài của Downing, và nhanh chóng thực hiện cú câu bổng hiểm hóc về phía góc xa từ hành lang phải. Bóng đi vượt tầm kiểm soát của Trinidad, nhưng Crouch có mặt đúng lúc, bật cao đánh đầu vào góc gần trước sự chới với trong vô vọng của Hislop. Trong tình huống này, hầu hết các hậu vệ Trinidad đã bị hút về phía Rooney.
Phút 91, Anh có bàn hoàn tất chiến thắng 2-0 vất vả, sau một pha dứt điểm đẳng cấp cao. Gerrard nhận bóng gần khu cấm địa, đảo chân phải loại một cầu thủ đối phương, đưa bóng tới vị trí thuận lợi hơn rồi nhằm góc cao phía xa để tung chân trái kết thúc. Bóng đi sát mép trong cột dọc, mang lại cho Anh một bàn thắng quan trọng và là ứng viên cho danh hiệu Bàn thắng hay nhất giải..
Nếu dứt điểm tốt hơn, Anh có lẽ đã kết thúc trận cầu với tỷ số đậm, chứ không dừng lại ở cách biệt hai bàn. Phút 75, hàng phòng ngự Trinidad mắc lỗi vị trí, tạo thời cơ cho Lampard thoải mái nhận bóng từ cú đánh ngực của Crouch. Nhưng tiền vệ của Chelsea xoay người sút quá hiền. Ít phút sau, lại là Lampard dứt điểm chệch cột dọc sau quả chuyền sệt của Rio Ferdinand.
Anh sẽ gặp đại diện của bảng A tại vòng hai - chủ nhà Đức hoặc đội bóng Nam Mỹ Ecuador.

Những thông số sau trận:
Anh T&T
Sở hữu bóng
67% 33%
Sút trúng đích
8 3
Sút trượt đích
17 6
Phạt góc
6 3

Đội hình:
Anh: Robinson, Carragher (Lennon 58), Terry, Ferdinand, Ashley Cole, Beckham, Lampard, Gerrard, Joe Cole (Downing 74), Owen (Rooney 58), Crouch.
Dự bị không sử dụng: Campbell, James, Bridge, Hargreaves, Jenas, Carrick, Carson, Walcott, Neville.
Bàn thắng: Crouch 83', Gerrard 90'.
Trinidad&Tobago: Hislop, Edwards, Sancho, Lawrence, Gray, Birchall, Whitley, Yorke, Theobald (Wise 85), Stern John, Jones (Glen 70).
Trọng tài: Toru Kamikawa (Nhật Bản).
Cầu thủ hay nhất trận: David Beckham

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Image

Khi giá Xăng quá mắc .

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Lời ước thề trăm năm
PHẠM PHONG DINH
Cánh đồng cát nắng cháy rộng mênh mông và dường như kéo dài đến vô tận. Những con người đang lếch thếch nhấc từng bước, kéo lê chân mệt mỏi thành những vệt dài đâm xiên chéo vào nhau như những đường chỉ rối. Dưới những chiếc nón sắt loang lở vết sơn màu xanh, những cái vai áo kaki đẫm ướt mồ hôi, muối đọng thành những quầng trắng bạc, lưng người lính còng xuống vì sức nặng của những chiếc ba lô căng cứng, lẫn lộn xen kẻ với những tấm áo vải bạc màu và quang gánh tội nghiệp của đám dân chúng chạy loạn. Một hàng đoàn dài thườn thượt quân lẫn dân lặng im, kiệt lực đi về phía mặt trời mọc, mà bây giờ nó đang đứng ngay trên đỉnh đâu. Những tia nắng chói chang của một ngày đầu hè dội lên bãi cát những cơn nhiệt nóng tưởng chừng thể nung đỏ cả đá. Những con mắt mất thần dõi trông về phía trước, bên trái hay bên phải tìm kiếm dấu vết của nước. Những đôi môi thâm đen, khô nứt đang liếm chất mồ hôi mặn chát chảy từ chân tóc xuống, lạn sạn bụi cát. Chỉ toàn cát với cát. Lác đác nhũng bụi cỏ vàng úa, những thứ bụi cây gai cứng, nhọn thấp lè tè, hay một vài cây dương cằn cỗi oằn oại dưới cơn lửa nhiệt mùa hạ. Bọn trẻ con phá vỡ cái im ắng dị thường đó bằng những tiếng kêu khóc đòi sữa, đòi nước và đòi được cho ăn. Tiếng khóc nấc nghẹn của chúng dậy lên những âm thanh đau thương, thống thiết vang dội cả một khoảng trời trong xanh.
Những người lính đi lẫn lộn trong đám dân chúng, bị chìm ngập bởi những cánh tay đen, gầy như một rừng cành cây khô héo, một khi họ phân phát những giọt nước cuối cùng trong những cái bình tong nhựa, hay những gói gạo sấy, những hộp thức ăn ít ỏi còn sót lại dưới đáy ba lô. Chỉ mới một vài khoảnh khắc trước, một đại đội lính xông lên được an toàn trên cái đồi cát mênh mang này, sau khi đã chạy qua một cái vũng sình lầy, mà cứ mỗi thước vuông có không biết là bao nhiêu trái đạn pháo dội xuống. Bỗng nhiên từ mọi phía trên dãi cát, đám dân chúng ẩn nấp trong lùm cây bị cỏ từ trước ùa ra reo hò nắm lấy những người lính :”Lính mình, lính mình, lính cộng hòa...”. Đồng bào đông quá. Không biết họ đã lên đến cánh đồng cát này từ bao lâu, họ từ đâu tới và họ muốn đi về đâu. Đồng bào mừng quính, khi nhiều đại đội lính khác xông qua được cái trũng tử thần phía dưới. Họ ôm chầm lấy lính khóc òa :”Anh lính cộng hòa ơi...”. Lính cũng khóc. Đối với người dân hiền lành mộc mạc ở những nơi đồng khô cỏ cháy và trong nỗi chết chóc kinh hoàng đến tận cùng này, thì những chiếc áo kaki của lính đồng nghĩa với hy vọng và sự sống. Nhưng con đường vẫn còn dài thăm thẳm. Đi về hướng mặt trời mọc ra hướng biển rồi quặt xuống phía Nam, mức đến cuối cùng sẽ là một con sông được gọi tên là Mỹ Chánh, mà ở đó dân chúng nghe nói có “lính mình” nhiều lắm.

Đói, khát, kiệt sức, những người yếu đuối nhất, ông già bà lão, đàn bà và trẻ con, lác đác dừng chân ngồi phệt xuống giữa con đường cát bỏng đưa những đôi mắt lờ đờ khô quánh nhìn theo đám dân chúng còn đứng vững trên hai chân lê lết bước qua. Những khuôn mặt hốc hác sạm đen ngước lên chăm chăm, đôi mắt mờ đục, tuyệt vọng ánh lên sự cầu xin cứu giúp. Một bà lão tóc bạc lơ thơ, bụi cát đã nhuộm thành màu xám xịt, chiềc áo vải cũ vá chằng vá đụp, mặt mũi bà nhăn nheo, sâu đậm như những vết nứt trên đồng khô đang ôm trong lòng một ông già ốm yếu nằm hấp hối bên đường. Cái miệng móm mém đã hết răng của bà phát ra những âm thanh áo não không thành tiếng. Bà lão đang khóc, nhưng tiếng khóc của bà chỉ là một chuỗi tiếng kêu rên tắt nghẹn. Có lẽ rồi cũng đến lượt bà hấp hối như ông lão thôi. Chợt trông thấy hai người lính đi gần sát bên, bà lão đưa cánh tay gầy đen đủi chỉ còn xương bọc da níu lấy chân một người. Rồi bà nhoài người ra dùng cánh tay còn lại ôm luôn cái ống chân của anh lính khóc lóc :
- Cậu ơi cậu, tui lạy cậu, cậu cứu giùm ông già...

Anh lính sững người đứng chết lặng. Anh cúi đầu xuống nhìn bà lão, đôi mắt anh ánh lên vẻ xót thương :
- Ông ngoại làm sao vậy bà ngoại ?

Bà già ngước mặt lên, bà chấp tay trong tư thế sắp sửa cúi xuống lạy anh lính, lắp bắp những lời chắp nối đứt đoạn:

- Tui lạy...làm ơn cứu... ổng bịnh, ổng ...đói, khát... tui lạy mấy cậu...

Anh lính vội khuỵu chân xuống đỡ lấy tay bà lão :
- Bà ngoại ơi...

Anh xốn xang nhìn vào đôi mắt kèm nhèm mờ đục của bà lão, rồi anh nhìn xuống khuôn mặt hốc hác của ông lão. Ông lão vừa rên hừ hừ vừa đờ đẫn nhìn anh lính, đôi môi khô nứt của ông mấp máy không thành tiếng. Anh lính thở dài rút lấy cái bình đông nước, anh đưa cao lên lắc lác. Hình như chỉ còn một chút xíu ở tận đáy. Anh mở nắp trút những giọt nước quí giá cuối cùng ấy vào. Anh lính buồn rầu nhìn cái nắp chỉ lưng một nửa nước. Anh chậm rãi nâng đầu ông lão lên và nghiêng cái nắp rót nước vào miệng ông. Ông già nhắp nhắp nước, ông đưa mắt nhìn anh lính với vẻ biết ơn. Anh lính ngước lên kêu người bạn :

- Ê, Tư , mày còn nước rót cho bà ngoại một miếng.

Người lính được gọi là Tư lắc đầu nói trống không :

- Còn đâu mà còn !

Bà già đưa cái cằm móm nhóp nhép đôi môi thâm đen :

- Tui không dám...

Tư ngồi xuống nắm lấy tay bà lão :

- Con cháu đâu hết rồi mà để cho ông ngoại bà ngoại lang thang như thế này ?

Bà già đưa đôi mắt u sầu nhìn người lính :

- Chết hết rồi, chỉ còn một đứa, nó đi đâu mất. Mấy cậu người ở đâu nói tiếng nghe lạ rứa?

- Tụi con ở miền Tây ra bà ngoại ơi !

Bà già nheo mắt nhìn anh lính lạ lùng :

- Miền Tây là ở mô, có phải trong nước Việt mình ?

Tư không khỏi không mỉm cưới trước câu hỏi ngộ nghĩnh của bà già :

- Miền Tây ở tận trong xa lắm bà ngoại ơi.

Hai người lính đứng lên muốn đuổi theo toán quân, bà già hoảng hốt ôm chặt lấy chân anh lính kêu khóc. Hai người bạn nhìn nhau. Mãi một lúc sau Tư buồn buồn nói với bạn :

- Thôi mình đi Hậu, biết làm sao...

Hậu bất nhẫn cúi xuống nhìn cái đầu tóc bám đầy bụi đất lơ thơ chỉ còn có mấy sợi của bà lão thở hắt ra :

- Tư, mày chịu khó vác thêm cái ba lô của tao !

Tư trố mắt nhìn bạn :

- Mày muốn cõng ông già hả ?

- Ừ, nhìn ông bà cụ này tao chợt nhớ ông ngoại bà ngoại tao...

- Nhưng mà ông bà ngoại mày đã lên bàn thờ từ lâu rồi mà !

- Mày có chịu hay là không ?

Tư dùng dằng :


- Cái thằng... thôi đưa đây, chặc, rồi mày định cõng ổng tới bao lâu ?

Hậu dùng hai tay kéo ông lão xốc lên lưng :

- Tới khi nào tao mỏi thì mày... thế !

Tư nghe lỗ tai lùng bùng :

- Hả, mày nói cái gì nói lại tao nghe thử ?

Bà lão đứng lên theo, bà ôm Hậu khóc ròng. Bà muốn nói lời cám ơn người lính, nhưng cổ họng bà khô rát và tắc nghẹn. Ông lão gục đầu lên cái vai áo loang lổ vết muối bạc của Hậu thở khò khè, nước dãi chảy thấm ướt đến trước ngực người lính. Tư còng lưng dưới sức nặng của hai chiếc ba lô đầy đạn, đã thế mà anh còn phải để cho bà già tựa vào vai. Tình cảnh của hai người bạn càng lúc càng khốn đốn và bi đát. Càng bi đát hơn khi hai người lính trông thấy ông đại đội trưởng đang ngồi trên chiếc nón sắt, dưới bóng râm của một cây dương ở đầu con đường chằm chằm nhìn họ. Người sĩ quan dường như đang nài xin với một người nào đó trên tiểu đoàn qua máy vô tuyến. Ông ta đang cầm cái ống nói áp vào miệng :

- Trình thẩm quyền ráng xin máy bay bốc thương binh và đồng bào ...

Người đại đội trưởng khoát tay ra dấu cho hai người lính dừng lại :


- Ê, mấy thằng, giao ông bà cụ cho quân y rồi lên trên đó đi.


Lên trên đó có nghĩa là mở đường, và có thể sẽ đánh lớn tới nơi. Hậu đỡ ông già nằm xuống bên gốc cây dương, anh nhỏ nhẹ nói với bà lão :


- Vậy là êm trời rồi bà ngoại, chắc ổng xin được trực thăng. Thôi bà ngoại ông ngoại đi mạnh giỏi nghe, tụi con còn phải đi...


Bà già nắm chặt bàn tay của Hậu. Đôi mắt của bà nhấp nháy nhưng không còn một chút nước mắt nào chảy ra từ cái hố khô kiệt ấy. Tư ân cần trao cho bà lão một gói cơm sấy và vài hộp thịt :

-Bà ngoại nhận đỡ mấy món này, tụi con chỉ còn có bấy nhiêu thôi.

Đây là những món cuối cùng trong ba lô của Tư, mà anh đã cho hết. Tư cũng không nhớ là rồi trên quãng đường khó khăn phía trước, anh sẽ sống sẽ ăn bằng cái gì nữa. Bà lão rưng rưng thều thào :

- Vợ chồng tui đội ơn mấy cậu. Tui cầu xin Phật Trời...

Bà già nghẹn ngào không nói được gì thêm nữa.

Khi đã đi một khoảng xa, Hậu quay lại nhìn. Anh thấy bà cụ đang đứng đưa tay lên che mắt nhìn theo. Tội nghiệp, cái lưng bà cụ cong xuống làm cái cổ của bà gần như rụt mất hút vào hai cái hốc vai gầy trơ xương. Một cô gái dáng người nhỏ thó hối hả chạy từ phía trước ngược về hướng hai người lính. Khi sắp vượt qua, bỗng cô dừng lại xoay người hỏi :

- Mấy anh ơi, mấy anh có thấy ở đàng sau có một ông già với một bà già không ?

Tư bật cười :

- Có, ông già bà già thì thiếu gì ở dưới đó...

Cô gái đứng ngẩn người ra bối rối. Chiếc quần vải thô màu đen bạc màu của cô gái đã co rút lên đến trên mắt cá, để lộ hai ống xương chân nhỏ, nước da xạm mốc. Hai bàn chân nứt nẻ của nàng mang đôi dép cao su đã mòn, mấy cái quay đứt được cột lại bằng những sợi dây bố. Rất khó ước định cô gái được bao nhiêu tuổi, vì thân thể cô nhỏ nhắn như một em gái mười lăm, mười sáu, nhưng khuôn mặt thì khắc khổ rám đen như một thiếu nữ đã ngoài hai mươi. Mái tóc cháy vàng của nàng dài quá khỏi đôi vai gầy được kẹp bằng một cái trâm bằng đồi mồi cũ. Hậu có một cái cảm giác, hay nói đúng hơn, một linh tính. Anh tiến lên dịu dàng nói với nàng :

- Có phải cô hỏi ông cụ nằm hấp hối bên đường ?

Cô gái nhỏ sáng mắt mừng rỡ :

- Dạ, phải. Em đi tìm nước cho ông bà ngoại em, đây nè... ơ...

Nàng đưa cao cho hai người lính thấy một cái chai đựng một thứ nước, nếu có thể gọi được như vậy, đen đục ngầu lợn cợn bùn đất. Rồi nàng hạ cái chai xuống cúi đầu lúng túng. Hậu hỏi :

- Cô tìm nước ở chỗ nào vậy ?

Cô gái chỉ tay xuống một chỗ trũng nước mà Hậu và Tư có thể trông thấy một đám đông người đang xúm xít quì nằm chen chúc nhau chung quanh, vẻ ngượng nghịu :

- Em lấy nước ở cái hố đó, không tìm được nước chỗ nào hết mấy anh ơi.

Hậu móc trong ba lô một cái chai nhỏ trao cho cô gái :

- Cô lấy chai thuốc lọc nước và sát trùng này. Cứ một viên thì lọc được một chai như thế này. Ngâm chừng nửa giờ thì uống được. Cô có thấy cái cây dương đàng kia không, ông bà ngoại cô đang nằm ở đó chờ trực thăng. Thôi chúc cô và ông bà cụ được bình yên.

Cô gái rưng rưng nước mắt, nàng nhìn sững vào nắp túi vải chỗ thêu cái tên Hậu của anh và Tư. Rồi nàng nhìn vai áo bọn anh, chỗ gắn cái phù hiệu đơn vị. Như để ghi nhận xuất xứ của những người lính. Khi hai người bạn đã xông lên tuyến đầu và đang nằm sau mấy cái mô đất chỉa súng về phía trước, họ trông thấy mấy chiếc trực thăng loại lớn phành phạch hạ cánh xuống phía đồi cát.

Một buổi chiều mùa hè năm sau. Bà cụ đang ngồi lom khom vo gạo phía sau cái chái bếp thì Tươi từ ngoài chạy vào ôm lấy bà, suýt nữa bà lão trật tay hất cái nồi xuống sàn nước. Bà cụ dùng dằng gỡ tay cô cháu:

- Cái con nhỏ này, mày không muốn ăn cơm chắc ?

Tươi miết cái gò má màu nâu sậm của nàng vào cái cằm móm mém của bà cụ kêu lên :

- Ngoại ơi, con mới thấy mấy ảnh nè ngoại !

Bà cũ quay lại dưa đôi mắt kèm nhèm nhìn cô gái :

- Mấy ảnh nào, ở mô ?

Tươi vẫn ôm bà ngoại trong lòng hớn hở nói :

- Trời ơi mấy ảnh về đông lắm. Bà ngoại có nhớ hai cái anh lính hồi năm ngoái hôn ?

Bà già nhíu mày :

- Lính tráng nhiều quá biết nhớ ai với ai...

Tươi trề môi :

- Có vậy mà cũng không nhớ. Hai anh lính cõng ông ngoại hồi mình ở trên cái đồi cát đó ngoại !

Bà cụ giật mình muốn đứng dậy :

- Vậy hả, con dắt ngoại tới đó đi.

Tươi vân vê tà áo :

- Hỏng lẽ mình tới không coi kỳ lắm ngoại ơi.

- Con vô bắt con gà mái cho ngoại...

Hai người bạn đang hì hục đào đất củng cố vị trí thì có lệnh của ông đại đội trưởng kêu lên trình diện. Người sĩ quan ngồi sau cái bàn gỗ cũ sờ càm nhìn hai người lính đứng nghiêm trong tư thế chào. Ông nhìn chằm chằm làm Hậu và Tư đâm hoảng, trong lòng, đoán già đoán non không rõ đã làm chuyện gì không phải. Hậu liếc mắt nhìn xuống bộ quân phục. Vẫn tươm tất. Nhìn xuống đôi giày. có bị dơ chút xíu, vì đang đào giao thông hào mà. Nhưng nụ cười bao dung của người sĩ quan đã nở trên môi :

- Hai thằng em mày có ai tìm kìa. Chà, mới tới chưa nóng đít mà đã có người muốn gặp rồi. Có một cô gái với một bà cụ đến thăm. Rửa ráy sạch sẽ rồi đi ra ngoài đó. Cho phép nửa giờ.


- Tuân lệnh.


Hai người lính quay gót một trăm tám chục độ định bước ra, thì ông đại đội trưởng đã gọi giật lại :

- Ê, ai vậy mấy thằng em ?

- Dạ không biết !

Một năm nổi trôi trên khắp nẽo chiến trường, hai người bạn gần như đã quên bẵng câu chuyện trên cánh đồng cát trong mùa hè nắng nung ấy. Sau mùa hè hoảng loạn đó, đến mùa thu của những cơn bão lửa tàn khốc mà Hậu và Tư đã xông vào. Họ đã trèo lên trên những đống gạch vụn đổ nát ngổn ngang và cắm những lá cờ vàng bay phâp phới dưới ánh nắng chói chang của miền cát nóng. Đông tới, những cơn gió lạnh cắt da cắt thịt từ phía Bắc thổi xuống, hai người lính ngồi nghiến răng co ro trong những đường giao thông hào bên bờ Nam con sông có tên Thạch Hãn. Đến đá cũng đổ mồ hôi. Xuân đến sau mùa đông. Lần đầu tiên sau mấy năm đi lính, những người trai nông dân miền Tây ấy đã nếm được chút không khí Tết an bình, trong một vài khoảnh khắc ngắn ngủi gọi là mừng xuân hòa bình, ngay trên vùng đất hoang tàn không còn một bóng người dân dã nào, ở giữa khoảng trời đất chơ vơ không còn sự sống bình thường. Ngoài trừ những con người đang ăn, ngủ, sinh hoạt và chiến đấu trong lòng những cái hố đất nhỏ. Rồi mùa hè lại về, những người lính nằm bên bờ con sông đá đổ mồ hôi bỗng thấy mình có mặt trên vùng đất phía Nam cái đèo cao vòi vọi mây mù quanh năm.

Khi hai người bạn đi ra đến cổng, thì họ trông thấy hai bà cháu đang đứng đăm đăm nhìn vào. Hậu ngơ ngác, anh gần như không nhận ra bà lão và cô gái. Nhưng Tươi đã vẫy tay rối rít :


- Anh Hậu, anh Tư !


Tư ngẩn ngơ hỏi bạn :


- Tụi mình có quen với cô gái này không ?


Hậu lắc lắc đầu ngần ngừ :


- Hình như là có, tao trông bà cụ quen quen...


Chợt Tư kêu lên :

- À, tao nhớ rồi, bà già trên đồi cát năm trước.

- Nhưng làm sao cô gái lại biết tên tụi mình.

- Mày... ngu vừa vừa vậy, cái tên của mày nằm chình ình trên ngực.

Cô gái dìu bà cụ bước tới. Ánh mắt của nàng nhìn Hậu như muốn nói thật nhiều điều. Trong cõi ký ức mơ màng, Hậu nhớ cái nhân dáng nhỏ gầy của cô gái và chai nước đục ngầu của nàng. Bây giờ thì cô vẫn như vậy. Nhưng nước da cô có sáng hơn, khuôn mặt có tươi tắn hơn. Tư hân hoan nắm lấy tay bà lão :

- Bà ngoại mạnh giỏi.

Bà lão run run nheo mắt nhìn hai người lính :

- Đúng là hai cậu này rồi Tươi, ông ngoại con nhắc mấy cậu hoài.

Hậu hỏi :

- Bà ngoại sao lại ở trong này ?

Cô gái đỡ lời :
- Dạ, ông ngoại em quyết định vô ở trong khu lánh cư này luôn, không về ngoài đó nữa. Có còn gì nữa đâu mà về.

Tươi cúi xuống buồn bã. Chợt nàng ngẩng đầu lên mĩm cười trao con gà cho Đực :

- Ông ngoại bà ngoại em có chút này tặng mấy anh...

Đực hốt hoảng đẩy con gà ra :

- Ấy, cô... Tươi, đừng. Chúng tôi không nhận đâu...

Tươi phụng phịu ấn cặp chân vàng lườm của con gà vào tay Tư. Bằng con mắt sành sõi của một người sống ở miệt quê, Tư biết nó là con gà mái đang nằm ổ đẻ. Anh đưa mấy ngón tay nắn nắn phía dưới bụng con gà. Đầu ngón tay Tư cảm nhận cái buồng trứng, giống như một chùm trái sim mà anh đã hái nhiều trên những ngọn đồi hoang. Ở quê anh thì gà mái chúng nó chạy đầy sân. Nhưng ở ngoài này, anh biết dân mình nghèo lắm. Quê hương em nghèo lắm ai ơi. Mùa đông thiếu áo hè thời thiếu ăn. Anh cảm động ấn con gà vào tay Tươi :

- Tụi tui không dám nhận đâu, cô đem về đi.

Tươi rớm rớm nước mắt quay nhìn bà ngoại. Bà già nắm tay hai người lính nghẹn ngào không biết nói gì...

Ông cụ ngồi bên cái bàn xiêu vẹo nhắp một ngụm trà. Ông nhăn mặt. Trà rẻ tiền uống chát cổ họng. Mấy hôm nay ông thấy trong lòng dậy lên một nỗi xốn xang, bực bội vô cớ. Súng nổ từ phía núi vọng về. Nhiều quá. Càng lúc càng áp sát tới khu lánh cư. Ông nghe bà con chòm xóm xôn xao bàn tán, nói chắc phải bỏ chạy như hồi nẳm ở ngoài đó. Ông bần thần lo lắng. Chạy đi đâu. không lẽ chạỵ xuông phía Nam. Và chạy đến đâu mới gọi là hết chạy. Ông lão thở dài nhìn cái lều tồi tàn. Nào có gì đâu. Cái nhà lá ngoài đó bị cháy, bỏ chạy lấy thân. Đói, khát, sốt. Chỉ trần trụi có ông và bà. Và con Tươi. Không còn gì hết. Bây giờ chạy nữa, thì chắc ông chết trước. Ông gọi bà cụ lên hỏi :

- Con Tươi đâu rồi bà ?

Bà lão vừa nhai trầu vừa ậm ừ :

- Biết đâu, chắc nó chạy nghe tin tức...

- Hừm, nó chạy tới chỗ mấy cậu lính thì có...

- Ừ, nghe nó nói mấy cậu đó đi đâu vô núi đánh lớn lắm. Nó sợ...

Ông già thở ra :

- Người ta ở xa quá, làm sao được bà, lính tráng khó lòng lắm !


Bà già nhổ một bãi trầu vào cái lọ đất nhỏ :


- Thì... chặc, mình đâu có sống đời với nó. Nó ưng ai thì mình tính.


- Có cái thằng kế bên, cũng là dân ngoài đó chạy vô, thằng siêng năng hết sức, muốn nó mà nó không chịu...


Bà già định nói lời chống chế, thì bỗng Tươi từ ngoài hốt hoảng chạy ào vào như một cơn gió xoáy :


- Ông ngoại bà ngoại ơi


Ông lão giật mình nhảy nhổm :


- Cái gì ?


Tươi khóc nấc lên :


- Anh Hậu, ảnh bị...thương nặng lắm. Người ta mới đưa ảnh vô nhà thương mấy hôm nay rồi.


Một đám dân ồn ào đắt díu nhau chạy về hướng thành phố, một người gọi với vào :


- Chạy ông già, mấy ổng gần tới rồi !


Ông cụ lính quính túm lấy cái bọc quần áo mà ông đã cẩn thận gói ghém mấy hôm trước, quẳng nó vào một cái thúng. Bà cụ run lập cập quơ quào mấy cái nồi niêu móp méo thảy vào cái thúng bên kia. Tươi vét vài lít gạo cho vào một cái túi vải, và mấy chai nước. Gia tài chạy giặc của gia đình nàng chỉ vỏn vẹn có bấy nhiêu ấy.


Tươi dắt được ông bà ngoại nàng ra đến được thành phố. Nhưng chỉ đến đó rồi hết. Người ta đổ ra đông nghẹt, chen chúc như nêm trên mọi ngã đường phố, kêu hét, hoảng loạn. Thành phố như một cái túi đã bị thít chặt lại trên miệng, bị bao vây ba bên bốn phía. Đã quá muộn màng trong cái ngày cuối cùng này. Hai ông bà cụ và Tươi bị chìm mất vào khối người hỗn độn, cuồn cuộn, ngược xuôi cuống quít tìm con đường thoát. Rồi đến một lúc nào đó Tươi đành bị lạc mất ông ngoại bà ngoại. Nàng kêu khóc thảm thiết. Nàng chạy ngược chạy xuôi tìm kiếm. Tươi biết lần này ông bà ngoại nàng không còn hy vọng gì sống sót trong cơn tận thế như thế này. Đôi quang gánh của Tươi bị nhồi ép chằng níu, cuối cùng nó đã biến mất dưới những cơn sóng chân người. Tươi bỗng thấy mình trôi giạt đến trước cổng cái quân y viện thành phố. Nàng đứng nép vào một chân cột ôm ngực vừa thở vừa nhìn vào bên trong. Nàng rùnh mình kinh hãi, khi trong thấy hàng đoàn người trong chiếc áo màu xanh bệnh đang lê lết khập khiễng bước, chống nạng, bò, lăn bánh xe kéo nhau túa ra. Tươi chạy tuôn vào. Nàng đi giữa những cặp mắt thất thần, những mùi thuốc hăng hắc, mùi máu me thấm đẫm những dãy băng trắng toát. Tươi chạy lung tung trong cái bệnh viện rộng mênh mông như một người điên. Nàng trông thấy một người nằm vắt mình trên ngạch cửa một căn phòng. Trống ngực đánh thình thình Tươi chạy lên bậc tam cấp nâng mặt người lính lên nhìn. Bỗng Tươi rú lên đau thương :


- Trời ơi, là anh Hậu đây mà ...


Nàng ôm đầu Hậu vào lòng khóc nấc. Tươi cố gắng kéo Hậu tựa vào ngực mình. Tấm thân vạm vỡ của Hậu gần như che lấp hết vóc dáng nhỏ bé của cô gái. Hậu mở mắt lờ đờ nhìn, anh rên lên :


- Có phải là Tươi ?


Tươi gục lên mặt Hậu nức nở, những giọt nước mắt của nàng chảy ràn rụa trên đôi má người yêu :

- Em là Tươi của anh đây !

Hậu nở nụ cười gượng gạo, anh cố ngẩng đầu lên nhìn vào cái bụng quấn băng mà giờ đây đã nhuộm đầy máu. Có lẽ những mối chỉ đã bung đứt, vết thương vừa mổ xong vài ngày trước lại bể miệng. Một cơn đau xé khủng khiếp dội lên óc. Thân thể anh nóng hừng hực như bị ném vào lửa. Hậu lần tìm lấy bàn tay nhỏ của người yêu thều thào :
- Tươi ơi, chắc anh không sống được...
Tươi áp đầu vào đôi má sạm đen của Hậu nghẹn ngào :

Nếu anh chết thì em cũng chết theo anh !

Tươi đưa mắt nhìn quanh. Chợt nàng trông thấy một chiếc băng ca nằm chơ vơ giữa sân. Tươi kéo chiếc băng ca vào, rồi nàng hì hục nâng Hậu lên. Tươi nắm lấy hai cái cán kéo lết chiếc băng ca ra ngoài. Đến được cổng bệnh viện thì Tươi kiệt sức, nàng nằm phục bên Hậu thở dốc. Rồi nàng lại cắn môi đến rướm máu kéo chiếc băng ca đi. Nàng cứ kéo, kéo mãi chiếc băng ca như người trong cơn mộng du. Trong màn lệ nhòe nhẹt nàng bỗng thấy mình đang ngồi trước một cái cổng chùa. Và nàng nhìn thấy những đôi mắt xót thương nhân từ của ai đó đang cúi xuống. Rồi Tươi thấy người ta khiêng cái cáng đi vào bên trong, và có người nào đó dìu nàng đi theo.

Cứ mỗi lần ngồi gọn trong lòng chồng như một con mèo nhỏ, Tươi thích nghịch ngợm lần tay nắn nắn vết thẹo dài nổi lằn như một con lươn trên bụng anh. Những lúc đó Hậu nhìn vợ bằng ánh mắt biết ơn. Anh ôm vợ trong hai cánh tay gân guốc của mình, như muốn truyền hết nỗi yêu thương tha thiết trong trái tim anh cho nàng. Anh hôn lên mái tóc vàng cháy ngày nào của vợ, mà giờ đây nó đã bóng mướt, có lẽ vì nó được bón bằng tình yêu của anh. Tươi nằm ngoan ngoãn trên ngực Hậu. Hai vợ chồng nhìn ra ngoài khung cửa sổ. Bầu trời đang vần vũ những đám mây xám xịt. Hơi lạnh tràn vào căn nhà nhỏ trống trải và lụp xụp. Những giọt nước mưa đầu mùa hè đã bắt đầu rơi lộp độp trên mái lá. Nhìn bầu trời xám, Tươi nhớ lại cũng màu xám như thế này. Trong ngày mùa hè cuối cùng ấy. Những lúc ôm cái thân thể ốm nhỏ nhưng ấm áp và mềm mại của vợ, Hậu thích hỏi nàng hoài một câu :

- Tươi ơi, tại sao em chịu làm vợ một người nghèo nàn và bệnh hoạn như anh ?

Chắc chắn Tươi sẽ ngước mắt lên âu yếm, quàng tay vòng lấy cổ anh dịu dàng và tình tứ :

- Vì em đã dành cho em lời ước thề khi lần đầu tiên em gặp anh ...

Phạm Phong Dinh

User avatar
Dau Do
Posts: 445
Joined: Sat Dec 11, 2004 3:00 am

Post by Dau Do »

Xin mời các anh chị em xem biểu diễn Piano
Piano with Balls
Triệu người quen có mấy người thương

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

HÂN HOAN CHÀO MỪNG NGÀY QUÂN LỰC VNCH 19 tháng 6.

Image

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Happy FatherDay !!! Ha Ha Ha !!!!!

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »


User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Hàn Quốc 1-1 Pháp, niềm tự hào châu Á

Không hề chịu thua kém nước láng giềng Nhật Bản, Hàn Quốc cũng gây một bất ngờ nho nhỏ trong đêm qua khi cầm chân gã khổng lồ Pháp. Kết quả này đồng nghĩa với việc cơ hội vào vòng 2 của nhà cựu vô địch thế giới bị đe dọa.

Image
Henry "nổ súng", nhưng chưa đủ cho Pháp có 3 điểm.

Cuối cùng Pháp đã tìm được mành lưới đối phương sau gần 8 năm không ghi bàn tại World Cup, trong đó có trận hoà 0-0 với Thuỵ Sĩ ngày ra quân giải năm nay. Nhưng chiến thắng vẫn là một thứ gì đó quá xa xỉ. Hàn Quốc bất ngờ gỡ hòa khi trận đấu chỉ còn 9 phút, và đẩy nhà cựu vô địch vào tình thế khó khăn trong lượt cuối.

Kết quả ngày 18/6
Nhật Bản - Croatia 0-0
Brazil - Australia 2-0
(Adriano 49, Fred 90')
Pháp - Hàn Quốc 1-1
(Henry 9' - Park Ji Sung 81')


Với vài thay đổi trong sơ đồ chiến thuật (quay về 4-4-2 thay vì 4-5-1), đội quân của HLV Domenech đã khởi đầu hết sức thuận lợi. Sau pha chuyền bóng thông minh của Wiltord ở phút thứ 9, Henry phá bẫy việt vị khá đơn giản trước khi dứt điểm tinh tế qua tay thủ môn Lee Woon Jae mở tỷ số trận đấu.
Nhờ có phong độ xuất sắc của cặp Vieira - Makelele, đội tuyển Pháp tiếp tục khống chế hoàn toàn tuyến giữa và đẩy Hàn Quốc vào thế thủ. Lẽ ra cách biệt đã phải được nhân đôi ở phút 32, khi quả đánh đầu của Vieira bị Lee Woon Jae đẩy ra. Băng hình quay lại cho thấy rõ ràng bóng đã qua vạch vôi, nhưng trọng tài người Mexico, Benito Archundia, làm như không hề nhìn thấy.
Tình huống hỏng ăn này đã khiến Pháp phải trả giá sau giờ nghỉ giải lao. Tiếp tục chơi chắc chắn trong hiệp hai nhưng các chú gà Gaulois trên hàng công vẫn tỏ ra bất lực. Hậu quả là Hàn Quốc bất ngờ tấn công và tung ra đòn chí mạng khi trận đấu chỉ còn 9 phút. Tiền vệ nổi danh Park Ji Sung của MU dùng mũi chân lốp bóng kỹ thuật qua đầu thủ môn Fabien Barthez, bất chấp mọi nỗ lực lao về tuyệt vọng của William Gallas, bàn thắng gỡ hòa vẫn được ghi cho đội tuyển vùng Đông Bắc Á.

Image

Park Ji Sung ăn mừng pha dứt điểm tinh tế qua tầm với thủ môn Barthez.

Kết quả hòa 1-1 giúp Hàn Quốc được 4 điểm sau hai trận, còn Pháp chỉ có 2. Tình thế của bảng G đang lộ rõ nguy cơ có khả năng cả 3 đội đứng đầu (Hàn Quốc, Pháp, Thụy Sĩ) sẽ có cùng 5 điểm sau lượt đấu cuối cùng. Vì thế, đội nào càng thắng đậm Togo, sẽ càng có hiệu số tốt hơn và giành lợi thế cạnh tranh. Nói tóm lại, nếu muốn tự quyết định số phận của mình, ít nhất Pháp sẽ phải thắng Togo hai bàn cách biệt (đủ để hơn Hàn Quốc hiệu số trong trường hợp có cùng 5 điểm).
Tuy nhiên, nhiệm vụ ấy hứa hẹn chẳng hề đơn giản, bởi nhạc trưởng Zidane nhận thẻ vàng thứ hai trong đêm qua và sẽ vắng mặt lượt cuối. Chung số phận là hậu vệ trái, Eric Abidal.


Đội hình thi đấu:
Pháp: Barthez, Abidal, Gallas, Thuram, Sagnol, Malouda (Dhorasoo 88), Vieira, Makelele, Zidane (Trezeguet 90), Wiltord (Ribery 60), Henry.
Dự bị không sử dụng: Boumsong, Chimbonda, Coupet, Diarra, Givet, Govou, Landreau, Saha, Silvestre.
Thẻ vàng: Abidal, Zidane.
Bàn thắng: Henry 9.
Hàn Quốc: Woon-Jae Lee, Young-Chul Kim, Dong-Jin Kim, Choi, Young-Pyo Lee, Nam-Il Kim, Ji-Sung Park, Eul-Yong Lee (Seol 45), Ho Lee (Sang-Sik Kim 69), Chun-Soo Lee (Ahn 72), Jae-Jin Cho.
Dự bị không sử dụng: Baek, Won-hee Cho, Chung, Do-Heon Kim, Jin-Kyu Kim, Yong-Dae Kim, Young-Kwang Kim, Chu-Young Park, Song.
Thẻ vàng: Ho Lee, Dong-Jin Kim.
Bàn thắng: Ji-Sung Park 81.
Lượng khán giả: trên 43,000.
Trọng tài: Benito Archundia Tellez (Mexico).
Cầu thủ hay nhất trận đấu: Park Ji-Sung

Tiến Dũng

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image
Nhớ Ngày Quân Lực 19.06.2006
Cám Ơn Anh: Người Lính VNCH
Hồ Đinh - Viết từ KBC 4424 – 3435 và 4608
Như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) từng nói ‘Đất nước còn thì còn tất cả‘. Bởi vậy sau ngày 1-5-1975, đồng bào Miền Nam đã mất hết mọi thứ kể cả quyền làm dân, khi chính phủ và quân lực VNCH không tồn tại, để bảo vệ họ như hồi Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 và trăm ngàn chiến cuộc, khắp mọi nẻo đường đất nước, cho tới ngay 30-4-1975 bị rã ngũ theo lệnh buông súng đầu hàng.

Tự ngàn xưa, quân đội Việt Nam luôn nổi tiếng kiêu hùng, nên đã đạt được nhiều chiến công hiển hách, trong suốt dòng lịch sử của dân tộc, qua các cuộc bình Chiêm, phá Tống-Nguyện-Minh-Thanh, khiến các nước lân bang Lào, Miên và cả Xiêm La phải kinh hồn bạt vía.

Là con cháu của Tổ Tiên Hồng-Lac, chúng ta dù được sinh vào thế hệ nào chăng nữa, ra đời trong nước hay nơi hải ngoại, vẫn luôn ngưỡng mộ và hãnh diện, về công đức vĩ đại của tiền nhân, trong đó miên viễn quân đội bao đời,

Với ý nghĩa thiêng liêng và cao quý trên, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được hình thành trong giai đoạn đất nước tạm chia (1955-1975), chống lại cuộc xâm lăng bằng quân sự, của khối cộng sản đệ tam quốc tế, do Việt Cộng Bắc Việt đảm nhận. ĐÂY LÀ MỘT CUỘC CHIẾN SINH-TỬ, của quân đội MIỀN NAM, chống lại cuộc xâm lăng của bộ đội MIỀN BẮC, để giữ lại phân nửa gấm vóc giang sơn của Tiền-Nhân, không lọt vào gông cùm nô lệ của giặc đỏ.

Cho nên, đây không phải là một cuộc chiến giữa cộng SẢN BẮC VIỆT VÀ NGƯỜI MỸ, như giới truyền thông phương Tây, thời đó và ngay cả bây giờ, đã bóp méo sự thật, mục đích đầu độc dư luận thế giới, làm giảm uy tín của QLVNCH. Có như the, Cộng Sản và phe ta trốn quân dịch, mới vừa chửi Mỹ, vừa tô son vẽ mặt cho đạo quân tiền phong cong sản tại Đông Nam Á, tức Bắc Việt có một chính nghĩa lý tưởng, đánh đuổi Mỹ-Ngụy cứu nước.

Đây cũng chính là nỗi thảm thê chất ngất của người Lính Miền Nam, trong hai mươi năm khói lửa. Vì định kiến, vì buông xuôi, vì thủ đoạn con buôn quốc tế, tất cả đã dồn ép QLVNCH vào chân tường, trong cuộc chiến đấu đơn độc, không hậu phương, không một chút tình quân-dân, cá-nước.

Hai mươi năm chiến đấu, đời lính buồn ơi là buồn, trước mặt phải trực diện với một kẻ thù gian xảo độc ác, mất hết thiên lương nhân tính vì đã bị chủ nghĩa nhồi sọ, cho nên chỉ biết có giết người để đạt mục đích được khắc sâu trong da thịt. Còn sau lưng bị thọc bởi hậu phương vô tình bạc bẽo và cuối cùng trên đầu là đồng minh với đại bàng, luôn rình rập để phản bội và bán đứng. Mới đây có Nguyễn Thuỳ và Vũ Ngọc Tiến, đã dùng bút vẽ lên bức tranh vân cẩu của cuộc chiến vừa qua, cho ta thấy chỉ có Bộ Đội Bắc Việt hay Việt Cộng, vì thèm khát đàn bà, nên chỉ có chúng mới hãm hiếp phụ nữ, chứ người lính VNCH đâu có lý do gì, để mà cuồng dẩm cả xác chết của nử cán bộ VC ?

Cảm nhận đựợc thân phận nhược tiểu của đất nước và sự bất hạnh của dân tộc, nên người lính chấp nhận hy sinh đời trai, để làm tròn bổn phận cùng trách nhiệm của một con người có tim óc, cho tới trưa ngày 30-4-1975, khi TT. Dương Văn Minh bắt buông súng đầu hàng.

Sau đó, cộng sản Hà Nội thẳng tay cướp bóc, chẳng những mọi chiến lợi phẩm của chính phủ VNCH từ công ốc, ngân khố, quân trang dụng, trong đó có mười sáu tấn vàng y, của quốc gia, được Nguyễn văn Hảo giữ lại để nạp dâng công cho Bắc Bộ Phủ. Tệ nhất là VC táng tận lương tâm, cướp luôn tài sản mồ hôi nước mắt của đồng bào, mà trong số này, có nhiều mẹ chiến sĩ, đã từng nuôi dấu cán binh bộ đội, ủng hộ vàng bạc lúa gạo cho chúng, trong suốt thời gian chiến tranh.

Ngoài việc cầy mồ người chết để trả thù bị thua VNCH trên chiến trường, VC còn hành hạ những phế binh, cô nhi tử sĩ bị kẹt trong nước, với đủ thủ đoạn học được từ KGB, mà mới nhất là chiến dịch ‘đuổi tận, giết tuyệt‘ các thành phần trên, đang sống tại các chòi, dựng trong Nghĩa Địa Phước Bình, Sài Gòn.

Thì ra cách mạng bảy mươi năm, để giải phóng đất nước, mục đích cũng chỉ có thế thôi, nên từ đó theo thời gian, hằng ngàn huyền thoại về ‘Người Bộ Đội Miền Bắc, Vượt Trường Sơn Vào Nam Đánh Mỹ Cứu Nước‘, đã theo lớp son phấn đảng tham nhũng, tham tàn, tham địa vị, tan biến theo lớp sóng phế hưng của cuộc đổi đời mạt lộ.

Ba mươi mốt năm tan hàng rã ngũ, quân-dân Miền Nam đã lần lượt đồng hành, qua hết chín tầng địa ngục trần gian nơi thiên đàng xã nghĩa. Nhưng người lính Miền Nam, sinh ra trong khói lửa, trưởng thành chốn chiến trường, nên thể xác dù đã bị bầm giập tan nát, tinh thần cuả người lính vẫn nguyên vẹn và không ai có thể thay đổi hay ngăn cản lý tưởng của họ.

‘dấu binh lửa nước non như cũ
kẽ hành nhân qua đó chạnh thương
phận trai già rủi chiến trường
chàng Siêu, tóc đã điểm sương mới về .’
(Chinh Phụ Ngâm Khúc)
Image

1- TỪ QUÂN ĐỘI QUỐC GIA TỚI QUÂN LỰC VNCH :
Ngày 13-8-1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, sau khi bị Hoa Kỳ, thả hai trái bom Nguyên Tử xuống hai thành phố Trường Kỳ và Quang Đảo. Lợi dụng thời cơ trên, quân viễn chinh Pháp theo quân Anh-Ấn xâm nhập VN, chiếm Sài Gòn và Nam Kỳ. Ngày 2-9-1945, nhờ lực lượng OSS (tiền thân của CIA) giúp súng đạn, nên chỉ có một nhóm rất ít cán bộ cộng sản, đã áp đảo khủng bố được đồng bào, để cướp chính quyền của quốc gia lúc đó, đang bị Pháp-Nhật và quan lại Nam Triều, quăng bỏ lăng lóc một cách tội nghiệp, thê thảm bên vệ đường tại Hà Nội, Huế, Sài Gòn.

Nhờ vậy, Hồ Chí Minh và đảng Việt-Cộng mới có cơ hội, cho quân viễn chinh Pháp từ trong Nam, đổ bộ lên đất Bắc, lúc đó đang do quân Trung Hoa đóng, theo lệnh của Liên Hiệp Quốc, để giải giới quân Nhật từ vỹ tuyến 16 trở ra.

Theo mọi nguồn sử liệu còn lưu trữ, thì chính Hồ Chí Minh cùng Pháp, đã đồng thuận dựng lên một vở tuồng, trong đó Pháp đã mớm lời cho Hồ Chí Minh kêu gọi TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN chống Pháp vào năm 1946. Có kêu gọi, thì Hồ Chí Minh và đảng cộng sản mới nhập nhằng hợp thức hoá, vai trò lãnh đạo Mặt Trận Việt Minh và đất nước. Rồi vì toàn dân VN nổi lên kháng chiến, nên thực dân Pháp mới có đủ lý do đem quân từ Nam Kỳ ra Bắc Việt, cũng như biện minh với thế giới về chính sách thực dân của mình, trong khi nhân loại đang tìm đủ mọi cách xóa bỏ.

Cũng từ đó, người VN khắp mọi miền đất nước, thay vì đoàn kết chống thực dân, lại chia rẽ thành các khuynh hướng chính trị khác nhau, khiến cho máu dân Việt lại tiếp tục đổ, để cho màu cờ của đảng cộng sản thêm rực rỡ màu máu.

Trong giai đoạn lịch sử này, hai Lực Lượng Quân Sự của Người Việt đã thành hình. Đó là Mặt Trận Việt Minh, một phong trào kkáng chiến chống Pháp, của Tập Thể Người Việt yêu nước, bị Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đệ tam núp bóng, khống chế bằng chủ thuyết Mác-LêNin.

Lực lượng thứ hai gọi là ‘Quân đội Quốc-Gia‘, thực chất cũng chỉ là mượn màu da thay xác chết, bị thực dân Pháp và các lãnh tụ chính trị áp đảo, lợi dụng.Tóm lại người Việt lúc đó, cho dù có chiến đấu trong hàng ngũ nào chăng nữa, cũng chỉ tốn xương máu vô ích mà thôi, vì chỉ để phục vụ cho các chủ thuyết chính tri quốc tế mà thôi.

Về sự thành hình của Quân Đội Quốc Gia cũng vô cùng phức tạp nhưng cũng có thể tóm tắt qua bốn lý do chính sau đây :
+PHÁP LỢi DUNG THÀNH PHẦN HỢP TÁC CŨ : Ngay khi đặt được chân vào Sài Gòn sau tháng 9-1945, nhờ sự giúp đỡ của quân Anh-Ấn, tới VN giải giới quân Nhật. Thực dân đã sử dụng ngay các thành phần cộng tác cũ như công chúc, hương chức, quan lại, kỳ hào, lính khố xanh khố đỏ, các dân tộc thiểu số Thái, Mường, Nùng, Thổ, người Thượng cao nguyên Trung Phần, người Chàm, Khmer... để hình thành một Lực Lượng Thân Binh. Chính những người này, mới là lực lượng quân sự đầu tiên chống lại cộng sản đệ tam quốc tế, qua bình phong Việt Minh, vì họ bị kết tội là Việt Gian, luôn bị Việt Cộng đuổi giết tận tuyệt., dồn sát vào chân tường, nên phải chống lại vì không còn con đường nào lựa chọn.
+ CỘNG SẢN XÔ ĐẨY NGƯỜI QUỐC GIA THEO PHÁP : Ngay khi Pháp được Hồ Chí Minh cho đổ bộ lên đất Bắc, thế chân quân Lư Hán của Trung Hoa. Lúc đó, cộng sản đang núp bóng Mặt Trận Kháng Chiến Việt Minh, để được độc quyền lèo lái toàn dân và đất nước VN vào quỹ đạo của chủ nghĩa Lê-Mác. Ai cũng biết Việt Minh là tố chức chống Pháp của cả nước, bao gồm mọi đảng phái chính trị, chứ không phải của riêng đảng cộng sản đệ tam quốc tế. Ngoài ra,các lực lượng quốc gia cũng đang cùng VC hợp tác chung trong Chính Phủ Liên Hợp, để chống ngoại xâm.

Do đó, để độc quyền, độc đảng, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã thẳng tay tiêu diệt các đảng phái và những ai đối lập. Do sự khủng bố trên, lực lượng quân sự thuộc các đảng phái quốc gia trong mặt trận Việt Minh, phải tách rời đề sống còn. Đây là một trong những thành phần chống lại cộng sản quyết liệt, trong Chính Phủ Bảo Đại từ sau năm 1946-19
+ CỘNG SẢN XÔ ĐẨY MỌI TÔN GIÁO VN, THÀNH THÙ ĐỊCH : Với chủ trương hủy diệt mọi tôn giáo, Việt Minh qua cộng sản Hà Nội, đã xô đẩy các tín đồ Phật, Thiên Chúa giáo nhất là hai giao phái Phật Giáo Hòa Hảo và Cao Đài, trở thành những lực lượng đối nghịch chống lại cộng sản.
+ CỘNG SẢN XÔ ĐẨY MỌI THÀNH PHẦN XÃ HỘI VÀO HÀNG NGŨ QG : Việt Minh qua sự khống chế của Đệ tam cộng sản quốc tế, đã dùng bạo lực để tiêu diệt mọi thành phần đối tượng xã hội như trí thức, địa chủ, tiểu tư sản, thợ thuyền... qua các chiến dịch gọi là Diệt Tề và Phản Động, khiến cho một số lớn thanh niên nam nữ, đang chiến đấu trong hàng ngũ Việt Minh, đã bỏ về vùng Pháp chiếm đóng.

Như vậy tất cả bốn lực lượng trên, đều chung chủ trương chống lại cộng sản đệ tam, bắt đầu tư năm 1957. Thực tế lực lượng quân sự của Quốc Gia VN, được chính thức thành lập ngày 11-5-1950, cho tới khi ký kết Hiệp Định ngưng bắn Genève năm 1954, vẫn trực thuộc Pháp.

Tháng 7-1954 chia hai đất nước, cho tới 12 giờ trưa ngày 30-4-1975, VNCH được độc lập. Ngày 19-6-1965 được chính phủ Miền Nam, chọn làm ngày QUÂN LỰC, và được tổ chức kỷ niệm hằng năm, kể cả 31 năm sau ngày rã ngũ. Cũng từ đó, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lớn mạnh và trưởng thành, thoát khỏi ảnh hưởng của ngoại bang, Nhờ vậy trong suốt hai mươi năm lửa binh tàn khốc, người lính Miền Nam mới có đủ can trường, để chiến đấu và hy sinh, trong nhiệm vu bảo vệ đất nước và tài sản của đồng bào, trước sự xâm lăng của cộng sản.

Tóm lại nếu không bị Mỹ và bọn trí thức thiên tả của Miền Nam bán đứng, chắc chắn VNCH, cũng như Tây Đức, Nam Hàn và Đài Loan, không bị mất và sụp đổ vào tay Bắc Việt vào tháng 4-1975. Người VN sẽ không bị tủi nhục vì kiếp đầu đường xó chợ, qua thân phận tị nạn, lao động, ban dâm và làm dâu bất đắc dĩ khắp chân trời góc biển.
Image

2 – QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA :
Lãnh thổ VNCH được chia thành bốn vùng chiến thuật và một biệt khu thủ đô. Tính tới ngày ký Hiệp Định ngưng bắn tháng 2-1973 tại Paris, QLVNCH có 220.000 Chủ-Lực quân, gồm Mười Một Sư Đoàn Bộ Binh, mang số 1,2,3,5,7,9,18,21,22 và 25. Ngoài ra còn có Hai Sư Đoàn Tổng Trừ Bị là SD.Nhảy Dù và SD.Thuỷ Quân Lục Chiến, mười lăm Liên Đoàn Biệt Động Quân (quân số tương đương với một Trung Đoàn Bộ Binh, gồm 3 Tiểu Đoàn và một Đại Đội Trinh sát) và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù thuộc Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt.
+ CÁC QUÂN BINH CHỦNG YỂM TRỢ : * PHÁO BINH : Gồm 66 Tiểu Đoàn và 164 Trung Đội Pháo Biệt Lập, với 1.492 khẩu pháo đủ loại (105-155-175 ly) và bảy Tiểu Đoàn Pháo Binh Phòng Không.

*THIÊT GIÁP : Gồm 22 Thiết Đoàn và 51 Chi Đoàn Thiết Giáp Biệt Lập, sử dụng 2074 Xe Bọc Sắt đủ loại như M113, 114 Thiết Vận Xa và Chiến Xa M41, 48.

*KHÔNG QUÂN : Có 6 Sư Đoàn Chiến Thuật với quân số cơ hữu trên 41.000 người, được phân phối như sau : Sư Đoàn 1 Không Quân ở Đà Nẳng, SD 2- Không Quân ở Nha Trang, Sư Đoàn 3 Không Quân ở Biên Hòa, Sư Đoàn 4 Không Quân tại Cần Thơ, Sư Đoàn 5 Không Quân ở Sài Gòn và Sư Đoàn 6 Không Quân-Pleiku. Không Quân có 66 Phi Đoàn gồm 22 Phi Đoàn Chiến Đấu với 510 Phi Cơ đủ loại, trong số này có 30 chiếc Phản Lực Cơ tối tân F.5E. Ngoài ra còn 25 Phi Đoàn Trực Thăng Võ Trang với 900 chiếc, năm Phi Đoàn Vận Tải với 80 phi cơ từ C47, Dakota, C123, C130 và Mười Bốn Phi Đoàn Trinh Sát với 360 Trinh Sát Cơ.

Binh Chủng Không Quân có Trung Tâm Huấn Luyện Sĩ Quan Không Quân tại Nha Trang, rất nổi tiếng. Sau ngày 30-4-1975, chỉ có 172 phi cơ đủ loại của KQ.VNCH bay sang đươc Thái Lan và một số ít trực thăng, bay ra các chiến hạm Mỹ ơ Biển Đông.

*HẢI QUÂN : Tính đến năm 1975, quân số lên tới 39.000 người, gồm 1611 tàu thuyền đủ loại, được phân thành 5 Vùng Duyên Hải, Hai Vùng Sông Ngòi và Một Hạm Đội Tuần Duyên có 83 Chiến Hạm đủ loại.

Hải quân có bốn Lực Lượng Đặc Nhiệm, thuộc Hành Quân Lưu Động Sông : Lực Lượng 211 Thủy Bộ, Lực Lượng 212 Tuần Thám, Lực lượng 214 Trung Ương và Lực Lượng 99 Đặc Nhiệm.

Ngoài ra còn có Lực Lượng 213 Duyên Phòng, Liên Đoàn Tuần Giang, 28 Duyên Đoàn, 20 Giang Đoàn Xung Phong, 3 Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân, trong đó Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang dành cho các Sĩ Quan Hải Quân

*CƠ CẤU TIẾP VẬN :Gồm năm Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận tại các Quân Khu, riêng Vùng II có 2 cơ cấu tiếp vận, BCH2 đóng tại Qui Nhơn và BCH5 đóng tại Nha Trang, sau đó dời về bán đảo Cam Ranh, khi Mỹ rút về nước.

Tổng Cục Tiếp Vận đóng tại Sài Gòn, gồm các cơ cấu như Cục Quân Y, Quân Vận, Quân Cụ, Truyền Tin, Quân Bưu và Công binh. Tất cả có nhiệm vụ yểm trợ trực tiếp cho các quân binh chủng cũng như các Tiểu Khu, Quân Trường.

Ngoài các lực lượng chính quy trên, còn có thêm 140.000 Địa Phương Quân, được tổ chức thành 367 Tiểu Đoàn và 85 Đại Đội Biệt Lập. Tất cả cá đơn vi Địa Phương Quân được đặt dưới quyền sử dụng của Tiểu Khu Trưởng, Chi Khu Trưởng.

Từ sau Tết Mậu Thân 1968, nhiều quân nhân Bộ Binh cũng như các đơn vị tổng trừ bị, được thuyên chuyển vì lý do gia cảnh về nguyên quan. Do đó, nhiều Tiểu Đoàn DPQ tại Quảng Nam, Bình Thuận, Long Khánh, Hậu Nghĩa, Long An... đã chiến đấu kiêu dũng, hào hùng không thua kém bất cứ một đơn vị nào của QLVNCH.
+ CÁC QUÂN TRƯỜNG VÀ ĐẠI ĐƠN VỊ NỔI TIẾNG CỦA QLVNCH : * SƯ ĐOÀN NHẢY DÙ : Là một trong những đại đơn vị hàng đầu và kiêu hùng của QLVNCH. Binh chủng Nhảy Dù rất có kỷ luật, kỷ cương nên được sự mến mộ của đồng bao Miền Nam trong suốt cuộc chiến. Đơn vị này chính thức được thành lập ngày 29-9-1954, khi Pháp giao lại cho Quân Đội VNCH, Chiến Đoàn 3 Nhảy Dù (6A-P3), gồm các Tiểu Đoàn 1, 3,4,5,6,7 do Thiếu Tá Đổ Cao Trí làm Chỉ Huy Trưởng.

Ngay khi trở thành đơn vị chiến đấu nòng cốt của VNCH, Nhảy Dù đã nhập cuộc, đánh tan lực lượng phản loạn của Bình Xuyên tại Sài Gòn-Chợ Lớn, cuối cùng tiêu diệt chúng tại sào huyệt ở tận Rừng Sát (Phước Tuy). Ngày 26-10-1959, Nhảy Dù được nâng từ Liên Đoàn lên Lữ Đoàn và do Trung Tá Nguyễn Chánh Thi, làm Lữ Đoàn Trưởng.

Do nhu cầu cuộc chiến càng lúc càng sôi động và leo thang, kể từ ngày 1-2-1965, lần nữa Nhảy Dù lại được nâng lên cấp Sư Đoàn, với đầy đủ các cơ cấu trực thuộc, từ đơn vị tác chiến tới yểm trợ. Sư Đoàn có ba Lữ Đoàn tác chiến, ba Tiểu Đoàn Pháo Binh Dù, Một Tiểu Đoàn Công Binh, Một Tiểu Đoàn Quân Y, Các Đại Đội Trinh Sát, Điện Tử, Kỹ Thuật. Từ năm 1965 tới 1972, Trung Tướng Dư Quốc Đống là Tư Lệnh Nhảy Dù. 1972 tới cuối tháng 4-1975, Tư lệnh Nhảy Dù là Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng.

Vào những ngày tháng 4-1975, Sư Đoàn Dù thành lập thêm Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù, do Trung Tá Lê Minh Ngọc làm Lữ Đoàn Trưởng. Chính Đơn Vị này, đã cùng với Chiến Đoàn 3, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, đánh những trận cuối cùng tại vùng ven đô và ngay trong thành phố Sài Gòn, giống như các chiến sĩ của SD18BB tại Xuân Lộc, làm vỡ mật quân xâm lăng Bắc Việt, trước khi Miền Nam bị sụp đổ.

* SƯ ĐOÀN THỦY QUÂN LỤC CHIẾN : Từ ngày thành lập cho tới khi rã ngủ, binh chủng TQLC đã cùng với Nhảy Dù, Biệt Cách và Biệt Động Quân, vẫy vùng khắp bốn vùng chiến thuật và mặt trận ngoại biên.

Chính các điạ danh Đầm Dơi (An Xuyên), Thành phố Huế, quốc lộ 9 và nhất là Cổ Thành Đinh Công Tráng (Quảng Trị)... đã đưa tên tuổi người lính TQLC/VN vào quân sử, hãnh diện đứng ngang hàng với các quân binh chủng thiện chiến nhất trên thế giới.

Binh chủng TQLC được chính thức thành lập vào tháng 10-1954, với quân số nồng cốt được tuyển chọn từ mọi binh chủng như Hải quân, Bộ binh và Biệt Kích. Với quân số ban đầu chừng 2400 người, TQLC thành lập Tiểu Đoàn 1 và các Đại Đội Biệt Lập. Chính Tiểu Đoàn 1/TQLC vào năm 1959, khi được Tổng Thống Ngô Đình Diệm, giao cho trọng trách, trấn giữ quần đảo Hoàng Sa. Nhờ vậy đơn vị này mới có cơ hội đánh đuổi Hải Quân Trung Cộng tới chiếm quần đảo trên, khi Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, ký bán lãnh thổ VN cho Tàu vào năm 1958.

Từ đầu năm 1961, TQLC được tăng quân số lên 3321 người, chia thành bốn Tiểu Đoàn và các đơn vị yểm trợ, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Ngày 1-1-1962 được nâng thành Lữ Đoàn, có quân số 5483 người. Trong dịp Việt Nam hoá chiến tranh, TQLC được nâng thành Sư Đoàn hơn 11.000 người, từ năm 1969 tới khi tan hàng. Tư lệnh cuối cùng của binh chủng này là Thiếu tướng Bùi Thế Lân.

* BIỆT ĐỘNG QUÂN : Trong các đơn vị tổng trừ bị của QLVNCH, binh chủng Biệt Động Quân bị thiệt thòi nhất, từ cơ cấu tổ chức cho tới vấn đề biệt phái xử dụng. Nguyên do vì BDQ không có Bộ Tư Lệnh mà chỉ có Bộ Chỉ Huy, qua các vị Chỉ Huy Trưởng như Thiếu Tá Phan Trong Chinh, Đại Tá Lam Sơn, Đại Tá Phan Xuân Nhuận, Đại Tá Trần Văn Hai, Đại Tá Trần Công Liễu và Thiếu Tướng Đổ Kế Giai. Những ngày cuối cùng tháng tư đen, BDQ được nâng thành Sư Đoàn.

BDQ được thành lập năm 1960, là một binh chủng biệt động cảm tử, nên được sử dụng tối đa trong các cuộc hành quân trực thăng vận, nhảy vào tận sào huyệt của VC, tại căn cứ hậu cần và mật khu, khắp bốn vùng chiến thuật. Từ ngày thành lập tới khi rã ngủ, BDQ có 15 Liên Đoàn gồm 45 TD chiến đấu.

BDQ có hai trung tâm huấn luyện tâi Trung Hòa (Củ Chi-Hậu Nghĩa) và Dục Mỹ (Khánh Hòa). Đây chính là lò luyện thép, huấn luyện tân binh cùng với các Khoá học về Rừng Nuí Sình Lầy-Biệt Động, cho các cấp Hạ Sĩ quan và Sỉ Quan/QLVNCH.

Trong suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1960-1975), dân chúng sống ở Vùng 4 Chiến Thuật, không ai là không biết tới uy danh lừng lẫy của những Con Cọp, thuộc các Tiểu Đoàn 41, 42, 43 và 44 BDQ. Năm 1967, Tiểu Đoàn 37 BDQ là đơn vị duy nhất của QLVNCH, được biệt phái cho Hoa Kỳ, để trấn giữ căn cứ Khe Sanh. Trong suốt thời gian chiến đấu, TD này đã giữ vững phòng tuyến, dù bị bắt làm tiền đồn và bị cộng sản tấn công biển người. Sự kiện trên, đã làm cho các quân nhân Hoa Kỳ thêm kính nể QLVNCH. Ngoài ra, hai Tiểu Đaòn 21 và 39 BDQ thuộc Liên Đoàn 1/BDQ cũng là những đơn vị thiện nhất của binh chủng, làm rạng rỡ màu mủ nâu, trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 và tại mặt trận Sa Huỳnh (Quảng Ngải) năm 1973. Riêng TD 43 BDQ là đơn vị cuối cùng, tử thủ tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, tới trưa 30-4-1975, mới buông súng rã ngũ khi có lệnh bắt đầu hàng.

Từ năm 1966, binh chủng BDQ cải tổ và thành lập các Liên Đoàn, đặt trực thuộc Quân Đoàn. Ngày nay khi nhớ về binh chủng, những quân nhân các cấp của BDQ luôn hãnh diện vì đã làm xong trách nhiệm đời trai. Nhiều cấp chỉ huy của binh chủng, đã đi vào quân sử như Chuẩn Tướng Trần văn Hai, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Võ Vàng, Thiếu Tá Trần Đình Tự..

* LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT : Chính thức thành lập từ năm 1957 cho tới ngày 1-1-1963, binh chủng LLDB thuộc Sở Liên Lạc Phủ Tổng Thống, gồm ba cơ cấu : Sở Bắc (sau đổi thành Nha Kỹ Thuật), Sở Nam (sau đổi thành Sở Liên Lạc) và Các Toán Lực Lượng Đặc Biệt.

Sở Bắc đặc trách chiến lược tình báo ngoài lãnh thổ VNCH. Sở Nam trách nhiệm tình báo trong nước. Các Toán LLDB còn được gọi Biệt Kích hay Biệt Cách. Đây là những đơn vị cảm tử, chuyên hoạt động sâu trong vòng địch đóng, không được quân bạn yểm trợ, nên mọi trường hợp nguy cấp, người Biêt Kích Quân, phải tự mưu sinh để sống còn. Từ năm1966, Hoa Kỳ chuyển giao toàn bộ lực lượng Dân Sự Chiến Đấu (Mike Forces) cho Bộ Tư Lệnh LLDB/VN.

Là một binh chủng đặc biệt trong chiến tranh qui ước, nên quân số LLDB đã có lúc lên tới 36.000 người, bao gồm 66 Trại Lực Lượng Đặc Biệt, nằm rải rác dọc theo biên giới Việt-Lào-Miên. Đây chính là những chướng ngại vật của cộng sản Bắc Việt, trên đường xâm nhập vào lãnh thổ VNCH. Vì vậy từ năm 1965 về sau, nhiều trận đánh đẫm máu giữa bộ đội Hà Nội và LLDB tại Pleiku, Ben Het, Đức Cơ, Dakto, Đồng Xoài, Lộc Ninh, Tống Lê Chân, Kàtum, Bến Sỏi...

Bắt đầu từ năm 1970, các trại LLDB tại vùng biên giới bị giải tán, nên Biệt Kích Quân tại đây được chuyển sang Biệt Động Quân Biên Phòng. Riêng quân số của Trung Tâm Huấn Luyện Hành Quân Delta và Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Dù, được nhập chung thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, trực thuộc Phòng 3 Bộ TTM.

Những ngày cuối tháng 4-75 của đất nước, Chiến Đoàn 3 của LD81 BCD về bảo vệ Bộ TTM, đã tiêu diệt nhiều tăng pháo của Bắc Việt tại Ngã Tư Bảy Hiền, Bệnh Viện Vì Dân, Lăng Cha Cả Sài Gòn. Hai câu thơ bất hủ của một cô giáo, bị kẹt lại trong Mặt Trận An Lộc vào năm 1972, đã nói lên tinh thần quyết chiến và sự hy sinh tột cùng của người chiến sĩ Lực Lượng Đặc Biệt :

‘An Lộc Địa – Sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù – Vị Quốc vong thân‘

*TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA ĐÀ LẠT : Chính thức được thành lập tại Huế năm 1948, với nhiệm vụ đào tạo các sĩ quan trung đội trưởng. Năm 1950, trường di chuyển lên cao nguyên Đà Lạt và đổi tên là Trường Võ Bị Liên Quân. Ngày 29-7-1959, Bộ Quốc Phòng ban hàng Nghị Định số 317, cải tổ cơ sở huấn luyện trên thành một Trường Cao Đẳng chuyên nghiệp. Theo đó các sĩ quan tốt nghiệp, ngoài căn bản quân sự vững chắc, còn có trình độ văn hóa tương đương với bậc đại học. Nhưng dù lý thuyết là thời gian thụ huấn phải đủ bốn năm và trình độ sinh viên được nhập khóa, phải có chứng chỉ Tú Tái Phần 2-ban A-B, nhưng thực tế các khóa học, cũng không đồng nhất và hoàn toàn tuỳ theo hoàn cảnh.

Do đó, từ khóa 1 tới khóa 11 phụ, thời gian học chỉ trên một năm.
Từ khóa 12 tới khóa 22A năm 1965, thời gian thụ huấn từ 1 năm rưỡi – 3 năm.
Bắt đầu khóa 22B (20-11-1965) cho tới khóa 27, thời gian thụ huấn đúng 4 năm.
Kháo 28 chỉ học 3 năm rưỡi.
Khóa 29 học 2 năm rưỡi.

Khoá 30 cuối cùng, nhập học ngày 31-1-1974, tới đầu tháng 4-1975, di tản về học chung với Trường Bộ Binh Thủ Đức, được di chuyển tới Long Thành (Biên Hòa) và tan hàng. Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Trường Võ Bị là Trung Tá Chaix (1949) và cuối cùng là Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ.

Tọa lạc trên dãy đồi hùng vỷ của cao nguyên Lâm Viên, ngất ngưởng giữa trời xanh lộng gió, Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt bề thế, với lối kiến trúc tân kỳ, gồm đủ các phòng ốc, thư viện và phòng thí nghiệm. Tất cả do nhà thầu Hoa Kỳ đảm trách, đưa ngôi trường lên địa vị ngang hàng với các quân trường nổi tiếng nhất vùng Đông Nam Á, cũng như trường Võ Bị West Point của Mỹ.

Những thanh niên thời đại của Miền Nam VN trong cơn ly loạn, ai nấy đều ao ước được trở thành Sĩ Quan Đà Lạt, nhưng một số không toại nguyện vì sau này, điều kiện nhập học rất khó khăn. Sinh viên ngoài việc phải có chứng chỉ Tú Tài Phần 2-AB, còn phải qua một kỳ thi tuyển. Với các thiếu nữ VN, thì rất hãnh diện khi được sóng đôi với người yêu, trong bộ lễ phục Gabardine mùa đông, có màu Jasper với huy hiệu của Trường, trên cầu vai đỏ và nón két. Từ năm 1948 cho tới khi Miền Nam bị sụp đổ, Trường Võ Bị đã đào tạo được 4600 sĩ quan. Nhiều người được thăng cấp tướng, giữ các chức vụ then chốt trong quân đội cũng như các cơ cấu của chính phủ.
* TRƯỜNG BỘ BINH THỦ ĐỨC : Từ tháng 10-1951, để đáp ứng nhu cầu chiến trường, hai trung tâm đào tạo sĩ quan trừ bị được thành lập tại Nam Định (Bắc Phần) và Thủ Đức (Nam Phần). Chính khóa 1 SQTB đã được khai giảng cả hai nơi kể trên.

Để thống nhất việc giảng dạy, đầu năm 1952, trung tâm Nam Định được sáp nhập vào Thủ Đức . Ngôi trường tọa lạc trên dãy đồi thấp thuộc xã Tăng Nhơn Phú, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định. Từ đó trường liên tục được xây cất và chỉnh trang, trở thành một trong những trường Võ Bị, đẹp và lớn nhất vùng Đông Nam Á.

Cuối năm 1955, trường Bộ Binh Thủ Đức trở thành Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức, vừa đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị Bộ Binh, vừa huấn luyện chuyên môn cho các binh chủng như Thiết Giáp, Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin, Quân Nhu, Quân Cụ và Quân Vận. Từ sau tháng 10-1961, phần lớn các trường chuyên môn được dời tới các địa điểm mới nhưng danh xưng Liên Trường, vẫn còn được xử dụng, vì tại Trung vẫn có ba trường hiện diện : Trường Bộ Binh-Trường Thiết Giáp –Trường Võ Thuật Thể Dục Quân Sự.

Chương trình huấn luyện cho sinh viên sĩ quan Thủ Đức gồm hai giai đoạn. Bắt đầu từ khóa 6 trở về sau, sinh viên tốt nghiệp mang cấp bậc Chuẩn uý trừ bị. Từ tháng 2-1969 cho tới ngày 30-4-1975, trung tâm trở lại danh xưng cũ ‘Trường Bộ Binh Thủ Đức‘. Sau 24 năm hoạt động, trường đã đào tạo được 69 khóa Sĩ Quan trừ Bị, với 80.000 Sĩ Quan. Trong số này nhiều người đã trở thành tướng lãnh rất có tên tuổi như Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (Tư Lệnh QĐ1), Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam (Tư Lệnh QĐ4), Thiếu Tướng Bùi Thế Lân (Tư Lệnh TQLC, Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan (Tổng Giam Đốc CSQG)…

Ngày 27-4-1975, trường từ Long Thành dời về Thủ Đức, tại địa điểm cũ ở đồi Tăng Nhơn Phú. Sáng 30-4-1975, xe tăng T54 của cộng sản Bắc Việt tấn công trường nhưng cả 4 chiếc đều bị sinh viên sĩ quan tiêu diệt bằng đại bác 105 bắn trực xạ cũng như M72 và lựu đạn lân tinh.
* TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN HẢI QUÂN NHA TRANG : Tọa lạc tại đường Duy Tân Nha Trang, chính thức khai giảng từ tháng 8-1952 nhưng phải tới tháng 7-1955, trường mới thuộc chủ quyền hoàn toàn của VNCH.

Muốn được theo học, các sinh viên Hải Quân phải có Chứng chỉ Tú Tài 2-Ban B. Thời gian thụ huấn là 2 năm, về văn hóa sinh viên có trình độ tương đương bậc đại học. Ra trường, tốt nghiệp mang cấp bậc Thiếu Úy Hải Quân.

Do nhu cầu chiến trường, từ năm 1962-1968, sinh viên HQ chỉ học 18 tháng. Bắt đầu khóa 18 cho tới khóa cuối cùng là 26, sinh viên học đủ 2 năm. Suốt thời gian hoạt động, trường đã đào tạo được 2538 Sĩ Quan Hải Quân và 15.050 Chuyên viên Ngành HQ. Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của trường là Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu (16-1-1973 tới 1-4-1975).
* LIÊN ĐOÀN NGƯỜI NHÁI : Nếu trên bộ có Biệt Kich-Biệt Cách, thì dưới nước có Người Nhái. Họ là những thanh niên thời đại, sống bằng lý tưởng nên xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, khi được giao phó những nhiệm vụ đặc biệt, vô cùng nguy hiểm như ngăn chống lại Đặc Công Thủy của Bắc Việt, vớt mìn, gở thủy lôi, cứu tù binh...

Được thành lập từ năm 1961, với danh xưng là ‘Liên Đội Người Nhái’, được huấn luyện tại Đài Loan. Bắt đầu từ tháng 10-1962, Người Nhái Mỹ (Seal West Coast), phụ trách huấn luyện cho Người Nhái VNCH, tại các Trung Tâm Cát Lái, Nha Trang, Cam Ranh và Vũng Tàu. Muốn trở thành Biệt Hải, Người Nhái... các quân nhân phải trải qua nhiều khóa huấn luyện gian khổ, giống như sự đào tạo một Điệp Viên Ngoại Hạng, trong chiến tranh nhà nghề. Do đó Người Nhái biết sử dụng tất cả cac loại vũ khí của Tây Phương cũng như Khối cộng Sản, biết cách hoạt động, mưu sinh cũng như đào thoát, vì địa bàn hoạt động bao giờ cũng nằm sâu trong đất địch, không có quân bạn và yểm trợ. Thời gian huấn luyện của Người Nhái là 16 tuần, kể cả 10 tuần lễ Địa Ngục. Từ năm 1972 về sau, quân số Người Nhái tăng lên 600 người và trở thành Liên Đoàn Người Nhái, gồm các Toán Hải Kích, Biệt Hải, Tháo Gỡ Đạn Dược, Trục Vớt, Phòng Thủ Hải Cảng. Có tất cả 6 Khóa Huấn Luyện Người Nhái và Đơn Vị Trưởng cuối cùng của Người Nhái là Hải Quân Trung Tá Trịnh Hòa Hiệp.
3- CÁC VỊ TƯỚNG LÃNH CỦA QLVNCH : Từ ngày thành lập cho tới khi sụp đổ, QLVNCH có hơn 100 vị tướng lãnh. Người có cấp bậc cao nhất trong quân đội là Cố Thống Tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng QDVNCH. Nhiều tướng lãnh đã tử trận trước ngày 30-4-1975 như Cố Đại Tướng Đổ Cao Trí, tướng Nguyễn Viết Thanh, Nguyễn Bá Liên, Trương Quang Ân, Lê Đức Đạt, Nguyễn Văn Hiếu. Ngày 30-4-1975, khi TT Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, các tướng lãnh Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ ... đã lần lượt tự sát để bảo toàn danh dự quân đội và khí tiết của kẻ sĩ. Các tướng Lý Tòng Bá, Nguyễn Vĩnh Nghi, Phạm Văn Sang, Trần Văn Cẩm... bị sa cơ giữa trận, còn Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Tỉnh Trưởng Chương Thiện, bị VC hành quyết tại Cần Thơ vào ngày 1-5-1975 vì không tuân lệnh đầu hàng.

Sau đó hơn phân nửa các tướng lãnh không bỏ chạy, đều bị bắt đi tù tại các trại giam khổ sai từ Nam ra Bắc, tận biên giới Viêt-Lào-Hoa. Chịu cảnh tù tội gần 17 năm, lâu nhất là các tướng Lê Minh Đảo, Trần Quang Khôi, Đỗ Kế Giai, Lê Văn Thân và Trần Bá Di.

Từ ngày thành lâp cho tới khi rã ngũ ngày 30-4-1975, QLVNCH có hơn 100 tướng lãnh. Nhiều vị đã anh dũng nằm xuống giữa chiến trường như Đỗ Cao Trí, Nguyễn Viết Thanh, Nguyễn Bá Liên... hoặc bỏ xác trong chốn lao tù cộng sản tận miền biên giới Hoa-Lào-Việt. Nói chung chỉ có một số rất ít, tham sống bỏ binh sĩ thuộc cấp, đeo máy bay Mỹ chạy ra ngoại quốc để chết già chết nhục trong sự quên lãng và cười khinh của miệng đời.

Nhưng may thay, giữa những kẻ hèn hạ cúi mặt ra đi, trong hàng ngũ tướng lãnh Miền Nam, còn có rất nhiều khuôn mặt LỚN đầy UY VŨ HIÊN NGANG, chấp nhận cái chết liệt oanh làm banh mặt kẻ thù lúc đó, góp phần với đồng bào và các chiến sĩ vô danh anh hùng khác, nêu tấm gương bất khuất của người lính trận, cái tiết tháo ngàn đời của đấng sĩ phu trí thức Hồng-Lạc và trên hết là cái TRÁCH NHIỆM-DANH DỰ của Cấp Chỉ Huy, Lãnh Đạo : ‘Sinh vi Tướng, Tử Vi Thần – Nhất tướng công thành vạn cốt khô nên Thành Mất Phải Mất Theo Thành‘. Những danh tướng VN Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai... ngay khi tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh bắt QLVNCH buông súng, rã ngũ đầu hàng cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế lúc trưa ngày 30-4-1975, các vị trên đã tự tìm cái chết vinh, làm hãnh diện cho màu cờ và sắc áo của QLVNCH, mãi mãi trong dòng sử oai hùng Nước Việt.
* THIẾU TƯỚNG PHẠM VĂN PHÚ : Xuất thân từ binh chủng Nhảy Dù, từng tham gia Mặt Trận Điện Biên Phủ năm 1954. Nguyên Tư Lệnh Quân Đàn II từ 1974-1975. Viết về Tướng Phú, hầu như các sử gia cận đại trong và ngoài nước, phần nào quy trách nhiệm cho ông, trong trận Ban Mê Thuộc thất thủ vào tháng 3-1975. Kế tiếp là cuộc lui quân từ Pleiku về Tuy Hòa, trên Liên Tỉnh Lộ 7-B hoàn toàn thất bại, làm tan vở gần hết lực lượng hùng hậu của Quân Đoàn II.

Hậu quả làm hằng trăm ngàn đồng bào vô tội và binh sĩ các cấp đã chết thảm trong khi di tản, vì các cấp chỉ huy cuộc lui quân từ Bộ Tổng Tham Mưu ở Sài Gòn, cho tới ngoài mặt trận, chia rẽ đố kỵ, làm mất hết yếu tố thành công, khác xa với cuộc lui quân đêm 20-4-1975 của SD18BB + LD1ND + TK.Long Khánh + TD82BDQ do tướng Lê Minh Đảo đi bộ chỉ huy, trên Liên Tỉnh Lộ 2, lính và dân hầu hết đều được về tới Bà Rịa, kể cả TD2/43/SD18BB của Thiếu Tá Nguyễn Hửu Chế, đoạn hậu trong cuộc lui quân thần tốc này.

Tự biết mình là vị tướng trấn giữ biên cương, không làm tròn trách nhiệm trước đồng bào và quân sĩ dưới quyền, tướng Phú đã khẳng khái kết thúc đời mình bằng độc dược ngày 1-5-1975, dù ông có phương tiện để chạy ra ngoại quốc như một vài tướng lãnh khác. Ông chết trước là để tạ tôi với quốc dân và trên hết là chứng tỏ với giặc Cộng, cái uy vũ của người làm tướng Miền Nam, không phải ai cũng hèn hạ như VC từ Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp... khi sa cơ đã tàn nhẩn bán rẻ đồng đội mình cho địch, để đổi lấy tiền bạc và mạng sống cá nhân.

* THIẾU TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM : Tư Lệnh quân đoàn IV tại Cần Thơ. Ông sinh trưởng trong một gia đình danh giá đạo đức tại Thừa Thiên và xuất thân từ Binh chủng Nhảy Dù. Trong cuộc đời binh nghiệp, Ông là một trong những tướng lãnh Miền Nam, cho tới ngày cuối cùng, luôn được tiếng là liêm chính, nghiêm minh và đạo đức.

Ngày 30-4-1975, dù Sài Gòn bị VC tấn công tứ phía nhưng gần hết lãnh thổ Quân Khu IV, quân lực VNCH và các cấp chỉ huy tại các tiểu khu vẫn còn nguyên vẹn và giũ vững tinh thần. Khi Tổng Thống Minh nghe theo sự xúi giục của Nguyễn Hửu Hạnh và đám VC nằm vùng, bắt QLVNCH buông súng đầu hàng. Tướng Nam tuân hành theo lệnh thượng cấp và kỷ luật quân đội nhưng nhất quyết không bỏ chạy cũng chịu nhục trước giặc xâm lăng. Vì vậy ông đã dùng súng tự kết liểu đời mình, ngay trong văn phòng Tư Lệnh quân đoàn tại Cần Thơ, trong sự vô cùng thương tiếc của thuộc cấp và binh sĩ dưới quyền, trong đó có cố Đại Tá Tỉnh trưởng Chương Thiện là Hồ Ngọc Cẩn, cùng binh sĩ, không chịu buông súng đầu hàng.
* THIẾU TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG : Ông sinh năm 1933 tại Hốc Môn, tỉnh Gia Định. Nguyên Chuẩn Tướng Tư Lệnh Phó quân đoàn IV. Là người hùng, khi còn là Tư Lệnh SD5BB, đã cùng với Chuẩn tướng Trần Văn Nhựt, lúc còn làm Tỉnh Trưởng Bình Long, đã giữ vửng An Lộc, trong suốt 68 ngày bị 4 SD Bắc Việt vây hảm, trong mùa hè đỏ lửa 1972. Từ năm 1973, Tướng Hưng về làm Tư Lệnh SD21BB, sau đó là Tư Lệnh Phó QDIV.

Ngày 30-4-1975, sau khi Dương Van Minh đầu hàng giặc, Thiếu Tướng Nam tuẩn tiết tại văn phòng tư lệnh. Tướng Hưng về nhà, từ giả thân quyến, bạn bè và binh sĩ dưới quyền, rồi tự sát lúc 8 giờ 30 tối cùng ngày, để mãi mãi cùng với các anh hùng liệt nử, đi vào thanh sử VN muôn đời.
* CHUẨN TƯỚNG LÊ NGUYÊN VỸ : Nguyên Tư Lệnh SD5BB, một SD dã chiến từ Bắc Việt di cư vào Nam từ năm 1955, trải qua nhiều vị tư lệnh nổi tiếng như Woàng A Sáng, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Văn Hiếu, Lê Văn Hưng và cuối cùng là Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ từ 1974 cho tới khi tàn cuộc chiến. SD5BB đã trấn giữ nhiều năm vùng đất, tuy sát nách Sài Gòn nhưng hung hiểm, bao gồm các tỉnh Bình Dương, Bình Long và Phước Long.

Tướng Vỹ đả bảo toàn được lãnh thổ gần như nguyên vẹn, cho tới khi có lệnh đầu hàng. Noi gương tiền nhân bất khuất, trước toàn thể sĩ quan các cấp thuộc Bộ Tư Lệnh SD5BB tại căn cứ Lai Khê – Bình Dương, Tướng Vỹ đã dùng khẩu súng lục Beretta 6,35 ly, từng đeo bên mình nhiều năm, để bắn vào đầu tự sát.
* CHUẨN TƯỚNG TRẦN VĂN HAI : Ông xuất thân khóa 7 trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, sinh năm 1926 tại Cần Thơ (tài liệu của Nguyễn Thanh Vân). Ông xuất thân từ Binh chủng Biệt Động Quân và là một trong những người có công lớn, trong việc hoàn thành Trung tâm huấn luyện BDQ. Dục Mỹ năm 1961. Đây là lò luyện thép đúng nghĩa, trong việc đào tạo quân nhân các cấp của binh chủng biệt động, chuyên hành quân rừng núi sình lầy. Trước khi trở thành Tư lệnh SD7BB. Chuẩn tướng Hai, đã giữ chức Chỉ Huy Trưởng BDQ/QLVNCH, góp phần lớn trong việc đánh đuổi cộng sản đệ tam quốc tế, ra khỏi thủ đô Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, trong trận Tết Mậu Thân 1968.

Theo bước các cấp chỉ huy tại quân đoàn IV anh hùng là Thiếu Tướng Nam, Chuẩn tướng Hưng..nên ông đã tự sát tại căn cứ Đồng Tâm của BTL.SD7BB vào trưa ngày 30-4-1975. Thi hài ông đã được thuộc cấp, nhân lúc cộng sản đang say men vơ vét chiến lợi phẩm, mang về tận Sài Gòn giao cho gia đình an táng.

Đúng như lời nhận xét thật vô cùng chí lý của Thiếu tướng Mỹ George Wear’ khi quân sĩ VNCH được chỉ huy bởi các cấp lãnh đạo cũng như tướng lãnh giỏi, đạo đức, thì Họ chiến đấu xuất sắc như bất kỳ một quân đội của các nước trên thế giới, mà điển hình nhất là trận đánh cuối cùng tháng 4-1975 tại Xuân Lộc-Long Khánh, đã làm cho tập đoàn lãnh đạo cộng sản, tại Bắc Bộ Phủ phải run sợ và la làng, vì bị thương vong và thiệt hại quá to lớn, hơn bất cứ một trận đánh nào đã xảy ra trong chiến cuộc Đông Dương lần thứ 2 (1955-1975).’

Câu nói trên đã được chứng minh một cách trung thực về khả năng tác chiến thần thánh của QLVNCH, trong viêc ngăn chân và tiêu diệt giặc Bắc xâm lăng. Nhưng tiếc thay những bậc sĩ quan các cấp, đạo đức tài giỏi thì bạc mệnh, đa truân cũng như những cấp lãnh đạo anh minh, lại vô quyền bất lực. Tình trạng VNCH như thế làm sao không mất nước vào tạy đệ tam cộng sản quốc tế, y như nước Sở thời Chiến quốc, vua u mê, quần thần xu nịnh ngu dốt, nên cuối cùng bị Tần quốc thôn tính tiêu diệt.
Image
4-NHỚ ƠN ANH : NGƯỜI LÍNH BẤT HẠNH VNCH
Hai mươi năm chinh chiến, người Lính VNCH đã có 250.000 gục ngã trước đạn thù và nửa triệu thương binh chịu đời bất hạnh vì một phần cơ thể đã gửi lại sa trường. Hiện nay Chính Phủ cũng như QLVNCH không còn nửa, nhưng trong tâm tư của mọi người được sống sót qua cuộc đổi đời mạt kiếp, thì lý tưởng và danh dự của Người Lính, càng được sáng tỏ, trong niềm hãnh diện chung của quân-dân Miền Nam.

Lịch sử của một quốc gia là những gì trung thực, mà người dân của nước đó đã ghi chép không hề thêm bớt. Nhờ vậy ta mới biết được về cuộc nội chiến của Hoa Kỳ, xảy ra từ năm 1861-1865, cùng với thái độ của dân chúng và chính quyền nước Mỹ tại Miền Bắc là kẻ thắng trận, đã không hề lên án, bỏ tù hay trả thù những người Miền Nam bại trận. Đã vậy, Hoa Kỳ còn ghi ơn tất cả những chiến sĩ của hai miền vừa nằm xuống trong cuộc chiến, vì lý tưởng riêng của họ.

Thế chiến 2 kết thúc, Tòa Án quốc tế Nuremburg, chỉ kết tội những Đầu Sỏ trong phe Trục, mà không hề bắt bớ hay gây khó khăn cho quân nhân các nước Đức-Ý-Nhật.. Năm 1920, Lãnh tụ kháng chiến quân Libya là Tướng Mukhta, bị người Ý bắt và tử hình. Nhưng chính Tổng Tư Lệnh Ý tại Bắc Phi, là người đã ở lại pháp trường, để lo lắng hậu sự cho vị anh hùng dân tộc Libya, vốn là kẻ thù của người Ý lúc đó.

Tại VN, khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền tây Nam Phần năm 1867, sau đó là thành Hà Nội năm 1873. Các tướng lãnh thủ thành đương thời là Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu..đã oanh liệt tử tiết theo thành mất và được kẻ thù là người Pháp, tôn kính mặc niệm như chính các tướng lãnh của họ. Sau rốt là số phận của 500.000 quân nhân Mỹ đã tham chiến tại VN, trong số này hơn 50.000 người tử trận. Ngày nay các chiến sĩ trên đã được quốc dân Hoa Kỳ trả lại công lý và danh dự, để họ hiên ngang ưỡn ngực, cũng như an giấc nghìn thu, bên cạnh ông cha, một đời liệt sĩ. Tất cả đã chết cho lý tưởng quốc gia, sống vinh quang và yên nghỉ trong danh dự.

Người lính VNCH trong suốt hai mươi năm binh lửa cũng vậy, đã phơi gan trải mật để bảo vệ cho đất nước và mạng sống của đồng bào, bị cộng sản quốc tế Bắc Việt xâm lăng giết hại. Tóm lại gần hết cuộc chiến, ở đâu có cộng sản khủng bố cướp bóc giết hại dân lành, là ở đó có sự diện của người lính Miền Nam. Ở đâu có bóng cờ vàng ba sọc đỏ, là ở đó người dân trong vùng chiến nạn, tìm đủ mọi cách trốn thoát sự kềm kẹp của giặc cộng, để trở về vùng quốc gia, nhờ che chở đùm bọc. Ai có làm lính tác chiến hay người cán bộ áo đen Bình Định Nông Thôn, Cán Bộ Xã Hội..mới biết được thế nào là nổi thống khổ, trên đe dưới búa, cá nằm giữa dao thớt, người dân tay không hứng hai lằn đạn bạn thù, của người VN trong thời ly loạn. Có là người dân bị kẹt trong vùng xôi đậu, lửa khói bom đạn, mới thấu hiểu đời người lính gian khổ chết chóc muôn trùng. Có là người dân quèn, nghèo sống đời cay cực, mới thương xót cho cảnh ba đồng, ba cộc, của kiếp lính Miền Nam.

Trong nổi chịu đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đã không bao giờ được một lời an ủi tử tế của hậu phương, để yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân. Trái lại họ còn bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến. Thật vậy, khi cầm súng thì cô đơn, nửa đường bị hậu phương, đồng minh và lãnh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về thì bị giặc trả thù đầy đoạ, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục.

Tiếp tay với những tâm hồn thác loạn, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, là bọn báo chí quốc tế bất tài, a dua, xu thời. Nhờ vậy mà cộng sản Bắc Việt, mới có cơ hội tung hoành một mình một cõi, thao túng vẽ vời huyền thoại, bóp mép lịch sử, để đầu độc các thế hệ VN đang sống trong sự kềm kẹp của chế độ bảo tàn, độc đảng. Nhưng rồi gieo gió thì phải gặt bảo, chính sự khoắc lác dại khờ trên, đã đưa toàn bộ đảng cộng sản VN chìm trong cái vũng bùn ô nhục, khi bí mật lịch sử lần lượt được mọi phe phái bật mí và hồi tưởng.

Nhưng người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết có cầm súng để chiến đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng cho người khác, chứ không quen viết lịch sử để ca tụng một chiều. Cho nên nếu có được một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự, thì đó cũng chỉ là sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đã biết được sự thật cùng ý nghĩa của cuộc chiến mà người Miền Nam phải bán mạng để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút cuối cùng. Ngoài ra còn có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu phương, đối với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đình người dân, qua cuộc đổi đời, cũng đã trở thành nạn nhân tận tuyệt, của một chế độ bạo tàn, của những con người không có nhân tính, mà hôm qua chính người dân coi như thần thành, nên đã công khai giúp và theo chúng, đâm sau lưng đồng đội, đồng bào mình.
+ NGƯỜI LÍNH VNCH BỊ TRÍ THỨC THIÊN TẢ ĐÂM SAU LƯNG :
Trong lúc đất nước đang lâm nguy vì giặc xâm lăng phương Bắc, trong lúc gần hết thanh niên nam nữ thuộc mọi tầng lớp của xã hội miền Nam, không phân biệt sang hèn, kinh thượng, bỏ nhà, bỏ lớp, bỏ hết tương lai của tuổi trẻ và đời người để lên đường ra biên cương chống giặc thù. Giữa lúc đất nước lầm than, muôn người khốn khổ vì chiến tranh do Hồ Chí Minh và cộng sản mang từ Liên Xô-Trung Cộng vào để dầy xéo non sông tổ quốc, thì tại hậu phương Miền Nam có một số người tự nhận mình là trí thức, giáo sư, tu sĩ, hầu hết đều đang độ xuân thì, mập mạnh nhưng lại tìm cách đứng bên lề cuộc chiến bằng đủ mọi lý do để được hoãn dịch, trốn nghĩa vụ làm trai trong thời tao loạn. Nếu vì sợ chết mà trốn đi lính, thì cũng còn có thể tha thứ nhưng những hạng người này, không bao giờ chịu để yên cho đồng bào và đất nước mình, đang trăn trở trong cơn đau bom đạn, hận thù, đói nghèo và ly biệt. Họ hoàn toàn không thông cảm cho ai hết, ngoài cái lý tưởng đã thu lượm được, qua sách báo tây phương phản chiến và các kinh điển nhật tụng của thiên đàng xã hội chủ nghĩa, trong lúc được sống ở hậu phương, thừa mứa vật chất và thời gian để đâm thọt, phá hoại.

Ngày nay ai cũng biết, cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo lý tưởng, ai muốn gọi thế nào cũng đều có ý nghĩa riêng với người trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, thì đây là một cuộc chiến đấu chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lãnh đạo của đất nước. Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cộng sản. Nhưng với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.

Chính bọn trí thức thiên tả này, đã lợi dụng tự do báo chí ngôn luận của VNCH, để viết lách, bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu phương, đâm sau lưng chiến sĩ tuyền tuyến, đang liều chết để bảo vệ đồng bào, trong đó có cả sinh mạng ký sinh của chúng.
+ MỸ BÁN ĐỨNG VNCH CHO cộng SẢN :
Bắt đầu từ ngày 13-5-1968, Mỹ và Bắc Việt đã lén lút đi đêm với nhau tại Paris, để tìm cách đổi chác trên thân xác của VNCH. Nhưng kẻ cắp gặp bà già, nên dù hằng tuần có gặp nhau, Kissinger và Lê Đức Thọ vẫn không đạt được một thỏa thuận nào. Theo tiết lộ mới đây của Kissinger, trong hồi ký ‘The Kissinger Transcripts‘, trong đó đã ghi chép đầy đủ về mọi mánh lới, thủ thuật của Mỹ để ve vãn Trung Cộng, chống lại Liên Xô vào tháng 1-1972. Cũng theo sách dẫn chứng trên, thì Kissinger đã làm đủ mọi thủ đoạn, để đạt cho được mục đích. Trong cuộc, VNCH là con vật tế thần, mà cặp Nixon và Kissinger đã xử dụng, nên cuối cùng dẫn tới sự chấp nhận những điều kiện phi lý, mà Hoa Kỳ dùng bùa viện trợ, ép buộc VNCH phải ký kết trong bản hiệp định ngưng bắn năm 1973. Riêng đối với Bắc Việt, mặt thật cũng đâu có hãnh diện gì hơn VNCH, trong cuơng vị làm đầy tớ Nga-Tàu. Bởi vậy, khi Liên Xô thấy Mỹ và Trung Cộng đã liên kết với nhau, chắc chắn Tàu Cộng sẽ theo Mỹ, bắt VC ngưng bắn có điều kiện. Bởi vậy, một mặt LX viện trợ tối đa cho Hà Nội, đồng thời ra lệnh cho VC mở hết mặt trận này tới chiến dịch khác, mà lần cuối cùng là ngày quốc hận 30-4-1975, đưa cả nước VN trong ba mươi năm đắm chìm trong cảnh nghèo đói, lầm than, hận thù vì vũng bùn ô uế của cái gọi là thiên đàng xã hội chủ nghĩa.

Người Mỹ đã ký kết hiệp định ngưng bắn Ba Lê, chỉ với mục đích rút quân và đem tù binh về nước, để Nixon đắc cử thêm một nhiệm kỳ tổng thống Mỹ và Kissingertiếp tục giữ chức lớn trong chính quyền Hoa Kỳ. Ngoài mục đích trên, người Mỹ không cần đếm xỉa gì tới tương lai cũng như số phận của người Việt, nước Việt.

Sau này, khi VNCH đã sụp đổ, nhiều nhân vật quốc tế liên quan tới cuộc chiến VN, đều phê bình sự tắc trách của Hoa Kỳ, khi dựng lên cái quái thai hiệp định ngưng bắn, để bán đứng đồng minh của mình. Chính TT. Nixon cũng đã xác nhận lỗi lầm của mình trong tác phẩm ‘ No More VietNam’ rằng tôi đã thấy những vấn đề nan giải của hiệp định Ba Lê nhưng quan trọng nhất trong thỏa ứơc này là đã không bắt buộc Hà Nội rút hết bộ đội đã xâm nhập về Bắc. Còn M. Gauvin, đại sứ Canada tại Hy Lap, nguyên chủ tịch uỷ hội kiểm soát quốc tế (CICCS) tại VN, đã tuyên bố ‘VNCH bi sụp đổ hoàn toàn do quyết tâm bỏ rơi của Hoa Kỳ. Riêng cái hiệp định ngưng bắn ký kết tại Ba Lê năm 1973, đã không phản ảnh được ý muốn và nguyện vọng của người dân Miền Nam, là muốn sống hòa bình và không bao giờ chấp nhận chủ nghĩa cộng sản, nên ngay từ năm 1954, họ đã phải bỏ miền bắc để vào Nam, chạy trốn VC’. Nhưng phê bình một cách thẳng thắn, là Sir R.Thompson ‘ Sự sống còn của Nam VN, đã bị người Mỹ tước đoạt hay nói thẳng là bán đứng. Có làm như vậy, Hoa Kỳ mới tránh cho nước mình bị khỏi bị sâu xé tan nát. Một điều nghịch lý khác là cộng sản Bắc Việt, bị bó buộc tới bàn hội nghị, không phải để cứu họ, mà là cứu nước Mỹ. Nên dĩ nhiên Mỹ phải đem đồng minh VNCH ra bán đứng, để đền ơn cứu mạng‘.

Ngoài vấn đề phủi tay tại Nam VN sau khi đã đem được tù binh và hài cốt quân Mỹ về, quốc hội Hoa Kỳ còn bội ước, khi liên tục biểu quyết các đạo luật ngăn cấm can thiệp bằng quân sự của Mỹ tại Nam VN, cắt giảm dần quân viện, không chịu hoán đổi quân trang quân dụng, như các thỏa ước đã ký kết . Sự bất công vô lý, đến đổi Tuỳ Viên Quân Sự (DAO), tại Nam VN, đã phải viết ‘Người Lính VNCH do đó, đã phải chấp nhận sống với những nhu cầu, dưới mức bình thường, làm cho tinh thần người chiến sĩ xuống thấp,vì bị hạn chế các phương tiên ngăn chống giặc‘. Chỉ có Robert S McNamara, cựu bộ trưởng quốc phòng thời TT.John Kenedy, thì vẫn ngoan cố để chạy tội, quên hết trách nhiệm của mình, trong tác phẩm ‘ In Retrospect : The Tragedy and Lessons Of VN ‘, bêu xấu và đổ hết trách nhiệm làm mất nước cho QLVNCH.
Last edited by khieulong on Tue Jun 20, 2006 2:04 am, edited 4 times in total.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Sự thật, khi viết về Quân Lực VNCH, hầu hết các nhà quân sử trên thế giới cũng như các Sử Gia hiện tại của VN như Nguyễn Khắc Ngữ, Chánh Đao, Phan Nhật Nam, Trần Đại Sỹ, Phạm Huấn, Nguyễn Đức Phương, Phạm Phong Dinh, Trần Gia Phụng, Nguyễn Lý Tưởng... đều đứng chung trên quan điểm ca tụng tinh thần hy sinh và trách nhiệm của người lính VNCH, đối với đất nước và đồng bào. Nhờ thiện chiến, có kỷ luật nghiêm minh, biết bổn phận, nên trong suốt cuộc chiến hai mươi năm, dù lúc nào VNCH cũng bị Bắc Việt tấn công lén như Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè 1972... nhưng Họ đã can trường lật ngược hoàn cảnh, để chuyển thắng thành bại. Hầu hết lính và các cấp chỉ huy ngoài chiến trường, đã quyết tử trong giờ thứ 25, tới khi được lệnh bắt buông súng của Dương Văn Minh, mới chịu rã ngủ.

Mới đây có nhiều tác phẩm được công bố như The Pategon Papers, Fires In The Lake của Frances Fitzgeral, The Best and The Brightest của Halberstam và nhất là các hồi ký của Kissinger..đều cho thấy từ khởi đầu cuộc chiền, đến khi tàn cuộc, cho thấy người Mỹ luôn luôn là đạo diễn chính trong thảm kịch VN. Trong lúc cộng sản Bắc Việt, được Tập Đoàn cộng Sản Quốc Tế cả Liên Hiệp Quốc, viện trợ quân sự thả dàn, thì QLVNCH bị Hoo Kỳ qua Viện Trợ, chèn ép bắt bó tay, nên phải chiến đấu trong nghiệt ngã để sinh tồn. Theo Harry H Noyes, qua tác phẩm ‘ Herdic Allies’, với tư cach là một sĩ quan cao cấp của Mỹ, đã chiến đấu nhiều năm ngoài mặt trận, bên cạnh QLVNCH, nên đã có những nhận định rất thẳng thắn, trái ngược với mồm mép mệng lưỡi bọn nhà báo và chính trị con buôn Mỹ và tây phương. Theo tác giả trên, thì thái độ bêuxấu hay bóp méo sự thật, nhắm vào QLVNCH, chẳng qua chỉ là sự kỳ thị chủng tộc thường thấy của bọn da trắng, lúc nào cũng tự xem mình là văn minh, đứng trên các dân tộc khác. Một điều quan trọng khác, là suốt cuộc chiến đẫm máu tại Nam VN, đa số dân tây phương và Hoa Kỳ, đã bị điệp viên của khối cộng sản, củng như KGB của Liên Xô, mua chuộc hay tuyên truyền. Do đó lúc nào họ cũng có cảm tình với Bắc Việt, nên cứ bóp méo sự thật, để khinh bỉ VNCH.

Bảo rằng QLVNCH không chịu chiến đấu, trốn trách nhiệm, chỉ muốn khoán trắng cho quân đội Mỹ, kể cả sự oanh tạc Miền Bắc, là một ngang ngược và phi lý. Để trả lời, nhiều người đã hỏi ngược lại người Mỹ rằng ‘ vậy thì từ năm 1955-1965 và cuối năm 1971-4/1975, khoảng thời gian đó, người Mỹ hoặc chưa tới hay đã rời VN, vậy ai đã chiến đấu với bộ đội Bắc Việt ?’. Còn về vấn đề oanh tạc Miền Bắc, từ đầu tới cuối có khi nào Hoa Kỳ giao trách nhiệm cho Không Quân VNCH, cũng như chịu cung cấp cho họ các loại phi cơ chiến đấu tối tân, để chiến đấu cho có hiệu quả. Một bí mật khác, là người Mỹ dành độc quyền oanh tạc Miền Bắc, để thi hành lệnh của Hoa Thịnh Đốn, là đem gần hết số bom đổ xuống biển hay núi rừng không phải là mục tiêu quân sự cần tiêu diệt. Bởi vậy làm sao dám giao nhiệm cho KQ.VNCH ?

Còn trong thời gian Mỹ tham chiến tại VN, mở các cuộc hành quân tiêu diệt cộng sản. Tất cả đều là HÀNH QUÂN HỖN HỢP, giữa quân Đồng Minh-Hoa Kỳ và VNCH, tiêu biểu như HQ Cedar Faces tại Vùng Tam Giác Sắt (Bình Dương-Hậu Nghĩa), đầu tháng 1-1967, tiếp theo là HQ Toledo, mục đích càn quét Chiến Khu C và Cục R, do Lực Lượng hỗn hợp, gồm Lữ Đoàn 173 Nhảy Dù-Hoa Kỳ cùng 2 Tiểu Đoàn 33-35/Biệt Động Quân/VNCH đảm trách. Đặc biệt tại Điện Biên Phủ KHE SANH cuối năm 1967, vẫn có quân VNCH tham dư, đó là TD37- BDQ, thuộc Liên Đoàn 1/BDQ của Quân Đoàn I.

Sau cuộc chiến, để chạy tội bán đứng đồng minh, cũng như phản bội Tổ Quốc và đồng bào mình, Hoa Kỳ và bọn khoa bảng-trí thức thân cộng Miền Nam, những người muôn năm trong dòng sử Việt, được bia đời phong cho danh hiệu là ‘TRÍ THỨC CHỒN LÙI’, còn các lãnh tụ cộng sản như Stalin, Mao Trạch Đông, kể cả Hồ Chí Minh, coi rẻ hơn CỤC PHÂN NGƯỜI vì suốt kiếp chẳng làm được một điều gì tốt hay ích lợi, để giúp cho đất nước và đồng bào. Bọn trí thức này theo chân Người Việt tị nạn khắp các nẻo đường hải ngoại, vẫn sống cao sang quyền thế như lúc còn trà trộn trong các Đại Học, Chùa-Nhà Thờ, Tòa Báo, trên các trang sách-thơ, vẫn chứng nào tật nấy, không hề thay đổi lương tâm một chút gì, dù phong trần đã nếm, vinh nhục bề bề và trên hết là vẩn bám vào Người Việt Tị Nạn Cộng Sản để mà sinh tồn, dù rằng chúng đã nói là ĐÃ ĐI HẾt BIỂN nhưng lại không dám về sống với Việt Cộng, để hưởng Vinh Hoa Phú Quý, Tự Do Dân Chủ..trong Xã Nghĩa Thiên Đàng, như chúng hằng ca tụng.

Chính người Mỹ và bọn trí thức-khoa bảng thân cộng này, trước sau vẫn đổ trách nhiệm làm sụp đổ Miền Nam cho các cấp lãnh đạo của VNCH. Riêng sự bảo rằng VNCH không có lãnh đạo xứng đáng, ngang cơ để đối đầu với cáo già Hồ Chí Minh của Bắc Việt, sau khi TT Ngô Đình Diệm bị hạ sát vào ngày 1-11-1963, là điều suy nghĩ quá đáng và đâu có khác gì việc Mỹ nói QLVNCH không chiến đấu, mà chỉ giao hết cho quân đội Hoa Kỳ.

Nhưng mai mĩa nhất vẫn là lời xác nhận của Kissinger, khi cho bách hóa các tai liệu cũ liên 1uan tới chiến cuộc Đông Dương lần thứ 2 (1960-1975 ) ‘ Mỹ đã chơi với Trung Cộng từ năm 1972, vậy thì bán Miền Nam VNCH cho Cộng Sản Quốc Tế Bắc Việt, qua Hiệp Định Paris 1973, cũng đâu có gì lạ ?‘

Sự thật, QLVNCH từ 1960-1975, đã có rất nhiều cấp chỉ huy tài ba lẫn đạo đức, văn võ vẹn toàn. Họ được đào tạo từ các quân trường nổi tiếng nhất vùng Đông Nam Á thời đó như Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, Trường Bộ Binh Thủ Đức, Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Cảnh Sát..cũng như Trường Đại Học Quân Sự.

Ngày xưa người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật hiên ngang, giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối tình xưa :

‘..xin vì chàng, xếp bào cỡi giáp
xin vì chàng giũ lớp phong sương
vì chàng tay chuốc chén vàng
vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng..’

(Chinh Phụ Ngâm – Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm)

Ngày nay người chiến sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, vì suốt cuộc chiến hai mươi năm, ngoài mặt trận thì chống trả với kẻ thù trong nỗi cô độc. Khi trở về lại bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục và chết trong uất hận nghẹn ngào.

Thử hỏi trong cõi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Trong lúc đã có không biết bao nhiêu người hiện nay, đang sống thản nhiên khắp các nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn sống nhờ sự bảo bọc của lính. Trong số này có rất nhiều người đang dấn thân lo chuyện non nước. Không biết trong tâm tư của họ, có một giây phút nào, do lương tâm xao động, khiến họ chợt nghĩ tới những người xưa đã VỊ QUỐC VONG THÂN ? Cũng may hầu hết người Miền Nam, xưa nay vẫn biết ơn người lính năm nào, nhất là sau ba mươi năm qua, đã biết hết cảnh đổi đời oan nghiệt.

Xưa NGƯỜI LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an dân. Nay những người lính già còn sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ của lính năm nào, đã và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một ngày về QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no ấm, như chúng ta hiện nay đang hưởng tại quê người.

‘... tội nghiệp, đời trai chưa thỏa chí
sa trường dung ruổi đã phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy
chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
nhớ lúc hát rừng nơi chiến địa
mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô..’

Xin nghiêng mình trước đồng đội đồng bào đã hy sinh vì đại nghĩa Dân Tộc Việt. Cũng xin chân thành biết ơn Quý Ân nhân đồng hương khắp mọi nẻo đường lưu xứ, đã và đang hướng về những người lính cũ ngày xưa, giờ họ là Quả phụ, cô nhi và thương phế binh VNCH đang kẹt ở địa ngục xã nghĩa.

Người lính cũ giờ này không cần gì hết vì cái gì họ cũng đã có, kể cả tình thương yêu cuối đời mà đồng bào cả nước đã dành cho họ, như trong những truyện ngắn của nhà văn trong nước Vũ Ngọc Tiến vừa được phổ biến. -/-

Xóm Cồn
tháng 6-2006
HỒ ĐINH

Post Reply