Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong

Trà ướp hoa
Hồi nhỏ, tôi ở với ông bà nội tôi trong một khu vườn rộng lớn ở Huế, ba mẹ và các em đều ở Đà Nẵng. Cả ngày ngoài giờ đến trường chỉ còn biết lẽo đẽo theo chân ông bà mà thôi, cho nên tôi rất để ý đến thú pha trà của ông bà.
Bài viết này tôi chỉ nói lên một phần nho nhỏ của cách uống trà mà tôi biết được. Hy vọng nếubạn nào thấy thiếu sót thì xin bổ sung, tôi xin cảm tạ.
Trà ướp hoa lài:
Thứ trà này hiện nay ai ai cũng đều biết cả, ra phố Việt Nam mua một hộp rất dễ dàng. Các khu vườn ở Huế từ nghèo đến giàu đề có một vài khóm hoa lài.
Thứ hoa này dễ trồng, hoa màu trắng sữa, có nhiều cánh, to bằng đồng tiền xu, hương thơm ngào ngạt. Chỉ một và hoa nở tận cuối vườn mà làm thơm thoang thoảng bay tỏa khắp mọi nơi trong nhà, thật là dẽ chịu.
Bà nội tôi hay ngắt vài ba hoa lài bỏ vào bình trà sau khi đã tráng nước nóng. Với một nhúm trà, đổ nước sôi vào, vậy là có một
bình trà ướp hoa lài rồi đó.
Trà ướp hoa sói:
Nói đến hoa sói là nói đến một loại hoa thật đặc biệt ít ai biết đến. Lá màu lục đậm to bằng ba lá chè tươi và cũng có khiá ở mép lá. Còn hoa, hình tròn không có cánh, chỉ to bằng hạt kê đã nở, kết thành từng chùm màu trắng ngần.
Bà nội tôi để chậu hoa kề bên thau nước rửa mặt và lu nước. Cứ sáng sáng, sau khi súc bình trà bà tôi cho tất cả bã chè vào gốc cây ủ làm phân và sau khi rửa mặt bà lại đổ cả thau nước tưới vào gốc câỵ Bà tôi nói hoa sói thích mát và nước cho nên phải tưới luôn kẻo không thì nó chết.
Hương thơm nhẹ và ngọt ngào phải đứng thật gần mới ngửi được nhưng bỏ vào bình trà để pha với trà thì thật là tuyệt.
Trà ướp hoa ngâu:
Nhà tôi có một cây ngâu ông tôi trồng bên hông nhà kề cửa sổ phòng tôi. Hoa ngâu lớn bằng đầu ngón tay út và có những cánh mỏng như giấy màu trắng vàng.
Tôi cứ đợi lúc ngâu có trái nho nhỏ cở bằng hạt đậu phụng màu da cam là ngắt ăn nhưng chẳng ngon gì.
Cây ngâu lá cũng bằng hoa, bé bằng lóng tay, cao bằng đầu người, làm thành một bụi lớn hơn cả vòng tay. Hoa thơm nhè nhẹ, bà tôi cũng bỏ vào bình trà nhưng chỉ thỉnh thoảng thôi vìông tôi không thích mùi hương này pha với trà lắm.
Trà ướp hoa tường vi:
Bụi tường vi của bà tôi trồng trước hiên nhà. Bà tôi luôn luôn nghĩ rằng hoa này đẹp và sang cho nên cũng săn sóc kỹ càng hơn những hoa khác.
Hoa màu hường, nó là một loại hoa hồng nhưng hoa chỉ lớn bằng qủa banh bóng bàn mà thôi, hương thơm ngát nhưng ngọt ngào.
Lúc nào có khách qúy mà trong vườn đang có vài hoa tường vi mới nở, bà tôi tìm hái bỏ vào bình trà rồi chế nước nóng vào, chờ vài ba phút cho trà và hương thơm tường vi quyện vào nhau bà tôi mới chế ra những chiếc tách kiểu Pháp mà ba tôi đã tặng ông bà. Bảo đảm với các bạn tách trà này thơm và quý phái lắm.
Trà ướp hoa mộc:
Nói đến hoa mộc tôi lại không thể nào quên được bụi hoa mộc nằm kề bức bình phong trước nhà.
Tên đúng với cách cấu tạo hoa, lá và thân cây. Hoa đơn sơ mộc mạc, cánh hoa bé tí bằng hạt mè màu trắng kem. Hoa có bốn cánh và kết thành từng chùm nhỏ bằng ngón tay. Lá nó bằng lá chè nhưng màu lục hơi nhạt.
Hương thơm của nó chẳng mộc mạc tí nào, mùi hương ngọt tỏa ra khắp nơi, ai ai cũng đều thích.
Chỉ cần vài chùm hoa nhỏ trong bình trà là tách trà của bạn thơm sực nức rồ đó. Bà tôi thỉnh thoảng đi đâu chơi không quên nhét một chùm hoa nhỏ trên búi tóc ( giống như bây giờ người ta dùng nước hoa vậy đó, điệu ghê các bạn nhỉ! ).
Qua đây, tôi lại gặp cây hoa mộc tại phố Việt Nam ở Richmond trong một tiệm tạp hoá người Tàụ
Hỏi chủ nhân thì họ bảo cây này chở từ Queensland xuống vì dưới này lạnh nên
không có cây hoa này nhiều. Bên Tàu kêu tên là
Quý hoa coi bộ cây này được người Tàu quý hơn dân Việt Nam rồi đó.
Tôi mua về trồng, cây lớn nhanh, nhưng hoa không thơm bằng. Hôm nào trời nắng đi ngang qua bụi cây mới nghe một làn hương nhè nhẹ tỏa ra.
Trà ướp sen:
Đây là một cái thú uống trà của giới thượng lưu Huế. Tôi nhớ các nhà xưa giàu có các cụ hay có ao sen sau nhà, bức bình phong trước nhà với hàng rào chè tàu (cây chè này chỉ trồng làm bờ rào mà thôi) chạy quanh vườn trông sang trọng và uy nghi lắm.
Hồ sen chỉ hấp dẫn vào những tháng hạ, lúc hoa nở, ve kêu, chim chóc véo von, các cụ đặt vài cái ghế dựa gần bờ hồ để ngồi uống trà.
Trà này đêm trước đã được người làm bỏ vào những đoá hoa hàm tiếu cột lại để sáng hôm sau đem vào pha trà. Ôi chao! mùi thơm cuả hoa sen quyện với nước trà thơm sực nức thêm vào ngồi bên hồ nghe hương thơm nhẹ nhàng của hoa tỏa ra khắp nơi khiến cho nhiều người cảm tác thành áng thơ bất hủ.
Ở Huế, trong Thành Nội có hồ Tĩnh Tâm để lúc nào mấy vị vua triều Nguyễn căng thẳng đầu óc ra đây nghỉ ngơi.
Hồ này trồng toàn hoa sen, mà sen ở đây rất nổi tiếng vưà lớn và rất thơm, nhất là hột sen Tĩnh Tâm ngon nhất ở Huế. Đêm đêm các người lính hầu đem trà bỏ vào hoa sen. Sáng sớm chèo chiếc ghe độc mộc len lỏi vào hồ lấy nước sương đọng trên những chiếc lá sen đem về đun sôi pha với trà đã được ủ cả đêm trong đoá sen đem dâng lên vua.
Bâygiờ nhiều lúc nhắp nhằm một chén trà ướp mùi hương từ những chất hoá học thật là hắc và nồng làm khắc cả cuống họng. Chứ một chén trà ướp hoa thật khi uống xong hương thơm vẫn còn giữ lại ở cổ họng làm mình thấy khoan khoái lạ lùng.
Tôi chỉ có ý kiến ngang đây thôi, xin các bạn tiếp tục góp ý để sau này khi chúng ta gặp lại nhau tha hồ uống trà ướp đủ thứ hoa và ôn những chuyện đời xưa phải không các bạn.
TTKA
Thư gửi vợ mùa World Cup
Em yêu, em hãy nghiên cứu và điều chỉnh cho phù hợp bản nội quy dưới đây, những điều khoản sẽ có hiệu lực trong tháng Sáu và Bảy năm nay.
Em cũng có thể chuyển bản nội quy cho các bà vợ khác, các cô sắp lấy chồng, các chị, các em gái, vân vân, nghĩa là tất cả phụ nữ nói chung:
Điều một, từ mồng 9/6 đến mồng 9/7/2006, em cần đọc chuyên mục thể thao của các báo để nắm được điều gì đang diễn ra liên quan đến World Cup và xác định cách để có thể tham gia các cuộc đối thoại bóng đá.
Nếu không làm thế, em sẽ bị nhìn nhận không ra gì hoặc bị người đời lờ đi. Lúc đó chớ có phàn nàn vì sao không được ai quan tâm.
Điều hai, suốt kỳ World Cup, tivi là của anh và quy định này có giá trị mọi thời gian trong ngày, không có bất cứ ngoại lệ nào. Thậm chí cho dù em chỉ cần liếc nhìn cái điều khiển từ xa thôi là mắt em thế nào cũng có vấn đề.
Điều ba, nếu em trót dại đi qua tivi trong lúc đang diễn ra trận đấu, anh sẽ cho qua dù em có bò trườn lên sàn nhà với điều kiện không làm cho anh sao nhãng sự tập trung.
Nếu em quyết đứng “mỏng tang” trước mặt tivi với cái nhìn khêu gợi, anh dám chắc rằng em phải bận đồ vào ngay sau đó. Đơn giản chỉ vì lúc đó “chỉ có em đối thoại với em” mà thôi.
Còn nếu em cảm lạnh, anh nói trước sẽ không có thì giờ để đưa em đến gặp bác sỹ hoặc trông nom em trong thời gian diễn ra World Cup đâu.
Điều bốn, suốt tháng World Cup, anh tuyên bố trước là anh sẽ mù, điếc, và câm trừ phi anh yêu cầu tiếp tế nước uống hoặc đồ ăn. Em sẽ không nằm trong bộ nhớ của anh nếu em mong muốn anh lắng nghe em, mở cửa, trả lời điện thoại hay, thậm chí, bế con lên nếu nó ngã. Không có đâu.
Điều năm, sẽ là gợi ý hay nếu em thường xuyên đảm bảo có ít nhất hai thùng bia Heineken, thường xuyên trong tủ lạnh cũng như đủ thứ để gặm nhấm. Nhưng chớ có khó chịu khi bạn bè anh đến nhà ta xem bóng đá.
Điều sáu, nếu thấy anh nổi đóa vì một trong những đội mà anh hâm mộ thua, em chớ có nói “Quên đi anh, chỉ là một trò chơi thôi mà” hay “Đừng lo, trận sau, họ sẽ thắng anh ạ”.
Nếu em nói những điều đó, em chỉ tổ làm anh cú thêm mà thôi. Hãy nhớ rằng em không bao giờ am hiểu bóng đá tốt hơn anh và vì thế cái gọi là những lời động viên sẽ chỉ có thể dẫn đến tình ta tan vỡ mà thôi.
Điều bảy, em có thể ngồi bên cạnh và xem cùng anh một trận và em có thể nói chuyện với anh lúc hai đội nghỉ giải lao nhưng chỉ khi tivi đang phát chương trình quảng cáo hoặc khi tỷ số hiệp một làm anh hài lòng.
Ngoài ra, lưu ý rằng anh đang nói “một” trận vì vậy chớ có sử dụng cả kỳ World Cup như một dịp xả hơi để hai ta bên nhau.
Điều tám, phát lại các pha làm bàn rất quan trọng. Anh không quan tâm những pha đó anh đã xem hay chưa. Anh muốn xem lại, xem lại nhiều lần.
Điều chín, hãy nói với bạn em rằng chớ có sinh đẻ vào dịp này, chớ tổ chức liên hoan hay buổi tụ tập nào có trẻ con và cần có sự tham dự của anh. Vì:
- Anh sẽ không đi
- Anh sẽ không đi, và
- Anh sẽ không đi
Điều 10, nếu một người bạn của anh mời vợ chồng ta đến nhà vào một ngày thứ Bảy để xem một trận, chúng ta sẽ có mặt tại đó ngay lập tức.
Điều 11, các bản tin nóng World Cup trên tivi quan trọng như bản thân các trận đấu. Bởi vậy chớ có nghĩ đến việc nhắc nhở đại loại “nhưng mà anh đã xem trận này rồi đấy thôi”, “Sao anh không chuyển kênh để chúng ta có thể xem một cái gì đó”.
Câu trả lời của anh sẽ là “Hãy tham khảo điều hai của nội quy”.
Điều 12, cuối cùng, hãy tiết kiệm câu than kiểu “Cảm ơn Chúa, may mà World Cup chỉ bốn năm mới có một lần”. Anh miễn dịch với những từ ấy rồi. Vì sau World Cup là đến giải vô địch các đội ngoại hạng, đến giải ý, giải Tây Ban Nha, giải quốc gia, giải khu vực, vân vân và vân vân.
Cám ơn vì sự hợp tác của em
Trân trọng
Chồng thanh lịch và đáng yêu của em, Charles
Quốc Dũng (st)Tiền Phong
Em cũng có thể chuyển bản nội quy cho các bà vợ khác, các cô sắp lấy chồng, các chị, các em gái, vân vân, nghĩa là tất cả phụ nữ nói chung:
Điều một, từ mồng 9/6 đến mồng 9/7/2006, em cần đọc chuyên mục thể thao của các báo để nắm được điều gì đang diễn ra liên quan đến World Cup và xác định cách để có thể tham gia các cuộc đối thoại bóng đá.
Nếu không làm thế, em sẽ bị nhìn nhận không ra gì hoặc bị người đời lờ đi. Lúc đó chớ có phàn nàn vì sao không được ai quan tâm.
Điều hai, suốt kỳ World Cup, tivi là của anh và quy định này có giá trị mọi thời gian trong ngày, không có bất cứ ngoại lệ nào. Thậm chí cho dù em chỉ cần liếc nhìn cái điều khiển từ xa thôi là mắt em thế nào cũng có vấn đề.
Điều ba, nếu em trót dại đi qua tivi trong lúc đang diễn ra trận đấu, anh sẽ cho qua dù em có bò trườn lên sàn nhà với điều kiện không làm cho anh sao nhãng sự tập trung.
Nếu em quyết đứng “mỏng tang” trước mặt tivi với cái nhìn khêu gợi, anh dám chắc rằng em phải bận đồ vào ngay sau đó. Đơn giản chỉ vì lúc đó “chỉ có em đối thoại với em” mà thôi.
Còn nếu em cảm lạnh, anh nói trước sẽ không có thì giờ để đưa em đến gặp bác sỹ hoặc trông nom em trong thời gian diễn ra World Cup đâu.
Điều bốn, suốt tháng World Cup, anh tuyên bố trước là anh sẽ mù, điếc, và câm trừ phi anh yêu cầu tiếp tế nước uống hoặc đồ ăn. Em sẽ không nằm trong bộ nhớ của anh nếu em mong muốn anh lắng nghe em, mở cửa, trả lời điện thoại hay, thậm chí, bế con lên nếu nó ngã. Không có đâu.
Điều năm, sẽ là gợi ý hay nếu em thường xuyên đảm bảo có ít nhất hai thùng bia Heineken, thường xuyên trong tủ lạnh cũng như đủ thứ để gặm nhấm. Nhưng chớ có khó chịu khi bạn bè anh đến nhà ta xem bóng đá.
Điều sáu, nếu thấy anh nổi đóa vì một trong những đội mà anh hâm mộ thua, em chớ có nói “Quên đi anh, chỉ là một trò chơi thôi mà” hay “Đừng lo, trận sau, họ sẽ thắng anh ạ”.
Nếu em nói những điều đó, em chỉ tổ làm anh cú thêm mà thôi. Hãy nhớ rằng em không bao giờ am hiểu bóng đá tốt hơn anh và vì thế cái gọi là những lời động viên sẽ chỉ có thể dẫn đến tình ta tan vỡ mà thôi.
Điều bảy, em có thể ngồi bên cạnh và xem cùng anh một trận và em có thể nói chuyện với anh lúc hai đội nghỉ giải lao nhưng chỉ khi tivi đang phát chương trình quảng cáo hoặc khi tỷ số hiệp một làm anh hài lòng.
Ngoài ra, lưu ý rằng anh đang nói “một” trận vì vậy chớ có sử dụng cả kỳ World Cup như một dịp xả hơi để hai ta bên nhau.
Điều tám, phát lại các pha làm bàn rất quan trọng. Anh không quan tâm những pha đó anh đã xem hay chưa. Anh muốn xem lại, xem lại nhiều lần.
Điều chín, hãy nói với bạn em rằng chớ có sinh đẻ vào dịp này, chớ tổ chức liên hoan hay buổi tụ tập nào có trẻ con và cần có sự tham dự của anh. Vì:
- Anh sẽ không đi
- Anh sẽ không đi, và
- Anh sẽ không đi
Điều 10, nếu một người bạn của anh mời vợ chồng ta đến nhà vào một ngày thứ Bảy để xem một trận, chúng ta sẽ có mặt tại đó ngay lập tức.
Điều 11, các bản tin nóng World Cup trên tivi quan trọng như bản thân các trận đấu. Bởi vậy chớ có nghĩ đến việc nhắc nhở đại loại “nhưng mà anh đã xem trận này rồi đấy thôi”, “Sao anh không chuyển kênh để chúng ta có thể xem một cái gì đó”.
Câu trả lời của anh sẽ là “Hãy tham khảo điều hai của nội quy”.
Điều 12, cuối cùng, hãy tiết kiệm câu than kiểu “Cảm ơn Chúa, may mà World Cup chỉ bốn năm mới có một lần”. Anh miễn dịch với những từ ấy rồi. Vì sau World Cup là đến giải vô địch các đội ngoại hạng, đến giải ý, giải Tây Ban Nha, giải quốc gia, giải khu vực, vân vân và vân vân.
Cám ơn vì sự hợp tác của em
Trân trọng
Chồng thanh lịch và đáng yêu của em, Charles
Quốc Dũng (st)Tiền Phong
Một chuyến đi về
Thiên Minh
Tháng rồi tôi có liên lạc với anh Dzũng và biết được là anh sẽ về Việt Nam vào mùa hè năm nay để thăm gia đình. Anh nói chuyến về lần trước không đi được nhiều nơi, nên hy vọng lần này sẽ có dịp đến thăm một vài địa danh khác nữa. Tôi nhớ lại lần đó cách nay cũng đã hơn 5 năm rồi, và đó là lần đầu tiên anh trở lại quê nhà sau gần 20 năm trời cách biệt. Hình như lúc đó tâm trạng anh Dzũng thật bồi hồi xúc động, đúng là của kẻ đi xa (lâu ngày), giờ được trở về nơi chốn cũ. Những kỷ niệm của anh về chuyến đi đó, tôi cũng được biết khá nhiều, không những bằng lời kể của anh (qua điện thoại), mà còn bằng những hình ảnh “cụ thể”, qua những lần nhận được e-mail.
Rồi trong thời gian gần đây là chuyện đi-về VN từ một người bạn khác của tôi (là N) để lập gia đình, nhưng cuối cùng kết quả cũng… như không, vì hai vợ chồng chưa được đoàn tụ bên nhau, thì vợ của N đã sớm lìa đời sau một tuần hôn mê vì tai nạn. Có lẽ, N là người đã kể cho tôi nghe nhiều chuyện ở quê nhà, nhất là… “Chuyện-Việt-Nam” mà chúng tôi thường nói đùa với nhau, là nói hoài cũng không bao giờ hết.
Ngoài N ra, thì trong bạn bè chúng tôi còn có Trần cũng đã về Việt Nam một lần, cách nay gần 3-4 năm gì đó. Gia đình của Trần không còn ai ở Việt Nam, nên chuyến trở về lần đó (cùng bạn bè) là muốn thăm lại chốn xưa, nhất là quê hương Cà Mau nơi mà Trần đã xa rời từ những ngày khôn lớn. Thêm vào đó, Trần còn muốn tìm hiểu về những “di tích lịch sử” nổi danh khác mà “him” đã được đọc qua từ sách báo. Chẳng hạn như chuyện về ngôi dinh thự của “Công tử Bạc Liêu” được nghe nhiều người nhắc đến, chuyện về “Vân Ðường Phủ” của tác giả “Hơn nửa đời hư” Vương Hồng Sển…vv…
Những ngày ở lại Sài Gòn, Trần lưu trú nhiều nơi từ một khách sạn “đắc tiền” trên đường Châu Văn Liêm (tức đường Tổng Ðốc Phương ngày xưa trong Chợ Lớn), đến nhà một người bạn ở đường Cao Bá Nhạ, rồi đến một khách sạn khác “rẻ tiền” hơn trên đường Sương Nguyệt Ánh gần công viên Tao Ðàn (đường Lê Văn Duyệt cũ). Ở những nơi này Trần đã “nghe và thấy” rất nhiều điều, mà theo him là… “không thể nào ngờ được!”. Ða số, đó là những điều có liên quan đến đời sống mang tính chất “tạm bợ” ở quê nhà. Theo Trần, thì hình như rất nhiều người ở Việt Nam hiện nay, nhất là giới trẻ đều chỉ biết làm sao để kiếm tiền, chứ còn công việc làm ra sao, có “stable” (ổn định) hay không, thì họ không cần nghĩ đến. Các bạn chỉ biết lo cho cuộc sống hôm nay, chứ còn tương lai ngày mai thì rất khó lòng mà định đoạt được. Thời gian này Trần có quen được vài người và được họ hướng dẫn đi đó đi đây. Từ việc đi xa đến Cà Mau, Bạc Liêu, tới chuyện đi gần như ở vòng vòng Sài Gòn xem ca nhạc kịch, nhìn tận mắt ngôi nhà kiểu xưa của cụ Vương Hồng Sển, kể cả chuyện đi … “tắm hơi”, đi xem người ta viết “thư-pháp”… Rồi đến chuyện đi Hốc Môn để… vào chùa nghe thuyết pháp nữa… vv …
Riêng phần tôi, những kỷ niệm về Việt Nam thì khó lòng mà phôi phai theo ngày tháng, và không ngờ “chuyến đi-về” của tôi, nếu so ra, thì sẽ không kém phần… “đặc biệt”!? Tôi “nhớ” rõ, đó là vào một buổi xế chiều khi trời Sài Gòn đã bắt đầu tắt nắng, tôi được anh tôi chở đến khu vực Phú Mỹ Hưng nằm bên quận 7. Ðây là một khu đô thị, mới phát triển, nghe nói một trong những con đường để đến được nơi đây, là phải đi qua đường Nguyễn Tri Phương nối dài, để qua một cây cầu bắt ngang bến Hàm Tử (vừa mới được xây dựng khoảng mấy năm nay). Con đường này dẫn đến xa lộ Nam Sài Gòn (bây giờ đổi ra thành đường Nguyễn Văn Linh thì phải?), đây là con đường nối liền giữa hai đầu: một bên là Bình Chánh và một bên là Nhà Bè (hướng cầu Tân Thuận). Phải công nhận rằng khu đô thị Phú Mỹ Hưng trông thật là sang trọng “bắt mắt” làm sao, nhất là đối với những người “nhà quê” chưa một lần “ra tỉnh”. Họ gọi đây là một thành phố “không đường hẻm” vì đường xá được tổ chức theo mô hình của các quốc gia đang phát triển (không thua gì… “ở nước ngoài”). (Ai không tin thì xin hãy vào Google và tìm “trang nhà” Phu My Hung thì sẽ rõ!). Càng đi sâu vào bên trong thì càng thấy nhiều ngôi nhà riêng biệt hai tầng, và nhiều khu apartment cao từng, trông rất là tráng lệ. Chúng tôi chạy xe vòng vòng hết đường này đến đường nọ, chủ yếu là để tham quan… “cho biết sự tình”, điều này theo anh tôi, thì… “Khi nào có dịp về quê, cũng nên ghé vào đây một lần cho biết”. Dọc theo những con đường rộng thẳng tắp, tôi thấy có vài trạm xe bus và các em nhỏ đang đứng đợi xe. Có lẽ các em này là người Nhật, Ðại Hàn hay Ðài Loan gì đó. Bởi vì qua cách ăn mặc đồng phục của các em, cũng như chung quanh đây là các trường Japanese School, Korean School, và cả Taiwanese School cũng có. Bên cạnh đó là những “trường quốc tế” khác nằm rải rác đó đây, như trường Nam Sài Gòn (SSIS), trường Trung Học Quốc tế (SIC), trường Hướng Nghiệp Top Globis, trường đại học RMIT của Úc…vv…
Rồi không xa những khu trường học này, nếu nhìn về phía bên kia là một building nhiều tầng với kiến trúc tối tân. Ðó chính là bệnh viện của Tây mà người dân bên nhà gọi là Bệnh viện Việt Pháp (FV - Hospital Franco Vietnamese). Nghe nói trong bệnh viện này bác sĩ toàn là người Tây, nên “giá biểu” của nó cũng không rẻ một chút nào. Năm rồi cậu tôi có vào “nằm thử” mấy đêm trước lúc qua đời, nghe đâu một đêm họ “charge” (sạc) 700 ngàn đồng Việt Nam (tức là gần bằng 50 đô-la tiền Mỹ).
Sau một hồi chạy vòng vòng chúng tôi có ghé vào một tiệm nước để giải lao. Không khí ở đây dễ chịu, khung cảnh lịch sự thoáng mát, những người phục vụ cũng vui vẻ chu đáo với chúng tôi. Ðang ngồi nói chuyện với nhau, bổng nhiên có một thanh niên từ bên ngoài đi thẳng đến chỗ chúng tôi, rồi nhìn anh tôi và lên tiếng:
- Xin lỗi, Cậu có phải là con của bà Tám ở dưới quê?
Nghe thế anh tôi vội nhìn sang người thanh niên này một chốc, và ồ lên:
- À, phải… đúng rồi, ủa… mà hình như cháu là con của chị Sáu Y. phải không?
- Dạ đúng rồi đó Cậu, con tên là Huy. Người thanh niên này lễ phép đáp lời, rồi Huy liền hỏi anh tôi một câu kế tiếp:
- Ủa… mà Cậu vào trong đây tìm ai vậy?
- Có tìm ai đâu, tại nghe nói khu Phú Mỹ Hưng này đẹp quá, nên các Cậu mới chạy vào đây một vòng cho biết.
Thật ra Huy là cháu ngoại của bác tôi, có lẽ vì lâu ngày không liên lạc thường xuyên, nên cả anh tôi và Huy đều không nhận ra nhau là phải. Qua tiếp xúc, chúng tôi biết được Huy và vợ nhờ lo chịu khó làm ăn (lương cao của một công ty “nước ngoài” ?), cộng thêm tính tình lanh lợi biết chạy… “áp phe”, nên Huy đã “chen chân” được vào đây. Hiện gia đình Huy sống trong một căn apartment (trị giá khoảng 35 ngàn đô la), tọa lạc trên tầng 5 của một building cao, trông còn rất mới. Huy “khoe” là khu đô thị Phú Mỹ Hưng này… “tiến bộ” lắm! Vì theo Huy thì ở trong đây không có nạn xin ăn, không có người bán vé số dạo, cũng như không có cảnh buôn bán “xô bồ”. Ða số dân cư trong đây toàn là dân “ngoại kiều” (Việt kiều cũng có), họ bao gồm Ðài Loan, Nhật Bản và Nam Hàn, cùng những “người Tây” khác đang làm việc và sinh sống ở Việt Nam. Phần còn lại là những người Việt Nam khá giả, có lợi tức hàng tháng rất cao. Nói chung những ai sống ở trong này thì phải nói là dân có tiền, chứ nghèo là không thể nào chen chân vào đây được. Trên đường trở về chúng tôi còn thấy cả sân chơi golf (đánh gôn), với những bãi cỏ xanh rì cùng nhiều vòi nước đang “phun xịt” tứ tung. Ðặc biệt ở trong khu đô thị này nhân viên bảo vệ (security) với đồng phục rất nhiều, họ cỡi xe hai bánh để tuần tra. Chúng tôi vừa dừng lại bên đường để nhìn xem những người bên trong chơi golf, thì thấy họ đến gần và yêu cầu chúng tôi “đi ngay” vì… “mấy người chơi bên trong không thích ai dòm ngó họ!?”.
Ðến buổi tối tôi được “bách bộ” cùng các bạn từ nhà một người quen ra góc đường Cống Quỳnh và Phạm Ngũ Lão để ăn tối, rồi sau đó thì tiếp tục lang thang về hướng đường Bùi Thị Xuân để trở về khách sạn. Trên đường đi chúng tôi thấy có một công viên nằm ngay góc đường Lê Lai và Nguyễn Trãi. Hình như, ở nơi đây có dân “cư ngụ”, vì chúng tôi thấy có vài thanh niên đang… “co ro” nằm ngủ trên các ghế đá công viên, cũng như vài nhóm 5-3 người khác thì đang ngồi tụ tập nói chuyện (hoặc ăn uống) đó đây. Ðối diện công viên này về phía bên kia, ngay góc đường Tôn Thất Tùng (tức Bùi Chu cũ) và Nguyễn Trãi là nhà thờ Huyện Sỹ ngày xưa.
Khi về đến khách sạn ở đường Sương Nguyệt Ánh chúng tôi kéo nhau ra ban-công (balcony) trên tầng 5 ngồi tán dóc và ngắm nhìn thành phố về đêm. Ðây là một hotel nhỏ thuộc “dạng” mini, nên phòng ốc không có nhiều, mỗi tầng chỉ có khoảng hai phòng (phía trước và phía sau) sắp xếp theo chiều sâu của khách sạn, chạy dài từ trước ra sau. Từ trên cao nhìn xuống chúng tôi thấy cảnh đường phố về đêm có phần đông vui và nhộn nhịp. Có lẽ, vì gần phía ngã ba trên đường Tôn Thất Tùng (và Sương Nguyệt Ánh) là nơi có nhiều quán ăn rất đông người qua lại. Theo lời một thằng bạn cho biết thì nhìn xéo về phía đối diện bên kia của khách sạn, là nhà của ca sĩ NS. Ðiều đặc biệt “quái chiêu” là anh chàng ca sĩ này không biết có phải muốn “chơi nổi” hay không, mà lại “khoái” khắc tượng của mình ở ngay phía trước.
Trong lúc chuyện trò với nhau tôi còn “nghe” được đôi điều mới lạ, thật sự tôi không biết nên xếp chúng vào “hạng mục” nào đây. Chẳng hạn như chuyện sáng nay bạn tôi chứng kiến cảnh một đám cưới “tập thể” ở tầng lầu dưới. Theo bạn ấy, thì đây chính là chuyện “gả bán” các cô gái Việt Nam ra nước ngoài… “làm vợ”?!. Sáng hôm đó, hắn thấy nhiều người tụ họp trong một căn phòng được bày trí khang trang theo đúng “phong tục lễ nghi”, chắc là để tiện bề cho người ta cử hành hôn lễ. Ða số các cô dâu đều còn rất trẻ trong độ tuổi từ 18 đến 25. Riêng các chú rể “ngoại kiều” thì ôi thôi, bao gồm từ dân “sồn sồn” đến cả những người giống như là… “sút chìa gãy gọng”. Có nghĩa, khi nhìn những chú rể này, thì thấy ngay là họ có điều gì … “không ổn”?!. Có thể nói, nếu tâm thần bên trong của họ “không bình thường”, thì chắc chắn là cái phần “thể xác” hiện diện kia, thế nào cũng có ít nhiều khuyết tật. Những đám cưới này được những người “mối lái” tổ chức rất có “quy củ” đàng hoàng. Trên vách tường, họ có treo hình mấy con “rồng phụng” hẳn hoi, kèm theo những câu chúc tụng “may mắn”, và cả tiếng Anh nữa, như “Happy Wedding”, hay “Lucky” … dành cho cô dâu và chú rể. Ða số chuyện “thông tin” qua lại với nhau thì toàn do những người “môi giới”. Họ thông dịch cái gì, thì có “trời” mới hiểu được mà thôi, chứ riêng thân phận các cô gái này, có lẽ trình độ học vấn còn chưa được bao nhiêu, thì thử hỏi làm sao mà am tường thêm những điều gì khác nữa!?. Nhìn mặt các cô như kẻ mất hồn, các cô giương đôi mắt ngơ ngác, mở to giống như người vô tư lự. Thật tình mà nói… ôi! các cô trông sao mà “tội nghiệp” quá chừng! Các cô với những gương mặt không hồn, ánh mắt đăm chiêu không tỏ một thái độ vui, hay buồn gì cả. Có lẽ các cô cũng không đoán được số phận sẽ về đâu, nên hiện tại chỉ biết ngồi đây, nhưng tâm hồn thì chu du ở một nơi xa nào đó. Hình như các cô muốn phó thác số phận cho rủi may, cho cuộc đời có an bày thế nào thì cũng đành chấp nhận. Có lẽ nỗi đau buồn nhất là cảnh chia ly giữa các cô và những người thân trước khi “theo chồng” về nơi xứ lạ. Thường thì những người thân chỉ được phép tham dự một hoặc hai người, gọi là đại diện phía đàng gái mà thôi. Sau khi hôn lễ hoàn thành thì những người môi giới sẽ lo “tính toán” tiền bạc với người thân, và chuyện “gả bán” coi như xong, để rồi sau đó những người thân này sẽ ra về… và để cô dâu ở lại. Chính thằng bạn của tôi đã rất đỗi bàng hoàng khi thấy cảnh (sau khi tính toán xong) người môi giới đã cầm hai tờ giấy bạc một trăm đô-la đưa cho một người thân đi theo, và tuyên bố: “Ðây là là ba-triệu-đồng phần còn lại của gia đình anh , riêng những chi phí kể cả thủ tục giấy tờ, cũng như tiền môi giới thì chúng tôi đã trừ xong, đúng như những gì chúng ta thỏa thuận!”...
Tôi thật sự không biết khi cầm lấy 3 triệu đồng tiền “gả con”, những người thân này tâm trạng lúc đó ra sao? Chắc có lẽ là họ đặt mơ ước rất nhiều, nhất là vào một ngày mai “tươi sáng” của các cô. Hay có thể nói, chuyện “đổi đời” hôm nay sẽ là những nỗi “đoạn trường” ở ngày mai… đang chờ đón họ. Thôi thì, xin hãy cầu nguyện cho các cô (mai này nơi xứ lạ) được mọi sự an lành bên những người không cùng chung nòi giống?!
Ðang ngồi nói chuyện thì chúng tôi chợt nhìn thấy ở dưới đường có hai cô gái trẻ (đẹp?) đang tấp xe honda hai bánh (loại “Spacy” hay “Atlanta” gì đó giống như xe Vespa ngày trước) vào lề đường và chạy thẳng vào phía trong của khách sạn. Rồi khoảng chừng vài phút sau thì hai cô đi bộ trở ra đường, hình như họ đang hẹn hò gì với ai vậy đó!?. Mà quả tình là đúng như vậy, vì ngay lúc đó là một chiếc xe hơi đời mới vừa dừng lại để đón các cô. Các cô vừa lên xong, là chiếc xe vội vàng phóng đi vào trong đêm tối, và mọi sự trở lại bình thường. Phần chúng tôi thì cũng chỉ biết nhìn thôi, chứ trước “sự kiện” này, chúng tôi cũng không hiểu biết nhiều, để có lời chi… gọi là… “bình luận”….
Hình như sau lúc đó, thì chúng tôi vẫn tiếp tục ngồi “hóng gió” và nói chuyện “trời mây” nơi cái “balcony” trên tầng 5 đó. Thành phố càng về khuya thì xe cộ lại thưa dần, lâu lâu có vài tiếng động cơ (xe gắn máy) rú ga thật lớn rồi nhỏ dần theo hướng xe chuyển động vụt qua. Chen lẫn đó đây, là tiếng rao hàng lanh lãnh của những người bán hàng rong (ban đêm) trên đường phố. Họ bao gồm mấy cậu bé bán “bánh mì nóng dòn đây”, đến tiếng nhịp rất thanh của một xe hủ tiếu mì gõ “lóc cóc” sắp đến gần, rồi tiếng rao “chí-mà-phủ” (chè mè) của một ông lão người Hoa nào đó! Ðã vậy, trong cái không khí về đêm đó, còn có thêm cả tiếng “rổn rẻng” của những người chuyên hành nghề “đấm bóp giác hơi”... tất cả như cùng tạo nên một không khí rất “đặc thù”, rất “đa dạng” của một Sài Gòn về đêm, mà có lẽ rất khó có một nơi nào thứ hai tìm thấy được…
Khoảng hơn hai giờ đồng hồ sau thì tôi xuống dưới đất, để chuẩn bị ra về. Thằng bạn tôi cũng xuống cùng để đưa tiễn chân tôi. Trong lúc đứng chờ anh tôi đến đón, chúng tôi tiếp tục nói chuyện… “tào lao”, không đầu, không đuôi gì cả. Khung cảnh này diễn ra giữa một đêm khuya, trên một con đường Sài Gòn giờ đã bớt dần đi tiếng ồn, vì ít người qua lại. Vừa lúc đó thì chúng tôi nghe tiếng động của một xe hơi chạy tới, và rồi… xe dừng lại trước mặt chúng tôi. Chúng tôi tò mò nhìn xem, thì nhận ra là hai cô gái lúc nãy trở về. Nhìn vào trong xe, chúng tôi thấy toàn là những người đàn ông Á châu “ngoại kiều”, trông rất là … “béo tốt”. Chắc là họ vừa hoàn tất một… công việc “trao đổi” gì đây, nên bây giờ “xong rồi” thì mới đưa hai cô này trở lại? Riêng hai cô, sau khi vào khách sạn nhận lại xe, thì cũng hối hả ra đường, và phóng đi liền, ngay tức khắc… Chúng tôi đứng đó nhìn họ mà không khỏi ngỡ ngàng, cùng với những nghi vấn trong đầu mà cũng ngại… “không dám” nói với nhau. Cũng may là lúc đó thì có anh bảo vệ của khách sạn đến gần, và góp chuyện cùng chúng tôi. Anh ta cho biết là mấy cảnh này diễn ra như… cơm bữa. Ðêm đêm các cô gái này thường hẹn hò, bắt mối với khách, rồi họ đến gởi xe ở đây, và… “lên đường” khi có xe đến đón. Theo anh bạn này thì: “Chỉ cần vài giờ thôi, là coi như xong một… “phi vụ””. Rồi anh ấy cười hề hề và nói thêm: “Ấy vậy mà mấy cô kiếm được nhiều tiền… rất dễ đó nghe… Trời ơi, cả mấy trăm đô-la chứ đâu phải ít!!”…
Trong lúc tai tôi thì nghe anh bảo vệ nói chuyện, còn tầm mắt tôi thì đang nhìn theo hướng của các cô vừa mới khuất. Tôi chợt bồi hồi nhận ra trước mắt mình là hai người phụ nữ đang quét rác ở đằng kia. Bên cạnh họ là một chiếc xe rác được kéo bằng tay. Hình như họ cũng nhận thấy cảnh tượng vừa rồi, nên cũng dừng tay, đứng nhìn, và nghe ngóng... Tôi không chắc là họ lắng nghe được điều gì đâu, vì mọi chuyện xảy ra rất nhanh, nhất là những lời chuyện trò của hai cô gái trẻ. Âm thanh có còn chăng (giờ đây) là những tiếng “lóc cóc”, “lách cách” gõ nhịp từ xa, từ một xe hủ tiếu mì đang bán dạo… Nhìn cảnh tượng này làm tôi chợt nhớ đến một bài hát ngày xưa của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết. Ðó là bài “Ðại bác ru đêm”. Trong đó ông đã đưa ra hình ảnh: “đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe”… Có lẽ ngày nay, cái hình ảnh những người phu quét đường nghe “tiếng đại bác ru đêm”… không còn nữa. Mà thay vào đó là hình ảnh người phu quét đường đứng nhìn các cô gái trẻ về đêm. Không biết những người phu quét đường này có cảm thấy “xót xa” hay “mủi lòng” gì không, nhất là khi so sánh chính bản thân mình và những cô gái ấy??!!
Chuyến “đi-về” của tôi được tiếp nối bằng một hình ảnh khác “sinh động” hơn. Ðó là cảnh tôi cùng anh tôi và thằng cháu ngồi trên một chiếc xe hơi đang “luồn lách” trên những đường phố chật hẹp của Sài Gòn. Tôi thấy đa số những phương tiện giao thông ở đây là xe hai bánh, chứ còn xe hơi thì ít lắm. Tôi không “nhớ” rõ, là hôm đó chúng tôi đi đâu với mục đích gì? Chỉ nhớ, là sau một hồi “chen lấn” trên các con đường, thì chúng tôi cũng ra tới ngoại thành, và hướng về xa lộ. Hình như chiếc xe này là “xe của cơ quan”, nơi thằng con của anh tôi đang làm việc. Vì nó cho biết là anh tài xế muốn… “kiếm thêm thu nhập”, nên sẵn sàng “tranh thủ” giờ nghỉ trưa để đưa chúng tôi đi cho tiện. Không biết có phải vì anh “tranh thủ” hay không, mà anh ta lái xe rất ư là… “bạt mạng”. Lỡ lên xe rồi mà tôi cảm thấy trong lòng không an tâm một chút nào hết, tôi cũng lo cài dây “sít beo” (seat-belt) đàng hoàng cho… “chắc ăn” cái đã. Nhìn sang ông-anh-cả của tôi, thì tôi thấy “ổng” đang nắm chặt cái tay cầm (chỗ cửa xe). Tôi giúp ổng cài lại dây an toàn và giải thích thêm với ổng… là nơi tôi ở, việc cài dây an toàn (khi đi xe) là bắt buộc. Mặc dù vậy, nhưng ông anh của tôi vẫn không có vẻ an lòng, vì tôi còn nghe tiếng ổng “cầu kinh”, hình như là… “Nam mô A di đà Phật”!?. Trong lúc đó ở phía đằng trước, thằng cháu tôi và anh tài xế thì vẫn… “tỉnh queo”, đúng là họ không có… “scare” (sợ), hay quan tâm gì hết!? Riêng tôi, thật sự lúc này cũng chẳng biết làm gì hơn… là ngồi yên để nhìn cảnh vật ở bên ngoài. Vừa lúc đó, thì tôi chợt nghe tiếng bánh xe “rít” mạnh trên mặt đường, rất to, và rất dài làm tôi chới với… Rồi hình như tôi còn nghe văng vẳng cả tiếng chó sủa ở bên tai. Tôi vội vàng nhắm mắt lại (sau khi đã “định thần” biết phải làm sao, trong lúc tinh thần tôi lúc này giống như là… nửa mê và nửa tỉnh), tôi lẩm bẩm trong miệng của mình: “Any way, I have to go now!”. Rồi như chợt nhận ra là ông anh tôi không hiểu tôi đang nói gì, nên tôi vội vàng nói nhanh… và rõ hơn với ông, trước khi tôi… “từ giã” : “Không được rồi anh ơi, em phải đi thôi… ngay bây giờ anh ạ!..”
Vừa nói xong là tôi vội vàng mở mắt ra ngay, bên tai tôi (lúc này) còn nghe văng vẳng tiếng vọng của âm thanh mà tôi vừa mới nói. Cũng ngay lúc ấy tôi nghe một tiếng va chạm rất lớn, phải nói là thật to, rồi tiếp theo là tiếng còi hụ từ nhiều nơi. Cảnh tượng đầu tiên đập vào mắt tôi là ánh đèn xanh đỏ (xe của police) chớp tắt ở ngoài kia. Lúc này thì mấy con chó của tôi càng sủa lên dữ dội... Tôi tiếp tục nằm yên định tâm, để “lưu luyến” về một vài hình ảnh của quê xưa vừa thoáng hiện. Thế là tôi vừa trải qua một giấc mơ dài, từ một “chuyến-đi-về”… quá vội!?. Có lẽ, tất cả cũng là do những gì tôi thu thập được từ bấy lâu nay, để rồi cuối cùng là “gói trọn” vào một giấc mơ. Có phải chăng, đó là một vài hình ảnh đa dạng và thực tế của quê hương, (hình như) chúng vẫn còn đậm nét trong lòng tôi… Mặc dù giờ đây tuy đã xa… mà lại gần… tuy là mơ… mà lại “thực”!!??
Sáng hôm đó bà Lynn láng giềng cho tôi hay, là tối qua có một tai nạn xảy ra. Những thiếu niên trẻ ăn cắp xe hơi và bị police rượt đuổi chạy quá nhanh, nên cuối cùng đã va vào một shop ở gần đây, chỉ cách nhà chúng tôi khoảng chừng 300 mét.
Thiên Minh
Thiên Minh
Tháng rồi tôi có liên lạc với anh Dzũng và biết được là anh sẽ về Việt Nam vào mùa hè năm nay để thăm gia đình. Anh nói chuyến về lần trước không đi được nhiều nơi, nên hy vọng lần này sẽ có dịp đến thăm một vài địa danh khác nữa. Tôi nhớ lại lần đó cách nay cũng đã hơn 5 năm rồi, và đó là lần đầu tiên anh trở lại quê nhà sau gần 20 năm trời cách biệt. Hình như lúc đó tâm trạng anh Dzũng thật bồi hồi xúc động, đúng là của kẻ đi xa (lâu ngày), giờ được trở về nơi chốn cũ. Những kỷ niệm của anh về chuyến đi đó, tôi cũng được biết khá nhiều, không những bằng lời kể của anh (qua điện thoại), mà còn bằng những hình ảnh “cụ thể”, qua những lần nhận được e-mail.
Rồi trong thời gian gần đây là chuyện đi-về VN từ một người bạn khác của tôi (là N) để lập gia đình, nhưng cuối cùng kết quả cũng… như không, vì hai vợ chồng chưa được đoàn tụ bên nhau, thì vợ của N đã sớm lìa đời sau một tuần hôn mê vì tai nạn. Có lẽ, N là người đã kể cho tôi nghe nhiều chuyện ở quê nhà, nhất là… “Chuyện-Việt-Nam” mà chúng tôi thường nói đùa với nhau, là nói hoài cũng không bao giờ hết.
Ngoài N ra, thì trong bạn bè chúng tôi còn có Trần cũng đã về Việt Nam một lần, cách nay gần 3-4 năm gì đó. Gia đình của Trần không còn ai ở Việt Nam, nên chuyến trở về lần đó (cùng bạn bè) là muốn thăm lại chốn xưa, nhất là quê hương Cà Mau nơi mà Trần đã xa rời từ những ngày khôn lớn. Thêm vào đó, Trần còn muốn tìm hiểu về những “di tích lịch sử” nổi danh khác mà “him” đã được đọc qua từ sách báo. Chẳng hạn như chuyện về ngôi dinh thự của “Công tử Bạc Liêu” được nghe nhiều người nhắc đến, chuyện về “Vân Ðường Phủ” của tác giả “Hơn nửa đời hư” Vương Hồng Sển…vv…
Những ngày ở lại Sài Gòn, Trần lưu trú nhiều nơi từ một khách sạn “đắc tiền” trên đường Châu Văn Liêm (tức đường Tổng Ðốc Phương ngày xưa trong Chợ Lớn), đến nhà một người bạn ở đường Cao Bá Nhạ, rồi đến một khách sạn khác “rẻ tiền” hơn trên đường Sương Nguyệt Ánh gần công viên Tao Ðàn (đường Lê Văn Duyệt cũ). Ở những nơi này Trần đã “nghe và thấy” rất nhiều điều, mà theo him là… “không thể nào ngờ được!”. Ða số, đó là những điều có liên quan đến đời sống mang tính chất “tạm bợ” ở quê nhà. Theo Trần, thì hình như rất nhiều người ở Việt Nam hiện nay, nhất là giới trẻ đều chỉ biết làm sao để kiếm tiền, chứ còn công việc làm ra sao, có “stable” (ổn định) hay không, thì họ không cần nghĩ đến. Các bạn chỉ biết lo cho cuộc sống hôm nay, chứ còn tương lai ngày mai thì rất khó lòng mà định đoạt được. Thời gian này Trần có quen được vài người và được họ hướng dẫn đi đó đi đây. Từ việc đi xa đến Cà Mau, Bạc Liêu, tới chuyện đi gần như ở vòng vòng Sài Gòn xem ca nhạc kịch, nhìn tận mắt ngôi nhà kiểu xưa của cụ Vương Hồng Sển, kể cả chuyện đi … “tắm hơi”, đi xem người ta viết “thư-pháp”… Rồi đến chuyện đi Hốc Môn để… vào chùa nghe thuyết pháp nữa… vv …
Riêng phần tôi, những kỷ niệm về Việt Nam thì khó lòng mà phôi phai theo ngày tháng, và không ngờ “chuyến đi-về” của tôi, nếu so ra, thì sẽ không kém phần… “đặc biệt”!? Tôi “nhớ” rõ, đó là vào một buổi xế chiều khi trời Sài Gòn đã bắt đầu tắt nắng, tôi được anh tôi chở đến khu vực Phú Mỹ Hưng nằm bên quận 7. Ðây là một khu đô thị, mới phát triển, nghe nói một trong những con đường để đến được nơi đây, là phải đi qua đường Nguyễn Tri Phương nối dài, để qua một cây cầu bắt ngang bến Hàm Tử (vừa mới được xây dựng khoảng mấy năm nay). Con đường này dẫn đến xa lộ Nam Sài Gòn (bây giờ đổi ra thành đường Nguyễn Văn Linh thì phải?), đây là con đường nối liền giữa hai đầu: một bên là Bình Chánh và một bên là Nhà Bè (hướng cầu Tân Thuận). Phải công nhận rằng khu đô thị Phú Mỹ Hưng trông thật là sang trọng “bắt mắt” làm sao, nhất là đối với những người “nhà quê” chưa một lần “ra tỉnh”. Họ gọi đây là một thành phố “không đường hẻm” vì đường xá được tổ chức theo mô hình của các quốc gia đang phát triển (không thua gì… “ở nước ngoài”). (Ai không tin thì xin hãy vào Google và tìm “trang nhà” Phu My Hung thì sẽ rõ!). Càng đi sâu vào bên trong thì càng thấy nhiều ngôi nhà riêng biệt hai tầng, và nhiều khu apartment cao từng, trông rất là tráng lệ. Chúng tôi chạy xe vòng vòng hết đường này đến đường nọ, chủ yếu là để tham quan… “cho biết sự tình”, điều này theo anh tôi, thì… “Khi nào có dịp về quê, cũng nên ghé vào đây một lần cho biết”. Dọc theo những con đường rộng thẳng tắp, tôi thấy có vài trạm xe bus và các em nhỏ đang đứng đợi xe. Có lẽ các em này là người Nhật, Ðại Hàn hay Ðài Loan gì đó. Bởi vì qua cách ăn mặc đồng phục của các em, cũng như chung quanh đây là các trường Japanese School, Korean School, và cả Taiwanese School cũng có. Bên cạnh đó là những “trường quốc tế” khác nằm rải rác đó đây, như trường Nam Sài Gòn (SSIS), trường Trung Học Quốc tế (SIC), trường Hướng Nghiệp Top Globis, trường đại học RMIT của Úc…vv…
Rồi không xa những khu trường học này, nếu nhìn về phía bên kia là một building nhiều tầng với kiến trúc tối tân. Ðó chính là bệnh viện của Tây mà người dân bên nhà gọi là Bệnh viện Việt Pháp (FV - Hospital Franco Vietnamese). Nghe nói trong bệnh viện này bác sĩ toàn là người Tây, nên “giá biểu” của nó cũng không rẻ một chút nào. Năm rồi cậu tôi có vào “nằm thử” mấy đêm trước lúc qua đời, nghe đâu một đêm họ “charge” (sạc) 700 ngàn đồng Việt Nam (tức là gần bằng 50 đô-la tiền Mỹ).
Sau một hồi chạy vòng vòng chúng tôi có ghé vào một tiệm nước để giải lao. Không khí ở đây dễ chịu, khung cảnh lịch sự thoáng mát, những người phục vụ cũng vui vẻ chu đáo với chúng tôi. Ðang ngồi nói chuyện với nhau, bổng nhiên có một thanh niên từ bên ngoài đi thẳng đến chỗ chúng tôi, rồi nhìn anh tôi và lên tiếng:
- Xin lỗi, Cậu có phải là con của bà Tám ở dưới quê?
Nghe thế anh tôi vội nhìn sang người thanh niên này một chốc, và ồ lên:
- À, phải… đúng rồi, ủa… mà hình như cháu là con của chị Sáu Y. phải không?
- Dạ đúng rồi đó Cậu, con tên là Huy. Người thanh niên này lễ phép đáp lời, rồi Huy liền hỏi anh tôi một câu kế tiếp:
- Ủa… mà Cậu vào trong đây tìm ai vậy?
- Có tìm ai đâu, tại nghe nói khu Phú Mỹ Hưng này đẹp quá, nên các Cậu mới chạy vào đây một vòng cho biết.
Thật ra Huy là cháu ngoại của bác tôi, có lẽ vì lâu ngày không liên lạc thường xuyên, nên cả anh tôi và Huy đều không nhận ra nhau là phải. Qua tiếp xúc, chúng tôi biết được Huy và vợ nhờ lo chịu khó làm ăn (lương cao của một công ty “nước ngoài” ?), cộng thêm tính tình lanh lợi biết chạy… “áp phe”, nên Huy đã “chen chân” được vào đây. Hiện gia đình Huy sống trong một căn apartment (trị giá khoảng 35 ngàn đô la), tọa lạc trên tầng 5 của một building cao, trông còn rất mới. Huy “khoe” là khu đô thị Phú Mỹ Hưng này… “tiến bộ” lắm! Vì theo Huy thì ở trong đây không có nạn xin ăn, không có người bán vé số dạo, cũng như không có cảnh buôn bán “xô bồ”. Ða số dân cư trong đây toàn là dân “ngoại kiều” (Việt kiều cũng có), họ bao gồm Ðài Loan, Nhật Bản và Nam Hàn, cùng những “người Tây” khác đang làm việc và sinh sống ở Việt Nam. Phần còn lại là những người Việt Nam khá giả, có lợi tức hàng tháng rất cao. Nói chung những ai sống ở trong này thì phải nói là dân có tiền, chứ nghèo là không thể nào chen chân vào đây được. Trên đường trở về chúng tôi còn thấy cả sân chơi golf (đánh gôn), với những bãi cỏ xanh rì cùng nhiều vòi nước đang “phun xịt” tứ tung. Ðặc biệt ở trong khu đô thị này nhân viên bảo vệ (security) với đồng phục rất nhiều, họ cỡi xe hai bánh để tuần tra. Chúng tôi vừa dừng lại bên đường để nhìn xem những người bên trong chơi golf, thì thấy họ đến gần và yêu cầu chúng tôi “đi ngay” vì… “mấy người chơi bên trong không thích ai dòm ngó họ!?”.
Ðến buổi tối tôi được “bách bộ” cùng các bạn từ nhà một người quen ra góc đường Cống Quỳnh và Phạm Ngũ Lão để ăn tối, rồi sau đó thì tiếp tục lang thang về hướng đường Bùi Thị Xuân để trở về khách sạn. Trên đường đi chúng tôi thấy có một công viên nằm ngay góc đường Lê Lai và Nguyễn Trãi. Hình như, ở nơi đây có dân “cư ngụ”, vì chúng tôi thấy có vài thanh niên đang… “co ro” nằm ngủ trên các ghế đá công viên, cũng như vài nhóm 5-3 người khác thì đang ngồi tụ tập nói chuyện (hoặc ăn uống) đó đây. Ðối diện công viên này về phía bên kia, ngay góc đường Tôn Thất Tùng (tức Bùi Chu cũ) và Nguyễn Trãi là nhà thờ Huyện Sỹ ngày xưa.
Khi về đến khách sạn ở đường Sương Nguyệt Ánh chúng tôi kéo nhau ra ban-công (balcony) trên tầng 5 ngồi tán dóc và ngắm nhìn thành phố về đêm. Ðây là một hotel nhỏ thuộc “dạng” mini, nên phòng ốc không có nhiều, mỗi tầng chỉ có khoảng hai phòng (phía trước và phía sau) sắp xếp theo chiều sâu của khách sạn, chạy dài từ trước ra sau. Từ trên cao nhìn xuống chúng tôi thấy cảnh đường phố về đêm có phần đông vui và nhộn nhịp. Có lẽ, vì gần phía ngã ba trên đường Tôn Thất Tùng (và Sương Nguyệt Ánh) là nơi có nhiều quán ăn rất đông người qua lại. Theo lời một thằng bạn cho biết thì nhìn xéo về phía đối diện bên kia của khách sạn, là nhà của ca sĩ NS. Ðiều đặc biệt “quái chiêu” là anh chàng ca sĩ này không biết có phải muốn “chơi nổi” hay không, mà lại “khoái” khắc tượng của mình ở ngay phía trước.
Trong lúc chuyện trò với nhau tôi còn “nghe” được đôi điều mới lạ, thật sự tôi không biết nên xếp chúng vào “hạng mục” nào đây. Chẳng hạn như chuyện sáng nay bạn tôi chứng kiến cảnh một đám cưới “tập thể” ở tầng lầu dưới. Theo bạn ấy, thì đây chính là chuyện “gả bán” các cô gái Việt Nam ra nước ngoài… “làm vợ”?!. Sáng hôm đó, hắn thấy nhiều người tụ họp trong một căn phòng được bày trí khang trang theo đúng “phong tục lễ nghi”, chắc là để tiện bề cho người ta cử hành hôn lễ. Ða số các cô dâu đều còn rất trẻ trong độ tuổi từ 18 đến 25. Riêng các chú rể “ngoại kiều” thì ôi thôi, bao gồm từ dân “sồn sồn” đến cả những người giống như là… “sút chìa gãy gọng”. Có nghĩa, khi nhìn những chú rể này, thì thấy ngay là họ có điều gì … “không ổn”?!. Có thể nói, nếu tâm thần bên trong của họ “không bình thường”, thì chắc chắn là cái phần “thể xác” hiện diện kia, thế nào cũng có ít nhiều khuyết tật. Những đám cưới này được những người “mối lái” tổ chức rất có “quy củ” đàng hoàng. Trên vách tường, họ có treo hình mấy con “rồng phụng” hẳn hoi, kèm theo những câu chúc tụng “may mắn”, và cả tiếng Anh nữa, như “Happy Wedding”, hay “Lucky” … dành cho cô dâu và chú rể. Ða số chuyện “thông tin” qua lại với nhau thì toàn do những người “môi giới”. Họ thông dịch cái gì, thì có “trời” mới hiểu được mà thôi, chứ riêng thân phận các cô gái này, có lẽ trình độ học vấn còn chưa được bao nhiêu, thì thử hỏi làm sao mà am tường thêm những điều gì khác nữa!?. Nhìn mặt các cô như kẻ mất hồn, các cô giương đôi mắt ngơ ngác, mở to giống như người vô tư lự. Thật tình mà nói… ôi! các cô trông sao mà “tội nghiệp” quá chừng! Các cô với những gương mặt không hồn, ánh mắt đăm chiêu không tỏ một thái độ vui, hay buồn gì cả. Có lẽ các cô cũng không đoán được số phận sẽ về đâu, nên hiện tại chỉ biết ngồi đây, nhưng tâm hồn thì chu du ở một nơi xa nào đó. Hình như các cô muốn phó thác số phận cho rủi may, cho cuộc đời có an bày thế nào thì cũng đành chấp nhận. Có lẽ nỗi đau buồn nhất là cảnh chia ly giữa các cô và những người thân trước khi “theo chồng” về nơi xứ lạ. Thường thì những người thân chỉ được phép tham dự một hoặc hai người, gọi là đại diện phía đàng gái mà thôi. Sau khi hôn lễ hoàn thành thì những người môi giới sẽ lo “tính toán” tiền bạc với người thân, và chuyện “gả bán” coi như xong, để rồi sau đó những người thân này sẽ ra về… và để cô dâu ở lại. Chính thằng bạn của tôi đã rất đỗi bàng hoàng khi thấy cảnh (sau khi tính toán xong) người môi giới đã cầm hai tờ giấy bạc một trăm đô-la đưa cho một người thân đi theo, và tuyên bố: “Ðây là là ba-triệu-đồng phần còn lại của gia đình anh , riêng những chi phí kể cả thủ tục giấy tờ, cũng như tiền môi giới thì chúng tôi đã trừ xong, đúng như những gì chúng ta thỏa thuận!”...
Tôi thật sự không biết khi cầm lấy 3 triệu đồng tiền “gả con”, những người thân này tâm trạng lúc đó ra sao? Chắc có lẽ là họ đặt mơ ước rất nhiều, nhất là vào một ngày mai “tươi sáng” của các cô. Hay có thể nói, chuyện “đổi đời” hôm nay sẽ là những nỗi “đoạn trường” ở ngày mai… đang chờ đón họ. Thôi thì, xin hãy cầu nguyện cho các cô (mai này nơi xứ lạ) được mọi sự an lành bên những người không cùng chung nòi giống?!
Ðang ngồi nói chuyện thì chúng tôi chợt nhìn thấy ở dưới đường có hai cô gái trẻ (đẹp?) đang tấp xe honda hai bánh (loại “Spacy” hay “Atlanta” gì đó giống như xe Vespa ngày trước) vào lề đường và chạy thẳng vào phía trong của khách sạn. Rồi khoảng chừng vài phút sau thì hai cô đi bộ trở ra đường, hình như họ đang hẹn hò gì với ai vậy đó!?. Mà quả tình là đúng như vậy, vì ngay lúc đó là một chiếc xe hơi đời mới vừa dừng lại để đón các cô. Các cô vừa lên xong, là chiếc xe vội vàng phóng đi vào trong đêm tối, và mọi sự trở lại bình thường. Phần chúng tôi thì cũng chỉ biết nhìn thôi, chứ trước “sự kiện” này, chúng tôi cũng không hiểu biết nhiều, để có lời chi… gọi là… “bình luận”….
Hình như sau lúc đó, thì chúng tôi vẫn tiếp tục ngồi “hóng gió” và nói chuyện “trời mây” nơi cái “balcony” trên tầng 5 đó. Thành phố càng về khuya thì xe cộ lại thưa dần, lâu lâu có vài tiếng động cơ (xe gắn máy) rú ga thật lớn rồi nhỏ dần theo hướng xe chuyển động vụt qua. Chen lẫn đó đây, là tiếng rao hàng lanh lãnh của những người bán hàng rong (ban đêm) trên đường phố. Họ bao gồm mấy cậu bé bán “bánh mì nóng dòn đây”, đến tiếng nhịp rất thanh của một xe hủ tiếu mì gõ “lóc cóc” sắp đến gần, rồi tiếng rao “chí-mà-phủ” (chè mè) của một ông lão người Hoa nào đó! Ðã vậy, trong cái không khí về đêm đó, còn có thêm cả tiếng “rổn rẻng” của những người chuyên hành nghề “đấm bóp giác hơi”... tất cả như cùng tạo nên một không khí rất “đặc thù”, rất “đa dạng” của một Sài Gòn về đêm, mà có lẽ rất khó có một nơi nào thứ hai tìm thấy được…
Khoảng hơn hai giờ đồng hồ sau thì tôi xuống dưới đất, để chuẩn bị ra về. Thằng bạn tôi cũng xuống cùng để đưa tiễn chân tôi. Trong lúc đứng chờ anh tôi đến đón, chúng tôi tiếp tục nói chuyện… “tào lao”, không đầu, không đuôi gì cả. Khung cảnh này diễn ra giữa một đêm khuya, trên một con đường Sài Gòn giờ đã bớt dần đi tiếng ồn, vì ít người qua lại. Vừa lúc đó thì chúng tôi nghe tiếng động của một xe hơi chạy tới, và rồi… xe dừng lại trước mặt chúng tôi. Chúng tôi tò mò nhìn xem, thì nhận ra là hai cô gái lúc nãy trở về. Nhìn vào trong xe, chúng tôi thấy toàn là những người đàn ông Á châu “ngoại kiều”, trông rất là … “béo tốt”. Chắc là họ vừa hoàn tất một… công việc “trao đổi” gì đây, nên bây giờ “xong rồi” thì mới đưa hai cô này trở lại? Riêng hai cô, sau khi vào khách sạn nhận lại xe, thì cũng hối hả ra đường, và phóng đi liền, ngay tức khắc… Chúng tôi đứng đó nhìn họ mà không khỏi ngỡ ngàng, cùng với những nghi vấn trong đầu mà cũng ngại… “không dám” nói với nhau. Cũng may là lúc đó thì có anh bảo vệ của khách sạn đến gần, và góp chuyện cùng chúng tôi. Anh ta cho biết là mấy cảnh này diễn ra như… cơm bữa. Ðêm đêm các cô gái này thường hẹn hò, bắt mối với khách, rồi họ đến gởi xe ở đây, và… “lên đường” khi có xe đến đón. Theo anh bạn này thì: “Chỉ cần vài giờ thôi, là coi như xong một… “phi vụ””. Rồi anh ấy cười hề hề và nói thêm: “Ấy vậy mà mấy cô kiếm được nhiều tiền… rất dễ đó nghe… Trời ơi, cả mấy trăm đô-la chứ đâu phải ít!!”…
Trong lúc tai tôi thì nghe anh bảo vệ nói chuyện, còn tầm mắt tôi thì đang nhìn theo hướng của các cô vừa mới khuất. Tôi chợt bồi hồi nhận ra trước mắt mình là hai người phụ nữ đang quét rác ở đằng kia. Bên cạnh họ là một chiếc xe rác được kéo bằng tay. Hình như họ cũng nhận thấy cảnh tượng vừa rồi, nên cũng dừng tay, đứng nhìn, và nghe ngóng... Tôi không chắc là họ lắng nghe được điều gì đâu, vì mọi chuyện xảy ra rất nhanh, nhất là những lời chuyện trò của hai cô gái trẻ. Âm thanh có còn chăng (giờ đây) là những tiếng “lóc cóc”, “lách cách” gõ nhịp từ xa, từ một xe hủ tiếu mì đang bán dạo… Nhìn cảnh tượng này làm tôi chợt nhớ đến một bài hát ngày xưa của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết. Ðó là bài “Ðại bác ru đêm”. Trong đó ông đã đưa ra hình ảnh: “đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe”… Có lẽ ngày nay, cái hình ảnh những người phu quét đường nghe “tiếng đại bác ru đêm”… không còn nữa. Mà thay vào đó là hình ảnh người phu quét đường đứng nhìn các cô gái trẻ về đêm. Không biết những người phu quét đường này có cảm thấy “xót xa” hay “mủi lòng” gì không, nhất là khi so sánh chính bản thân mình và những cô gái ấy??!!
Chuyến “đi-về” của tôi được tiếp nối bằng một hình ảnh khác “sinh động” hơn. Ðó là cảnh tôi cùng anh tôi và thằng cháu ngồi trên một chiếc xe hơi đang “luồn lách” trên những đường phố chật hẹp của Sài Gòn. Tôi thấy đa số những phương tiện giao thông ở đây là xe hai bánh, chứ còn xe hơi thì ít lắm. Tôi không “nhớ” rõ, là hôm đó chúng tôi đi đâu với mục đích gì? Chỉ nhớ, là sau một hồi “chen lấn” trên các con đường, thì chúng tôi cũng ra tới ngoại thành, và hướng về xa lộ. Hình như chiếc xe này là “xe của cơ quan”, nơi thằng con của anh tôi đang làm việc. Vì nó cho biết là anh tài xế muốn… “kiếm thêm thu nhập”, nên sẵn sàng “tranh thủ” giờ nghỉ trưa để đưa chúng tôi đi cho tiện. Không biết có phải vì anh “tranh thủ” hay không, mà anh ta lái xe rất ư là… “bạt mạng”. Lỡ lên xe rồi mà tôi cảm thấy trong lòng không an tâm một chút nào hết, tôi cũng lo cài dây “sít beo” (seat-belt) đàng hoàng cho… “chắc ăn” cái đã. Nhìn sang ông-anh-cả của tôi, thì tôi thấy “ổng” đang nắm chặt cái tay cầm (chỗ cửa xe). Tôi giúp ổng cài lại dây an toàn và giải thích thêm với ổng… là nơi tôi ở, việc cài dây an toàn (khi đi xe) là bắt buộc. Mặc dù vậy, nhưng ông anh của tôi vẫn không có vẻ an lòng, vì tôi còn nghe tiếng ổng “cầu kinh”, hình như là… “Nam mô A di đà Phật”!?. Trong lúc đó ở phía đằng trước, thằng cháu tôi và anh tài xế thì vẫn… “tỉnh queo”, đúng là họ không có… “scare” (sợ), hay quan tâm gì hết!? Riêng tôi, thật sự lúc này cũng chẳng biết làm gì hơn… là ngồi yên để nhìn cảnh vật ở bên ngoài. Vừa lúc đó, thì tôi chợt nghe tiếng bánh xe “rít” mạnh trên mặt đường, rất to, và rất dài làm tôi chới với… Rồi hình như tôi còn nghe văng vẳng cả tiếng chó sủa ở bên tai. Tôi vội vàng nhắm mắt lại (sau khi đã “định thần” biết phải làm sao, trong lúc tinh thần tôi lúc này giống như là… nửa mê và nửa tỉnh), tôi lẩm bẩm trong miệng của mình: “Any way, I have to go now!”. Rồi như chợt nhận ra là ông anh tôi không hiểu tôi đang nói gì, nên tôi vội vàng nói nhanh… và rõ hơn với ông, trước khi tôi… “từ giã” : “Không được rồi anh ơi, em phải đi thôi… ngay bây giờ anh ạ!..”
Vừa nói xong là tôi vội vàng mở mắt ra ngay, bên tai tôi (lúc này) còn nghe văng vẳng tiếng vọng của âm thanh mà tôi vừa mới nói. Cũng ngay lúc ấy tôi nghe một tiếng va chạm rất lớn, phải nói là thật to, rồi tiếp theo là tiếng còi hụ từ nhiều nơi. Cảnh tượng đầu tiên đập vào mắt tôi là ánh đèn xanh đỏ (xe của police) chớp tắt ở ngoài kia. Lúc này thì mấy con chó của tôi càng sủa lên dữ dội... Tôi tiếp tục nằm yên định tâm, để “lưu luyến” về một vài hình ảnh của quê xưa vừa thoáng hiện. Thế là tôi vừa trải qua một giấc mơ dài, từ một “chuyến-đi-về”… quá vội!?. Có lẽ, tất cả cũng là do những gì tôi thu thập được từ bấy lâu nay, để rồi cuối cùng là “gói trọn” vào một giấc mơ. Có phải chăng, đó là một vài hình ảnh đa dạng và thực tế của quê hương, (hình như) chúng vẫn còn đậm nét trong lòng tôi… Mặc dù giờ đây tuy đã xa… mà lại gần… tuy là mơ… mà lại “thực”!!??
Sáng hôm đó bà Lynn láng giềng cho tôi hay, là tối qua có một tai nạn xảy ra. Những thiếu niên trẻ ăn cắp xe hơi và bị police rượt đuổi chạy quá nhanh, nên cuối cùng đã va vào một shop ở gần đây, chỉ cách nhà chúng tôi khoảng chừng 300 mét.
Thiên Minh
Người Đàn Bà Trên Tàu 502.

Chuyến di tản của Dương Vận Hạm Thị Nại, HQ 502, một con tàu hỏng máy, đang trong thời kỳ sửa chữa, chở theo trên 5000 người, rời cầu tàu trong Hải Quân Công Xưởng đêm hôm 29 tháng 4 năm 1975 với bao nhiêu là khó khăn, hãi hùng, nguy hiểm. Hầu như trên mười năm sau đó, đã định cư ở Mỹ an toàn, nhiều đêm ngủ, thần trí tôi vẫn bị trôi theo cơn hốt hoảng kinh hoàng bởi chuyến đi nàỵ Trong những giấc mơ kinh dị đó, tôi vẫn thấy rất rõ rừng người đặc nghịt ở trên sàn tàụ Bầu trời thì đen thẫm, những ánh đèn xanh đỏ của những chiếc trực thăng vần vũ, nặng nề bay qua bay lạị Những đám cháy sáng rực bùng lên ở mấy góc trờị Kho xăng Nhà Bè trắng xoá, lấp loáng dưới ánh lửa đang cuồn cuộn bốc cao từ Căn Cứ Hải Quân .Những tiếng nổ oà vỡ bên tai, kéo theo những tiếng rít của những trái đạn rời nòng từ hai khẩu đại bác của Đặc Khu Rừng Sát. Con tàu ôm sát bờ lửa đạn ấy để vào nhánh sông Soi Rạp, bò ra cửa biển.
Sáng ngày 30 tháng tư, con tàu liệt máy, buông trôi ở cửa sông. Biển ở trước mặt, sóng trắng xô xô từng đợt. Lại những đợt máy bay từ phía Sài Gòn túa rạ Nhũng chiếc trực thăng bay thấp, dọc theo hông tàu, thấp hơn chiều cao của đài chỉ huy chiến hạm. Cửa máy bay mở rộng. Chúng tôi thấy trong lòng máy bay chật ứ những đàn bà, trẻ con. Mấy bà già hướng về chiến hạm, quỳ, cúi gập người, chắp hai tay mà lễ. Trong khi đó viên phi công rà được tần số của chiến hạm. Bằng một giọng nói đầy khấp thiết :" Anh em Hải Quân ơi, cứu chúng tôi vớị .Chúng tôi được lệnh bay ra biển để đáp xuống tàu Mỹ. Nhưng tới điểm hẹn chỉ thấy biển mông mênh, tàu Mỹ đâu không thấy, nên phải quay về. Tàu tôi chỉ còn 5 phút xăng. Xin cứu chúng tôi, gia đình tôi, mẹ tôi..."Không cầm lòng được, Hạm Trướng Nguyễn văn Tánh và "Ban Tham Mưu" chấp nhận những khó khăn, bất trắc, đồng ý cho trực thăng đáp xuống sân chiến hạm. Sân chiến hạm đông đặc những người, lùng nhùng những chiếc mền đủ màu căng ra che sương gió qua đêm. Nắng bắt đầu oi ả. Tất cả phải giải tỏa cấp kỳ. Mọi người phải xuống hết sân chiến xa . Sân tàu trống vắng. Chiếc trực thăng từ từ đáp xuống. Một chiếc. Lại một chiếc nữa . . .
Tới gần trưa ngày 30 tháng 4, ông Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng. Cả tàu mấy ngàn người xốn xang, cuống quýt. Có những tiếng khóc vỡ oà đâu đó. Một buổi họp khẩn cấp để đi đến quyết định : Bằng mọi giá phải thoát ra khỏi lãnh hải Việt Nam. Phải ra đi cho bằng được. Toán thợ máy kết hợp lạ lùng cố sửa chữa . Máy tàu nổ, một máỵ Tàu ra được ngoài khơi, lết đến gần Côn Sơn, gặp được hạm đội mình ở đó. Lệnh từ Soái Hạm HQ 3 chỉ thị cho HQ16 tới kéo HQ502 đị . Những đêm lừ đừ ở ngoài khơi, đoàn tàu vừa đi vừa đợi nhau . Những chiếc ghe đầy ứ người xáp vào chiến hạm. Không thể làm ngơ, tàu thả thang giây, lại vớt thêm ngườị Đêm xuống, hải đăng Vũng Tàu loé lên từng đợt như thách thức, như mời gọi, như những vẫy tay giã từ. Bờ biển quê hương đấy mà giờ đã trở nên kinh khiếp, chia lìa, đớn đau . Ngày đêm, qua làn sóng điện của đài Sài Gòn, không còn là những giọng nói thân quen, mà là những lời kêu gọi chát chúa, đe doạ của kẻ thù : ". . . quân, cán chính của nguỵ quân Sài Gòn mau mau ra trình diện ". Những ngày thiếu thốn, chật chội, chia nhau từng ngụm nước, từng nắm cơm chỗ sống, chỗ khê, chỗ thì thiu chua .
Mấy ngày sau, bờ biển Phi Luật Tân hiện ra, núi non chập chùng đen thẫm. Lễ chào và hạ Quốc Kỳ VNCH lần cuối được diễn ra, đơn giản nhưng vô cùng nghiêm trang mà rất đớn đau . Lá Quốc Kỳ nền vàng ba sọc đỏ bạc màu từ từ được kéo xuống, cùng với hàng ngàn giọng hát, gìa, trẻ, nam, nữ cất lên, vừa hùng tráng, vừa chất chứa những nghẹn ngào . Những lời hát như trùm kín cả vùng trời biển nước mênh mông. Lời ca dứt. Những tiếng kêu khóc bỗng bùng vỡ. Nhìn đâu tôi cũng chỉ thấy những cặp mắt đầm đầm nước mắt. Trong những tiếng kêu khóc thảng thốt ấy, tôi thấy có tiếng kêu của một người đàn bà :" Oái, con ơi, con ơị . ." . Trong tập bút ký viết về cuộc di tản này, tôi đã không quên ghi lại tiếng kêu thảng thốt, lạ lùng này . Tại sao tôi lại không ghi những tiếng kêu khóc khác tràn ứ quanh tôi trên con tàu Thị Nại HQ 502 lúc đó. Tôi không trả lời đươc. Vì khi viết lại giây phút xúc động lịch sử này, tay tôi như chỉ tuân theo những gì mà thần trí tôi đã ghi dấu mà tự động viết ra . Viết ra như vẽ lại rất tự nhiên, không có một sự lựa chọn nào . Nhưng bây giờ thì tôi hiểu . Tình cờ tôi đã hiểu . Có những hình ảnh tuy mờ nhoà, khi ẩn khi hiện, nhưng không bao giờ biến mất trong trí nhớ của tôi .Tôi không bao giờ quên. Tôi nhớ lại rồi . Tôi nhớ thật rõ. Tôi hiểu tại sao tôi lại ghi lại tiếng kêu này . Xin hãy cho tôi từ từ nhớ lại .
Tôi bỏ chiếc xe hơi nhỏ ở ngoài cửa Hải Quân Công Xưởng, sát bên Bệnh Xá Bạch Đằng. Tôi đi đầu, hướng dẫn cả gia đình trên mười người, theo đoàn người lũ lượt chạy bộ dọc theo chiều dài của Hải Quân Công Xưởng. Vừa chạy vừa ngoái cổ nhìn trở lại để kiểm soát đoàn "rồng rắn" của gia đình. Chỉ sợ có người bị lạc. Lạc là vô cùng khốn khổ, khó khăn. Tìm đến cầu tàu trước Bộ Tư Lệnh Hạm Độị Con tàu Thị Nại, HQ 502 nằm đó, vị trí một. Bên ngoài con tàu này còn ba con tàu khác cặp song song. Tất cả bốn con tàu xám ngắt, hướng mũi phía hạ giòng. Người từ phía sau tràn tớị Như đã hẹn, tôi sẽ phải lên cho được con tàu này . Con tàu do bạn thân cùng khoá với tôi làm Hạm Trưởng, Hải Quân Trung Tá Nguyễn văn Tánh. Chúng tôi cũng đã hùn tiền mua thêm nhiều gạo, mì và những thức ăn khô chất sẵn ở tàu nàỵ Nước lấy tối đa . Lúc này nước thuỷ triều dâng cao, bắt đầu xuống. Người chen sát nhau như gạch trên cầu tàu, nhích tới, nhích tới . Cái thang dài độc nhất dựng dốc ngược bên hông tàu . Tôi biết rằng khi khẩn cấp, chỉ cần thả hai mối dây là cái thang tự động tuồi xuống cầu tàu, lăn theo hai bánh xe ghì trên mặt đất, không một chút khó khăn. Tàu sẽ tách bến dễ dàng. Nhưng bây giờ rừng người đang ùn ùn tiến tới . Những quân nhân, trai tráng thì tìm mọi cách bám vào thành tàu mà lên. Gia đình tôi tất cả mười ba người, con số tình cờ không vui, trong đó có hai ông bà nhạc tôi ốm yếu, bốn đứa con nhỏ dưới mười tuổi . Chúng tôi không có cách nào khác là phải leo ngược cầu thang nhỏ, dốc ngược này để lên tàu mà thôi . Tôi lên đầu tiên, bế trên tay thằng con út hai tuổi bụ sữa, nặng chĩu . Trên lưng đeo một ba-lô quần áo và các thứ cần dùng. Một tay xách cái va-ly nhỏ đựng đầy giấy tờ, bản thảo và hình ảnh. Rất nhiều hình ảnh. Cầu thang dốc và trơn, tôi khiến trượt chân. Cái va-ly trở nên nặng quá bung ra phía ngoài . Tôi buông tay, nắm vội vào sợi giây cable, cái va-ly rơi tòm xuống nước, mất tăm. Hai tay ôm chặt thằng nhỏ trong lòng. Tôi cúi người xuống để ghì lấy mặt thang. Trong phút chông chênh đó có bàn tay ai rất mạnh giữ chặt lấy cánh tay tôi . Chỉ trong một sát na kinh khiếp đó, tôi gượng lại được và bò lên sàn tàu . Không biết cánh tay ấy của ai . Ai đã cứu bố con tôi . Đặt con xuống sàn tàu tim tôi còn đập bập bùng hồi hộp. Tôi quay lại cùng các em tôi kéo vợ tôi, hai ông bà nhạc lên tàu . Kiểm điểm lại "quân số" gia đình. Đủ cả. Tôi quay lại cầu thang, đứng chân trước chân sau thật vững trên sàn tàu . Một tay vịn vào hàng rào chắn, một tay chìa ra kéo những người đang trèo ngược thang lên. Bao nhiêu bàn tay tôi đã nắm. Có bao nhiêu bàn tay bè bạn thân quen, nắm chặt tay nhau kéo lên, buông ra với những nụ cười . Anh Trần văn Tâm, (nhà văn Trần quán Niệm), anh Nguyễn hưng Quảng, anh Nguyễn đa Phúc và bao nhiêu người nữa . Chúng tôi xúm nhau ở đó để tiếp tay, đỡ đần những người yếu đuối . Có bao nhiêu là những bàn tay già nua, hay non dại của những ai tôi chưa bao giờ gặp gỡ. Tất nhiên chúng tôi cũng đã chuyền, bế bao nhiêu là con trẻ ở tuổi các con tôi . Lúc kéo người lên như thế, cũng là lúc tôi nhìn xuống khoảng trống giữa thành tàu và cầu tàu, tôi không còn thấy cái va-ly của tôi đâu cả. Nước đã cuốn nó đi trôi nổi ở góc kẹt nào . Khoảng trống dọc theo thân tàu chỉ độ bốn mươi phân thôi, là bề dày của trái độn cao-su . Cái khe này hun hút đen thẳm dọc theo thân tàu dài hàng trăm thước. Dưới sâu là mặt nước, những làn sóng nhỏ, lấp lánh ánh đèn trôi đi, trôi đi . Tôi biết sức nước trông thế nhưng thật là mạnh mẽ. Chân cầu tàu lù xù những vết xò hến, rác rưởi bám đầỵ Nếu ban nãy tôi không có cánh tay nào bám lấy, ngã xuống đây . . .Mới thoáng nghỉ thế, toàn thân tôi như lạnh buốt. Tôi nghĩ đến con tôi . Đứa con út của tôi .
Rời cầu thang quay gót trở lại với gia đình, tôi vừa quay gót, có tiếng người đàn bà thảng thốt kêu lên : "Con tôi, con tôi rơi . . . rồi . Ôi con ơi là con ơi..." . Tôi quay phắt lại, người ta đen đặc, đang kéo người đàn bà vào sàn tàu . Ở phía cầu thang người vẫn cứ ùn tấn lên không dứt. Người đàn bà khốn khổ, mất con như mê đi, đang được người ta xúm lại chữa chạy, giựt tóc, bôi dầu . Hình như không ai quan tâm gì đến số phận của đứa nhỏ vừa rời tay mẹ rơi xuống cầu tàu, mất tăm. Vô phương cứu tìm. Mà ai còn có thì giờ đâu để ngó xuống cái khe đen thẳm đó. Người càng lúc càng lên thêm, đứng đen đặc cả sàn tàu . Không ai biết, chẳng ai quan tâm đến cảnh huống bi thảm vừa mới xẩy ra . Đêm mỗi lúc mỗi sâu . Nỗi khốn khổ của người mẹ mất con như bay theo, mất hút giữa đêm đen mỗi lúc mỗi thêm kinh sợ.
Lên được trên tầu, tìm gặp bạn tôi, HQ Trung Tá Nguyễn văn Tánh, Hạm Trưởng, anh nhường phòng của anh cho gia đình tôi . Tôi ngần ngại, nhưng anh bảo : tôi còn cái phòng nhỏ trên Trung Tâm Hành Quân. Tạm yên tâm, tôi sát cánh cùng anh, tập họp tất cả những quân nhân có mặt, tìm mọi cách để đem tàu ra khơi . Người thì chật cứng ở sân boong chính, ở hầm chiến xa, và la liệt cả hành lang, mọi chỗ. Nhưng như anh Tánh sau này cho biết thì " nhân viên cơ hữu trên 100 nay chỉ còn có 9 người..." Tình trạng chiến hạm thì còn đang sửa chữa : " Hai máy chánh ráp xong, nhưng chưa thử tại chỗ. Hai máy điện chưa được ráp song song. Bơm nước ngọt và bơm cứu hoả chưa ráp. Bình cứu hoả CO2 còn nằm trên Hải Quân Công Xương. Hai máy neo trước và sau bất khiển dụng. Sàn tàu cắt mở lối đem máy chánh lên chưa hàn lại". Biết bao nhiêu la trở ngại, khó khăn, nguy hiểm. Khi khởi động được máy thì tay lái bất khiển dụng. Giây cable lái bị cắt đứt. Nói ra không hết những nguy khốn của cuộc đi nàỵ Bao nhiêu điều, bao nhiêu hình ảnh vẫn đầy ắp trong trí nhớ của tôi . Nhưng hình như tiếng kêu vô vọng, thảng thốt của người đàn bà khốn khổ đó đã thấm nhập sâu đậm vào trí não tôi . Lúc mờ lúc tỏ, nhưng tiếng kêu đó không bao giờ mất được trong tiềm thức của tôi . Khi có những sự tương quan, hình ảnh ấy sẽ tự động hiện ra mà lý trí tôi hình như không thể can dự vào . Và sự việc đã được xẩy ra rất tình cờ mới đây, gần 30 năm xa cách.
Trong một buổi gặp gỡ thu hẹp của mấy bà bạn cựu nữ sinh Trưng Vương của bà xã tôi tại San Jose, chuyện trò đang nổ như cái chợ, bỗng khựng lại, khi tình cờ chị D. N. nói : "Thế ra gia đình tao cùng di tản trên con tàu Thị Nại HQ 502 với tụi mày à. A, sao cả tuần lễ trên tàu mà mình không gặp được nhaụ Ừ, người đông như kiến. Trên 5000 ngườị Khiếp thật !". Anh Ng., chồng chị N. nói:" Khi ở trên tàu tôi xung phong trong toán nhà bếp, nóng như cái hầm. Lúc có điện lúc không. Cơm nấu suốt ngày mà không đủ. Lúc sống, lúc khê. Khi ra đi đại gia đình chúng tôi có 20 người . Nếu kể cả thằng cháu P. bị rơi ở cầu tàu là 21. Bây giờ tổng số đã là 40. . ." Lòng tôi như có điện giựt. Cả một khung trời kinh khiếp đêm 29 rạng 30 tháng 4 năm cũ lại hiện ra rõ ràng. Cái khe sâu dài dọc theo cầu tàu đen thẫm, lấp lánh những lượn sóng trôi đi, trôi đi . Tiếng kêu thảng thốt của người đàn bà :"con tôi, con tôi rơi rồi . Oái con ơi là con ơi" . Lạ nhỉ. Quả đất tròn thật. Tôi phải tìm gặp cho đươc người đàn bà ấỵ
Bà D. t. L, qua điện thoại kể lể :". . .một tay tôi cầm cái túi . Một tay tôi dắt thằng cháu P. bước lên cầu thang dốc ngược của con tàu . Người từ phía dưới cứ nống lên. Mà là người nhà mình cả chứ đâu . Gót giày tôi như kẹt vào khe cầu thang, chân tôi bỗng nghiêng đi, lao chao muốn ngã. Thế là tôi buông tay thằng nhỏ ra . Nó rơi ngay xuống khe tàu, mất tiêu . Tai tôi như chỉ còn thấy tiếng cháu kêu : mẹ L. . .. Tôi kêu lên, nhưng có ai giúp được gì đâu . Mà có ai thấy gì đâu mà giúp. Tay tôi bỗng trống không. Tôi được người ta kéo lên sàn tàu . Tôi mê đi chẳng còn biết gì nữa sất. Bên tai tôi cứ như loáng thoáng tiếng kêu của nó. Từ đó, nói ông bỏ quá đi cho, tôi cứ ngơ ngẩn, chả còn thiết gì nữa cả. Tôi nằm như chết ở sàn tàu, chả thiết ăn uống gì . Khi đoàn tàu sửa soạn vào cảng ở Phi Luật Tân, mọi người lên sân chính để chào quốc kỳ lần cuối, trong tai tôi vẫn vang vang lời kêu của cháu : Mẹ L. ơi ... Vì thế, trong giờ phút ấy tôi bỗng oà khóc và kêu lên . . ."Vẫn lời kể của bà L. :" Lúc ấy cháu T t. P. được 6 tuổi rưỡi . Cháu nhờ trời cũng chịu ăn, chịu chơi nên cũng có da có thịt, chắc nịch. Mỗi khi cháu trái nắng, trở trời cháu cứ hay kêu : Mẹ L. ơi cứu P. Tôi không quên được tiếng kêu ấy của cháu, ông à. Tiếng kêu ấy cứ vang vang ở trong đầu tôi, hình như không lúc nào dứt. Lúc thức, lúc ngủ, lúc tụng kinh, không lúc nào tôi không nghe thấy tiếng kêu ấy của con tôi, nên tôi nghĩ rằng con tôi còn sống. Vì thế suốt mấy chục năm, ngày nào tôi cũng thắp hương cầu Phật Bà Quan Âm cứu khổ cứu nạn phù hộ độ trì cho cháu . Sau này chúng tôi trở lại đạo, tôi hàng ngày lại cầu xin Đức Mẹ Maria che chở cho cháu . Tôi tin tưởng hoàn toàn vào đấng thiêng liêng và tôi vẫn tin rằng cháu còn sống ông à."
Vẫn lời kể của bà L. : "Rồi cách đây ít năm, người Việt Nam từ hải ngoại về nước mỗi lúc mỗi đông. Tôi cũng về thăm lại làng xóm, thăm thân nhân. Trong câu chuyện qua lại giữa bà con, có người nhắc rằng : nếu chị tin là cháu còn sống, thì phải có người vớt được cháu . Chị thử đăng báo tìm xem thế nào . Không thiếu những trường hợp thất lạc con cái, rồi người ta cũng tìm lại được đấỵ Thế là tôi nhờ đăng tin tìm cháu ở báo Tuổi Trẻ, thì có 6 người cùng tuổi với cháu liên lạc với tôi . Người thì ở ngay trong thành phố Sài Gòn, người thì ở dưới quê. Cũng là người tử tế cả. Có anh nói : thôi con không qua Mỹ đâu . Đã có vợ con và sống ở đây quen rồi, mẹ có thương con thì cho con ít cây (vàng), con mua mấy mẫu ruộng. Thì nghe thế biết thế, tôi cũng chưa có gì đích xác để quyết định cả. Trong 6 người nhận là con tôi, có một anh cao, giống thằng con tôi hiện ở Mỹ. Anh này hiện học nghề Đông Y, chưa vợ con gì cả. Với tôi anh ấy đối xử lịch sự, bình thường, không vồn vã mà chẳng đề nghị xin xỏ gì. Vì theo bà mẹ nuôi của anh kể lại thì câu chuyện khá dài, nhiều uẩn khúc lắm".
Vẫn theo lời kể của bà L. : " Bà này giàu có lắm. Trước 75 bà là dược sĩ, có tiệm thuốc tây rất lớn. Bà đã có gần 10 người con do bà đẻ ra . Nhưng trong hoàn cảnh tang thương của thời loạn lạc, có mấy người không nuôi được con, đem cho bà, bà đều nhận hết. Bà săn sóc trên mười đứa con, con đẻ cũng như con nuôi, như nhau . Đứa nào học được bà cho đi học. Nhiều đứa thành tài là kỹ sư, bác sĩ. Có đứa lớn lên xin về nhà bố mẹ đẻ, bà cũng vui lòng, còn cấp vốn liếng cho để làm ăn. Có đứa làm ăn thất bại lại bò lên xin ở lại với bà, bà lại nhận nuôi nấng cả gia đình vợ con nó như xưa . Bây giờ trong thời đổi mới, bà đang kinh doanh về ngành du lịch. Bà mua cả một khu rừng xây khách sạn, đắp núi non, vườn cảnh. Trong đó có những nhánh sông, bà cho xây cây cầu qua lại thật là đẹp. Nói ra có lẽ khó ai tin được. Thật cái nhà của tôi bên Mỹ không bằng cái nhà xe của bà ấỵ Bà ấy nói với tôi rằng thằng Mỹ do một bà bán chè ở bến sông Sài Gòn cho bà ấỵ Thằng nhỏ này trôi trên sông Sài Gòn, có một người lái đò vớt được, đưa lên bờ. Thằng bé bơ vơ, rét mướt khóc quá xá, nên cho đứng tạm cạnh bà bán xôi chè, đợi bố mẹ nó tìm đến. Nhưng chả thấy bố mẹ nó đâu, bà hàng xôi tìm đến bà dược sĩ bảo rằng : bà làm phước nuôi dùm thêm đứa nhỏ nàỵ Hỏi bố mẹ con đâu, nó nói trong nước mắt : đi Mỹ rồi . Do đó bà dược sĩ mới đặt tên nó là Mỹ."
Vẫn lời của bà L. :"Cái anh tên Mỹ này lớn lên trong gia đình bà dược sĩ. Dù không ai nhắc nhở, nhưng anh ta vẫn tin rằng sẽ có lúc anh ta phải qua Mỹ đoàn tụ với cha mẹ ruột. Thời gian vùn vụt trôi, gần ba mươi năm cơ hội chưa đến. Trong khi chờ đợi, anh ta quyết không lập gia đình, sợ lôi thôi khi đi đoàn tụ. Và để có một nghề qua Mỹ không cần học lại, anh ta học nghề đông-y-sỹ. Bà dược sĩ nói với tôi rằng, tuy là con nuôi, nhưng tôi thương thằng Mỹ như con ruột. Nó muốn gì, tôi không tiếc. Đấy cái cửa hiệu đông y đấy, rất khang trang, đủ mọi thứ thuốc, từ sâm nhung hảo hạng, đến các thứ quế đắt tiền, thứ gì tôi cũng đặt mua đầy đủ. Nó vừa sửa soạn là thầy lang vừa làm người bào chế, rất mát tay tuy chưa ra trường nhưng cũng đông khách lắm. Sang Mỹ chưa chắc gì đã có một cơ sở vững vàng như thế. Nhưng nó biết, nó tin là nó không ở đây lâu đâu . Thế nào nó cũng qua Mỹ đoàn tụ với bố mẹ ruột của nó. Nó muốn thế, tôi cũng sẵn sàng giúp nó được toại ý khi cơ hội đến. Nếu nó thực sự là con bà, bà chứng minh được nó là con bà, tôi sẽ cố gắng tìm mọi cách để nó về với bà."
Vẫn lời của bà L. :" Tôi trở lại Hoa Kỳ, tôi cứ nhớ cái thằng Mỹ này quá. Chắc chắn nó là con tôi . Nhưng bảo rằng chứng minh cụ thể thì tôi chưa có cách. Tôi có đem chuyện này hỏi ông bác sĩ gia đình. Ông bác sĩ nói rằng : Dễ lắm. Nếu nó là con bà, chỉ đem đi thử máu, thử DNA là ra ngaỵ Thì cái vụ thử nghiệm này thì chắc rồi . Nhưng tôi lại không muốn làm thế. Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng, nhờ tôi thành tâm lễ bái, khẩn cầu, nên đấng thiêng liêng đã đưa đẩy cho tôi tìm thấy cháu . Bây giờ lại đem thử nghiệm thì có khác gì không tin vào đấng linh thiêng nữa, nên tôi không làm. Nghe thế, ông bác sĩ ngồi thừ ra hồi lâu rồi hỏi tôi . Nếu nó là con bà, thì nó không giống ông bà cái tai, cũng phải giống cái tóc chứ. Bà nhìn nó bà có thấy nó giống ai trong nhà không, chắc là phải giống ông nó nhà tôi . Khốn nỗi ông nhà tôi sang bên Mỹ được ít năm thì mất. Ông mất cũng là tại tôi một phần. Ông cứ cằn nhằn tôi bao nhiêu năm : sao đang nắm tay nó bà lại buông tay ra . Làm gì cũng phải có ý có tứ chứ. Nắm thật chặt tay thì nó đâu có rơi được. Đành rằng thế, nhưng nào tôi có muốn buông tay ra đâu . Trời xui đất khiến nó hoá như thế, chứ có người mẹ nào lại nỡ buông con ra cho nó rơi xuống sông hở ông. Thế là bao nhiêu năm đằng đẵng xót xa, rồi ông ấy mất. Lúc mất hình như ông ấy còn gọi tên nó trong phút lâm chung. Thế là bao nỗi cay đắng đổ cả trên đầu tôi . Thôi thì trăm sự tôi trông vào đấng linh thiêng, Đức Quan Thế Âm khi trước và bây giờ là Đức Mẹ Maria . Đêm nào tôi cũng thắp hương, cầu khẩn."
Vẫn lời bà L. :"Tôi thẫn thờ đau khổ, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến nó. Còn thằng em nó hầu như tôi quên bẵng để mặc cho ông nhà tôi trông nom. Nhà tôi mất đi, trên bàn thờ bây giờ có hình ông ấy nhà tôi nữa . Hàng ngày khi đọc kinh, nhìn hình ông nhà tôi trên bàn thờ, tôi bảo : Ông có khôn thiêng thì ông mách bảo cho tôi tìm ra thằng P. Một hôm, em thằng P. đi đánh banh về, từ trong nhà tắm đi ra, nó ngồi trước mặt tôi, lấy khăn lông lau đôi bàn chân. Nó lau kỹ lắm, khiến tôi chú ý. Sao mà hai ngón chân cái của nó lại xoè ra như người Giao Chỉ ngày xưa . Tôi hỏi nó sao thế. Nó bảo thì ngón chân con nó thế. Đi giầy thì hai ngón chân cái ép lại . Để chân không, nó lại xoè ra . Tôi trở lại Việt Nam, trở lại nhà bà dược sĩ. Bà vẫn ân cần, niềm nở đón tôi, và vẫn một mực nói : tôi sẽ trả con cho bà, với điều kiện bà phải chứng minh được nó đích thực là con bà. Thì cũng là tình cờ thôi, hôm ấy thầy-lang-Mỹ lội xuống khúc sông trước nhà, bơi, tắm. Tắm xong, lúc ngồi ở nhà ngang anh ta ngồi lau chân, trời ơi, hai ngón chân cái của thằng Mỹ cũng xoè ra như thằng con tôi, em nó ở bên Mỹ. Không sai được nữa rồi . Tôi bỗng bật khóc và kêu lên P. ơi, con ơi . Thầy-lang-Mỹ trố mắt nhìn tôi . Bà dược sĩ cũng thảng thốt, đứng lên. Ba chúng tôi ôm choàng lấy nhau, nước mắt chan hoà. Thằng P. ôm tôi và nói : con là P. của mẹ đây, mẹ L. ơi . Bà dược sĩ thì bảo : "Sao trước đây bà không cho tôi biết tên nó trước đây là P.."
Vẫn lời bà L. :" Bà dược sĩ nói rằng : hàng ngày chúng tôi kêu nó là Mỹ.Nhưng những khi đau ốm, mê sảng, nó đều kêu : Mẹ L. ơi cứu P. Nhưng quả đúng 100% nó là con bà, bà dược sĩ lại hỏi tôi, vừa cười vừa nói, trong người nó có vết tích gì đặc biệt không. Tôi đáp ngay : mông đít nó có một vết chàm. Thế là hai chúng tôi lại ôm lấy nhau lần nữa . Và lần này thì bà dược sĩ dành dọt nói : Đúng thằng Mỹ đây, khi bé có tên là P. Nó đích thực là con bà. Tôi dàn dụa nước mắt xà lại ôm lấy P. Hai mẹ con chúng tôi ôm nhau thật chặt. Tôi bấu vào vai nó. Tôi nắm chặt cánh tay nó. Không rời ra được nữa đâu . Và trong lúc xúc động này, tôi lại hốt hoảng kêu lên : Ối, con ơi, con ơị . ." Tôi buông P. ra, buông con tôi ra, tôi chắp tay, đọc thầm một đoạn kinh tạ ơn Chúa, tạ ơn Trời, Phật . Nước mắt tôi tuôn như mưa . Tôi quỳ xuống, tôi vái tứ phương. Tôi gọi tên nhà tôị Ông ơi, tôi tìm thấy con. . . rồi . Hai mẹ con tôi quay lại, thấy bà dược sĩ đứng nhìn chúng tôi, mếu máo với hai hàng lệ chảỵ Chúng tôi, mẹ con tôi tiến tới, choàng tay ôm chặt bà vào lòng. Tôi nói : Bà ơi! Bà là ân nhân của chúng tôi, bà mới thật là mẹ nó. Trời, Phật đã dẫn dắt nó là con bà. Con tôi cũng nói : Con xin đa tạ mẹ?. . . Thật, chưa bao giờ tôi vui sướng như thế mà cũng khóc nhiều như thế. Và cũng chưa bao giờ tôi tin tưởng mạnh mẽ như thế vào sự huyền diệu của các đấng thiêng liêng."
Cho đến khi chúng tôi viết những giòng này thì Bà L. đã hoàn tất mọi thủ tục để đưa người con trai tên P. sang Mỹ đoàn tụ với gia đình. Khi mọi việc đã xong, tên tuổi những người liên hệ sẽ được in đầy đủ trong bài viết.
Gần 30 năm đã qua . Một thời gian đủ dài để một thế hệ được sinh ra, lớn lên và trưởng thành. Những con em chúng ta khi ra đi còn bé dại, nay đã không thiếu những người thành tài, có mặt trong hầu hết những sinh hoạt cao cấp nơi quê hương mới, là niềm vui sướng và hãnh diện cho cha mẹ, cho cộng đồng. Nhân câu chuyện trên, người viết đang thu thập những gương thành công của con em những gia đình ra đi trên Dương Vận Hạm Thị Nại, HQ 502, để viết thêm vào phần cuối cuốn bút ký di tản này, như phần thưởng cho lòng can trường, liều chết ra đi vì Tự Do, vì tương lai của con cái . Rất mong được đón nhận những kết quả đẹp đẽ của những ai cùng đi trên chuyến tàu trên. Mọi liên lạc xin gửi về cho người viết:
· PO Box 888, La Jolla, Ca 92088. Đt : (858) 484-9193.
· E Mail tphan2@san.rr.com
Bài viết có thể viết bằng tiếng Việt hay tiếng Anh. Nếu không có gì trở ngại, cuốn bút ký di tản của tác giả và những gương thành công của con cái chúng ta di tản trên Dương Vận Hạm Thị Nại, HQ 502 sẽ được xuất bản để kỷ niệm 30 năm di tản.
Phan lạc Tiếp

Chuyến di tản của Dương Vận Hạm Thị Nại, HQ 502, một con tàu hỏng máy, đang trong thời kỳ sửa chữa, chở theo trên 5000 người, rời cầu tàu trong Hải Quân Công Xưởng đêm hôm 29 tháng 4 năm 1975 với bao nhiêu là khó khăn, hãi hùng, nguy hiểm. Hầu như trên mười năm sau đó, đã định cư ở Mỹ an toàn, nhiều đêm ngủ, thần trí tôi vẫn bị trôi theo cơn hốt hoảng kinh hoàng bởi chuyến đi nàỵ Trong những giấc mơ kinh dị đó, tôi vẫn thấy rất rõ rừng người đặc nghịt ở trên sàn tàụ Bầu trời thì đen thẫm, những ánh đèn xanh đỏ của những chiếc trực thăng vần vũ, nặng nề bay qua bay lạị Những đám cháy sáng rực bùng lên ở mấy góc trờị Kho xăng Nhà Bè trắng xoá, lấp loáng dưới ánh lửa đang cuồn cuộn bốc cao từ Căn Cứ Hải Quân .Những tiếng nổ oà vỡ bên tai, kéo theo những tiếng rít của những trái đạn rời nòng từ hai khẩu đại bác của Đặc Khu Rừng Sát. Con tàu ôm sát bờ lửa đạn ấy để vào nhánh sông Soi Rạp, bò ra cửa biển.
Sáng ngày 30 tháng tư, con tàu liệt máy, buông trôi ở cửa sông. Biển ở trước mặt, sóng trắng xô xô từng đợt. Lại những đợt máy bay từ phía Sài Gòn túa rạ Nhũng chiếc trực thăng bay thấp, dọc theo hông tàu, thấp hơn chiều cao của đài chỉ huy chiến hạm. Cửa máy bay mở rộng. Chúng tôi thấy trong lòng máy bay chật ứ những đàn bà, trẻ con. Mấy bà già hướng về chiến hạm, quỳ, cúi gập người, chắp hai tay mà lễ. Trong khi đó viên phi công rà được tần số của chiến hạm. Bằng một giọng nói đầy khấp thiết :" Anh em Hải Quân ơi, cứu chúng tôi vớị .Chúng tôi được lệnh bay ra biển để đáp xuống tàu Mỹ. Nhưng tới điểm hẹn chỉ thấy biển mông mênh, tàu Mỹ đâu không thấy, nên phải quay về. Tàu tôi chỉ còn 5 phút xăng. Xin cứu chúng tôi, gia đình tôi, mẹ tôi..."Không cầm lòng được, Hạm Trướng Nguyễn văn Tánh và "Ban Tham Mưu" chấp nhận những khó khăn, bất trắc, đồng ý cho trực thăng đáp xuống sân chiến hạm. Sân chiến hạm đông đặc những người, lùng nhùng những chiếc mền đủ màu căng ra che sương gió qua đêm. Nắng bắt đầu oi ả. Tất cả phải giải tỏa cấp kỳ. Mọi người phải xuống hết sân chiến xa . Sân tàu trống vắng. Chiếc trực thăng từ từ đáp xuống. Một chiếc. Lại một chiếc nữa . . .
Tới gần trưa ngày 30 tháng 4, ông Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng. Cả tàu mấy ngàn người xốn xang, cuống quýt. Có những tiếng khóc vỡ oà đâu đó. Một buổi họp khẩn cấp để đi đến quyết định : Bằng mọi giá phải thoát ra khỏi lãnh hải Việt Nam. Phải ra đi cho bằng được. Toán thợ máy kết hợp lạ lùng cố sửa chữa . Máy tàu nổ, một máỵ Tàu ra được ngoài khơi, lết đến gần Côn Sơn, gặp được hạm đội mình ở đó. Lệnh từ Soái Hạm HQ 3 chỉ thị cho HQ16 tới kéo HQ502 đị . Những đêm lừ đừ ở ngoài khơi, đoàn tàu vừa đi vừa đợi nhau . Những chiếc ghe đầy ứ người xáp vào chiến hạm. Không thể làm ngơ, tàu thả thang giây, lại vớt thêm ngườị Đêm xuống, hải đăng Vũng Tàu loé lên từng đợt như thách thức, như mời gọi, như những vẫy tay giã từ. Bờ biển quê hương đấy mà giờ đã trở nên kinh khiếp, chia lìa, đớn đau . Ngày đêm, qua làn sóng điện của đài Sài Gòn, không còn là những giọng nói thân quen, mà là những lời kêu gọi chát chúa, đe doạ của kẻ thù : ". . . quân, cán chính của nguỵ quân Sài Gòn mau mau ra trình diện ". Những ngày thiếu thốn, chật chội, chia nhau từng ngụm nước, từng nắm cơm chỗ sống, chỗ khê, chỗ thì thiu chua .
Mấy ngày sau, bờ biển Phi Luật Tân hiện ra, núi non chập chùng đen thẫm. Lễ chào và hạ Quốc Kỳ VNCH lần cuối được diễn ra, đơn giản nhưng vô cùng nghiêm trang mà rất đớn đau . Lá Quốc Kỳ nền vàng ba sọc đỏ bạc màu từ từ được kéo xuống, cùng với hàng ngàn giọng hát, gìa, trẻ, nam, nữ cất lên, vừa hùng tráng, vừa chất chứa những nghẹn ngào . Những lời hát như trùm kín cả vùng trời biển nước mênh mông. Lời ca dứt. Những tiếng kêu khóc bỗng bùng vỡ. Nhìn đâu tôi cũng chỉ thấy những cặp mắt đầm đầm nước mắt. Trong những tiếng kêu khóc thảng thốt ấy, tôi thấy có tiếng kêu của một người đàn bà :" Oái, con ơi, con ơị . ." . Trong tập bút ký viết về cuộc di tản này, tôi đã không quên ghi lại tiếng kêu thảng thốt, lạ lùng này . Tại sao tôi lại không ghi những tiếng kêu khóc khác tràn ứ quanh tôi trên con tàu Thị Nại HQ 502 lúc đó. Tôi không trả lời đươc. Vì khi viết lại giây phút xúc động lịch sử này, tay tôi như chỉ tuân theo những gì mà thần trí tôi đã ghi dấu mà tự động viết ra . Viết ra như vẽ lại rất tự nhiên, không có một sự lựa chọn nào . Nhưng bây giờ thì tôi hiểu . Tình cờ tôi đã hiểu . Có những hình ảnh tuy mờ nhoà, khi ẩn khi hiện, nhưng không bao giờ biến mất trong trí nhớ của tôi .Tôi không bao giờ quên. Tôi nhớ lại rồi . Tôi nhớ thật rõ. Tôi hiểu tại sao tôi lại ghi lại tiếng kêu này . Xin hãy cho tôi từ từ nhớ lại .
Tôi bỏ chiếc xe hơi nhỏ ở ngoài cửa Hải Quân Công Xưởng, sát bên Bệnh Xá Bạch Đằng. Tôi đi đầu, hướng dẫn cả gia đình trên mười người, theo đoàn người lũ lượt chạy bộ dọc theo chiều dài của Hải Quân Công Xưởng. Vừa chạy vừa ngoái cổ nhìn trở lại để kiểm soát đoàn "rồng rắn" của gia đình. Chỉ sợ có người bị lạc. Lạc là vô cùng khốn khổ, khó khăn. Tìm đến cầu tàu trước Bộ Tư Lệnh Hạm Độị Con tàu Thị Nại, HQ 502 nằm đó, vị trí một. Bên ngoài con tàu này còn ba con tàu khác cặp song song. Tất cả bốn con tàu xám ngắt, hướng mũi phía hạ giòng. Người từ phía sau tràn tớị Như đã hẹn, tôi sẽ phải lên cho được con tàu này . Con tàu do bạn thân cùng khoá với tôi làm Hạm Trưởng, Hải Quân Trung Tá Nguyễn văn Tánh. Chúng tôi cũng đã hùn tiền mua thêm nhiều gạo, mì và những thức ăn khô chất sẵn ở tàu nàỵ Nước lấy tối đa . Lúc này nước thuỷ triều dâng cao, bắt đầu xuống. Người chen sát nhau như gạch trên cầu tàu, nhích tới, nhích tới . Cái thang dài độc nhất dựng dốc ngược bên hông tàu . Tôi biết rằng khi khẩn cấp, chỉ cần thả hai mối dây là cái thang tự động tuồi xuống cầu tàu, lăn theo hai bánh xe ghì trên mặt đất, không một chút khó khăn. Tàu sẽ tách bến dễ dàng. Nhưng bây giờ rừng người đang ùn ùn tiến tới . Những quân nhân, trai tráng thì tìm mọi cách bám vào thành tàu mà lên. Gia đình tôi tất cả mười ba người, con số tình cờ không vui, trong đó có hai ông bà nhạc tôi ốm yếu, bốn đứa con nhỏ dưới mười tuổi . Chúng tôi không có cách nào khác là phải leo ngược cầu thang nhỏ, dốc ngược này để lên tàu mà thôi . Tôi lên đầu tiên, bế trên tay thằng con út hai tuổi bụ sữa, nặng chĩu . Trên lưng đeo một ba-lô quần áo và các thứ cần dùng. Một tay xách cái va-ly nhỏ đựng đầy giấy tờ, bản thảo và hình ảnh. Rất nhiều hình ảnh. Cầu thang dốc và trơn, tôi khiến trượt chân. Cái va-ly trở nên nặng quá bung ra phía ngoài . Tôi buông tay, nắm vội vào sợi giây cable, cái va-ly rơi tòm xuống nước, mất tăm. Hai tay ôm chặt thằng nhỏ trong lòng. Tôi cúi người xuống để ghì lấy mặt thang. Trong phút chông chênh đó có bàn tay ai rất mạnh giữ chặt lấy cánh tay tôi . Chỉ trong một sát na kinh khiếp đó, tôi gượng lại được và bò lên sàn tàu . Không biết cánh tay ấy của ai . Ai đã cứu bố con tôi . Đặt con xuống sàn tàu tim tôi còn đập bập bùng hồi hộp. Tôi quay lại cùng các em tôi kéo vợ tôi, hai ông bà nhạc lên tàu . Kiểm điểm lại "quân số" gia đình. Đủ cả. Tôi quay lại cầu thang, đứng chân trước chân sau thật vững trên sàn tàu . Một tay vịn vào hàng rào chắn, một tay chìa ra kéo những người đang trèo ngược thang lên. Bao nhiêu bàn tay tôi đã nắm. Có bao nhiêu bàn tay bè bạn thân quen, nắm chặt tay nhau kéo lên, buông ra với những nụ cười . Anh Trần văn Tâm, (nhà văn Trần quán Niệm), anh Nguyễn hưng Quảng, anh Nguyễn đa Phúc và bao nhiêu người nữa . Chúng tôi xúm nhau ở đó để tiếp tay, đỡ đần những người yếu đuối . Có bao nhiêu là những bàn tay già nua, hay non dại của những ai tôi chưa bao giờ gặp gỡ. Tất nhiên chúng tôi cũng đã chuyền, bế bao nhiêu là con trẻ ở tuổi các con tôi . Lúc kéo người lên như thế, cũng là lúc tôi nhìn xuống khoảng trống giữa thành tàu và cầu tàu, tôi không còn thấy cái va-ly của tôi đâu cả. Nước đã cuốn nó đi trôi nổi ở góc kẹt nào . Khoảng trống dọc theo thân tàu chỉ độ bốn mươi phân thôi, là bề dày của trái độn cao-su . Cái khe này hun hút đen thẳm dọc theo thân tàu dài hàng trăm thước. Dưới sâu là mặt nước, những làn sóng nhỏ, lấp lánh ánh đèn trôi đi, trôi đi . Tôi biết sức nước trông thế nhưng thật là mạnh mẽ. Chân cầu tàu lù xù những vết xò hến, rác rưởi bám đầỵ Nếu ban nãy tôi không có cánh tay nào bám lấy, ngã xuống đây . . .Mới thoáng nghỉ thế, toàn thân tôi như lạnh buốt. Tôi nghĩ đến con tôi . Đứa con út của tôi .
Rời cầu thang quay gót trở lại với gia đình, tôi vừa quay gót, có tiếng người đàn bà thảng thốt kêu lên : "Con tôi, con tôi rơi . . . rồi . Ôi con ơi là con ơi..." . Tôi quay phắt lại, người ta đen đặc, đang kéo người đàn bà vào sàn tàu . Ở phía cầu thang người vẫn cứ ùn tấn lên không dứt. Người đàn bà khốn khổ, mất con như mê đi, đang được người ta xúm lại chữa chạy, giựt tóc, bôi dầu . Hình như không ai quan tâm gì đến số phận của đứa nhỏ vừa rời tay mẹ rơi xuống cầu tàu, mất tăm. Vô phương cứu tìm. Mà ai còn có thì giờ đâu để ngó xuống cái khe đen thẳm đó. Người càng lúc càng lên thêm, đứng đen đặc cả sàn tàu . Không ai biết, chẳng ai quan tâm đến cảnh huống bi thảm vừa mới xẩy ra . Đêm mỗi lúc mỗi sâu . Nỗi khốn khổ của người mẹ mất con như bay theo, mất hút giữa đêm đen mỗi lúc mỗi thêm kinh sợ.
Lên được trên tầu, tìm gặp bạn tôi, HQ Trung Tá Nguyễn văn Tánh, Hạm Trưởng, anh nhường phòng của anh cho gia đình tôi . Tôi ngần ngại, nhưng anh bảo : tôi còn cái phòng nhỏ trên Trung Tâm Hành Quân. Tạm yên tâm, tôi sát cánh cùng anh, tập họp tất cả những quân nhân có mặt, tìm mọi cách để đem tàu ra khơi . Người thì chật cứng ở sân boong chính, ở hầm chiến xa, và la liệt cả hành lang, mọi chỗ. Nhưng như anh Tánh sau này cho biết thì " nhân viên cơ hữu trên 100 nay chỉ còn có 9 người..." Tình trạng chiến hạm thì còn đang sửa chữa : " Hai máy chánh ráp xong, nhưng chưa thử tại chỗ. Hai máy điện chưa được ráp song song. Bơm nước ngọt và bơm cứu hoả chưa ráp. Bình cứu hoả CO2 còn nằm trên Hải Quân Công Xương. Hai máy neo trước và sau bất khiển dụng. Sàn tàu cắt mở lối đem máy chánh lên chưa hàn lại". Biết bao nhiêu la trở ngại, khó khăn, nguy hiểm. Khi khởi động được máy thì tay lái bất khiển dụng. Giây cable lái bị cắt đứt. Nói ra không hết những nguy khốn của cuộc đi nàỵ Bao nhiêu điều, bao nhiêu hình ảnh vẫn đầy ắp trong trí nhớ của tôi . Nhưng hình như tiếng kêu vô vọng, thảng thốt của người đàn bà khốn khổ đó đã thấm nhập sâu đậm vào trí não tôi . Lúc mờ lúc tỏ, nhưng tiếng kêu đó không bao giờ mất được trong tiềm thức của tôi . Khi có những sự tương quan, hình ảnh ấy sẽ tự động hiện ra mà lý trí tôi hình như không thể can dự vào . Và sự việc đã được xẩy ra rất tình cờ mới đây, gần 30 năm xa cách.
Trong một buổi gặp gỡ thu hẹp của mấy bà bạn cựu nữ sinh Trưng Vương của bà xã tôi tại San Jose, chuyện trò đang nổ như cái chợ, bỗng khựng lại, khi tình cờ chị D. N. nói : "Thế ra gia đình tao cùng di tản trên con tàu Thị Nại HQ 502 với tụi mày à. A, sao cả tuần lễ trên tàu mà mình không gặp được nhaụ Ừ, người đông như kiến. Trên 5000 ngườị Khiếp thật !". Anh Ng., chồng chị N. nói:" Khi ở trên tàu tôi xung phong trong toán nhà bếp, nóng như cái hầm. Lúc có điện lúc không. Cơm nấu suốt ngày mà không đủ. Lúc sống, lúc khê. Khi ra đi đại gia đình chúng tôi có 20 người . Nếu kể cả thằng cháu P. bị rơi ở cầu tàu là 21. Bây giờ tổng số đã là 40. . ." Lòng tôi như có điện giựt. Cả một khung trời kinh khiếp đêm 29 rạng 30 tháng 4 năm cũ lại hiện ra rõ ràng. Cái khe sâu dài dọc theo cầu tàu đen thẫm, lấp lánh những lượn sóng trôi đi, trôi đi . Tiếng kêu thảng thốt của người đàn bà :"con tôi, con tôi rơi rồi . Oái con ơi là con ơi" . Lạ nhỉ. Quả đất tròn thật. Tôi phải tìm gặp cho đươc người đàn bà ấỵ
Bà D. t. L, qua điện thoại kể lể :". . .một tay tôi cầm cái túi . Một tay tôi dắt thằng cháu P. bước lên cầu thang dốc ngược của con tàu . Người từ phía dưới cứ nống lên. Mà là người nhà mình cả chứ đâu . Gót giày tôi như kẹt vào khe cầu thang, chân tôi bỗng nghiêng đi, lao chao muốn ngã. Thế là tôi buông tay thằng nhỏ ra . Nó rơi ngay xuống khe tàu, mất tiêu . Tai tôi như chỉ còn thấy tiếng cháu kêu : mẹ L. . .. Tôi kêu lên, nhưng có ai giúp được gì đâu . Mà có ai thấy gì đâu mà giúp. Tay tôi bỗng trống không. Tôi được người ta kéo lên sàn tàu . Tôi mê đi chẳng còn biết gì nữa sất. Bên tai tôi cứ như loáng thoáng tiếng kêu của nó. Từ đó, nói ông bỏ quá đi cho, tôi cứ ngơ ngẩn, chả còn thiết gì nữa cả. Tôi nằm như chết ở sàn tàu, chả thiết ăn uống gì . Khi đoàn tàu sửa soạn vào cảng ở Phi Luật Tân, mọi người lên sân chính để chào quốc kỳ lần cuối, trong tai tôi vẫn vang vang lời kêu của cháu : Mẹ L. ơi ... Vì thế, trong giờ phút ấy tôi bỗng oà khóc và kêu lên . . ."Vẫn lời kể của bà L. :" Lúc ấy cháu T t. P. được 6 tuổi rưỡi . Cháu nhờ trời cũng chịu ăn, chịu chơi nên cũng có da có thịt, chắc nịch. Mỗi khi cháu trái nắng, trở trời cháu cứ hay kêu : Mẹ L. ơi cứu P. Tôi không quên được tiếng kêu ấy của cháu, ông à. Tiếng kêu ấy cứ vang vang ở trong đầu tôi, hình như không lúc nào dứt. Lúc thức, lúc ngủ, lúc tụng kinh, không lúc nào tôi không nghe thấy tiếng kêu ấy của con tôi, nên tôi nghĩ rằng con tôi còn sống. Vì thế suốt mấy chục năm, ngày nào tôi cũng thắp hương cầu Phật Bà Quan Âm cứu khổ cứu nạn phù hộ độ trì cho cháu . Sau này chúng tôi trở lại đạo, tôi hàng ngày lại cầu xin Đức Mẹ Maria che chở cho cháu . Tôi tin tưởng hoàn toàn vào đấng thiêng liêng và tôi vẫn tin rằng cháu còn sống ông à."
Vẫn lời kể của bà L. : "Rồi cách đây ít năm, người Việt Nam từ hải ngoại về nước mỗi lúc mỗi đông. Tôi cũng về thăm lại làng xóm, thăm thân nhân. Trong câu chuyện qua lại giữa bà con, có người nhắc rằng : nếu chị tin là cháu còn sống, thì phải có người vớt được cháu . Chị thử đăng báo tìm xem thế nào . Không thiếu những trường hợp thất lạc con cái, rồi người ta cũng tìm lại được đấỵ Thế là tôi nhờ đăng tin tìm cháu ở báo Tuổi Trẻ, thì có 6 người cùng tuổi với cháu liên lạc với tôi . Người thì ở ngay trong thành phố Sài Gòn, người thì ở dưới quê. Cũng là người tử tế cả. Có anh nói : thôi con không qua Mỹ đâu . Đã có vợ con và sống ở đây quen rồi, mẹ có thương con thì cho con ít cây (vàng), con mua mấy mẫu ruộng. Thì nghe thế biết thế, tôi cũng chưa có gì đích xác để quyết định cả. Trong 6 người nhận là con tôi, có một anh cao, giống thằng con tôi hiện ở Mỹ. Anh này hiện học nghề Đông Y, chưa vợ con gì cả. Với tôi anh ấy đối xử lịch sự, bình thường, không vồn vã mà chẳng đề nghị xin xỏ gì. Vì theo bà mẹ nuôi của anh kể lại thì câu chuyện khá dài, nhiều uẩn khúc lắm".
Vẫn theo lời kể của bà L. : " Bà này giàu có lắm. Trước 75 bà là dược sĩ, có tiệm thuốc tây rất lớn. Bà đã có gần 10 người con do bà đẻ ra . Nhưng trong hoàn cảnh tang thương của thời loạn lạc, có mấy người không nuôi được con, đem cho bà, bà đều nhận hết. Bà săn sóc trên mười đứa con, con đẻ cũng như con nuôi, như nhau . Đứa nào học được bà cho đi học. Nhiều đứa thành tài là kỹ sư, bác sĩ. Có đứa lớn lên xin về nhà bố mẹ đẻ, bà cũng vui lòng, còn cấp vốn liếng cho để làm ăn. Có đứa làm ăn thất bại lại bò lên xin ở lại với bà, bà lại nhận nuôi nấng cả gia đình vợ con nó như xưa . Bây giờ trong thời đổi mới, bà đang kinh doanh về ngành du lịch. Bà mua cả một khu rừng xây khách sạn, đắp núi non, vườn cảnh. Trong đó có những nhánh sông, bà cho xây cây cầu qua lại thật là đẹp. Nói ra có lẽ khó ai tin được. Thật cái nhà của tôi bên Mỹ không bằng cái nhà xe của bà ấỵ Bà ấy nói với tôi rằng thằng Mỹ do một bà bán chè ở bến sông Sài Gòn cho bà ấỵ Thằng nhỏ này trôi trên sông Sài Gòn, có một người lái đò vớt được, đưa lên bờ. Thằng bé bơ vơ, rét mướt khóc quá xá, nên cho đứng tạm cạnh bà bán xôi chè, đợi bố mẹ nó tìm đến. Nhưng chả thấy bố mẹ nó đâu, bà hàng xôi tìm đến bà dược sĩ bảo rằng : bà làm phước nuôi dùm thêm đứa nhỏ nàỵ Hỏi bố mẹ con đâu, nó nói trong nước mắt : đi Mỹ rồi . Do đó bà dược sĩ mới đặt tên nó là Mỹ."
Vẫn lời của bà L. :"Cái anh tên Mỹ này lớn lên trong gia đình bà dược sĩ. Dù không ai nhắc nhở, nhưng anh ta vẫn tin rằng sẽ có lúc anh ta phải qua Mỹ đoàn tụ với cha mẹ ruột. Thời gian vùn vụt trôi, gần ba mươi năm cơ hội chưa đến. Trong khi chờ đợi, anh ta quyết không lập gia đình, sợ lôi thôi khi đi đoàn tụ. Và để có một nghề qua Mỹ không cần học lại, anh ta học nghề đông-y-sỹ. Bà dược sĩ nói với tôi rằng, tuy là con nuôi, nhưng tôi thương thằng Mỹ như con ruột. Nó muốn gì, tôi không tiếc. Đấy cái cửa hiệu đông y đấy, rất khang trang, đủ mọi thứ thuốc, từ sâm nhung hảo hạng, đến các thứ quế đắt tiền, thứ gì tôi cũng đặt mua đầy đủ. Nó vừa sửa soạn là thầy lang vừa làm người bào chế, rất mát tay tuy chưa ra trường nhưng cũng đông khách lắm. Sang Mỹ chưa chắc gì đã có một cơ sở vững vàng như thế. Nhưng nó biết, nó tin là nó không ở đây lâu đâu . Thế nào nó cũng qua Mỹ đoàn tụ với bố mẹ ruột của nó. Nó muốn thế, tôi cũng sẵn sàng giúp nó được toại ý khi cơ hội đến. Nếu nó thực sự là con bà, bà chứng minh được nó là con bà, tôi sẽ cố gắng tìm mọi cách để nó về với bà."
Vẫn lời của bà L. :" Tôi trở lại Hoa Kỳ, tôi cứ nhớ cái thằng Mỹ này quá. Chắc chắn nó là con tôi . Nhưng bảo rằng chứng minh cụ thể thì tôi chưa có cách. Tôi có đem chuyện này hỏi ông bác sĩ gia đình. Ông bác sĩ nói rằng : Dễ lắm. Nếu nó là con bà, chỉ đem đi thử máu, thử DNA là ra ngaỵ Thì cái vụ thử nghiệm này thì chắc rồi . Nhưng tôi lại không muốn làm thế. Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng, nhờ tôi thành tâm lễ bái, khẩn cầu, nên đấng thiêng liêng đã đưa đẩy cho tôi tìm thấy cháu . Bây giờ lại đem thử nghiệm thì có khác gì không tin vào đấng linh thiêng nữa, nên tôi không làm. Nghe thế, ông bác sĩ ngồi thừ ra hồi lâu rồi hỏi tôi . Nếu nó là con bà, thì nó không giống ông bà cái tai, cũng phải giống cái tóc chứ. Bà nhìn nó bà có thấy nó giống ai trong nhà không, chắc là phải giống ông nó nhà tôi . Khốn nỗi ông nhà tôi sang bên Mỹ được ít năm thì mất. Ông mất cũng là tại tôi một phần. Ông cứ cằn nhằn tôi bao nhiêu năm : sao đang nắm tay nó bà lại buông tay ra . Làm gì cũng phải có ý có tứ chứ. Nắm thật chặt tay thì nó đâu có rơi được. Đành rằng thế, nhưng nào tôi có muốn buông tay ra đâu . Trời xui đất khiến nó hoá như thế, chứ có người mẹ nào lại nỡ buông con ra cho nó rơi xuống sông hở ông. Thế là bao nhiêu năm đằng đẵng xót xa, rồi ông ấy mất. Lúc mất hình như ông ấy còn gọi tên nó trong phút lâm chung. Thế là bao nỗi cay đắng đổ cả trên đầu tôi . Thôi thì trăm sự tôi trông vào đấng linh thiêng, Đức Quan Thế Âm khi trước và bây giờ là Đức Mẹ Maria . Đêm nào tôi cũng thắp hương, cầu khẩn."
Vẫn lời bà L. :"Tôi thẫn thờ đau khổ, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến nó. Còn thằng em nó hầu như tôi quên bẵng để mặc cho ông nhà tôi trông nom. Nhà tôi mất đi, trên bàn thờ bây giờ có hình ông ấy nhà tôi nữa . Hàng ngày khi đọc kinh, nhìn hình ông nhà tôi trên bàn thờ, tôi bảo : Ông có khôn thiêng thì ông mách bảo cho tôi tìm ra thằng P. Một hôm, em thằng P. đi đánh banh về, từ trong nhà tắm đi ra, nó ngồi trước mặt tôi, lấy khăn lông lau đôi bàn chân. Nó lau kỹ lắm, khiến tôi chú ý. Sao mà hai ngón chân cái của nó lại xoè ra như người Giao Chỉ ngày xưa . Tôi hỏi nó sao thế. Nó bảo thì ngón chân con nó thế. Đi giầy thì hai ngón chân cái ép lại . Để chân không, nó lại xoè ra . Tôi trở lại Việt Nam, trở lại nhà bà dược sĩ. Bà vẫn ân cần, niềm nở đón tôi, và vẫn một mực nói : tôi sẽ trả con cho bà, với điều kiện bà phải chứng minh được nó đích thực là con bà. Thì cũng là tình cờ thôi, hôm ấy thầy-lang-Mỹ lội xuống khúc sông trước nhà, bơi, tắm. Tắm xong, lúc ngồi ở nhà ngang anh ta ngồi lau chân, trời ơi, hai ngón chân cái của thằng Mỹ cũng xoè ra như thằng con tôi, em nó ở bên Mỹ. Không sai được nữa rồi . Tôi bỗng bật khóc và kêu lên P. ơi, con ơi . Thầy-lang-Mỹ trố mắt nhìn tôi . Bà dược sĩ cũng thảng thốt, đứng lên. Ba chúng tôi ôm choàng lấy nhau, nước mắt chan hoà. Thằng P. ôm tôi và nói : con là P. của mẹ đây, mẹ L. ơi . Bà dược sĩ thì bảo : "Sao trước đây bà không cho tôi biết tên nó trước đây là P.."
Vẫn lời bà L. :" Bà dược sĩ nói rằng : hàng ngày chúng tôi kêu nó là Mỹ.Nhưng những khi đau ốm, mê sảng, nó đều kêu : Mẹ L. ơi cứu P. Nhưng quả đúng 100% nó là con bà, bà dược sĩ lại hỏi tôi, vừa cười vừa nói, trong người nó có vết tích gì đặc biệt không. Tôi đáp ngay : mông đít nó có một vết chàm. Thế là hai chúng tôi lại ôm lấy nhau lần nữa . Và lần này thì bà dược sĩ dành dọt nói : Đúng thằng Mỹ đây, khi bé có tên là P. Nó đích thực là con bà. Tôi dàn dụa nước mắt xà lại ôm lấy P. Hai mẹ con chúng tôi ôm nhau thật chặt. Tôi bấu vào vai nó. Tôi nắm chặt cánh tay nó. Không rời ra được nữa đâu . Và trong lúc xúc động này, tôi lại hốt hoảng kêu lên : Ối, con ơi, con ơị . ." Tôi buông P. ra, buông con tôi ra, tôi chắp tay, đọc thầm một đoạn kinh tạ ơn Chúa, tạ ơn Trời, Phật . Nước mắt tôi tuôn như mưa . Tôi quỳ xuống, tôi vái tứ phương. Tôi gọi tên nhà tôị Ông ơi, tôi tìm thấy con. . . rồi . Hai mẹ con tôi quay lại, thấy bà dược sĩ đứng nhìn chúng tôi, mếu máo với hai hàng lệ chảỵ Chúng tôi, mẹ con tôi tiến tới, choàng tay ôm chặt bà vào lòng. Tôi nói : Bà ơi! Bà là ân nhân của chúng tôi, bà mới thật là mẹ nó. Trời, Phật đã dẫn dắt nó là con bà. Con tôi cũng nói : Con xin đa tạ mẹ?. . . Thật, chưa bao giờ tôi vui sướng như thế mà cũng khóc nhiều như thế. Và cũng chưa bao giờ tôi tin tưởng mạnh mẽ như thế vào sự huyền diệu của các đấng thiêng liêng."
Cho đến khi chúng tôi viết những giòng này thì Bà L. đã hoàn tất mọi thủ tục để đưa người con trai tên P. sang Mỹ đoàn tụ với gia đình. Khi mọi việc đã xong, tên tuổi những người liên hệ sẽ được in đầy đủ trong bài viết.
Gần 30 năm đã qua . Một thời gian đủ dài để một thế hệ được sinh ra, lớn lên và trưởng thành. Những con em chúng ta khi ra đi còn bé dại, nay đã không thiếu những người thành tài, có mặt trong hầu hết những sinh hoạt cao cấp nơi quê hương mới, là niềm vui sướng và hãnh diện cho cha mẹ, cho cộng đồng. Nhân câu chuyện trên, người viết đang thu thập những gương thành công của con em những gia đình ra đi trên Dương Vận Hạm Thị Nại, HQ 502, để viết thêm vào phần cuối cuốn bút ký di tản này, như phần thưởng cho lòng can trường, liều chết ra đi vì Tự Do, vì tương lai của con cái . Rất mong được đón nhận những kết quả đẹp đẽ của những ai cùng đi trên chuyến tàu trên. Mọi liên lạc xin gửi về cho người viết:
· PO Box 888, La Jolla, Ca 92088. Đt : (858) 484-9193.
· E Mail tphan2@san.rr.com
Bài viết có thể viết bằng tiếng Việt hay tiếng Anh. Nếu không có gì trở ngại, cuốn bút ký di tản của tác giả và những gương thành công của con cái chúng ta di tản trên Dương Vận Hạm Thị Nại, HQ 502 sẽ được xuất bản để kỷ niệm 30 năm di tản.
Phan lạc Tiếp
Mời quí-vi nghe nhạc cuối tuần
[ram]http://www.hoasontrang.us/daohung/nhac/siphu_tienem.wma[/ram]
Trinh Long Giang
[ram]http://www.hoasontrang.us/daohung/nhac/siphu_tienem.wma[/ram]
Trinh Long Giang
40 lần Quân Lực: Một cựu chiến binh viết cho đời lính
Giao Chỉ – San Jose 2006
Tôi đã từng đọc biết bao lần về lịch sử Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Mỗi lần đọc là một lần khắc khoải, nhưng rồi bụng lại bảo dạ, thôi không than thở nữa. Cho đến lần này vào dịp 40 lần Quân Lực 19 tháng 6 năm 2006, xin gửi đến các chiến hữu một chút tâm sự.
Cũng như quý vị, chúng tôi không thích cái ý nghĩa nguyên thủy của Ngày Quân Lực mà ông thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đã khoe rằng, ông là cha đẻ. Chẳng phải bây giờ mới nói ra cái chuyện cũ kỹ đó, chúng tôi đã từng viết ra cảm nghĩ ray rứt ngay từ 40 năm về trước.
Số là ngày xưa, ngay sau khi đảo chính ông Diệm, tôi là sĩ quan đại diện Quân Khu I từ miền Đông lên họp Tổng Tham Mưu về đề tài đi tìm một ngày ghi dấu cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Anh em trong ủy ban các cấp ngồi bàn thảo. Lấy biết bao nhiêu ngày tháng lịch sử từ Bắc vào Nam, từ 1950 đến 1965 để đưa ra lựa chọn.
Suốt cả chiều dài của lịch sử đều là những ngày tháng có liên quan đến việc hình thành quân đội quốc gia, nhưng chẳng chọn được ngày nào cho trọn vẹn ý nghĩa. Cái đắng cay của vấn đề là giai đoạn trước di cư 54, nghị định văn thư và hồ sơ thành lập đơn vị Việt Nam đều bằng tiếng Pháp và từ Bộ Tư Lệnh Quân Đội Viễn Chinh đưa xuống. Lệnh cho thành lập các BVN gọi là các tiểu đoàn Việt Nam cũng bằng Pháp văn. Lệnh cho Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù Việt Nam vào Điện Biên Phủ cũng do tướng Pháp ký. Tiểu đoàn trưởng cũng là người Pháp.
Tìm đọc lịch sử Quân Đội Quốc Gia trước thời 1954, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Sài Gòn chưa tìm được một ngày cho đủ ý nghĩa của Quân Lực. Sau 1954 thì cũng có một số ngày tháng được trình lên để duyệt xét. Bản phúc trình có ghi lại một số dữ kiện mà ký ức mòn mỏi của tôi còn hình dung được một vài chi tiết như sau:
Thời kỳ 46 – 47, quân đội Liên Hiệp Pháp bắt đầu tuyển mộ tân binh Việt Nam, các đơn vị bổ túc ra đời, các đại đội nhảy dù lính Việt do sĩ quan Pháp chỉ huy. Hiệp ước Hạ Long ngày 6 tháng 6-1948, vua Bảo Đại nhân danh Quốc Trưởng ký với Pháp có điều khoản thành lập Quân Đội Quốc Gia.
Ngày 1 tháng 6-1949, khóa sĩ quan Việt Nam đầu tiên mở ra tại Huế. Bốn tiểu đoàn Việt Nam thành lập. Trong Nam là tiểu đoàn 1 Bạc Liêu và tiểu đoàn 3 Rạch Giá. Ngoài Bắc, tiểu đoàn 2 Thái Bình và tiểu đoàn 4 Hưng Yên. Tiểu khu Hưng Yên ngày đó là thời kỳ các sĩ quan trẻ gặp nhau. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu, trung úy Cao Văn Viên và đại úy Trần Thiện Khiêm. Sau này trở thành tổng thống, thủ tướng và đại tướng tổng tham mưu trưởng. Đến khi tập hợp vào miền Nam, Quân Đội Quốc Gia gia tăng dần lên 60,000 quân nhưng chưa có được một ngày quân lực mang ý nghĩa rõ ràng.
Phía chính phủ trước đó thì đã có ngày Quốc Khánh 26 tháng 10 tổ chức duyệt binh hàng năm ghi dấu Đệ Nhất Cộng Hòa của tổng thống Ngô Đình Diệm.
Sau đó là đến thời kỳ đảo chính và những năm xáo trộn giữa các tướng lãnh với cả chục lần binh biến. Tuy nhiên, sau cùng miền Nam đã gượng gạo nhận ngày cách mạng 1 tháng 11 làm ngày Quốc Khánh mới.
Tiếp theo, với sức ép của Hoa Kỳ và đòi hỏi của dân chúng, các vị tướng lãnh của thời kỳ hỗn loạn chính trị ở miền Nam đã miễn cưỡng lập ra một chính phủ dân sự tạm thời với cụ Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng và ông Phạm Huy Quát làm thủ tướng. Tuy nhiên, các vị chính khách dân sự này không đủ bản lãnh để lãnh đạo đất nước trong một hoàn cảnh rất đen tối và phức tạp. Biết bao nhiêu tranh chấp giữa các đảng phái, các tôn giáo và rất nhiều khó khăn trong hoàn cảnh chiến tranh ngày một gia tăng và Mỹ ào ạt đổ quân vào Việt Nam để chặn đứng làn sóng đỏ.
Thêm vào đó, quốc trưởng và thủ tướng lại bất đồng ý kiến nên nội các dân sự bèn tuyên bố bỏ cuộc, trao quyền lại cho các tướng lãnh. Các tướng lãnh niên trưởng của chúng ta rất vui mừng họp bàn để nhảy ra chính trường gọi là nhận trách nhiệm lịch sử. Một cách hết sức khách sáo, các xếp vẫn nói là muốn rửa tay chính trị, không ham quyền lực nhưng tình thế bắt buộc phải ra nhận lãnh. Nhân danh quân đội, các đàn anh niên trưởng của chúng tôi vẫn đeo sao trên cổ áo, ngồi hội nghị tranh cãi suốt ba ngày, đưa ông Thiệu, ông Kỳ ra cai trị đất nước gọi là ngày quân đội đứng lên làm lịch sử 19 tháng 6-1965.
Tôi còn nhớ, hôm đó tôi ngồi trên máy bay vận tải C130 của Hoa Kỳ bay từ Sông Bé về Sài Gòn. Chuyện như đùa mà là sự thật. Một viên đạn lẻ loi của địch dưới đất bắn lên lúc phi cơ mới cất cánh, thủng sàn tàu và xuyên qua hàm anh đại úy ngồi cạnh chúng tôi. Khi phi cơ đáp khẩn cấp xuống Biên Hòa, đưa vào bệnh viện thì anh bạn qua đời.
Không bao giờ tôi quên được ngày 19 tháng 6 đó. Tình cảm chân thành với quân đội thì luôn luôn gắn bó, nhưng bảo cái ngày đó là ngày toàn quân đứng lên làm lịch sử thì thưa Thiếu Tướng, Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, việc này chỉ có các xếp làm với nhau chứ đâu có ăn nhập gì đến toàn quân. Đang nằm ở chiến hào Sông Bé mà lại đứng lên là ăn pháo địch hay là bị bắn sẻ chết ngay, chứ đứng lên làm lịch sử chỗ nào.
Với bút hiệu Lính Chiến, tôi viết báo Chính Luận của Từ Chung trên mục “Một tuần vòng chân trời quân sự.” Tôi đã đưa quan điểm như trên. An Ninh Quân Đội của Quân Khu ở Thủ Đức đã mời Thiếu tá Vũ Văn Lộc lên hỏi thăm sức khỏe.
Gặp anh bạn quen nói rằng, thôi ông ơi, ông làm ơn nghỉ viết lách cho chúng tôi nhờ. Thời ông Diệm lên thì có 26 tháng 10. Đến thời ông Minh thì 1 tháng 11. Bây giờ ông Kỳ thì chọn 19 tháng 6. Tuy nhiên, ngày đó các xếp đã chọn thì cứ coi như một hẹn ước giữa anh em mình. Bàn làm gì chuyện xa xôi cho thêm phiền. Ông thông cảm với tôi để rồi mời ông về lại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương để làm lịch sử của riêng ông. Viết lách làm gì cho rắc rối.
Đó là anh bạn đại úy An Ninh Quân Đội Thủ Đức đã nói chuyện với tôi đầu năm 1966. Năm đầu tiên có Ngày Quân Lực. Cho đến năm nay là vừa đúng 40 năm. Đúng như vậy, anh bạn cũ nhân danh An Ninh Quân Đội ngày xưa tra vấn tôi, nay đã qua đời. Nhưng lời chiến hữu nói ra vẫn còn ở lại.
Quả thật, 19 tháng 6 hàng năm đối với chúng tôi chỉ là một ngày hẹn ước để gặp nhau. Người tự nhận là khai sinh cho 19 tháng 6 là ông thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ nay đã quay lưng lại anh em. Vị chủ tịch ký giấy ban hành nghị định 19 tháng 6 là trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, nay đã trở thành người thiên cổ.
Vậy thì, nếu đã nhìn thấy những cay đắng của lịch sử như thế thì cái ý nghĩa của ngày 19 tháng 6 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nằm ở chỗ nào.
Từ 40 năm trước, tôi đã bình phẩm về sự lựa chọn của ông tướng tàu bay có vẻ chơi ép anh em. Ngày ông xuất chính ra làm quan thủ tướng mà bảo rằng toàn quân phải nhớ mãi về sau thì nghe sao lọt tai.
Nghĩ như thế mà sao mỗi năm đến 19 tháng 6 vẫn thấy lòng rung động. Kỷ niệm 19 tháng 6 lần thứ nhất vào năm 1966 làm trong Bộ Tổng Tham Mưu. Năm sau 1967, duyệt binh lớn ở đường Trần Hưng Đạo.
Rồi từ đó mỗi năm là có Ngày Quân Lực. Lúc làm quy mô, lúc thì thu hẹp. Cho đến năm 1973, sau khi vừa ký hiệp định Paris thì Tổng Tham Mưu tổ chức một cuộc duyệt binh vĩ đại đã được ghi vào bộ hình lịch sử ngày nay vẫn còn có dịp coi lại trên DVD.
Năm đó chúng tôi tham dự trong ủy ban tổ chức tại Bộ Tổng Tham Mưu. Xin nhắc lại một vài kỷ niệm đáng ghi nhớ.
Trước đó một tuần, anh hùng quân đội từ các đơn vị được chào đón tại thủ đô, dẫn đi thăm các danh lam thắng cảnh và các công xưởng quân đội. Các đoàn thể và thương gia khoản đãi đại tiệc suốt tuần. Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và phái đoàn chính phủ lên làm lễ tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.
Khu Nghĩa Trang Quân Đội vào đầu tháng 6-1973 đã là nơi yên nghỉ gần 15 ngàn chiến sĩ, chiếm một nửa toàn thể khu vực dự trù cho 30 ngàn phần mộ. Các trận đánh khốc liệt từ 1968 Mậu Thân đến 1972 Mùa Hè Đỏ Lửa đều có đại diện Hải Lục Không Quân về nằm dưới lòng đất lạnh.
Tiếp theo ngày 19 tháng 6-1973, các đơn vị Hải Lục, Không Quân, các quân đoàn, các binh chủng, địa phương quân, nhân dân tự vệ, xây dựng nông thôn, thiếu sinh quân và nữ quân nhân đều có mặt tham dự một cuộc diễn hành lịch sử được coi là xuất sắc nhất. Và cũng thật đau thương, đây là cuộc diễn hành cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Đoạn phim được dân Hà Nội coi lén sau 1975 hết sức trầm trồ là đoàn diễn hành nữ quân nhân. Nhịp bước quân hành của các thiếu nữ trong quân phục đã làm cho rung động cô sinh viên văn khoa Nông Thị Thanh Nga. Sau khi xem diễn hành ở đường Trần Hưng Đạo, cô ghi tên vào học niên khóa 1973 – 1974 để sau này ra trường trở thành thiếu úy huấn luyện viên cho đến lúc tan hàng tháng 4-1975.
Ngày nay cô thiếu úy của quân đội Sài Gòn trở thành quả phụ bán hàng rong ở vỉa hè chợ Tân Định. Hàng năm đem vàng hương lên Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa nhớ về ngày 19 tháng 6.
Nhưng bây giờ chúng ta hãy trở lại với Ngày Quân Lực năm 1973. Sau buổi diễn hành, tổng thống đãi tiệc buổi trưa các anh hùng quân đội tại Dinh Độc Lập. Buổi chiều thủ tướng khánh thành khu triển lãm của Hải Lục Không Quân và các công xưởng tiếp vận.
Buổi tối là cuộc rước đuốc và xe hoa. Hàng ngàn ngọn đuốc sáng rực đô thành Sài Gòn hoa lệ tưởng chừng như hòn ngọc viễn đông sẽ vĩnh viễn sống mãi với Việt Nam Cộng Hòa. Cùng buổi tối, đại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng tiếp tân tại Bộ Tổng Tham Mưu. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, phó tổng thống Trần Văn Hương, thủ tướng Trần Thiện Khiêm, toàn thể nội các, ngoại giao đoàn, phái đoàn quốc hội và các anh hùng quân đội tham dự đêm văn nghệ của biệt đoàn trung ương.
Ngày vui quân lực của cả một thời xưa xa cách 40 năm tưởng chừng như mới hôm qua.
Bây giờ năm 2006 đã trải qua 40 năm quân lực. Nếu ngày 19 tháng 6-1975, đất nước mà còn giữ được thì Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa sẽ có lễ khánh thành đợt sau cùng với Nghĩa Dũng Đài hoàn tất cao ngất từng không, rực rỡ hàng đèn hai bên lối đi. Khu mộ chí tướng lãnh nằm ở vòng trong, rồi đến sĩ quan các cấp và hàng binh sĩ.
Vành khăn tang đã khắc lên các chiến tích anh hùng một thuở. Ba chục ngàn ngôi mộ dành riêng cho đến ngày 30 tháng 4 đã lấp đầy 16 ngàn tử sĩ. Tính đến năm 2006, các gia đình đã cải táng di chuyển lối 8,000 và vẫn còn lối 8,000 ngôi mộ với cỏ gai lấp đầy lối vào.
Ngày 19 tháng 6 năm nay 2006, chỉ còn một số thương phế binh Biệt Khu Thủ Đô lên tảo mộ chui, được đến đâu hay đến đó. Các di vật của Liên Đội Chung Sự và của quân lực đã thu về Viện Bảo Tàng tại San Jose.
Nhân dịp này, xin kể câu chuyện sau cùng để quý vị nghe về chuyện người lính già đến thăm Viện Bảo Tàng vào tuần lễ của Quân Lực lần thứ 40.
Đầu tháng 6-2006, chúng tôi có hai người khách lạ đến thăm. Đúng là hai bố con ông cựu chiến binh. Người cha là trung úy Huỳnh Kim Quang, gần 68 tuổi đi với cô con gái Amy Kim Huỳnh. Cháu cho biết năm nay 24 tuổi.
Mới vừa gặp chúng tôi là ông cựu chiến sĩ Kim Quang gốc Rạch Giá nói chuyện ồn ào. Ông mặc quần áo như dân lao động không nhà, nói lớn tiếng nhưng hơi lộn xộn. Phải thật kiên nhẫn và chú tâm mới hiểu được câu chuyện của người lính già Thủ Đức một thời được biệt phái về dạy hoc. Ông vẫn yêu quân đội nên bắt con chở từ Orange County lên San Jose xem Viện Bảo Tàng.
Ông có mấy món đồ cũ nên cố đi tìm được bà trung tá Hạnh Nhơn giới thiệu để đem đến tặng cho chúng tôi. Ông nói rất lung tung, lãng đãng và không thèm nghe người đối thoại. Chờ một lúc ông mệt nghỉ, chúng tôi quay qua cô con gái rất xinh đẹp từ lâu vẫn ngồi bình tĩnh xem cha nói chuyện với thiên hạ.
Nhờ hỏi chuyện đứa con, chúng tôi mới biết ông Quang hoàn toàn điếc 100% nên không thể đối thoại. Hai vợ chồng quê ở miền Tây có 3 con trai. Vì chỉ là cấp úy biệt phái nên ông đi cải tạo hơn một năm rồi về vượt biên rất sớm. Định cư ở Arizona, hai vợ chồng tần tảo làm việc chân tay sanh thêm được một đứa con gái là Amy. Mẹ cháu chết được 4 năm, gia đình dọn về Orange County.
Amy Kim Huỳnh có lẽ là đứa con gái hiếu thảo nhất của người cựu chiến binh Huỳnh Kim Quang mà chúng tôi biết được. Cháu nói được Việt ngữ do người mẹ truyền lại. Hoàn toàn tự túc trong những năm đại học. Từ khu nội trú của đại học, mỗi tuần em về chở ông già mất vợ đi chợ. Mấy đứa con trai thì đã có gia đình riêng phải lo. Tất cả chỉ còn chờ Amy Kim.
Hè năm nay, cháu Kim vừa hoàn tất 4 năm đại học sẽ học thêm lên chương trình cao học. Được nghỉ mấy ngày con gái hỏi bố muốn con chở đi đâu. Bố con giao thiệp bằng bút đàm Anh ngữ. Bố Kim Quang chợt nhớ về quân đội bèn yêu cầu con chở lên San Jose xem Viện Bảo Tàng. Đứa con gái rất lo ngại nhưng rồi cũng phải theo ý bố.
Ôi cái phòng triển lãm góc đường Park của chúng tôi mời chào bao nhiêu chiến sĩ anh hùng ở San Jose chẳng anh nào thèm đến coi, bây giờ lại có ông lính giáo chức biệt phái, tai điếc đặc đòi con gái lái xe nửa ngày đường đến thăm viếng.
Cháu Amy chưa bao giờ nghe đến IRCC và Viện Bảo Tàng VNCH là cái gì. Hai mưới bốn năm sinh ra và trưởng thành ở Arizona nào đâu biết chuyện Việt Nam. Bố bắt con gái thuê một cái xe Van thật lớn, đem tất cả đồ đạc bỏ lên xe dù là chỉ đi có mấy ngày. Con gái nói là bố cháu không yên tâm để đồ đạc tại cái Apartment Housing một phòng ở Santa Ana.
Thuê xong xe mất hết buổi sáng, cháu lên đường buổi trưa. Amy chưa từng đi xa trên Freeway, chưa từng đi San Jose nhưng rồi cũng tìm đến IRCC thì đã 6 giờ chiều. Cha con tìm Motel nghỉ qua đêm. Sáng đến IRCC quá sớm, cũng chưa ai mở cửa. Ông bố bèn viết lệnh xuống mấy chữ Golden Gate. Con gái lại chở bố đi San Francisco. Hai bố con đi thăm thành phố nổi danh của miền viễn Tây, chiều về kẹt xe tìm đến IRCC lại gần 7 giờ. Bố giận con không thèm nói chuyện. Con gái viết xuống mấy chữ giãi bày, bố vất đi không đọc.
Sáng sớm hôm sau, khi chúng tôi đến sở thì đã thấy hai cha con ông khách lạ ngồi chờ từ bao giờ.
Nghe hết câu chuyện đầu đuôi, tôi hết sức thương cảm. Câu chuyện rất tầm thường về một đứa con gái sinh tại Hoa Kỳ mà vẫn còn tình thương với ông bố cựu chiến binh tỵ nạn, với ước mong lẩm cẩm đòi đi cả vạn dặm đường thăm hình ảnh của chiến trường xưa.
Tôi nói với cháu rằng, bố của con xem chừng hơi bất thường. Cô gái Việt Nam bình tĩnh trả lời là không, bố cháu rất OK. Chỉ vì quá nhớ những kỷ niệm xưa nên tinh thần không ổn định.
Hỏi rằng, nhân ngày Fathers Day cháu muốn nói với cha điều gì thì nói đi. Cô sinh viên mới ra trường quay lại nói với bố rằng, con muốn bố có ngày Fathers Day vui vẻ, có chuyến đi thăm Viện Bảo Tàng thật vui.
Đứa con lên tiếng, ông bố nhe răng cười vì không nghe được nên ông đọc mấy vần thơ hết sức lạc đề. Lại nói cháu viết xuống đi. Cháu Amy viết xuống đưa cho bố đọc. Ông lính cũ liếc qua tờ giấy rồi tiếp tục đọc nốt vần thơ.
Cô gái nhỏ nói với tôi, bác viết cho ba con mấy chữ bằng tiếng Việt. Bảo ba đừng giận con nữa vì hôm qua con đi lạc nên đến đây trễ, Bảo Tàng Viện đóng cửa rồi.
Tôi viết mấy hàng chữ Việt ngữ cho người bố. Ông đọc xong mỉm cười.
Tôi dẫn hai cha con thăm một vòng chỗ triển lãm Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Như vậy là ngày 19 tháng 6 lần thứ 40 năm. Tổng thống, thủ tướng và ông tổng tham mưu trưởng cũng không hiện diện. Chỉ còn mình tôi đại diện Bộ Tổng Tham Mưu tiếp phái đoàn khách quý. Người lính cũ chỉ là sĩ quan biệt phái, tai điếc mà đầu óc đã phiêu bồng lãng đãng tìm về quân lực. Đứa con Việt Nam sinh ở Arizona học nói Việt ngữ qua lời ru của bà mẹ đã qua đời. Chở người cha ngơ ngẩn đi tìm chiến hữu.
Trước khi về, ông trung úy Quang Rạch Giá hỏi thăm tôi về đại tá Anh Việt Trần Văn Trọng, vốn là người chiến hữu đồng hương. Tôi nói rằng bác Trọng hiện đang nằm nhà thương khu trọng bệnh không thăm viếng được. Trung úy Quang nói rằng, như vậy thì để kỳ tới ông bắt con gái chở lên thăm. Tôi gật đầu nhưng biết trước rằng với bác Trọng và ông Quang thì e rằng sẽ không có lần sau.
Từ giã Viện Bảo Tàng dang dở, hai bố con lên xe trở về miền Nam.
Trên chiếc xe thuê phía sau chở đầy quần áo cũ, phía trước có tờ giấy chữ của con gái hỏi bố, qua hình thức bút đàm bằng Anh ngữ. “Bố ơi, bây giờ bố muốn đi đâu?”
Xin các bạn cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa hãy trả lời cho cháu Amy. Bây giờ các bác muốn đi đâu?
Ngày Quân Lực 40 năm sau mà chúng ta vẫn còn thấy được đứa con gái chăm sóc cho bố già cô đơn như vậy thì thực là quý hóa biết chừng nào.
Giao Chỉ – San Jose 2006
Giao Chỉ – San Jose 2006
Tôi đã từng đọc biết bao lần về lịch sử Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Mỗi lần đọc là một lần khắc khoải, nhưng rồi bụng lại bảo dạ, thôi không than thở nữa. Cho đến lần này vào dịp 40 lần Quân Lực 19 tháng 6 năm 2006, xin gửi đến các chiến hữu một chút tâm sự.
Cũng như quý vị, chúng tôi không thích cái ý nghĩa nguyên thủy của Ngày Quân Lực mà ông thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đã khoe rằng, ông là cha đẻ. Chẳng phải bây giờ mới nói ra cái chuyện cũ kỹ đó, chúng tôi đã từng viết ra cảm nghĩ ray rứt ngay từ 40 năm về trước.
Số là ngày xưa, ngay sau khi đảo chính ông Diệm, tôi là sĩ quan đại diện Quân Khu I từ miền Đông lên họp Tổng Tham Mưu về đề tài đi tìm một ngày ghi dấu cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Anh em trong ủy ban các cấp ngồi bàn thảo. Lấy biết bao nhiêu ngày tháng lịch sử từ Bắc vào Nam, từ 1950 đến 1965 để đưa ra lựa chọn.
Suốt cả chiều dài của lịch sử đều là những ngày tháng có liên quan đến việc hình thành quân đội quốc gia, nhưng chẳng chọn được ngày nào cho trọn vẹn ý nghĩa. Cái đắng cay của vấn đề là giai đoạn trước di cư 54, nghị định văn thư và hồ sơ thành lập đơn vị Việt Nam đều bằng tiếng Pháp và từ Bộ Tư Lệnh Quân Đội Viễn Chinh đưa xuống. Lệnh cho thành lập các BVN gọi là các tiểu đoàn Việt Nam cũng bằng Pháp văn. Lệnh cho Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù Việt Nam vào Điện Biên Phủ cũng do tướng Pháp ký. Tiểu đoàn trưởng cũng là người Pháp.
Tìm đọc lịch sử Quân Đội Quốc Gia trước thời 1954, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Sài Gòn chưa tìm được một ngày cho đủ ý nghĩa của Quân Lực. Sau 1954 thì cũng có một số ngày tháng được trình lên để duyệt xét. Bản phúc trình có ghi lại một số dữ kiện mà ký ức mòn mỏi của tôi còn hình dung được một vài chi tiết như sau:
Thời kỳ 46 – 47, quân đội Liên Hiệp Pháp bắt đầu tuyển mộ tân binh Việt Nam, các đơn vị bổ túc ra đời, các đại đội nhảy dù lính Việt do sĩ quan Pháp chỉ huy. Hiệp ước Hạ Long ngày 6 tháng 6-1948, vua Bảo Đại nhân danh Quốc Trưởng ký với Pháp có điều khoản thành lập Quân Đội Quốc Gia.
Ngày 1 tháng 6-1949, khóa sĩ quan Việt Nam đầu tiên mở ra tại Huế. Bốn tiểu đoàn Việt Nam thành lập. Trong Nam là tiểu đoàn 1 Bạc Liêu và tiểu đoàn 3 Rạch Giá. Ngoài Bắc, tiểu đoàn 2 Thái Bình và tiểu đoàn 4 Hưng Yên. Tiểu khu Hưng Yên ngày đó là thời kỳ các sĩ quan trẻ gặp nhau. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu, trung úy Cao Văn Viên và đại úy Trần Thiện Khiêm. Sau này trở thành tổng thống, thủ tướng và đại tướng tổng tham mưu trưởng. Đến khi tập hợp vào miền Nam, Quân Đội Quốc Gia gia tăng dần lên 60,000 quân nhưng chưa có được một ngày quân lực mang ý nghĩa rõ ràng.
Phía chính phủ trước đó thì đã có ngày Quốc Khánh 26 tháng 10 tổ chức duyệt binh hàng năm ghi dấu Đệ Nhất Cộng Hòa của tổng thống Ngô Đình Diệm.
Sau đó là đến thời kỳ đảo chính và những năm xáo trộn giữa các tướng lãnh với cả chục lần binh biến. Tuy nhiên, sau cùng miền Nam đã gượng gạo nhận ngày cách mạng 1 tháng 11 làm ngày Quốc Khánh mới.
Tiếp theo, với sức ép của Hoa Kỳ và đòi hỏi của dân chúng, các vị tướng lãnh của thời kỳ hỗn loạn chính trị ở miền Nam đã miễn cưỡng lập ra một chính phủ dân sự tạm thời với cụ Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng và ông Phạm Huy Quát làm thủ tướng. Tuy nhiên, các vị chính khách dân sự này không đủ bản lãnh để lãnh đạo đất nước trong một hoàn cảnh rất đen tối và phức tạp. Biết bao nhiêu tranh chấp giữa các đảng phái, các tôn giáo và rất nhiều khó khăn trong hoàn cảnh chiến tranh ngày một gia tăng và Mỹ ào ạt đổ quân vào Việt Nam để chặn đứng làn sóng đỏ.
Thêm vào đó, quốc trưởng và thủ tướng lại bất đồng ý kiến nên nội các dân sự bèn tuyên bố bỏ cuộc, trao quyền lại cho các tướng lãnh. Các tướng lãnh niên trưởng của chúng ta rất vui mừng họp bàn để nhảy ra chính trường gọi là nhận trách nhiệm lịch sử. Một cách hết sức khách sáo, các xếp vẫn nói là muốn rửa tay chính trị, không ham quyền lực nhưng tình thế bắt buộc phải ra nhận lãnh. Nhân danh quân đội, các đàn anh niên trưởng của chúng tôi vẫn đeo sao trên cổ áo, ngồi hội nghị tranh cãi suốt ba ngày, đưa ông Thiệu, ông Kỳ ra cai trị đất nước gọi là ngày quân đội đứng lên làm lịch sử 19 tháng 6-1965.
Tôi còn nhớ, hôm đó tôi ngồi trên máy bay vận tải C130 của Hoa Kỳ bay từ Sông Bé về Sài Gòn. Chuyện như đùa mà là sự thật. Một viên đạn lẻ loi của địch dưới đất bắn lên lúc phi cơ mới cất cánh, thủng sàn tàu và xuyên qua hàm anh đại úy ngồi cạnh chúng tôi. Khi phi cơ đáp khẩn cấp xuống Biên Hòa, đưa vào bệnh viện thì anh bạn qua đời.
Không bao giờ tôi quên được ngày 19 tháng 6 đó. Tình cảm chân thành với quân đội thì luôn luôn gắn bó, nhưng bảo cái ngày đó là ngày toàn quân đứng lên làm lịch sử thì thưa Thiếu Tướng, Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, việc này chỉ có các xếp làm với nhau chứ đâu có ăn nhập gì đến toàn quân. Đang nằm ở chiến hào Sông Bé mà lại đứng lên là ăn pháo địch hay là bị bắn sẻ chết ngay, chứ đứng lên làm lịch sử chỗ nào.
Với bút hiệu Lính Chiến, tôi viết báo Chính Luận của Từ Chung trên mục “Một tuần vòng chân trời quân sự.” Tôi đã đưa quan điểm như trên. An Ninh Quân Đội của Quân Khu ở Thủ Đức đã mời Thiếu tá Vũ Văn Lộc lên hỏi thăm sức khỏe.
Gặp anh bạn quen nói rằng, thôi ông ơi, ông làm ơn nghỉ viết lách cho chúng tôi nhờ. Thời ông Diệm lên thì có 26 tháng 10. Đến thời ông Minh thì 1 tháng 11. Bây giờ ông Kỳ thì chọn 19 tháng 6. Tuy nhiên, ngày đó các xếp đã chọn thì cứ coi như một hẹn ước giữa anh em mình. Bàn làm gì chuyện xa xôi cho thêm phiền. Ông thông cảm với tôi để rồi mời ông về lại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương để làm lịch sử của riêng ông. Viết lách làm gì cho rắc rối.
Đó là anh bạn đại úy An Ninh Quân Đội Thủ Đức đã nói chuyện với tôi đầu năm 1966. Năm đầu tiên có Ngày Quân Lực. Cho đến năm nay là vừa đúng 40 năm. Đúng như vậy, anh bạn cũ nhân danh An Ninh Quân Đội ngày xưa tra vấn tôi, nay đã qua đời. Nhưng lời chiến hữu nói ra vẫn còn ở lại.
Quả thật, 19 tháng 6 hàng năm đối với chúng tôi chỉ là một ngày hẹn ước để gặp nhau. Người tự nhận là khai sinh cho 19 tháng 6 là ông thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ nay đã quay lưng lại anh em. Vị chủ tịch ký giấy ban hành nghị định 19 tháng 6 là trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, nay đã trở thành người thiên cổ.
Vậy thì, nếu đã nhìn thấy những cay đắng của lịch sử như thế thì cái ý nghĩa của ngày 19 tháng 6 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nằm ở chỗ nào.
Từ 40 năm trước, tôi đã bình phẩm về sự lựa chọn của ông tướng tàu bay có vẻ chơi ép anh em. Ngày ông xuất chính ra làm quan thủ tướng mà bảo rằng toàn quân phải nhớ mãi về sau thì nghe sao lọt tai.
Nghĩ như thế mà sao mỗi năm đến 19 tháng 6 vẫn thấy lòng rung động. Kỷ niệm 19 tháng 6 lần thứ nhất vào năm 1966 làm trong Bộ Tổng Tham Mưu. Năm sau 1967, duyệt binh lớn ở đường Trần Hưng Đạo.
Rồi từ đó mỗi năm là có Ngày Quân Lực. Lúc làm quy mô, lúc thì thu hẹp. Cho đến năm 1973, sau khi vừa ký hiệp định Paris thì Tổng Tham Mưu tổ chức một cuộc duyệt binh vĩ đại đã được ghi vào bộ hình lịch sử ngày nay vẫn còn có dịp coi lại trên DVD.
Năm đó chúng tôi tham dự trong ủy ban tổ chức tại Bộ Tổng Tham Mưu. Xin nhắc lại một vài kỷ niệm đáng ghi nhớ.
Trước đó một tuần, anh hùng quân đội từ các đơn vị được chào đón tại thủ đô, dẫn đi thăm các danh lam thắng cảnh và các công xưởng quân đội. Các đoàn thể và thương gia khoản đãi đại tiệc suốt tuần. Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và phái đoàn chính phủ lên làm lễ tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.
Khu Nghĩa Trang Quân Đội vào đầu tháng 6-1973 đã là nơi yên nghỉ gần 15 ngàn chiến sĩ, chiếm một nửa toàn thể khu vực dự trù cho 30 ngàn phần mộ. Các trận đánh khốc liệt từ 1968 Mậu Thân đến 1972 Mùa Hè Đỏ Lửa đều có đại diện Hải Lục Không Quân về nằm dưới lòng đất lạnh.
Tiếp theo ngày 19 tháng 6-1973, các đơn vị Hải Lục, Không Quân, các quân đoàn, các binh chủng, địa phương quân, nhân dân tự vệ, xây dựng nông thôn, thiếu sinh quân và nữ quân nhân đều có mặt tham dự một cuộc diễn hành lịch sử được coi là xuất sắc nhất. Và cũng thật đau thương, đây là cuộc diễn hành cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Đoạn phim được dân Hà Nội coi lén sau 1975 hết sức trầm trồ là đoàn diễn hành nữ quân nhân. Nhịp bước quân hành của các thiếu nữ trong quân phục đã làm cho rung động cô sinh viên văn khoa Nông Thị Thanh Nga. Sau khi xem diễn hành ở đường Trần Hưng Đạo, cô ghi tên vào học niên khóa 1973 – 1974 để sau này ra trường trở thành thiếu úy huấn luyện viên cho đến lúc tan hàng tháng 4-1975.
Ngày nay cô thiếu úy của quân đội Sài Gòn trở thành quả phụ bán hàng rong ở vỉa hè chợ Tân Định. Hàng năm đem vàng hương lên Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa nhớ về ngày 19 tháng 6.
Nhưng bây giờ chúng ta hãy trở lại với Ngày Quân Lực năm 1973. Sau buổi diễn hành, tổng thống đãi tiệc buổi trưa các anh hùng quân đội tại Dinh Độc Lập. Buổi chiều thủ tướng khánh thành khu triển lãm của Hải Lục Không Quân và các công xưởng tiếp vận.
Buổi tối là cuộc rước đuốc và xe hoa. Hàng ngàn ngọn đuốc sáng rực đô thành Sài Gòn hoa lệ tưởng chừng như hòn ngọc viễn đông sẽ vĩnh viễn sống mãi với Việt Nam Cộng Hòa. Cùng buổi tối, đại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng tiếp tân tại Bộ Tổng Tham Mưu. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, phó tổng thống Trần Văn Hương, thủ tướng Trần Thiện Khiêm, toàn thể nội các, ngoại giao đoàn, phái đoàn quốc hội và các anh hùng quân đội tham dự đêm văn nghệ của biệt đoàn trung ương.
Ngày vui quân lực của cả một thời xưa xa cách 40 năm tưởng chừng như mới hôm qua.
Bây giờ năm 2006 đã trải qua 40 năm quân lực. Nếu ngày 19 tháng 6-1975, đất nước mà còn giữ được thì Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa sẽ có lễ khánh thành đợt sau cùng với Nghĩa Dũng Đài hoàn tất cao ngất từng không, rực rỡ hàng đèn hai bên lối đi. Khu mộ chí tướng lãnh nằm ở vòng trong, rồi đến sĩ quan các cấp và hàng binh sĩ.
Vành khăn tang đã khắc lên các chiến tích anh hùng một thuở. Ba chục ngàn ngôi mộ dành riêng cho đến ngày 30 tháng 4 đã lấp đầy 16 ngàn tử sĩ. Tính đến năm 2006, các gia đình đã cải táng di chuyển lối 8,000 và vẫn còn lối 8,000 ngôi mộ với cỏ gai lấp đầy lối vào.
Ngày 19 tháng 6 năm nay 2006, chỉ còn một số thương phế binh Biệt Khu Thủ Đô lên tảo mộ chui, được đến đâu hay đến đó. Các di vật của Liên Đội Chung Sự và của quân lực đã thu về Viện Bảo Tàng tại San Jose.
Nhân dịp này, xin kể câu chuyện sau cùng để quý vị nghe về chuyện người lính già đến thăm Viện Bảo Tàng vào tuần lễ của Quân Lực lần thứ 40.
Đầu tháng 6-2006, chúng tôi có hai người khách lạ đến thăm. Đúng là hai bố con ông cựu chiến binh. Người cha là trung úy Huỳnh Kim Quang, gần 68 tuổi đi với cô con gái Amy Kim Huỳnh. Cháu cho biết năm nay 24 tuổi.
Mới vừa gặp chúng tôi là ông cựu chiến sĩ Kim Quang gốc Rạch Giá nói chuyện ồn ào. Ông mặc quần áo như dân lao động không nhà, nói lớn tiếng nhưng hơi lộn xộn. Phải thật kiên nhẫn và chú tâm mới hiểu được câu chuyện của người lính già Thủ Đức một thời được biệt phái về dạy hoc. Ông vẫn yêu quân đội nên bắt con chở từ Orange County lên San Jose xem Viện Bảo Tàng.
Ông có mấy món đồ cũ nên cố đi tìm được bà trung tá Hạnh Nhơn giới thiệu để đem đến tặng cho chúng tôi. Ông nói rất lung tung, lãng đãng và không thèm nghe người đối thoại. Chờ một lúc ông mệt nghỉ, chúng tôi quay qua cô con gái rất xinh đẹp từ lâu vẫn ngồi bình tĩnh xem cha nói chuyện với thiên hạ.
Nhờ hỏi chuyện đứa con, chúng tôi mới biết ông Quang hoàn toàn điếc 100% nên không thể đối thoại. Hai vợ chồng quê ở miền Tây có 3 con trai. Vì chỉ là cấp úy biệt phái nên ông đi cải tạo hơn một năm rồi về vượt biên rất sớm. Định cư ở Arizona, hai vợ chồng tần tảo làm việc chân tay sanh thêm được một đứa con gái là Amy. Mẹ cháu chết được 4 năm, gia đình dọn về Orange County.
Amy Kim Huỳnh có lẽ là đứa con gái hiếu thảo nhất của người cựu chiến binh Huỳnh Kim Quang mà chúng tôi biết được. Cháu nói được Việt ngữ do người mẹ truyền lại. Hoàn toàn tự túc trong những năm đại học. Từ khu nội trú của đại học, mỗi tuần em về chở ông già mất vợ đi chợ. Mấy đứa con trai thì đã có gia đình riêng phải lo. Tất cả chỉ còn chờ Amy Kim.
Hè năm nay, cháu Kim vừa hoàn tất 4 năm đại học sẽ học thêm lên chương trình cao học. Được nghỉ mấy ngày con gái hỏi bố muốn con chở đi đâu. Bố con giao thiệp bằng bút đàm Anh ngữ. Bố Kim Quang chợt nhớ về quân đội bèn yêu cầu con chở lên San Jose xem Viện Bảo Tàng. Đứa con gái rất lo ngại nhưng rồi cũng phải theo ý bố.
Ôi cái phòng triển lãm góc đường Park của chúng tôi mời chào bao nhiêu chiến sĩ anh hùng ở San Jose chẳng anh nào thèm đến coi, bây giờ lại có ông lính giáo chức biệt phái, tai điếc đặc đòi con gái lái xe nửa ngày đường đến thăm viếng.
Cháu Amy chưa bao giờ nghe đến IRCC và Viện Bảo Tàng VNCH là cái gì. Hai mưới bốn năm sinh ra và trưởng thành ở Arizona nào đâu biết chuyện Việt Nam. Bố bắt con gái thuê một cái xe Van thật lớn, đem tất cả đồ đạc bỏ lên xe dù là chỉ đi có mấy ngày. Con gái nói là bố cháu không yên tâm để đồ đạc tại cái Apartment Housing một phòng ở Santa Ana.
Thuê xong xe mất hết buổi sáng, cháu lên đường buổi trưa. Amy chưa từng đi xa trên Freeway, chưa từng đi San Jose nhưng rồi cũng tìm đến IRCC thì đã 6 giờ chiều. Cha con tìm Motel nghỉ qua đêm. Sáng đến IRCC quá sớm, cũng chưa ai mở cửa. Ông bố bèn viết lệnh xuống mấy chữ Golden Gate. Con gái lại chở bố đi San Francisco. Hai bố con đi thăm thành phố nổi danh của miền viễn Tây, chiều về kẹt xe tìm đến IRCC lại gần 7 giờ. Bố giận con không thèm nói chuyện. Con gái viết xuống mấy chữ giãi bày, bố vất đi không đọc.
Sáng sớm hôm sau, khi chúng tôi đến sở thì đã thấy hai cha con ông khách lạ ngồi chờ từ bao giờ.
Nghe hết câu chuyện đầu đuôi, tôi hết sức thương cảm. Câu chuyện rất tầm thường về một đứa con gái sinh tại Hoa Kỳ mà vẫn còn tình thương với ông bố cựu chiến binh tỵ nạn, với ước mong lẩm cẩm đòi đi cả vạn dặm đường thăm hình ảnh của chiến trường xưa.
Tôi nói với cháu rằng, bố của con xem chừng hơi bất thường. Cô gái Việt Nam bình tĩnh trả lời là không, bố cháu rất OK. Chỉ vì quá nhớ những kỷ niệm xưa nên tinh thần không ổn định.
Hỏi rằng, nhân ngày Fathers Day cháu muốn nói với cha điều gì thì nói đi. Cô sinh viên mới ra trường quay lại nói với bố rằng, con muốn bố có ngày Fathers Day vui vẻ, có chuyến đi thăm Viện Bảo Tàng thật vui.
Đứa con lên tiếng, ông bố nhe răng cười vì không nghe được nên ông đọc mấy vần thơ hết sức lạc đề. Lại nói cháu viết xuống đi. Cháu Amy viết xuống đưa cho bố đọc. Ông lính cũ liếc qua tờ giấy rồi tiếp tục đọc nốt vần thơ.
Cô gái nhỏ nói với tôi, bác viết cho ba con mấy chữ bằng tiếng Việt. Bảo ba đừng giận con nữa vì hôm qua con đi lạc nên đến đây trễ, Bảo Tàng Viện đóng cửa rồi.
Tôi viết mấy hàng chữ Việt ngữ cho người bố. Ông đọc xong mỉm cười.
Tôi dẫn hai cha con thăm một vòng chỗ triển lãm Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Như vậy là ngày 19 tháng 6 lần thứ 40 năm. Tổng thống, thủ tướng và ông tổng tham mưu trưởng cũng không hiện diện. Chỉ còn mình tôi đại diện Bộ Tổng Tham Mưu tiếp phái đoàn khách quý. Người lính cũ chỉ là sĩ quan biệt phái, tai điếc mà đầu óc đã phiêu bồng lãng đãng tìm về quân lực. Đứa con Việt Nam sinh ở Arizona học nói Việt ngữ qua lời ru của bà mẹ đã qua đời. Chở người cha ngơ ngẩn đi tìm chiến hữu.
Trước khi về, ông trung úy Quang Rạch Giá hỏi thăm tôi về đại tá Anh Việt Trần Văn Trọng, vốn là người chiến hữu đồng hương. Tôi nói rằng bác Trọng hiện đang nằm nhà thương khu trọng bệnh không thăm viếng được. Trung úy Quang nói rằng, như vậy thì để kỳ tới ông bắt con gái chở lên thăm. Tôi gật đầu nhưng biết trước rằng với bác Trọng và ông Quang thì e rằng sẽ không có lần sau.
Từ giã Viện Bảo Tàng dang dở, hai bố con lên xe trở về miền Nam.
Trên chiếc xe thuê phía sau chở đầy quần áo cũ, phía trước có tờ giấy chữ của con gái hỏi bố, qua hình thức bút đàm bằng Anh ngữ. “Bố ơi, bây giờ bố muốn đi đâu?”
Xin các bạn cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa hãy trả lời cho cháu Amy. Bây giờ các bác muốn đi đâu?
Ngày Quân Lực 40 năm sau mà chúng ta vẫn còn thấy được đứa con gái chăm sóc cho bố già cô đơn như vậy thì thực là quý hóa biết chừng nào.
Giao Chỉ – San Jose 2006
Giải Thoát Khỏi Những Lo Sợ Của Tuổi Già
M.S. Vũ Đức Chang, D.Min.
Lời người trích đăng: M.S Vũ Đức Chang là một cựu Giáo Sư trường Hồ Ngọc Cẩn, Trung Linh, và cũng là bào huynh của anh Vũ Trung Hiền, HNC 58-65
Hơn nửa thế kỷ trước, thế hệ học sinh Hồ Ngọc Cẩn, Bùi Chu, 1951-1954, gồm toàn những thanh niên tươi trẻ, mạnh mẽ, đầy sức sống và lòng nhiệt thành. Ngày nay tât cả đều đã trên dưới bảy mươi, con cháu đùm đề. Ba mươi mốt năm qua, kể từ ngày mất nước tha hương, những cựu học sinh bên bờ sông Ninh Cơ, cùng các thành viên còn sót lại của ban giám đốc và ban giảng huấn, cũng như toàn thể người Việt Nam ở Mỹ, đều nhận thấy thật rõ ràng xã hội Hoa Kỳ nói chung quý trọng tuổi trẻ hơn tuổi già. Người dân xứ này, nhất là phụ nữ, luôn luôn nghĩ đến việc “giữ mãi lấy màu trẻ trung,” tìm đủ mọi phương thức làm đẹp, sử dụng đủ các loại mỹ phẩm tốt nhất để trẻ trung hóa nước da và nét mặt, để làm cho vầng trán và khóe mắt không nhăn, để làm đẹp hàm răng và nụ cười, v.v. Các hãng truyền tin, truyền hình, báo chí đã dành nhiều thì giờ và giấy mực quảng cáo cho việc chống lại quá trình lão hoá, giữ vẻ đẹp tươi của tuổi thanh xuân. Bị nỗi ám ảnh “giữ sao cho trẻ và đẹp,” người ta cảm thấy sợ-sệt-lo-lắng-tiếc-xót-buồn-tủi-cô-đơn khi năm tháng lạnh lùng trôi mất đi vùn vụt, tuổi già đến thật mau, và “những ngày thanh xuân đẹp đẽ vô cùng nay chỉ còn lại trong bóng mờ của dĩ vãng!”
Nhiều khi tiếc nuối lo buồn vì tuổi trẻ đã qua đi mất, chúng ta không đón nhận được những thay đổi nhiệm mầu của hành trình lão hóa trước mặt. Nhưng vẫn không muộn đâu, vì lúc nào ta cũng có thể xoay chuyển tình thế, vui đón những tặng phẩm của tuổi già, và tạo nên một căn bản tích cực cho tiến trình lão hóa.
Để giải thoát khỏi những lo sợ về tuổi già, tôi kính đề nghị chúng ta cần thay đổi quan niệm, cố gắng tìm lại niềm vui cố hữu, niềm hy vọng sáng ngời của tuổi trẻ. Ta cần vững tin rằng tuổi trời cho, dù còn lại bao lâu, vẫn có thể cống hiến cho ta đầy đủ những cơ hội mới mẻ, những dịp may tốt đẹp, cùng những thách thức tân kỳ, để giúp chúng ta sống vui, sống mạnh, sống thỏa lòng trong hồng ân của Thượng Đế. Sau đây xin mời các bạn lưu ý đến một số đề nghị hữu ích giúp ta chống đối tích cực với nỗi lo sợ về tuổi già.
1. Lão Hóa Là Quá Trình Tất Yếu Của Giác Ngộ Tâm linh.
Thái tử Tất-đạt-đa, bốn lần ra khỏi cung điện, thấy tận mắt những cảnh khổ đau của sinh, tử, lão, bệnh, và cũng thấy được vẻ mặt bình thản của một vị tu hành. Trực tiếp với thảm cảnh của tuổi già và sự chết, Ngài bỗng được sự soi sáng tâm linh, bèn xuất gia tìm đường tu luyện để tự giải thoát và chỉ đường cứu độ cho chúng sinh. Sự suy nghĩ chín chắn về tuổi già và sự chết thức tỉnh ta, nhắc nhở rằng ta có thể đạt đến một trình độ tự giác sâu xa trong tâm hồn.
Triết gia Carl Jung cho rằng trong nửa cuộc đời còn lại, trọng tâm suy tư của ta phải nên hướng về sự chết, và bất cứ sự gì lôi kéo ta khỏi chiều hướng suy tư chính đáng đó đều không lành mạnh. Xã hôi Mỹ hiện nay đã có phần lầm lạc khi muốn kéo con người xa khỏi sự suy nghĩ về tuổi già, làm cho người ta tưởng rằng chỉ có tuổi trẻ là đẹp, là đáng quý, còn tuổi già không cón gì đẹp đẽ nữa. Gốc rễ của sự lầm lạc đó chính là nỗi sợ chết, cho rằng chết là một sự huyền nhiệm lớn lao, chẳng ai hiểu nổi, nên phần đông không muốn nghĩ đến. Vì hiểu rằng chết là về với nguồn cội, trở về với Thiên Chúa, nên chúng ta vững niềm tin, tìm những nẻo đường tâm linh, hướng về tôn giáo, tu tâm dưỡng tính, trau dồi đạo đức. Muốn thắng nỗi sợ chết, cấn phải có một quan niệm đúng đắn về tuổi già.
2. Duy Trì Những Liên Hệ Tốt Đẹp, Những Giao Tình Quý Báu.
Trong tuổi già, chúng ta rất cần đến những bạn tâm tình, những bạn cố tri quý mến. Thiên Chúa cho chúng ta phước hạnh đặc biệt vì anh chị em cựu học sinh Trường Trung Học Hồ Ngọc Cẩn , Bùi Chu, hơn 50 năm trước, nay sang đất Mỹ vẫn còn liên lạc với nhau, quý mến nhau và duy trì mối liên hệ trong tình bạn, tình đồng đạo cao quý! Mỗi chúng ta hãy thường xuyên liên lạc chặt chẽ với một bạn thân, hoặc bằng điện thoại, hoặc trực tiếp đến thăm nom nều có thể. Khi biết rõ tình trạng thể xác, hoàn cảnh vật chất, và sức khỏe tâm linh, bạn và ta có thể giúp nhau khi cần. Dù hoàn cảnh khó khăn có thể làm thương tổn con người, bạn và ta sẵn có nhau để yên ủi nâng đỡ lẫn nhau. Có người bạn hiền sẵn sàng chạy đến bên cạnh, ta tìm ngay được bình an trong yên ủi thương yêu. Xin chúng ta tiếp tục trân trong bảo vệ và phát huy những mối giao tình vô cùng cao quý ấy, ngõ hầu có thể nâng đỡ khích lệ nhau trong tuổi già.
“Khá cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết,
Vì các nguồn của sự sống do nơi đó mà ra.”
(Châm Ngôn 4: 23)
Tấm lòng chính là nơi hiện hữu sâu thẳm của bản chất thánh thiện, chân thật, trong sáng, tươi mát của mọi sự trên đời. Bằng sự nguyện ngẫm, cầu nguyện, học hỏi Thánh Kinh, bằng thái độ khiêm tốn hạ mình, luôn luôn đầu phục sự dẫn dắt toàn quyền của Thần Linh Thiên Chúa, chúng ta tìm được ý nghiã đích thực của đời sống trong chuỗi ngày quý báu còn lại của tuổi già, chúng ta tìm được an bình nội tâm.
3. Cố Gắng Giữ Gìn Sức Khỏe.
Chúng ta cẩn thận trong việc ăn uống, tập thể dục, chơi môn thể thao nhẹ nhàng như bóng bàn, bóng chuyền, đi xe đạp, lưu ý dùng thuốc men đúng liều thuốc, nghỉ ngơi, giải trí, hết sức cẩn thận cho khỏi bị thương khi đứng lên ngồi xuống, khi đi bộ, lúc băng qua đường, thận trọng làm một số công việc bằng tay chân, tự làm lấy mọi việc cần thiết, cốt sao giữ cho thân thể được khỏe mạnh. Sự điều độ và tinh thần kỷ luật, cùng ý kiến của bác sĩ gia đình sẽ giúp chúng ta nhiều trong việc bảo trì sức khỏe cả thể xác lẫn tâm linh.
4 Tiếp Tục Học Hỏi.
Trong tinh thần học hỏi không ngừng, lớp ngưới già chúng ta hiện nay chính là lớp người trẻ hiếu học, rất chăm chỉ, đầy nhiệt huyết của hơn năm chục năm về trước. Và lớp người “trẻ mãi không già, tâm bất lão” ấy vẫn cứ cố gắng nghiên cứu thêm về bộ môn ưa thích, như âm nhạc, điện toán, hội họa, văn chương, triết học, khoa học, tôn giáo, và Thánh Kinh. Tâm trí lười biếng chính là một sào huyệt để quỷ dữ sẵn sàng lộng hành. Mà qủy dữ đây chính là chứng bệnh Alzheimer quái ác đang chờ dợi tấn công tâm trí biếng nhác.
5. Không Những Học Hỏi, Cũng Lưu Ý Đến Sáng Tạo.
Người già có thể dùng thì giờ viết văn, nhất là viết hồi ký, duy trì sự sáng suốt của tâm thần và não.bộ. Để rèn luyện óc sáng tạo, người già khéo tay có thể tập vẽ những bức họa, gọt dũa nhào nặn nhũng bức tượng, may, đan, thêu thùa, làm hoa giấy, trang trí bình hoa, trồng các loại cây cảnh, nhất là cây “bonsai,” sáng tác âm nhạc, làm thơ, viết thánh ca tôn vinh Thiên Chúa.
6. Tình Nguyện Phục Vụ.
Các hội đoàn, các tổ chức thiện nguyện cần đến bàn tay yêu thương của người già để (a) săn sóc thiếu nhi; (b) giúp đỡ người bị tật nguyền; (c) dạy Việt ngữ cho thanh thiêu niên; (d) thỉnh thoảng vào thăm nom những người đang buồn tủi tại các bệnh viện; (e) yên ủi các lão niên khác đang sống cô đơn tại nhà dưỡng lão, v.v. Thánh nữ Theresa nói: “Thế giới đang đói khát sự giúp đỡ và tình thương của chúng ta.” Cựu Tổng Thống Carter và phu nhân, hiện nay trong tuổi bát tuần, vẫn dành thì giờ hàng năm công tác thiện nguyện với Hội Habitat for Humanity để xây nhà cho người nghèo nhiều nơi trên thế giới. Bạn và tôi lựa chọn công tác tình nguyện, dành riêng một số giờ để phục vụ, để trở về với nguồn năng lực sinh động vô tận Thiên Chúa ban cho trong nội tâm.
7. Vui Sống Trong Hiện Tại.
Điều khó khăn nhất trên đời là sống vui với hiện tại. Thường khi niềm vui của ta bị giảm đi nhiều vì hãy còn luyền tiếc vàng son quá khứ, hay là mảng lo lắng trước những khó khăn của tương lai mờ mịt. Ta quên rằng ngày hôm qua đã qua đi mất rồi, và ngày mai chưa đến! Vì vậy ta bỏ mất những dịp may cùng những thách thức và cơ hội thuận tiện của hiện tại! Nhờ cậy hồng ân Thiên Chúa, bạn và tôi cứ sống vui trong hiện tại và cố gắng chu toàn mọi công việc, ngày nào xong cho ngày ấy, vì mỗi ngày còn lại là một tặng phẩm quý báu Thiên Chúa ban.
8. Giữ Vững Niềm Tin
Bạn đang có một niềm tin, dù bạn theo bất cứ tôn giáo nào, nhất là khi bạn tự hào với đức tin tổ phụ truyền lại, xin bạn và tôi giữ vững niềm tin quý báu ấy. Niềm tin cho chúng ta sức mạnh tâm linh và thể xác; niềm tin yên ủi thêm sức cho ta; niềm tin bảo vệ giữ gìn chúng ta bình an trong mọi hoàn cảnh; niềm tin bồi dưỡng sức khỏe và chữa lành mọi bệnh tật tâm linh cùng bệnh tật thể xác; niềm tin ban niềm vui thánh thiện cho ta vui sống cho đến ngày gặp Đấng Thượng Đế Chí Tôn khi Ngài cho về với tổ phụ. Giữ vững niềm tin:
“Ngày hôm nay là ngày của Thiên Chuá tạo dựng
Tôi vui mừng hớn hở trong ngày ấy”
(Thánh Vịnh 118: 24)
Mỗi ngày tôi sẽ hết lòng tạ ơn Thiên Chúa và vui sống cho đến ngày Thiên Chúa rước tôi về nơi vĩnh hằng an nghỉ.
9. Lưu Ý Đến Việc Để Lại Tiếng Tốt cho Con Cháu.
Lời xưa đã dạy, đại ý như sau: “Để vàng cho con cháu, con cháu vị tất đã giữ được; để sách cho con cháu, vị tất chúng đã đọc được! Duy chỉ tích đức, các mỹ đức bàng bạc, u u minh minh, sẽ ở cùng con cháu đến muôn đời.” Tổ phụ chúng ta thường dạy:
“Trâu chết để da, người chết để tiếng!”
Trong những ngày ngắn ngủi nhưng vô cùng đẹp đẽ còn lại của tuổi già, với tấm lòng tin cậy Thiên Chúa, chúng ta không lo lắng sợ hãi, nhưng chúng ta hết lòng nương nhờ hồng ân Thiên Chúa, vui sống trong niềm tin. Mỗi ngày chúng ta tiếp tục hoạt động bình thường theo chiều hướng tích cực của 10 điểm nêu trên. Chúng ta luôn luôn biết hướng về chân, thiện, mỹ; chúng ta chuyên tâm lưu ý trau dồi những mỹ đức của tuổi già. Chắc chắn chúng ta sẽ để lại cho con cháu một cơ nghiệp bền vững, một gia tài tinh thần và đạo đức, gom lại trong bốn chữ:
“Danh Thơm Tiếng Tốt.”
Thành kính cầu xin Thiên Chúa Toàn Năng ban phước lành cho bạn và tôi trong tuổi già.
M.S. Vũ Đức Chang , Tiến sĩ Mục vụ.
M.S. Vũ Đức Chang, D.Min.
Lời người trích đăng: M.S Vũ Đức Chang là một cựu Giáo Sư trường Hồ Ngọc Cẩn, Trung Linh, và cũng là bào huynh của anh Vũ Trung Hiền, HNC 58-65
Hơn nửa thế kỷ trước, thế hệ học sinh Hồ Ngọc Cẩn, Bùi Chu, 1951-1954, gồm toàn những thanh niên tươi trẻ, mạnh mẽ, đầy sức sống và lòng nhiệt thành. Ngày nay tât cả đều đã trên dưới bảy mươi, con cháu đùm đề. Ba mươi mốt năm qua, kể từ ngày mất nước tha hương, những cựu học sinh bên bờ sông Ninh Cơ, cùng các thành viên còn sót lại của ban giám đốc và ban giảng huấn, cũng như toàn thể người Việt Nam ở Mỹ, đều nhận thấy thật rõ ràng xã hội Hoa Kỳ nói chung quý trọng tuổi trẻ hơn tuổi già. Người dân xứ này, nhất là phụ nữ, luôn luôn nghĩ đến việc “giữ mãi lấy màu trẻ trung,” tìm đủ mọi phương thức làm đẹp, sử dụng đủ các loại mỹ phẩm tốt nhất để trẻ trung hóa nước da và nét mặt, để làm cho vầng trán và khóe mắt không nhăn, để làm đẹp hàm răng và nụ cười, v.v. Các hãng truyền tin, truyền hình, báo chí đã dành nhiều thì giờ và giấy mực quảng cáo cho việc chống lại quá trình lão hoá, giữ vẻ đẹp tươi của tuổi thanh xuân. Bị nỗi ám ảnh “giữ sao cho trẻ và đẹp,” người ta cảm thấy sợ-sệt-lo-lắng-tiếc-xót-buồn-tủi-cô-đơn khi năm tháng lạnh lùng trôi mất đi vùn vụt, tuổi già đến thật mau, và “những ngày thanh xuân đẹp đẽ vô cùng nay chỉ còn lại trong bóng mờ của dĩ vãng!”
Nhiều khi tiếc nuối lo buồn vì tuổi trẻ đã qua đi mất, chúng ta không đón nhận được những thay đổi nhiệm mầu của hành trình lão hóa trước mặt. Nhưng vẫn không muộn đâu, vì lúc nào ta cũng có thể xoay chuyển tình thế, vui đón những tặng phẩm của tuổi già, và tạo nên một căn bản tích cực cho tiến trình lão hóa.
Để giải thoát khỏi những lo sợ về tuổi già, tôi kính đề nghị chúng ta cần thay đổi quan niệm, cố gắng tìm lại niềm vui cố hữu, niềm hy vọng sáng ngời của tuổi trẻ. Ta cần vững tin rằng tuổi trời cho, dù còn lại bao lâu, vẫn có thể cống hiến cho ta đầy đủ những cơ hội mới mẻ, những dịp may tốt đẹp, cùng những thách thức tân kỳ, để giúp chúng ta sống vui, sống mạnh, sống thỏa lòng trong hồng ân của Thượng Đế. Sau đây xin mời các bạn lưu ý đến một số đề nghị hữu ích giúp ta chống đối tích cực với nỗi lo sợ về tuổi già.
1. Lão Hóa Là Quá Trình Tất Yếu Của Giác Ngộ Tâm linh.
Thái tử Tất-đạt-đa, bốn lần ra khỏi cung điện, thấy tận mắt những cảnh khổ đau của sinh, tử, lão, bệnh, và cũng thấy được vẻ mặt bình thản của một vị tu hành. Trực tiếp với thảm cảnh của tuổi già và sự chết, Ngài bỗng được sự soi sáng tâm linh, bèn xuất gia tìm đường tu luyện để tự giải thoát và chỉ đường cứu độ cho chúng sinh. Sự suy nghĩ chín chắn về tuổi già và sự chết thức tỉnh ta, nhắc nhở rằng ta có thể đạt đến một trình độ tự giác sâu xa trong tâm hồn.
Triết gia Carl Jung cho rằng trong nửa cuộc đời còn lại, trọng tâm suy tư của ta phải nên hướng về sự chết, và bất cứ sự gì lôi kéo ta khỏi chiều hướng suy tư chính đáng đó đều không lành mạnh. Xã hôi Mỹ hiện nay đã có phần lầm lạc khi muốn kéo con người xa khỏi sự suy nghĩ về tuổi già, làm cho người ta tưởng rằng chỉ có tuổi trẻ là đẹp, là đáng quý, còn tuổi già không cón gì đẹp đẽ nữa. Gốc rễ của sự lầm lạc đó chính là nỗi sợ chết, cho rằng chết là một sự huyền nhiệm lớn lao, chẳng ai hiểu nổi, nên phần đông không muốn nghĩ đến. Vì hiểu rằng chết là về với nguồn cội, trở về với Thiên Chúa, nên chúng ta vững niềm tin, tìm những nẻo đường tâm linh, hướng về tôn giáo, tu tâm dưỡng tính, trau dồi đạo đức. Muốn thắng nỗi sợ chết, cấn phải có một quan niệm đúng đắn về tuổi già.
2. Duy Trì Những Liên Hệ Tốt Đẹp, Những Giao Tình Quý Báu.
Trong tuổi già, chúng ta rất cần đến những bạn tâm tình, những bạn cố tri quý mến. Thiên Chúa cho chúng ta phước hạnh đặc biệt vì anh chị em cựu học sinh Trường Trung Học Hồ Ngọc Cẩn , Bùi Chu, hơn 50 năm trước, nay sang đất Mỹ vẫn còn liên lạc với nhau, quý mến nhau và duy trì mối liên hệ trong tình bạn, tình đồng đạo cao quý! Mỗi chúng ta hãy thường xuyên liên lạc chặt chẽ với một bạn thân, hoặc bằng điện thoại, hoặc trực tiếp đến thăm nom nều có thể. Khi biết rõ tình trạng thể xác, hoàn cảnh vật chất, và sức khỏe tâm linh, bạn và ta có thể giúp nhau khi cần. Dù hoàn cảnh khó khăn có thể làm thương tổn con người, bạn và ta sẵn có nhau để yên ủi nâng đỡ lẫn nhau. Có người bạn hiền sẵn sàng chạy đến bên cạnh, ta tìm ngay được bình an trong yên ủi thương yêu. Xin chúng ta tiếp tục trân trong bảo vệ và phát huy những mối giao tình vô cùng cao quý ấy, ngõ hầu có thể nâng đỡ khích lệ nhau trong tuổi già.
“Khá cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết,
Vì các nguồn của sự sống do nơi đó mà ra.”
(Châm Ngôn 4: 23)
Tấm lòng chính là nơi hiện hữu sâu thẳm của bản chất thánh thiện, chân thật, trong sáng, tươi mát của mọi sự trên đời. Bằng sự nguyện ngẫm, cầu nguyện, học hỏi Thánh Kinh, bằng thái độ khiêm tốn hạ mình, luôn luôn đầu phục sự dẫn dắt toàn quyền của Thần Linh Thiên Chúa, chúng ta tìm được ý nghiã đích thực của đời sống trong chuỗi ngày quý báu còn lại của tuổi già, chúng ta tìm được an bình nội tâm.
3. Cố Gắng Giữ Gìn Sức Khỏe.
Chúng ta cẩn thận trong việc ăn uống, tập thể dục, chơi môn thể thao nhẹ nhàng như bóng bàn, bóng chuyền, đi xe đạp, lưu ý dùng thuốc men đúng liều thuốc, nghỉ ngơi, giải trí, hết sức cẩn thận cho khỏi bị thương khi đứng lên ngồi xuống, khi đi bộ, lúc băng qua đường, thận trọng làm một số công việc bằng tay chân, tự làm lấy mọi việc cần thiết, cốt sao giữ cho thân thể được khỏe mạnh. Sự điều độ và tinh thần kỷ luật, cùng ý kiến của bác sĩ gia đình sẽ giúp chúng ta nhiều trong việc bảo trì sức khỏe cả thể xác lẫn tâm linh.
4 Tiếp Tục Học Hỏi.
Trong tinh thần học hỏi không ngừng, lớp ngưới già chúng ta hiện nay chính là lớp người trẻ hiếu học, rất chăm chỉ, đầy nhiệt huyết của hơn năm chục năm về trước. Và lớp người “trẻ mãi không già, tâm bất lão” ấy vẫn cứ cố gắng nghiên cứu thêm về bộ môn ưa thích, như âm nhạc, điện toán, hội họa, văn chương, triết học, khoa học, tôn giáo, và Thánh Kinh. Tâm trí lười biếng chính là một sào huyệt để quỷ dữ sẵn sàng lộng hành. Mà qủy dữ đây chính là chứng bệnh Alzheimer quái ác đang chờ dợi tấn công tâm trí biếng nhác.
5. Không Những Học Hỏi, Cũng Lưu Ý Đến Sáng Tạo.
Người già có thể dùng thì giờ viết văn, nhất là viết hồi ký, duy trì sự sáng suốt của tâm thần và não.bộ. Để rèn luyện óc sáng tạo, người già khéo tay có thể tập vẽ những bức họa, gọt dũa nhào nặn nhũng bức tượng, may, đan, thêu thùa, làm hoa giấy, trang trí bình hoa, trồng các loại cây cảnh, nhất là cây “bonsai,” sáng tác âm nhạc, làm thơ, viết thánh ca tôn vinh Thiên Chúa.
6. Tình Nguyện Phục Vụ.
Các hội đoàn, các tổ chức thiện nguyện cần đến bàn tay yêu thương của người già để (a) săn sóc thiếu nhi; (b) giúp đỡ người bị tật nguyền; (c) dạy Việt ngữ cho thanh thiêu niên; (d) thỉnh thoảng vào thăm nom những người đang buồn tủi tại các bệnh viện; (e) yên ủi các lão niên khác đang sống cô đơn tại nhà dưỡng lão, v.v. Thánh nữ Theresa nói: “Thế giới đang đói khát sự giúp đỡ và tình thương của chúng ta.” Cựu Tổng Thống Carter và phu nhân, hiện nay trong tuổi bát tuần, vẫn dành thì giờ hàng năm công tác thiện nguyện với Hội Habitat for Humanity để xây nhà cho người nghèo nhiều nơi trên thế giới. Bạn và tôi lựa chọn công tác tình nguyện, dành riêng một số giờ để phục vụ, để trở về với nguồn năng lực sinh động vô tận Thiên Chúa ban cho trong nội tâm.
7. Vui Sống Trong Hiện Tại.
Điều khó khăn nhất trên đời là sống vui với hiện tại. Thường khi niềm vui của ta bị giảm đi nhiều vì hãy còn luyền tiếc vàng son quá khứ, hay là mảng lo lắng trước những khó khăn của tương lai mờ mịt. Ta quên rằng ngày hôm qua đã qua đi mất rồi, và ngày mai chưa đến! Vì vậy ta bỏ mất những dịp may cùng những thách thức và cơ hội thuận tiện của hiện tại! Nhờ cậy hồng ân Thiên Chúa, bạn và tôi cứ sống vui trong hiện tại và cố gắng chu toàn mọi công việc, ngày nào xong cho ngày ấy, vì mỗi ngày còn lại là một tặng phẩm quý báu Thiên Chúa ban.
8. Giữ Vững Niềm Tin
Bạn đang có một niềm tin, dù bạn theo bất cứ tôn giáo nào, nhất là khi bạn tự hào với đức tin tổ phụ truyền lại, xin bạn và tôi giữ vững niềm tin quý báu ấy. Niềm tin cho chúng ta sức mạnh tâm linh và thể xác; niềm tin yên ủi thêm sức cho ta; niềm tin bảo vệ giữ gìn chúng ta bình an trong mọi hoàn cảnh; niềm tin bồi dưỡng sức khỏe và chữa lành mọi bệnh tật tâm linh cùng bệnh tật thể xác; niềm tin ban niềm vui thánh thiện cho ta vui sống cho đến ngày gặp Đấng Thượng Đế Chí Tôn khi Ngài cho về với tổ phụ. Giữ vững niềm tin:
“Ngày hôm nay là ngày của Thiên Chuá tạo dựng
Tôi vui mừng hớn hở trong ngày ấy”
(Thánh Vịnh 118: 24)
Mỗi ngày tôi sẽ hết lòng tạ ơn Thiên Chúa và vui sống cho đến ngày Thiên Chúa rước tôi về nơi vĩnh hằng an nghỉ.
9. Lưu Ý Đến Việc Để Lại Tiếng Tốt cho Con Cháu.
Lời xưa đã dạy, đại ý như sau: “Để vàng cho con cháu, con cháu vị tất đã giữ được; để sách cho con cháu, vị tất chúng đã đọc được! Duy chỉ tích đức, các mỹ đức bàng bạc, u u minh minh, sẽ ở cùng con cháu đến muôn đời.” Tổ phụ chúng ta thường dạy:
“Trâu chết để da, người chết để tiếng!”
Trong những ngày ngắn ngủi nhưng vô cùng đẹp đẽ còn lại của tuổi già, với tấm lòng tin cậy Thiên Chúa, chúng ta không lo lắng sợ hãi, nhưng chúng ta hết lòng nương nhờ hồng ân Thiên Chúa, vui sống trong niềm tin. Mỗi ngày chúng ta tiếp tục hoạt động bình thường theo chiều hướng tích cực của 10 điểm nêu trên. Chúng ta luôn luôn biết hướng về chân, thiện, mỹ; chúng ta chuyên tâm lưu ý trau dồi những mỹ đức của tuổi già. Chắc chắn chúng ta sẽ để lại cho con cháu một cơ nghiệp bền vững, một gia tài tinh thần và đạo đức, gom lại trong bốn chữ:
“Danh Thơm Tiếng Tốt.”
Thành kính cầu xin Thiên Chúa Toàn Năng ban phước lành cho bạn và tôi trong tuổi già.
M.S. Vũ Đức Chang , Tiến sĩ Mục vụ.

Harry Potter đến đây là chấm dứt Nữ nhà văn JK Rowling nói bà có cảm giác 'siêu thực' khi vào thăm ĐiệnBuckingham
Nhà văn JK Rowling tiết lộ rằng bà cảm thấy buồn vì phải để cho câu chuyện về cậu bé phù thủy Harry Potter đến hồi kết nhưng bà sẽ không kéo dài nó ra nữa.
Phát biểu trong lễ sinh nhật Nữ Hoàng Anh 80 tuổi tại Điện Buckingham Palace, bà nói bà hài lòng với quá trình viết cuốn sách nhưng không tiết lộ ngày ra mắt.
Bà chỉ nói đây sẽ là tập cuối cùng dù chưa thể cho biết rõ khi nào sẽ viết xong: "Tôi không thể nào nói được điều gì cụ thể chừng nào chưa hoàn tất sách."Bà đã đọc một số đoạn từ cuốn Potter mới nhất cho các em nhỏ đến dự lễ cùng nghe.
Nhưng các em nhỏ sẽ còn phải chờ một thời gian nữa mới có thể biết tên tập cuối cùng của Harry Potter chưa có tên.
Năm nay 40 tuổi, JK Rowling dự sinh nhật Nữ Hoàng Elizabeth II với các văn nghệ sĩ như Michael Bond, Jacqueline Wilson, Philip Pullman, Ronnie Corbett, Martin Clunes và cả tay đầu bếp nổi danh Jamie Oliver.
Nói về cảm tưởng buổi lễ hôm 25.06 tại cung của Nữ Hoàng ở Luân Đôn có sự tham gia của 2000 trẻ em, nhà văn chuyên viết cho thiếu nhi nói “Thật là siêu thực khi có mặt tại Điện Buckingham."Là mẹ của ba đứa con, bà JK Rowling đã nổi tiếng thế giới bằng truyện Harry Potter. Bà viết tập đầu của Harry Potter trong cảnh sống nghèo khó, không có việc làm.
Nay bà là triệu phú và được coi là nhà văn Anh vĩ đại nhất đang sống. Bí quyết của Harry Potter là gợi ra các ước mơ của trẻ thơ.

