Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Trâu Chết Để Da
Người Việt Nam có câu "Trâu chết để da, người ta chết để tiếng". Làm chuyện tốt thì được tiếng thơm muôn đời. Làm chuyện xấu thì "trăm năm bia đá cũng mòn, nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ". Ngay như con trâu, sau khi chết, người ta lột da nó để lợp trống. Da tốt thì cái trống bền lâu, đánh lên kêu vang dội. Da xấu thì chỉ ít lâu tang trống bị rách,... đánh không kêu nữa.

Image

Võ Văn Kiệt: 1922-2008


Ông Võ Văn Kiệt vừa nằm xuống ở cái tuổi 86. Theo tiểu sử do đảng Cộng Sản Việt Nam cung cấp, thì ông đã "đi theo cách mạng" từ năm 16 tuổi và gia nhập đảng một năm sau đó. Với 69 năm tuổi đảng và trải qua bao biến cố, cùng 2 cuộc chiến tranh ác liệt, mà ông được chết già trên giường bệnh, thì quả là một điều hiếm thấy. Nói theo thuyết nhân quả thì "Phúc phần" nhà ông Kiệt khá lớn, và có thể do tích tụ từ cha, đời ông để lại. Nhưng, không biết kiếp này, phúc của ông có đủ dày, để dành cho con cháu hay cho kiếp sau của ông hay không ?


Cho đến nay, ngoại trừ tại 4 nước còn bị cộng sản cai trị là Trung Hoa, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba, thì khắp khắp nơi trên thế giới người ta đều biết rằng, cộng sản đồng nghĩa với độc tài, với phi dân chủ, với tội ác, với khủng bố... Nạn nhân bị các chế độ cộng sản tàn sát đã lên đến cả trăm triệu người. Nhưng, theo truyền thống dân tộc Việt Nam, "nghĩa tử là nghĩa tận", và khác với đảng Cộng Sản Việt Nam, dân ta không gán ép cho tất cả những ai theo đảng cộng sản là tội ác và khủng bố. Vì vậy, tuy ông Võ Văn Kệt đã từng là nhân vật thuộc hàng chóp bu của đảng cộng sản Việt Nam, và đã từng làm thủ tướng, nhưng với một số tư tưởng tiến bộ, so với giới lãnh đạo đương thời; sự ra đi của ông Võ Văn Kiệt đã gây nhiều xúc động trong dân chúng, và số người tự nguyện đưa tiễn ông đến nơi an nghỉ cuối cùng khá đông đảo. Đây là một chỉ dấu cho thấy tấm da trâu này cũng dùng được.

Tuy rằng lịch sử sẽ là nơi phê phán tối hậu, nhưng với một khuôn mặt nổi tiếng như ông Võ Văn Kiệt, thì đương nhiên đã có những phê phán về con người của ông từ lúc sinh thời, cũng như ngay sau khi ông vừa nằm xuống. Bởi vậy, bênh cạnh những lời sáo rỗng muộn màng của đảng cộng sản Việt Nam, người ta đã thấy rất nhiều phẩm bình của dư luận về ông, trong lúc Hà Nội còn đang lúng túng, chưa biết loan báo cái chết của ông như thế nào.

Nhìn chung thì dư luận khen cũng lắm, mà chê cũng nhiều. Người ta ca tụng ông Võ Văn Kiệt có công tiến hành "cuộc chuyển giao vĩ đại của một đất nước từ chiến tranh sang hòa bình, từ bao cấp sang đổi mới". Người ta gọi ông là nhà kiến trúc công trình "đổi mới". Là người đã can đảm đương đầu với đám lãnh đạo bảo thủ như Lê Đức Anh, Đỗ Mười... Người ta truyền tụng rằng, vào những năm sau năm 1975, ở cương vị là Bí Thư Thành Ủy Sài Gòn, ông Kiệt đã dũng cảm, đi ngược lại chủ trương của Hà Nội, để cứu đói cho dân Sài Gòn; lúc đó đang cùng cả nước bị thiếu đói vì những chính sách sai lầm của đảng cộng sản Việt Nam. Báo chí ngoại quốc đề cao ông Kiệt khi ở vị trí thủ tướng đã đưa Việt nam ra khỏi cơn khủng hoảng tài chính, đã khuyến khuyến khích các xí nghiệp tư nhân làm ăn. Đặc biệt là việc ông đưa Việt Nam gia nhập khối ASEAN, vận động Hoa Kỳ bỏ cấm vận và mở bang giao với Hoa Thịnh Đốn. Cùng lúc kêu gọi các doanh nhân nước ngoài vào đầu tư vào Việt Nam. Ông Kiệt được đánh giá là vị thủ tướng năng động hơn hẳn những người tiền nhiệm của ông. Ông cũng được coi là một trường hợp hiếm có trong các nhà lãnh đạo cao cấp, dám tuyên bố công khai chống những sai lầm của hệ thống cộng sản....

Image
Với dư luận Việt Nam, thì bên cạnh những lời khen tương tự, cũng không thiếu những chỉ trích dành cho ông Kiệt. Điểm đặc biệt là, sự phê bình này không chỉ đến từ những thành phần vốn dĩ không ưa cộng sản, mà hầu hết lại đến từ các diễn đàn của giới trẻ có học ở trong nước. Tuổi trẻ Việt Nam rất sòng phẳng, họ kính cẩn nghiêng mình trước sự ra đi của một bậc lão thành cách mạng; nhưng đối với họ, công, tội phải rạch ròi. Tuy ông Võ Văn Kiệt có một số công lao nhất định trong thời kỳ đổi mới, nhưng thực ra đó chỉ là xu thế mà ông buộc phải chạy theo, chứ chẳng phải sáng kiến tài tình nào của ông. Bởi vì ,sau khi khối xã hội chủ nghĩa tan rã, để có thể tồn tại, cộng Sản Việt Nam không còn lựa chọn nào khác là phải chuyển hướng. Ông Kiệt cầm quyền ngay vào giai đoạn đó, nên phải nương theo. Cùng lúc đó, ông phải thủ thế, không dám thẳng thắn như ông Trần Xuân Bách, hầu không bị chính cái cơ chế của đảng gạt ra ngoài. Người ta cũng nghi ngờ về thực tâm của ông trong những bài viết hay tuyên bố có tính cách tiến bộ trong những năm gần đây của ông. Bởi vì chính ông là tác giả của nghị định 31/CP, một nghị định vô cùng phản tiến bộ. Đến nỗi sau này, do áp lực của thế giới, chính đảng cộng sản phải huỷ bỏ nó. Trong khi ông Kiệt lại không hề đả động đến lỗi lầm cùng những tai tiếng do nghị định vừa kể của ông gây ra. Bên cạnh đó, tuy ông đưa lời kêu gọi hòa giải giữa những người ở hai chiến tuyến trước đây, nhưng những kêu gọi đó của ông vẫn không ra khỏi lề thói trịch thượng của kẻ thắng ban phát cho người bại, mà ông muốn kêu gọi hòa giải. Điểm quan trọng nhất được vạch ra là, với những hiệp định dâng đất nhượng biển của cộng sản Việt Nam cho Trung Quốc, rồì sự xâm lấn bờ cõi của nước đàn anh phương Bắc, và sự nhu nhược của Cộng Sản Việt Nam, ông Võ Văn Kiệt đã không hề có lời nào đả động đến sự nhục nhã này. Cuối cùng, mặc dù không bị chỉ trích trực tiếp về sự tham ô nhũng lạm, nhưng người ta cũng đặt nhiều nghi vấn về những tài sản và các cơ sở làm ăn khổng lồ do vợ con ông đứng tên.

Tóm lại, tuy đã có khá nhiều lời khen, tiếng chê đối với ông Võ Văn Kiệt được dư luận đề cập đến khi ông vừa nằm xuống; nhưng chắc chắn là chưa đủ để đánh giá chính xác về con người của ông. Hiện nay có thể còn nhiều điều liên quan đến ông vẫn đang bị Cộng Sản Việt Nam dấu nhẹm. Cũng như có những sự kiện không được đưa ra mổ xẻ tường tận vì sự tế nhị trong lúc tang chế . Nhưng rồi đây lịch sử sẽ vô cùng công bình đối với ông. Và đến lúc đó người ta sẽ biết cái trống lợp bằng miếng da trâu này bền được bao lâu?

Trần Đức Tường
Image

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Nếu cho người Việt bầu, ông McCain sẽ đắc cử tổng thống
Tác giả: Roger Mitton – Nguyên Hân chuyển ngữ

Cựu tù binh chiến tranh McCain là sự chọn lựa của người Việt Nam để làm tổng thống Hoa Kỳ.

HÀ NỘI - Rất nhiều người trong những nước đang phát triển hân hoan khi Thượng Nghị sĩ Barak Obama thắng để được bầu làm ứng cử viên tranh cử tổng thống của đảng Dân chủ, nhưng đối thủ của ông thuộc đảng Cộng Hòa, Thượng Nghị sĩ John McCain, vẫn là người được mến chuộng ở Việt Nam.

Ông McCain có thể không trẻ trung, đầy sinh lực và truyền cảm như ông Obama.

Và ông không chuyển tải nhận thức tương đồng với thế giới đang phát triển như ông Obama, là người mà cha ruột của ông là người Phi châu và bản thân ông Obama đã từng đi học ở Nam Dương (Indonesia) thời niên thiếu.

Cũng chẳng có một nơi chốn nào mang tên ông McCain ở châu Á, như một phố ở Nhật Bản mang tên Obama.

Nhưng những điều này tuồng như vô nghĩa với người Việt Nam, vì họ vốn cho Thượng Nghị sĩ McCain là một trong những người của họ.

Cảm tình này ngày càng tăng bởi vì ông McCain đã từng ngồi tù năm năm ở nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội trong cuộc Chiến tranh Việt Nam, người mà sau này khi ra khỏi tù đã quên hết những tháng năm bị tù tội, ngược đãi và hành hạ đó, để nỗ lực xây dựng mối quan hệ giữa hai quốc gia Hoa Kỳ và Việt Nam.

Năm 1967, một hỏa tiển địa không đã bắn trúng chiếc phi cơ A-4 Skyhawk của ông McCain, là một phi công của Hải quân Hoa Kỳ, đang bay trong một phi vụ thả bom thủ đô của người Việt miền Bắc.

Phi cơ ông ta rớt xuống hồ Trúc Bạc ở ngay trung tâm Hà Nội và bị thương nặng – gãy cả hai tay và một chân – đã được kéo ra khỏi hồ nước và bị thảy vào nhà tù Hỏa Lò.

Được mệnh danh là “Hilton Hà Nội”, nhà tù Hỏa Lò sau này đã được phá sập để thay vào đó, là trung tâm Somerset Grand Hanoi được xây dựng, nó là một trung tâm vừa là nhà ở vừa là khu thương mãi được làm chủ bởi một công ty của Singapore có tên CapitalLand.

Sau khi được thả ra khỏi tù năm 1973, ông McCain đã cho hay là ông đã bị tra tấn trong thời gian ở tù, nhưng phía Việt Nam đã phủ nhận điều này.

Ông Vũ Mão, một cựu đại biểu của Quốc hội Việt Nam, là ngành lập pháp của Việt Nam nói rằng: “Ông McCain biết rằng nếu chúng tôi đã ngược đãi ông qúa tồi tệ, làm sao ông có thể sống đến ngày hôm nay? Cho nên, nếu ông thắng cử, chúng tôi sẽ chúc mừng ông.”

Thực ra, theo người bạn tù Richard Stratton, thì chính ngay lúc bị ngồi tù này, ông McCain đã bày tỏ ý định sẽ ra tranh cử tổng thống một ngày nào đó.

Nhiều năm sau đó, sau khi ông trở thành Thượng Nghị sĩ Hoa Kỳ, chính sự ủng hộ của ông để thiết lập quan hệ bang giao với Hà Nội đã giúp Tổng thống Clinton vượt qua được những trở ngại bởi những tay diều hâu trong Quốc hội Hoa Kỳ dạo đó.

Giờ đây rất nhiều người Việt Nam hy vọng rằng nếu ông McCain đắc cử tổng thống, ông sẽ dành cho họ những hậu thuẩn tương tự trong những vấn đề khác.

Ông Nguyễn Đức Gan, một cựu chiến binh 60 tuổi nói: “Vâng, tôi hy vọng ông McCain sẽ thắng cử lần này, bởi vì đó là điều tốt cho chúng tôi. Ông đã bị tù ở đây, nhưng may mắn cho ông, ông vẫn còn sống.”

Viên chức chính phủ và giới học gỉa tin rằng ông McCain sẽ đánh gía cao mối hợp tác quân sự được cải thiện giữa hai quốc gia, cũng như vừa rồi đây Hà Nội đã biểu quyết ủng hộ thái độ cứng rắn của Hoa Kỳ đối với Iran ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Theo ông Nguyễn Trấn Bạt, chủ tịch Investconsult, một trong những nhóm tư vấn thương mãi hàng đầu ở Việt Nam nói: “Nếu ông McCain trở thành tổng thống, sự hiểu biết của ông về chúng tôi sẽ là điểm lợi hỗ tương trong những cuộc họp song phương.”

Khi ông McCain viếng thăm Hà Nội trong năm 2000, ông đã nói: “Tôi đã cho cuộc chiến tranh Việt Nam đi vào chuyến tàu dĩ vãng đã lâu. Tôi giờ đây không cưu mang trong tôi sự tức giận hay thù hận gì.”

Ông trông như nhẹ tay hơn ông Obama về hồ sơ nhân quyền và sự tự do tôn giáo của Việt Nam.

Hôm đầu tháng này, ông Obama đã nói: “Tôi vẫn tin một cách mạnh mẽ rằng hồ sơ nhân quyền của nhà nước Việt Nam vẫn chưa tốt đẹp.”

Nhưng ông Bạt nói: “Đảng viên đảng Dân chủ như ông Obama luôn nói nhiều về nhân quyền, nhưng hầu như đó chỉ là sự ủng hộ ngay trong nước và nó sẽ không ảnh hưởng gì chuyện quan hệ với Việt Nam.”

Ngay cả chuyện ăn cơm tù ở Hỏa Lò của ông McCain giờ được nhắc đến như chuyện đùa.

Người Việt Nam nói rằng họ sẽ đón chào ông tổng thống tương lai McCain trở lại thăm Việt Nam lần nữa vì ông đã một lần là khách của họ suốt trong bảy năm trời trước đây.


(1) Tựa đề do Nguyên Hân đặt.
(2) Ex-POW McCain is Viet favourite for US president. The Singapore Straits Times, 15 June 2008, by Roger Mitton, Vietnam Correspondent.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Củng cố địa vị

Thành ngữ "tham quyền cố vị" làm nhiều người nghĩ nguyên nhân của những nỗ lực củng cố địa vị là tham quyền. Ðiều này không hẳn đã đúng, ít nhất tổng thống Pervez Musharraf và đám Việt Cộng đang củng cố địa vị tại Pakistan và tại Việt Nam cũng không chỉ vì tham quyền mà làm những việc chúng đang làm để củng cố địa vị.

Ðịa vị của ông Musharraf là cái ngai tổng thống 3 chân, nệm ngai là vỏ sầu riêng gai góc, ngự trên gai không những đã không thoải mái, mà nguy cơ ngai bị lật, tổng thống bị vỡ mặt có thể đến bất cứ lúc nào.

Ngày thứ Bẩy 14 tháng Sáu vài chục ngàn người Pakistan xuống đường đòi phục vị cho trên dưới 60 vị chánh án bị tổng thống Musharraf cất chức năm ngoái. Tờ Washington Post mô tả, "Trong một cuộc biểu dương lực lượng lớn đến mức chưa từng thấy xẩy ra tại Pakistan, luật sư, thương gia, thợ dệt, giáo viên, và một số lớn các bà nội trợ từ khắp mọi góc, ngách của đất nước này kéo nhau về thủ đô Islamabad để nói lên thái độ bất mãn của họ đối với Musharraf.

"Ðược người tổ chức mệnh danh là 'vạn lý trường chinh', cuộc biểu tình dự trù kéo dài 4 ngày; khởi đi từ ngày thứ Ba 6/10 tại thị trấn Karachi, khi đến thành phố Lahore hôm thứ Năm 6/12, cuộc biểu tình đã mang tầm vóc một cuộc nổi dậy, và đoàn người cuồn cuộn kéo về thủ đô Islamabad."

Ngày thứ Bẩy 6/14, cuộc biểu tình đã vượt quá mốc thời gian 4 ngày, mà số người tham dự chỉ thấy tăng thêm.

Tháng Ba 2007, Musharraf cất chức chánh án tối cao pháp viên Iftikhar Mohammed Chaudhry, vị chánh án được người Pakistan kính trọng vì đức "chí công vô tư" của ông; tháng Bẩy, Tối Cao Pháp Viện phục chức cho ông Chaudhry. Musharraf cất chức ông thêm một lần nữa, và phạt ông quản thúc tại gia; hành động bất chấp pháp luật này đưa đến việc đảng chính trị của Musharraf thất bại, bị tẩy chay trong cuộc tổng tuyển cử sau đó.

Nhìn thấy tình trạng căng thẳng Musharraf ra lệnh phóng thích Chaudhry, nhưng biện pháp "chữa cháy" này không những quá muộn, mà lại còn quá nhỏ, thiếu tầm vóc để đáp ứng khát vọng dân chủ của người Pakistan.

Chiều thứ Sáu 6/13 cuộc biểu tình tràn vào quân trấn Rawalpindi, với hàng ngàn luật sư dẫn đầu; họ mặc đồ lớn, thắt cà vạt, khoác áo choàng đen luật sư, giữa bầu trời nóng thiêu đốt của mùa hè nhiệt đới. Theo sau họ là vài chục ngàn người hò hét, "Go, Musharraf, go! Go, Musharraf, go".

Ông Abdul Manan, 60 tuổi, chủ tiệm bán lẻ, đến từ Peshawar, nói ông lặn lội về thủ đô để góp tiếng thét uất hận "gô" đuổi cả Musharraf lẫn "quan thầy Hoa Kỳ" của ông ta ra khỏi Pakistan.

Manan nói với phóng viên Washington Post, "Tôi xuống đường vì ông Chaudhry. Ông ta sẽ cho chúng tôi nền công lý và tự do mà Musharraf và Hoa Kỳ đánh cắp của chúng tôi."

Chaudhry đi trên một chiếc bus cùng với đoàn người biểu tình ủng hộ ông. Họ tiến về thủ đô Islamabad, tại đây hàng ngàn người chờ đón họ ngay trên công viên Quốc Hội, chỉ cách quốc hội vài trăm thước.

Tại đây ông Latif Mughan, 75 tuổi, luật sư Tối Cao Pháp Viện lập một kỳ đài phủ cờ Mỹ để ông có thể đạp trên lá cờ này làm lễ vinh danh Chaudhry và lễ tế sống Musharraf và "quan thầy Hoa Kỳ", chốc chốc ông lại đá vào một con khỉ nhồi bông, mang khuôn mặt tổng thống Bush.



Bài tường thuật của Washington Post với nhiều chi tiết xẩy ra vô tội vạ cách ngai sầu riêng của tổng thống Musharraf chỉ một tầm đạn súng cối 60 ly, chứng tỏ là ông ta không còn có súng cối hay bất cứ loại súng nào khác để bắn vào "Thiên An Môn Pakistan" nữa. Súng "Mỹ Quốc viện trợ" không bao giờ thiếu, Musharraf chỉ thiếu xạ thủ, do đó ông sắp chọn mưu kế cuối cùng trong "tam thập lục kế" là sang tị nạn tại Hoa Kỳ.

Người biết nguyên nhân Musharraf củng cố địa vị, ngồi lì trên ngai sầu riêng cho đến phút chót là chủ tịt Nguyễn Minh Triết; ông từng nói lên nguyên nhân cũng cố địa vị của Việt Cộng bằng câu "bỏ điều 4 hiến pháp là tự vận".

Musharraf, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Ðức Mạnh, và toàn bộ bọn độc tài đều thèm cuộc sống an toàn, thảnh thơi ông Bush sắp hưởng sau ngày mãn nhiệm kỳ tổng thống. Dù nhiều người ghét ông, nhưng không ai đe dọa tính mệnh của một vị tổng thống Mỹ hết nhiệm kỳ.

Bọn độc tài Pakistan và Việt Nam cũng chỉ ao ước có ngần đó thôi. Nhưng chúng vẫn phải "cố vị", vì dụ không còn môi trường thuận lợi để tham quyền nữa, chúng vẫn tham sống.


Nguyễn Ðạt Thịnh

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Độc tài đảng trị nói đến yêu nước thương dân được chăng ???
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 53 (15-06-2008)
Giữa lúc nhà cầm quyền CSVN dạ rối bời và lòng hoảng loạn trước cơn khủng hoảng kinh tế: vật giá leo thang, lạm phát phi mã, chứng khoán sụp sàn; trước cơn khủng hoảng xã hội: quan chức lộng hành, dân tình ta thán, lòng người phẫn uất, thậm chí có tin đồn binh biến nổi loạn, do toàn dân không còn chịu nổi lối điều hành kinh tế, quản lý xã hội vừa ngu dốt, vừa gian tham, vừa tàn bạo của đảng và nhà cầm quyền CSVN, thì cái tin cựu thủ tướng CS Võ Văn Kiệt (tức Phan Văn Hòa) về chầu tiên tổ (hay về chầu Mác-Lê như Hồ Chí Minh?) hôm 11-06-2008 xem ra là một cái phao cứu mạng cho đảng. Sau hơn một ngày lặng im lưỡng lự vì nhân vật này đã từng gây khó chịu cho đảng, cuối cùng Bộ chính trị đã cho lệnh phát tin và đồng thời phát lệnh cho báo chí công cụ phải tô hồng cựu lãnh tụ ngằn nào có thể, để qua đó tô hồng chế độ đã quá ư tồi tệ xấu xa nầy, hầu nhân dân thấy rằng lãnh đạo đảng và chính phủ do đảng lãnh đạo dù sao cũng có lòng yêu nước thương nòi, có tầm nhìn sâu rộng và trí tuệ sắc sảo, có viễn kiến ngang tầm thời đại !?!

1- Trước tiên là Thông cáo đặc biệt của Ban chấp hành Trung ương Đảng viết chiều 12-06: “Đồng chí mất đi là một tổn thất đối với Đảng, nhà nước và nhân dân ta! Để tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn đồng chí Võ Văn Kiệt, Ban chấp hành trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết định tổ chức tang lễ đồng chí Võ Văn Kiệt với nghi thức quốc tang”. Tiếp đến, nhiều nhân vật tiếng tăm trong chế độ bắt đầu bốc cựu thủ tướng CS lên tận trời. Chẳng hạn bà Phạm Chi Lan, cố vấn Văn Phòng Thủ Tướng nhiều đời: “Điều đầu tiên mà tôi có ấn tượng nhất là ông là một người có tâm rất lớn đối với đất nước, với nhân dân… Lòng ông lúc nào cũng hướng đến người dân cả, ông tìm mọi cách làm sao để lo cho cuộc sống của mọi người tốt đẹp hơn, lo hàn gắn tất cả những gì mà chiến tranh đã để lại cho đất nước, cho tổ quốc và cho nhân dân Việt Nam…. Khi còn ở cương vị thủ tướng, ông đã là một người làm việc với những hành động rất quyết liệt… là một trong những người đề xướng và thúc đẩy cải cách đất nước… Khi rời cương vị lãnh đạo của mình rồi, ông vẫn tiếp tục sống thân cận người dân, chăm lo tìm hiểu cuộc sống của người ta và luôn luôn tìm cách để lên tiếng cho những vấn đề của người dân” (Phỏng vấn của đài Á châu Tự do ngày 12-06-2008). Giáo sư Tương Lai, một trí thức cỡ bự của chế độ, cũng thiết tha cao giọng: “Con người ấy, cho đến khi đột ngột ra đi, vẫn trước sau như một là con người hết lòng vì sự nghiệp của dân tộc, của Đảng, tuyệt đối trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh nên đã học theo bản lĩnh và sự kiên trì thuyết phục của Hồ Chí Minh để không chút mệt mỏi, ngừng nghỉ phấn đấu cho mục tiêu chân chính trước mắt cũng như lâu dài của đất nước. Mục tiêu trước mắt và lâu dài ấy được đúc kết qua trải nghiệm một người chiến sĩ cách mạng biết vượt lên chính mình, biết và dám học hỏi quần chúng” (Trái tim Võ Văn Kiệt vẫn đập mạnh trong mạch sống dân tộc!).

Rồi người ta còn trích lại những câu nói nổi tiếng của ông trong thời gian gần đây: “Phải rèn tập cho xã hội Việt Nam một thói quen của đời sống dân chủ. Trong đó quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu... cần được mở rộng hơn nữa” (Góp ý cho Đại hội X đảng CSVN), hoặc “Đất nước VN không phải của riêng ai… Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả”, hoặc “Hiện nay người nghèo, những hộ thu nhập thấp những người phải chạy ăn từng bữa, trên thực tế, chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng trong khi chính họ gần như phải lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra… Việt Nam cần có những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo”…

Báo chí công cụ, vốn luôn đi lề bên phải dưới cây gậy chỉ huy của Ban Văn hóa Tư tưởng trung ương, nay tạm nén nỗi đau hai nhà báo vụ PMU 18 bị tù, để đồng loạt tung ra nhiều danh hiệu rất oai phong về nhân vật này, nào là “Thủ tướng miệng nói tay làm”, “Lãnh đạo kiệt xuất thời kỳ Đổi mới”, nào là “Nhà phản biện xã hội sắc sảo”, “Tổng công trình sư nhiều dự án táo bạo”... Thậm chí những công trình nhiều tai tiếng có ông góp phần nay cũng được cho là những thành tích nổi bật, như Công trình đường tải điện 500Kv, Cảng Dung Quất, Khu công nghiệp lọc hoá dầu Dung Quất... (x. Tâm Chánh, Hiện tượng Võ Văn Kiệt, http://www.sgtt.com.vn)

2- Thế nhưng, người ta không quên rằng thời kỳ Võ Văn Kiệt làm thủ tướng (1991-1997) là thời kỳ có những vụ án chính trị tối tăm và tàn khốc: Tháng 11-1991: Bác sĩ Nguyễn Đan Quế bị xử 20 năm tù và 5 năm quản thúc tại gia, cùng với nhà báo Châu Sơn Nguyễn Văn Thuận án 10 năm, trong một phiên tòa chớp nhoáng, không có luật sư biện hộ và không cho công chúng tham dự. Tháng 5-1992: Luật sư Đoàn thanh Liêm bị xử 12 năm tù vì bài viết “Năm Điểm Thỏa Thuận Căn Bản” nhằm đặt cơ sở luận lý và pháp lý cho một Hiến Pháp tương lai. Tháng 3-1993: Giáo sư Đoàn Viết Hoạt bị xử 15 năm tù, và những bạn đồng chí hướng khác với mức án trên dưới 10 năm, vì ấn hành tờ báo bí mật “Diễn Đàn Tự Do”. Tháng 12-1993: Việt kiều Kỳ Ngọc Thanh và 4 người thuộc Liên Minh Hùng Gia Đại Việt cùng 2 nông dân với bản án tổng cộng 47 năm, về vụ thực hiện Chiến Dịch Nguyễn Trãi đòi hỏi đa nguyên đa đảng, và tổ chức 150 nông dân biểu tình trước Sở Thú Sài Gòn vào ngày 20-5-1991 nhằm yêu cầu giải quyết công bằng ruộng đất. Tháng 8-1995: Giáo sư Nguyễn Đình Huy bị xử 15 năm tù giam, và những bạn đồng chí hướng khác với mức án trên dưới 10 năm, vì hoạt động trong Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc Và Xây Dựng Dân Chủ, tiến hành tổ chức công khai Hội Nghị Quốc Tế Về Vấn Đề Phát Triển Việt Nam tại Sài-gòn. (Theo Nguyễn Công Bằng, Ông Võ Văn Kiệt có công hay có tội?).

Rồi ngày 14-04-1997, Nghị định 31/CP do chính ông ký ban hành lúc gần cuối nhiệm kỳ Thủ tướng, với tên gọi “Quản chế hành chánh”, là một công cụ pháp luật cực độc chủ yếu để trấn áp các nhân vật tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền, nói cụ thể là để bắt giam mọi đối tượng manh nha có ý tưởng đi ngược lại đường lối đảng, mà không cần lệnh bắt hay tạm giam, cũng không cần chứng cứ hay quy trình xét xử. Sáng kiến biến nhà ở thành nhà ngục này (độc đáo nhất trên thế giới) còn có cái lợi là tránh cho Nhà nước những khoản chi phí mà chính gia đình nạn nhân phải gánh chịu. Đây là bộ phận ổn áp chính trị mà “đảng ta” cần có bằng mọi giá trên bình diện cả nước vốn đã gia tăng quá nhiều điểm nóng rập rình nối kết với nhau. Có người xiển dương rằng đó mới chính là “tuyệt tác” của ông, và là công trạng lớn nhất mà ông đã cống hiến cho đảng!!!

Ông cũng là người quyết định lập Tổng cục 2, một “cơ chế quyền lực trên quyền lực” dành cho Lê Đức Anh, Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh trong bộ máy nhà nước và đảng CSVN, nhằm lũng đoạn Bộ quốc phòng, Bộ công an, trù dập những người cộng sản khác chỉ vì phe cánh và quyền lợi. Chính Tổng cục này còn làm mưa làm gió cho tới hôm nay. Cũng đừng vội quên ông đã từng đi Bắc Kinh cùng với Đỗ Mười để ký văn kiện bình thường hóa quan hệ với Bắc Kinh hồi tháng 10-1991, dọn đường cho việc ký kết hai văn kiện nhường bớt lãnh thổ ngày 30-12-1999 và nhường bớt lãnh hải ngày 25-12-2000, cũng như cho việc Trung Quốc hợp thức hóa việc chiếm cứ Hoàng Sa và Trường Sa cuối năm rồi, khiến dân tộc lâm vào nguy cơ mất nước và diệt chủng.

3- Thật ra, “cái tâm lo cho dân nghèo” như nói trên có lẽ đã biểu lộ qua bộ Luật Lao Động ra đời năm 1994 (giữa nhiệm kỳ của ông). Nhưng theo Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam, “Bộ Luật này cấm người lao động thành lập công đoàn của mình, và tạo ra rất nhiều khó khăn để ngăn cản người lao động đình công. Trên giấy tờ thì bộ Luật này cho người lao động nhiều lợi ích, nhưng trên thực tế những điều đó không được thực hành, và do đó người lao động Việt Nam làm việc trong điều kiện tệ hại… Thành ra Võ Văn Kiệt được coi là một người cải cách kinh tế, nhưng điều đó không có nghĩa ông ta là người muốn cởi trói” (Chương trình Asia Pacific của Radio Australia ngày 11-06-08).

Quan điểm của VVK về vấn đề Hòa giải hòa hợp dân tộc thì tuy khá hơn lập trường của Bộ chính trị khi ông nói lên ý kiến của mình vào dịp 30-4-2005 là không nên “một chiều” gây phản cảm vì có người vui sướng, có kẻ đau buồn,... nhưng ông vẫn chưa dám nêu lên những sai lầm cụ thể như chính sách trả thù “quân Ngụy”, chiếm đóng Miền Nam như một thứ thực dân (thực dân bản địa), bỏ tù hàng chục vạn sĩ quan viên chức cũ, phân biệt đối xử, gây nên thảm họa thuyền nhân, từ đó tỏ ra hối hận và xin lỗi những nạn nhân do các chính sách ấy gây ra...

Cuối cùng, lập trường dân chủ của ông cũng không đi ra ngoài khuôn khổ của độc tài độc đảng. Ông đã chẳng bao giờ nêu lên vấn đề đa đảng đa nguyên, nói thẳng những sai lầm căn bản của chủ nghĩa CS cũng như của chế độ toàn trị CS thối nát và bất lực, phản biện lại chủ trương “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”, ngăn chận sự áp đặt vô lý các chương trình học tập chính trị Mác-Lê rác rưởi ở các cấp trung học và đại học. Tuy ông có nhiều phát biểu công kích việc làm của giới lãnh đạo CS, nhưng những chỉ trích này chỉ giới hạn trong lãnh vực dân sinh. Vả lại chỉ nói thẳng một khi đã mất hết quyền hành. Ông không dám bước qua lằn ranh chính trị, nên những chỉ trích của ông đối với chế độ Hà Nội -do thành tâm phục thiện ? do cắn rứt lương tâm hay do vai trò van giảm áp lực?- đã không làm thay đổi tình hình như người ta chờ đợi suốt 10 năm (1997-2008) về hưu của ông.

Nói cho cùng, độc tài thì không bao giờ có tự do, độc đảng thì không bao giờ có dân chủ. Chuyên chế, toàn trị, giữ chặt quyền hành bằng dối trá và bạo lực thì đừng nói đến lòng yêu nước thương dân. Có thương chăng nữa là thương một bầy đàn người đang lầm lũi bước đi dưới ngọn roi của đảng toàn trị.

BAN BIÊN TẬP

dacung
Posts: 409
Joined: Tue Dec 13, 2005 6:26 am
Location: USA
Contact:

Post by dacung »

19 Tháng 6 2008 - Cập nhật 19h52 GMT

Phe bảo thủ 'đang thắng'

Image
Ông Carl Thayer nhận định đang có chia rẽ giữa hai phe trong đảng

Chuyên gia lâu năm về Việt Nam, GS. Carlyle Thayer, là người mới nhất góp thêm tiếng nói vào luồng phân tích cho rằng đang có cuộc tranh đua quyền lực giữa hai phe bảo thủ và cấp tiến ở Việt Nam.
Từ nhiều tháng qua, một số nhà quan sát đã nhận định những khó khăn của kinh tế Việt Nam đang làm lung lay vị thế của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Nay GS. Carlyle Thayer, tác giả của rất nhiều sách và bài báo về Việt Nam, nhận định Thủ tướng Dũng đang gặp thách thức cả trong nội bộ Đảng và trong lòng dân chúng.


Chiến trường báo chí

Viết trên tờ Wall Street Journal, ông Thayer cho rằng cần thừa nhận những thành tựu mà ông Dũng đã làm được từ khi nhậm chức thủ tướng.

Nhưng nhà phân tích người Úc này nói ông Dũng đang gặp thách thức cả trong nội bộ Đảng và trong lòng dân chúng.

Vụ bắt hai phóng viên Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải đã gây xôn xao dư luận thời gian qua.

Nhưng vụ này không chỉ liên quan chuyện tự do báo chí, mà theo ông Thayer, đằng sau đó là sự đấu đá giữa hai phe bảo thủ và cải cách.

“Những người tiến bộ không nhất thiết ủng hộ hệ thống truyền thông hoàn toàn độc lập. Nhưng họ xem truyền thông được tự do chút ít là công cụ có thể hữu dụng để giám sát tham nhũng, và nhờ đó mà giảm thiểu nguy cơ bất bình của người dân đối với sự cai trị của đảng. Những người bảo thủ xem chỉ thế thôi cũng đã là thách thức không thể chấp nhận cho đảng, và hiện tại có vẻ phe bảo thủ đang thắng.”

Theo GS. Thayer, phe bảo thủ kiểm soát được Bộ Thông tin và Truyền thông. Chính họ đã ngăn không cho một thư ký của cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt được nắm bộ này. Thay vào đó, ông Lê Doãn Hợp, từ tỉnh Nghệ An, được đưa lên làm bộ trưởng.

Image
Bề ngoài đoàn kết, nhưng bên trong đảng đang có mâu thuẫn?

Từ khi ông Nông Đức Mạnh tái đắc cử chức Tổng Bí thư tại Đại hội X năm 2006, có luồng dư luận cho rằng vai trò của ông Mạnh bị lu mờ trước ông Dũng.

Nhưng giờ đây, GS. Thayer, từ Học viện Quốc phòng Úc ở Canberra, lại thấy rằng nhóm bảo thủ, do ông Mạnh dẫn đầu, chiếm thế “chủ đạo trong Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cũng là chỗ mà khối an ninh góp mặt mạnh mẽ”.

Tại Đại hội X, Bộ trưởng Công an Lê Hồng Anh có số phiếu cao thứ hai sau ông Mạnh trong Ban Chấp hành Trung ương.

Trong tám thứ trưởng mới được vào Ban Chấp hành khi ấy, có ba người từ Bộ Công an.

GS. Thayer viết: “Họ coi trọng hơn cả sự ổn định chính trị và cái ghế của mình, và lo ngại về việc Thủ tướng Dũng không thể lèo lái hiệu quả trước lạm phát gia tăng và các tệ nạn xã hội khác.”

Lòng dân

Từ vị trí ngôi sao trong mắt các nhà đầu tư vài năm qua, kinh tế Việt Nam lại đang gặp nhiều khó khăn.

Truyền thông nước ngoài dạo gần đây có nhiều bài tự hỏi vì sao thị trường Việt Nam tiếp tục tuột dốc.

Lạm phát vọt lên tới 25%, mức cao nhất từ năm 17 năm qua, bóp nghẹt thu nhập của nhiều người dân và công nhân khắp nơi bãi công đòi tăng lương.

Trong bối cảnh này, GS. Thayer nói ông Dũng “cũng đang nhanh chóng đánh mất ủng hộ của người dân”.

“Nhiều người ở thành thị đã trở nên bất mãn khi ông Dũng không thể đối phó nạn ô nhiễm, tắc nghẽn giao thông hay tham nhũng. Mới nhất, lạm phát làm đau nặng túi tiền của họ.”

Đối ngoại

Đấu đá nội bộ trong đảng cũng có ảnh hưởng đến quan hệ với thế giới bên ngoài.

“Những người bảo thủ trong đảng cản trở sự mở cửa của Việt Nam khi nhấn mạnh nhân quyền và tự do tôn giáo là một phần của âm mưu diễn biến hòa bình. Nói cách khác, họ cố làm các thành viên lãnh đạo đảng lo sợ bởi ý tưởng rằng mở cửa kinh tế, đặc biệt là với Mỹ, nhất định sẽ dẫn tới mở cửa chính trị.”

Phe bảo thủ cũng “đóng vai trò lớn trong việc định hình quan hệ với Trung Quốc”.

Các vụ xuống đường phản đối Trung Quốc cuối năm ngoái vì vấn đề Biển Đông đã làm Bắc Kinh phật ý.

GS. Thayer cho biết: “Khi ông Mạnh có hội đàm cấp cao ở Bắc Kinh, những người bảo thủ đã dùng cơ hội này để thúc đẩy quan hệ giữa hai đảng, gồm cả quan hệ về tư tưởng.”

Đang có đồn đoán về một hội nghị giữa kỳ của đảng nhằm giải quyết mâu thuẫn nội bộ.

GS. Thayer lưu ý chỉ mới có một hội nghị như thế trong lịch sử, là năm 1994.

Nếu hội nghị này diễn ra, chính sách và sự lãnh đạo của Thủ tướng Dũng “sẽ bị công kích”.

Kết thúc bài viết, GS. Thayer kêu gọi “các đại biểu Quốc hội, chứ không phải phe bảo thủ đằng sau hậu trường, hãy xác lập uy quyền để xem lại chính sách của chính phủ và sự lèo lái của thủ tướng. Nếu họ không làm, những thành công gần đây của Việt Nam có thể sớm bị tước bỏ.”

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ông Nỉnh ông Ninh
Ngô Nhân Dụng

Các bạn đến coi đá banh trong phòng sinh hoạt Nhật báo Người Việt, ngoài những lúc hô lớn: “Vô! Vô đi!” hoặc “Xuống! Xuống nữa!” giống như ký giả Huyền Vũ trực tiếp truyền thanh, họ cũng hay đùa tếu với nhau. Ngày hôm qua, trong giờ nghỉ giữa trận Ðức với Bồ Ðào Nha, có người bàn rằng trong hiệp thứ nhì sắp tới Ðức chỉ cần phải thủ cho vững. Nhưng một ông bạn có óc hài hước sắc bén, phản đối: “Như vậy là Ðức đá cho Sài Gòn ăn còn chi?”

“Tại sao? Sài Gòn dính chi tới vụ đá banh này?”

“Vì Ðức mà thủ thì trở thành Thủ Ðức! Thủ Ðức bị nhập vô Sài Gòn rồi! Bộ Ðức đá cho Việt Nam đoạt cúp Euro hay sao?”

Nhà bình luận bóng đá thứ nhì nhún vai: “Việt Nam không cần cúp Euro, cũng không cần cúp Thế Giới! Luôn luôn có ba cái cúp bỏ túi rồi! Mà sắp có đến bốn cái cúp lận!”

Trước những đôi mắt chờ đợi của mọi người, ông nghiêm trang kể, “Ba thứ là cúp điện, cúp ga, và cúp nước!”

Còn cái cúp thứ tư?

“Cúp xăng tới nơi rồi!”

Nhà bình luận bóng đá không theo dõi tin kinh tế ở Việt Nam, không biết tin tức cập nhật. Vì chính quyền Hà Nội đã ngưng ý định cúp trợ cấp xăng dầu rồi, ít nhất là cho tới giờ. Mà ông bạn không theo dõi tin Việt Nam cũng có lý. Vì có lúc không biết đâu mà mò, tin kinh tế mà họ nói đi rồi nói lại, nghe như chuyện “Ông Nỉnh ông Ninh, ông ra đầu đình ông gặp ông Nảng ông Nang! Ông Nảng ông Nang, ông ra đầu làng ông gặp ông Nỉnh ông Ninh!”

Ngày 22 Tháng Ba năm 2008, ông Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố rằng những khoản trợ cấp cho xăng dầu sẽ được bãi bỏ. Một người đóng vai thủ tướng nói thì đó là chính sách quốc gia, chắc sẽ làm y lời, ai cũng chờ xăng sắp lên giá! Ðến đầu Tháng Năm, ông Bộ Trưởng Tài Chánh Vũ Văn Ninh lại tuyên bố thêm rằng nếu giá dầu thô trên thế giới cứ ở trên mức 120 đô la Mỹ một thùng thì sẽ Việt Nam phải bãi bỏ trợ cấp cho giá xăng. Nghe nói chắc như đinh đóng cột. Nhưng ông Ninh nói đi xong, bèn nói lại ngay. Ông nói thêm rằng có 10 món hàng chắc chắn sẽ không thể cho lên giá, để ngừa lạm phát. Trong danh sách 10 món đó, có món xăng! Như vậy tức là ông Ninh sẽ cúp trợ cấp xăng, nhưng ông Nang thì nói sẽ không cúp!

Sau đó, giá dầu thô đã tăng lên đến 140 đô la (xăng phải lên giá!) nhưng lạm phát ở Việt Nam trong Tháng Năm lên tới 25.2% (không thể lên giá!) Ngày 10 Tháng Sáu, Thứ Trưởng Công Thương Nghiệp Nguyễn Cẩm Tú lại tuyên bố với báo chí rằng nhà nước sẽ “điều chỉnh” giá xăng vì giá dầu thô tăng lên quá cao. Nghe vậy thì chắc đảng Cộng Sản Việt Nam sắp làm đúng như lời ông Nguyễn Tấn Dũng báo trước, là trợ cấp xăng sẽ bị bãi bỏ vào đầu Tháng Bẩy. Và tại hội nghị kinh tế vùng Á Ðông ở Kuala Lumpur bữa Chủ Nhật rồi, ông Vũ Văn Ninh (vẫn ông Ninh) lại tuyên bố thêm rằng các món “bù lỗ” cho xăng không bị hủy bỏ trong Tháng Sáu này, chờ đến Tháng Bẩy sẽ tính sau! Ông quả quyết: “Chúng tôi sẽ giữ giá dầu xăng thấp, và sẽ điều chỉnh giá từng bước một!”

Bấy nhiêu tin tức về một chuyện, là giá xăng dầu, nghe một hồi chẳng ai nhớ được chính quyền cộng sản ở nước ta đang dự tính cái gì! Nghe tin tức kinh tế thì người Việt ta nên nghe mồm ông Ninh phát biểu hay từ miệng ông Nang nói ra?

Cuối cùng thì cho tới giờ không biết người dân Việt Nam sắp bị nạn cúp xăng hay chưa! Muốn biết rõ tin tức chắc phải nhờ ông Tổng Thống George W. Bush hỏi nhỏ ông Nguyễn Tấn Dũng khi ông tới Tòa Bạch Ốc trong tuần tới.

Năm ngoái, số tiền bù lỗ cho xăng dầu lên tới 500 triệu Mỹ kim. Năm nay vì giá xăng trên thế giới tăng, mỗi tháng đã phải bù 60 triệu, cả năm có thể lên tới 700 hay 800 triệu. Các nước nhập cảng xăng dầu đều phải thi hành chính sách bù lỗ cho các nhà nhập cảng để dân không phải trả giá cao quá. Muốn cho dân tập thói tiết kiệm xăng thì chính phủ phải giảm trợ cấp. Chính phủ Mã Lai Á đã can đảm làm ngay việc đó, giá xăng tăng ngay 40%. Nhà nước cộng sản chịu đựng được cảnh bù lỗ đó trong bao lâu nữa, chắc ông Bush sẽ không hỏi thẳng Nguyễn Tấn Dũng.

Nhưng nếu cúp trợ cấp xăng trong tháng tới thì lạm phát ở nước ta sẽ tăng lên nữa. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã tiên đoán năm nay tỷ lệ lạm phát sẽ tới 22%, và có thể kéo dài trong vài năm nữa. Ðó là theo tin của báo Chosun Ilbo, Hàn Quốc, ngày 4 Tháng Sáu, 2008. Không biết lời tiên đoán này có tính toán với giá xăng mới hay chưa. Chắc phải tính xăng lên giá thì giá sinh hoạt nới tăng cao như vậy. Nhưng sau khi ông thủ tướng nói như thế, ngày 15 Tháng Sáu vừa rồi, ông Vũ Văn Ninh (lại ông Ninh) nói với Trung Quốc Bưu Báo rằng trong năm 2008 này tỷ lệ lạm phát sẽ xuống chỉ còn dưới 10%. Không biết nên tin lời ông Ninh, hay lời ông Nang!

Ở những nước như Trung Quốc, chính phủ có thể bao cấp, bù lỗ cho các công ty bán xăng, vì họ có một kho dự trữ ngoại tệ khổng lồ, chi ra dài dài chưa sợ hết, để bảo đảm dân Trung Hoa không đi biểu tình phản đối giá xăng trước ngày khai mạc Thế Vận Hội Bắc Kinh. Nhưng Việt Nam có bao nhiêu tiền dự trữ?

Buổi tối ngày Thứ Năm 19 Tháng Sáu, ông Vũ Văn Ninh (vẫn ông Ninh) cùng với ông Nguyễn Văn Giàu, thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã họp báo theo lối truyền hình trực tuyến, công bố rằng kho bạc nhà nước có gần 21 tỷ đô la dự trữ. Ðây là một tin mừng. Nhưng mừng được bao lâu?

Có thể nhìn vào số khiếm hụt trong cán cân thương mại của Việt Nam, tức là số tiền chi ra về nhập cảng so với tiền thu vào nhờ xuất khẩu. Trong 5 tháng đầu năm nay, Việt Nam thiếu hụt 14 tỷ rưỡi đô la, so với hơn 4 tỷ trong cùng thời gian năm ngoái. Năm 2007, cả năm chỉ khiếm hụt 12 tỷ rưỡi, năm nay mới 5 tháng đã vượt qua rồi. Tính cho cả năm thì năm 2008 này cán cân thương mại Việt Nam sẽ hụt khoảng 25 tỷ. Sẽ phải kiếm ra tiền đâu đó để đắp vào lỗ hổng này, nhưng chưa hết. Còn phải trả khoảng 2 tỷ các món nợ ngoại quốc sẽ đáo hạn trong năm nay nữa; tổng cộng lên 27 tỷ đô la Mỹ.

Ðó là “đầu ra,” nói theo ngôn ngữ các nhà kinh tế. Còn đầu vào, hãy coi các con số năm ngoái làm chuẩn. Năm 2007 có khoảng 12 tỷ rưỡi đô la vào Việt Nam, gồm khoảng 7 tỷ đầu tư ngoại quốc (hứa 21 tỷ nhưng vào thật ít hơn), hơn 2 tỷ viện trợ của các nước, phần còn lại là do “đồng bào ruột thịt” ở nước ngoài đem về. Năm nay, số đầu tư ngoại quốc có thể lên 10 tỷ, nhưng còn phải chờ xem tình hình kinh tế ra sao người ta mới thực sự bỏ tiền vô. Vào đầu Tháng Sáu năm nay, các công ty quốc tế thẩm định tín dụng đã hạ thấp điểm, xếp Việt Nam vào loại cơ hội làm ăn thấp. Morgan Stanley tiên đoán đồng bạc Việt Nam sẽ tụt giá mạnh. Chuyện đó đang diễn ra: giá chính thức hơn 16 ngàn đồng một đô la, được phép du di 1%, nhưng giá chợ đen đã tới hơn 22 ngàn đồng một đô la. Công ty Daiwa Securities của Nhật Bản tiên đoán chính quyền Cộng Sản Việt Nam sẽ phải kêu cứu Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), vì hết tiền và khủng hoảng ngân hàng. Ông Bộ Trưởng Vũ Văn Ninh cực lực cải chính việc xin IMF cứu trợ, và chúng ta có thể cầu nguyện Trời Phật giúp ông Ninh. Không biết trong cuộc gặp gỡ với chính phủ Mỹ ông Nguyễn Tấn Dũng có ngỏ lời nhờ Mỹ giúp bảo IMF giúp ngay khi cần tới hay không. Một món quà mà ông Dũng có thể đem trao đổi, là cho các công ty dầu lửa Mỹ thêm cơ hội đầu tư vào Việt Nam. Ðó là lý do ông sẽ đến Texas, một trung tâm của dầu lửa Mỹ, với nhiều công ty vẫn ủng hộ liên danh Tổng Thống George W. Bush và Dick Cheney từ 8 năm qua.

Nếu số đầu tư ngoại quốc vào Việt Nam năm nay được 10 tỷ, nếu số tiền Việt kiều đem về không giảm cũng như số viện trợ, thì sẽ có khoảng 14 đến 15 tỷ đô la vào Việt Nam, để đắp vô lỗ hổng 27 tỷ. Không lẽ thiếu 12 tỷ phải “ăn vào vốn” trong số dự trữ ngoại tệ 21 tỷ? Như vậy liệu có đủ tiền bù đắp để kéo dài được 2 năm hay không?

Khi tình hình “căng” như vậy, thì phải giảm số tiền nhập cảng. Gần đây tiền vô Việt Nam tăng được 20% nhưng tiền ra tăng lẹ hơn, tới 60%. Món tăng nặng nhất là dầu lửa. Trước tình cảnh đó, người dân Việt Nam lại càng nên lo trước. Sẽ tới lúc nhà nước sẽ cúp trợ giá xăng, dân ta sẽ được tập thể dục nhiều hơn bằng cách đi bộ và đạp xe đạp! Chờ đến năm nào đó, sẽ đạo cúp đá banh thật chứ không phải chỉ có cúp điện, cúp nước! Trong khi chờ đợi, có thể giải trí bằng cách theo dõi các bản tin kinh tế xem ông Nỉnh ông Ninh nói thế nào.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Dương Thu Hương Miệt Thị Cộng Đồng Hải Ngoại

Đại Dương
Vắng mặt một thời gian dài, sau khi tuyên bố tự ý lưu trú tại thủ đô ánh sáng của Pháp Quốc, nữ văn sĩ Dương Thu Hương lại véo von trong “Thư gửi Anh Chân Tín, LM Phan Văn Lợi và Chú Nguyễn Khắc Toàn” được VietNam Review đăng hôm 14/06/08.

Bằng lối hành văn miệt thị cố hữu, Dương Thu Hương viết “Năm 1994, ngay lần đầu sang nước Pháp tôi đã hiểu rằng trở thành một ông Hồ Chí Minh thứ hai là giấc mơ chính ngọ của một số người Việt sống ngoài bờ cõi... Các cuộc tầm binh mãi mã diễn ra dưới bàn tay của các nhà dàn cảnh phố huyện, với các trò gian dối vặt, dưới những tấm vải dù nguỵ trang “tình đồng bào, tình bạn” ... Thứ tình cảm bầy đàn: đồng chí, bạn hữu ... các nhà cách mạng sa-lông này có một phần thiếu hụt, cái phần thiếu hụt này chính là thực thi một cuộc phẫu thuật để buồng gan của họ phình to hơn chút ít”.

Dương Thu Hương còn lôi theo nhận xét của Tiến sĩ Stephen B. Young đối với người Việt hải ngoại để can ngăn những nhà dân chủ quốc nội chớ tin vào các cá nhân, tổ chức đấu tranh ở ngoài biên cảnh. Và, răn đe “Những nhà lãnh đạo vĩ đại bên ngoài biên giới này tin rằng họ có sứ mệnh là kẻ dẫn đường, còn đám người trong nước chỉ có thể hoàn tất vai trò của những tên tốt hỉn, hứng loạt đạn đầu tiên cho đến loạt dùi cui cuối cùng của chế độ cộng sản độc tài”. Để chặt đứt mối liên hệ quốc nội - hải ngoại, Dương Thu Hương kết luận “chắc anh em trong nước đã hiểu vì sao tôi tuyên bố rứt khoát ly khai với “cộng đồng hải ngoại”.
Image Dương Thu Hương được nhiều người biết tới phải kể đến công lao “thổi” cật lực của một số tổ chức đấu tranh tại hải ngoại mà hiện nay bị nữ văn sĩ miệt thị “Cuộc sống ngắn ngủi, tôi không có thời giờ à ới với các nhà cách mạng sa-lông”.

Hầu hết những người phản kháng tại Việt Nam hiện nay đều muốn được sự yểm trợ của bạn bè chống Cộng hải ngoại để vận động sự ủng hộ của quốc tế đối với công cuộc dân-chủ-hóa đất nước và làm chùn tay đàn áp của Nhà nước tàn bạo. Làm sao những người đứng đầu ngọn sóng có thể tin vào kẻ chỉ biết lo chăm chút đến bộ lông của mình?.

Sau 30/04/75, hàng triệu người Việt Nam bị nhốt trong vố số trại tù gồm đủ loại tù nhân (chính trị, tôn giáo, hình sự) đã chết, thương tật, đói rét mà có bao nhiêu Tổ chức quốc tế, Chính phủ ngoại quốc lưu tâm cho tới khi Cộng đồng người Việt hải ngoại dấy lên các hoạt động đòi nhân quyền cho người Việt quốc nội.

Từ năm 1990, thế và lực của người Việt hải ngoại lên cao tại các xứ tạm dung nên càng có điều kiện thuận lợi hơn trong việc yểm trợ hữu hiệu cho những người dám đối đầu với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chối bỏ sự thực hiễn nhiên này, có lẽ không ai khác hơn là những “đặc tình cộng sản”, được cài vào các tổ chức đấu tranh quốc nội cũng như hải ngoại như Nguyễn Vũ Bình ám chỉ trong bài viết vào tháng 3/08.

Kẻ mang quốc tịch Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trốn ở lại Ba Lê vì sợ trở về nước sẽ bị đàn áp, mà trước đó đã đưa ra nhiều lời tuyên bố rổn rảng, chắc có lá gan to hơn các nhà cách mạng sa lông hải ngoại?.

Trong xã hội công dân thực sự thì ai cũng có quyền tìm mọi cách thực hiện lý tưởng (hay ý tưởng) cá nhân miễn không vi phạm luật pháp. Chuyện lập hội, kêu gọi người khác tham gia vốn rất tự nhiên đòi hỏi mỗi người phải thận trọng khi chọn lựa. Kẻ lường gạt có thể bị luật pháp trừng trị. Nhưng, người bị lường gạt cũng nên tự vấn về khả năng phán đoán của bản thân.

Đảng Cộng sản đã biến nước Việt Nam thành xã hội trại lính với một tổ chức duy nhất có quyền dạy dỗ, điều khiển làm ngộp thở toàn dân. Vì thế, có nhiều nhóm, cá nhân mang dòng máu Lạc Hồng cứ lao vào cuộc đấu tranh không cân sức từ hơn 1/2 thế kỷ qua.

Cộng đồng người Việt hải ngoại không phải là một quốc gia với đầy đủ các cơ quan phân lập để ban hành, duy trì luật lệ nên kết cấu rất lỏng lẻo dựa vào sự đồng thuận và niềm tin. Nhưng, sự đồng thuận quá khó khăn vì thiếu biện pháp chế tài của luật lệ.

Chớ nên quan niệm Cộng đồng người Việt hải ngoại như một trại lính mà cần thừa nhận như một xã hội dân sự thu nhỏ và lỏng lẻo. Dù sao nó cũng tốt hơn trại lính mà những nhà dân chủ quốc nội đang cố phá rào với sự trợ giúp, cổ vũ của người Việt tị nạn cộng sản.

Tháng 12-05, đợt “bóc mẽ” tồi tệ và rộng lớn nhất giữa những nhà dân chủ quốc nội đã bới móc vô số chuyện khuất tất (kiểm chứng được hoặc không) khiến cho dư luận trong và ngoài nước phải bịt mũi. Nữ văn sĩ Dương Thu Hương (khi còn ở quốc nội) tố Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang trong thư 17/12/05 “từ khởi sự, tôi đã tuyên bố thẳng thừng với tất thảy mọi người ông chính là con chim mồi của tổng cục 1”. Rồi nhồi thêm “các ông mới là những tù nhân chính trị đầu tiên được hưởng chính sách: CỦ CÀ RỐT ... ông Nguyễn Thanh Giang cũng như ông Hà Sĩ Phu được ngủ giường đệm, ăn 50.000 đồng một ngày, toilette hiện đại, tivi xem thoả thuê”.

Như thế, cư dân của xã hội dân sự phải chấp nhận nhiều loại cây lớn nhỏ, tốt xấu cùng chen chúc sống trong một cánh rừng. Đừng thẳng tay chặt hết để riêng mình “ta” đứng giữa trời!

Qua bài viết, Dương Thu Hương đặt niềm tin vào những người cựu- cộng-sản khiến độc giả khó tránh nghi ngờ.

Cán binh cộng sản các cấp đã đem lại những gì cho dân tộc Việt Nam suốt 75 năm qua ngoại trừ đau thương, tang tóc? Độc lập ư? Tự do ư? Hạnh phúc ư? Tất cả chỉ là bánh vẽ mà lắm người chưa đủ can đảm thừa nhận. Kinh tế Việt Nam trong tay cán binh cộng sản vẫn chưa bao giờ theo bén gót các quốc gia Đông Nam Á suốt chặng đường hơn 2/3 thế kỷ.

Ngày 29/04/08, cựu Tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân, Bùi Tín viết “đất nước Việt Nam ta sau ngày 30/04/1975 không hề được giải phóng, cũng không hề được thống nhất... đảng cộng sản thắng, toàn dân vẫn thua ... tôi đến gần cuối đời mới tỉnh ra, mà thương hại, mà tiếc thay cho bao nhiêu người vẫn chưa tỉnh!”.

Sao chẳng thử tin vào những người không-cộng-sản, đại diện cho giai cấp bị trị, làm một sự thay đổi thật sự cho Việt Nam?

Nhiều nhà cách mạng Việt Nam đã phải bôn ba ở hải ngoại để mưu cầu giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của thực dân. Hồ Chí Minh chứ nào phải những người cộng sản lô can chỉ đạo chiến lược, điều khiển cuộc kháng chiến chống Pháp?

Chẳng nên sợ mất phần mà phải biết lo đến bản thân thiếu tư cách, khả năng lãnh đạo sẽ khó thu hút được sự ủng hộ của đại đa số dân chúng đang quằn quại dưới ách cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.

ĐẠI-DƯƠNG
Thư Gửi Anh Chân Tín, LM Phan Văn Lợi
và Chú Nguyễn Khắc Toàn


Dương Thu Hương (Paris - Pháp Quốc 14-06-2008)
Trước hết tôi xin chân thành xin lỗi cả ba vị vì gửi chung một thư cho cả ba người quả là bất lịch sự nhưng mong các anh thông cảm, thứ nhất là tôi đang thiếu thời gian, thứ hai tôi vốn chân đất mắt toét và không cảm thấy bất an lắm với cái thói “nhà quê” của chính mình.

Kể từ lần cuối cùng được gặp anh Chân Tín và anh Ngọc Lan ở Sài-gòn đến nay đã gần hai thập kỉ, nếu tôi không nhớ nhầm anh Tín chắc đã xấp xỉ tám chục tuổi xuân còn tôi đã ra bà lão ngoại lục tuần.

Giá thời xưa, nước non an lành, hẳn anh Tín đã có thú tỉa hoa ngắm cảnh, còn tôi, nếu không ngồi bỏm bẻm nhai trầu thì cũng thu tay vào lồng ấp xem con cháu đánh tam cúc... Hẳn vậy... Nếu nước non an lành. Nhưng vì xứ sở chẳng an lành nên những kẻ xương già da cóc vẫn còn phải chạy long tóc gáy. Thôi thì, đã sinh ra ở cái mảnh đất này, đành chịu kiếp “trời hành” cho đến mãn kiếp.

Chúa của anh Tín cho anh được sống ngày nào, chắc anh cũng sẽ tiếp tục con đường dang dở. Phần tôi, cũng tự xác định rằng trời Phật còn cho tôi sống ngày nào tôi cũng vẫn lọ mọ thân già trong cuộc hành trình của tôi. Hy vọng rằng gân cốt còn trụ được vào giây phút tổ tiên vẫy gọi. Đó là lời tôi chúc anh và cũng tự chúc cho chính mình.

Giờ, xin được phép nói vài điều có liên quan đến cuộc đấu tranh chung của chúng ta.

Vì bận, tôi không đọc được đầy đủ tất cả các bán nguyệt san Tự do ngôn luận. Tuy nhiên, tôi vẫn theo rõi cuộc đấu tranh trong khả năng tối đa của mình. Gần đây, tôi chú ý đến bài phỏng vấn ông S.B.Young, nguyệt san số 49, một bài báo có sức nặng, với các ý tưởng khá chính xác. Trước hết, sự phân tích về nội bộ đảng cộng sản VN, tương quan lực lượng giữa hai nhóm thân Mỹ và thân Tàu. Ông Young nói rất đúng rằng nhóm thân Tàu hiện tại đang khống chế chính trường. Để ví von một cách chính xác hơn, cần phải hình dung là chúng cố sức ôm chặt lấy chân triều đình phương Bắc để củng cố ngai vàng Hà nội. Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì đã trở thành gỗ mục kể từ ngày ông ta chấp nhận đi đặt vòng cho chị em... Nhiều thập kỉ đã qua rồi. Sự thực này ai sống ở trong nước hẳn biết rõ. Có điều không ai phủ nhận được rằng kể từ năm 1975 đến nay, những vụ biểu tình năm 2007 chống sự bành trướng lãnh thổ của Trung quốc là hiện tượng mới mang màu sắc chính trị rõ rệt. Nói một cách khác, tuổi trẻ Việt nam ngủ yên nhiều thập kỉ và chỉ vùng dậy khi sợi dây đàn nhậy cảm nhất trong tâm hồn họ bị rung động, sợi dây đàn ấy có tên là DÂN TỘC. Vậy thì, dân tộc, chính là giá trị vĩnh hằng trong quốc hồn, quốc tuý Việt nam.

Bộ mặt ngạo ngược của Bắc triều cũng như thái độ hèn nhát của một chính quyền Lê Chiêu Thống hiện đại là món quà trời cho đối với những người đấu tranh cho dân chủ, cần phải nắm lấy thời cơ để khai triển phong trào. Chớ quên rằng nhu cầu cũng như sự hiểu biết về dân chủ đang còn là những khái niệm mơ hồ đối với đại đa số người Việt nhưng bản năng Sinh tồn dân tộc đã là con đường xuyên rừng rậm qua ngàn năm nô lệ mà bất cứ ai ai cũng thuộc các lối mòn. Sự đàn áp của chính quyền dưới mọi hình thức, từ nhà tù, trại điên, dùi cui, vòi rồng... cho đến bắn phá các blog có uy tín là minh chứng đầy đủ cho cái bộ phận cường hào đã quay lưng lại với chính dân tộc của chúng. Khi một khối lượng dân chúng đáng kể hơn nhận thức rõ tính chất đặc trưng “Lê Chiêu Thống” của chính quyền Hà nội, cuộc đấu tranh sẽ có cơ hội chuyển sang một giai đoạn mới. Nhiệm vụ của tất thảy chúng ta là phải đẩy mạnh quá trình nhận thức ấy.

Thúc đẩy một quá trình nhận thức không dễ dàng, cũng chẳng phải một thao tác ngắn ngày. Vả chăng, nó đòi hỏi các hình thức tối đơn giản và hữu hiệu. Phải tối đơn giản vì đại bộ phận dân chúng lao động chỉ có thể cảm thụ được những ý kiến chân xác, rành mạch, không vượt quá khả năng tiếp nhận cũng như quỹ thời gian của họ. Phải hữu hiệu, vì với đa số, sự chú tâm của con người chỉ có được với những sự kiện liên quan mật thiết tới sinh tồn và tương lai của chính họ hoặc con cái họ. Ở đây, tôi cũng thấy ông Young có các ý kiến xác đáng khi trả lời câu hỏi số 9 của Việt Luận: Tổ chức sinh viên, lao động, nghiệp đoàn, thành phần trí thức tìm lấy những chủ trương bí mật của Đảng, tài sản của Đảng, đem phổ biến cho dân chúng nghe và biết. Giải thích cho dân chúng hiểu rõ những cái sai trái gây thiệt hại đến các quyền lợi chính đáng của dân mà lẽ ra ở một nước tự do dân chủ, người dân được luật pháp bảo vệ....

Thực ra, đây là điều rất nhiều người có lương tâm đã cố gắng làm từ vài thập kỉ nay, và đã phải trả giá không ít. Tôi nhớ, vào cuối thập kỉ 80, một nhà báo lão thành báo Đoàn Kết, can đảm lên tiếng yêu cầu nhà nước công khai con số họ đã vay nợ của nước ngoài, bởi vì hậu quả của tất thảy các cuộc “vay mướn đi đêm” như thế sẽ chồng chất lên vai các thế hệ hậu sinh. Ngay lập tức, ông bị treo bút và bộ máy A25 đến tận nhà “làm việc”... Hai thập kỉ đã qua, chúng ta cũng vẫn tiếp tục một việc ấy thôi, nhưng giờ đây tình hình đã thay đổi rất nhiều, các blog tư xuất hiện như nấm, công an Hà nội phá được cái này thì cái khác mọc lên, và như vậy, từ các blog này in thành các tờ rơi, cực ngắn gọn, cực đơn giản và thiết thực, hẳn tin tức sẽ đến được dân chúng, nhanh chóng gấp bội phần những năm xưa, miễn là... miễn là, các nhà dân chủ biết viết đúng những gì dân cần, chứ không phải những gì họ thích viết ra cho... sướng tay! Và đây, chính là điểm cốt lõi, là chuẩn mực xác định khả năng chiến đấu của con người cũng như kết quả họ sẽ thu được.

Giờ, tôi xin quay lại câu hỏi số 2 của Việt Luận, mà ông Young đã trả lời một cách khá đầy đủ và chi tiết. Tôi thấy ông Young công bằng trong những nhận định về các cộng đồng hải ngoại cũng như các nhóm nhỏ người Việt thường tiếp xúc với ông. Phần tôi, tôi xin thêm một chi tiết. Ngày 11tháng 5 vừa rồi, nhà báo Phạm thị Hoài từ Đức sang Pháp chơi, chúng tôi gặp nhau vào buổi tối. Chị Hoài có hỏi tôi về tình hình cuộc đấu tranh dân chủ. Tôi đáp vắn tắt :

Dân chủ là con đường khó khăn, trước hết đối với những dân tộc nông dân như dân ta. Tuy nhiên, nếu trời còn cho sống ngày nào, tôi còn tiếp tục tranh đấu. Nhưng thắng lợi thì chỉ có riêng Trời biết. (Chữ Trời viết hoa ở đây có nghĩa là một Đấng toàn năng, Chúa của người công giáo, Phật của người lương... Đại loại như vậy.)

Tại sao chị tranh đấu mà lại không tính đến thắng lợi ? Chị Hoài hỏi lại. Tôi không biết trả lời sao cho phải. Bởi vì chúng tôi cách nhau những mười lăm tuổi. Chị Hoài trẻ hơn tôi rất nhiều, được học ở Đức từ nhỏ nên sớm tiếp thu nền văn minh phương tây, chị ấy mạnh mẽ hơn tôi, duy lý hơn tôi, nhiều tin tưởng ở bản thân hơn tôi... Và trước hết, “nhà tỉnh” hơn tôi nhiều lần trong cách suy nghĩ. Tôi đành đáp :

Ai tranh đấu cũng mong ngày thắng lợi, nhưng kiếp người hữu hạn, sức người cũng chẳng phải vô biên. Thế hệ chúng tôi là thế hệ Lát đường, giờ đây đến thế hệ Mở đường. Sau này, là tuổi trẻ Lên đường, chúng nó sẽ nắm lấy nền dân chủ.

Chị Phạm thị Hoài nói :

Đã tranh đấu là phải tính đến thắng lợi. Muốn thắng lợi thì phải có người lãnh đạo. Tại sao lại không là anh Nguyễn Ngọc Giao hay Nguyễn Gia Kiểng ?...

Đến đây tôi đành im. Tại sao lại không là Nguyễn Ngọc Giao hay Nguyễn Gia Kiểng ?... Câu ấy chỉ có trời mới trả lời được. Tôi thì không. Tôi đành viện lẽ :

Tôi không có Internet. Nhưng tôi có nghe người ta thuật lại cuộc cãi cọ giữa ông Nguyễn gia Kiểng với ông Hoàng Tiến...

Chị Hoài đáp lại luôn : Nhưng Hoàng Tiến thì uy tín chưa cao...

Từ lúc này, tôi dứt khoát chuyển sang chuyện phiếm. Người ta, đôi khi nói cùng một thứ tiếng nhưng tư duy đã cách nhau quá xa thì tốt nhất là nên chấm dứt các cuộc đối thoại, dù ôn hoà dù gay gắt để khỏi phí thời gian.

Năm 1994, ngay lần đầu sang nước Pháp tôi đã hiểu rằng trở thành một ông Hồ Chí Minh thứ hai là giấc mơ chính ngọ của một số người Việt sống ngoài bờ cõi cho dù họ tuyên bố công khai hay họ ngụy trang nó bằng những thứ cảm tình giả mạo, những mối khiêm tốn vờ. Các cuộc tầm binh mãi mã diễn ra dưới bàn tay của các nhà dàn cảnh phố huyện, với các trò gian dối vặt, dưới những tấm vải dù nguỵ trang “tình đồng bào, tình bạn...” Tóm lại, tất thảy những tấn tuồng cũ rích của cuộc truy tìm quyền lực mà chúng ta có thể nhận ra cho dù có đôi chút khó khăn. (Cần mở ngoặc đơn ở đây: chính tôi, trước khi hiểu được sự thật này cũng phải mất dăm tháng bồng bềnh trong sương mù ảo vọng. Thứ tình cảm bầy đàn: đồng chí, bạn hữu... vốn vẫn là thứ cạm bẫy xưa cũ nhưng luôn luôn có hiệu quả vì nó đánh trúng vào bản năng cố hữu của con người). Những nhà lãnh đạo vĩ đại bên ngoài biên giới này có một lòng tin vững chắc vào bản thân bởi họ được sống trong lòng nền văn minh phương Tây, được hưởng đầy đủ các điều kiện tối ưu để khả năng tư duy phát triển, và do đó họ tin rằng họ có sứ mệnh là kẻ dẫn đường, còn đám người trong nước, tù túng nơi bùn lầy nước đọng, thiếu thốn từ cơm áo đến thông tin, chỉ có thể hoàn tất vai trò của những tên tốt hỉn, hứng loạt đạn đầu tiên cho đến loạt dùi cui cuối cùng của chế độ cộng sản độc tài. Giấc mơ quyền lực vốn là giấc mơ vương giả tự ngàn xưa, dẫu có đổi thay trang phục theo thời gian nhưng bản chất, cốt lõi luôn luôn là hằng số. Giấc mơ quyền lực nào cũng mãnh liệt và cũng... mù loà. Khí hậu tươi tốt của châu Âu là thứ khí hậu tuyệt vời để những giấc mơ này được nảy nở viên mãn, vun bồi cao như núi Hoàng liên Sơn...

Chúng ta cứ tạm cho là các nhà cách mạng sa-lông này có đầy đủ phẩm chất để trở thành các lãnh tụ tối cao. Tuy nhiên, không ai chối cãi được rằng họ có một phần thiếu hụt, cái phần thiếu hụt này chính là thực thi một cuộc phẫu thuật để buồng gan của họ phình to hơn chút ít. Bởi cái phần “chút ít” này, thường lại là giá trị cốt lõi trong kiếp nhân sinh. Để diễn đạt một cách rành mạch hơn, tôi xin nhắc lại một kỉ niệm cỏn con với những người cùng thời. Hồi nhà thơ Xuân Quỳnh, vợ kịch gia Lưu Quang Vũ còn sống, thường gọi đùa ông Hồ là : Em Hồ. Bắt đầu từ một buổi trưa, đang ngồi ăn uống ở toà soạn báo Văn Nghệ số 17 Trần Quốc Toản, Xuân Quỳnh vừa ăn vừa nhìn lên tấm ảnh ông Hồ treo trên tường rồi bỗng dưng bật nói :

- Ô!... Hôm nay tớ mới để ý, cậu Hồ đẹp trai ra phết... May mà mình sống khác thời đại. Nếu cùng thời, biết đâu mình chẳng phải lòng cậu ấy. Rồi hoá ra rách chuyện...

Tất cả mọi người ắng đi một chút rồi khi đã nghe thủng câu chuyện, đều cất tiếng cười sằng sặc. Xuân Quỳnh xinh đẹp, duyên dáng, đặc biệt thông minh khi bịa ra các chuyện tiếu lâm. Lúc ấy, một người chêm vào :

- Có khi trước lúc bà phải lòng ông ấy, ông ấy đã đổ trước. Mắt bà sắc như dao cau thế kia, đàn ông nào mà đứng vững....

Kể từ hôm ấy, chúng tôi gọi đùa ông Hồ là Em Hồ. Nếu nói theo giọng bỡn cợt của Xuân Quỳnh thì:

- Kể ra, muốn làm em Hồ cũng không khó lắm. Tuy nhiên, cũng phải thò ra vài đồng bạc lì-xì để đón tay đám dân đen. Ít ra em cũng đã từng ngồi đợi bình minh trong hố xí nhà tù. Ít ra em cũng đã có thời gặm cơm nắm, nằm còng queo sốt rét trong hang. Ít ra em cũng đã lăn lộn trong rừng mươi năm trèo non lội suối...

Trong những năm chiến tranh, tuy không phải là lính, tôi cũng hiểu sự khác biệt giữa hai thứ sỹ quan, sỹ quan trực tiếp chiến đấu, và sĩ quan hành dinh. Những ai thực sự sống trong quân đội, dù phía bắc hay phía nam, hẳn hiểu rõ sự khác biệt này sâu sắc hơn tôi. Cuộc đấu tranh cho dân chủ ở Việt nam, thực chất cũng là một cuộc chiến tranh, tuy không cùng hoàn cảnh. Một cuộc chiến tranh mới mẻ, không cân sức, đòi hỏi sự kiên trì gấp bội những cuộc chiến tranh thông thường diễn ra trong lịch sử người Việt, vì lẽ trong các cuộc chiến đấu truyền thống, tất thảy đều xiết chặt hàng ngũ để chống ngoại xâm.Trong cuộc đấu tranh vì tự do và dân chủ, những người trực tiếp đấu tranh trong nước là lớp sĩ quan trực tiếp cầm quân, trực tiếp lăn lê bò toài trên chiến địa. Họ mới chính là đội quân quyết định thắng lợi, dẫu rằng sự hỗ trợ bên ngoài có quan trọng đến đâu. Về điểm này, tôi hoàn toàn nhất trí với các nhận định của ông Nguyễn Minh Cần trong bài “Một số vấn đề của phong trào dân chủ” bán nguyệt san số 32, khi ông khẳng định: Lực lượng đấu tranh trong nước là chủ yếu.

Bây giờ, chắc anh em trong nước đã hiểu vì sao tôi tuyên bố rứt khoát ly khai với “cộng đồng hải ngoại”. Trong thực tế, tôi chỉ còn liên hệ với những cá nhân mà tôi biết chắc chắn rằng họ tốt một cách vô tư, họ thương nước không vụ lợi và chắc chắn số người này là vô cùng ít ỏi. Cuộc sống ngắn ngủi, tôi không có thời giờ à ới với các nhà cách mạng sa-lông.

Giờ, sang điểm thứ ba, cũng là điểm cuối cùng của thư này. Một năm trước đây, tôi đã từng trao đổi với chú Nguyễn Khắc Toàn:

“Hồ chí Minh là một nhân vật mang nhiều nghi án. Rất nhiều bí ẩn liên quan tới cuộc sống riêng cũng như con đường chính trị của ông ta. Để kết luận một vấn đề quan trọng, thời gian cũng như sự nỗ lực cũng chưa đủ, phải có cơ may tức là những cảnh huống, những mối quan hệ đặc biệt mới có thể dò tìm được sự thật. Những người nghiên cứu về ông ấy mấy chục năm nay chưa lên tiếng thì những người đấu tranh cho dân chủ đừng kết luận vội vã khi chưa bỏ đủ công sức và thời gian để tìm hiểu vấn đề một cách thấu đáo. Chửi cho sướng miệng thì không thuyết phục được ai. Nhất là khi đại bộ phận dân chúng chưa chuẩn bị tinh thần để căm ghét ông ấy. Tại sao không dùng thuật “Gậy ông đập lưng ông”?... Chính quyền cộng sản dùng ông Hồ làm bình phong che chắn trong khi họ là một tập đoàn tham nhũng còn ông Hồ thực sự là người liêm khiết, không ai có thể tố cáo rằng ông ta có vốn liếng riêng tư, tiền bạc cũng như bảo vật. Bản thân ngày chết của ông ấy cũng bị giả mạo. Di chúc cũng thế. Và việc xây lăng là hoàn toàn nằm ngoài ý muốn của chính ông ta. Những bằng cớ xác thực như vậy, ai ai cũng thấy. Tại sao anh em dân chủ lại không sử dụng các dữ liệu đó vào trong cuộc đấu tranh của mình?... Như vậy là tự huỷ bỏ những vũ khí đắc lực, trong khi nêu lên mục tiêu: Đạp đổ thần tượng Hồ chí Minh nhưng không đủ chứng cớ thuyết phục để có thể đạt tới mục tiêu ấy. Những bài viết loại này có thể làm sướng tay người viết và sướng tai một số người đọc, nhưng tính hiệu quả chung trên tổng dân số, tôi e rằng mùa màng chỉ gặt được lúa lép mà thôi. Đặc biệt, khi đọc một số bài viết của tác giả Thái Hoàng nào đấy, tôi có cảm tưởng tham dự những cuộc đấu tố của các ông bà bần nông cố nông sỉ nhục địa chủ thời cải cách, trên cùng một mức độ trí tuệ cũng như phong cách. Các cụ dạy “Được giận mất khôn” là thế! Đã mất khôn, mà lại dùng văn phong “bần cố” thì chỉ gặt được sự phản cảm thôi.

Trong cuộc đấu tranh, những gì kém hiệu quả thì tốt nhất là nên tránh. Nếu tôi không nhầm ông Nguyễn Minh Cần cũng có chung một quan điểm với tôi, coi việc hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh là chưa thực sự cần thiết và chưa thể có hiệu quả. Vài tháng trước đây, các sinh viên Việt Nam ở Paris rước ảnh ông Hồ và cờ đỏ sao vàng đi biểu tình chống quân bành trướng Trung quốc là bằng cớ rõ ràng. Tuy nhiên, ông Cần cũng như tôi là thiểu số. Chúng tôi chỉ có quyền góp ý kiến nhưng việc quyết định là do đa số các anh. Tôi, tuy cùng đứng trong Khối 8406 với mọi người, nhưng tôi có quan điểm riêng và quan điểm của tôi không thay đổi. Thời anh Hoàng Minh Chính còn sống, tôi cũng vẫn là người độc lập, như đám nhà báo quốc tế thường gọi “louve solitaire” dù tôi liên kết chặt chẽ với nhóm dân chủ để đấu tranh. Vậy trong thư này, tôi xin nhắc lại một lần nữa cho minh bạch để tránh mọi hiểu lầm đáng tiếc có thể xảy ra sau này.

Sau rốt, xin chúc anh Chân Tín, linh mục Phan văn Lợi, chú Nguyễn khắc Toàn mạnh khoẻ và cuộc đấu tranh cho nền dân chủ có nhiều may mắn trên con đường phía trước.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Thế hệ đối lập mới và nhân quyền ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Lan
62 năm sau ngày Độc lập, 32 năm sau ngày chiến tranh kết thúc, người dân Việt Nam vẫn chưa được hưởng những quyền tự do cơ bản mà Tuyên ngôn độc lập1 đã khẳng định : quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

62 năm sau ngày độc lập, 32 năm sau ngày chiến tranh kết thúc, nhân quyền vẫn đang là khát vọng của nhân dân Việt Nam, và là mục tiêu đấu tranh hàng đầu những nhà dân chủ trong và ngoài nước.

Những quyền cơ bản gắn liền với lịch sử đấu tranh của dân tộc và được luật pháp công nhận


Những quyền và tự do cơ bản ấy, trên lý thuyết, không phải là một điều mới lạ. Đấu tranh cho nhân quyền không phải là làm một cuộc cách mạng. Trái lại, tranh đấu cho quyền con người và tự đo đã luôn là khát khao của dân tộc Việt Nam từ hơn một thế kỷ nay.

Tư tưởng của các nhân sĩ yêu nước lớn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đã nhắc đến rất nhiều về quyền con người để dân tộc phát triển, có thể kể đến Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh2. Bản Hiến pháp năm 1946, soạn thảo và thông qua bởi một Quốc hội đa đảng, quy định một cách súc tích và rõ ràng những quyền cơ bản của con người4. Năm 1977, Việt Nam khi gia nhập Liên Hợp Quốc đã đặt bút ký Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948, cam kết tôn trọng và bảo đảm sự thực thi quyền cơ bản của người dân. Hiến pháp 1992 hiện hành6 cũng nêu rõ những quyền và tự do cơ bản ấy.

Như vậy, những quyền cơ bản mà nhân dân Việt Nam đang đòi hỏi trước tiên bao gồm các quyền và tự do quy định tại Hiến pháp 1992, Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền của Liên Hợp Quốc 1948, các công ước về Quyền Dân sự, Chính trị và về các Quyền Kinh tế, Xã hội năm 1966 mà Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn. Trong đó, có những quyền chính trị quan trọng: Quyền tự do ngôn luận (điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền, điều 69 Hiến pháp Việt Nam 1992), quyền tự do lập hội (điều 20 TNQTNQ, điều 69 HP VN 1992), quyền bầu cử tự do và công bằng (điều 21 TNQTNQ, điều 2, 3 và 7 HP VN 1992), quyền được bình đẳng trước pháp luật (điều 7 TNQTNQ, điều 52 HPVN 1992), v.v…


Thế nhưng, đến nay, người dân Việt Nam vẫn không có quyền bày tỏ quan điểm của mình, dù là ôn hòa, một cách tự do. Nhiều nhà dân chủ trong nước thậm chí chỉ vì lên tiếng kêu gọi nhân quyền đã bị bắt giam và xét xử một cách độc đoán7. Người dân không có quyền ra báo chí tư nhân8. Việt Nam cũng chưa có luật về quyền tự do lập hội. Chỉ có các hội đoàn, báo chí của Nhà nước mới được công nhận. Quyền làm chủ của người dân quy định tại điều 2 và điều 3 Hiến pháp Việt Nam bị tước đoạt. Nguyên tắc nền tảng quyền lực thuộc về nhân dân bị vi phạm một cách trắng trợn bởi tiếng nói và lá phiếu của người dân mất đi sức mạnh và ý nghĩa trong thể chế độc đảng, độc tài9. Quyền bầu cử tự do, công bằng không thể tồn tại trong thể chế độc đảng.

Đã đến lúc người dân Việt Nam cần hiểu rằng trong hơn nửa thập kỷ qua, Việt Nam bước lùi so với nhân loại về vấn đề nhân quyền.

Đã đến lúc tuổi trẻ Việt Nam lên tiếng đòi hỏi những quyền tự do cơ bản mà lịch sử, luật pháp quốc tế và Hiến pháp Việt Nam đã công nhận.

Thế hệ đối lập mới ở Việt Nam và khát vọng nhân quyền


Ngày hôm nay, một thế hệ đối lập mới ở Việt Nam đã hình thành và đang phát triển, mang một niềm tin sâu sắc rằng toàn thể nhân dân Việt Nam và mỗi cá nhân phải được hưởng những quyền và tự do cơ bản mà Tạo hóa ban cho mỗi con người.

Một tư duy dân chủ mới

Thế hệ đối lập mới ở Việt Nam, trước tiên có thể được hiểu theo nghĩa rộng: đó là một thế hệ với tư duy dân chủ mới. Đó là những nhà đấu tranh dân chủ không phân biệt xuất xứ, tuổi tác, có quan điểm đấu tranh ôn hòa và thiện chí đối thoại.

Trong thời điểm những năm 80, 90, cuộc đấu tranh cho dân chủ vẫn gắn liền với tư tưởng chống cộng, thậm chí diệt cộng, và phương pháp đấu tranh bạo động cũng không bị loại trừ. Đến bây giờ, hầu hết các tổ chức tranh đấu cho dân chủ trong nước cũng như hải ngoại đã đồng thuận ở hai điểm : đó là việc đấu tranh cho sự tôn trọng các giá trị cơ bản của con người như một trong những mục tiêu hàng đầu ; và phương pháp đấu tranh ôn hòa, bất bạo động đã trở thành xu hướng chung.



Đặc biệt, nhiều tổ chức trong nước tỏ rõ thiện chí muốn đối thoại với Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng tìm ra giải pháp cho những vấn nạn của đất nước, như trường hợp Đảng Dân chủ Việt Nam, đã được GS Hoàng Minh Chính phục hoạt ngày 1 tháng 6 năm 200610.

Tất nhiên, chỉ có thiện chí thì chưa đủ. Chỉ khi lực lượng dân chủ lớn mạnh và có tổ chức chặt chẽ thì mới có thể tạo được áp lực đáng kể lên Đảng cộng sản, buộc họ ngồi xuống bàn đàm phán. Phong trào đấu tranh của Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan là một bài học lịch sử điển hình và vô cùng quý báu11.


Thế hệ thanh niên dân chủ với tư duy dân chủ mới

Một thế hệ đối lập mới ở Việt Nam cũng có thể được hiểu theo nghĩa hẹp : thế hệ những nhà đấu tranh cho dân chủ trẻ tuổi trong nước, đặc biệt là thế hệ sinh ra sau năm 1975. Đó là những thanh niên tiến bộ thuộc tư duy dân chủ mới.

Việc họ sinh ra trong thời bình, lớn lên trong lòng chế độ, có những tác động không nhỏ tới sự nhận thức của họ về vấn đề dân chủ. Họ không bị ám ảnh bởi chiến tranh, hận thù và sự phân biệt ý thức hệ, từ đó có một quan điểm bao dung hơn. Sự tranh đấu của họ trước tiên xuất phát từ nhận thức về những bất công, những vấn nạn tồn tại và ngày càng trầm trọng trong xã hội. Hơn thế nữa, đó là một sự dấn thân dựa trên niềm tin vào những giá trị nhân bản, những quyền cơ bản mà nhân dân Việt Nam đáng lẽ phải được hưởng để có một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Sự xuất hiện và lớn mạnh của thế hệ đối lập trẻ tuổi này là tín hiệu lạc quan cho phong trào dân chủ Việt Nam, bởi họ mang tới một luồng sinh khí mới và sẽ tiếp nối công cuộc đấu tranh của những thế hệ trước.


Khát vọng nhân quyền

Thế hệ thanh niên đầu tiên sau cuộc chiến, năng động, mang nhiều khát khao thể hiện bản thân, cần tự do – sự tự do mà cơ chế chính trị ngột ngạt hiện tại đang kìm hãm12. Quyền tự do ngôn luận, mà nhiều bạn trẻ gọi đơn giản là quyền được nói, có thể được coi là một trong những tự do cơ bản mà những người trẻ luôn gắn bó, bởi khát khao thể hiện, chia sẻ và tìm kiếm sự đồng cảm trên bước đi tìm con đường của cuộc đời mình. Điều phi lý là họ không có quyền thể hiện lòng yêu nước, chỉ bởi cách họ yêu nước khác với những gì đảng cầm quyền hô hào và áp đặt. Thế nhưng, không ai có quyền giữ độc quyền yêu nước.

Những bạn trẻ yêu tự do, chuộng công lý, con đường của họ sẽ là gì trong đất nước độc tài toàn trị này, nếu không phải là đấu tranh cho tự do, cho công bằng xã hội, cho cuộc sống tốt đẹp hơn của người dân Việt Nam, và trước tiên là giành lại cho chính mình quyền được sống, quyền theo đuổi hạnh phúc, và quyền thực hiện lý tưởng phục vụ xã hội của mình theo cách mà họ muốn?


Nhiều tổ chức thanh niên đã hình thành trong nước. Có những tổ chức hoạt động bán công khai như Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ. Có những nhóm hoạt động bí mật như các nhóm sinh viên Trần Hiền Thảo- Hà Thị Đông Xuân, nhóm sinh viên Sài Gòn… Nhiều tổ chức khác được thành lập với mục đích thực thi những quyền tự do cơ bản được Hiến pháp và Luật pháp quốc tế công nhận, như Câu lạc bộ Nhà báo Tự do13, Tạp chí Phía Trước14…


Tuyệt đại đa số các tổ chức hoặc nhóm này trong bản tuyên bố thành lập đều nêu ra Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền như một trong những cơ sở pháp lý cho sự thành lập tổ chức của mình. Đặc biệt là các điều 19 và 20 liên quan tới quyền tự do ngôn luận và quyền tự do lập hội. Họ cũng khẳng định rằng đó là những quyền được quy định trong Hiến pháp Việt Nam hiện hành.

Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ

Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ ra đời ngày 8 tháng 5 năm 2006, khởi đầu từ Nguyễn Tiến Trung, sau khi bức thư tâm huyết của anh gửi Bộ trưởng bộ Giáo dục Nguyễn Minh Hiển15, dù không nhận được hồi đáp của chính quyền, đã có được sự hưởng ứng mạnh mẽ của người dân trong và ngoài nước, đặc biệt là các bạn thanh niên. Tổ chức THTNDC ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng của phong trào dân chủ Việt Nam, bởi đây là tổ chức chính trị đầu tiên của những người trẻ tuổi sinh ra và lớn lên trong nước.

THTNDC có quan điểm ôn hòa, đòi hỏi những quyền sinh hoạt chính trị một cách tự do, công bằng, và chủ trương đối thoại chứ không đối đầu. Các thành viên Tập Hợp hoạt động công khai trong nước đã thể hiện đúng quan điểm ấy khi luôn tỏ ra đàng hoàng, đúng mực, lịch sự khi đối diện với lực lượng công an ngày đêm theo dõi, đe dọa và quấy nhiễu họ.

Tập Hợp cũng bày tỏ mong muốn đối thoại, kêu gọi Đảng Cộng sản chủ động trong việc chuyển hóa sang chế độ dân chủ bởi đó là giải pháp duy nhất cho những khủng hoảng tại Việt Nam. Độc đảng và độc quyền chính trị là nguyên nhân của lạm dụng quyền lực, là nguyên do sâu xa nhất của tham nhũng, bất công và các vấn nạn trong xã hội hiện tại. Chấp nhận bỏ điều 4 Hiến pháp không phải là tự sát. Trái lại, đó là sự mở đường cho sự đoàn kết, các đảng phái cùng góp sức, góp trí cho sự phát triển của đất nước trong một chính trường công bằng, trong đó không loại trừ Đảng Cộng Sản Việt Nam. Bởi, Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ giữ một niềm tin mãnh liệt rằng ý nghĩa thực sự của của một nền dân chủ là bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của con người, rằng công cuộc tìm kiếm sự thật chỉ có thể đạt được khi các tư tưởng khác nhau được cạnh tranh một cách công bằng. Một hệ tư tưởng phi lý sẽ bị đào thải bởi xã hội mà không cần một sự lựa chọn, áp đặt độc đoán nào bằng quyền lực.


Những nền độc tài, bằng bạo lực và kiểm duyệt thông tin, cai trị dựa trên sự thiếu hiểu biết và sợ hãi của người dân. Thông tin sẽ khiến người dân hiểu được bản chất độc tài của những người nắm quyền. Để vượt qua sự sợ hãi, người dân cần hiểu rằng những bất công cùng cực đè nén lên xã hội và chính bản thân họ, là kết quả của sự lạm dụng quyền lực, và trên hết, sự tước đoạt một cách phi lý và phi pháp những quyền tự do cơ bản của mỗi con người, mỗi công dân.


« Suối nguồn của lòng can đảm và sự vững vàng trước bạo quyền vô hạn độ thường là lòng tin son sắt vào các giá trị đạo đức thiêng liêng kết hợp với sự hiểu biết lịch sử rằng dù cho mọi khó khăn, lịch sử loài người được đặt trên một lộ trình duy nhất là sự tiến bộ cả về tinh thần lẫn vật chất», lãnh tụ đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi đã nhận định thật xác đáng16. Những quyền con người đã và đang được tôn vinh trên phạm vi toàn cầu, đang là động lực rất lớn cho niềm tin ấy của nhân dân và tuổi trẻ Việt Nam.


Lời kết

Công cuộc đấu tranh cho dân chủ ở các nước độc tài rất cần đến sự cổ vũ và hỗ trợ của quốc tế - bởi tôn trọng và cổ vũ nhân quyền là mục đích chung của nhân loại. Sức mạnh của dư luận quốc tế sẽ là một nguồn động viên tinh thần lớn lao cho nhân dân những nước đang chịu sự kìm kẹp của độc tài.

Không chỉ vậy, nhân dân những nước ấy còn có thể trông đợi vào sự chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức từ những tổ chức đấu tranh thành công trong lịch sử, như Công đoàn Đoàn kết Ba Lan, đặc biệt là về tổ chức. Chỉ có tổ chức mới kết hợp sức mạnh của từng cá nhân thành một nguồn lực mạnh mẽ và hiệu quả để gây đối trọng lên độc tài, buộc họ nhượng bộ và ngồi xuống bàn đàm phán. Đó có thể sẽ là sự mở đầu cho một trang lịch sử mới của tự do, công bằng mà dân tộcViệt Nam đã chờ đợi trong một thời gian dài.

Tôi xin được nêu rõ rằng bài tham luận này trước hết thể hiện quan điểm của Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ mà tôi là thành viên - một quan điểm đã nhận được sự hưởng ứng của rất nhiều người dân và thanh niên trong nước. Trong tầm hiểu biết và kinh nghiệm còn hạn hẹp của mình, tôi không hề có tham vọng bày tỏ tiếng nói của tất cả các nhà đấu tranh dân chủ trẻ tuổi. Âu đó cũng là sự đa nguyên tự nhiên trong xã hội mà chúng tôi đang nỗ lực bảo vệ và tôn vinh. Mong rằng quan điểm này sẽ góp một mảng màu tươi trẻ vào bức tranh xã hội sống động, đầy màu sắc, để nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế hiểu thêm về tâm tư và khát vọng của một bộ phận tuổi trẻ Việt Nam.

Nguyễn Hoàng Lan – Thành viên Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Phe bảo thủ 'đang thắng'
Tác giả: BBC


BBC Chuyên gia lâu năm về Việt Nam, GS. Carlyle Thayer, là người mới nhất góp thêm tiếng nói vào luồng phân tích cho rằng đang có cuộc tranh đua quyền lực giữa hai phe bảo thủ và cấp tiến ở Việt Nam.
Từ nhiều tháng qua, một số nhà quan sát đã nhận định những khó khăn của kinh tế Việt Nam đang làm lung lay vị thế của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Nay GS. Carlyle Thayer, tác giả của rất nhiều sách và bài báo về Việt Nam, nhận định Thủ tướng Dũng đang gặp thách thức cả trong nội bộ Đảng và trong lòng dân chúng.

Chiến trường báo chí

Viết trên tờ Wall Street Journal, ông Thayer cho rằng cần thừa nhận những thành tựu mà ông Dũng đã làm được từ khi nhậm chức thủ tướng.
Nhưng nhà phân tích người Úc này nói ông Dũng đang gặp thách thức cả trong nội bộ Đảng và trong lòng dân chúng.
Vụ bắt hai phóng viên Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải đã gây xôn xao dư luận thời gian qua.
Nhưng vụ này không chỉ liên quan chuyện tự do báo chí, mà theo ông Thayer, đằng sau đó là sự đấu đá giữa hai phe bảo thủ và cải cách.

“Những người tiến bộ không nhất thiết ủng hộ hệ thống truyền thông hoàn toàn độc lập. Nhưng họ xem truyền thông được tự do chút ít là công cụ có thể hữu dụng để giám sát tham nhũng, và nhờ đó mà giảm thiểu nguy cơ bất bình của người dân đối với sự cai trị của đảng. Những người bảo thủ xem chỉ thế thôi cũng đã là thách thức không thể chấp nhận cho đảng, và hiện tại có vẻ phe bảo thủ đang thắng.”

Theo GS. Thayer, phe bảo thủ kiểm soát được Bộ Thông tin và Truyền thông. Chính họ đã ngăn không cho một thư ký của cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt được nắm bộ này. Thay vào đó, ông Lê Doãn Hợp, từ tỉnh Nghệ An, được đưa lên làm bộ trưởng.
Từ khi ông Nông Đức Mạnh tái đắc cử chức Tổng Bí thư tại Đại hội X năm 2006, có luồng dư luận cho rằng vai trò của ông Mạnh bị lu mờ trước ông Dũng.
Nhưng giờ đây, GS. Thayer, từ Học viện Quốc phòng Úc ở Canberra, lại thấy rằng nhóm bảo thủ, do ông Mạnh dẫn đầu, chiếm thế “chủ đạo trong Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cũng là chỗ mà khối an ninh góp mặt mạnh mẽ”.
Tại Đại hội X, Bộ trưởng Công an Lê Hồng Anh có số phiếu cao thứ hai sau ông Mạnh trong Ban Chấp hành Trung ương.
Trong tám thứ trưởng mới được vào Ban Chấp hành khi ấy, có ba người từ Bộ Công an.
GS. Thayer viết: “Họ coi trọng hơn cả sự ổn định chính trị và cái ghế của mình, và lo ngại về việc Thủ tướng Dũng không thể lèo lái hiệu quả trước lạm phát gia tăng và các tệ nạn xã hội khác.”

Lòng dân

Từ vị trí ngôi sao trong mắt các nhà đầu tư vài năm qua, kinh tế Việt Nam lại đang gặp nhiều khó khăn.
Truyền thông nước ngoài dạo gần đây có nhiều bài tự hỏi vì sao thị trường Việt Nam tiếp tục tuột dốc.
Lạm phát vọt lên tới 25%, mức cao nhất từ năm 17 năm qua, bóp nghẹt thu nhập của nhiều người dân và công nhân khắp nơi bãi công đòi tăng lương.
Trong bối cảnh này, GS. Thayer nói ông Dũng “cũng đang nhanh chóng đánh mất ủng hộ của người dân”.
“Nhiều người ở thành thị đã trở nên bất mãn khi ông Dũng không thể đối phó nạn ô nhiễm, tắc nghẽn giao thông hay tham nhũng. Mới nhất, lạm phát làm đau nặng túi tiền của họ.”

Đối ngoại

Đấu đá nội bộ trong đảng cũng có ảnh hưởng đến quan hệ với thế giới bên ngoài.

“Những người bảo thủ trong đảng cản trở sự mở cửa của Việt Nam khi nhấn mạnh nhân quyền và tự do tôn giáo là một phần của âm mưu diễn biến hòa bình. Nói cách khác, họ cố làm các thành viên lãnh đạo đảng lo sợ bởi ý tưởng rằng mở cửa kinh tế, đặc biệt là với Mỹ, nhất định sẽ dẫn tới mở cửa chính trị.”

Phe bảo thủ cũng “đóng vai trò lớn trong việc định hình quan hệ với Trung Quốc”.
Các vụ xuống đường phản đối Trung Quốc cuối năm ngoái vì vấn đề Biển Đông đã làm Bắc Kinh phật ý.
GS. Thayer cho biết: “Khi ông Mạnh có hội đàm cấp cao ở Bắc Kinh, những người bảo thủ đã dùng cơ hội này để thúc đẩy quan hệ giữa hai đảng, gồm cả quan hệ về tư tưởng.”
Đang có đồn đoán về một hội nghị giữa kỳ của đảng nhằm giải quyết mâu thuẫn nội bộ.
GS. Thayer lưu ý chỉ mới có một hội nghị như thế trong lịch sử, là năm 1994.
Nếu hội nghị này diễn ra, chính sách và sự lãnh đạo của Thủ tướng Dũng “sẽ bị công kích”.

Kết thúc bài viết, GS. Thayer kêu gọi “các đại biểu Quốc hội, chứ không phải phe bảo thủ đằng sau hậu trường, hãy xác lập uy quyền để xem lại chính sách của chính phủ và sự lèo lái của thủ tướng. Nếu họ không làm, những thành công gần đây của Việt Nam có thể sớm bị tước bỏ.”

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Nguy Cơ Lê Chiêu Thống Hiện Đại

Nguyễn Thanh Giang
Việt Nam kiên trì phát triển mối giao hảo với tất cả các nước trên thế giới, bất kể chế độ chính trị, trước hết với các nước láng giềng.. Đây là đường lối ngoại giao đúng đắn cần quán triệt lâu dài.

Trung Quốc là nước láng giềng lớn, có mối quan hệ lâu đời đối với Việt Nam trên nhiều phương diện: tư tưởng, văn hóa, chính trị, kinh tế, quân sự …. Bang giao hữu hảo với Trung Quốc lại càng cần được xem trọng. Chọc giận Trung Quốc để bị Đặng Tiểu Bình ra tay “dạy cho một bài học” là sai lầm tai hại xuất phát từ thói ngông cuồng, hợm hĩnh sau thắng Mỹ 1975 ! Ghi vào Hiến pháp: Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp càng chúng tỏ vô cùng non kém về tư tưởng chiến lược !

Nói vậy không có nghĩa cuộc binh đao 1979 là lỗi chỉ tại Việt Nam. Ai cho lũ Đại Hán kia được quyền dạy người bằng cách tàn bạo, khốn nạn như thế ?! Cho nên bây giờ Hồ Cẩm Đào và Nông Đức Mạnh xuê xoa nhau: “Tuy giữa hai nước vẫn còn xẩy ra việc này việc khác và điều đó là khó tránh khỏi …” là không đúng. Bỏ cái tư tưởng Đại Hán đi, bỏ cái ý đồ cầu viện đi thì không có chuyện nhượng đất, nhượng biển, không có chuyện nước ngoài bắn giết ngư phủ đồng bào mình mà cứ lặng thinh vô cảm.

Không chỉ giao thương, mà rất nên học hỏi Trung Quốc. Về mặt văn hóa và “thuần phong mỹ tục”, Trung Quốc gần gụi ta hơn Phương Tây, hơn Hoa Kỳ. Việt Nam và Trung Quốc đều từng cùng đã sa lầy trong vũng bùn Cộng sản lâu năm. Trung Quốc đang vùng vẫy để thoát ra dần dần một cách khôn khéo hơn. Về chuyện này có thể tôn họ làm sư huynh. Tuy nhiên, cần cảnh giác. Đừng để họ xui dại. Đừng để họ làm một đàng, xui mình làm một nẻo. Họ đi đêm với Nixon, trong khi xui mình chửi Mỹ thật thậm tệ, đánh Mỹ thật bạt mạng. Họ chạy hết cửa trước cửa sau xin được vào WTO trong khi xui mình cứ khoan khoan, để họ vào trước …

Chuyến thăm Trung Quốc cuối tháng 5 năm 2008 vừa qua là cần thiết. Ông Hồ Cẩm Đào thăm Việt Nam 3 lần. Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đáp lễ hơn một lần cũng có thể xem là để tỏ ra biết điều. Vả chăng, trước khi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đi Hoa Kỳ, ông Nông Đức Mạnh đi Trung Quốc, dẫu là chuyện cực chẳng đã, thì cũng đành cho phải phép.

Đi để “đưa quan hệ Việt-Trung tiếp tục phát triển lên tầm cao mới” thì cứ làm. Nhưng, để tiến tới “ Hai bên cùng lập nhiều cơ chế hợp tác giữa các bộ, ngành, giữa các địa phương giáp biên giới hai nước, đặc biệt là cơ chế Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương để chỉ đạo và điều phối sự hợp tác Việt Nam- Trung Quốc trên tất cả các lĩnh vực ” là đã thấy phải xem xét thận trọng.

Đến mức tuyên bố chung: “ Hai nước sẽ thiết lập đường dây nóng giữa các nhà lãnh đạo” thì không thể không đặt vào đây một dấu hỏi lớn. Vì sao làm ăn kinh tế, giao thương văn hóa … mà lại phải có đường dây nóng ? Đây là lần đầu tiên thiết lập đường dây nóng giữa lãnh đạo ta và lãnh đạo nước ngoài. Thời chiến trước đây cũng chưa từng phải thiết lập đường dây nóng với Liên Xô, Trung Quốc bao giờ.

Đề phòng ai đây ? Dằn mặt ai đây ?
Đường lối mèo không ra mèo, chuột không ra chuột: “Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” tạo ra trong xã hội nói chung và trong lãnh đạo đảng CSVN nói riêng hai phe phái ngày càng trở nên đối địch nhau. Trước hết, do cách làm kinh tế thị trường không đích thực mà dở giăng dở đèn, người ta đã lợi dụng một chút ranh ma “kinh tế thị trường”, một chút lăng nhăng, lơ mơ “định hướng xã hội chủ nghĩa” để hình thành một tầng lớp tư bản đỏ và địa chủ cộng sản một cách rất bạo liệt. Nếu Mác nói: “Chủ nghĩa tư bản đẻ ra giai cấp công nhân để chính giai cấp công nhân đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản” thì chúng tôi nói: “Đường lối cơ hội “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”đẻ ra giai tầng tư bản đỏ cùng địa chủ cộng sản và chính họ đang đào mồ chôn CNXH ở Việt Nam” (chứ không phải mấy ông dân chủ hay bọn phản động).

Tư bản đỏ và địa chủ cộng sản muốn sống được thì phải bám Phương Tây, bám Hoa Kỳ. Vào WTO rồi mà rời Phương Tây, rời Hoa Kỳ là chết. Chinh phủ muốn có thị trường xuất nhập khẩu để bảo đảm chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm hiện đại hóa … cũng không thể không thân Phương Tây, thân Hoa Kỳ. Đường lối thân Phương Tây, thân Hoa Kỳ hợp lòng dân hơn. Phái “Kinh tế thị trường”, trong đó có Chính phủ và Nhà nước lại được tư bản đỏ và địa chủ cộng sản phù trợ hơn nên có thế hơn. Dư luận cho rằng cần có Đại hội Đảng giữa nhiệm kỳ để thống nhất chức Chủ tịch Nước và Tổng bí thư vào tay ông Nguyễn Minh Triết; hoặc là, đưa ông Nguyễn Thiện Nhân lên ghế thủ tướng để thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lên làm Tổng bí thư. Phái “Định hướng xã hội chủ nghĩa” vừa không được tư bản đỏ cung phụng nhiều bằng phái kia, vừa không được lòng dân nên yếu thế. Muốn cố thủ mấy cái ghế, họ đành tìm sức mạnh ở sự bảo hộ của ngoại bang. Ghế là quyền, quyền không chỉ đẻ ra tiền để dược phè phỡn mà còn được ngất ngây trong tung hô, trong phỉnh nịnh …. Cho nên phải sống chết mà giữ lấy ghế. Bằng mọi thủ đoạn, kể cả đánh giết nhau. Lặng lẽ là ám sát, đầu độc, quyết liệt thì dàn quân ra mà xả đạn, trút bom lên đầu … dân chúng !

Ứng viên tổng bí thư Lâm Bưu đã từng tan xác trên máy bay. Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ, tổng bí thư Triệu Tử Dương …. đã từng bị các đồng chí trong Bộ Chinh trị cho chết rũ xác trong lao tù cộng sản.

Ở Việt Nam dường như cũng đã có dấu hiệu chẳng lành.

Ai đã đánh bom nhà thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sạt cả cổng sắt hồi Tết năm ngoái ?

Không thể là dân thường, cũng không phải bọn “phản động” trong hay ngoài nước…. Bởi nếu thế thì báo chí đã đưa tin kẻ này, kẻ kia bị trừng trị rồi

Tin một vị chức sắc của Tổng cục 2 tuyên bố: Tổng cục 2 đã có công bảo vệ sự lưu nhiệm cho tổng bi thư Nông Đức Mạnh và ngăn chặn sự xuất hiện Gorbachev ở Việt Nam thì chưa được kiểm chúng rõ ràng, nhưng tin tổng bi thư Nông Đức Mạnh đến trao danh hiệu Anh hùng Lao động cho tổng cục 2 thì báo chi đã đăng rành rành.

Sao lại vô nguyên tắc đến thế ! Sao lại ngang nhiên chà đạp lên Hiến phap như thế. Đảng chỉ lãnh đạo chứ Đảng đâu có quyền làm thay, có quyền qua mặt lấn sân Nhà nước ! Trao bằng sắc, danh hiệu này nọ phải là việc của chủ tịch nước hay thủ tướng chứ.

Lại nữa, Tổng cục 2 là anh hùng thời chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ thì được nhưng đã lòi ra Vụ T4 mà còn được tặng danh hiệu Anh hùng thời Đổi mới thì vỗ mặt nhau thẳng cánh quá, chà đạp dư luận, chà đạp lẽ phải và công lý thẳng thừng và trơ tráo quá !

Hồi mới lên, ông Nguyễn Tấn Dũng hăng hái muốn chứng tỏ chống tham nhũng mạnh mẽ hơn người tiền nhiệm nên bất chấp con rể Nông Đức Mạnh đang là yếu nhân trong PU18, bất chấp Đảng đang cơ cấu Nguyễn Việt Tiến vào Trung ương để chuẩn bị ngồi ghế bộ trưởng vẫn ra lệnh tống giam Nguyễn Việt Tiến.

Bây giờ người ta quật lại, không chỉ thả Nguyễn Việt Tiến mà còn phục hồi đảng tịch. Thả Nguyễn Việt Tiến thì phải tống tù một người nào đó it nhất tương đương Nguyễn Việt Tiến chứ. Sao lại chỉ bắt giam hai nhà báo ? Hỏi rằng, ai đã chỉ đạo cả một chiến dịch với hàng ngàn bài báo và hai cuốn sách bôi nhọ một cán bộ cao cấp của Đảng ? ( đến mức đưa tin lột truồng cave ra, đổ bia cả vào chỗ kin của thị mà liên hoan tập thể với nhau ! ). Bôi nhọ cán bộ cao cấp của Đảng tức là bôi nhọ Đảng đến thế còn gì !

Trận trả đòn điên cuồng đang diễn ra, bất chấp dư luận, bất kể danh dự, uy tin Đảng này chứng tỏ cơn cuồng nộ của họ đã dẫn họ đến trạng thái mất trí.

Trạng thái mất trí này hoàn toàn có khả năng sẽ còn khiến họ làm những việc khủng khiếp không lường được.

Thực tế đã đánh giá lời tuyên bố huyênh hoang sau chiến thắng 75 của ông Lê Duẩn: Đất nước từ nay vĩnh viễn sạch bóng quân xâm lược. Dẫu sao, chắc hẳn trong vòng mươi lăm năm tới, không nước nào dám, cũng không nước nào dại gì xâm lăng Việt Nam, ngoại trừ Trung Quốc. Vậy thiết lập đường dây nóng với Trung Quốc để đề phòng ai ? Dự định đánh nhau với ai ? Phải chăng sẽ là với các “đồng chí phản động” trong Bộ Chính trị như kiểu Triệu Tử Dương ? Hay là, chuẩn bị đối phó với “Thiên An Môn Việt Nam” bằng những sát thủ đã dầy dạn kinh nghiệm ?

Có lẽ họ biết họ sẽ không dễ dàng xua bộ đội Việt Nam, công an Việt Nam thảm sát nhân dân Việt Nam. Bộ Chính trị chia hai phái thì quân đội, công an không thể hoàn toàn thuộc về họ. Nhất là họ it được lòng dân hơn. Cho nên …

Đảng CSVN đã nhiều phen chia làm hai phái. Nhờ phái có xu hướng dân tộc chủ nghĩa của Nguyễn Ái Quôc thắng phái cộng sản quốc tế cực đoan của Trần Phú, Hà Huy Tập mà có Cách mạng Tháng Tám, có Điện Biên Phủ. Do phái chủ trương giải phóng Miền Nam bằng bạo lực với mọi giá của Nguyễn Chi Thanh, Lê Đức Thọ, Lê Duẩn khống chế được phái đã có lúc nghiêng về chủ trương thống nhất đất nước bằng thi đua hòa bình của Võ Nguyên Giáp, Hồ Chí Minh mà dân tộc lâm vào cuộc thảm sát Mậu Thân … rồi bị quốc tế tẩy chay, bị Mỹ cấm vận … để đến nay đất nước vẫn còn khốn đốn và ngày càng tụt hậu xa so với thế giới.

Bây giờ, vận mệnh dân tộc sẽ ra sao nếu phe phản động chế ngự được phe cấp tiến ?

Không, nhất định không thể để như vậy. Hãy sáng suốt kíp thời nhìn nhận cho rõ và quyết tâm ngăn chặn bọn này.

Đã thấp thoáng bóng Lê Chiêu Thống hiện đại. Đất nước có nguy cơ lại rơi vào vòng đô hộ của một ngoại bang tồi tệ hơn tất cả các ngoại bang trong thế kỷ qua.

Tôi xin khẩn thiết cảnh báo và tha thiết kêu gọi.

Hà Nội 16 tháng 6 năm 2008
Nguyễn Thanh Giang
Số nhà 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay

Post Reply