Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Ta nợ những người chết sông chết biển
Ta nợ những người ở lại để ta đi....


Video Khúc Hát Thương Binh

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Hàng Trung Quốc

Image

Image

Image

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

khieulong wrote:Gửi súng cho tao
Nguyễn Cung Thương

Tao cụt một chân một tay,
Nhưng còn một tay
Viết thư giùm cho thằng mù hai mắt
Nghe nói ở xứ người chúng mày "cày" như trâu
Nhưng không quên đồng đội
Chia đôla cho chúng tao, như chia máu ngày nào
Tao cũng sớt cho mấy thằng bạn: phế binh Việt Cộng!
Chúng cũng què đui sứt mẻ như nhau
Bởi đảng của chúng bây giờ là lũ đầu trâu..

Có điều tao không thể hiểu
Bao nhiêu năm qua
Chúng mày cứ mãi dặn dò
Thế giới văn minh, đừng làm gì bạo động
Liệu chúng mày có thể hoà hợp được không
Với lũ kênh kênh hổ báo?
Những con thú cực kỳ giầu có
Mang " thẻ đỏ , tim đen "
Nợ Nga, sợ Tầu, lạy Mỹ
Với quan thầy cung cúc tận tụy
Quay về đàn áp dân đen
Chúng đóng đinh Jesus lần nữa
Bịt Miệng Cha, trói Phật, nhốt Sư quản lý chùa

Chúng tao lết lê trên thành phố Cáo Hồ
Nên biết rõ từng tên đại ác
Trên bàn tiệc máu xương dân tộc
Nhà hàng nào chúng cũng ăn nhậu
Bé gái nào cũng bị chúng mua trinh!
Chúng ta sẽ tỉa từng thằng
Đất nước cần nhiều "quốc táng"
Bớt được mạng thằng Cộng Sản nào
Thì địa ngục xã hội chủ nghĩa này
Còn có chút sáng láng hơn

Hãy gửi tiền cho những nhà tu
Để họ mở cửa nhà tù
Còn chúng tao là chiến sĩ
Hãy gửi về cho chúng tao vũ khí
Thằng cụt tay sẽ chỉ cho thằng mù mắt bấm cò
Thằng còn chân sẽ cõng thằng què quặt
Trận chiến sau cùng này sẽ không có Dương Văn Minh


Nguyễn Cung Thương
Sàigòn, VN

Gởi Chất Nổ Cho Mày
Trần Phương Đông

Image
Đọc những dòng thư mày mà lòng tao quặn thắt
Đời chúng mình cuối cùng phải như thế này sao
Mày bên đó lê la những ngày tháng hư hao
Tao bên này lăn lóc trên con đường cơm áo

Hãy " Gởi Súng Cho Tao " như một lời cảnh cáo
Chúng mày quên cả rồi Tổ Quốc lẫn Quê Hương
Quê hương đó có máu tươi và có cả thịt xương
Của đồng đội , của bạn bè đã hy sinh nằm xuống

" Gởi Súng Cho Tao " đã làm nhiều thằng luống cuống
Chúng mải mê lợi danh mà quên mẹ mất chuyện này
Cám ơn mày với những lời nhắn nhủ thật là hay
Để những thằng vong tình biết giật mình bừng tỉnh dậy

Tao sẽ gởi cho mày những căm hờn không che đậy
Của trái tim đầy vết thương đã thoi thóp từng lâu
Tao không gởi cho mày súng như mày hỏi đâu
Mà tao gởi cho mày bằng những thùng thuốc nổ

Hãy ôm nó xông vào lũ bạo tàn bằng tấm lòng cuồng nộ
Và tao cũng sẽ về cùng mày để đi trọn chuyến đi này
Cuộc đời nào rồi cũng qua như gió thổi mây bay
Thì tiếc làm con mẹ gì cuộc sống nhiều tủi hổ

Sống vui được sao khi toàn dân nghèo nàn cùng khổ
Còn thân phận chúng mình như những miếng giẻ rách giữa đời
Chờ đó ...tao sẽ về cùng mày để hoàn tất một cuộc chơi
Và cho trọn cuộc tình của những thằng gọi nhau là đồng đội

Và cũng để một lần cúi đầu tạ tội
Với quê hương và tổ quốc của mình
Với bạn bè , với những oan khuất anh linh
Để đi trọn con đường vinh quang của những người mang tên là lính

Hãy ôm chất nổ giết sạch bọn giặc thù không cần toan tính
Thằng nào rồi thì cũng một lần chết vậy thôi
Hãy chết thật vinh quang cho người lính được lên ngôi
Chờ đó đi.... mai tao về với những thùng thuốc nổ ....

Mai về tạ tội quê hương
Cùng nhau đi trọn đoạn đường chiến binh
Sống lỡ nhục chết phải vinh
Cho dòng máu lính thắm tình Việt Nam

Trần Phương Đông
band4 3G McKeno

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

SỐ Song Thao

Mua số là việc hình như chúng ta ai cũng đã từng làm ít nhất là một lần trong đời. Nói một lần chỉ là một cách nói vì xổ số nó như ma túy. Đã lậm vào thì khó tìm đường ra. Một lần sao được? Hai chục năm nay, kể từ ngày đặt chân tới Canada tôi vẫn tuần hai lần cúng ông thần 6/49. Từ ngày số chỉ một đô đến ngày số hai đô một tấm. Đó là không kể những lần cúng thêm số Banco hoặc số Super 7 mỗi khi số tiền độc đắc tăng lên tới con số hàng chục triệu. Mua riêng cho mình là một chuyện, mua với nhóm bạn trong sở làm, mua với nhóm bạn nhậu, mua với nhóm bà con họ hàng mỗi khi số độc đắc jackpot vắt vẻo ngồi cao. Kể ra số tiền cúng cũng khá nhiều nhưng chưa... tới số! Một đôi khi ngồi tính thấy số tiền cúng quẩy từ hai mươi năm qua cũng kha khá bèn tỉnh ngộ lòng dặn lòng chẳng nên cúng tiếp. Lúc tính quẩn thì tính như vậy nhưng bỏ nàng nhân tình tốn tiền mà chẳng nước non chi này thì coi bộ không dễ. Nếu không mua, lỡ cái số mình nuôi từ hai chục năm qua nó lạng quạng chui ra thì mần răng. Điên người lên chứ giỡn sao!

Nghĩ đi nghĩ lại như vậy lại thôi, thà để người ta phụ mình chứ mình không phụ người ta. Lại móc bóp! Vài kỳ không trúng, lòng lại dặn lòng, nhất quyết đấy nhé, phen này nhất định không dại góp thêm viên gạch cho cái tòa nhà của Sở Xổ Số nằm to đùng trên một con phố sang trọng. Ông thần tài có lẽ thấy sắp mất một thần dân nên can thiệp liền. Buổi tối, đang yên giấc, bỗng thấy chân đạp đầy chất phế thải của con người. Vàng nào chẳng là vàng, vàng dính be bét trên chân trong giấc mộng là vàng chói chang trong két sắt. Bèn bâng khuâng nghĩ ngợi. Biết đâu! Lại móc bóp!

Tôi không trúng, bạn không trúng, chuyện thường. Vì chúng ta chỉ là một con số trong hàng chục triệu người xếp hàng chờ ông Thần Tài pi pi lên đầu. Dễ gì mà chất phế thải của bậc thần thánh văng tới tôi, tới bạn! Nhưng có xổ thì có người trúng. Nếu tôi trúng thì tôi sẽ điên lên như thế nào? Nếu bạn trúng thì bạn sẽ lạc mất bản thân ra sao?

Anh chàng Phúc trong tiểu thuyết “Trúng Số Độc Đắc” của Vũ Trọng Phụng cho ta một mẫu phản ứng của người trúng số độc đắc. “Phúc vừa lẩm bẩm khẽ đọc những con số mà anh đã thuộc lòng, tức là số vé của anh, vừa điềm nhiên bốc tờ Đông Phương Nhật Báo. Anh rất lấy làm kinh ngạc khi thấy trên mặt tờ báo mở rộng tất cả sáu con số ấy, đứng theo cái trật tự ấy, dưới dòng chữ ghê gớm này: Trúng độc đắc mười vạn! Hốt nhiên anh thấy như hoa mắt, như ù tai... Anh tự hỏi: “Có lẽ nào? Có lẽ nào lại thế được?” y như một người đứng trước một sự quái gở nó đã xảy ra, khi tưởng rằng chẳng có đời nào nó lại xảy ra được. Tức thì anh đứng lên, đem tờ báo theo, định lên gác để lấy trong tủ ra cái vé số của anh, rồi đối chiếu xem mình có nhớ nhầm hay không... Anh mở tủ, mở hộp, tìm vé số mãi mới thấy, chân tay run bắn lên, như người bắt đầu hành động một tội ác... Đến lúc thấy sáu con số trên cái vé, ở cả hai khung hai bên, đều đúng với con số trên báo, anh mới dám tin hoàn toàn. Anh nhịn thở để mong trấn tĩnh cái linh hồn của anh lúc đó nó lao đao xao xuyến như một trận bão... Anh nhìn trước nhìn sau, lo sợ có ai nhìn thấy mình chăng. Rồi anh lại cất cái tính mệnh của anh vào hộp, bỏ hộp vào tủ, khóa tủ hai vòng. Cuối cùng anh giấu cái chìa khóa tủ vào một chỗ rất kín đáo, dám chắc không ai sờ mó tới. Thế rồi anh ngồi đờ mặt ra. Óc anh lúc ấy rối loạn quá, anh không biết nghĩ gì nữa, cũng chẳng biết làm gì nữa. Mà dầu muốn thế nào cũng chẳng được cả, thân thể anh cứ run lên lật bật, tựa hồ như anh vừa giết người vậy. Bỗng một ý nghĩ đáng kinh hoàng đến với cái trí não rối loạn của anh như một tia nắng lọt vào phòng tối... Hay nhà báo đã in nhầm? Anh lại nhìn vào nhật trình và thấy con số ấy đều to bằng những ngón tay cái, anh mới thật là yên tâm. Tuy nhiên anh cũng định cứ xuống cửa mua một tờ báo khác nữa xem cho kỹ lưỡng.”

Trúng số, nó vất vả như vậy đó. Vất vả như bạn tôi, ký giả Hà Túc Đạo, trúng số độc đắc. Lúc đó là vào đầu thập niên 70, tôi đang ngồi trong nhà thì Hà Túc Đạo và Khánh Giang xô cửa đi vào. Mặt Hà Túc Đạo tái mét, tay run run chìa ra cho tôi coi một tập xéc nhà băng, giọng cũng run run. Moa trúng độc đắc! Lần đầu tiên trong đời tôi mới tận mắt nhìn được một người vừa bị ông Thần Tài đá yêu vào đít. Anh mất tất cả cái vẻ thường có, từ vẻ mặt, giọng nói, cử chỉ, lối hành xử... Trông anh lơ mơ thế nào ấy. Không phải là con người thật. Giống như một con búp bê cứng ngắc đang bị điều khiển từ xa. Ba chúng tôi kéo nhau đi ăn mừng. Anh hào phóng một cách bất thường. Các toa muốn gì cũng được hết! Chỉ mới ngày hôm qua, anh còn lúng túng vì tiền bạc. Ngồi trong một tiệm nước, một em bé bán số tới nài nỉ mua dùm, anh móc túi, chỉ còn đúng mười đồng, anh chặc lưỡi rút đại một tấm vé trong một xấp cặp mười. Nếu moa có tiền mua luôn cả bộ cá cặp! Anh tiếc rẻ. Tiền đến tay, mà tiền muôn bạc triệu, vậy mà không nắm được, tiếc! Vậy mới thấy cái máu xổ số nó hành hạ người ta tàn nhẫn đến thế nào!

Trúng số là một chuyện, có giữ được tiền không lại là chuyện khác. Nhiều người tay cầm bạc triệu đô Mỹ mà để lọt xuống kẽ tay hết. Nhiều người tự nhiên có trong tay số tiền quá lớn, ngoài sức tưởng tượng, đâm sảng, cứ tưởng có thể mua được mọi sự trên đời này đưa đến việc tiêu tiền vô tội vạ, của thiên trả địa hết. Ông William Post, cư dân tiểu bang Pennsylvania, đã được thần tài dúi vào tay 16.2 triệu vào năm 1988. Ông vung hết số tiền đó và bây giờ đang nhận trợ cấp xã hội. Sao lại có thể có người ngu đến như vậy được nhỉ? Nếu là tôi... Chắc nhiều người khôn ngoan sẽ hăm hở vén tay áo muốn dạy cho cái nhà ông William này một bài học về cách tiêu tiền. Không dễ đâu!

Theo bà Susan Bradley, tác giả cuốn “Món Tiền Bất Ngờ: Cách Quản Lý Tài Sản Trời Cho” thì có được một số tiền quá lớn một cách bất ngờ chính là một cách đánh mất cuộc sống. Người ta sẽ không còn cuộc sống cũ nữa và, vì ngất ngây trước trận mưa bạc vừa được tưới lên đầu, họ không thể có khả năng tiêu và giữ đồng tiền mới có được một cách chặt chẽ. Ông Jeff Clark, cư ngụ tại Moose Jaw, tỉnh bang Saskatoon, Canada, vào tháng giêng năm 1996, trúng số độc đắc trị giá 2.5 triệu sau khi đã nuôi con số này mười năm (ông này nuôi số giỏi hơn tôi!). Ông bỏ việc tức thì và sống một cách hào phóng. Ông cho mẹ và các thân nhân những chiếc xe mới và những món quà kếch xù. Riêng phần ông, ông mua một căn nhà rộng 3.300 bộ vuông và một chiếc xe thể thao Dodge Viper giá 105 ngàn đô. Chuyện thường! Nếu tôi trúng số tôi cũng sắm sửa cho mình chút đỉnh như vậy. Nhưng ông Jeff không ngừng ở đây. Một chiếc xe coi bộ hơi ít. Triệu phú thì phải có hơn một chiếc xe. Ông cựu thợ mỏ này chơi luôn tới sáu chiếc! Toàn thứ chiến. Như một chiếc Plymouth Prowler giá 90 ngàn, một chiếc Cadillac Eldorado giá 70 ngàn và một chiếc Buick Riviera năm chục ngàn. Rồi lại còn ba chiếc xe trượt tuyết, một du thuyền. Ông khôi hài là nếu phải đậu đoàn xe và tàu của ông cùng một lúc thì không biết để thế nào cho vừa! Ông tiêu tiền sắm sửa một cách hồn nhiên và vẫn tiếp tục chơi số. Cái số ông này là cái số có tới mấy con rồng xúm quanh nên hai năm sau khi trúng số độc đắc, ông trúng số 6/49 nữa. Lần này ông lượm sơ sơ nửa triệu thôi. Nghĩ rằng mình có ông thần tài núp trong người nên ông chơi bạo hơn. Không những tiếp tục mua số, ông còn la cà suốt ngày trong các bar rượu để chơi số bằng máy. Bốn năm la cà này ngốn hết của ông khoảng một triệu đồng. Rồi vào năm 2001, thị trường chứng khoán bỗng tuột dốc. Những số tiền của ông ném vào thị trường này teo lại. Cô bạn gái lâu đời của ông có con, dọn đi ở Regina làm ông tốn thêm một số tiền đền bù. Lại thêm cái người đàn bà ở Alberta mà ông lăng nhăng tới có con cũng kiện ông đòi bồi thường. Lại một số tiền nữa vọt khỏi tay ông. Tiền đang tung cánh bay ra khỏi nhà ông, ông chẳng dám ra khỏi nhà nữa vì gặp ai cũng hỏi tiền ông. Ông phải bắt đầu bán xe. Dĩ nhiên với một giá lỗ khá bộn. Rồi bán nhà. Ông hầu như trắng tay phải trở lại dùng chiếc xe van đời 1980 rỉ sét của ông trước khi ông trúng số. Ngày nay ông sống trong một căn nhà nhỏ tại một khu lao động nghèo nàn. Và phương tiện đi lại của ông bây giờ là một chiếc xe đạp cũ. Thuốc hút phải vấn lấy và tiền bạc thì sạch sẽ. Nhưng vào tuổi 38, ông vẫn tin vào cái số của ông: “Tôi chắc chắn sẽ trúng số nữa. Còn một đồng tôi cũng đánh số, nhất định không sờn lòng sờn chí!” Chắc ông chờ ông thần tài đau bụng lần nữa chắc!

Hai lần trúng số, tiền bạc triệu cầm trong tay, vậy mà cái ông thợ mỏ Jeff cuối cùng tay trắng lại hoàn tay trắng. Ông không được đọc lời khuyên của các chuyên gia về quản lý tiền bạc. Các chuyên gia này nhắn nhủ như thế này: có nhiều hay ít tiền không quan trọng, điều quan trọng là các bạn cần phải hiểu được sự liên hệ giữa tài sản, tiền bạc và mức tiêu xài. Những người hạnh phúc nhất không phải là những người có nhiều tiền của nhất mà là những người biết đặt ra kế hoạch xử dụng tiền bạc và thực hiện được kế hoạch đó. Như cặp vợ chồng nhà từ thiện Debi Faris-Cifelli và Steve. Hai ông bà vừa trúng số độc đắc 27 triệu đồng vào đầu tháng 12 năm 2004. Thần tài gõ cửa nhà ông bà này là đúng không chê vào đâu được. Hai ông bà chuyên làm việc từ thiện chôn cất các xác hài nhi bị bỏ rơi. Theo luật 2001 thì cha mẹ có quyền bỏ xác hài nhi con mình trong vòng ba ngày mà không bị tội gì cả. Luật này được áp dụng ở tiểu bang California, nơi hai nhà từ thiện này cư ngụ và ở 45 tiểu bang khác. Khổ nỗi có nhiều bà mẹ không biết tới luật này nên đã ném xác con vào thùng rác hay ống cống. Hai vợ chồng Faris-Cifelli nhặt xác những đứa trẻ vô tội này mang về chôn cất. Họ có một nghĩa trang nhỏ mang tên Vườn Của Các Thiên Thần (Garden of Angels) tọa lạc tại thành phố Calimesa. Để có phương tiện làm việc thiện, họ trông chờ vào các số tiền thiện nguyện thu được. Nay ông thần tài đã góp cho họ một số tiền lớn khiến họ dễ dàng hơn trong công việc phúc đức của họ. Họ chọn phương cách lãnh tiền trúng ngay tức thì một lần nên chỉ được lãnh 9 triệu đồng sau khi trừ thuế.

Không giống như ở Canada nơi tôi ngụ cư, trúng số là ẵm luôn trọn gói, chẳng thuế má chi, ở Mỹ trúng số không được lãnh một cú mà phải lãnh trong nhiều năm, mỗi năm một phần số tiền trúng sau khi trừ thuế. Muốn lãnh luôn một lúc thì số tiền phải teo lại. Như trường hợp ông bà Faris-Cifelli từ 27 triệu teo lại chỉ còn một phần ba số tiền trúng là 9 triệu! Mua số ở Mỹ như vậy mất sướng đi, nhưng trúng thì phải lãnh chứ biết làm sao! Bà Louise Outing, một tiếp viên nhà hàng hồi hưu, năm nay đã 95 tuổi, cư ngụ tại Boston, vừa trúng số 5 triệu sáu trăm ngàn đô, viện cớ già nua mang ra tòa kiện về sự... bất công này. Chánh án tòa Tối Cao Barbara Dortch-Okara cũng chịu thua vì thủ tục lãnh số đã định như vậy rồi, khi mua xổ số là phải chấp nhận. Bà Outing sẽ nhận vào năm thứ nhất số tiền 283.770 đô và trong 19 năm kế tiếp sẽ nhận 280.000 mỗi năm, sau khi trừ thuế chỉ còn 197 ngàn đô. Bà Louise than thở: Tôi đã 95 tuổi rồi! Tôi muốn lãnh tất cả số tiền để muốn xử dụng thế nào tùy ý. Bà già rồi nhưng bà không lẫn: bà muốn cả hai, vừa lãnh trọn gói vừa không muốn mất đi một đồng nào cả!

Lãnh như vậy quả thực cũng tức như bò đá. Ông thần tài ông ấy cho tôi mắc mớ gì tới các người mà các người giữ lại chỉ thả ra nhỏ giọt trong hai chục năm. Lỡ ông thần chết ông ấy gọi về trước thì các người ăn quỵt tiền của ông thần tài ông ấy cho tôi hay sao? Chuyện thần thánh đâu phải là chuyện của mấy người! Lý luận theo kiểu... thần thánh như vậy coi bộ cũng đã lắm chứ! Chúng ta mang thần thánh trên hai vai chắc mặn với lối lý luận này. Nhưng mấy ông mấy bà Việt Nam trúng số ở Mỹ cũng chẳng cậy trông gì được nơi thần thánh. Vẫn cứ phải răm rắp theo... nếp sống văn minh.

Như cô Nguyễn Liên ở San Jose, California chẳng hạn. Cô vừa ẵm một triệu đô trong những ngày chờ đón Tết Ất Dậu nhờ vé số. Món tiền lì xì nặng ký và sớm sủa này tới với cô bằng đường vé cạo của tiểu bang California. Khi biết bỗng nhiên trong túi mình có thêm một triệu, cô xúc động đến nghẹn lời và cho biết sẽ thực hiện được ước mơ là đi du lịch Phi Châu!

Như anh Hoàng Nguyễn ở tiểu bang Texas cũng vậy. Món tiền cũng một triệu đồng lì xì tới với anh vào ngày 28 tết vừa qua, sau khi các ông bà Táo đã rủ nhau về chầu trời hết. Anh Hoàng cũng trúng vé số cạo như cô Liên. Khi được báo chí phỏng vấn, anh Hoàng cho biết là khi trúng số anh tưởng như anh đang ở trong mơ. Và anh dự định sẽ dùng số tiền này để phát triển thêm cơ sở làm ăn buôn bán hiện có của anh và để dành một phần cho những việc trong tương lai.

Cũng một người Việt Nam, ông Nguyễn Ngọc Sẳng, thì lại đi theo một... số khác. Ông đi bán vé số! Ông là một giáo sư rời bục giảng thi hành lệnh động viên vào khóa 24 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ông chỉ ở trong quân đội hai năm nhưng sau 1975, đã được đi học tập tới 5 năm rưỡi. Khi ra trại ông đi bán vé số dạo trong các quán giải khát và quán nhậu trên bãi biển Vũng Tàu. Cái nghề bất đắc dĩ này khiến ông ngượng ngập khi gặp những khuôn mặt quen biết ngày xưa và nhất là khi phải lang thang suốt ngày nài nỉ khách mua số. Rồi ông phải làm nhiều nghề khác. Toàn những nghề chẳng vinh dự gì. Cho tới khi ông gặp được một phụ huynh học sinh cũ của ông thấy ông quá vất vả nên giúp đỡ. Ông này có quen một người vừa trúng số độc đắc (lại số!) đang mở một cửa hàng bán xe đạp, giới thiệu ông vào làm kế toán cho cửa hàng. Cũng nhờ vào sự giúp đỡ của người chủ tiệm bán xe đạp này, ông mở được một cửa hàng bán xe đạp nhỏ, có được một số tiền. Ông dùng số tiền này lên Saigon chạy chọt để được có tên trong danh sách HO. Tháng 11 năm 1990, ông cùng gia đình sang Mỹ trong danh sách HO-4. Sang Mỹ ông lại tiếp tục làm những nghề không tên khá vất vả. Vất vả, ông không ngại vì cả đời ông là những chuỗi ngày vất vả. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Tân Chánh, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, thuở nhỏ ông theo học trường làng, lên Trung Học mới được lên trường Quận rồi trường Chu Văn An Saigon. Năm 1962, vì nhà quá nghèo không thể tiếp tục việc học sau khi đã đậu bằng Tú Tài phần 1, ông đành vào trường Sư Phạm Saigon để trở thành giáo viên Tiểu Học. Năm 1969, vừa làm vừa học, ông đậu được bằng Tú Tài phần 2. Sáu năm sau ông lấy được bằng Cử Nhân Văn Chương tại Đại Học Văn Khoa Saigon. Sang Mỹ, ngày đi làm, đêm ông lại đèn sách bắt đầu học Anh Văn lớp ESL. Từ chỗ không biết tiếng Anh, trong 7 năm miệt mài học hành, ông ngoi lên lấy được bằng Master of Education và tìm được việc làm chính thức tại Khu Học Chánh Tucson. Con sâu học trong ông vẫn chưa hết nhúc nhích. Cuối năm 2004 vừa qua, đúng hơn là vào ngày 18 tháng 12 năm 2004, ông đã tốt nghiệp Tiến Sĩ Ph.D. tại Đại Học Arizona vào năm ông đúng 64 tuổi. Luận án Tiến Sĩ của ông là “The Role of Cultural Factors Affecting the Academic Achievement of Vietnamese Immigrant/Refugee Students in United States” (Những Yếu Tố Văn Hóa Ảnh Hưởng Đến Sự Thành Công Trong Học Vấn của Học Sinh Di Dân/Tỵ Nạn Việt Nam tại Hoa Kỳ).

Ông Nguyễn Ngọc Sẳng chỉ bán vé số, dựa hơi vào một người trúng số độc đắc, và không mua số nhưng ông cũng đã trúng độc đắc. Đúng ra ông cũng có mua số. Không phải bằng tiền mà bằng mồ hôi và ý chí của chính ông. Vé số loại này trúng là chuyện đương nhiên. Vì nó đâu có cần xổ!

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

KhanhVan wrote:Đi chơi bây giờ mới về. Ghé quán Cà Phê Gà của anh Sáu trước tiên. Đọc bài của mấy anh mỏi cả cái cần cổ.... Bài anh Ba Gà cho post : Đứng núi này trông núi nọ... Làm em gái phì cười. Đúng thật ngoài đời đó anh Ba. Nhất là ở VN ngày nay - chuyện ấy trở nên bình thường hóa rồi. Đâu đâu cũng có. Sang cái " món ăn khó nói " của anh Phu De cho hình lên - chả hiểu bàn tay ai đang múc món " Lẩu... Cẩu.." không biết có phải ông xã của chị Ánh Hoa không??? Lâu quá rồi không hiểu Ánh Hoa biến đi đằng nào....????Xong phía dưới có 3 đĩa tiết canh đỏ lòm - Nhìn thấy lạnh xương sống - Nổi da gà... Không biết cho đến giờ phút này các anh như : Anh sáu - Anh Phu De hay anh Ba Gà có dám... sơi.. tiết canh không nhỉ??? Em gái Dzàng thì chạy cho lẹ... ớn lắm.
Cảm động nhất khi đọc bài " Cuộc chiến thầm lặng không cân xứng của người HO " Rồi đến bài của Sinh Viên Du Học Nguyễn Thị Hồng " Tôi đã làm gì cho Tổ Quốc " Anh Lính già chuyên đi sưu tập những bài viết có giá trị và mới mẻ để mọi người thưởng thức. Em gái cũng không quên cám ơn ông anh đã post những tấm hình Hỷ Sự cô con gái Út cho cả làng cùng chiêm ngưỡng....Và sau cùng là bài " đối thoại với Trịnh Hội "...
Thôi em gái đi về mảnh đất của mình đây ! coi có gì hay hay đưa lên cho các anh xem. Khánh Dzàng.

Image
Hi chị Khánh Vân
Lâu lắm mới gặp lại chị, đi đâu cũng nhớ về thăm d/đ nhe,
Cái vụ Mộc Tồn thì ngày xưa có lai rai chút chút mà chưa dám đụng tới tiết canh, (tiết canh Vịt thì có, hihihi)

Mời chị đọc thêm bài cũ trích từ Talawas cho vui:

--------------------------------------------------------

Image

Jason Picard
“Sống trên đời ăn miếng dồi chó”

Khi một bạn Việt Nam đề nghị tôi viết bài về ẩm thực Việt Nam, thì tôi vẫn hồ nghi phần nào về khả năng của mình. Vâng, tôi đã ăn nhiều món ăn Việt và tôi cũng có những món khoái khẩu, nhưng tôi là một người đàn ông sống một mình ở Hà Nội và tôi chưa bao giờ nấu được món ăn Việt Nam nào đáng kể cả. Thế nhưng, tôi đã bắt đầu suy nghĩ về những năm tháng sống ở Việt Nam, từ cái món đầu tiên là canh chua cá lóc ăn ở Tây Ninh gần 7 năm trước cho đến bát bún riêu, ốc, cua vừa ăn sáng nay và cái vị mắm tôm vẫn vương vất nơi sống mũi.

Có thể tôi là người biết nhiều hơn về ẩm thực Việt Nam so với đa số người nước ngoài sống ở đây. Và thậm chí so với một số người Việt thì hiểu biết của tôi về ẩm thực cũng khá đa dạng, do tôi đã sống ở cả hai miền Việt Nam (hơn nữa ở hai vùng rất khác nhau) là Hà Nội và Tây Ninh. Tôi đã có cơ hội ăn thử cơm nấu của mấy trăm, thậm chí có thể của mấy nghìn đôi tay (cách diễn đạt của người Mỹ mà) theo một số kiểu chính. Và hơn thế nữa, người Việt Nam thường muốn tìm hiểu cách nhìn của người nước ngoài đối với văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ và ẩm thực của xứ sở mình.

Ðầu tiên, có lẽ tốt nhất là bạn biết một chút thông tin về tôi: tôi thích ăn lắm. Và vì tôi là người Mỹ, sinh ra ở một đất nước thường được người ta mô tả như một nơi hỗn cư lớn của những người thuộc các dân tộc và các quốc tịch khác nhau (bằng tiếng Anh gọi là nồi hầm nhừ "melting pot" hoặc "bát rau ghém "salat bowl") nên tôi rất may mắn có điều kiện được tiếp xúc với ẩm thực của nhiều dân tộc trên toàn cầu từ hồi nhỏ. Nga, Pháp, Mêhicô, Brazil, Êtiôpia, Nhật Bản, Thái Lan, Ấn Ðộ v.v. Tôi còn nhớ lần đầu tiên bố mẹ đưa tôi đi ăn cơm Nhật Bản. Lúc ấy tôi mới lên 4 và cố gắng ăn cơm với đôi đũa... Khỏi cần phải nói về cái lần đầu tiên ấy lạ lẫm đến thế nào khi tôi làm rơi tất cả xuống đất: từ đũa, từ bát đến cơm và cái sự vụng về đó khiến khách ăn trong nhà hàng nhìn thấy lấy làm thích thú, nhưng lại làm cho tôi bực mình lắm. Tuy nhiên, từ bữa cơm đó cách đây hơn một phần tư thế kỷ, cơm Phương Ðông đã thành lối ẩm thực mà tôi không thể thiếu. Biết bao nhiêu bạn bè Việt Nam thực sự ngạc nhiên khi thấy một người Mỹ như tôi lúc ăn cơm Việt Nam không những không hề khó khăn chút nào, mà còn là điều mang lại niềm vui cho tôi nữa!

Nhưng “sống trên đời ăn miếng dồi chó”, người Việt bảo nhau thế. Và tôi xin kể bạn nghe tôi đã ăn món “mộc tồn” này thế nào. Năm 1997 tôi đến sống ở Việt Nam lần đầu tiên. Lúc ấy tôi chưa hề nói được một từ một chữ tiếng Việt nào. Một buổi chiều, sau khi tôi mới chỉ ở Hà Nội được 10 ngày, tôi quyết định đi xe đạp ra ngoại thành để tập thể dục và ngắm phong cảnh. Sau 90 phút đạp xe lang thang, tôi thấy đói bụng và muốn nghỉ mát một chút. Tôi rẽ vào một quán bình dân trông như một cái lều. Trong quán đã có kê những bộ bàn ghế nhỏ. Tôi thấy có 7 người đàn ông đang ngồi uống rượu, họ vừa ăn, vừa trò chuyện, cười rôm rả. Ngay khi tôi bước vào, tất cả mọi sự dường như đều dừng lại. Bảy đôi mắt nhìn chằm chằm vào tôi như một kẻ vừa từ hành tinh khác đến đây. Có lẽ do thấy cả quán bất ngờ trở nên im lặng nên bà chủ quán chạy ra khỏi bếp. Bà há hốc miệng khiến hàm răng dường như sắp rơi xuống đất.

Lúc này tôi có thể làm cái gì đây? Hay là tôi quay lưng và bỏ đi chăng? Như vậy thì mọi thứ cùng những con người này được trở lại bình thường? Nếu tôi không bước vào thì mọi thứ hoặc cuộc trò chuyện của họ sẽ vẫn diễn ra như đang diễn ra. Nhưng mà không, tôi vốn là người kiêu hãnh và kiên quyết trong những tình huống tương tự. Tôi đã ngồi xuống chiếc bàn ngay cạnh bức tường. Khi nhận ra rằng tôi không định đi, bà chủ quán miễn cưỡng đến bên bàn tôi. Cả hai người, tôi và bà ấy đều không có khả năng nói một lời nào để giao tiếp với nhau được. Bởi vậy tôi buộc lòng chỉ tay tới mấy cái bàn với những người đàn ông kia đang ngồi như muốn nói: "tôi cũng sẽ ăn cũng những thứ như họ". Bà chủ quán nhìn tôi vẻ lưỡng lự, rồi bà quay sang nói điều gì mà tôi không hiểu với mấy ông thực khách, họ bật cười đồng thanh, sau đó bà ấy vào bếp. Tôi cố gắng giữ bình tĩnh, nở một nụ cười trên mặt, nhưng mà chắc chắn cả quán biết tôi đang bối rối, vì 7 người đàn ông đều quan sát tôi như đang theo dõi một sinh vật lạ lùng, phi thường gì đó.

Năm phút sau bà ấy khệ nệ bước ra với một chiếc mâm. Trên mâm này có rau, bún, thịt và một thứ bột loãng màu tím, và chai rượu. Tôi không hề biết thứ thịt này cùng loại bột tím loãng ấy. Dĩ nhiên, về sau tôi mới biết rằng thứ nước bột màu tím kia là mắm tôm, và như thành ngữ nói "nhăn như khỉ gặp mắm tôm", thì tôi ngay lúc đó cũng có cử chỉ tương tự khi cái mùi ấy qua mũi tôi, thứ mùi khiến cho tâm trí tôi đảo lộn. Nhưng mà lúc đấy có 8 người, 7 đàn ông và một đàn bà đang xem xét theo dõi tất cả mọi hành động, cử chỉ của tôi, một cảnh trí chưa từng thấy ở đây, cho nên tôi nghĩ tôi phải ăn, không thể tránh né được.

Lúc đầu, tôi ăn thử một miếng thịt luộc mà không chấm gì cả. Ngay khi lưỡi tôi chạm tới miếng thịt thì tôi biết bữa ăn này sẽ rất khó khăn với tôi, cái vị này thật là "vô tiền khoáng hậu" và thực ra, tôi không thích lắm. Khi đang nhai, tôi cảm thấy nóng mặt và có lẽ đôi má tôi đỏ lựng như hai quả bồ quân. Ô trời ơi, tôi đã làm gì thế này?

Nhìn thấy tôi vụng về với bữa ăn này nên hai người đàn ông rời bàn ăn của họ đến bàn tôi và ngồi xuống với tôi. Họ chỉ dẫn cách ăn đúng là như thế nào. Làm theo những chỉ dẫn của hai người bạn mới, tôi liền nói "cảm ơn", hai từ tiếng Việt duy nhất. Tôi gắp bún, rau, thịt và mắm tôm vào bát của tôi. Bất ngờ, tôi không những thấy mắm tôm chẳng khó ăn mà còn làm cho miếng thịt bí ẩn này đưa được vào miệng tôi.

Hai người bạn mới rót rượu vào chén của tôi. Họ bắt đầu dạy cho tôi những từ tiếng Việt mà tôi ghi ngay vào sổ tay. Có thể nói rằng buổi chiều đó là buổi học tiếng Việt đầu tiên của tôi. Hai người bạn này tên là Long và Tuấn. Tôi học những từ như "rượu", "mắm tôm", "bàn", "ghế", "đũa" v.v. Trong vốn từ vựng mới ấy, tôi cũng ghi từ "thịt chó". Tôi đã hiểu đây là một loại thịt nhưng mà là của con gì?

Sau gần hai tiếng đồng hồ, đã đến lúc tôi đã phải xin phép ra về. Tôi thanh toán tiền nhưng hai "thầy giáo" của tôi không hề muốn nghe. Tôi nói "cảm ơn" biết bao nhiêu lần vì không biết làm thế nào khác. Tôi ra khỏi quán, cảm thấy hài lòng vì sự trải nghiệm "khác thường" vừa qua tôi, và đạp xe về Hà Nội.

Khi về tới ký túc xá ở Ðại học Bách Khoa, tôi lập tức lên phòng cô bạn thân, cô ấy là Việt kiều, và kể chuyện về những gì tôi vừa nếm trải. Rốt cuộc, tôi nói "nhưng tôi không biết thứ thịt này là thứ thịt gì?". Tôi cho cô ấy xem quyển sổ tay. Cô ấy thốt lên tiếng cười thật to: "Trời ơi, anh đã ăn thịt chó (dog meat) rồi!".

Tôi đứng lặng người, không nói được gì. Tôi như người ngơ ngẩn khi nghe thấy hai từ "thịt chó" cô bạn vừa nói. Trời ơi, gia đình tôi có một con chó, gần gũi như thành viên trong nhà. Mẹ của tôi sẽ nghĩ thế nào đây khi biết chuyện này. Tôi bỗng thấy nôn nao, bụng cồn cào như sắp nôn ọe. Tôi lao vào phòng vệ sinh nhưng không kịp...

"Con đã ăn cái gì?!" mẹ tôi hét lên. Ðó là lúc tôi mới về nhà sau hơn một năm ở Việt Nam và kể cho bố mẹ tôi hay chuyện lần đầu tiên tôi gặp và ăn thịt chó. Mẹ tôi đang ngồi trên sàn nhà ngay cạnh con chó nhà tôi, nó tên là KC. Mẹ và con KC đã nhìn tôi với vẻ mặt như dành cho một kẻ sát nhân... vẻ mặt khiếp sợ và ghê gớm. Sau một giây phút bối rối, mẹ tôi bảo tôi với giọng kiên quyết: "Jason, con lại đây và xin lỗi con KC ngay đi...".

Từ cái ngày cách đây gần 7 năm ấy cho tới nay, tôi đã ăn thịt chó nhiều lần. Dĩ nhiên, tôi không nhắc tới việc này với bà mẹ tôi), và tôi vẫn không thích món đó lắm. Tôi chỉ ăn thịt chó để bạn bè tôi vui mà thôi. Có thể, lần ăn thịt chó đầu tiên ấy đã trở thành một ký ức lâu dài. Những lần ăn về sau đó đã tiếp tục, nhưng không còn dư vị đặc biệt như lần ấy: Không phải vì tôi thích ăn thịt chó (tôi nghi ngờ liệu có lúc nào đó trong tương lai tôi sẽ thích được thịt chó hay không); mà đơn giản chỉ là sự cả nể vì tình cảm bạn hữu tình, hữu nghị. Ðấy là những khi ngồi chia sẻ với bạn bè, vừa nhấm nháp cái vị lạ lùng của thứ thực phẩm phương đông, vừa tâm sự, cởi mở tấm lòng...

© 2004 talawas


Image

KhanhVan
Posts: 800
Joined: Sat Dec 11, 2004 6:11 am

Post by KhanhVan »

ANH LONG À.... Khánh Vân mong có ngày anh Khiêu Long và Tiểu Vu Vi nên ra mắt sách thơ cuả mỗi người. Xong cả hai lại nên ra một cuốn thơ chung. KV đề nghị như thế Anh Long và Tiểu Vu Vi nghĩ như thê.... lào....???
Image

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Khôn nhà dại chợ!
Nguyễn thanh Ty
Phải công nhận Đảng và Nhà nước ta rất anh hùng. Trong thời gian “xẻ dọc Trường Sơn, miệng ngậm B.40 đi cứu nước” đã sản sinh ra rất nhiều anh hùng.

Nhiều đến nỗi “ra ngõ là gặp anh hùng”.

Trúc rừng không đủ lá để ghi công đức.

Đến nay, dân số lên tới tám mươi ba triệu lẻ mấy trăm, mà đã có tới tám mươi triệu anh hùng đoạt giải quán quân về khoản “thắt lưng buộc bụng” từ cái lúc tên đồ tể Lê Duẩn hung hăng con bọ xít phán rằng “Dân tộc ta là anh hùng. Đảng ta là đỉnh cao trí tuệ loài người”.

Ba triệu sót lại, không phải là dân thường mà là “đảng viên”. Họ sống khoẻ, béo tốt hồng hào nhờ ăn bám vào cái dù của Đảng ta.

Và một nhúm nhỏ, mấy trăm lẻ, là loại người đặc biệt, vừa không phải là anh hùng, vừa là không phải là dân thường.

Họ là những ông kẹ.

Nhưng họ có tính khiêm nhường của “bậc phụ mẫu chi dân” hay ví mình là “đày tớ của dân” “quên mình vì dân mà phục vụ”.

Những ông kẹ này chẳng ai biết ở mô tê, bỗng dưng tự nhảy lên đầu tám mươi triệu anh hùng để đè đầu, đè cổ rồi tự hô hoán lên rằng:

- Toàn thể nhân dân tuyệt đối tin tưởng và bằng lòng để tụi tui lãnh đạo đất nước!

Thế rối, hết đời cha tới đời con, cứ tiếp tục thay nhau ngồi trên đầu thiên hạ.

Mỗi lần nhường ngôi như thế, Đảng và Nhà nước ta cho diễn vở tuồng “Đảng cử dân bầu” hô hào dân chúng đi xem miễn phí. Mỗi người được phát cho cái vé có in dòng chữ: Đi đông, bầu đúng, cử xứng.

Màn hát kéo kên rồi hạ xuống. Từ Thái thượng hoàng, Đức vua, Tể tướng, đến văn võ bá quan, áo mũ cân đai, vẽ mặt bôi vôi, ra trình làng.

Mấy tay mõ làng, khua chiêng đánh trống rao lên rằng: Toàn thể lãnh đạo đều được dân tín nhiệm 99.99%.

Người dân đứng dưới khán đài xì xồ, xì xào:

- Đi vô, đi ra cũng thằng cha hồi nãy! Tụi tui đâu có bỏ phiếu cho thằng chả, sao chả cũng đắc cử hè?

Đó là chuyện tín nhiệm 99.99%.

Còn chuyện “trị quốc an dân – kinh bang tế thế” thì ra răng?

Tiền đề quả quyết một cách chắc nịch Đảng ta là “Đỉnh cao trí tuệ loài người”. Cho nên, không cần diễn nôm, ai cũng biết là Đảng ta là số 1. Tiếng Tàu gọi là số dzách”. Tiếng Mỹ gọi là “Nâm bờ oanh”.

Bài này chỉ bàn riêng về tài “đối nội và đối ngoại” của Đảng và Nhà nước ta trong chuyện đối phó với “thù trong giặc ngoài”.

Không biết Đảng ta từ lúc biến da con tắc kè màu xanh Đảng Lao Động thành màu đỏ Đảng Cộng Sản có ân oán giang hồ gì với thế giới không, mà lúc nào Đảng ta cũng nơm nớp lo sợ “các thế lực thù địch ngoại bang”.

Đó là bọn giặc ngoài. Mà Hoa Kỳ là kẻ thù chiến lược. Ngoài ra còn nhiều kẻ thù khác nữa. Bọn chúng luôn có âm mưu “diễn tiến hòa bình” hòng xâm lược ta.

Còn thù trong là “bọn phản động trong và ngoài nước”, lúc nào cũng “nói xấu, xuyên tạc, chống phá Nhà nước ta”.

“Bọn ngoài nước” ý Đảng ta ám chỉ mấy triệu “khúc ruột ngàn dặm”, “một bộ phận không thể tách rời”, là “máu là máu của Đảng ta”, đang làm ăn khắm khá khắp nơi trên thế giới, có đô la rủng rỉnh trong túi. Bọn này chỉ được phép đem đô la về nước giúp Đảng ta sống khoẻ thôi chứ không được bép xép cái mồm đòi tự do, dân chủ gì sất.

Trong nước có ai nói tiếng nói khác với Đảng ta thì “đích thị là bọn Việt gian nhận tiền bọn ngoài nước, để tuyên truyền chống phá Nhà nước XHCN”. Đảng ta “kiên quyết” đập nát từ trong trứng nước, nghĩa là từ khi mới “mở miệng” đòi dân chủ. Một loạt các nhà bất đồng chính kiến bị bắt giam và bỏ tù. Như LM Nguyễn văn Lý, luật sư Nguyễn văn Đài, luật sư Lê thi Công Nhân, bác sĩ Lê nguyên Sang, nhà văn nữ Trần Khải Thanh Thủy… Nhẹ hơn một chút thì cho công an đến canh cửa ngày đêm. Như kỹ sư Đỗ Nam Hải, ông Hoàng minh Chính, Nguyễn thanh Giang, nhà văn Hoàng Tiến, Hà sĩ Phu…

Để đối phó với “thù trong” là bọn “ngoài nước” Đảng ta đã lập ra một bộ máy an ninh khổng lồ, tinh vi, nhạy bén, hữu hiệu, bao trùm khắp nơi như giăng thiên la địa võng.

Một con mén chui ra cũng khó lọt.

Điển hình thử một vài vụ cho thấy cái tài tình của Đảng ta, thường cao rao với thế giới là “Việt Nam rất ổn định chính trị”, chứ không phải là điều nói bá vơ.

Chẳng hạn như bà Thương Cúc, ông Đỗ công Thành hai Việt kiều Mỹ, trước đó không ai biết hai người này là ai, làm cái gì. Chỉ biết rằng họ theo lời kêu gọi của Đảng ta về quê hương để “ăn khế ngọt”. Thế mà Đảng ta biết rất rõ họ từ chân lông đến kẻ tóc “rằng thì là”- Chúng là bọn “khủng bố” về nước để mưu toan lật đổ Nhà nước ta. Hai người này vừa về đến Việt Nam là Đảng ta bắt giam liền một khi. Chờ ra Toà Án Nhân dân cúi đầu nhận tội.

Thế mới là tài.

Xa hơn chút nữa, như ông Trịnh vĩnh Bình, Việt Kiều Hà Lan, cũng ham “chùm khế ngọt” của Đảng ta móc trên lưỡi câu sấu, ôm hết của cải dành dụm mấy mươi năm về “góp phần xây dựng đất nước”. Ai cũng tưởng thế là tốt.

Nhưng Đảng ta lại biết rõ bên trong, tay Vĩnh Bình này tiếng bề ngoài là vậy nhưng bên trong không phải vậy. Đảng ta chờ cho mấy năm sau, con cá này mập lên, Đảng ta giật cần, xách mép con cá, cũng cho vào Toà án Nhân dân với tội danh “trốn thuế, làm ăn phi pháp” lãnh 12 năm tù.

Hết chối nhé.

Rồi một doanh nhân ở Pháp, cũng vì “chùm khế ngọt” nữa, ông Nguyễn Gia Thiều về làm ăn đàng hoàng, tạo dựng một cơ sở buôn bán điện thoại di động hiệu Nokia và Sam Sung với một người em. Đang làm ăn khắm khá, bỗng dưng công an đến thộp cổ ông Thiều với tội danh cáo buộc là buôn lậu điện thoại. Ông ta bị Toà án Nhân dân (cũng là Tòa án Nhân dân) tuyên án 20 năm tù.

Không được cãi nhé.

Thêm cái anh chàng dở hơi Trần Trường bên CaLi không biết đã ăn “trái khế ngọt” nào của Đảng cho chưa, bỗng hóa điên, đem cờ đỏ và “ảnh lộng kiếng Bác” treo trong tiệm cho thuê băng ca nhạc của mình, xuýt chút nữa thì bị Công đồng Hải ngoại cho lỗ mũi ăn trầu.

Trần Trường nhà ta hãi quá, ôm một mớ đô la chạy về Việt Nam “mách Bu”. Cứ tưởng bở sẽ được Bu xoa đầu an ủi. Ai dè bị Bu đè xuống lột không còn cái quần xà lỏn. Bây giờ thì Trần Trường biến thành Trần Truồng mà không thể há miệng kêu ca gì được bởi Đảng đã ngáng cái dùi cui giữa hai hàm răng rồi.

Trần Truồng lâm vào cảnh lưỡng đầu thọ địch. Không dám vác mặt về lại CaLi, đành phải chịu ở lại cái hóc Bà Tó Năm Căn chờ chết già.

Nhưng chuyện vui và hấp dẫn nhứt gần đây là chuyện ông Nguyễn đình Hoan, Việt kiều Mỹ.

Theo ký giả James Hookway của báo The Wall Street Journal ngày 14/8/07 tường thuật thì nội vụ như sau:

Cách đây một thập niên, ông Hoan về Việt Nam với những dự án để xây dựng một ngôi trường quốc tế. Ông ta nói rằng ông ta rất phấn khởi với niềm hy vọng cho nơi chôn nhau cắt rún của ông.

Nhưng hồi năm ngoái ông đã phải nằm trên một cái chỏng ẩm ướt trong nhà tù B14 tại Hà Nội sau một vụ tranh chấp trong việc làm ăn với các đối tác của Nhà nước Việt Nam.

Năm 1995 ông về Việt Nam với kế hoạch thiết lập một trường quốc tế để phục vụ cho những gia đình ngoại quốc lúc bấy giờ đang ồ ạt đến Việt Nam. Ông lập ra trường Quốc Tế Hà Nội với sự hợp tác của Trung Tâm Giáo dục Nhà nước Việt nam vào năm 1996. Nhà nước cung cấp một hợp đồng 20% thuê mướn trên một mảnh đất mà bây giờ rất có giá gần trung tâm Hà Nội, để lấy về 30% lợi tức trong nghiệp vụ này.

Khi giá trị miếng đất mà ngôi trường đang xây trên đó gia tăng, thì căng thẳng giữa ông Hoan và các đối tác của ông cũng tăng theo.

Tháng 6/2006 công an đã bắt giữ ông để điều tra việc đối tác Nhà nước tố cáo ông đã nhận bảo hiểm y tế một cách bất hợp pháp. (?)

Ông đã nằm tù 14 tháng để chờ điều tra. Hàng ngày ông nghe đài của Nhà nước Việt Nam oang oang mỗi buổi sáng trong sân nhà tù, thúc dục người Việt hải ngoại trở về để bồi đắp vào nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh chóng của đất nước. Mặc dù với nhiều bằng cấp từ hai trường đại học Vanderbilt và George Mason ở Hoa Kỳ, ông vẫn không hiểu nổi vì sao ông đã làm đúng những điều nhà nước mong muốn và cuối cùng thì vào tù.

Vợ ông đã phải trả 85 ngàn Mỹ Kim mà Nhà nước VN bảo là tiền thế chân. Trong khi ông Hoan đang ngồi tù thì Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội đã khuyến cáo vợ ông Hoan là không nên đi về Việt Nam để cố tìm cách lấy lại tự do cho chồng, bởi vì họ không thể nào bảo đảm cho sự an toàn của bà.

Sau 14 tháng ngồi tù, công an kết luận trong bản báo cáo sơ khởi là không có bằng chứng rõ rệt nào để đưa ông Hoan ra tòa và thả ông ra. Nhưng tiền thế chân thì chưa hoàn trả.

Và ông Hoan vẫn đang chờ xem các công tố viên Việt Nam có quyết định chính thức để buộc ông vào bất cứ tội danh nào hay không.

Vào tháng 6, sau khi ông Hoan được thả ra, trường hợp của ông được đưa lên bàn làm việc của Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng. Theo báo Công an Nhân dân thì ông Dũng đã chỉ đạo cho các thành viên người Việt trong Ban giám đốc nhà trường phải giải quyết ngay những tranh chấp giữa nhà trường với ông Hoan, nếu không xong thì Nhà nước sẽ ra tay với những quyết định riêng. (?)

Được biết Hồ ngọc Đài, cựu Giám đốc Trung tâm Giáo dục Nhà nước Việt Nam là đối tác của ngôi trường quốc tế này, và là con rể của một cựu Tổng bí thư đảng, đã gọi ông Hoan là “một tên ăn cắp” nhưng từ chối không chịu giải thích lý do tại sao hắn ta chắc chắn ông Hoan là một tội phạm và không muốn nói nhiều thêm về vấn đề này. (Lược trích bản dịch của Khánh Đăng)

Ông Nguyễn đình Hoan tuy là một trí thức nhưng đối với Cộng sản ông vẫn còn quá ngây thơ, dù cho đã trải qua ba mươi năm kinh nghiệm xương máu.

Một điều giản dị mà ai ai cũng thấy được, riêng ông thì không. Đó là vấn đề tiền trên hết chứ không phải là “giáo dục”.

Ai đời, đa số người ta về VN là để móc nối với “cán bộ đảng ta” dựa thế, dựa thần để kinh doanh, để buôn lậu, để mánh mung, rồi chia chác 50/50 hoặc tui tứ anh lục. Riêng ông thì lại hăm hở với chuyện mở trường để “trăm năm trồng người”. Người ta hùn cho ông miếng đất mà ông chỉ chia có 30% lợi nhuận thì “biết đời cha” nào mà làm giàu nhanh được?

Bây giờ miếng đất đang nằm giữa thủ đô đang lên giá vùn vụt, giá mét vuông đất được tính bằng kim cương chớ không tính bằng vàng nữa. Người ta muốn xóa hợp đồng để lấy lại miếng đất, bán lấy tiền bỏ túi cho mau lẹ nên ông đừng thắc mắc là tại sao Nhà nước bắt ông vì hai cái cớ lãng xẹt ruồi bu là “mướn lậu” trợ tá để dạy Anh ngữ và nhận “bảo hiểm y tế bất hợp pháp”.(?)

Gần đây nhất, đám dân oan mười bốn tỉnh miền nam gần cả ngàn người, kéo lên Sài Gòn, căng lều giăng bạt trước Tòa Nhà Quốc Hội để kêu oan vì bị mấy ông bà quan đỏ cướp đất, cướp nhà, suốt gần một tháng trời trong cảnh gió mưa, đói khổ.

Đảng và Nhà nước ta dùng chiến thuật “thủ khẩu như bình” để người dân kêu mãi thì mỏi miệng, la mãi thì khan cổ, đứng mãi thì mõi mệt. Lúc đó không đánh cũng tan. Cuối cùng thì Nhà nước ta cũng thương tình cái đám dân oan, cho xe cây đến chở dân về bản xứ và thân tặng mỗi người mấy cái dùi cui để nhớ đời.

Trên đây chỉ là đơn cử vài vụ điển hình trong rất nhiều vụ liên quan đến “chùm khế ngọt” để thấy Đảng ta đối phó “thù trong” tài tình đến cỡ nào.

Về đối ngoại với bọn “giặc ngoài” thì sao?

Khi Liên xô sụp đổ đầu thập niên 90, thay vì nhanh chóng lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, Việt Nam đã liên kết với Trung quốc để bảo vệ thành trì xã hội chủ nghĩa, xem Hoa Kỳ là kẻ thù chiến lược. Cũng kể từ lúc ấy, Việt Nam đã tự đưa đầu mình vào vòng kim cô của Trung quốc, kéo đất nước trì trệ thêm hằng chục năm so với các nước trong vùng.

Người dân Việt chưa có thấy Hoa Kỳ “chống phá” Đảng và Nhà nước ta ở cái khoản nào mà chỉ thấy trước mắt họ đổ tiền của và công sức vào giúp cho Đảng ta, môt con bệnh trầm kha nằm chờ chết, ngày càng thêm khoẻ ra.

Trong lúc Trung quốc “vừa là đồng chí vừa là anh em”, trước mặt thân thiết tặng Việt Nam “mười sáu chữ vàng”, sau lưng thủ sẵn chiếc dao găm đâm người anh em “khờ khạo”những nhát trí mạng.

Trong việc giao thương với Hoa Kỳ, Trung quốc luôn tìm cách ngăn cản. Vụ ngưng ký hiệp ước giao thương với Hoa kỳ, để cho Trung quốc ký trước, năm 2000 là một ví dụ.

Đảng và Nhà nước ta không những không coi Trung quốc là “giặc ngoài” mà còn quyết tâm khấu đầu làm cái bóng của thiên triều. Ngược hẵn lại với lòng dân, luôn coi Trung quốc là kẻ thù truyền kiếp phải cảnh giác đề phòng.

Với sự thần phục khiếp nhược của Đảng ta, Trung quốc ngày càng lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải mà Đảng ta không dám ho he một tiếng dù là phản kháng yếu ớt. Lại đơn cử vài ví dụ điển hình cho thấy rõ ràng Đảng ta “khôn nhà dại chợ”.

Ngoài việc thường xuyên phá hoại nền kinh tế của ta mấy mươi năm nay bằng cách tuồn hàng lậu ồ ạt vào các cửa khẩu biên giới từ cái trứng gà cho đến máy móc trang thiết bị… làm cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam phá sản.

Kinh tế nước nhà ngày càng lụn bại…

Trung quốc còn uy hiếp nước ta bằng vũ lực. Đã nhiều lần Hải quân Trung quốc bắn giết ngư phủ của ta để khiêu khích nhưng Đảng ta đền ơn đáp nghĩa “mười sáu chữ vàng” ông anh đã tặng cho bằng bốn chữ “im lặng là vàng”.

Theo tin BBC, ngày 20/7/07 “tàu Hải quân Trung quốc hôm 09/7 đã nã súng vào một số thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng biển gần Trường Sa, cách TP Sài Gòn 350 Km làm cho một ngư dân thiệt mạng và một số người khác bị thương”.

Biến cố xảy ra đã 2 tuần lễ mà Việt Nam vẫn hoàn toàn im lặng.

Hai năm trước, ngày 08/01/05, Hải quân TQ xả súng bắn chết 9 ngư dân Việt Nam cư ngụ tại các làng chài lưới vùng Thanh Hóa, bắt đi 8 người khác và tịch thu một thuyền đánh cá.

Phía TQ lại ngang ngược gán tội những ngư dân Thanh Hóa là hải tặc.

Phía Việt Nam vẫn giữ thái độ im lặng.

Cho đến nay, không ai biết vụ việc đã giải quyết ra sao.

Có lẽ Đảng ta lại áp dụng chiêu cũ “thủ khẩu như bình” để phía TQ bắn giết ngư dân Việt mãi cũng phải mỏi tay thì ngưng. Thế là mọi việc lại “ổn định”?

Các ngư dân Việt Nam đánh cá trong vùng biển xãy ra biến cố là trong vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Thế mà, đại tá VC Lê phúc Nguyên, phó tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân, trả lời phỏng vấn với báo The Straits Times (Tân Gia Ba) được BBC ghi lại ngày 19/7: “Ngư dân rất khó mà biết được đâu là lằn ranh chính xác giữa hai bên. Thế nhưng không nên dùng vũ lực trên biển vì việc này sẽ chỉ dẫn đến các vấn đề nghiệm trọng hơn mà thôi”.

Câu trả lời của ông Nguyên rất “ấm ớ hội tề”, giống như con đà điểu rúc đầu vào cát, chổng đít ra ngoài để tránh nạn.

Hải quân TQ thường xuyên “dùng vũ lực” trên biển đối với ngư dân ta, nhưng đã dẫn đến “vấn đề nghiêm trọng” nào chưa?

Đài Loan cách đây không lâu cũng tập trận bằng đạn thật trên đảo Ba Bình, thuộc Trường Sa, xây rada, làm lại phi trường, công sự chiến đấu trên đảo nhưng Việt Nam làm gì được Đài Loan?

Phía Nam Dương cũng thế, vừa rồi bắn chìm thuyền và gây tử thương nhiều ngư dân Việt Nam, nhưng có việc nào “nghiêm trọng” xãy ra đâu?

Nguồn tin BBC: “Các nguồn tin quân sự nói ngày 9/7 hai tàu chiến cơ động BPS-500 của VN co Nga thiết kế đã vội vã đến hiện trường như phải đứng từ xa vì hỏa lực quá mạnh từ tàu Trung Quốc. Đại tá Nguyễn Phúc Nguyên nói: “Về lâu dài, chúng tôi cần củng cố lực lượng hải quân cũng như nâng cấp các đơn vị tuần tra ven biển”

Rõ ràng hải quân VN quá yếu, chỉ có khả năng đứng xa xa và ngó trước súng của địch. Hải quân VN chỉ có khả năng duy nhất là chạy bắt người vượt biên.

Cũng như những vạt dầu không biết từ đâu, liên tục trong nhiều tháng, từ đầu năm 2007, từ ngoài khơi tràn vào bờ biển miền Trung VN, chạy dài từ Quảng Bình cho đến Phan Thiết, gây ô nhiễm môi sinh và làm thiệt hại kinh tế lớn lao cho người dân sống trong vùng.

Đến tới hôm nay, Nhà nước vẫn chưa biết nguồn gốc các vết dầu loang ấy từ đâu. Mới đây, TT Nguyễn Tấn Dũng nói sẽ nhờ Nhật bản truy tầm dùm.

Chắc chắn các vệ tinh của Nhật sẽ truy ra ngay. Họ đã biết các vạt dầu ấy từ đâu đến, nhưng Nhà nước VN không dám công bố vì khiếp sợ phản ứng của Trung Quốc. Vì tháng 5/1992, TQ ký với Công ty Crestone, Hoa Kỳ để tìm dò một khu vực 25.000 km2 thuộc lãnh hãi VN, nằm về phía tây thuộc đảo Trường Sa. Tháng 8/06 TQ cho khai thác giếng dầu Hóa Quang, thuộc khu vực Hoàng Sa, cách Đà Nẵng 230 km. VN có lên tiếng phản đối lấy lệ nhưng TQ bất chấp.

Như thế chắc chắn các giếng dầu của TQ khai thác đã làm dầu tràn gây ô nhiễm cho bờ biển miền Trung VN.

Trong một bài viết nhan đề: Vấn đề tranh chấp Trường Sa: hậu quả của những sai lầm chiến lược, ông Trương Nhân Tuấn, tác giả, nhận định: “Ở đây ta thấy Nhà nước Việt Nam, dầu đã tỏ ra rất côn đồ trong việc giải quyết các vụ dân oan đảng cộng sản cướp đất trong những ngày trung tuần tháng 7/07 vừa qua, nhưng lại tỏ ra khiếp nhược đến mức hèn hạ trước những nước hùng mạnh khác”.

Ông đề nghị:

“ Việt Nam không thể bó tay, bất lực “từ xa đứng nhìn” như hiện tại.

Lãnh đạo VN hãy tức thời mở mắt, định hướng lại chiến lược quốc gia, nhận rõ đâu là bạn đâu là thù, phải coi quyền lợi dân tộc là tối thượng. Tình trạng này kéo dài là mất tất cả cho Tàu. Trước mắt, Nhà nước VN (phải) lấy bớt ngân sách cho công an, giải tán ít nhất 2/3 đám côn đồ ức hiếp dân lành này, thanh lọc, chỉ chọn những người có ý chí phục vụ cho dân, lấy lại ngân sách dành cho tổng cục 2, dẹp bỏ hệ thống đảng ủy song song với hệ thống nhà nước, dẹp đám đảng viên ăn hại đái nát, ăn bám vào dân, là gánh nặng cho đất nước, thanh lọc lại toàn bộ nhân sự bộ Quốc phòng, tuyển những người trong sạch, có khả năng quân sự, tất cả dồn vào việc hiện đại hóa quân đội, thì rất có thể không bao lâu VN sẽ có thể có khả năng làm cho đối phương nhượng bộ”.

Những điều ông Tuấn đề nghị chỉ là mơ ước hảo huyền. Nếu mấy tay lãnh đạo CS biết nghĩ như ông chừng một phần mười thôi, thì từ năm 75 đến nay, ba mươi năm qua, đất nước VN dù không bằng Nhật Bản cũng không đến nổi kém cạnh Thái Lan hay Xing Ga Po chứ có đâu tụt hậu quá mạng vậy. Còn thua cả Căm Pu Chia mấy phần.

Đảng ta sống hùng, sống mạnh và giữ vững được cái ngai vàng đến ngày hôm nay là nhờ cả vào lực lượng công an mà ông gọi là cái đám côn đồ ăn hại đái nát, ăn bám vào dân rồi hà hiếp dân, ông lại nhè đề nghị giải tán, Đảng có mà chết bất đắc kỳ tử à? Hoài công!

Thà rằng mất nước vào tay Tàu cộng, (cũng đã mất ải Nam quan và thác Bản Giốc từ lâu rồi, có làm sao đâu) cũng là đất nước XHCN cả, đâu còn ranh giới quốc gia nữa, Trung Quốc là ta, ta là Trung quốc, còn hơn là mất Đảng mất ngai.

Chỉ xấu hổ một nỗi là Đảng và Nhà nước ta đối với người dân mình thì giỏi dùng bạo lực dùi cui, súng A.K để đàn áp thẳng tay, còn đối với những thế lực ngoại bang thì chỉ “đứng xa xa mà ngó” với thái độ khiếp nhược.

Dẫu hèn nhát không dám ra tay đánh trả với đám tàu ô TQ như quân lực VNCH năm 1974 đã từng hy sinh mạng sống để chống trả đến cùng, thì cũng ráng hô lên một tiếng nói phản kháng để còn giữ được mặt mũi quốc gia chứ.

Lẽ nào lại chịu nín nhịn ô nhục đến như vậy!

Lại cứ đóng cửa mà hô khẩu hiệu “Việt Nam anh hùng. Ra ngõ gặp anh hùng”.

Nếu thật được như vậy, ta sẽ cho thằng Vi Tiểu Bảo đến trước Bắc bộ phủ mọp đầu hô to ba trăm lần, “Đảng CSVN muôn năm trường trị, thống nhất giang hồ”, gấp trăm lần thằng Nguyễn văn Trỗi của đại thi nô Tố Hữu phịa ra, trước khi bị xử bắn, hô ba lần “Hồ chí Minh muôn năm”.

Có giỏi thì “khôn ngoan đá đáp người ngoài”. Còn cái kiểu xử sự như bấy lâu nay của mấy “đỉnh cao trí tuệ” thì rõ là khôn nhà dại chợ.

Nguyễn Thanh Ty

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

KhanhVan wrote:ANH LONG À.... Khánh Vân mong có ngày anh Khiêu Long và Tiểu Vu Vi nên ra mắt sách thơ cuả mỗi người. Xong cả hai lại nên ra một cuốn thơ chung. KV đề nghị như thế Anh Long và Tiểu Vu Vi nghĩ như thê.... lào....???
Image
Hi Khánh Vân !

Lâu quá mới thấy trở lại mái nhà xưa , anh nghe anh Thịnh nói lúc này KV đã retire và đi du lịch nhiều nơi cho thư dãn cái thân sắp già lâu nay chỉ lo cặm cụi làm việc..

Bữa nào có qua Cali ghé thăm bà con nhớ hú cho anh Thịnh và anh tui anh sẽ cố gắng chiều chuộng tâng tiu cô em như ngày xưa còn bé !

Ha Ha Ha còn cái vụ ra mắt thơ sách thì chắc cũng sẽ có một ngày không sớm thì muộn mà thôi , yên chí đi sẽ ưu tiên mời KV tham dự..... :D :D :D

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Nguyễn Bá Trác (1881-1945) & bài thơ Hồ Trường
Vương Trùng Dương


[left]http://www.caliweekly.com/images2/PicNguiyenBaTrac.jpg[/left]Nhà văn Nguyễn Bá Trác, bút hiệu Tiêu Đẩu đã đóng góp nhiều công trình biên soạn được đăng tải trên báo Nam Phong và xuất bản nhiều tác phẩm vào tiền bán thế kỷ XX nhưng trải qua nhiều thập niên, tên tuổi của ông chỉ được nhắc đến qua bài thơ Hồ Trường.
Bước vào năm Ất Dậu, nhân 60 năm ngày mất của ông, chúng tôi đề cập đến hình ảnh người quá cố đã có công đóng góp cho nền văn học và lịch sử đất nước nhưng bị phôi phai theo thời gian. Đây chỉ là bài viết có tính cách tổng quát về tác giả và bài thơ được đăng tải trên tờ Nam Phong vào đầu thập niên 20, được sao chép lại và lưu truyền rộng rãi nhưng được bàn cãi khá nhiều qua nguyên tác của nó, vấn đề nầy xin nhường cho những nhà nghiên cứu văn học, chúng tôi ghi nhận những điều qua sách báo.


Đôi Dòng Về Tác Giả

Nguyễn Bá Trác sinh năm Tân Tỵ, 1881 tại làng Bảo An, Điện Bàn, Quảng Nam. Địa danh làng nầy đã được đề cập trong bài viết về nhà văn Phan Khôi (1887-1959) ở vùng đất Gò Nổi gồm có các làng Tư Phú, Bảo An, La Kham, Xuân Đài, Trường Giang, Đông Bàn, Phú Bông... vùng đất đã mang lại niềm tự hào cho quê hương Quảng Nam vì đã sản sinh ra những nhân vật gắn liền với lịch sử và văn học nước nhà.
Thuở nhỏ ông theo học ở Quảng Nam, năm 1906, ông đỗ Cử nhân ở Huế. Hưởng ứng lời kêu gọi của các nhà ái quốc trong phong trào Đông Du của Phan Bội Châu và Duy Tân của Phan Chu Trinh và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, ông ra Hà Nội học tiếng Pháp và năm 1908, ông tìm cách theo du học sinh sang Nhật. Khi chính phủ Nhật giải tán học sinh du học, ông sang Trung Hoa rồi trở về Việt Nam năm 1914.
Ông làm Chủ Bút phần Hán văn tờ Cộng Thị Báo từ năm 1914 đến 1916. Năm 1917, dưới sự bảo trợ của Louis Marty, Phạm Quỳnh sáng lập Nam Phong tạp chí, Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút và Nguyễn Bá Trác đảm trách Chủ Bút phần Hán văn.

Rời tờ Nam Phong, ông làm Tá Lý Bộ Học ở Huế, Tuần Phủ ở Quảng Ngãi và Tổng Đốc Thanh Hóa, Bình Định. Tháng 8 năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, ông bị xử bắn ở Quy Nhơn, Phạm Quỳnh (1892-1945) bị xử bắn ở Huế.

Ngoài nhiều bài viết trên tờ Nam Phong, Nguyễn Bá Trác đã biên soạn nhiều tác phẩm: Ngoài hai bộ sách Cổ Học Viện Thư Tịch Thủ Sách cùng với Nguyễn Tiên Khiêm gồm 11 quyển, ấn hành năm 1921, và Hoàng Việt Giáp Tý Niên Biểu, ấn hành năm 1925, còn có Bàn Về Học Thuật Nước Tàu (1918), Hạn Mạn Du Ký (1920), Bàn Về Hán Học (1920), Hương Giang Mộng (1920), Ngã An Nam Dân Tộc Nam Tiến Chi Lịch Sử (1921), Mấy Lời Chung Cáo Của Các Nhà Nho (1921), Nguyễn Bá Học Tiên Sinh Chi Lược Sử Cập Kỳ Di Ngôn (1921), Du Thanh Hòa Ký (19210, Hán Học Văn Học Khảo (1917-1932)...

Hồ Trường

[left]http://www.caliweekly.com/images2/Pictraibau.jpg[/left]GS Thanh Lãng nhận định: “Muốn hiểu văn học việt Nam thời kỳ 1913-1932 không gì tốt cho bằng nhìn vào Nam Phong. Nam Phong là một tạp chí có ảnh hưởng sâu rộng, giữ địa vị của một Hàn Lâm Viện, kết nạp tất cả mọi ngành đương thời”. Nhiều quan niệm cho rằng Nam Phong là công cụ do Phủ Toàn Quyền sáng lập nhưng không thể phủ nhận giá trị của nó trong lịch sử báo chí, văn học mà Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác giữ vai trò quan trọng. Tiếc rằng tài liệu về Nam Phong không còn lưu trữ nên khó nhận định, và ngay cả bài thơ Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác rất nổi danh đã bị tam sao thất bổn.

Nguyễn Bá Trác viết thiên ký sự Hạn Mạn Du Ký (HMDK) bằng Hán văn, đăng trên báo Nam Phong rồi tác giả dịch ra Việt ngữ, đăng tải lại trên Nam Phong từ số 38 đến 43 trong năm 1920.
Tác phẩm Hạn Mạn Du Ký, Đông Kinh ấn quán xuất bản, Hà Nội, 1921, gồm 14 chương, dày 294 trang. Bìa sách có in “Lời ký của một người đi chơi phiếm Xiêm – Tàu – Nhật Bản...”. Trong tác phẩm nầy thì cuộc hành trình 6 năm, tác giả khởi hành từ miền Trung VN sang Thái Lan, đến Trung Hoa rồi sang Nhật, trở lại Trung Hoa, ghé Hồng Kông rồi trở về Việt Nam.

Bài thơ Hồ Trường ra đời khi Nguyễn Bá Trác lưu lạc Trung Hoa và đứng trước hoàn cảnh trớ trêu giữa bản thân và đất nước, bắt gặp bài ca phù hợp với tâm trạng tạo thành ý thơ. Nếu có tài liệu từ tạp chí Nam Phong và tác phẩm HMDK để chép lại thì bài thơ Hồ Trường không tốn nhiều bút mực trong những thập niên qua.

Trong quyển Việt Nam Văn Học Sử Yếu Giản Ước Tân Biên của GS Phạm Thế Ngũ, Sài Gòn 1965, đề cập đến giai đoạn tác giả bài thơ Hồ Trường và bài thơ (xin đánh dấu ngoặc kép những chữ qua các bản văn thay đổi):

Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,
Hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha “phương”,
Trời Nam “ngàn” dặm thẳm, mây nước một màu sương.
Học “chẳng” thành công chẳng lập, trai trẻ bao “lâu” mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ “tay” mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn
Rót vế Tây phương, mưa Tây “rơi” từng trận chứa chan.
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh nào ai say.
Chí ta cho biết lòng ta ta hay.
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.


Trong tác phẩm Chơi Chữ của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Sài Gòn 1970, một vị thâm nho không nêu tên tác giả Hồ Trường mà dẫn chứng câu chuyện gắn liền với hoàn cảnh với bài thơ vừa khí khái vừa ngông. So với bản của Phạm Thế Ngũ trong vòng kép và bản của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, chỉ khác nhau vài chữ như: chữ hương thay chữ phương, nghìn thay ngàn, không thay chẳng, lăm thay lâu, sơn thay rơi và vài dấu chấm, dấu phảy, dấu chấm hỏi ở cuối câu.

Trong quyển Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại 1880-1965 của Trần Tuấn Kiệt, Sài Gòn 1968, cũng chỉ khác nhau vài chữ trong những câu trên, trong đó có chữ “bẻ cật” mà LN Phùng Tất Đắc cho rằng sai vì tác giả muốn mượn chữ theo điển tích ngày xưa chứ không phải gan cật. Đến phần cuối, ở câu: “Rót về Nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng” thì bài thơ lại chấm dứt với câu:
“Rót về Nam Phương
Trời Nam nghìn dặm thẳng
Non nước một màu sương
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Có người quá chén như điên như cuồng”.

Sau hai thập niên ở hải ngoại, vào giữa năm 1998, tạp chí Thế Kỷ 21 đề cập lại bài thơ Hồ Trường. Thế Kỷ 21 số 115 tháng 11-1998, trong mục Bạn Đọc Viết đăng tải bài Hồ Trường do Tôn Thất Hanh ở Canada gởi cuốn băng cassette do chính ái nữ của Nguyễn Bá Trác thực hiện qua giọng ngâm của Lệ Ba. Trong cuốn băng đó có lời của ái nữ Nguyễn Bá Trác nhắn nhủ hai người con: “Bài thơ Hồ Trường là bài thơ chí khí của ông ngoại, nhưng mà đó cũng là chí khí muôn đời của thanh niên”

So với bản của Phạm Thế Ngũ thì khác nhau ở câu đầu thêm chữ đại “Đại trượng phu”, câu thứ 3 “Chí chưa thành danh chưa đạt”, câu 4 với chữ “gươm”, “người”, câu 8 với chữ “biển”, “loạn”, câu 9 với chữ “phương Tây”, câu 9 với chữ “đá chạy cát giương”, câu 13 với chữ “Lòng ta ta biết, chí ta ta hay” và câu cuối với chữ “ư”.

Trên tờ Vietnam Weekly News, ngày 4 tháng 9-1998, bài viết của Nguyễn Đắc Khoa cũng dựa vào các bài vừa được đăng tải rồi đề cập đến bài thơ được nghe để luận bàn.
Trên tờ Khởi Hành Xuân Canh Thìn, số 39 & 40 tháng 1 & 2 năm 2000 có đề cập đến 4 ấn bản bài thơ Hồ Trường (2 ấn bản trước năm 1975 và 2 ấn bản vào năm 1998) trong đó có bài của Đông Trình trên tờ Tuổi Trẻ Chủ Nhật ngày 7 tháng 6-1998 mà Đông Trình ghi nhận từ Nguyễn Văn Xuân đọc từ Hạn Mạn Du Ký. Đây cũng là tài liệu nghiên cứu văn học để dẫn chứng và tế nhị vì không kết luận ấn bản nào chính xác.


Nhìn chung, bài thơ Hồ Trường sau nầy chép lại đã ngắt và xuống dòng và dựa vào sự khác nhau đó để diễn giải cho có phần linh động.
Nếu dựa vào những chữ đã để trong ngoặc kép qua các chữ khác nhau, không có gì lệch lạc nhiều, chỉ có chữ “bẻ cật” với “bẻ cột” mà theo Lãng Nhân Phùng Tất Đắc dựa vào điển tích từ thời Trụ Vương ở Trung Hoa “Xé gan là hành động của Tỷ Can, bẻ cột là hành động của Chu Văn” thể hiện hào khí của bậc trung thần không chịu khuất phục dưới bạo chúa do Đắc Kỷ lung lạc.


Nguyễn Bá Trác dựa từ bài hát theo lối biền ngẫu của Trung Hoa, qua tác phẩm khi viết bằng Hán văn không ai đề cập tác giả chỉ nói về ý nghĩa hay sáng tác thành thơ nhưng khi chuyển thành Việt ngữ tác giả dệt thành áng thơ lưu lại tên tuổi của mình. Thế nhưng, còn có sự nhầm lẫn giữa Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác với Tuyết Huy Dương Bá Trạc (1884-1944) vì Dương Bá Trạc (bào huynh GS Dương Quảng Hàm), ông là nhà nho yêu nước, cùng với Tây Hồ Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám và các sĩ phu chống Pháp, bị Pháp kết án 15 năm tù biệt xứ, sau đó bị Nhật đưa sang Singapore. Dương Bá Trạc cũng là nhà văn có các tác phẩm ấn hành giữa thập niên 20 cùng thời điểm với Nguyễn Bá Trác. Theo Vũ ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Đại: “Ngay hồi Nam Phong tạp chí mới ra đời, Dương Bá Trạc đã có nhiều bài ký biệt hiệu là Tuyết Huy... ông còn là thi sĩ, tác giả hai tập thơ: Trai Lành Gái Tốt và Nét Mực Tình”. Có lẽ dựa nghiệp dĩ và tâm trạng con người có tài nhưng chán ngán trước cảnh đời, sinh bất phùng thời mới mượn bầu rượu nhập vào ý thơ hào khí ngất trời trước thời thế đổi thay nên tưởng nhầm Dương Bá Trạc là tác giả. Cách đây vài năm, có bài viết “Biến Thể Ngông Bài Hồ Trường”, tác giả dẫn giải và nhầm lẫn bài thơ đó của Dương Bá Trạc rồi chỉ trích, thật oan cho nhà văn ái quốc Dương Bá Trạc!

Tiếc rằng sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bá Trác không được nhắc nhở, chỉ còn bài thơ rất hay, đóng góp áng thơ tuyệt vời trong kho tàng thi ca Việt Nam nhưng bị tam sao thất bổn mà các nhà nghiên cứu văn học trong cùng thế kỷ chưa minh chứng để lưu lại hậu thế!.


Hồ Trường là nậm rượu, bầu rượu hình dáng như trái bầu mà người xưa thường dùng nó để đựng rượu, bài thơ Hồ Trường có câu “nghiêng bầu mà hỏi”. Trong văn hóa Đông phương, điển hình như Trung Hoa, có nhiều loại cho đồ đựng rượu và uống rượu là nghệ thuật tạo hình trải dài qua mấy nghìn năm. Từ vật dụng đựng rượu có sẵn trong thiên nhiên như gỗ, tre, sừng, vỏ ốc, quả bầu (hồ lô) đến vật dụng được chế biến từ đất nung, sành sứ, kim loại, thủy tinh... theo tiến trình văn minh của con người sáng tạo ra nhiều loại khác nhau và mỗi loại lại có hình dáng riêng của nó.

Ngày nay, có nhiều thứ trở thành đồ cổ quý giá với lai lịch của nó hình thành trong mỗi triều đại. Hình ảnh bầu rượu được buộc dải lụa ở nước ta được thấy trên các mái đình, miếu, am và trên nóc Tháp Rùa ở Hà Nội, điện Thái Hòa, Thế Miếu, Ngọ Môn ở Huế... còn lưu lại hình ảnh nầy. Từ thời xa xưa, quả bầu được xem như biểu tượng thiêng liêng đựng nước thiêng rồi sau đó đựng thức uống rất quý là rượu. Hình ảnh “bầu rượu túi thơ” được minh họa qua nhân vật nổi danh như Lã Đồng Tân, Lý Thiết Quảng, Lý Bạch, Lưu Linh... trở thành quen thuộc qua nhiều thế kỷ ở Đông phương. Bìa thi phẩm Mây của Vũ Hoàng Chương do Tô Ngọc Vân vẽ bầu rượu đựng túi mây phiêu bồng mô tả tâm hồn thi nhân nơi trần gian.

Trong thi ca Trung Hoa và Việt Nam, có hàng trăm bài thơ đề cập đến rượu, có bài nhắc đến tên rượu, có bài thể hiện ở nội dung... Nguyễn Bá Trác dùng vật dụng là tựa đề cho bài thơ, vừa hay về âm điệu vừa gợi hình ảnh đồ dùng của loại men nồng, trở thành nét đẹp trong nghệ thuật tạo hình.
Trong khi đợi nguyên bản bài thơ Hồ Trường để xác minh, tạm thời căn cứ vào bài thơ do ái nữ của người quá cố để khỏi phụ lòng người thân:


Hồ Trường
Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường
Hà tất tiêu dao bốn bể lưu lạc tha phương
Trời Nam nghìn dặm thẳm
Non nước một màu sương
Chí chưa thành, danh chưa đạt
Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương
Vỗ gươm mà hát
Nghiêng bầu mà hỏi
Trời đất mang mang ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường!
Ta biết rót về đâu
Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn
Rót về Tây phương, mưa phương Tây từng trận chứa chan
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút cát chạy đá giương
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, náo ai hay
Lòng ta ta biết, chí ta ta hay
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ
Hà tất cùng sầu đối cỏ cây.



Bước vào năm Ất Dậu 2005, đúng vào chu kỳ 60 năm, ngày mất của Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác, với cái nhìn khách quan và vô tư trên lãnh vực văn học, chúng tôi ghi lại để tưởng nhớ bậc tiền bối đã có công đóng góp trong thời kỳ báo chí còn phôi thai và giai đoạn trưởng thành của chữ Quốc ngữ.
Vương Trùng Dương

-----------------------------------------------------------------------
Xin mời nghe bài thơ Hồ Trường do Trần Lãng Minh diễn ngâm,
Hòa âm: dàn nhạc Lê văn Khoa


Hồ Trường


---------------------------------------

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

ImageImage
Kiều Giang Nguyên


Kiều Giang Nguyên vừa nhận được tám bài thơ của thi sĩ Hà Huyền Chi, sáng tác nhân dịp du hành Trung Quốc. Ông viết rất nhanh như mì ăn liền, nhưng lại là người rất trân trọng với chữ nghĩa. Nét đặc thù của thơ ông là một pha trộn tài tình, giữa những thi ngữ đầy chất thơ với những dung tục của ngôn ngữ đời thường, được coi như rất bạo. Theo Hà Huyền Chi thì tám bài thơ mới này dược viết dưới dạng thức gọi là "Mượn đầu heo nấu cháo...lòng". Nghĩa là mượn cảnh người để ký thác tâm sự mình.


Thơ sàng lọc từ kho tàng văn sử Trung Hoa, được nối kết rất nhịp nhàng với tâm cảnh của một nhà thơ mặc áo lính Hà Huyền Chi. Kiều Giang Nguyên xin mời các bạn yêu thơ thưởng thức những nét khai phá rực lửa của lãng mạn, bi thiết và hào sảng qua loạt bài này. Khởi đầu là mượn hứng từ bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế. Giang Nguyên nhớ lõm bõm nguyên tác như sau:

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.


Image

Hà Huyền Chi đã kể lại tích xưa qua bài thơ dưới đây:


Bến Phong Kiều
Nhớ Em


Gã tú tài hỏng thi
Đáp thuyền về cố quận
Dạ cầu ngắm trăng khuya
Quên trường đồ mạt vận

Gã vẫy bút đề thơ
Văn sử Tầu thơm ngát
Ngàn sau còn ngẩn ngơ
Với Phong Kiều Dạ Bạc

Chàng thi nhân gốc lính
Hận nước mất nhà tan
Lê mảnh đời vô định
Ghé thăm chùa Hàn San

Nghe chuông trong gió sớm
Lay động vầng trăng xưa
Nhìn dạ cầu sóng gợn
Nhớ đèn chài sương mưa

Tìm bâng khuâng bóng quạ
Soi ngu ngơ bóng đời
Thấy mình như kẻ lạ
Thấy lòng là sông trôi

Xa, Cô Tô diệu vợi
Cũng tà tà ghé thăm
Gần, Sài Gòn Hà Nội
Mà mịt mù sơn lâm

Chàng không thi cũng trượt
Có em mà như không
Ngậm ngùi na tổ quốc
Suốt nửa đời lưu vong.

June, 16 1997
Hà Huyền Chi
SN101

Đoạn 5 là một diễn cảm cao độ của Hà Huyền Chi giữa hồn thơ cũ và nghịch cảnh lưu xứ khiến người đọc bàng hoàng:

Tìm bâng khuâng bóng quạ
Soi ngu ngơ bóng đời
Thấy mình như kẻ lạ
Thấy lòng là sông trôi


Câu thơ thơ nhất trong bài trên là: "Chàng không thi cũng trượt". Khi ghé Dương Châu, thi sĩ đã ghim tên hôn quân Dương Quảng vào thơ. Hắn từng giết cha, giết anh để đoạt ngai vàng. Hắn cho đào một con sông từ Nam Kinh đến Quảng Châu để ngự thuyền rồng du ngoạn, tìm gái lạ.

Hiu Hắt
Nghìn Khuya
Sóng Bạch Đầu

Cơm chiên Dương Châu tại Dương Châu
Mồng tơi xào tỏi, rau rền Tầu
Lính cựu nhớ tù, nhớ cố quận
Rót mãi tràn lênh chén bể dâu

Dương liễu sông đào nhớ Dương Quảng
Thuyền rồng du ca trôi về đâu
Đong đưa đèn lồng soi bội phản
Củi đậu nấu đậu cho lòng đau

Phiến đá sần sùi 72 lỗ
Như trái tim ta bị trọng hình
Dường như em vui nhìn máu đổ
Ta dại khờ nên mãi điêu linh

Voi đá tượng đồng đều bụi phủ
Minh quân, bạo chúa cũng mồ sâu
Còn nửa đời buồn trao em giữ
Hiu hắt nghìn khuya sóng bạch đầu.

Nam Kinh tháng 6, 17-1997
Hà Huyền Chi
SN098

Image

Qua lời dẫn giải của thi sĩ, Kiều Giang Nguyên được biết rằng: "Phiến đá sần sùi 72 lỗ" này là một trong những báu vật của Dương Châu. Loại đá này cần có 4 yếu tố để được coi là đẹp:
1-Phải sần sùi, xấu xí
2-Phải thuôn, có chiều cao
3-Phải có nhiều lỗ
4-Các lỗ phải thông nhau.


---------------------------

Khi ghé thăm Thái Hồ, Hàng Châu, thi sĩ đã nhắc tới một danh sĩ đa tình và thức thời là Phạm Lãi. Sau công thành danh toại, Phạm Lãi đã từ quan để hưởng phước cùng người đẹp Tây thi. (Thuộc tứ đại giai nhân Trung quốc là: Dương Quý Phi,Điêu Thuyền,Chiêu Quân, và Tây Thi) Hà Huyền Chi cũng nhắc tới viên dũng tướng "ngu trung" là Nhạc Phi đã bị gian thần Tần Cối rình rập vu cáo hại bạn phải thác oan:

Anh Hùng / Tần Cối

Ta đến thăm Phạm Lãi
Cũng viếng mộ Nhạc Phi
Nhưng người ta ưu ái
Chỉ là nàng Tây Thi

Phạm Lãi khôn như ranh
Sau chí toại công thành
Từ quan về ở ẩn
Cùng Tây Thi tự tình

Thái Hồ thênh thang gió
Hưởng nhàn cùng giai nhân
Giang sơn là lều cỏ
Công danh là phù vân

Một quốc sắc thiên kiều
Một lá thuyền phiêu diêu
Sau nửa đời báo quốc
Ổng sướng hơn ta nhiều

Nhạc Phi viên dũng tướng
Cũng pháp trường đầu rơi
Bởi Tần Cối cà chớn
Đã vu oan hại người

Ta có nhiều cẩu phi
Lúc tổ quốc lâm nguy
Tướng ngồi thiền, buôn lậu
Đào tẩu nhanh ai bì

Tần Cối vào vạc dầu
Nhục thiên thu vạn đại
Lũ tiểu nhân hoạt đầu
Hại người rồi trời hại

Ta có nhiều Tần Cối
Vỗ ngực xưng anh hùng
Đâm sau lưng đồng đội
Vẫn màu mè thủy chung

Văn thùng rỗng kêu to
Tâm như con thò lò
Chuyên sớm đầu tối đánh
Chuyên đội đèn bưng bô

Lũ Tần Cối tiểu nhân
Cò bót biết bao lần
Quen lạc quyên bá tánh
Quen chụp mũ, ngáng chân

Dối gian là lý tưởng
Phản phúc là phương châm
Bọn bất tài vô tướng
Bọn phi thú phi cầm.

Mậu Binh



Chúng ta từng biết Mậu Binh cũng là bút hiệu khác của Hà Huyền Chi, khi phải dùng những từ thô bạo trong thi ngữ, thế nên bài này được xếp chung vào đây. Thử nhìn quanh ta, không thiếu gì những Tần Cối gian manh. Những tên hoạt đầu chính trị, những nhà văn mạt hạng, tiểu tâm chỉ rình chờ cơ hội ngáng chân, chụp mũ hại người, hại bạn. Những tên tiểu nhân sớm đầu tối đánh lại thường vỗ ngực xưng là anh hùng và không ngớt khoa trương món thuỷ chung mạo hóa.

Image

Thiên An Môn/Ba Đình

Thiên An Môn người đến xem người
Như còn đâu đây nhiều vũng máu tươi
Khi người ngạo nghễ ngăn xe thiết giáp
Người thét tự do, tiếng thét rung trời

Góc quảng trường kia súng đạn phơi bày
Có xác Mao buồn nằm đợi băm thây
Có lãng quên phai trong từng phiến nhớ
Như hạt bụi tan trong biển cát lầy

Quảng trường dựng lên sáu bảng trắng tinh
Sẽ sáu vua quan vô sản dương danh
Bên trong hậu trường tưng bừng thanh lọc
Rồi cũng thú người, người thú nhe nanh

Quảng trường mọc lên đồng hồ điện tử
Đếm lui từng giây lượm lại Hồng Kông
(Non bảy trăm ngàn tích tắc xú sử)
Ốc đảo xanh kia đảng sẽ nhuộm hồng

Quảng trường hôm xưa từng đã đấu trường
Tiếng gào tự do bạt những đường gươm
Triệu tiếng gào câm dội hơn sấm sét
Người đã vì người chẳng tiếc máu xương

Ba Đình của ta thiếu tay hào kiệt
Gạch đá hằn sâu chứng tích đại hèn
Ưng khuyển ngôi cao lương tri rũ liệt
Lãnh tụ con buôn còn đợi bật đèn.

June 19, 1997
Hà Huyền Chi




Đảng Ma Cô

Xưa có người từng nói
Hễ nơi nào có khói
Ắt có tiệm ăn Tầu
Những con buôn cực giỏi

Tần Thủy Hoàng bạo chúa
Cũng đầu tư núi của
Bòn xương máu triệu người
Xây trường thành, binh mộ



Thêm bà Tây Thái hậu
Xây cung điện mùa hè
Kệ thủy binh thô lậu
Mặc bá tánh chửi thề

Vua đầu tư du lịch
Đảng tà tà kiếm ăn
Bạn hữu hay thù địch
Mời vô coi rần rần

Đỉnh ngu thèm nhỏ rãi
Khuếch trương thị trường gái
Lãnh đạo toét mồm mời
Thị Bình xòe chân gãi

Tham nhũng vượt chỉ tiêu
Xi đa lên như diều
Bá tánh vẫn bá thở
Vẫn cuối thang đói nghèo

Đảng hại dân hại nước
Đảng lưu manh côn đồ
Chính quyền rặt kẻ cướp
Chính chuyên toàn ma cô.

Mậu Binh

Đặc điểm khác là sự liên kết hài hòa giữa thơ tình yêu và thơ tình nước, đôi khi là những nét chấm phá thời hài.

---------------------------------------------------------------------

Tử Cấm Thành

Em đừng hỏi anh
Về Tử Cấm Thành
Nơi cung điện nằm trong cung điện
Nơi nhầy nhụa máu tanh

Nơi công, tội và trung, gian thỏa hợp
Gần vua như gần cọp
Sủng ái hôm nay, thất sủng ngày mai
Nơi con người quỳ mọp

Người bẻ cong nhân cách
Lời trình tấu hàng hai
Người Việt thật thà như anh
Cần có trăm cái đầu mọc ở trên vai

Để qua khỏi mùa đọa đầy em tai ngược
Nếu như em chủ trì đất nước
Anh sẽ nát thây khi sàm tấu dông dài
Đâu còn dịp ngu ngơ hưởng phước

Trái ngon cắn dở nhín dâng vua
Được khen tôi trung không quên minh chúa
Khi vua giận đem chuyện xưa tái xử
Khép tội khi quân dâng hiến của dư

Tử Cấm Thành nơi dâm loạn có thừa
Thái tử tằng tịu cùng vợ vua
Hoàng đế với con dâu hành lạc
Mẹ giết con, em giết anh, bạn giết bạn

Lãnh cung cải tạo mút mùa
Hoàng hậu con sen, tế tướng gia nô
Trên long sàng ngự phê quốc sách
Khác chi Việt cộng bây giờ?

Đừng hỏi anh về Tử Cấm Thành
Nơi sân rồng xây chín tầng gạch đá
Với hào lũy vây quanh
Vua khỏi sợ kẻ đào hầm gây họa

Nơi cửa Nam chính điện
Hoàng hậu được qua lần duy nhất trong đời
Bệ kiến
Ngày đăng cơ, hợp cẩn giao bôi

Ngày em ban cho chàng cơn bão biển
Không cửa nào cản ngăn
Quốc khố, công ngân
Em tiêu sài thỏa thích

Xây cung điện mùa xuân toàn ngọc bích
Dát vàng mùa hè, mùa thu nguy nga
Mùa mát dây chạm điện xẩy ra
Khiến lòng chàng băng tuyết

Như lần gặp gỡ đầu tiên
Lần thứ hai là núi lửa cuồng điên
Chàng quýnh quíu như gã trai mới lớn
Đóng lia dấu nổi dấu chìm

Có Tử Cấm Thành nào hơn căn gác nhỏ
Ngai vàng nào hơn trái tim em
Phút bên nhau thế gian này như bỏ
Đất trời chìm trong quên.

July 18, 1997
Hà Huyền Chi
SN104


Image
Người Tầu hôm nay thường hãnh diện khoe Vạn Lý Trường Thành là một kỳ quan trong Đệ Bát Kỳ Quan thế giới. Dưới mắt Hà Huyền Chi thì đó là một biểu tượng đáng cho con người tủi hổ vì đã coi rẻ giái trị người, như một Killing Field ở Căm Bốt, như những cái được gọi là trại cải tạo ở Việt Nam. Và con đưỡng khổ nạn ở tương lai được gọi là xa lộ Trường Sơn của đỉnh ngu Cộng sản Việt Nam.

Vạn Lý Trường Thành

Ta đạp trên Vạn Lý Trường Thành
Sáu ngàn bảy trăm cây số
Triệu bậc đá xám xanh
Chồng chất như những hàng bia mộ

Triệu dân công sống thác đoạn đành
Triệu gia đình tân khổ
Tan tác phân ly
Người hãnh diện và người tủi hổ

Bởi tham vọng điên cuồng
Của những hôn quân bạo chúa
Quen vắt máu mài xương
Làm nền xây chế độ

Ta thương nàng Mạnh Đan
Khóc sập thành lở núi
Nước mắt sầu thành sông thành suối
Liêu có mát thây người chồng mới cưới
Chưa được dịp động phòng?

Rừng khăn sô phấp phới
Triệu đời thiếu phụ héo lòng
Tần Thủy Hoàng có tội hay công
Cũng làm ta muốn ói!

Ta đạp trên Vạn Lý Trường Thành
Đạp trên bạo quyền Cộng sản
Quý tộc đỏ trên ngai vàng xã nghĩa
Cũng vắt máu mài xương
Đem tội ác làm thang giá trị

Đường mòn Hồ Chí Minh
Xương trắng cao hơn chế độ gian manh
Đường thống nhất hòa bình
Lầy máu đồng bào vô tội

Lũ đỉnh ngu toan lội ngược dòng tanh
Dựng xa lộ Trường Sơn
Bằng máu bằng xương
Của ba miền nhân dân khố rách

Vạn Lý Trường Thành
Người có nghe thấy từ cung trăng
Triệu oan hồn rên rỉ
Người có trạnh từ tâm
Sau hăm lăm thập kỷ
Góp lời nguyện cho hồn ma yên nghỉ?

June 1997
Hà Huyền Chi

-----------------------------------------------

Qua tâm sự thì Quế Lâm là chặng chót trong chuyến du hành của thi sĩ Hà Huyền Chi. May thay, ở chặng cuối này Hà Huyền Chi đã có những ghi nhận tươi mát đầy tình người và tình yêu, với nỗi hy vọng ánh lên từ những đám phong lan vẫn "èo uột bám vào lưng đá xảm" để tiếp tục nở những đóa hoa trong hang động tối ám, nghịch cảnh. Thây kệ đám nhện độc hèn mạt ngáng chân chụp mũ:

Ngắm Bất Chợt
Lòng Anh
Nghìn Cửa Động

Sũng mướt như trời đã thật gần
Gió trong máu và mây trong cuống phổi
Mát rượi như khi em làm lành
Sau nắng giận là mưa đền nhiệt đới

Xe chen chúc nhoi lên thành phố nhỏ
Đường cong queo dốc đá tai mèo
Hang động ngoặt ngoèo thắt mở
Động tâm anh từng ngắt véo thương yêu

Từng nhũ đá đâm suốt hồn khai phá
Hạnh phúc đầy như rượu rót tràn ly
Uống cay đắng mà thơm lừng hoa lá
Ngộp trong vui và thanh thỏa dị kỳ

Cỏ èo uột bám vào lưng đá xảm
Nghèo như anh sao vẫn sống hoang đàng
Hoa vẫn nở vách hang sâu tối ám
Hề hấn chi dăm lưới nhện giăng ngang

Đây Quế Lâm đường sông soi bóng núi
Bạt ngàn sen trải miết tới chân trời
Tre đuôi phượng, đá gan gà mời gọi
Bến quạnh hiu lau lách níu chân người

Anh vãn cảnh hay dụng tâm giải độc
Anh yêu em hay chính bởi yêu mình
Ngắm bất chợt lòng anh nghìn cửa động
Nhắc về em từng hốc nhớ điêu linh.

June 1997
Hà Huyền Chi
SN100

Image

Kiều Nguyên Giang hy vọng rằng độc giả yêu thơ đã cùng chia sẻ và thích thú với những dòng thơ óng mượt và bén nhọn, vốn là một đặc thù của văn phong Hà Huyền Chi.

Kiều Giang Nguyên

Post Reply