Dương Thu Hương Miệt Thị Cộng Đồng Hải Ngoại
Đại Dương
Vắng mặt một thời gian dài, sau khi tuyên bố tự ý lưu trú tại thủ đô ánh sáng của Pháp Quốc, nữ văn sĩ Dương Thu Hương lại véo von trong “Thư gửi Anh Chân Tín, LM Phan Văn Lợi và Chú Nguyễn Khắc Toàn” được VietNam Review đăng hôm 14/06/08.
Bằng lối hành văn miệt thị cố hữu, Dương Thu Hương viết “Năm 1994, ngay lần đầu sang nước Pháp tôi đã hiểu rằng trở thành một ông Hồ Chí Minh thứ hai là giấc mơ chính ngọ của một số người Việt sống ngoài bờ cõi... Các cuộc tầm binh mãi mã diễn ra dưới bàn tay của các nhà dàn cảnh phố huyện, với các trò gian dối vặt, dưới những tấm vải dù nguỵ trang “tình đồng bào, tình bạn” ... Thứ tình cảm bầy đàn: đồng chí, bạn hữu ... các nhà cách mạng sa-lông này có một phần thiếu hụt, cái phần thiếu hụt này chính là thực thi một cuộc phẫu thuật để buồng gan của họ phình to hơn chút ít”.
Dương Thu Hương còn lôi theo nhận xét của Tiến sĩ Stephen B. Young đối với người Việt hải ngoại để can ngăn những nhà dân chủ quốc nội chớ tin vào các cá nhân, tổ chức đấu tranh ở ngoài biên cảnh. Và, răn đe “Những nhà lãnh đạo vĩ đại bên ngoài biên giới này tin rằng họ có sứ mệnh là kẻ dẫn đường, còn đám người trong nước chỉ có thể hoàn tất vai trò của những tên tốt hỉn, hứng loạt đạn đầu tiên cho đến loạt dùi cui cuối cùng của chế độ cộng sản độc tài”. Để chặt đứt mối liên hệ quốc nội - hải ngoại, Dương Thu Hương kết luận “chắc anh em trong nước đã hiểu vì sao tôi tuyên bố rứt khoát ly khai với “cộng đồng hải ngoại”.

Dương Thu Hương được nhiều người biết tới phải kể đến công lao “thổi” cật lực của một số tổ chức đấu tranh tại hải ngoại mà hiện nay bị nữ văn sĩ miệt thị “Cuộc sống ngắn ngủi, tôi không có thời giờ à ới với các nhà cách mạng sa-lông”.
Hầu hết những người phản kháng tại Việt Nam hiện nay đều muốn được sự yểm trợ của bạn bè chống Cộng hải ngoại để vận động sự ủng hộ của quốc tế đối với công cuộc dân-chủ-hóa đất nước và làm chùn tay đàn áp của Nhà nước tàn bạo. Làm sao những người đứng đầu ngọn sóng có thể tin vào kẻ chỉ biết lo chăm chút đến bộ lông của mình?.
Sau 30/04/75, hàng triệu người Việt Nam bị nhốt trong vố số trại tù gồm đủ loại tù nhân (chính trị, tôn giáo, hình sự) đã chết, thương tật, đói rét mà có bao nhiêu Tổ chức quốc tế, Chính phủ ngoại quốc lưu tâm cho tới khi Cộng đồng người Việt hải ngoại dấy lên các hoạt động đòi nhân quyền cho người Việt quốc nội.
Từ năm 1990, thế và lực của người Việt hải ngoại lên cao tại các xứ tạm dung nên càng có điều kiện thuận lợi hơn trong việc yểm trợ hữu hiệu cho những người dám đối đầu với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chối bỏ sự thực hiễn nhiên này, có lẽ không ai khác hơn là những “đặc tình cộng sản”, được cài vào các tổ chức đấu tranh quốc nội cũng như hải ngoại như Nguyễn Vũ Bình ám chỉ trong bài viết vào tháng 3/08.
Kẻ mang quốc tịch Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trốn ở lại Ba Lê vì sợ trở về nước sẽ bị đàn áp, mà trước đó đã đưa ra nhiều lời tuyên bố rổn rảng, chắc có lá gan to hơn các nhà cách mạng sa lông hải ngoại?.
Trong xã hội công dân thực sự thì ai cũng có quyền tìm mọi cách thực hiện lý tưởng (hay ý tưởng) cá nhân miễn không vi phạm luật pháp. Chuyện lập hội, kêu gọi người khác tham gia vốn rất tự nhiên đòi hỏi mỗi người phải thận trọng khi chọn lựa. Kẻ lường gạt có thể bị luật pháp trừng trị. Nhưng, người bị lường gạt cũng nên tự vấn về khả năng phán đoán của bản thân.
Đảng Cộng sản đã biến nước Việt Nam thành xã hội trại lính với một tổ chức duy nhất có quyền dạy dỗ, điều khiển làm ngộp thở toàn dân. Vì thế, có nhiều nhóm, cá nhân mang dòng máu Lạc Hồng cứ lao vào cuộc đấu tranh không cân sức từ hơn 1/2 thế kỷ qua.
Cộng đồng người Việt hải ngoại không phải là một quốc gia với đầy đủ các cơ quan phân lập để ban hành, duy trì luật lệ nên kết cấu rất lỏng lẻo dựa vào sự đồng thuận và niềm tin. Nhưng, sự đồng thuận quá khó khăn vì thiếu biện pháp chế tài của luật lệ.
Chớ nên quan niệm Cộng đồng người Việt hải ngoại như một trại lính mà cần thừa nhận như một xã hội dân sự thu nhỏ và lỏng lẻo. Dù sao nó cũng tốt hơn trại lính mà những nhà dân chủ quốc nội đang cố phá rào với sự trợ giúp, cổ vũ của người Việt tị nạn cộng sản.
Tháng 12-05, đợt “bóc mẽ” tồi tệ và rộng lớn nhất giữa những nhà dân chủ quốc nội đã bới móc vô số chuyện khuất tất (kiểm chứng được hoặc không) khiến cho dư luận trong và ngoài nước phải bịt mũi. Nữ văn sĩ Dương Thu Hương (khi còn ở quốc nội) tố Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang trong thư 17/12/05 “từ khởi sự, tôi đã tuyên bố thẳng thừng với tất thảy mọi người ông chính là con chim mồi của tổng cục 1”. Rồi nhồi thêm “các ông mới là những tù nhân chính trị đầu tiên được hưởng chính sách: CỦ CÀ RỐT ... ông Nguyễn Thanh Giang cũng như ông Hà Sĩ Phu được ngủ giường đệm, ăn 50.000 đồng một ngày, toilette hiện đại, tivi xem thoả thuê”.
Như thế, cư dân của xã hội dân sự phải chấp nhận nhiều loại cây lớn nhỏ, tốt xấu cùng chen chúc sống trong một cánh rừng. Đừng thẳng tay chặt hết để riêng mình “ta” đứng giữa trời!
Qua bài viết, Dương Thu Hương đặt niềm tin vào những người cựu- cộng-sản khiến độc giả khó tránh nghi ngờ.
Cán binh cộng sản các cấp đã đem lại những gì cho dân tộc Việt Nam suốt 75 năm qua ngoại trừ đau thương, tang tóc? Độc lập ư? Tự do ư? Hạnh phúc ư? Tất cả chỉ là bánh vẽ mà lắm người chưa đủ can đảm thừa nhận. Kinh tế Việt Nam trong tay cán binh cộng sản vẫn chưa bao giờ theo bén gót các quốc gia Đông Nam Á suốt chặng đường hơn 2/3 thế kỷ.
Ngày 29/04/08, cựu Tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân, Bùi Tín viết “đất nước Việt Nam ta sau ngày 30/04/1975 không hề được giải phóng, cũng không hề được thống nhất... đảng cộng sản thắng, toàn dân vẫn thua ... tôi đến gần cuối đời mới tỉnh ra, mà thương hại, mà tiếc thay cho bao nhiêu người vẫn chưa tỉnh!”.
Sao chẳng thử tin vào những người không-cộng-sản, đại diện cho giai cấp bị trị, làm một sự thay đổi thật sự cho Việt Nam?
Nhiều nhà cách mạng Việt Nam đã phải bôn ba ở hải ngoại để mưu cầu giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của thực dân. Hồ Chí Minh chứ nào phải những người cộng sản lô can chỉ đạo chiến lược, điều khiển cuộc kháng chiến chống Pháp?
Chẳng nên sợ mất phần mà phải biết lo đến bản thân thiếu tư cách, khả năng lãnh đạo sẽ khó thu hút được sự ủng hộ của đại đa số dân chúng đang quằn quại dưới ách cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.
ĐẠI-DƯƠNG
Thư Gửi Anh Chân Tín, LM Phan Văn Lợi
và Chú Nguyễn Khắc Toàn
Dương Thu Hương (Paris - Pháp Quốc 14-06-2008)
Trước hết tôi xin chân thành xin lỗi cả ba vị vì gửi chung một thư cho cả ba người quả là bất lịch sự nhưng mong các anh thông cảm, thứ nhất là tôi đang thiếu thời gian, thứ hai tôi vốn chân đất mắt toét và không cảm thấy bất an lắm với cái thói “nhà quê” của chính mình.
Kể từ lần cuối cùng được gặp anh Chân Tín và anh Ngọc Lan ở Sài-gòn đến nay đã gần hai thập kỉ, nếu tôi không nhớ nhầm anh Tín chắc đã xấp xỉ tám chục tuổi xuân còn tôi đã ra bà lão ngoại lục tuần.
Giá thời xưa, nước non an lành, hẳn anh Tín đã có thú tỉa hoa ngắm cảnh, còn tôi, nếu không ngồi bỏm bẻm nhai trầu thì cũng thu tay vào lồng ấp xem con cháu đánh tam cúc... Hẳn vậy... Nếu nước non an lành. Nhưng vì xứ sở chẳng an lành nên những kẻ xương già da cóc vẫn còn phải chạy long tóc gáy. Thôi thì, đã sinh ra ở cái mảnh đất này, đành chịu kiếp “trời hành” cho đến mãn kiếp.
Chúa của anh Tín cho anh được sống ngày nào, chắc anh cũng sẽ tiếp tục con đường dang dở. Phần tôi, cũng tự xác định rằng trời Phật còn cho tôi sống ngày nào tôi cũng vẫn lọ mọ thân già trong cuộc hành trình của tôi. Hy vọng rằng gân cốt còn trụ được vào giây phút tổ tiên vẫy gọi. Đó là lời tôi chúc anh và cũng tự chúc cho chính mình.
Giờ, xin được phép nói vài điều có liên quan đến cuộc đấu tranh chung của chúng ta.
Vì bận, tôi không đọc được đầy đủ tất cả các bán nguyệt san Tự do ngôn luận. Tuy nhiên, tôi vẫn theo rõi cuộc đấu tranh trong khả năng tối đa của mình. Gần đây, tôi chú ý đến bài phỏng vấn ông S.B.Young, nguyệt san số 49, một bài báo có sức nặng, với các ý tưởng khá chính xác. Trước hết, sự phân tích về nội bộ đảng cộng sản VN, tương quan lực lượng giữa hai nhóm thân Mỹ và thân Tàu. Ông Young nói rất đúng rằng nhóm thân Tàu hiện tại đang khống chế chính trường. Để ví von một cách chính xác hơn, cần phải hình dung là chúng cố sức ôm chặt lấy chân triều đình phương Bắc để củng cố ngai vàng Hà nội. Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì đã trở thành gỗ mục kể từ ngày ông ta chấp nhận đi đặt vòng cho chị em... Nhiều thập kỉ đã qua rồi. Sự thực này ai sống ở trong nước hẳn biết rõ. Có điều không ai phủ nhận được rằng kể từ năm 1975 đến nay, những vụ biểu tình năm 2007 chống sự bành trướng lãnh thổ của Trung quốc là hiện tượng mới mang màu sắc chính trị rõ rệt. Nói một cách khác, tuổi trẻ Việt nam ngủ yên nhiều thập kỉ và chỉ vùng dậy khi sợi dây đàn nhậy cảm nhất trong tâm hồn họ bị rung động, sợi dây đàn ấy có tên là DÂN TỘC. Vậy thì, dân tộc, chính là giá trị vĩnh hằng trong quốc hồn, quốc tuý Việt nam.
Bộ mặt ngạo ngược của Bắc triều cũng như thái độ hèn nhát của một chính quyền Lê Chiêu Thống hiện đại là món quà trời cho đối với những người đấu tranh cho dân chủ, cần phải nắm lấy thời cơ để khai triển phong trào. Chớ quên rằng nhu cầu cũng như sự hiểu biết về dân chủ đang còn là những khái niệm mơ hồ đối với đại đa số người Việt nhưng bản năng Sinh tồn dân tộc đã là con đường xuyên rừng rậm qua ngàn năm nô lệ mà bất cứ ai ai cũng thuộc các lối mòn. Sự đàn áp của chính quyền dưới mọi hình thức, từ nhà tù, trại điên, dùi cui, vòi rồng... cho đến bắn phá các blog có uy tín là minh chứng đầy đủ cho cái bộ phận cường hào đã quay lưng lại với chính dân tộc của chúng. Khi một khối lượng dân chúng đáng kể hơn nhận thức rõ tính chất đặc trưng “Lê Chiêu Thống” của chính quyền Hà nội, cuộc đấu tranh sẽ có cơ hội chuyển sang một giai đoạn mới. Nhiệm vụ của tất thảy chúng ta là phải đẩy mạnh quá trình nhận thức ấy.
Thúc đẩy một quá trình nhận thức không dễ dàng, cũng chẳng phải một thao tác ngắn ngày. Vả chăng, nó đòi hỏi các hình thức tối đơn giản và hữu hiệu. Phải tối đơn giản vì đại bộ phận dân chúng lao động chỉ có thể cảm thụ được những ý kiến chân xác, rành mạch, không vượt quá khả năng tiếp nhận cũng như quỹ thời gian của họ. Phải hữu hiệu, vì với đa số, sự chú tâm của con người chỉ có được với những sự kiện liên quan mật thiết tới sinh tồn và tương lai của chính họ hoặc con cái họ. Ở đây, tôi cũng thấy ông Young có các ý kiến xác đáng khi trả lời câu hỏi số 9 của Việt Luận: Tổ chức sinh viên, lao động, nghiệp đoàn, thành phần trí thức tìm lấy những chủ trương bí mật của Đảng, tài sản của Đảng, đem phổ biến cho dân chúng nghe và biết. Giải thích cho dân chúng hiểu rõ những cái sai trái gây thiệt hại đến các quyền lợi chính đáng của dân mà lẽ ra ở một nước tự do dân chủ, người dân được luật pháp bảo vệ....
Thực ra, đây là điều rất nhiều người có lương tâm đã cố gắng làm từ vài thập kỉ nay, và đã phải trả giá không ít. Tôi nhớ, vào cuối thập kỉ 80, một nhà báo lão thành báo Đoàn Kết, can đảm lên tiếng yêu cầu nhà nước công khai con số họ đã vay nợ của nước ngoài, bởi vì hậu quả của tất thảy các cuộc “vay mướn đi đêm” như thế sẽ chồng chất lên vai các thế hệ hậu sinh. Ngay lập tức, ông bị treo bút và bộ máy A25 đến tận nhà “làm việc”... Hai thập kỉ đã qua, chúng ta cũng vẫn tiếp tục một việc ấy thôi, nhưng giờ đây tình hình đã thay đổi rất nhiều, các blog tư xuất hiện như nấm, công an Hà nội phá được cái này thì cái khác mọc lên, và như vậy, từ các blog này in thành các tờ rơi, cực ngắn gọn, cực đơn giản và thiết thực, hẳn tin tức sẽ đến được dân chúng, nhanh chóng gấp bội phần những năm xưa, miễn là... miễn là, các nhà dân chủ biết viết đúng những gì dân cần, chứ không phải những gì họ thích viết ra cho... sướng tay! Và đây, chính là điểm cốt lõi, là chuẩn mực xác định khả năng chiến đấu của con người cũng như kết quả họ sẽ thu được.
Giờ, tôi xin quay lại câu hỏi số 2 của Việt Luận, mà ông Young đã trả lời một cách khá đầy đủ và chi tiết. Tôi thấy ông Young công bằng trong những nhận định về các cộng đồng hải ngoại cũng như các nhóm nhỏ người Việt thường tiếp xúc với ông. Phần tôi, tôi xin thêm một chi tiết. Ngày 11tháng 5 vừa rồi, nhà báo Phạm thị Hoài từ Đức sang Pháp chơi, chúng tôi gặp nhau vào buổi tối. Chị Hoài có hỏi tôi về tình hình cuộc đấu tranh dân chủ. Tôi đáp vắn tắt :
Dân chủ là con đường khó khăn, trước hết đối với những dân tộc nông dân như dân ta. Tuy nhiên, nếu trời còn cho sống ngày nào, tôi còn tiếp tục tranh đấu. Nhưng thắng lợi thì chỉ có riêng Trời biết. (Chữ Trời viết hoa ở đây có nghĩa là một Đấng toàn năng, Chúa của người công giáo, Phật của người lương... Đại loại như vậy.)
Tại sao chị tranh đấu mà lại không tính đến thắng lợi ? Chị Hoài hỏi lại. Tôi không biết trả lời sao cho phải. Bởi vì chúng tôi cách nhau những mười lăm tuổi. Chị Hoài trẻ hơn tôi rất nhiều, được học ở Đức từ nhỏ nên sớm tiếp thu nền văn minh phương tây, chị ấy mạnh mẽ hơn tôi, duy lý hơn tôi, nhiều tin tưởng ở bản thân hơn tôi... Và trước hết, “nhà tỉnh” hơn tôi nhiều lần trong cách suy nghĩ. Tôi đành đáp :
Ai tranh đấu cũng mong ngày thắng lợi, nhưng kiếp người hữu hạn, sức người cũng chẳng phải vô biên. Thế hệ chúng tôi là thế hệ Lát đường, giờ đây đến thế hệ Mở đường. Sau này, là tuổi trẻ Lên đường, chúng nó sẽ nắm lấy nền dân chủ.
Chị Phạm thị Hoài nói :
Đã tranh đấu là phải tính đến thắng lợi. Muốn thắng lợi thì phải có người lãnh đạo. Tại sao lại không là anh Nguyễn Ngọc Giao hay Nguyễn Gia Kiểng ?...
Đến đây tôi đành im. Tại sao lại không là Nguyễn Ngọc Giao hay Nguyễn Gia Kiểng ?... Câu ấy chỉ có trời mới trả lời được. Tôi thì không. Tôi đành viện lẽ :
Tôi không có Internet. Nhưng tôi có nghe người ta thuật lại cuộc cãi cọ giữa ông Nguyễn gia Kiểng với ông Hoàng Tiến...
Chị Hoài đáp lại luôn : Nhưng Hoàng Tiến thì uy tín chưa cao...
Từ lúc này, tôi dứt khoát chuyển sang chuyện phiếm. Người ta, đôi khi nói cùng một thứ tiếng nhưng tư duy đã cách nhau quá xa thì tốt nhất là nên chấm dứt các cuộc đối thoại, dù ôn hoà dù gay gắt để khỏi phí thời gian.
Năm 1994, ngay lần đầu sang nước Pháp tôi đã hiểu rằng trở thành một ông Hồ Chí Minh thứ hai là giấc mơ chính ngọ của một số người Việt sống ngoài bờ cõi cho dù họ tuyên bố công khai hay họ ngụy trang nó bằng những thứ cảm tình giả mạo, những mối khiêm tốn vờ. Các cuộc tầm binh mãi mã diễn ra dưới bàn tay của các nhà dàn cảnh phố huyện, với các trò gian dối vặt, dưới những tấm vải dù nguỵ trang “tình đồng bào, tình bạn...” Tóm lại, tất thảy những tấn tuồng cũ rích của cuộc truy tìm quyền lực mà chúng ta có thể nhận ra cho dù có đôi chút khó khăn. (Cần mở ngoặc đơn ở đây: chính tôi, trước khi hiểu được sự thật này cũng phải mất dăm tháng bồng bềnh trong sương mù ảo vọng. Thứ tình cảm bầy đàn: đồng chí, bạn hữu... vốn vẫn là thứ cạm bẫy xưa cũ nhưng luôn luôn có hiệu quả vì nó đánh trúng vào bản năng cố hữu của con người). Những nhà lãnh đạo vĩ đại bên ngoài biên giới này có một lòng tin vững chắc vào bản thân bởi họ được sống trong lòng nền văn minh phương Tây, được hưởng đầy đủ các điều kiện tối ưu để khả năng tư duy phát triển, và do đó họ tin rằng họ có sứ mệnh là kẻ dẫn đường, còn đám người trong nước, tù túng nơi bùn lầy nước đọng, thiếu thốn từ cơm áo đến thông tin, chỉ có thể hoàn tất vai trò của những tên tốt hỉn, hứng loạt đạn đầu tiên cho đến loạt dùi cui cuối cùng của chế độ cộng sản độc tài. Giấc mơ quyền lực vốn là giấc mơ vương giả tự ngàn xưa, dẫu có đổi thay trang phục theo thời gian nhưng bản chất, cốt lõi luôn luôn là hằng số. Giấc mơ quyền lực nào cũng mãnh liệt và cũng... mù loà. Khí hậu tươi tốt của châu Âu là thứ khí hậu tuyệt vời để những giấc mơ này được nảy nở viên mãn, vun bồi cao như núi Hoàng liên Sơn...
Chúng ta cứ tạm cho là các nhà cách mạng sa-lông này có đầy đủ phẩm chất để trở thành các lãnh tụ tối cao. Tuy nhiên, không ai chối cãi được rằng họ có một phần thiếu hụt, cái phần thiếu hụt này chính là thực thi một cuộc phẫu thuật để buồng gan của họ phình to hơn chút ít. Bởi cái phần “chút ít” này, thường lại là giá trị cốt lõi trong kiếp nhân sinh. Để diễn đạt một cách rành mạch hơn, tôi xin nhắc lại một kỉ niệm cỏn con với những người cùng thời. Hồi nhà thơ Xuân Quỳnh, vợ kịch gia Lưu Quang Vũ còn sống, thường gọi đùa ông Hồ là : Em Hồ. Bắt đầu từ một buổi trưa, đang ngồi ăn uống ở toà soạn báo Văn Nghệ số 17 Trần Quốc Toản, Xuân Quỳnh vừa ăn vừa nhìn lên tấm ảnh ông Hồ treo trên tường rồi bỗng dưng bật nói :
- Ô!... Hôm nay tớ mới để ý, cậu Hồ đẹp trai ra phết... May mà mình sống khác thời đại. Nếu cùng thời, biết đâu mình chẳng phải lòng cậu ấy. Rồi hoá ra rách chuyện...
Tất cả mọi người ắng đi một chút rồi khi đã nghe thủng câu chuyện, đều cất tiếng cười sằng sặc. Xuân Quỳnh xinh đẹp, duyên dáng, đặc biệt thông minh khi bịa ra các chuyện tiếu lâm. Lúc ấy, một người chêm vào :
- Có khi trước lúc bà phải lòng ông ấy, ông ấy đã đổ trước. Mắt bà sắc như dao cau thế kia, đàn ông nào mà đứng vững....
Kể từ hôm ấy, chúng tôi gọi đùa ông Hồ là Em Hồ. Nếu nói theo giọng bỡn cợt của Xuân Quỳnh thì:
- Kể ra, muốn làm em Hồ cũng không khó lắm. Tuy nhiên, cũng phải thò ra vài đồng bạc lì-xì để đón tay đám dân đen. Ít ra em cũng đã từng ngồi đợi bình minh trong hố xí nhà tù. Ít ra em cũng đã có thời gặm cơm nắm, nằm còng queo sốt rét trong hang. Ít ra em cũng đã lăn lộn trong rừng mươi năm trèo non lội suối...
Trong những năm chiến tranh, tuy không phải là lính, tôi cũng hiểu sự khác biệt giữa hai thứ sỹ quan, sỹ quan trực tiếp chiến đấu, và sĩ quan hành dinh. Những ai thực sự sống trong quân đội, dù phía bắc hay phía nam, hẳn hiểu rõ sự khác biệt này sâu sắc hơn tôi. Cuộc đấu tranh cho dân chủ ở Việt nam, thực chất cũng là một cuộc chiến tranh, tuy không cùng hoàn cảnh. Một cuộc chiến tranh mới mẻ, không cân sức, đòi hỏi sự kiên trì gấp bội những cuộc chiến tranh thông thường diễn ra trong lịch sử người Việt, vì lẽ trong các cuộc chiến đấu truyền thống, tất thảy đều xiết chặt hàng ngũ để chống ngoại xâm.Trong cuộc đấu tranh vì tự do và dân chủ, những người trực tiếp đấu tranh trong nước là lớp sĩ quan trực tiếp cầm quân, trực tiếp lăn lê bò toài trên chiến địa. Họ mới chính là đội quân quyết định thắng lợi, dẫu rằng sự hỗ trợ bên ngoài có quan trọng đến đâu. Về điểm này, tôi hoàn toàn nhất trí với các nhận định của ông Nguyễn Minh Cần trong bài “Một số vấn đề của phong trào dân chủ” bán nguyệt san số 32, khi ông khẳng định: Lực lượng đấu tranh trong nước là chủ yếu.
Bây giờ, chắc anh em trong nước đã hiểu vì sao tôi tuyên bố rứt khoát ly khai với “cộng đồng hải ngoại”. Trong thực tế, tôi chỉ còn liên hệ với những cá nhân mà tôi biết chắc chắn rằng họ tốt một cách vô tư, họ thương nước không vụ lợi và chắc chắn số người này là vô cùng ít ỏi. Cuộc sống ngắn ngủi, tôi không có thời giờ à ới với các nhà cách mạng sa-lông.
Giờ, sang điểm thứ ba, cũng là điểm cuối cùng của thư này. Một năm trước đây, tôi đã từng trao đổi với chú Nguyễn Khắc Toàn:
“Hồ chí Minh là một nhân vật mang nhiều nghi án. Rất nhiều bí ẩn liên quan tới cuộc sống riêng cũng như con đường chính trị của ông ta. Để kết luận một vấn đề quan trọng, thời gian cũng như sự nỗ lực cũng chưa đủ, phải có cơ may tức là những cảnh huống, những mối quan hệ đặc biệt mới có thể dò tìm được sự thật. Những người nghiên cứu về ông ấy mấy chục năm nay chưa lên tiếng thì những người đấu tranh cho dân chủ đừng kết luận vội vã khi chưa bỏ đủ công sức và thời gian để tìm hiểu vấn đề một cách thấu đáo. Chửi cho sướng miệng thì không thuyết phục được ai. Nhất là khi đại bộ phận dân chúng chưa chuẩn bị tinh thần để căm ghét ông ấy. Tại sao không dùng thuật “Gậy ông đập lưng ông”?... Chính quyền cộng sản dùng ông Hồ làm bình phong che chắn trong khi họ là một tập đoàn tham nhũng còn ông Hồ thực sự là người liêm khiết, không ai có thể tố cáo rằng ông ta có vốn liếng riêng tư, tiền bạc cũng như bảo vật. Bản thân ngày chết của ông ấy cũng bị giả mạo. Di chúc cũng thế. Và việc xây lăng là hoàn toàn nằm ngoài ý muốn của chính ông ta. Những bằng cớ xác thực như vậy, ai ai cũng thấy. Tại sao anh em dân chủ lại không sử dụng các dữ liệu đó vào trong cuộc đấu tranh của mình?... Như vậy là tự huỷ bỏ những vũ khí đắc lực, trong khi nêu lên mục tiêu: Đạp đổ thần tượng Hồ chí Minh nhưng không đủ chứng cớ thuyết phục để có thể đạt tới mục tiêu ấy. Những bài viết loại này có thể làm sướng tay người viết và sướng tai một số người đọc, nhưng tính hiệu quả chung trên tổng dân số, tôi e rằng mùa màng chỉ gặt được lúa lép mà thôi. Đặc biệt, khi đọc một số bài viết của tác giả Thái Hoàng nào đấy, tôi có cảm tưởng tham dự những cuộc đấu tố của các ông bà bần nông cố nông sỉ nhục địa chủ thời cải cách, trên cùng một mức độ trí tuệ cũng như phong cách. Các cụ dạy “Được giận mất khôn” là thế! Đã mất khôn, mà lại dùng văn phong “bần cố” thì chỉ gặt được sự phản cảm thôi.
Trong cuộc đấu tranh, những gì kém hiệu quả thì tốt nhất là nên tránh. Nếu tôi không nhầm ông Nguyễn Minh Cần cũng có chung một quan điểm với tôi, coi việc hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh là chưa thực sự cần thiết và chưa thể có hiệu quả. Vài tháng trước đây, các sinh viên Việt Nam ở Paris rước ảnh ông Hồ và cờ đỏ sao vàng đi biểu tình chống quân bành trướng Trung quốc là bằng cớ rõ ràng. Tuy nhiên, ông Cần cũng như tôi là thiểu số. Chúng tôi chỉ có quyền góp ý kiến nhưng việc quyết định là do đa số các anh. Tôi, tuy cùng đứng trong Khối 8406 với mọi người, nhưng tôi có quan điểm riêng và quan điểm của tôi không thay đổi. Thời anh Hoàng Minh Chính còn sống, tôi cũng vẫn là người độc lập, như đám nhà báo quốc tế thường gọi “louve solitaire” dù tôi liên kết chặt chẽ với nhóm dân chủ để đấu tranh. Vậy trong thư này, tôi xin nhắc lại một lần nữa cho minh bạch để tránh mọi hiểu lầm đáng tiếc có thể xảy ra sau này.
Sau rốt, xin chúc anh Chân Tín, linh mục Phan văn Lợi, chú Nguyễn khắc Toàn mạnh khoẻ và cuộc đấu tranh cho nền dân chủ có nhiều may mắn trên con đường phía trước.