Góc nhỏ của anh 3 Giang

Tung cánh chim tìm về mái trường xưa. Mong tìm bạn học cũ, nay ở đâu xin nhắn đôi lời!!!

Moderator: CNN

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

CON NGƯỜI LÀ VỐN QUÝ
TRẦN NHU


Lời giới thiệu của GS Nguyễn văn Canh: Nhà văn Trần Nhu, nguyên là Giáo sư Sử Học tại Hà nội. Năm 1981, ông vượt biển từ Hải phòng, sang Hồng Kông, vào Hoa Kỳ tị nạn cộng sản. Tác phẩn mới nhất của ông là Tinh Thần Nhập Thế của Phật Giáo Việt nam ( 2005) và cũng là tác giả Giác Thư gửi Tướng Lãnh Quân Đội Nhân Dân và Giá Của Tự Do Luôn Cao (2006).

Tôi Phạm Văn Phú, nguyên quán Tiền Hải, Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, đại đội phó, Đại Đội Hai, Tiểu Đoàn Ba. Sư Đoàn 308 đã giải ngũ.
Tôi là một con người. Và con người cần những nơi chốn ăn ở khác loài vật, sinh hoạt khác loài vật.
Thế mà gần hai mươi năm đi lính, sau khi giải ngũ, tôi không có nhà ở, nơi chốn nương tựa không còn, tương lai , nghề nghiệp, tiền tài cũng không
Nên đã hai năm qua, tôi sống như con vật. Và tôi cũng sống theo lối của con vật, không có nhà cửa vật dụng. Không có một thứ tiện nghi nào ráo, hoàn toàn không, trong cái gầm cầu Long Biên nầy. Cũng không phải chỉ có mình tôi. Ở đây có đủ mọi hạng người, nào thôn quê, nào dân thành thị, nào trí thức , nào bộ đội phục viên, thanh niên vô nghề nghiệp, già trẻ trai gái đủ màu sắc. Mỗi khoang gầm cầu không biết chứa bao nhiêu người. Ban ngày họ đi tứ xứ kiếm ăn, đêm tối mò về những các hóc ở gầm cầu ngủ: Không điện, không nước, tối tăm mịt mù.
Họ là những con người khốn khổ hèn mạt, hay bầy súc vật ? Sống với nhau như bầy đàn ? hay chỉ là những nông dân mộc mạc, những người công nhân thất nghiệp, những quân nhân bị sa thải… những người, mà mạng sống không được đánh giá cao lắm. Mặc dù “Bác Hồ” luôn luôn đề cao “ con người là vốn quý”
Có lẽ con người chỉ được đòi hỏi làm người, khi có quyền, có tiền. Còn khốn khó nghèo hèn đều là súc vật cả.
oOo
Tôi không nói quá đáng đâu, gầm cầu Long Biên thì bạn biết rồi: Đầy bụi, đầy rác bẩn, đầy ruồi muỗi, đầy những vật ô uế.
Tôi nghĩ: nơi đây là nơi sống của chó- nhưng chẳng thấy có con chó nào. Mặc dù chỗ nầy đúng là nơi những con chó hoang sống. Bốn bề tứ phía là những giấy lộn vỏ đồ hộp, phân người phóng uế bừa bãi. Khí trời nóng, mùi hôi thối rữa bốc lên ngùn ngụt, tạo thành một luồng không khí ngột ngạt ghê tởm chụp lên những mạng sống bé bỏng, những đứa trẻ, những người bất hạnh , những thân xác gầy gò, gần như không còn chịu đựng được cái nóng kinh người vào mùa hè, và cái giá lạnh của mùa đông, với những phương tiện sống quá ư khắc nghiệt. Ấy thế mà họ vẫn sống trong nhiều năm qua, và tiếp tục sống trong thời gian sắp tới. Thật khả năng thích ứng của con người vô giới hạn. Lạ làm sao, tụi nhóc chúng cứ sống như thế một cách tự nhiên và những thằng bé tí hon nầy không hề coi đó là nơi trú của những con thú hoang, mà chúng cứ đinh ninh rằng: gầm cầu nầy đích thực là nhà của chúng. Nhiều đứa sinh ra ở đây và cũng tử ở đây !
oOo
Nhiều lúc tôi tự hỏi: Con người là cái gì ? Một con vật ? hay một công cụ ? Nhưng con người không giống công cụ, không giống con vật. Con người có một linh khí và một tình cảm. Dẫu rằng những kẻ bất hạnh sống với nhau đôi khi còn thanh cao, chân thành hơn cả những kẻ quyền quý.
Hai năm qua sống ở gầm cầu, tôi có một người bạn già tên Tuyên. Người gầy gò, nhỏ th, nhưng có vầng trán cao, có đôi mắt sáng chứng tỏ một đời sống nội tâm dồi dào phong phú.
Lão thông thạo tiếng Pháp, tiếng Trung Hoa, rành chữ Hán, chữ Nôm, giỏi khoa chiêm tinh, dịch lý, tử vi – Nhưng các cụ thường nói: “ Ở đời chữ tài liền với chữ tai một vần “. Quả không sai!
Lão đã bị nhà nước cho đi tẩy não sáu năm, ở tận Hà Giang Bắc Mục.
Có người bảo lão bị đi tẩy não vì chữ nghĩa. Có người bảo lão đi tẩy não về tội gàn bướng. Có người lại bảo lão bị đi tẩy não vì xem tử vi. Họ kể rành rọt rằng: Chính lão đã xem lá số cho một số các vị trong Bộ Chính trị, và các bà lớn, các cô, các cậu ấm. Rồi thiên hạ đồn đại gần xa đến tai trung ương đảng. Họ trả giá cho lão bằng cái án tập trung cải tạo sáu năm.
Ở tù ra vợ lão đã chết ! số lão lại khôing có con, nhà cửa của lão bị nhà nước tịch thu ráo. Thân thích có đấy, nhưng chẳng ai dám chứa chấp người đã có án. Lão đành phải đến trú ngụ ở gầm cầu. Tôi với lão nằm kề nhau. Lão đối xử với tôi tử tế. Có lúc cơn bịnh sốt rét cũ tái diễn. Hai hàm răng tôi bắt đầu đánh cầm cập, tôi cố kìm cơn run nhưng không sao cưỡng nổi. Tôi cắn răng như cắn cả đường gân máu.
-Không hề gì, đâu có nghĩa lý gì, đời sống như bóng mây! Lão nói.
Và chỉ có lão chăm lo cho tôi ăn uống những ngày ốm, đói, chuyện của lão còn dài. Tôi tạm gác lại để kể qua về người hàng xóm ở phía sau lưng chúng tôi. Đó là một gia đình có hai vợ chồng và sáu đứa con, đứa lớn nhất khoảng 15 tuổi, nhỏ nhất mới một tuổi. Họ làm nghề kéo xe “ba gác”, chỗ họ chiếm cứ khá rộng, nơi ăn nằm lại được lót ván khá tinh tươm. Họ có cả bếp dầu để nấu ăn hằng ngày, gia đình nầy ở gầm cầu trên mười năm nay.
Tôi hỏi: Hai bác đẻ nhiều thế ? Ông ta thản nhiên trả lời:
-Có tiền có của là cán lớn thì tối đến người ta kéo nhau đi chơi. Các ông quan to hơn thì tối nào chẳng đi dự tiệc, họ cứ yến tiệc, liên hoan lễ lạc đều đều, thiếu gì thứ để tiêu khiển. Họ đi xe Pobéda, xe Volga đen bóng của Nga, xe Mercedes Tây Đức. Nếu đi xa như Nha trang, Vũng Tàu. Đà Lạt, Sầm Sơn thì họ dùng máy bay lên thẳng M16-M18 thiếu gì. Còn chúng tôi dân đen tiền không có, cán gậy cũng không. Chẳng đi đâu. Chúng tôi không có chỗ nào chơi một tí. Thế là cứ sòn sòn…
Quanh hàng xóm của tôi với lão, đại loại, vơ vẩn là những người như thế.
Công việc của tôi hằng ngày là sáng vác bơm xe đạp đi, tối vác bom về gầm cầu ngủ. Nhưng dạo nầy tụi nhóc con và bộ đội phục viên, thương binh làm nghề nầy quá nhiều. Họ giành hầu như hết khách của tôi. Tôi dự định đổi nghề, nhưng chưa biết làm gì ? Lão già Tuyên bảo tôi :
-Sao cậu không đi nhập băng đảng cướp ! Bây giờ bộ đội phục viên, thương binh họ tổ chức đi ăn cướp nhiều lắm. Đó là một nghề không cần phải bỏ vốn đầu tư, chỉ cần lòng can đảm dũng cảm, mà loại như các cậu thì có thừa. Vả lại nghề nầy rất hợp thời. Sao cậu không làm ?
Thấy tôi lặng im lão dừng lại, bĩu môi, lão lại nói tiếp :
-Cậu chân chính quá ! mà tình đời đen bạc, điên đảo xoay xoả thành một hệ thống, nên phải tuỳ thời biến đổi theo đạo. Không có gì bất di bất dịch cả.
Lão nói rất chậm. Và cứ nhìn tôi mắt sáng lạnh. Có thể lão nói đúng, đúng một cách tàn nhẫn, và cũng vô cùng trâng tráo. Nhưng rất nhân tình.
Tôi như sững lại. Cảm thấy nhức nhối đến khủng khiếp.
Lão lại nhìn tôi cười lập lờ, nụ cười tắt dần chuyển hóa sang chua chát, khinh bạc.
Tự dưng tôi thấy lạnh buốt xương sống. Lạnh rỡn tóc gáy, run lên bần bật . Cái đầu co rụt lại giữa hai vai.
-Cậu sao thế ? Lão hỏi. Lại sốt phải không ?
-Vâng, có lẽ.
Tôi run rẩy trả lời rồi nhìn lảng đi nơi khác. Trong tôi có nỗi buồn u uất, tê tái, của căn bịnh khó có thể chữa lành, và lúc này tôi tự như một con chó hoang ốm.
-Vì sao không uống kí ninh ? Lão hỏi, mắt nheo lại.
-Không có.
-Cửa hàng dược phẩm Quốc Doanh không bán kí ninh à ?
-Có bán. Nhưng phải có giấy giới thiệu
-Cơ quan nào ?
-Sở thương binh, xã hội, tôi đã đến hai ba lần rồi. Nhưng còn phải chờ Thủ Trưởng xét…
Lão thốt lên , giọng phẫn nộ.
-Sao dả man thế ! Dã man thế !
Tôi im lặng. Lão thong thả nói:
-Ôi thật đáng thương những người lính !
Hiển nhiên là câu nói giản dị chân thành ấy đã gợi lại bao nhiêu chuyện buồn đau, uất hận trong tôi. Tôi nhìn lão cúi đầu xuống mái tóc bạc phơ cũng như đang chịu một sức nặng ghê gớm của ký ức sôi động đang hiện ra cả một thế giới thương đau, hãi hùng, nặng nề. Và hiện tại đói nghèo, lạc hậu không thay đổi. Con người không được làm “Người” tiếc thật !
Từ đó lão với tôi trở nên thân mật. Lão hỏi :
-Chẳng lẽ cậu cứ sống mãi thế nầy hay sao ? Hay cậu sợ đi tù ?
Lão nhướng mày nhìn tôi, làm một dấu hỏi, chờ đợi. Thấy tôi vẫn lặng thinh. Lão quay đi cười “ khinh thị”…
-Vào tù có nhà ở, lại được nuôi ăn. Tôi nói.
-Cậu đừng tưởng lầm. Lão bảo. Nó bắt làm hơn cả con vật, đánh đập chết bỏ. Rồi lão kể những câu chuyện trong tù… Tôi cảm thấy ớn lạnh. Hai chúng tôi ngồi im lặng khá lâu.
Cả tuần lễ sau, tôi cứ nằm bệt ở gầm cầu, không đi bơm xe đạp nữa, chỉ nghĩ đến chuyện trộm cướp, mặc dầu lúc đầu tôi chẳng muốn nghĩ, mà cũng chẳng muốn làm những chuyện đó. Bỡi tôi là con người đã từng say sưa lý tưởng cách mạng, giải phóng, nên cảm thấy đau đớn, nhức nhối đến kinh khủng. Ôi ! Nó cũng là một nỗi đau chung, nỗi đau xa xôi, nỗi đau rất gần, nỗi đau của mọi người Việt nam, nhất là những ngưòi lính.
Tôi rùng mình sợ hãi cố nhớ lại một cách vô vọng, từ trong đáy lòng, từ ngõ ngách sâu kín của ký ức tôi suốt mấy chục năm theo Bác, Đảng, làm cách mạng giải phóng, nay đến ngày chiến thắng, lại gầm cầu, xó chợ và trở thành tên lưu manh!
Tôi còn đang nghĩ ngợi đến ngày xưa, và ngày nay, thì lão lại bảo tôi. Nếu cậu có gan, thì vào nhà các cụ lớn…
Tôi hỏi:
-Cụ biết nhà những ông nào ?
Lão kể, vanh vách! Nhà của Tổng Bí Thư Lê Duẩn, nhà của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà của Chủ tịch Quốc Hội Trường Chinh… có đầy đồ vật quý.
Lão tả tỉ mỉ, trên tường dưới lớp kính nhà nào cũng treo rất nhiều những bức họa đắt tiền , khung bằng vàng, dưới là những pho tượng tuyệt tác bằng đồng đen, bằng đá hoa cương ngà ngà vàng vàng nhẵn bóng, cạnh những cặp đồi mồi cực kỳ lớn, những bộ da hổ lớn, những cặp ngà voi, những bộ khay chén bằng bạc, bằng gỗ quý, bên cạnh những tủ lớn, tủ nhỏ, trong tủ bày những chuỗi ngọc lớn, và hàng trăm thứ châu báu hiếm lạ không thể kể xiết, mỗi thứ có giá trị hằng trăm triệu đồng. Lão bảo: cậu chỉ cần vài thứ là sống một cuộc đời vương giả rồi.
Nghe lão kể, tôi cứ ngồi ngây như phổng. Không ngờ cái họ nhà vô sản, cái loại người thường tự nhận là đầy tớ của dân lại giàu sang đến thế.
oOo
Biết lão giỏi nghề tướng số, tử vi. Một hôm tôi hỏi: cụ xem mệnh của tôi năm nay ra sao ?
Suy ngẫm một lúc lão nói:
-Cậu được thần lực Như Lai hộ trì. Và sở đắc năng lực thiện căn. Phước đức đại từ bi “tâm” Và thêm nữa nhân duyên dẫn khởi. Mệnh của cậu đã đến hồi chung kết, phải là người trả được nợ, gỡ được duyên, thoát được giây xích xiềng của Ngã quỷ ràng buộc. Đến chỗ chí trí, chí thiện, bởi có sao lộc tồn chiếu thủ hai cung, điền tài thì chủ đại phải có vàng chôn ngọc cất trong năm nay. Sao ở nơi sinh vượng, đắc địa, có ảnh hưởng mạnh, có sức chiếu sáng.
Lão cắt nghĩa: Vượng là thịnh mạnh. Mạnh ắt ảnh hưởng nhiều và kết quả nhanh. Đắc địa là thứ sao Bắc Đẩu được cung an thuộc hướng Bắc.
Như hổ ở trong rừng. Như anh hùng chiếm được đất của địch quân. Không chừng cậu lại đi làm cách mạng giải phóng nữa, mà phải có cương vị lãnh đạo cơ đấy.
-Nhưng tại sao các tinh tú ở quá xa ta lại có thể ảnh hưởng đến từng cá nhân từng người được? Tôi hỏi.
-Nếu tinh tú ở trên trời không ăn nhập gì đến chúng ta thì khoa học thực dụng giải thích thế nào về ảnh hưởng của mặt trời, mặt trăng. Và các thiên thể khác với trái đất. ? Lão hỏi ngược lại .
Tôi đành ngồi thinh lặng nghĩ : Có thể trên đời nầy không có thần thánh ma quỷ. Nhưng chắc chắn phải có một sức mạnh siêu nhiên chi phối đời sống và hoàn cảnh con người. Mà đời sống có ưu tư, vạn vật sinh rồi diệt, địa cầu và các tinh tú xoay chuyển, sức mạnh đó kỳ bí có thể mắt trần thế không thể thấy được.
Lão tiếp tục giảng giải:
-Cậu có biết, trong vũ trụ có hàng tỉ tỉ các tinh tú, mỗi tinh tú đều có vị trí, chức năng riêng. Và có mối liên hệ với vạn vật, có ảnh hưởng trực tiếp đến cả nhân loại và vạn vật hữu thể, họặc vô hình.
-Thế cụ có tin con người phải trải qua nhiều kiếp không ? Tôi hỏi.
-Tôi tin ở thuyết luân hồi, con người trở lại trong nhiều kiếp, và bánh xe lịch sử không ngừng lại: Có sanh, có diệt tức là luân hồi rồi. Tôi nghiệm, và tôi thấy như thế cậu ạ. Bỗng đột nhiên cao hứng tôi hỏi :
-A ! Thế cụ có biết tiền kiếp của Hồ Chí Minh, Lê Đức Thọ, Lê Duẩn không ?
Dường như đã nghiền ngẫm từ lâu, lão nói:
-Tiền kiếp của các vị đó là những ông vua, bà chúa của nước Chiêm Thành trước đây, đầu thai vào họ để báo oán. Nó là một sự trả thù man dại.Vậy sức mạnh tiền ẩn nào đã đưa họ và cả nước vào mê lộ giết chóc, hãm hại lẫn nhau trong cảnh đầu rơi máu chảy thành sông, huynh đệ tương tàn ? Gốc rễ, ngọn ngành từ đâu ? Đó là sự cừu hận mất nước, dân bị diệt chủng. Nhưng trong lòng của người Chiêm Thành còn mang hận thù sùng sục, cuồn cuộn. Nên họ phải đầu thai làm người Việt nam. Chính vì thế mà họ không biết thương dân ta . Họ mặc thân xác Việt, tên họ Việt. Nhưng thần trí của họ là Chiêm Thành. Hồ Chí Minh. Lê Đức Thọ. Lê Duẩn… không cùng huyết thống với ta. Điều đó thật quá rõ. Lão nói giọng khẳng quyết, nghiêm nghị.
-Cậu cứ ngắm thật kỹ những bộ mặt ấy xem, rành rành là mẫu người Chiêm Thành. Không một chút Việt Nam nào hết. Khi bọn nầy chết, đất nước có thay đổi gì không ? Chưa, bọn khác thay thế chúng còn tệ hơn.
-Thế cụ có biết bọn đó là những ai không ?
-Rất có thể thằng “hoạn lợn” với thằng chột lên làm vua “ Lê Đức Anh”. Bọn này vì địa vị và quyền lợi chúng sẽ bám chặt vào đít quan quan thầy Bắc Kinh. Chúng sẽ dâng đất cho Tầu, đến lượt thằng Mán, thằng Mường thì nước mình gần như trở thành một tỉnh của Tầu. Và đạo lý lúc đó suy đồi kinh khủng. Người mình ra nước ngoài làm nô lệ đông vô kể. Phụ nữ Việt bị bày bán đấu giá ở các chợ ngoại quốc như người bán heo, Nhục lắm cậu ơi!
-Cụ có tin đây là một định mệnh tàn nhẫn mà tôi với cụ là những mảnh nhỏ của định mệnh đó ?
-Không, con người yếu hèn thường đổ thừa cho định mệnh một khi cuộc đời họ bất lực, họ tìm một lối giải thoát để an ủi, an phận, cúi đầu nhận chịu cái kiếp nô lệ. Và thế giới quanh họ vẫn tiếp tục trôi lăn trong ngu tối phũ phàng. Phải quật cường đứng dậy diệt trừ ổ cướp trong BCT, dân tộc đang mong đợi, các cậu mà trừ khử được bọn chúng tên tuổi sẽ rực rỡ muôn đời, nêu danh muôn thuở.
Lúc nầy tôi thấy trên gương mặt của lão niềm vui và nỗi buồn đã đổi chỗ cho nhau như một đứa trẻ vui vẻ đập “bốp” một cái lên đùi. Phải trừ khử. Tôi vẫn băn khoăn về cái định mệnh. Lão giải thích:
-Cậu phải hiểu cái quan niệm định mệnh của người xưa cho rằng: “Tất cả hành vi của con người đều do túc mạng định sẵn” hay “ tất cả hành vi của con người đều do đấng tối cao định đoạt”. Nhưng đức Phật hoàn toàn phủ định các luận thuyết nầy. Ngài cả quyết rằng: “ Chỉ có con người định đoạt số phận của họ”. Và là điều chắc chắn, cái gì cũng có nhân, có duyên, không gì tự nhiên có, tự nhiên không. Cái nầy có và cái kia có, cái này không vì cái kia không. Đó là định luật duyên khởi của nhà Phật.
Còn cứ theo cái thuyết của định mệnh trên thì bọn sát nhân, trộm cướp đều do túc mệnh, hay một đấng tối cao nào đó định đoạt hoá ra bọn tội phạm chỉ như những cái máy….. bởi ý muốn của Thượng Đế. Và như vậy con người không có khả năng cải thiện đời sống, không có khả năng bỏ tà quy chánh ?
Không có lý nào như thế.
Thế chuyện nghiệp báo: Đó là một sự thật. Cái điều tiên quyết về nghiệp báo với Phật giáo rất rõ ráng, lão xác quyết về cái nhân diệt Chiêm Thành đẻ ra cái quả v.v…
-Nhiều những chuyện lạ. rắc rối. Như câu chuyện thanh toán nợ máu, nợ diệt chủng của dân Chiêm Thành, hoặc về khoa dịch lý, chiêm tinh , hay linh giác của thánh nhân. Lão kể.
Tôi không mấy hiểu những điều lão nói. Nhưng chính là nhờ có lão mà tôi học hỏi được nhiều điều mới lạ. Đối với tôi nó là một món quà vô giá. Có điều là tôi cảm thấy sợ hãi về những hành động của mình trong quá khứ.
Tôi bảo lão: Mấy chục năm ròng theo Bác Đảng làm nghề bắn giết, bây giờ mới giải nghệ, lại làm nghề trộm cướp ! Việc đó ắt ảnh hưởng xấu đến kiếp sau?
-Không, không! Lão nói:
Cậu dứt khoát sẽ được ghi điểm “tốt”. Và còn mầm “thiện” cho kiếp sau nữa chứ.
Lão chỉ tay lên trời: Nói như đùa, triết lý như đùa, các vị tinh tú như những mảnh gương ấy nó phản chiếu trở lại, cũng như cậu soi gưong. Nên bất cứ một hành động nào dù tốt hay xấu đều được ghi lại trên ấy hết.
Tôi nghĩ thầm: Đi trộm cướp mà được ghi điểm “tốt”. Như đọc dược ý nghĩ của tôi. Bỗng lão kêu lên:
Xin trời – Phật chứng giám. Tôi không khuyên cậu đi cướp trộm. Tôi chưa hề có ý nghĩ ấy, mà có phải trộm cướp gì đâu ! Chính chúng nó mới là bọn đầu sỏ trộm cướp, bọn vơ vét của dân nhiều đến thế. Sống thừa thãi đến thế. Những kẻ giàu sụ,. vinh thân phì gia, sống trên mồ hôi xương máu của dân, bám vào chiến công và thành quả của lính. Không thể để chúng được sống êm thắm trọn vẹn hưởng một tài sản khổng lồ của quốc gia.
Giọng lão trở nên phẩn nộ, gay gắt: “ Những kẻ tước đoạt phải bị tước đoạt” Đó là khẩu hiệu của Marx – Engel. Cậu nhớ không.?
Im lặng một lúc lâu. Lão lại nhìn thẳng vào mặt tôi:
-Có phải cậu là những thằng đã đem xương máu ra để bảo vệ cho lũ chúng không ? Có phải chúng đã xử tệ với những thằng lính như cậu không? Có phải các cậu là những thằng đói khát không ? Có.
Vậy thì, nghĩa là mình chỉ thực hành nhiệm vụ của mình thôi, mình làm một việc thiện có nhân, có quả, cậu lấy của những tên cướp đó chia cho những thằng đói khát như cậu, đúng là việc thiện, sẽ gặp điều lành.
Thấy tôi có vẻ hứng khởi, hưởng ứng. Lão vui vẻ cười to:
-Nếu cậu lấy của kẻ cướp chia cho thằng nghèo , thì chư Đại Bồ Tát cho tới Hộ Pháp Long Thiên đều chắp tay hoan hỷ hộ trì cho cậu. Làm được việc đó, tức là Thánh giới, Thánh Hiền rồi. Nên cậu cần quyết tâm nỗ lực, hãy làm ngay đi, không được chậm trễ. Cậu phải nhớ điều nầy: “ Trong cái bất khả dĩ có thể là cứu cánh cái bất khả đắc”.
Ông cụ, cứ giọng ấy mà nhắc đi nhắc lại với tôi. Có khi lại pha cả triết lý Khổng, Mạnh nữa. Nhìn chòm râu ông cụ với những lời giảng giải vừa khôi hài, lại vừa nghiêm túc. Tự nhiên tôi thấy vừa đau vừa buồn cười.Chuyện rất oái oăm. Nhưng lại là sự thật. Bây giờ bọn lãnh tụ cách mạng vô sản ở trong những biệt thự rộng rãi, rất tráng lệ và tiện nghi không thua kém những Hoàng đế. Và bọn tài phiệt tư bản. Họ đầy tiền, tiêu pha phung phí. Trong lúc bọn lính tráng chúng tôi chết đói.
Như thế, một cuộc cách mạng chỉ thực hiện cho một thiểu số rất nhỏ giàu mạnh thôi. Trong quá khứ cũng như hiện tại, những người thua thiệt lớn nhất của cách mạng là nông dân, họ là cha anh của những người anh hùng đã làm nên chiến thắng. Nhưng những ngưòi anh hùng vô danh ấy ngày nay sống ra sao ? Hay là họ trở thành những nạn nhân trực tiếp của cách mạng. Ngày trước, họ là những người lính xung kích của cách mạng. Bây giờ họ là những kẻ vô thừa nhận! Thường lai vãng với bọn lưu manh, và trở thành lưu manh. Đúng như lão nói:
Bộ đội phục viên, thương binh, bây giờ sống bằng nghề trộm cướp nhiều lắm !
Tôi suy ngẫm mãi, truyền thống cao đẹp trong tinh thần Việt Nam trao cho bao nhiêu thế hệ, ý chí và nguyện lực kiêu hùng chẳng lẽ lại dùng vào việc mưu sinh cho cá nhân hoặc một số người. Tôi quyết định trở lại quê hương Thái Bình.
Lão hỏi: Cậu về Thái Bình làm gì ?
-Gặp một số chiến hữu.
-Lại làm cách mạng nữa? lão hỏi. Tôi lặng thinh, trước khi ra bến xe, lão cho tôi một chíếc áo còn mới, một lọ thuốc ký ninh và một số tiền. Tự nhiên tôi cảm nhận như tình cha con. Chúng tôi nắm chặt tay nhau hồi lâu. Lão bảo: Các cậu đi làm cách mạng. Tôi chỉ khuyên một điều: Con người sống trên đời cần rất nhiều thứ như tiền bạc, danh vọng, địa vị….Nhưng trong tất cả những cái đó. con người rất cần đạo đức làm nền tảng, làm cốt lõi, làm linh hồn. Thiếu đạo đức con người sẽ làm đổ vỡ tất cả.



TRẦN NHU

Ghi chú:
Tôi viết chuyện “ Con Người là vốn quý” từ năm 1988. vất xó đó, nay đọc lại thấy vẫn có ích cho bạn đọc hồi tưởng lại về một thời kỳ của đất nước…Nếu ai muốn in ấn đều được khuyến khích, nhưng phải ghi rõ xuất xứ và thông qua tác giả theo địa chỉ. Trần Nhu PO. Box 124, Marina, CA. 93933.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Nghe nhạc đầu tuần

[flash width=450 height=350]http://vuichoi.info/flash/Music/Because-I-love-u.swf[/flash]


3G

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Cái chết của cụ Phan Bội Châu



Nhân có câu hỏi về cụ Phan Bội Châu có phải do Hồ Chí Minh giết hay không?

Nguyễn Tài



Để rộng đường phán xét của người dân trong và ngoài nước, và làm sáng tỏ cho thế hệ mai sau, tôi xin trích trong cuốn "Hố Chí Minh Tại Trung Quốc" của nhà sử học Trung Quốc Tưởng Vĩnh Kính do Thượng Huyền dịch sang tiếng Việt ở trang 83, 84 và 85 với nguyên văn như sau:



"Cụ Phan Bội Châu lãnh đạo cuộc vận động dân tộc Việt Nam, có liên hệ mật thiết với hoàn cảnh cách mạng của Tôn Trung Sơn. Đầu năm 1924, Tôn Trung Sơn cải tổ Trung Quốc Quốc Dân Đảng để chấn chỉnh lại trận doanh cách mạng, thì cụ Phan cũng cải tổ Quang Phục Hội thành Việt Nam Quốc Dân Đảng, đặt Tổng Chi Bộ tại Quảng Châu, cùng sánh vai với cuộc cách mạng của quốc dân Trung Quốc (chú thích 25- Ban Chấp Hành Trung Ương Việt Nam Quốc Dân Đảng, báo cáo của Bộ chấp hành Hải Ngoại 20/01/1945).


Cán bộ nòng cốt của tổ chức tại Trung Quốc lúc bấy giờ có Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Thượng Thuật, Đặng Sứ Mặc v.v...., tỏ rõ cái khí thế sôi sục một thời (Chú thích 26- Bộ Hải Ngoại Trung Ương Trung Quốc Quốc Dân Đảng soạn "Chú thích 26- Việt nam Cách Mạng Đảng Phái Lược Lịch". Bản thảo chưa in ngày 6/05 năm Dân Quốc 32, Trùng Khánh)


Hồ Chí Minh, thuở nhỏ ở quê hương Nghệ An, vì thân sinh của ông là cụ Nguyễn Sinh Sắc có quen biết qua lại với cụ Phan Bội Châu, nên ông rất được cụ Phan thương mến. Cụ Phan đã từng khuyến khích ông tham gia phong trào Đông Du, nhưng ông từ chối (g).


Lần này ông đến Quảng Châu và xuất hiện dưới chiêu bài chủ nghĩa dân tộc, nên đã thường tiếp xúc với cụ Phan. Hai bên thường đàm luận về những về sự tiến triển của tình thế Việt Nam, cũng như bàn thảo về kế hoạch mới của Việt Nam Quốc Dân Đảng (chú thích 27 - Charles B McLane, tr 109 - Dẫn Hồi Ký của Phan Bội Châu). Nhưng việc bất hạnh đã đột ngột xảy ra: Tháng 6 năm 1925, cụ Phan bị cảnh sát Pháp bắt ở Thượng Hải, ngay tại tô giới Pháp.


Theo lời ghi thuật của nhà học giả Việt Nam Hoàng Văn Chí thì cụ Phan bị bắt là vì do ông Hồ bán cụ cho Pháp để lấy một số tiền là một trăm ngàn đồng. Tin tức này trước tiên là do đồ đệ của cụ Phan thu lượm được, sau đó thì lan truyền trong khắp các lực lượng cách mạng Việt Nam tại Trung Quốc. Sự việc này về sau đã được tay chân Hồ giải thích rằng " Cụ Phan già rồi không còn thích hợp với cách mạng nữa; mặt khác việc cụ bị bắt chắc chắn sẽ khích động mạnh mẽ tinh thần yêu nước của người Việt; mặt khác nữa số tiền nhận được của người Pháp, có thể dùng để nuôi dưỡng các lực lượng mới" .


Sau này tìm hiểu thêm thì biết rằng ông Lâm Đức Thụ (tên thật là Nguyễn Công Viễn), đại diện cho cụ Phan tại Hương Cảng đã hợp tác với ông Hồ trong việc bán cụ Phan cho Pháp. Sự việc xong, hai người chia đôi số tiền một trăm ngàn đồng đó.


Ông Hồ đã dùng phần tiền của ông để tổ chức Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội; còn Thụ thì dùng tiền để tiêu phí trong các hộp đêm tại Hương Cảng. Và từ đó Hồ, Thụ hai người còn tiếp tục hợp tác trong nhiều năm nữa để bán các đồng chí của cụ Phan. Nguyên vì lúc bấy giờ, các thanh niên Việt Nam trốn sang Quảng Châu để xin vào học trường Võ Bị Hoàng Phố rất đông. Những ai chịu theo Hồ gia nhập Đồng Chí Hội, thì sau khi học xong sẽ được bảo đảm bí mật trở về nước an toàn; còn những ai vẫn trung thành với tổ chức của cụ Phan, khi về đến biên giới Hoa-Việt, tức thì bị mật thám Pháp bắt ngay.


Những người này sở dĩ bị bắt, vì trước đó Hồ đã báo cho Thụ ở Hương Cảng biết, Thụ đem ảnh của họ nộp cho lãnh sự Pháp ở Hương Cảng. Sau khi họ bị bắt Hồ và Thụ lại được chia nhau tiền thưởng, trong tình hình đó Tổng Chi Bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Quảng Châu dần dần mất liên lạc với quốc nội.


Kết quả là các thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trường Võ Bị Hoàng Phố mà không gia nhập tổ chức của Hồ thì không dám về nước, và chỉ có cách là gia nhập vào đoàn quân cách mạng Dân Quốc của Trung Quốc, khiến cho Việt Nam Quốc Dân Đảng ở quốc nội phải dần dần tan rã, và đảng Cộng Sản thì cứ mạnh lên dần (Chú thích 28 - Theo J. Buttinger, Vietnam, tr. 109 Cụ Phan bị bắt là do sự sắp đặt của Hồ và một người khác nữa. Tháng 6 năm 1925 một buổi sáng nọ tại Thương Hải, cụ Phan nhận được giấy mời đi Quảng Châu tham dự lễ thành lập Chi Bộ Việt Nam của Hội Liên Hiệp Các Dân Tộc Nhược Tiểu trên Thế Giới. Khi cụ sắp lên tàu ở Thượng Hải để đi Quảng Châu thì bị một nhóm người tập kích và dẵn vào tô giới Pháp, rồi bị đưa sang Hải Phòng và giải về Hà Nội. Ông Hồ đứng giữa nhận tiền)


Sau khi bị bắt, cụ Phan đã bị nhà đương cuộc Pháp kết án tử hình, làm cho người Việt Nam vô cùng công phẫn. Toàn quốc rầm rộ tổ chức biểu tình, đòi lập tức trả tự do cho cụ Phan. Cuối cùng người Pháp phải bỏ án tử hình. Nhưng cụ vẫn bị quản thúc tại Huế và đã mất ngày 10.12.1940".



Nguyễn Tài

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Thanh Lọc Gan Bằng Nước Gạo Lứt


Nguyễn Đức Trọng

chuyện bắt đầu sau khóa sống chung Sức Khỏe và Tâm Linh với Đức Thầy và Thiền ca tại Washington D.C. vào tháng 8 năm 1997. Thường lệ sau khi thiền xong, chúng tôi ngồi sinh hoạt và trao đổi kinh nghiệm tu học. Nhưng lần này chúng tôi có nhiều chuyện để nói hơn vì nhóm chúng tôi có ba người vừa tham dự Thiền Ca trở về. Đó là anh Cúc, anh Lâm và chị Trúc. Anh Lâm có đưa ra mẫu phân tích máu của anh và của anh Cúc do bà Bác sĩ Renée Welhouse chụp lại. Ai cũng ngạc nhiên khi thấy máu của anh Cúc quá sạch so với của anh Lâm.


hư anh Lâm cho biết chỉ có máu của anh Cúc và anh Du (Bạn đạo Florida) là sạch nhất trong số những bạn đạo tham dự khóa Sống Chung tức là hồng huyết cầu rất tròn và huyết thanh rất trong. Tất cả đều quay ra phỏng vấn anh Cúc đã ăn uống và thanh lọc ra sao mà hay vậy, bởi vì hai anh cũng ăn chay như nhau, thanh lọc từ nước chanh qua đến Tsiao-He cùng thời gian như nhau. Vậy mà máu của anh Cúc sạch hồng, trong khi hồng huyết cầu của anh Lâm thì méo mó cũng như đầy dẫy những độc tố và ký sinh trùng (Para-sites).


Ngoài ra sắc mặt của anh Cúc và chị Cúc cũng tươi sáng hơn xưa nhiều. Anh Cúc bèn thanh minh là anh chẳng có làm gì khác hơn so với các bạn đạo trong vùng, từ ăn uống, thiền, thanh lọc và tập thể dục. Có chăng là anh thêm phần uống nước gạo lứt rang mà anh đã bắt chước bác Thoa (một bạn đạo). Trước khi đến với nhóm thiền tại Portland, Oregan mười năm về trước, bác Thoa đã bị mổ lấy túi mật vì mật bị sạn quá nhiều. Thêm nữa bác sĩ cho biết một số lớn sạn đã tràn sang gan mặc dầu họ đã cố gắng gắp ra phần lớn nhưng vẫn còn trong gan khá nhiều. Bác sĩ cũng cho biết là gan bác đã bị chai, và y khoa hiện nay không có thuốc chữa bịnh gan nên bác sĩ cũng bó tay. Họ chỉ cho bác uống thuốc cầm chừng để thay thế chất mật và thuốc bổ gan. Người của bác càng lúc càng sút đi. Da và mắt của bác càng lúc càng vàng như nghệ. Cả nhà đều buồn. Bác tuyệt vọng.


May ra có người nhà ở Việt Nam chỉ cho bác uống nước gạo lứt rang với công dụng giúp gan giải trừ độc tố và giúp cơ thể tươi nhuận hơn. Bịnh của bác đã liệt vào hạng “thầy chạy” rồi. Thôi thì ai chỉ gì bác cũng thử, vả lại cũng chẳng tốn hao gì. Bác uống liền tù tì trong ba năm dùng nước gạo lứt rang thay thế thức uống cho trà, cà phê và nước ngọt...


Như một phép lạ. Da và mắt của bác không còn vàng nữa. Trong người không còn cảm giác uể oải và bực bội. Nước da của bác trở nên hồng hào và tươi sáng hơn bao giờ hết. Đi khám bác sĩ lại, từ bác sĩ cho đến y tá, ai nấy đều ngạc nhiên. Con người của bác như đã tái sinh. Họ xúm nhau đến hỏi xem bác đã uống gì mà hay vậy. Bác cũng chỉ nói nhờ bác gái chăm lo mà được như vậy. Thế là bác gái được thiên hạ xúm nhau ca tụng.


Và từ đó, nếu có dịp và nghỉ là nếu có thể giúp đỡ được ai là bác đều kể lại câu chuyện này. Anh Cúc nghe bác kể liền áp dụng được hơn ba tháng trước ngày đi dự Khóa Sống Chung tại Washington D.C. nên gan được thanh lọc rất sạch tốt. Mọi người nghe xong đều ngã ngửa vì không ngờ nước gạo lứt rang lại có hiệu quả đến thế. Nửa tin nửa ngờ vì cũng mới như ngày nào bắt gặp pháp thiền Vô Vi. Giống như ra đường bảo thiên hạ bỏ ra 1 đồng và 6 tháng sau lấy lại 100 đồng vậy. Thôi thì một liều ba bảy cũng liều. Chúng tôi chạy ra chợ mua gạo lứt về rang và dùng nồi slow cooker để nấu. Sáng, trưa, chiều, tối đều dùng nước gạo lứt rang và càng uống càng mê. Sau đây là công thức nấu nước gạo lứt rang:


Cách rang :


Nếu không có thì giờ rang bằng chảo trên bếp, bạn có thể dùng máy rang bắp rang 5 phút là được. Nhưng chỉ xài được cho gạo lứt tròn, nếu gạo lứt dài phải rang bằng chảo.


Cách Nấu :


Cách nấu tiện và sạch nhất là dùng nồi slow cooker, để low level (mức thấp nhất). Bạn có thể nấu từ sáng tới tối hoặc nấu qua đêm. Nếu bạn nấu nồi trên bếp thì nước gạo không trong, giống như nước cơm vậy.


Có lẽ các anh chị cũng thắc mắc về một số bạn đạo trong vùng Portland, sau sáu tháng uống thử :


--------------------------------------------------------------------------------


Bác Thoa, dù đã 70 tuổi và không còn mật, trông bác vẫn trẻ, da mặt hồng hào và sáng láng.. So với nhiều người vào tuổi 40, bác vẫn còn hơn xa, làm việc cả ngày không thấy mệt.



--------------------------------------------------------------------------------


Anh Cúc, nhờ uống nước gạo lứt, cọng thêm phương pháp thể dục của Đức Thầy đã chỉ dẫn, nước da anh bóng và hồng hơn trước. Anh đã ăn được rau sống, không còn bị đau bụng như nhiều năm qua, bớt nhức mỏi mỗi khi trời trở lạnh. Chỉ có một điều làm phiền cho anh là anh phải thay một loạt quần áo mới vì những quần áo cũ đã trở nên rộng không còn mặc vừa nữa. Đi shopping bây giờ là một cực hình cho anh.



--------------------------------------------------------------------------------


Anh Lâm, ngoài việc uống nước gạo rang, anh còn dùng thêm thuốc thanh lọc arasites của Awareness. Hiện tại anh không còn bị đau khổ vì bịnh táo bón kinh niên từ nhiều năm qua. Cộng thêm nước da tươi mát, anh cho biết mồ hôi không còn mùi hôi nữa. Miệng cũng không còn hôi, thiên hạ khỏi cần né mỗi khi đứng trước mặt anh nói chuyện. Có lẽ nhờ thanh lọc, uống nước gạo lứt rang, thiền và tập thể dục đều, anh không còn bị nhức vai, mỏi xương sống mỗi khi làm việc nặng. Thế là từ nay anh không còn viện cớ đau lưng để trốn việc mỗi khi bị vợ nhờ cuốc đất, làm vườn.



--------------------------------------------------------------------------------


Bích Loan, mỗi khi mùa Đông đến là một sự sợ hãi. Cô này mỗi khi trời trở lạnh thì cổ và vai trở nên cứng ngắc, không cục cựa chi được.


Mỗi lần như vậy thì phải ngâm mình vào hồ nước nóng, hoặc phải xoa dầu nóng khắp cổ và lưng thì mới nhúc nhích được. Hai năm gần đây, chứng đau nhức lan xuống đến tận bàn tay. Những đốt ngón tay sưng lên và vài ngón bị lệch hẳn qua một bên, mỗi tối phải dùng dầu nóng mà xoa bóp và dán thuốc dán Salonpas hoặc thuốc cao. Tôi khuyến khích dùng nước gạo lứt hàng ngày gần 6 tháng nay, và cũng lạ là những tay không còn bị sưng, cổ bớt tê cứng so với những năm trước. Cái hot tub trong nhà không cần phải chạy vào mùa đông năm nay. Mỗi tối Bích Loan không còn ngồi xoa bóp với dầu nóng.


Tổng kết kinh nghiệm do các bạn đã dùng nước gạo lứt rang :


Sau một tháng, bạn sẽ thấy nước da bạn sáng nhuận, không còn khô nhám. Các chị nhiều khi không cần phải xài kem dưỡng da vì da đã trở nên láng tự nhiên, thấy tốt rất thích. Trong người khỏe, không còn thấy mệt mỏi và uể oải. Nửa đêm hay buổi sáng thức dậy thấy tỉnh táo, thiền lâu và tốt. Uống nước gạo lứt khoảng ba bốn tuần, bạn sẽ thấy trong người nóng, lở miệng....Bạn đừng sợ cứ tiếp tục uống vài ngày là sẽ hết. Sau đó có thể tự điều hòa trở lại bình thường và bạn không còn bị nóng nữa. Những người lớn tuổi không còn bị đi tiểu đêm, dù uống một ngày năm sáu ly nước gạo lứt. Mọi người đều cảm thấy thân thể ấm áp, không còn bị cảm giác ớn lạnh khi ra ngoài dù trời mùa đông tuyết giá và nhiệt độ xuống thấp.


Như Thầy vẫn thường lo lắng cho chúng ta về cả hai mặt sức khỏe và tâm linh. Khi bạn có sức khỏe tốt, thân thể khỏe mạnh, bạn sẽ làm việc hăng say vui vẻ hơn và tâm linh tiến hóa thanh nhẹ hơn, thực hành trọn lành đời đạo song tu.


Đọc đến đây, bạn còn chần chờ gì nữa mà không chạy ra tiệm mua ngay nồi slow cooker và 10 kí gạo lứt tròn về rang, nấu mà uống thử đi chứ !


Chỉ cần rang gạo đến nâu đậm là được. Uống đậm hay lạt là tùy quý bạn (xin xem phần công thức trên). Ngoài ra vì thích uống nóng, tôi thường cho vào bình thủy mỗi sáng để đem đi làm uống dần trong ngày. Mùa đông hay hè đều uống được.


Các bạn có thể tìm hiểu thêm bằng cách liên lạc về:

Thiền đường Lưu động Portland
Nguyễn Đức Trọng
Tel: (503) 2559689 hoặc Fax : (503) 8236942

------------------------------------------------------

Kể ra câu chuyện trên, tôi hy vọng giúp các bạn có cơ hội tự chữa bịnh cho mình và với kết quả tốt của bạn sẽ giúp cho những người chung quanh bạn để họ cũng có một sức khỏe tốt. Vì mỗi người chúng ta trên 40 tuổi thì hầu như ai cũng có vấn đề về gan như yếu gan, chai gan, xơ gan. Cho nên vấn đề thanh lọc gan là cần thiết.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Hình-ảnh HNC 58-65 họp mặt tại Vũ Trung Hiền gia-trang

Xin click vào link HNC 58-65 bên dưới đây, xin click vào View Sliceshow bên phải phía trên để xem Sliceshow:

HNC 58-65 Họp Mặt 2006

Trịnh Long Giang

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

QUÊ HƯƠNG , MỘT LẦN TRỞ LẠI



Ngày Xưa Hoàng Thị

Winnipeg tháng 6- 2006


1

Tiếng rao hàng từ dưới đường vọng lên khiến tôi choàng tỉnh dậy "Bánh mì nóng dòn đây". Tôi không biết là mình đã ngủ bao lâu nữa . Từ Winnipeg về đây phi cơ bị trễ ở Vancouver và Hồng Kông gần 20 tiếng đồng hồ. Chuyến bay kéo dài ra. Tôi mệt nhoài, thân thể rã rời khi đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhứt. Tiếng rao hàng đã đánh thức tôi dậy. Cho tôi biết trời đã rạng sáng. Một ngày mới bắt đầu. Cũng hơn 25 năm tôi mới nghe lại tiếng rao hàng quen thuộc nầy mà ít đất nước nào trên thế giới có được tiếng rao hàng đầy vẻ sáng tạo, muôn hình muôn vẻ như thế. Đi xa, tiếng rao hàng với tôi là một nỗi nhớ không rời. Một nét quyến rũ kỳ lạ. Ngày còn đi học. Những đêm học bài thi khi nghe tiếng chú chệt bán mì ngọt cất lên "mi ngót" (mì ngọt) khỏi cần nhìn đồng hồ tôi cũng biết đã hơn 12 giờ khuya. Tôi gọi chú chệt vì cả xóm ai cũng gọi như thế, chả biết từ bao giờ. Chú chệt thì hiền và ốm tong teo, nói tiếng Việt lơ lớ mà dễ thương lắm. Mì ngọt của chú thì ngon hết biết. Hôm nào Ngoại ở quê về thăm cháu, chị em tôi có tiền để dành tối đến chờ nghe tiếng "mi ngót" của chú vang lên để chạy ra mua chè. Như cô hàng chè thưng mỗi lần nghe tiếng rao hàng thánh thót ngang nhà "Ai ăn chè thưng , bột khoai, nước dừa đường cát không ?" là biết đã 2 giờ trưa. Ngày nào cũng như ngày nấy. Gần gũi, thân thiết biết là chừng nào.
Tôi mở cửa đi ra balcon. Dưới đường đã có người qua lại. Trời vẫn chưa sáng hẳn. Mấy cánh hoa huỳnh anh vàng tươi trước hiên nhà đong đưa trong gió sớm. Tôi đứng đây. Thực sự tôi đã về. Thế mà tôi đã đi xa 25 năm rồi sao? Nhớ một bức thư của Ngọc Điệp lần nào gửi cho tôi. Lời thơ như một thúc giục. Như một trách móc. Như một dỗi hờn "Chị có biết là chị đi đã bao nhiêu năm rồi không ..". Em nghĩ là tôi đã quên. Em nghĩ là tôi thôi nhớ. Biết bao lần tôi hứa với em "Ừ chị sẽ về" nhưng cuối cũng tôi lại bỏ cuộc. Nghe em kể lể mà đứt ruột "Có lần em thấy Mẹ xem hình chị rồi Mẹ khóc. Bộ chị không nhớ nhà sao". Em có biết đâu nỗi nhớ trong tôi không bến không bờ .Có những nỗi nhớ mà suốt đời như một nỗi đau không làm sao mà nguôi ngoai được . Nhớ bến đò Ong Đình Ký một buổi sáng mờ sương . Ngọc Vân chở tôi bằng xe đạp. Thả chị ở đó rồi con bé vội vã quay xe đi. Chị em tôi không kịp nói với nhau lời từ giã. Nhìn ánh mắt lấm lét, có chiều lo sợ của em thấy mà thương. Con bé sợ chị nó bị bắt . Mấy lần mẹ tôi lo cho các con đi lần nào cũng thất bại . Bao nhiêu tiền bạc dành dụm hết sạch. Lần đó bị mối lái gạt. Các em tôi bị bắt nhốt ở Kinh Làng Thứ Bảy cũng hơn nửa năm trời. Lúc được thả về đứa nào cũng biết cấy lúa. Đời sống hiện tại lúc đó của chị em tôi đi vào ngõ cụt. Sau những lần thất bại đó dường như gia đình không còn dám nhắc gì đến chuyện ra đi. Nhưng rồi như một định mệnh, cuối cùng tôi cũng bỏ Mẹ mà đi. Làm sao tôi quên được những đêm nằm chui rúc dưới khoang tàu, giao phó sinh mạng mình cho con tàu nhỏ bé tròng trành giữa đại dương mênh mông . Có quê hương mà phải bỏ chạy . Và hình ảnh một buổi chiều nơi trại tỵ nạn Mã Lai. Cô bé học trò ôm cô giáo cũ khóc ròng, kể chuyện không may của em trên đường vượt biển. Đêm đêm cô trò tôi bên nhau. Tôi vỗ về em. Tôi săn sóc những vết đau còn đó trên thân thể em. Có những buổi chiều nhìn em ngồi hàng giờ một mình trên bờ biển vắng. Mắt đăm đăm nhìn mặt biển không rời. Tôi nghe lòng xót xa. Trời ơi ! Bao giờ cho em quên cơn ác mộng hãi hùng đã qua, cho tôi thấy lại ánh mắt thơ ngây của em ngày nào đến trường , đến lớp.. Rồi cô trò tôi chia tay đi định cư, mỗi người mỗi ngả . Tôi mất liên lạc với em từ ngày ấy. Hai mươi lăm năm đã qua nhưng bên lòng vẫn còn biết bao ngậm ngùi chuyện cũ. Dễ mà quên được sao em ? Nhà tôi cứ nói "Em cứ về như mọi người đã về, đừng nghĩ ngợi gì nữa có hơn không". Đã mấy lần bỏ cuộc, nhưng lần nầy thì tôi phải về. Mẹ tôi bịnh nhiều quá . Lòng tôi đau như cắt khi nghe Ngọc Vân báo tin . Tôi bảo với các con tôi "Mẹ sẽ về VN thăm Ngoại". Con gái tôi dường như không tin lời Mẹ nói . Con bé nhỏ nhẹ bảo tôi "Mẹ cứ nói Mẹ về hoài mà con có thấy Mẹ về đâu . Cho đến một hôm nhân được email từ một người bạn học cũ sau khi anh ấy đọc, bài "Trang Nhật Ký Cuối Năm" của tôi "Tôi nghĩ là TL nên thu xếp về thăm bà cụ. Đừng để trễ quá như tôi, đến lúc tôi về thì Mẹ tôi không còn nữa". Tôi hốt hoảng thực sự và bây giờ tôi đã về đây. Tôi đang đứng giữa đất trời quê hương đây. Đêm qua có lẽ Mẹ tôi ngủ giấc ngủ thật ngon không mộng mị sau hai mươi mấy năm. Con của Mẹ đã về. Cho Mẹ mừng. Cho em thôi chờ, thôi đợi. Cho con đò cũ một lần nhìn lại bến sông xưa
Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
TÔ THÙY YÊN (Ta Về)
2
Kiên Giang chiều nay đón tôi về bằng cơn mưa. Mưa dầm dề. Mưa tháng 6 mà. Mưa đã đổ hạt từ lúc xe rẽ Ngã Ba Lộ Tẻ để vào địa phận Rạch Giá. Con đường nầy ngày xưa với tôi quen thuộc biết chừng nào . Những mùa thi tháng 6. Những lần xuôi ngược Rạch Giá, Long Xuyên.,Cần Thơ. Con lộ dường như rộng hơn ngày trước. Dọc theo đường cái dòng sông xưa vẫn còn đó. Nước đục ngầu. Những hàng bằng lăng với những chùm hoa tim tím nghiêng mình soi bóng trên sông.
Còn hơn 60 km nữa mới về đến nhà . Mưa càng lúc càng nặng hạt . Tôi khe khẽ hát "Tháng Sáu trời mưa trời mưa không dứt. Trời không mưa em cũng lạy trời mưa.." Bên cạnh tôi Điệp cười và cất tiếng "Chị cũng còn nhớ bài hát nầy sao". Tôi thẫn thờ , xa vắng "Anh Nghiệm hát bài nầy hay lắm" . Ôi! Biển xưa . Một lần nào cùng học trò trên những con tàu ra khơi, An Thới. Những đêm trăng sáng cô trò tôi bên nhau trên tàu hát dưới trăng. Đêm lung linh . Đêm tuyệt vời . Huyền ảo . Mặt biển lấp loáng ánh trăng như những dải lụa vàng dập dờn trên sóng nước . Những chàng hải quân một lần tình cờ quen nhau trên tàu cất tiếng ca cùng cô trò tôi nhập cuộc đêm vui .. Mắt em màu trùng dương, tóc em như sóng cồn .. Ôi dòng sông xưa vẫn đầy ắp phù sa cho tôi chơi vơi trở về bến cũ.
Kiên Tân kìa chị. Tiếng Điệp vang lên đưa tôi trở về thực tại. Kiên Tân của những ngày mới vào đời. Giọng cô giáo Nam Kỳ chừng như ngộ nghĩnh , lạ xa giữa lớp mà học sinh đa số là dân di cư người Bắc .Tôi nghe có tiếng thì thầm, lém lỉnh "cô giáo có căn cước chưa nhỉ" . Những giáo sư về Kiên Tân năm ấy có tôi, có Lan Khanh, Lương Minh Nhựt, Tô Thị Ky , Quách Thị Kim Xuân . Nhớ làm sao những đêm bên nhau nơi căn nhà trọ . Căn nhà nhỏ xíu vừa để đủ một cái giường. Ăn ngủ cũng nơi đây mà soạn bài chấm bài cũng nơi đây . Những đêm rằm trăng sáng cả bọn kéo nhau đến ngôi chùa cách trường cũng không bao xa nghe tụng kinh và lễ Phật. Kế bên chùa , vườn nhà ai hương ngọc lan thơm ngát thoang thoảng trong đêm . Có lần tôi theo học trò vào kinh rạch chơi thưởng thức món cua đồng nấu với hoa thiên lý. Vui nhứt là sau 3 ngày dạy nơi đây cả bọn kéo nhau về chợ . Trên những tuyến xe đò chật ních . Chúng tôi chen chúc đứng như đánh đu ở phía sau xe. Tay nầy trên tay kia bám vào song sắt như đang chơi trò "tùm nụm tùm nịu trời đánh tay tiên". .. Sau khi giã từ Kiên Tân để về Nguyễn Trung Trực , đến nay thắm thoát cũng hơn 30 năm tôi chưa có lần về thăm chốn cũ
3
Xe đến An Hòa lúc nào không hay. Xa xa những khóm lục bình tim tím bềnh bồng trên sóng nước . Đây cầu An Hòa. Mảnh vườn nhỏ ven sông. Những buổi picnic vang dậy câu hò tiếng hát . "Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng, kiếm nguồn tươi sáng. Ta nguyền đồng lòng điểm tô non sông từ đây ra sức anh tài .." Tôi thèm nhìn lại những khuôn mặt bé bỏng hồn nhiên của các em học trò thân yêu một lần cùng tôi chung trường chung lớp . Nhớ Lê Văn Bỉnh anh chàng giáo sư Sử Địa vẫn thường có mặt trong những buổi picnic nầy. Bỉnh đạo mạo, nhưng vui tính. Anh hay đến nhà tôi chơi. Tán gẫu. Chuyện học trò. Chuyện trường lớp và cả chuyện ông anh của Bỉnh nữa. Bỉnh cũng xuýt xoát tuổi tôi mà một tiếng cũng chị, hai tiếng cũng chị và có lần phán cho bà chị một câu xanh rờn "Nè chị TL. Chị biết không ? Nếu địa ngục có13 từng thì sau nầy chị sẽ xuống tới từng thứ 14". Tôi le lưỡi, làm bộ sợ hãi "Chu choa . Tôi tội lỗi đến thế hay sao. Vậy mà tôi không biết" . Những ngày xưa thân ái ấy giờ đây còn đâu ? Thầy trò, bè bạn, mỗi người mỗi một góc trời. Chỉ còn chăng là kỷ niệm mênh mang bên lòng trong tận cùng nỗi nhớ ..
Như mây trời viễn xứ
Cánh mỏi tình phương Nam
Bóng hòang hôn tư lự
Nhớ quê buồn miên man
NGỌC VÂN ( Nhớ quê)
Xe đã vào Châu thành Rạch Giá. Cổng Tam Quan -biểu tượng của Rạch Giá- vẫn còn đó như chờ đợi người về. Thành phố đã lên đèn. Vẫn con đường Nguyễn Trung Trực đây mà sao chừng lạ xa quá đỗi . Đường lộ đã phóng rộng ra hơn xưa, chia làm 2 lane xe cộ đi lại 2 chiều. Nhà cửa hai bên đường những nhà lầu san sát nhau đông đúc.
Xe đâu mà nhiều quá. Như mắc cửi. Tiếng kèn inh ỏi rền vang đường phố. Những cửa tiệm buôn , quán ăn đèn đuốc sáng choang, rực rỡ đủ màu đủ sắc. Có những cái tên nghe chừng xa lạ quá "Làng nướng Kiên Giang". Ba mươi năm rồi còn gì nữa. Tôi nghe Điệp khẽ hỏi "Lan thấy Rạch Giá thay đổi nhiều không?". Tôi nghe lạc lõng . Chừng như mình đã lạc đường về.
Cầu Đúc đây rồi. Nhà cô Diễn , thầy Lý Thành Lễ bên kia đường. Chút xíu dấu vết xưa còn sót lại. Bến đò Ong Đình Ký đằng kia. Hình ảnh buổi sáng hôm nao vẫn còn đây. Chuyến đò năm xưa của 25 năm trước đưa tôi đi. Cuốn hút tôi vào kiếp sống lưu vong trong định mệnh nghiệt ngã của dân tộc. Bao năm qua tôi như nhánh rong phiêu bạt, lênh đênh trên dòng sông phiền muộn của đời người. Những đêm bên trời viễn xứ. Thao thức. Kẻ tha hương nghe dạt dào trĩu nặng nhớ thương. Thèm một lần trở về chốn xưa. Giở trong ký ức từng kỷ niệm mượt mà của một thời dấu yêu giờ đã xa khỏi tầm tay với .. Xe đỗ trước cổng nhà lúc nào không ha. Thiện em tôi chạy ra đón ,ôm chầm lấy tôi nước mắt đầm đìa "Chị đi lâu quá mới chịu về" - . Tôi rưng rưng cầm tay em khẽ nói "Ừ thì bây giờ chị về đây". Nhà xưa cũng không thay đổi bao nhiêu . Từ bộ lư đồng, cho đến cái dĩa quả tử , bộ tách trà bằng sứ Trung Hoa .. những di tích của ông bà Nội vẫn còn trên cái tủ thờ bằng gỗ thao-lao đặt ở gian nhà trước . Bộ ngựa gõ năm xưa vẫn còn kia. Nhớ thuở ấu thơ chị em tôi nằm nơi đây nghe bà kể chuyện đời xưa. Có đêm ngoài trời mưa rả rích . Nội sai tôi chạy đến tiệm chú Chín đầu ngõ mua đậu đường, bột khoai về Nội nấu chè thưng. Lần đó Ngoại ở quê ra, bên bếp lửa hồng chị em tôi quây quần bên Ngoại xem bà khuấy bánh đúc ăn với đường cát trắng thắng sền sệt có mè rang thơm phức. Rồi Ngoại bày ra làm ca-dé phết lên bánh mì nướng. Mùi nước dừa béo ngậy ngon quá chừng. Cả một chuỗi ngày dấu yêu về trong chiều nay. Ngoài trời mưa bay bay trong buổi chiều hắt hiu niềm nhớ .. Tôi nghe tiếng Mẹ như đang thì thầm với ai "Con nó về rồi ông ơi".
4

Tôi giật mình thức giấc .Văng vẳng bên tai tôi nghe tiếng mõ. Tiếng chuông. Những câu kinh ADi Đà rất quen thuộc mà tôi nghe biết bao lần từ thuở nào. Trời có lẽ còn sớm lắm. Tôi lắng tai nghe. Bếp núc yên tĩnh lắm. Cô em dâu còn chưa thức dậy để sửa soạn buổi bán hàng ban sáng . Thì ra mẹ tôi đang công phu

Ta nghe thuở nọ
Phật ở Kỳ Viên
Tại thành Xá Vệ
Tăng sĩ một thiên
Hai trăm năm chục
La Hán cao niên
Toàn là bực lớn
Ai cũng biết tên
Trưởng lão Xá lợi Phất ..
Tôi nằm rút trong chăn. Nghe thanh thản, bình yên vô cùng. Ánh trăng thượng tuần còn vắt ngang song cửa. Trên chiếc giường thân yêu ngày cũ. Bên mái nhà xưa đêm qua tôi đã ngủ thật say. Tôi như đắm mình trong dòng sông tuổi thơ êm đềm ngày nào. Có tiếng võng đưa kẽo kẹt. Lời mẹ ru ầu ạ ầu ơ cho con ấm nồng giấc ngủ .Cho con nên vóc nên hình. Rồi dâu bể tang thương nhuộm cả một trời non nước từ ngày ấy. Mẹ bất lực, xót dạ nhìn đàn con tan tác khắp bốn phương trời . Lời kinh buồn Mẹ đọc mãi từng đêm cho phôi pha niềm nhớ
Bay về qua ngõ vắng
Mắt má đã hoen mờ
Trầm tư trong tĩnh lặng
Lời kinh buồn như mưa
(Nhớ nhà KG)
Hình như hồi kinh công phu sáng sớm của Mẹ đã xong .Tôi nghe tiếng lục đục ngoài bếp . Em Mai có lẽ đang chuẩn bị dọn hàng .Tôi nghe Mẹ nói "Để chị con ngủ nghe. Mẹ đi ra ngòai chợ kiếm mua mấy cái bánh quy và xôi vị cho chị con. .Mấy thứ bánh nầy bên đó đâu có mà ăn". Tội nghiệp Mẹ, tôi về như mang cả một trời hạnh phúc về cho Mẹ. Hôm ở phi trường Tân Sơn Nhứt về đến nhà Ngoc Điệp. Gặp lại đứa con sau bao năm biền biệt Mẹ chỉ ôm tôi và khóc thật ngọt ngào. Dù tôi đã đi xa. Dù tôi ở chân trời góc bể nào. Nhưng vói Mẹ tôi vẫn là một hiện hữu bên Mẹ từng giờ từng phút. Như chiếc giường ngủ năm xưa của tôi vẫn còn đó. Từ cái bàn viết . Từ cái tủ áo quần cho đến cái gương con soi mặt, cái ví cầm tay, cuốn Album học trò bè bạn .. Như tôi vẫn còn đây . Như tôi chưa đi xa một ngàynào và tôi biết trong Mẹ những tháng ngày năm xưa vẫn còn đó. Sẽ ở bên Mẹ suốt đời, suốt kiếp.
5
Tôi đến Hà Tiên chiều nay. Thành phố vẫn êm đềm, tĩnh mịch như thuở nào. Khách sạn Hải Đăng nằm bên cạnh Mũi Nai cũng khá lịch sự. Gió chiều phần phật thổi . Từng cơn sóng vỗ mạnh vào bờ. Dì cháu tôi chẳng ai dám xuống biển. Từ năm 1973 đến nay tôi mới trở lại thành phố nầy. Nhớ trại hè của học sinh 16 tỉnh miền tây tại Bài Nò năm ấy có tôi, Thanh Loan, thầy Trầm cảnh Thường, Thầy Phùng nhật Nam, anh Nguyễn Văn Vinh, anh Lê Văn Thu .. Tôi thì phụ với anh Vinh trông coi cái Canteen cho trại hè. Buổi sáng chỉ có bán mì gói bỏ thêm vài lát thịt nguội mà bán không kịp thở. Nhớ những đêm sinh hoạt rộn ràng . Bên bếp lửa bập bùng Thầy trò nắm tay cất cao tiếng hát: Đèo cao dô ta thì mặc đèo cao dô ta .. nhưng lòng yêu nước dô ta .. còn cao hơn đèo dô ta, dô tà là hò dô ta dố ta .. Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn. Đường về ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang ..

Chiều len lén bỏ đi để lại vài sợi nắng muộn màng còn sót lại trên bờ cỏ xanh trướcsân. Những hàng dừa dọc theo bờ biển nghiêng chao trong gió. Chị em dì cháu rủ nhau xuống chợ kiếm quà ăn vặt. Chợ Hà Tiên vẫn còn cái dáng vẻ của ngày xưa. Các mặt hàng như giầy dép, đồ dùng từ biên giới Miên qua bày bán đầy dẫy ở các sạp trong chợ. Bánh bao-chỉ ở đây ngon quá. Mỗi cái chỉ có 200$ nghĩa là chưa tới 2cent Canada. Bánh bò đường Thốt Nốt ngọt lịm cả bờ môi. Nhìn bà lão ngồi bán hàng bên đường thấy mà thương. Đời sống chênh lệch nhau đến chừng ấy. Kẻ vung tiền thừa thãi. Người ngồi chắt chiu kiếm từ cắc, từ xu . Gói bánh thật to mà chưa tới 20.000$ (2$ Canada). Chúng tôi trở về khách sạn thì trời đã đổ mưa. Buổi tối thành phố buồn hiu buồn hắt . Những ngọn đèn đường vàng vọt trong đêm. Dì cháu tôi vừa cà kê dê ngỗng vừa ăn bánh bò cho tới khuya lơ khuya lắc mới lên giường. Trước khi về phòng Thằng Tèo còn bảo "Chắc tối nay mình sẽ nằm chiêm bao thấy bánh bò Dì Tư ơi ?".
Sáng thức dậy cũng có hơn 8 giờ. Thằng Tèo, con Bắp vừa từ bãi biển trở về. "Sao đi tắm không rủ Dì Tư đi" - "Ngoại nói để cho Tư ngủ". Thu xếp hành lý và trả phòng xong, ăn vội điểm tâm ở khách sạn chúng tôi đi thăm một số các thắng cảnh Hà Tiên trước khi lên đường trở về RG . Buổi sáng trời không một giọt nắng. Mưa nhè nhẹ như mưa bụi lất phất bay trên suốt quãng đường tới Thạch Động. Thạch Động vẫn như xưa . Vẫn cái dáng đứng sừng sững, oai nghiêm từ muôn thuở. Những vách đá cheo leo. Tượng đền trong hang hương trầm nghi ngút. Rời Thạch đông. Ghé lăng Mạc Cửu. Thắp nén hương cho người xưa, nghe vị trụ trì nơi đây nhắc lại công đức của Tiền nhân đã khai phá mở mang vùng đất Hà Tiên Thập cảnh. Con đường dẫn vào Lăng Mạc Cửu nên thơ quá. Phượng vĩ đỏ rực cả lối đi.
Đến chùa Hang cũng đã trưa. Bánh gói bằng đường thốt nốt của các em bé bán quà rong nơi đây cũng khá hấp dẫn. Từ chùa Hang nhìn ra bờ biển . Hòn Phụ tử thấp thoáng xa xa .. Hơn 30 năm qua mà đời sống của người dân quê VN vẫn chưa vươn lên được một đời sống khả quan hơn. Dọc con đường lộ từ RG đến Hà Tiên vẫn còn thấp thoáng những mái nhà tranh xiêu vẹo , nghèo nàn. Vẫn còn những bóng trâu cày trên những cánh đồng lúa bao la. Vẫn còn những khuôn mặt thơ ngây lên 10 lên 8 với rổ bánh, rổ khoai, rổ mía chạy theo xe năn nỉ mời mọc bán cho khách qua đường. Mua mấy cái bánh gói vừa ăn tôi vừa gợi chuyện hỏi em bé bán hàng
- Mỗi ngày con bán được bao nhiêu cái bánh
- Hôm nào đắt con bán cả ngày khoảng 3 đến 40 cái , hôm nào ế thì đem về chị em ăn thay cơm
Thằng Tèo, Con Bắp giục lên xe để về RG cho sớm. Tôi từ giã em bé, dúi vào tay em 100.000$ (tiềnVN). Em ngơ ngác nhìn tôi và bảo "Làm sao con có tiền thối cho cô" - "Con cầm lấy cô tặng hết cho con" . Em bé nhìn tôi như muốn nói lời cám ơn. Chợt em ấp úng hỏi "Cô là Việt Kiều phải không cô" . Xoa đầu em . Tôi mỉm cười khẽ bảo "Cô là người VN".
Tôi lên xe . Vẫy tay chào em . Tạm biệt Hà Tiên sau một lần trở lại.
6
Từ hôm về đến nay RG vẫn sớm nắng chiều mưa . Chiều nào cũng thế, mưa tối trời tối đất. Sáng nay Thiện đã đưa tôi đi một vòng để trao tiền của Ngô Quang Võ gửi tặng các Thầy cô. Khuôn mặt của chợ RG thật lạ lẫm .Tôi buồn bã bảo Thiện " Không có nhà lồng chợ RG không giống RG chút nào . Nó kỳ quặc lắm". Cái chuyện phá nhà lồng chợ. Xây công viên. Dời chợ qua bến xe HàTiên đã làm đau lòng không ít kẻ ở lẫn người đi . Theo lời dặn dò của Võ tôi đến nhà thầy Vĩnh. Thầy Vĩnh ở cách nhà tôi một con đường. Thầy là con của ông bác Năm Gần. Sau một thời gian dạy học, thầy lên làm Hiệu Trưởng trường Tiểu Học Vĩnh Thanh Vân. Tôi vẫn gọi là cậu Vĩnh vì cậu là bạn với Mẹ tôi. Cầm $50 tôi trao, tôi thấy giọt nước mắt sung sướng nào đó của người thầy cũ nhận được tấm lòng của đứa học trò năm xưa từ bên trời viễn xứ. Tôi nghe cậu run run nói "Cầu trời Phật phù hộ cho con Võ ơi , con còn nhớ tới Thầy sao ?. Ở nhà thầy Vĩnh ra tôi ghé nhà thăm cô Diễm. Trông cô gầy hơn lần nào gặp lại cô ở Reunion Toronto 2002. Sau 2 năm trời ở Mỹ cô đã về và ở hẳn lại VN. Ngôi nhà rộng rãi, thênh thang quá, một mình cô với chị người làm trông cô cô đơn vô cùng. Thương cô làm sao. Cầm $50 của tôi trao tôi thấy có niềm hạnh phúc nào đó đang rạt rào chảy trong lòng người thầy cũ. Từ giã cô Diễm. Thiện đưa tôi đến nhà thầy Giang Minh Đoán. Nhìn bức ảnh bán thân của Thầy trên bàn thờ tôi nghe lòng nao nao . Xin phép cô Đoán tôi thắp nén hương cho Thầy và trao $50 nhờ cô mua chút hoa quả cúng Thầy . Tôi thấy cô cảm động lắm. Cô có biết Ngô Q Võ là ai đâu ? Cô chỉ biết tình thầy trò của người Kiên Giang có một không hai trên cõi đời nầy.
Nóng quá Thiện ơi. Tôi than nho nhỏ và đòi Thiện đưa về nhà. Xe chạy qua ngã khách sạn Phú Sĩ ngày xưa. Thiện dừng xe cho tôi ghé cái quán bên đường mua bánh cuốn. Cô chủ quán nhìn tôi soi mói một hồi lâu rồi chợt reo lên "Trời ơi! Cô hả cô, cô về rồi hả cô, sao cô đi lâu quá, mấy chục năm rồi còn gì". Tôi nắm tay đứa học trò năm xưa, xúc động đến ứa nước mắt "Cô mới về, còn nhận ra cô sao". Thì ra đó là Kim Yến, con gái của tiệm may Thanh Việt -học trò Lâm Quang Ky ngày xưa. Rồi cô trò ríu rít. Chuyện xưa. Chuyện nay. Chuyện của 30 năm nhiều lắm phải không em ? Cô về thay đổi hết rồi hở cô ?. Tôi tiếp lời em "nhưng tình thầy trò RG không thay đổi là đủ rồi phải không em ?"
Từ giã Yến và hứa với em tối sẽ trở lại ăn bún cá. Tôi ghé nhà thầy Tuyền. Tôi vẫn gọi Thầy Tuyền là anh vì hai nhà ở kế bên nhau từ xưa đến giờ. Chị Ngọc Sương tôi bạn học cùng lớp với chị Kiều Oanh. Phương Lan em của anh lại là bạn học cùng lớp với tôi. Thế mà từ bữa ở SG về đến nay cũng chưa sang để thăm anh được. Ngôi nhà trông vắng vẻ hơn ngày xưa . Cảnh cũ còn đây mà người xưa mỗi người mỗi ngả. Trịnh Long Hổ đã gửi mình nơi cửa Phật. Sớm hôm vui cùng câu kinh tiếng kệ. Tôi trao phong bì của Võ gửi anh. Số tiền $50 có là bao nhưng tôi biết lòng anh bồi hồi xao xuyến vì tình nghĩa thầy trò RG cao đẹp biết bao !
7
Bạn bè Thiện đã ra về. Thiện mời bạn bè họp mặt để mừng bà chị mới về. Có Trung Paul (từ Pháp về) có Khánh (chồng của Mỹ Lương Hữu), có Hoàng mập, có Nguyên (con của tiệm sách Tấn Hóa) và một vài người bạn mới sau nầy. Một buổi tối thật vui. Những tiếng cười hội ngô. Những ánh mắt của hạnh phúc trùng phùng. Thiện uống nhiều quá. Chừng như đã xỉn. Cái dáng của em tôi trong cơn say như chứa cả một trời tâm sự. Điếu thuốc hờ hững bờ môi . Tay nghiêng cốc rượu sầu . Tôi chợt nhớ những dòng thơ năm xưa.
Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa
Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ
Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mơ

Xa quá rồi em người mỗi ngả
Đôi bờ đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào
QUANG DŨNG
3O năm mà cái chuyện đôi bờ đất nước nhớ thương nhau vẫn còn đó. 30 năm vật đổi sao dời. Kẻ đầu non, người cuối bể. Kẻ còn người mất. Như buổi sáng nay đi vào Am Ông Địa để tìm thăm Quách thị Kim Xuân thì mới hay người bạn ngày xưa đã ra người thiên cổ. Bạn tôi đã thực sự giã từ vòng tay học trò. Vĩnh viễn ra đi. Bỏ lại chuyện tình của một nữ giáo sư trẻ và cậu học sinh Đệ Ngũ đã một thuở nào xôn xao quận lỵ Kiên Tân. Xuân ơi ! bao nhiêu chuyện tao dự định sẽ kể cho mầy nghe lúc tao ngồi trên máy bay phút chốc đã vỡ tan. Mấy món quà đem về cho mầy vẫn còn nằm trong valy. Chơ vơ. Buồn bã. Nhưng tao biết ở đâu đó mầy biết tao về. Tao nhớ mầy. Tao thương mầy. Như thế đủ lắm rồi. Phải không Xuân Quách. Bạn bè hay gọi mầy như thế vì trong lớp có 2 Xuân. Chị Xuân kia lớn hơn tụi mình 3 tuổi. Có lần tao hỏi "Mầy biết Xuân Quách là gì hông?" -Thì tên tao-."Trật rồi. Xuân Quách là xách quần đó". Hôm đó mầy rượt tao chạy hết mấy vòng sân trường. Mầy còn nhớ không ? Thôi nhé ! Ngủ yên đi nha Xuân. Ngủ ngon đi nha Xuân. Gửi mầy giọt lệ tiễn đưa muộn màng của tao với ngút ngàn thương nhớ ..
8
Tôi đếm bước đến trường xưa chiều nay. Từng nhịp buồn da diết gõ về lối cũ. Sân trường mùa hè quạnh quẽ đìu hiu như nỗi lòng người trở lại. Những vạt nắng chiều còn rơi rớt bên thảm cỏ xanh ngoài kia. Con đường xưa một thuở nào còn in dấu bước chân ai. Nhớ hoài một chiều tan trường năm xưa. Tôi đạp xe đã qua khỏi nhà thày Huỳnh Văn Giáo một đoạn, có tiếng ai gọi sau lưng thì ra là chú Nhứt -chú lao công trong trường-. Dừng xe lại tôi nghe chú bảo "Thầy Hiệu Trưởng mời cô trở lại trường có chút việc" . Năm đó tôi mới từ Kiên Tân về NTT Thầy Thường đang làm Hiệu Trưởng. Vòng xe trở lại. Đến cửa phòng tôi chào Thầy khẽ bảo "Thầy cho gọi em, có việc gì hở Thầy". Nhìn nét mặt Thầy tôi biết là thầy đang phật ý điều gì đó . Thầy dạy Việt Văn năm tôi học Đệ Tứ và cũng là giáo sư chủ nhiệm lớp -Lớp Đệ Tứ 3- Thầy vào đề ngay "Cho tôi biết tại sao chưa có chuông mà cô cho học trò ra về". Thật ra tôi cũng không nhớ là có nghe chuông hay không chỉ nhớ lớp kế bên học trò ùa ra về. Ngỡ là đã có chuông mà không nghe tôi cho học trò thu xếp ra về. Mặc dù đã đi dạy nhưng tôi vẫn còn sợ Thầy như thuở còn học với Thầy. Tôi nhỏ nhẹ thưa "Em thấy lớp kế bên ra về em ngỡ có chuông" -Cô vẫn lém như ngày xưa- "Em nói thiệt mà sao Thầy không tin em". Bỗng Thầy dịu dàng nói "Thôi cô về. Bộ cô đói bụng lắm rồi phải không trông mặt xanh mét kìa". Mà Thầy làm thầy bói cũng hay thiệt. Con nhỏ học trò ngày xưa của Thầy buổi sáng dạy ở Lâm Quang Ky đến 12 giờ. Về nhà ăn vội bát cơm trở qua NTT dạy từ 1-5 giờ đói meo cả bụng. Ôi ! Kỷ niệm vẫn còn đây mà Thầy trò bây giờ đã ngàn trùng xa cách. Đêm qua xem lại quyển Album cũ. Nhìn tấm hình Thầy chụp trong buổi lễ cắt băng khai mạc Trại Hè 16 tỉnh miền Tây tại Bãi Nò Hà Tiên. Nhớ thầy vô cùng . Trên đường về tôi ghé nhà Lương Minh Nhựt Nhựt đã giã từ những ngày làm cô giáo, có một cửa tiệm chap phô nho nhỏ trông cũng nhàn nhã lắm. Ngồi một lát có Phù Thị Ngọc Thủy đến. Trời như sắp chuyển mưa. Thành phố tối sầm hẳn lại. Còn phải ghé nhà anh Lê Văn Thu để trao tiền của Ngô Quang Võ gửi tặng.
9
Ngày vui đã qua . Đêm nay là đêm cuối cùng ở lại thành phố thân yêu nầy. Mai tôi lại về SG để sửa soạn trở về Winnipeg. Mẹ đang ngồi tẩn mẩn sắp xếp hành lý cho tôi ngày mai lên đường. Mấy ngày nay Mẹ ít nói. Mắt Mẹ đã nhuốm buồn nghĩ đến ngày đưa tôi trở về bên ấy. Nửa vòng trái đất xa xôi Mẹ con lại mỗi người mỗi ngả. Ngày đoàn viên vĩnh viễn biết đến bao giờ ?
Chiều tối nghe chim vịt gọi chiều
Tôi ngồi nhớ má cảnh cô liêu
Âm dương cách trở ba rời má
Nhà nát Má nhờ Ngoại chắt chiu

Vườn ổi Má ươm bằng nước mắt
Lưng còng Ngoại cõng nắng liêu xiêu
Nuôi tôi khôn lớn rồi tôi cũng
Bỏ Má một mình với quạnh hiu
(Nhớ Nhà KG 2005)
Ban chiều theo Mẹ vào Tịnh Xá Ngọc Hải để cúng dùm Võ $50 cho Lễ Vu Lan. Quý sư cô bảo tôi ở thêm tuần nữa để dự lễ Dâng Y Tự Tứ. Mùa Vu lan báo hiếu mà .. Nghe Mẹ thở than tôi xót xa trong dạ "Con về rồi con lại đi khổ biết chừng nào. Phải chi đừng có cái ngày đó" . Câu nói như chuyên chở cả một khung trời dĩ vãng về đây . Đất nước tan hoang từ độ ấy . Đã 30 năm qua mà chuyện ngày xưa Mẹ vẫn canh cánh bên lòng.
Mai và Thiện mới đi chợ về, mang đủ thứ bày ra nào là bánh bèo, bánh tét nướng, bánh tiêu Rạch Giá ..v..v "Chị ăn đi để mai về Canada lại nhớ, lại thèm. Bao giờ Lan về nữa". Tôi biết làm sao trả lời với em bây giờ ?
10
Sáng nay tôi đã ra hãng United Airline để confirm chuyến bay. Hành lý đâu đó đã sẵn sàng. Nghĩ đến đường bay trở về buồn nói sao cho vừa. Một tháng trời ngà ngọc trôi qua thật nhanh. Tôi về lại đan thêm nỗi nhớ nỗi thương trong lòng người ở lại. Tôi mới từ nhà Thầy Điệp trở về. Từ bữa về đến giờ có đi thăm Thầy đâu. Thầy Điệp vẫn như xưa không thấy Thầy già chút nào. Vẫn nụ cười hiền hòa có chút e thẹn như con gái. Trao Thầy phong bì của Ngô Q Võ gửi tặng . Thầy khẽ bảo tôi "có nghề nào hơn nghề dạy học đâu . Phải không TL ?". Ở nhà thầy Điệp ra. Gần tới cầu Phú Lâm, mưa tầm tã. Sài Gòn với những cơn mưa bất chợt như vậy . Không có mang theo áo mưa đành phải chạy trong mưa . Chợt nhớ 2 câu thơ của ai một lần đã đọc.
Em về phố cũ chiều mưa lớn
Vóc ngọc ngà khoe dưới lụa hồng
Điệp em tôi vừa lái xe vừa la "Chời ơi ướt nhem hết chơn hết chọi mà còn đọc thơ". Hai chị em cười vang đường phố. Về đến nhà nghe lành lạnh. Điệp đổ thừa "Tại Lan đòi đi dưới mưa giờ lại than". Tôi nheo mắt bảo em "Mà vui quá phải không ?".
11
Cuối cùng rồi cũng gặp được thầy Thủy. Buổi họp mặt bỏ túi thật vui. Có Thầy Cô Điệp, Thầy Thủy, Anh Tô Đăng Đoàn, Phương Lan, Dương thanh Trắc, Trương văn Điệp, Kim Chung và chị em tôi. Thầy Trần châu Hồ thì không tìm được. Phòng ăn Private tha hồ cho thầy trò tâm sự. Bên thầy cũ, bạn xưa tôi thấy lại tôi của những ngày xa xưa còn cắp sách đến trường. Thầy trò sau bao nhiêu năm gặp lại, líu lo, cười vui như pháo Tết. Những câu chuyện xưa. Những câu chuyện chọc Thầy phá bạn. Những tiếng em từ những đứa học trò mái tóc đã điểm sương mang chút niềm hạnh phúc nào đó cho thầy tôi chiều nay. Thầy trò tôi ai nấy cũng say. Say trong men tình men nghĩa. Buổi tiệc đã tàn. Trên bàn rượu đã vơi. Nhưng niềm hạnh phúc hội ngộ đang rạt rào chảy trong tình thầy trò Rạch Giá . Trao phong bì của Võ cho Thầy Thủy tôi nghe Thầy nói "Lại cho tiền tôi nữa phải không". Tôi vụng về quá . Tôi không biết làm sao cho Thầy tôi đừng mặc cảm. Nhớ hôm xuống Mỹ Tho thăm Thầy Lê Thanh Hiền cũng thế. Thầy dạy Anh Văn năm tôi học Đệ Lục. Chưa hết niên học thầy lại đổi đi nơi khác . Mỗi lần giở lại quyển sách Anh Văn mà thầy tặng cho trong kỳ thi Lục cá nguyệt tôi nhớ Thầy vô cùng. Bẵng đi một thời gian thật dài, khoảng năm 73 Thầy về Rạch giá. Cô bé học trò ngày xưa của Thầy giờ đã trở lại trường xưa để làm cô giáo. Thầy ghé nhà thăm nhưng hôm đó tôi đang coi thi Tú Tài ở Sài Gòn . Thầy gặp Mẹ tôi thầy bảo "Không biết con nhỏ bây giờ bao lớn, sẵn dịp qua RG tôi ghé thăm". Cái chuyên gặp lại Thầy Lê Thanh Hiền cũng khá tình cờ. Nếu không có chuyện cháu tôi con bé Tư, con chị Ngọc Sương tôi sắp lấy chồng mà chồng của cháu tôi gọi Thầy Hiền bằng Bác thì tôi biết thầy ở đâu mà tìm. Cả Thầy trò sau 40 năm gặp lại nhau nước mắt lưng tròng . Tôi rưng rưng nghe thầy nói "Suốt đêm qua thầy không ngủ được . Nghe em nói đến mà thầy không biết em có đến không ?". Rồi Thầy hỏi quyển sách ngày xưa thầy cho tôi còn giữ không? Thầy hỏi tôi còn nhớ chuyện Carnot trong Quốc văn Giáo Khoa Thư không ? Tôi biết Thầy tôi hạnh phúc vô cùng. Cầm phong bì quà tặng của cô bé học trò năm xưa tôi thấy mắt Thầy long lanh ngấn lệ. Nắm tay Thầy tôi khẽ bảo "Thầy nhận cho em vui. Dòng đời xuôi ngược. Biết có lần nào em gặp Thầy nữa không? Công ơn Thầy dạy dỗ em chưa một lần đền đáp". Tôi để phong bì vào túi áo Thầy . Tôi nghe mằn mặn bờ môi . Tôi đã khóc lúc nào không hay ..
12
Còn 4 tiếng đồng hồ nữa tôi thực sự sẽ rời thành phố nầy . Phi cơ sẽ cất cánh lúc 6 giờ sáng hôm nay . Ban chiều thầy Điệp đến nhà chơi để nói lời tạm biệt. Sau lần giải phẫu , mắt thầy cũng chưa bình phục hoàn toàn . Thầy không dám lái xe vì mắt cũng chưa nhìn rõ lắm. Một tháng trời ngắn ngủi tôi cũng chưa đi thăm hết được Thầy Cô và bạn bè thuở nào . Còn biết bao Thầy Cô ngày xưa đang sống âm thầm mà học trò không biết để có một lần thăm hỏi. Thầy Điệp ở lại dùng cơm chiều với chị em tôi cho đến hơn 10 giờ thầy mới ra ra về . Đưa thầy ra đầu ngõ để kiếm xe cho Thầy về nhà. Thầy gửi lời thăm hỏi đến tất cả Thầy Cô và Học Trò ngày xưa bên trời viễn xứ .
Buổi sáng mới 4 giờ mà phi trường Tân Sơn Nhứt đã chen chúc người qua lại. Vợ chồng Mai Thiện và các con cũng vừa từ RG lên để tiễn tôi lên đường. Mẹ tôi như mất thần. Tôi không biết nói gì trong lúc nầy. Ôm mẹ mà nước mắt đầm đìa . Một tháng trời nơi quê nhà giờ chỉ còn là kỷ niệm. Tôi thu trọn từng khuôn mặt thân yêu lần chót rồi lặng lẽ đẩy hành lý đi vào . Những cái vẫy tay ngâm ngùi, Sũng đầy nước mắt . "Mấy phút bên nhau rồi thôi, Đến khi bóng em mờ khuất. Người về u buồn khắp trờ . Người ra đi với ngàn nhớ thương"(1). Lời ca của ai đêm nào như văng vẳng đâu đây Ôi biệt ly nhớ nhung từ đây .. Bên hàng ghế ngồi đợi giờ phi cơ khởi hành. Tôi gục đầu ôm mặt nức nở ..
(1) Biệt Ly của Dzoãn Mẫn



Winnipeg tháng 6- 2006
NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

HNC 58-65 Họp Mặt Thường Niên July 1st, 2006
Long Phụng Lầu - Little Saigon - California


Xin click vào hàng chữ bên dưới
Long Phụng Lầu




Trinh Long Giang
HNC 58-65

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Xin lỗi loài chó


Phạm Lưu Vũ


Cụ giáo Đản là ông đồ cuối cùng ở làng tôi, mất từ những năm sáu mươi của thế kỉ trước. Đến bây giờ dân làng vẫn còn nhớ nhiều câu chuyện về cụ. Chẳng hạn cái hồi ông trưởng thôn quyết định cấm tiệt việc nuôi chó. Thấy cụ là bậc đức cao, có uy tín trong làng, trưởng thôn bèn phái một cán bộ tới gặp cụ để thăm dò ý tứ. Cụ bảo:

- “Cấm là phải. Chó bây giờ có được như chó ngày xưa đâu, rặt một lũ khuyển cả. Chó nhà mà cũng hỏng như chó hoang thì nuôi làm gì cho vừa phải nghe sủa điếc tai, lại vừa bị chúng ỉa cho bẩn làng, bẩn xóm.”

Anh cán bộ nghe chưa hiểu, bèn hỏi:

-“Chó bây giờ khác với chó ngày xưa thế nào hở cụ?”

Cụ giáo thong thả giải thích:

- “Ngày xưa chó hoang gọi là ‘khuyển’ , chó nhà gọi là ‘cẩu’ , phân biệt rõ ràng. Chứ bây giờ thì lẫn lộn, không biết đâu mà lần.”

Anh cán bộ xem ra vẫn chưa hiểu, lại hỏi tiếp:

- “Cháu tưởng ‘khuyển’ hay ‘cẩu’ thì đều có nghĩa là chó cả. Té ra lại có chỗ khác nhau hở cụ?”

- “Khác nhau rõ ràng chứ” - cụ giáo giải thích – “ ‘khuyển’ nghĩa là chó. Nhưng là lũ chó hoang vô chủ, chó hèn, chó vô giáo dục, chỉ biết sủa lung tung, bậy bạ. Không phân biệt kẻ quen, người lạ, gặp ai nó cũng cắn. Vì vậy trong chữ Hán, chữ ‘khuyển’ (犬) chỉ tượng hình con chó đang ngồi thè lưỡi mà thôi. Còn ‘cẩu’ cũng có nghĩa là chó, nhưng là con chó nuôi trong nhà, chó sang, chó phú quý, chó được dạy dỗ đàng hoàng, biết phân biệt đâu là chủ, đâu là khách. Nó chỉ sủa theo ý chủ, bảo sủa thì sủa, bảo im thì im. Một khi nó cất tiếng là sủa có bài bản, có câu cú rõ ràng, gọi là sủa có văn. Thậm chí có nơi, có thời còn hình thành cả một thứ văn hóa... sủa nữa cơ đấy. Vì thế chữ ‘cẩu’ (狗) bên cạnh bộ ‘khuyển’ (犭- chó) còn có thêm chữ ‘cú’ (句 - câu), ngụ ý chỉ loại chó biết sủa ra câu...”


Anh cán bộ một chữ Hán bẻ làm tư cũng không biết, mà thực ra đối với anh, chẳng cần thiết phải phân biệt “khuyển” với “cẩu” đến mức ấy. Chỉ thấy cụ ủng hộ chủ trương của ông trưởng thôn thì mừng lắm rồi, bèn về báo cáo ngay với ông ta. Thế là tuyên truyền, vận động, cưỡng chế... khẩu hiệu cấm chó kẻ bằng sơn đỏ la liệt khắp các bức tường ngang, tường dọc. Tối tối học sinh rồng rắn đánh trống ếch, vác cờ quạt, biểu ngữ đi hô khẩu hiệu quyết tâm tiêu diệt chó ầm ĩ khắp làng. Họ hàng nhà chó sợ xanh mắt mà không hiểu chuyện gì đang diễn ra. Kết quả các chú khuyển hoặc bị đem bán, hoặc được cho vào nồi, biến thành các món hấp, chả, sáo măng, nhựa mận... Chỉ vài ngày sau thì chó tiệt nọc. Khách tới thấy làng êm ả, thanh bình như thuở nguyên sơ vì không phải nghe một tiếng sủa nào...

Nhưng mấy ai biết rằng trước đó còn một chuyện khác, hình như có liên quan tới cái quyết định cấm đoán kia của ông trưởng thôn.

Số là từ cái hồi ông còn chưa lên chức, một hôm dân làng bỗng bắt gặp ông cúi gập người, chĩa mồm vào một con chó mà ho rũ rượi, ho không sao hãm lại được, ho đến lồi cả mắt ra. Đối diện với ông, con chó kia cũng đang cong đuôi lên mà sủa lấy sủa để, sủa đến đỏ mặt tía tai. Cứ một sủa, một ho mãi như thế, chẳng bên nào chịu nhường bên nào, làm ầm ĩ cả một góc làng. Mọi người kinh ngạc quá, cứ như thể hai bên đang cãi nhau, hoặc đang tranh luận vấn đề gì to tát lắm. Mà nếu quả thực là cãi nhau thì xem ra ông có vẻ đang... đuối lý. Bằng chứng là con chó thì vẫn sủa rất hăng, rất hùng hồn, trong khi tiếng ho của ông thì đã khản dần, mồm mũi bắt đầu phì ra toàn rãi dớt với bong bóng cá trôi. Rốt cuộc, cụ giáo Đản được mời tới phân giải xem có phải “họ” đang cãi nhau không. Ông cụ chống gậy đến nghe một lúc rồi bảo:

- “Chẳng ra câu cú gì cả. Thế này thì không phải cãi nhau. Chắc là do cổ họng anh ta bị dị ứng với tiếng chó sủa đấy thôi. Cứ đuổi con chó đi là yên hết.”

Quả nhiên khi dân làng lấy gậy xua con chó đi thì ông cũng bặt tiếng ho. Từ đó ông rất ngại tiếng chó sủa, mỗi khi ra khỏi nhà là phải ngó trước ngó sau, cố làm sao không phải nghe tiếng sủa, bởi cứ động nghe thấy là ông lại lên cơn ho. Đến khi lên chức trưởng thôn, việc đầu tiên ông nghĩ tới là làm sao cấm tiệt nuôi chó trong làng. Cả làng có mỗi mình ông mắc phải cái chứng dị ứng oái oăm ấy, ngộ nhỡ có kẻ độc mồm, độc miệng thêu dệt, bêu xấu thì làm thế nào. Ông dị ứng với tiếng sủa, chứ ông đâu có sợ gì lũ chó má ấy. Chúng có ỉa bậy hay cắn càn thì cùng lắm ông quất cho vài roi. Riêng cái tiếng sủa thì ông không tài nào chịu được. Nó cứ dộng thẳng vào màng nhĩ, màng nhĩ truyền vào trong óc, óc truyền xuống cuống họng làm ông ho rũ rượi, ho như thể cãi nhau. Mà thói đời, có chó nào là chó không sủa bao giờ. Thôi thì cấm quách cho xong. Kết quả làng tiệt được chó, phần thắng rõ ràng nghiêng về phía ông.

Từ đó dễ được mấy chục năm, làng bặt tăm bóng chó. Đến nỗi thanh niên trong làng phải đợi đến lúc lớn lên đi ra ngoài đường làm công nhân, hay lên tỉnh, lên trung ương học đại học... bấy giờ mới biết mặt mũi con chó nó ra làm sao. Nghe đâu gần đây làng bắt đầu nuôi chó lại rồi, nuôi rầm rộ, nhà nào cũng vài ba con. Có điều không biết đó là “cẩu” hay là “khuyển” như cụ giáo Đản nói ngày trước mà thôi. Nhưng lại nghe nói vị trưởng thôn bây giờ cũng là con cháu ông trưởng thôn ngày ấy. Không biết cái chứng dị ứng với tiếng sủa kia có di truyền không? Nếu nó di truyền, thì lại đến lúc “cẩu” hay “khuyển” gì rồi cũng sẽ bị cấm cho mà xem.


Phạm Lưu Vũ


User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

XU HƯỚNG TẢ KHUYNH CỦA LÀNG BÁO MỸ



Sống lâu năm tại đất nước này, ta được biết trên khắp 50 Tiểu Bang, thì mỗi Tiểu Bang có ít nhất là 2 hay 3 trường Ðại Học. Và mỗi Ðại Học thường sản xuất hàng năm ít nhất cũng hàng chục sinh viên tốt nghiệp ngành thông tin báo chí. Nhân lên con số các trường Ðại Học toàn quốc, ta thấy hiện ra một "đội ngũ ký giả phóng viên" thật là hùng hậu mỗi năm mỗi đông đảo hơn lên, và người nào cũng sẵn sàng sử dụng ngòi bút đã được rèn luyện kỹ càng ít nhất là 4 năm trong lớp học. Lúc đầu chưa có kinh nghiệm, thì các ngòi bút kia được thu dụng tập sự tại các cơ quan ngôn luận địa phương nhỏ bé, thường là những tờ báo chuyên đăng quảng cáo cho các nhà buôn quanh vùng. Dần hồi họ "leo thang" lên các chức vụ quan trọng hơn, hoặc làm ký giả hay chủ bút cho một tờ báo lớn, hoặc nắm vai xướng ngôn viên thường trực cho một "Channel" truyền hình có tầm vóc quốc tế.

Ðiều đáng nói ở đây là sự đào luyện nghề nghiệp tại các trường Ðại Học Mỹ không có tính cách chuyên môn thuần túy. Mà nó bị lôi cuốn sang một nẻo đường hầu như cố định do các giáo sư hướng dẫn ngay từ đầu. Mà các giáo sư này, than ôi, lại là những ký giả, hoặc những phóng viên đã có tên tuổi trên đàn ngôn luận xưa nay, hầu hết đều mang sẵn cái đầu óc "bệnh hoạn, cực đoan, thiên tả" từ đời kiếp nào không ai biết! Ấy mới là một vấn đề rất đáng cho ta suy nghĩ.

Ðể minh chứng, chúng tôi xin nêu ra đây trường hợp một Ðại Học kia mà chúng tôi biết rõ thành tích phản chiến, thân cộng có một không hai trên nước Mỹ này. Chúng tôi chẳng muốn nêu tên trường ấy ra làm gì, mà chỉ nói rằng nó đã nổi tiếng là một trung tâm phản chiến hùng hậu kể từ cuối thập niên 60, tức là lúc cuộc chiến Việt Nam đang bước vào giai đoạn một mất một còn. Ðược biết là trong mấy năm 1971-1972, dường như không có tuần nào, tháng nào, trường học kia không đứng làm tụ điểm cho những cuộc biểu tình vĩ đại chống chiến tranh Việt Nam, với số người tham dự, gồm cả sinh viên nhà trường, lên tới đôi ba trăm ngàn một lúc!

Trong số sinh viên kia, có lẫn cả những tên "Việt Kiều" được Chính Quyền Miền Nam cấp học bổng cho đi "du học" trước ngày Miền Nam thất thủ.

Năm 1975, trong mấy tháng đầu định cư, các gia đình tị nạn tại thành phố Boulder
(Colorado) có tổ chức mấy buổi sinh hoạt làm quen nhau. Một tên "du học" nọ chẳng hề được mời gọi (vì lẽ không ai quen biết hắn), nhưng hắn vẫn vác mặt tới dự họp. Giữa lúc ai nấy đang bàn luận về cách thức hội nhập xã hội mới và trao đổi ý kiến với nhau về những khó khăn buổi đầu trong việc tìm kiếm việc làm thích hợp với khả năng từng người, thì tên kia bỗng "đâm ngang" câu chuyện một cách đột ngột. Hắn ngông nghênh phun ra những luận điệu sặc mùi Cộng Sản! Hắn hỗn xược chất vấn cử tọa rằng "Ngày nay nước nhà đã độc lập, đã thống nhất, mà tại sao quý cô bác lại bỏ quê hương chạy ra nước ngoài làm gì"? Hắn còn hỏi thêm:"Phải chăng Miền Nam là tay sai của Mỹ, nên ngoài Bắc mới vào giải phóng"?

Không còn chịu đựng nổi luận điệu hỗn xược ngu ngốc kia, một đồng bào tị nạn, vốn là một chiến sĩ chống Cộng đang ngậm mối thù chất ngất trong tim, đã nổi trận lôi đình mắng cho tên ấy một trận nên thân, rồi nhảy phóc qua mặt bàn, định tóm cổ "thằng ranh con" dạy cho hắn một bài học đích đáng! Hắn co giò bỏ chạy như bị ma đuổi, và kể từ ngày ấy, không còn ai bắt gặp hắn ta đâu nữa cả!...

Thuật câu chuyện trên đây làm một thí dụ, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng tên học trò kia đã trực tiếp hấp thụ các giáo điều "Mác Xít" do nhà trường và thầy giáo của hắn nhồi sọ. Bằng không thì kẻ nào đã bày dạy cho hắn ta cái lối ăn nói côn đồ kia, khi hắn được cho đi ngoại quốc học hành vào cái tuổi vị thành niên? Ðáng ân hận là Chính Quyền Miền Nam đã nuôi "báo cô" những phần tử mất dạy như thế đó để chúng trơ mặt làm tay sai đối phương! Ðược biết ngôi trường kia, hơn một lần, đã phải kê khai danh tính một số giáo sư bị chính quyền Cộng Hòa Eisenhower thủa ấy nghi ngờ có liên hệ với Cộng Sản Quốc Tế, trong thời gian xảy ra "Phong Trào Tố Cộng" gắt gao chưa từng thấy do Nghị Sĩ McCarthy xướng xuất ngay tại nước Mỹ này. Nên nhớ là phong trào này xảy ra cùng một thời gian với "Chiến Dịch Tố Cộng" tại Miền Nam ta dưới thời Ngô Ðình Diệm.

Nay có một vài nhà báo Mỹ địa phương còn chút ít lương tâm nghề nghiệp đã viện dẫn đạo luật "Information Freedom Act" để đòi hỏi nhà trường kia công bố danh sách vừa kể trên, nhưng nơi này vẫn làm ngơ... Ngoài ra, chúng tôi còn thu được một tin bên lề khá động trời, theo đó thì chỉ những sinh viên nào ngoan ngoãn nghiêng theo lập trường thiên tả của các giáo sư thì mới mong tốt nghiệp nhanh chóng. Bằng mà có thái độ chống báng trong thời gian học tập, thì sẽ bị khó dễ đủ điều, bị chấm điểm vào hạng B, C, D, sau khi mãn khóa khó mà kiếm được việc làm như ý muốn. Chúng tôi có quen biết một vài sinh viên tị nạn đã ra trường với cái bằng Kỹ Sư Ðiện Tử hẳn hoi, mà suốt 8 năm trời tiếp theo đó, vẫn cứ phải chịu sống kiếp "Công Nhân Assembly" với số lương vừa đủ ngày hai bữa như một kẻ "I-Tờ" vậy! Ai mà hiểu nổi cái sự oái oăm này?

Vậy thảng hoặc có người nào đó muốn đặt câu hỏi: "Xu hướng tả khuynh của làng báo Mỹ mọc mầm từ mảnh đất nào", chúng tôi không ngần ngại đáp rằng nó đã mọc mầm ngay tại các trường ... Ðại Học, chứ không đâu khác! Và nếu lại có câu hỏi thứ hai rằng: "Tại sao làng báo Mỹ lại có xu hướng tả khuynh như thế"? Thì câu trả lời sẽ không giản dị chút nào. Vì lẽ xu hướng tả khuynh kia chính là "con đẻ" của xu hướng phóng khoáng, tức "liberal", tức "leftist", mà người dân Mỹ - nói chung - đã biểu lộ ngay từ lúc Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ mới được thành lập.

Trải qua 227 năm, xu hướng "Liberal" kia đã sản xuất ra những hạng người quái dị dám công khai thú nhận mình là vô thần (atheist), vô chính phủ (anarchist), đồng tính luyến ái (homosexual). Trai với trai làm tình với nhau thì gọi là Gays, gái với gái ân ái với nhau thì gọi là Lesbians. Lối sống vô kỷ vô luân này không ngờ lại được Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ chính thức thừa nhận bằng một Phán Quyết mới được công bố hồi tháng 6 vừa qua, khiến cả nước ... "té ngửa"! Phán Quyết ấy nói rằng ngoại nhân không được phép "xía mũi" vào chuyện phòng the kín đáo của kẻ khác, cứ "mặc cha họ" muốn diễn trò con từu con heo gì đó thì làm. Và còn dạy rằng kể từ nay danh từ "Hôn Nhân"(Marriage) sẽ được hiểu một cách mới mẻ là "Cuộc sống chung giữa hai người" (Union between two people)!

Ai muốn hiểu sao thì hiểu, chứ Tối Cao Pháp Viện không buồn giải thích thêm một lời nào cả! Dĩ nhiên là giới đồng tính luyến ái cảm thấy "sướng rơn" trong bụng, rủ nhau ra múa nhảy la hét om sòm ngoài đường phố. Chưa gì đã thấy có một vài nơi trên nước Mỹ mà nhà cầm quyền địa phương bằng lòng cho các cặp trai với trai, gái với gái, tổ chức "đám cưới" hẳn hoi, và còn cấp giấy Hôn Thú cho họ, giống hệt như một cặp vợ chồng nam nữ bình thường xưa nay vậy! Eo ôi! Cứ tưỏng tượng hai gã "đực rựa" hoặc hai "nàng Kiều" hú hí với nhau trong một chốn nào đó mà thấy ... muốn mửa ra mật xanh mật vàng!

Biến cố khủng khiếp này khiến thiên hạ "Tá hỏa tam tinh", không biết nên cười hay nên khóc. Thậm chí Tổng Thống Bush cũng rất lấy làm kinh ngạc, nhưng vì sự kính nể bá tính, không muốn làm phật lòng giới tính nào, đành tuyên bố một cách khơi khơi rằng, "Hôn nhân là một cuộc chung chạ trọn đời mãn kiếp giữa một người ÐÀN ÔNG và một người ÐÀN BÀ" (Union between a Man and a Woman)! Gọn gàng có thế thôi.

Viết tới đây, chúng tôi muốn hỏi 9 vị luật gia quyền uy nhất nước trong Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ, và hỏi cả thế giới, rằng kể từ nay chúng ta có nên xóa bỏ hẳn đi mấy dòng chữ nói về "Hôn Nhân" nó đang nằm "chình ình" trong các cuốn Tự Ðiển Tây Tầu Âu Á hay không đây? Và nếu ta xóa bỏ nó đi, thì ta phải ăn nói làm sao với các ... thú vật trên rừng, vì chúng nó ngu dại không hề biết "Ðồng tính luyến ái" là cái quỷ quái gì sất?

Nay quay về với làng báo Mỹ, trước hết ta nên biết đa số dân Mỹ có trình độ văn hóa cao. Dĩ nhiên là các nhà ngôn luận cũng phải có học thức khả quan thì mới có thể chọn nghề cầm bút. Bẩm sinh, họ rất say mê nghiên cứu sách sử chất chồng trong các Thư Viện để làm giầu kiến thức. Và khi bắt gặp cái gọi là "Chủ Nghĩa Xã Hội" mà tên Karl Max đã tung ra hồi cuối Thế Kỷ thứ 19, thì họ liền xem như một bảo vật hiếm thấy trên đời, bèn cắm đầu cắm cổ vào học hỏi nghiên cứu, rồi đem truyền bá ra ngoài quần chúng một cách vô trách nhiệm!

Mãi cho tới khi Chủ Nghĩa ấy bị lột mặt nạ ra là một món thuốc độc gớm ghê, một vũ khí cực kỳ lợi hại của phe tả, đã giúp cho bọn vô thần vô thánh độc tài tàn bạo lừa gạt thiên hạ để nắm lấy quyền ăn trên ngồi trốc, vậy mà các nhà ngôn luận Mỹ vẫn không chịu xét lại vấn đề, vẫn cứ tiếp tục truyền bá nó, ca tụng nó! Nói có sách, mách có chứng. Người Việt tị nạn tại Mỹ thấy rõ hơn ai hết là cho tới giờ phút này đây, làng báo Mỹ vẫn không tỉnh thức trước cái họa Cộng Sản Vô Thần, mà còn ngoan cố bào chữa biện hộ cho Cộng Sản Quốc Tế nói chung, và tập đoàn Cộng Sản Việt Nam nói riêng. Họ gọi tên phản tặc Hồ Chí Minh là "anh hùng giải phóng"! Thậm chí họ còn trắng trợn xuyên tạc cuộc chiến Việt Nam trước đây là một cuộc "Nội chiến" để mượn cớ mà lên án Hoa Kỳ phạm tội "xâm lăng" vì đã đem quân giúp đỡ Miền Nam diệt trừ Cộng Sản!

Thật rõ ràng là ngành truyền thông Mỹ cũng như đảng Dân Chủ Mỹ đều mang chung cái tâm địa "Ðộc Ác Vô Song" đối với người Việt quốc gia Miền Nam, như chúng tôi đã thẳng thắn tố giác trong một bài viết mới đây. Thật quá lạ lùng! Họ nhẫn tâm chà đạp trên mọi nỗi khổ đau uất hận của bao nhiêu dân tộc nạn nhân Cộng Sản trên thế giới, đặc biệt là dân tộc Việt Nam chúng ta! Tại sao thế? Có phải là tại truyền thông báo chí Mỹ quá kiêu căng hách dịch về thế đứng của họ, mà quên đi rằng bản thân họ chính là những thằng "con nít" ngây thơ khờ dại chẳng biết "mô tê" gì về cái họa Cộng Sản sờ sờ trước mắt? Ấy cũng do chỗ họ may mắn hơn ta khi chưa từng sống một ngày nào dưới ách Cộng Sản, cũng chưa từng nếm thử một giây phút đọa đày nào nơi các trại tập trung, thì họ làm sao biết được bọn chúng là "Thú" hay người? Lời tục ta có câu "Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe" Thế nhưng làng báo Mỹ nào có chịu "dựa cột" đâu? Trái lại, họ cứ viết, cứ nói huyên thiên bất bất tận ngày nọ tháng kia, riết rồi ... con rắn trong lỗ cũng phải bò ra nghe họ, và đến cả các vị Thần Thánh trên Trời có lẽ cũng phải tin rằng họ ... nói đúng!

Ai chả nghĩ rằng làng báo Mỹ, với cái thế lực vô biên, với các phương tiện truyền thông dồi dào và đa diện, sẽ là một "Big Brother" khả kính trên đàn ngôn luận, sẽ là một kiện tướng chống đỡ giùm cho lẽ sống tự do vinh hiển của con người trên trái đất. Chứ có hay đâu họ lại cố ý đi làm tay sai cho lũ vô thần vô thánh, vô phụ vô quân, đi giúp đỡ quân ăn cướp giết người ngồi vững trên chiếc ghế độc tài dính đầy máu!

Ô hô! Ai tai!..



TLGiang lụm được trên Internet

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Bà mẹ bán vé số

Ngô Nhân Dụng

Hôm qua Nhật báo Người Việt đăng câu chuyện cụ Nguyễn Thị Khâu, một bà mẹ già ở Long Xuyên. Cụ năm nay 80 tuổi mà vẫn đi bán vé số, mỗi ngày kiếm được chừng 20,000 đồng, trừ tiền đi xe ôm, còn 14,000 đồng tiền Việt Nam. Cụ Nguyễn Thị Khâu đang nuôi một người con gái bị bệnh, các con cháu khác đều ở xa. Phóng viên Thu Hiền chụp cả bức hình cụ đang ngồi bên cột đèn đường vào lúc trời đã tối, trên vỉa hè bày cả hành trang của cụ, ngoài giỏ vé số và đôi dép cao su còn có chai nước lạnh nằm lăn, nước đã vơi một nửa.

Ngày hôm Người Việt Online nhận được nhiều e-mail, hơn một nửa các bức thư chỉ hỏi thăm cụ bà Nguyễn Thị Khâu, ngỏ ý muốn liên lạc để giúp cụ. Một độc giả ở tiểu bang Iowa (cũng đọc Người Việt Online vì báo in không thể gửi nhanh thế), cũng gọi điện thoại xin địa chỉ cụ Nguyên Thị Khâu. Người gọi giới thiệu gia đình bà có mấy chục cây xăng, “nhưng mai mốt tôi chết đi cũng chẳng mang theo được đồng nào,” bà muốn giúp cụ Nguyễn Thị Khâu ngay một ngàn mỹ kim - bằng lợi tức ba năm làm việc của cụ, nếu không bị đau ốm phải nghỉ ngày nào. Trước đây, Nhật báo Người Việt đã đăng hình mấy em bé leo bám theo phà qua sông để bán vé số kiếm sống. Độc giả khắp nơi cũng xúc động tỏ ý muốn giúp đỡ như vậy.

Chúng ta đều yêu thương mẹ, yêu thương các bà mẹ. Cũng như thương sót các em bé vất vả kiếm sống hàng ngày. Bài viết và bức hình cụ Nguyễn Thị Khâu đã khiến chúng ta đều nghĩ đến mẹ mình, tưởng nhớ những bà mẹ sống trên đất nước Việt Nam. Mẹ già như chuối ba hương, như xôi nếp mật như đường mía lau. Nhìn một bà mẹ 80 tuổi còn giãi nắng dầm sương, ai chẳng xúc động? Trong đó, cũng có lòng thương cảm đối với những đồng bào ruột thịt kém may mắn hơn mình. Ví thử chúng ta thấy một cụ bà già như vậy, cũng làm việc vất vả như vậy để nuôi con, nhưng là người Mỹ hoặc người nước Ethiopia, thì chắc không có những phản ứng đầy từ tâm nhanh chóng như thế.

Những tấm lòng thương cảm vì nghĩa đồng bào đã được biểu lộ trong nhiều dịp khác. Người Việt Nam ở nước ngoài, và nói riêng ở nước Mỹ, luôn luôn sẵn sàng đóng góp cho nhiều mục tiêu thiện nguyện, nhất là để giúp đồng bào trong nước. Năm ngoái, cuộc lạc quyên để giúp đỡ người bị bệnh cùi ở Việt Nam đã thu được khoảng 150,000 đô la. Mười năm trước đây, cuộc đi bộ lạc quyên giúp thuyền nhân đã thu được 85,000 đô la ngay trong một ngày. Tấm lòng người tị nạn dễ xúc động nhất khi nhắc tới những người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa. Năm ngoái, hai chiến dịch lạc quyên lấy quỹ xây dựng Tượng đài Chiến sĩ ở thành phố Westminster đã thu được hơn trăm ngàn mỹ kim. Mấy tuần nay, chiến dịch của “Hội HO cứu trợ Thương Phế binh, Quả phụ quân đội Việt Nam Cộng Hòa” đã thu được số tiền lớn hơn tất cả các cuộc lạc quyên thiện nguyện từ trước đến nay.

Hội HO đã nhận được khoảng 50,000 đô la trước ngày đại nhạc hội gây quỹ, trong ngày đó nhận được hơn 150,000 đô la, và đài truyền hình SBTN cũng nhận được từ khán giả trên toàn quốc 136,000 đô la để chuyển tới giúp đại nhạc hội. Những người gửi tiền nhờ đài SBTN chuyển đã góp những món tiền nho nhỏ, từ 20 đô la, 50 đô la cho tới 200, 400 đô la, họ ở rải rác nhiều tiểu bang ở Mỹ, cho thấy một mối đồng tâm rộng lớn. Sự thành công của Hội HO cứu trợ Thương Phế binh, Quả phụ quân đội Việt Nam Cộng Hòa cho thấy tấm lòng biết ơn của chúng ta đối với những người chiến binh một thời đã bảo vệ chế độ tự do của miền Nam Việt Nam. Mối tình tri ân đó không hề phai nhạt với thời gian mà có thể con sâu đậm, chặt chẽ và bền bỉ hơn, dù chiến cuộc đã chấm dứt hơn 30 năm, những nấm mồ đã xanh cỏ bao nhiêu mùa mưa nắng, những cô nhi đã trưởng thành, nhiều góa phụ có thể đã qua đời rồi.

Thực ra những cuộc lạc quyên cứu giúp những đồng bào xấu số ở trong nước đã có từ lâu và có rất nhiều. Các gia đình, tông tộc vẫn tương trợ lẫn nhau, người bên ngoài giúp người bên trong. Những người đồng hương góp tiền gửi về xây trường học, đào giếng nước cho làng cũ. Cựu học sinh các trường sống ở nước ngoài cùng nhau giúp các thầy cô giáo và các đồng môn trong nước. Các tín đồ quyên góp để xây chùa, làm nhà thờ ở trong nước. Đó là chưa kể việc giúp đỡ các hội thiện ở Việt Nam và tổ chức những nhóm về Việt Nam đi khám bệnh, phát thuốc, khuyến khích đồng bào phòng bệnh.

Tương trợ đồng bào trong nước là một việc ai cũng sẵn sàng làm. Không cần phải giầu có như vị độc giả có mấy chục cây xăng ở Iowa mới sẵn sàng mở tấm lòng từ thiện. Nhiều cụ già ở khu Tiểu Sài Gòn mỗi ngày cũng làm việc cực nhọc không thua cụ bà Nguyên Thị Khâu. Có cụ đi bán dạo những tờ báo Người Việt ngoài phố thu từng 25 xen một, có cụ bầy bán rau trên lề đường mỗi ngày kiếm thêm mấy chục đô la, các cụ cho biết chỉ muốn dành dụm thêm tiền ngoài những món trợ cấp xã hội của chính phủ, để giúp bà con thân thuộc hay bạn bè ở trong nước. Những cụ bà đó cũng là những bà mẹ Việt Nam tiêu biểu không khác gì cụ Nguyên Thị Khâu đang vất vả nuôi con. Họ may mắn hơn cụ Khâu, không những mắt họ không bị mù lòa, mà nếu có bị lòa thì cũng được trợ cấp y tế chữa trị khỏi tốn tiền. Họ còn may mắn hơn vì được sống ở một nước tự do, nơi đó người ta tự do được làm việc thiện.

Tự do thì có ích lợi gì cho những người cùng khổ trong xã hội? Câu hỏi đó thường được nêu lên khi những người cầm quyền muốn chống lại phong trào đòi tự do dân chủ ở những nước người dân còn sống trong chế độ độc tài. Họ thường bảo rằng Tự do là một món hàng xa xỉ, cho những người có tiền có của. Họ nói rằng đối với những người nghèo khổ suốt ngày chỉ lo kiếm miếng ăn thì tự do hay không tự do cũng vậy thôi. Không ai ăn được Tự Do cho đỡ đói! Không ai khoác quyền Tự Do lên mình mà đỡ rét. Nhưng sự thật có phải như vậy hay không?

Ví thử ở nước mình có tự do, thì bà con ta không phải chờ Nhật báo Người Việt liên lạc tìm địa chỉ của cụ bà Nguyên Thị Khâu cho các độc giả muốn giúp đỡ cụ già 80 tuổi này. (Tòa soạn đang tìm địa chỉ, sẽ thông báo tới những vị muốn hỏi). Tờ báo không mất bao nhiêu ngày giờ mới nhờ được một cá nhân đi tìm địa chỉ, rồi độc giả cũng phải nhờ những cá nhân khác mà họ quen ở trong nước để tìm đến cụ đưa tiền giúp đỡ. Nếu có tự do, đồng bào chúng ta có thể lập những hội thiện nguyện ở trong nước để làm những việc đó. Hoặc người Việt ở nước ngoài có thể về trong nước lập các hội thiện nguyện làm những việc phước đức như vậy mà không ai cấm cản.

Hiện nay những nhóm người Việt ở nước ngoài muốn giúp đồng bào trong nước đều phải nhờ các cá nhân làm việc lẻ loi, hoặc phải đi qua các tổ chức mà họ không biết có lương chính, đường hoàng hay không. Nếu muốn đi khám bệnh miễn phí cũng phải nhờ đến cơ quan chính quyền. Có khi một đoàn bác sĩ ở Mỹ về đã xin phép tới khám bệnh miễn phí ở một tỉnh, được phép rồi, mà phút chót lại bị đình hoãn, chỉ vì đã hỏi xin một quan chức này mà chưa được phép của quan chức khác có quyền cao hơn. Việc cứu trợ nạn nhân bão lụt, thiên tai đều phải đi qua các cơ quan nhà nước. Muốn tổ chức làm việc từ thiện cũng phải tìm một đảng viên cộng sản tử tế nhờ đứng tên giúp, không khác gì việc mở cơ sở kinh doanh.

Nếu tất cả những rào cản đó được phá bỏ một phần nào để cho người dân Việt Nam có quyền tự do lập hội từ thiện giúp lẫn nhau, thì chắc chắn công việc tương trợ giữa người ở ngoài và người trong nước sẽ tăng lên gấp trăm, gấp ngàn lần hiện nay.

Nghĩa là cần phải có quyền tự do lập hội. Trong hiến pháp Việt Nam có ghi thứ quyền đó. Nhưng cũng như các thứ quyền khác ghi trong hiến pháp, người dân nước ta có quyền nhưng còn phải “có phép” nữa. Nếu người dân Việt Nam có quyền lập hội, thì việc giúp đỡ những người nghèo khổ sẽ dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn. Đó chỉ là một ích lợi rất nhỏ đối với những người cùng khổ, vì thật ra nếu đất nước có tự do thì dân ta không đến nỗi nhiều người cùng khổ như hiện nay.

Người Việt Nam không ngoảnh mặt làm ngơ trước cảnh cùng khổ của người chung quanh mình. Sẽ có các đại biểu quốc hội đòi làm những đạo luật an sinh xã hội, để bảo đảm những người già 80 tuổi phải được quốc gia cấp dưỡng, bảo đảm mức sống tối thiểu cho mọi người tật nguyền hay bị bệnh không thể làm việc. Cụ Nguyễn Thị Khâu đáng được hưởng những thứ trợ cấp xã hội như thế, người con gái mà cụ đang nuôi cũng có thể được hưởng. Một nước tư bản như ở Mỹ người ta còn làm được những luật như thế, mang tiếng theo chủ nghĩa Xã hội lại không có được là tại sao?

Tại sao các đại biểu quốc hội ở Việt Nam lại không làm những đạo luật như vậy? Có phải vì không ai trong đám đại biểu này biết động mối từ tâm hay chăng? Không phải như vậy. Rất nhiều đại biểu quốc hội muốn xã hội xuống bằng hơn. Nhưng họ không có quyền tự do quyết định. Mà chính họ cũng do đảng Cộng Sản chỉ định chứ không hề được dân bầu lên một cách tự do. Tháng trước nhà báo Lê Văn Nuôi ở Sài Gòn mới nhắc đến vụ dân biểu Trần Thái Văn ở California đã đưa ra dự luật gọi là “Luật bánh chưng” để yêu cầu sửa lại luật lệ về thực phẩm của tiểu bang, cho phép bánh chưng được lưu trữ lâu ngày hơn con số ngày vẫn thường áp dụng cho hamburger hay pizza.

Trên báo Tuổi Trẻ, ông Lê Văn Nuôi đặt câu hỏi tại sao một người Việt Nam làm dân biểu bên Mỹ lo tranh đấu cho quyền lợi của đồng bào mình như vậy, mà các đại biểu quốc hội ở Việt Nam thì không ai làm? Tại sao các đại biểu quốc hội chỉ chờ nhà nước soạn sẵn luật cho họ thông qua? Ông Lê Văn Nuôi đã từng làm đại biểu quốc hội mấy khóa, ông còn lạ gì. Ở California, ông Trần Thái Văn phải lo bảo vệ quyền lợi của những người gốc Việt Nam, vì ông hy vọng sẽ được họ ủng hộ bỏ phiếu cho trong các mùa tranh cử. Ở Việt Nam, ông Lê Văn Nuôi khi ra ứng cử cũng là do đảng chỉ định, được đắc cử cũng vì đảng ngăn không cho ai đối lập tranh chiếc ghế đại biểu với ông. Nếu như các đại biểu quốc hội đều phải lo “kiếm phiếu” thì họ sẽ lo bảo vệ quyền lợi của cừ tri. Chuyện đó chỉ xẩy ra khi đất nước có tự do.

Cụ bà Nguyễn Thị Khâu năm nay đã 80 tuổi. Chúng cháu chúc cụ may mắn sống lâu thêm mươi năm nữa, hy vọng lúc đó dân Việt Nam được tự do, các đại biểu quốc hội sẽ lo làm luật bảo đảm những cụ già 90 không phải đi bán vé số mà vẫn đủ ăn. Hoặc ít nhất, họ cho dân được tự do lập hội để làm việc thiện. Những đứa bé được đi học không phải leo phà bán vé số nữa. Cuối cùng, nước ta cần có tự do, chắc cụ Nguyễn Thị Khâu cùng đồng ý như vậy.

Ngô Nhân Dụng


:


Xin click vao link duoi day de nghe bai hat "Chuc mung tuoi Me"

Chúc Mừng Tuổi Mẹ

Post Reply