Tin Trong Nước

Xin nhớ: tin cần có "nguồn", trích từ đâu ra!!!
User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Việt Nam – Trung Quốc thảo luận “tăng cường lòng tin”
Monday, August 24, 2009


Image
Hình bên: Một người chạy xe gắn máy chở hàng Trung Quốc men theo con đường nhỏ.
Hình ảnh quen thuộc của hàng Trung Quốc nhập lậu vào Việt Nam ngày đêm qua khu vực biên giới tỉnh Lạng Sơn cũng như các khu vực khác dọc biên giới giữa hai nước.
(Hình: AFP/Getty Images).


HÀ NỘI (NV) - Có thiếu “lòng tin” trong quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Trung quốc không? Nếu không thiếu sao phải hô hào “tăng cường lòng tin?”

Theo tin của Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN), một cuộc hội thảo có tựa đề “Tăng cường lòng tin trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc: Nhìn từ góc độ các địa phương hai bên biên giới” đã được tổ chức ở Hà Nội hôm Thứ Hai 24 Tháng Tám, 2009.

TTXVN nói cuộc hội thảo do “Học Viện Ngoại Giao” Việt Nam tổ chức với sự tham dự của 14 đại diện nhiều viện, trung tâm nghiên cứu của Trung Quốc.

Bản tin này nêu ra danh sách cho thấy phía Trung Quốc có “Viện Nghiên Cứu Á Phi, Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển Quốc Vụ Viện Trung Quốc, Trung Tâm Nghiên Cứu Lịch Sử Ðịa Lý Biên Cương Trung Quốc, Viện Mác-Lênin, Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc, Viện Khoa Học Xã Hội Vân Nam, Viện Nghiên Cứu Quan Hệ Quốc Tế-Ðại Học Vân Nam, Viện Khoa Học Xã Hội Quảng Tây.”

Còn về phía Việt Nam “ngoài đại diện các cơ quan nghiên cứu còn có đại biểu của các tỉnh phía Bắc giáp biên giới với Trung Quốc như Cao Bằng, Ðiện Biên, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Lạng Sơn, Quảng Ninh, cùng với Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Bộ Tư lệnh Biên Phòng, Cục Khai Thác và Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản, Cục Quản Lý Thị Trường, Tổng Cục Hải Quan.”

Nguồn tin nói, “Các đại biểu tham dự cuộc hội thảo về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc nhất trí cho rằng quán triệt phương châm ‘Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai’ và tinh thần ‘Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt’, nhiều vấn đề tồn tại đã được giải quyết.”

Tuy nhiên, lại không thấy nêu ra hay ít ra đưa một ít thí dụ cho thấy những tồn tại nào đã “được giải quyết.”

Chỉ thấy như lời tường thuật của TTXVN là, “Các đại biểu nhất trí với đánh giá cho rằng quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc trong thời gian vừa qua đã phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực. Giao lưu, thăm viếng, hợp tác cùng có lợi, cùng phát triển ở tất cả các cấp, các ngành, trong tất cả các lĩnh vực ngày càng nhộn nhịp.”

TTXVN nêu ra con số thống kê nói, “Trong lĩnh vực thương mại, Trung Quốc đã trở thành bạn hàng lớn nhất của Việt Nam, với con số kỷ lục khoảng 21 tỷ USD trao đổi thương mại hai chiều năm 2008. Việt Nam đang trở thành địa bàn đầu tư hấp dẫn đối với các doanh nghiệp lớn của Trung Quốc; hợp tác văn hóa xã hội và các lĩnh vực khác cũng ngày một phát triển và đi vào chiều sâu.”

TTXVN không nêu ra cho người ta thấy con số mậu dịch hai chiều nói trên đã đẩy Việt Nam vào vị trí thâm thủng nghiêm trọng.

Theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, 5 tháng đầu năm 2009, mậu dịch Việt Nam-Trung Quốc “do ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu” nên kim ngạch mậu dịch hai nước giảm 21.4% so với cùng kỳ năm 2008, đạt $7,120 tỷ USD trong đó Việt Nam chỉ xuất khẩu được $1,609 tỷ USD, giảm 1.71%, trong khi nhập khẩu từ Trung Quốc tới $5,511 tỷ USD giảm 25,8%.

Trọn năm 2008, kim ngạch mậu dịch hai nước đạt $20,188 tỷ USD, tăng 27.3% so với năm 2007, trong đó Việt Nam nhập khẩu tới $15,652 tỷ USD. Tức là Việt Nam chỉ xuất khẩu sang Trung Quốc được có $4,536 tỉ USD, đa số là rau quả, than, quặng, nguyên liệu thô. Bên cạnh đó, thương mại biên giới Việt-Trung cũng trở thành một bộ phận quan trọng không thể tách rời và có đóng góp tích cực trong quan hệ thương mại hai nước, được khoảng hơn $6 tỉ USD trong số đó nhưng dĩ nhiên cũng là nghiêng về phía Trung Quốc.

Báo chí trong nước nhiều lần tố cáo các nhà thầu Trung Quốc chiếm đoạt các dự án lớn ở Việt Nam theo kiểu “cho không” từ nhà máy điện, thủy điện, nhà máy xi măng, khai thác bauxite... Họ không những lấy thầu mà còn đem cả nhân công lậu sang chiếm việc của người Việt bản địa, mang và cả nồi niêu song chảo, cầu tiêu, sang Việt Nam.

Bản tin về cuộc hội thảo “Tăng cường lòng tin trong quan hệ Việt Nam-Trung Quốc” không hề nói gì đến mối quan tâm sâu xa của người Việt Nam đối với hành động bá quyền của Trung Quốc trên biển Ðông vô cùng lộ liễu từ đầu năm đến nay.

Trước sau, người ta chỉ thấy bản tin lập lại câu “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, nhiều vấn đề tồn tại đã được giải quyết.

Hiển nhiên trong đó không có vấn đề biển Ðông. Ngày 12 Tháng Năm, 2009, ông Dương Danh Dy, nguyên đại sứ CSVN tại Trung Quốc, trong cuộc phỏng vấn của đài RFA nhìn nhận rằng Trung Quốc đã lấn đất biên giới của Việt Nam trong thời kỳ chống Pháp.

Lê Công Phụng (nay là đại sứ VN tại Hoa Thịnh Ðốn) khi còn là thứ trưởng Ngoại Giao nhiều lần chống chế rằng không hề nhượng bộ hay để mất đất cho Trung Quốc.

Báo điện tử VietnamNet khi viết lại bản tin nói trên của TTXVN viết rằng “Tăng cường lòng tin sẽ tạo điều kiện để chính phủ, các ngành và địa phương Việt-Trung trao đổi thẳng thắn các vấn đề được cho là nhạy cảm.”

Hồi Tháng Ba, nhân dịp ăn mừng hoàn thành cắm mốc biên giới, Nông Ðức Mạnh, tổng bí thư đảng CSVN tiếp Ủy Viên Quốc Vụ Ðới Bỉnh Quốc ở Hà Nội được TTXVN đưa tin nói “Mãi vun đắp bền vững quan hệ Việt-Trung” bất chấp hàng ngàn người trong ngoài nước gồm cả đảng viên đảng CSVN ký vào bản kiến nghị kêu gọi ngưng khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Quảng đại quần chúng cảnh báo nguy cơ lệ thuộc Trung Quốc trong khi đảng và nhà nước hô hào “tăng cường lòng tin.”

Một số người tham dự các cuộc biểu tình chống Trung Quốc bá quyền bị bắt từ năm ngoái, hiện đang nằm tù không biết bao giờ có án như các ông, Nguyễn Xuân Nghĩa, Vũ Hùng, cô Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Văn Tính, v.v...

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Ðại Sứ Michalak xác nhận: MS Nguyễn Công Chính được trả tự do
Tuesday, August 25, 2009

Hà Giang/Người Việt
WESTMINSTER - Ðại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Michael Michalak, chính thức báo tin Mục Sư Nguyễn Công Chính đã được công an Việt Nam trả tự do ngày 8 Tháng Tám, 2009.

Tin này do văn phòng Dân Biểu Trần Thái Văn phổ biến cùng với bản Việt ngữ bức thư của đại sứ Hoa Kỳ gởi cho ông Văn ngày 21 Tháng Tám vừa qua.

Mục Sư Thân Văn Trường, từ Việt Nam, xác nhận với Người Việt, rằng “đúng là Mục Sư Chính đã được trả tự do, hiện đang an toàn tại tư gia, và có công an canh gác bên ngoài.”

Trong buổi gặp gỡ với giới truyền thông tại Westminster, California ngày 6 Tháng Sáu, 2009, Dân Biểu Liên Bang Ed Royce cũng đã đề cập đến tấm hình cho thấy Mục Sư Nguyễn Công Chính bị đánh đập. Cũng trong buổi gặp gỡ ấy, Ðại Sứ Michalak tuyên bố là “chưa đủ chứng cớ” cho thấy Việt Nam chà đạp tôn giáo. Và khi trả lời câu hỏi của một ký giả về tình hình của Mục Sư Nguyễn Công Chính, Ðại Sứ Michalak trả lời là “không rõ lắm về việc này.”

Nói với Người Việt, Dân Biểu Trần Thái Văn xác nhận về bức thư Ðại Sứ Michalak gửi cho ông. Dân Biểu Văn nhấn mạnh, việc Mục Sư Chính được thả là “thành quả vận động của chung rất nhiều người.”

Theo tin của RFA, trong buổi họp báo ở Hạ Viện Hoa Kỳ hồi cuối Tháng Bảy, Dân Biểu Liên Bang Ed Royce, thuộc nhóm dân biểu đòi hỏi nhân quyền và tự do tôn giáo cho Việt Nam, cũng đã chỉ vào tấm ảnh phóng lớn của Mục Sư Nguyễn Công Chính và nói “Mục Sư Nguyễn Công Chính, từng bị công an thẩm vấn trên ba trăm lần, từng bị đánh như thế này hơn hai chục lần. Chuyện này phải chấm dứt!”

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Mỹ giúp Việt Nam chống rửa tiền
Tuesday, August 25, 2009

Image
Hình bên: Một phụ nữ ngồi bán vàng mã gồm cả một số lớn tiền đô la giả tại trung tâm thành phố Hà Nội.
Tiền giả và nạn rửa tiền là một vấn nạn lớn ở Việt Nam, chính phủ Hoa Kỳ vừa tài trợ tổ chức một khóa huấn luyện kỹ năng
chống rửa tiền cho viên chức Ngân Hàng Nhà Nước và cán bộ Hải Quan CSVN. (Hình: AFP/Getty Images)

HÀ NỘI (NV) - Ðại diện Trung Tâm Chống Rửa Tiền của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam và 30 cán bộ Hải Quan tham dự một cuộc huấn luyện kéo dài bốn ngày ở Hà Nội do chính phủ Hoa Kỳ tài trợ.

Mục đích là giúp Việt Nam phát hiện buôn lậu tiền mặt khối lượng lớn và rửa tiền núp dưới danh nghĩa các vụ buôn bán thương mại.

Theo một bản thông cáo báo chí của Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội, chương trình huấn luyện do các chuyên viên của Bộ Tài Chính Hoa Kỳ phụ trách.Theo một nghiên cứu của Tổ Công Tác Hoạt Ðộng Tài Chính (Financial Action Task Force - FATF) được thực hiện năm 2006, rửa tiền thông qua hành vi thương mại là một dạng tội phạm nghiêm trọng và là một nguy cơ ngày càng lớn về rửa tiền và cung cấp tài chính cho hoạt động khủng bố. FATF là một cơ quan liên chính phủ được thành lập cách đây 20 năm nhằm xây dựng và thúc đẩy các chính sách quốc gia và quốc tế về chống rửa tiền. Báo cáo của FATF cho thấy khi các biện pháp chống các hành vi rửa tiền truyền thống trở nên hữu hiệu hơn, “hình thức rửa tiền thông qua thương mại sẽ ngày càng trở nên hấp dẫn hơn”.

Chế độ Hà Nội ban hành một nghị định chống rửa tiền từ năm 2005 nhưng đến nay chưa có phát hiện được một vụ nào đáng kể ngoại trừ vụ bắt 2 người quốc tịch Mozambique hồi Tháng Chín, 2008, với số tiền tình nghi bị nhóm người này đánh cắp từ một số trương mục ngoại quốc khoảng gần 300 ngàn bảng Anh, chạy đến Việt Nam tìm cách tẩy rửa.

Báo CAND, cơ quan tuyên truyền của Bộ Công An ngày 23 Tháng Tư, 2009, viết bài “Phòng chống rửa tiền: Chủ động và quyết liệt” trong đó nói “Chống nạn rửa tiền, không thể chậm!”

Nhưng ngày 10 Tháng Tám, 2009, Tân Hoa Xã loan báo công an ở phía Nam Trung quốc đã bắt giữ một tổ chức rửa tiền qui mô lớn ở khu vực tự trị dân tộc Choang (Quảng Tây). Trong số 11 người bị bắt thì tám là người Việt. Ðiều đáng nói hơn, số tiền mặt trị khoảng 10 tỉ nhân dân tệ mà nhóm người này mở 77 trương mục ngân hàng từ Quảng Ðông, Quảng Tây, Phúc Kiến được chuyển sang Việt Nam khoảng 7.2 tỉ nhân dân tệ (18 ngàn tỉ đồng VN hay hơn $1 tỉ USD). Số tiền khổng lồ này được chuyển làm hơn 10,000 lần từ Tháng Mười Một, 2004 đến Tháng Ba, 2009.

Buổi huấn luyện chống rửa tiền trong tuần này ở Hà Nội là buổi thứ hai trong một loạt huấn luyện chống rửa tiền do chính phủ Hoa Kỳ tài trợ cho các quốc gia ASEAN. Trước đây, chính phủ Hoa Kỳ từng yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội đóng một số trương mục do Bắc Hàn mở tại một số ngân hàng quốc doanh CSVN nhằm rửa tiền buôn bán võ khí giết người hàng loạt nằm trong danh sách bị LHQ cấm vận.

Theo nghị định 74/CP do nhà cầm quyền Hà Nội ban hành ngày và có hiệu lực từ ngày 1 Tháng Tám, 2005, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam “phải kiểm soát chặt và báo cáo về những giao dịch tiền mặt (gồm VNÐ, ngoại tệ, vàng) trong ngày của một cá nhân, hay tổ chức mà tổng trị giá từ 200 triệu đồng trở lên. Ðối với giao dịch tiền gửi tiết kiệm thì tổng giá trị là 500 triệu đồng trở lên. Các mức giá trị giao dịch tiền mặt sẽ được thủ tướng quy định lại cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước theo từng thời kỳ.”

Từ đó tới nay, chưa thấy có một phúc trình nào cho biết đã “xử lý” vụ rửa tiền nào liên quan đến tham nhũng hối lộ chưa.

Hàng năm, quan chức CSVN phải kê khai tài sản nhằm ngăn ngừa tệ trạng tham nhũng, hối lộ nhưng cho đến nay, người ta vẫn chỉ thấy những lời phàn nàn trên mặt báo của tổng thanh tra chính phủ là còn nhiều tỉnh và cơ quan chưa chịu báo cáo theo đúng qui định.Theo giới chuyên viên, các hình thức rửa tiền tiêu biểu gồm có:

1. Trả nợ với một số tiền lớn do chính chủ nợ hay từ người khác (Third parties).

2. Tiền chuyển từ ngoại quốc, có thể dưới hình thức trúng số hay của thừa kế.

3. Xin gia tăng tín dụng bất thường và rút một số tiền lớn nhanh chóng.

Các chuyên viên bài trừ tội phạm quốc tế cho biết hệ thống luật pháp chống rửa tiền của CSVN có rất nhiều sơ hở. Hầu như mọi việc giao dịch buôn bán đều dùng tiền mặt, vì thế Việt Nam có thể trở thành một miền đất rất thích hợp để những kẻ bất chính rửa tiền mà chính phạm là bọn lãnh đạo đảng.

Cố vấn cho văn phòng Liên Hiệp Quốc về Ma Túy và Tội Phạm tại Việt Nam UNODOC (UN Office for Drugs and Crime) cho rằng những biện pháp chống rửa tiền lấy lệ sẽ không có hiệu quả ở Việt Nam. Ngỏ lời trong buổi hội thảo gần đây tại Hà Nội, văn phòng Liên Hiệp Quốc Việt Nam cho rằng nếu việc rửa tiền không được kiểm soát nghiêm nhặt, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín và việc đầu tư ngoại quốc vào Việt Nam.

Nếu hệ thống chống rửa tiền không hữu hiệu sẽ khuyến khích đồng tiền bất hợp pháp đổ dồn về Việt Nam. Ðồng tiền bất hợp pháp đó sẽ được chuyển đến các ngân hàng và công ty tín dụng, và sẽ nhanh chóng chuyển đi nơi khác. Chừng ấy Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia trung gian để chuyển tiền lậu đến các quốc gia trên thế giới. Trong nhiều trường hợp, những số tiền lớn chuyển đến và đi nhanh chóng, có thể làm cho cả hệ thống tiền tệ Việt Nam sụp đổ.

User avatar
saulong
Posts: 114
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:02 pm

Post by saulong »

Một Cục Nước Đá Nhỏ Tại Phi Trường Tân Sơn Nhất Trị Giá $100 Đô .



Tin quốc nội cho biết tình trạng hiện đang xảy ra là nhân viên y tế kiểm dịch H1N1 tại Tân Sơn Nhất đã làm tiền khách du lịch trắng trợn là đòi họ trả $100 USD để lấy cục nước đá nhỏ đắp vào chỗ đo của nhiệt kế để tránh "quá nóng" sẽ bị đưa lên xe y tế về khu vực cách ly . Nếu tới khu vực cách ly thì khách du lịch sẽ tốn cả bạc nghìn đô để ra khỏi nơi đây . Dưới đây là một bài viết than phiền từ một du khách về tình trạng đẩy đưa của các bệnh viện khám nghiệm dịch H1N1 tại Sài Gòn .

Con gái tôi là du học sinh từ Mỹ về tối 4-8-2009 trong tình trạng sức khỏe bình thường. Đến tối 5-8 cháu có biểu hiện sốt nhẹ (37.8 độC), gia đình chúng tôi hơi lo sợ nên cho cháu uống thuốc hạ sốt. Đến tối 6-8, cháu sốt cao 38.5-39.0 độ C. Lúc này tôi cũng bị sốt đến 38.0 độ C.

Sáng 7-8, chúng tôi đưa cháu đi khám tại Bệnh viện Thống Nhất (Saigon). Tại đây, chúng tôi được nhân viên bán vé khám bệnh ở quầy số 2 trả lời một cách lạnh lùng: “Ở đây không nhận khám bệnh cúm A/H1N1”. Nghe vậy tôi nói: “Ở đây theo lệnh của Bộ Y tế có nhận điều trị cúm A/H1N1” thì nhân viên nói trên bảo hết giường và chỉ chúng tôi đến Viện Pasteur. Tôi đưa con đến Viện Pasteur thì ở đây chỉ đến Bệnh viện Bệnh nhiệt đới!

Quá bức xúc, tôi điện thoại vào đường dây nóng tư vấn về cúm mà tôi được biết và được người trực đường dây nóng này cho hai số điện thoại tại TP. HCM. Tôi gọi vào hai số máy được cho thì được các vị trực điện thoại khuyên nên đưa cháu đến Bệnh viện Bệnh nhiệt đới. Các vị này còn khẳng định với tôi: “Nếu cháu là Việt kiều, chắc là đúng cúm A/H1N1 rồi, anh lên đó có phòng khám cúm riêng biệt, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới sẽ tiếp nhận đầy đủ”. Nghe thế, tôi đưa con đến Bệnh viện Bệnh nhiệt đới nhưng nhận được câu trả lời: “Ở đây không nhận khám bệnh, chỉ nhận cách ly khi có dương tính với cúm A/H1N1”. Rồi Bệnh viện Bệnh nhiệt đới hướng dẫn chúng tôi đến khám ở Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch.

Đến Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, chúng tôi mua phiếu khám tại phòng 102. Sau khi trình bày với bác sĩ phụ trách phòng khám, chúng tôi xin xét nghiệm tầm soát thì vị bác sĩ này bảo phải cách ly 24-36 giờ mới được xét nghiệm! Chúng tôi không chịu thì vị bác sĩ này giới thiệu chúng tôi quay về Trung tâm Y tế dự phòng Q.Tân Phú vì “ở đó có làm xét nghiệm và sẽ thu tiền”.

Chúng tôi phải mất nhiều thời gian mới liên lạc được với vị bác sĩ có trách nhiệm của Trung tâm Y tế dự phòng Q.Tân Phú và được tư vấn đầy đủ. Tuy nhiên vị bác sĩ này bảo nếu có lấy bệnh phẩm thì cũng gửi Viện Pasteur làm xét nghiệm miễn phí, chứ không như vị bác sĩ ở Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch nói đâu!

Thật là một chuyến hành trình đầy gian nan từ Q.Tân Phú - Bệnh viện Thống Nhất - Viện Pasteur - Bệnh viện Bệnh nhiệt đới - Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch rồi quay về Trung tâm Y tế dự phòng Q.Tân Phú cũng không làm được xét nghiệm tầm soát cúm A/H1N1! Giả sử con tôi thật sự có nhiễm cúm, dương tính với A/H1N1 thì độ lây lan sẽ đến đâu? Và liệu tính mạng của con tôi có an toàn?

NGUYỄN PHƯỚC

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image

Tin Tức Mới Nhất về LM Nguyễn Văn Lý
Linh mục Nguyễn Văn Lý bất ổn sức khỏe trong lao tù


(Bản tin ngày 28-08-2009)
Ngày 24-08-2009 vừa qua, chị ruột của linh mục Nguyễn Văn Lý là bà Nguyễn Thị Hiểu và một cháu trai gọi linh mục bằng cậu ruột đã đến trại giam Ba Sao, Nam Hà thăm cha. Đây là cuộc thăm viếng sớm hơn thường lệ, vì lẽ ra phải là đầu tháng lẻ.

Linh mục Lý xuất hiện, chân đi hơi cà nhắc nhưng sắc mặt vẫn bình thường, trong bộ đồ tù sọc dưa mà ngài luôn cảm thấy khó chịu. Sau khi hỏi thăm gia đình bè bạn, cha nói ngay về tình hình sức khỏe bản thân, vốn đang bị cao huyết áp (xin xem lại bản tin ngày 13-07-2009). Vị tù nhân lương tâm cho bà chị biết nhiều điều mà trong chuyến thăm ngày 09-07, cha chưa nói:

“Hôm 13-05, đang đi lui đi tới trong căn phòng biệt giam chật hẹp, em tự nhiên thấy máu chảy đầy sàn nhà. Nhìn kỹ thì thấy máu xuất ra từ phần hạ thể, từ bàng quang. Toàn là máu bầm. Em kêu y tá bác sĩ. Họ liền tới xức thuốc và cho uống thuốc cầm máu. Vết thương nay đã lành. Ngày 25-05, em lại bị té trong phòng, lủng một lỗ nhỏ phía sau đầu. Trại cũng lại cho uống thuốc. Hôm 12-07, ba ngày sau chuyến thăm của gia đình, tự nhiên em cảm thấy tay phải và chân phải bị cứng đờ, không cử động được. Trại cũng cho uống thuốc chứ không chích. Thấy chuyện bất thường, ngày 14-7, em đã viết một lá thư, yêu cầu gia đình thăm đầu tháng 08. Vì tay không cử động bình thường, thành ra chữ viết rất nguệch ngoạc. Thấy chẳng có hồi âm, nên ngày 03-08 em viết thêm một lá thư nữa để gia đình biết. Lần này thì chữ viết đẹp hơn, vì phải cố gắng nhiều. Nay thì sức khỏe tạm ổn” (xin xem hình chụp bức thư bên dưới).

Bà Hiểu trả lời: “Lá thư ngày 14-07 của cậu, gia đình không nhận được. Còn lá thư viết ngày 03-08 thì mới nhận hôm 22-08. Trước đó, ngày 15-08, cháu Quyên (gọi cha Lý bằng chú, đi tu dòng Đức Bà Đi Viếng tại Huế) khi gặp cha Nguyễn Hữu Giải tại La Vang thì đã được cha cho biết sức khỏe của cậu không ổn và cha đã nhận được tin cấp báo này từ Hà Nội”.

Linh mục Lý đáp: “Em mong từ nay được thăm nuôi hàng tháng để kịp thời thông báo về sức khỏe. Chị không đủ sức thì nhờ mấy đứa cháu. Rồi còn Tòa Tổng giám mục Huế nữa, vốn có trách nhiệm chính về em”. Đoạn cha Lý quay sang nói về chuyện khác: “Thời gian gần đây, em có yêu cầu trại để cho em có quyền chia sẻ đồ ăn thuốc uống cho các tù nhân nghèo khổ. Ban đầu trại không cho. Sau đó em tranh đấu: Nếu không cho phép tôi san sẻ thì những món quà gia đình gởi, tôi sẽ không nhận nữa, gởi trả lui hết. Là linh mục, tôi không có thể hưởng một mình được. Lương tâm của tôi không cho phép. Rất nhiều anh em tù nhân túng thiếu thức ăn thuốc uống trong trại này, tôi phải chia sẻ cho họ. Nay thì trại đã bằng lòng! Vậy xin gia đình ráng gởi ra đều đặn, để em có thể giúp cho những bạn tù không ai thăm nuôi giúp đỡ. Họ rất tội nghiệp. Nhà tù CS ra sao thì Chị biết rồi!”

Quay sang viên trung tá công an tên Nam, người đặc trách “quản lý” mình từ bao năm nay, cha Lý nói một cách thẳng thừng: “Các ông giết Đức cha Nguyễn Kim Điền là sai rồi, lộn rồi! Phải giết Nguyễn Văn Lý này mới đúng! Tôi nay như người bị bệnh Sida (Aids), hết thuốc chữa rồi. Các ông bắt tôi kiểm điểm 3 tháng một lần để mong tôi thay đổi tư tưởng! Có gì mà kiểm điểm, mà thay đổi chứ! Tôi kiểm điểm các ông, kiểm điểm nhà nước này thì có. Bao nhiêu điều sai lầm và tội ác, các ông đang phạm ở Tây Nguyên, ở Thái Hà, ở Tam Tòa... Ngày nào ra khỏi đây, tôi sẽ tới những chỗ đó để hỗ trợ đồng bào, để tố cáo và phản đối tội ác của nhà cầm quyền Cộng sản…”

Kết thúc cuộc nói chuyện dài hai giờ (ở đây chúng tôi chỉ tóm tắt), bà Hiểu đã để lại cho ông trung tá Nam ba số điện thoại: một của Tòa TGM Huế, một của gia đình ở Quảng Biên, một của cô em họ tại Thừa Thiên, với lời dặn: “Em tôi có chuyện gì thì xin ông báo tin ngay để gia đình và Tòa Giám mục ra gấp. Cha Lý mà chết trong tù thì mấy ông chịu trách nhiệm đó!” Cha Lý cũng xin cho mình 3 số điện thoại ấy, phòng khi ra tù thì có thể liên lạc ngay được.

Trở về Huế, bà Hiểu và người cháu sáng ngày 27-08 lại đến Tòa TGM Huế, nơi bà đã ghé qua chiều ngày 23-08 để lấy bộ sách kinh cho cha Lý nơi linh mục Quản lý Nhà Chung. Bà mong gặp Đức TGM Nguyễn Như Thể để thông báo tình hình. Linh mục Quản lý cho biết Đức TGM đi vắng nên bà hãy đến gặp Đức Giám mục Phụ tá Lê Văn Hồng. Gặp ĐGM Phụ tá, bà Hiểu thẳng thắn nêu ra hai điểm:

“1- Xin Tòa TGM Huế yêu cầu nhà cầm quyền CS không được biệt giam cha Lý nữa. Việc biệt giam là một hình phạt kỷ luật trong nhà tù. Với tình trạng sức khỏe hiện tại, nếu tiếp tục bị biệt giam, cha Lý có thể lâm cơn nguy tử mà không ai biết, không ai cứu kịp.

2- Tòa TGM có trách nhiệm chính đối với cha Lý, con cái của Giáo phận Huế. Gia đình đi thăm là chỉ vì lý do máu mủ thôi! Với lại gia đình ở quá xa, không thể mỗi tháng đi thăm nuôi một lần. Đức Cha biết rồi đó, Ủy hội Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ, trong chuyến thăm cha Lý ngày 13-05-2009, đã chê rằng gia đình đi thăm nuôi cha Lý 2 tháng một lần là quá ít.

Trong khi đó Tòa TGM mỗi năm chỉ thăm cha Lý một lần duy nhất”!?!

Đức Giám mục Phụ tá lắng nghe, ghi nhận ý kiến. Ta hãy chờ xem!

Bà Hiểu cũng cho biết là khi trở về nhà, bà sẽ làm đơn yêu cầu trại giam không được biệt giam linh mục Nguyễn Văn Lý nữa. Ta cũng hãy chờ xem!

Xin Đồng bào và Thân hữu quốc tế tiếp tục quan tâm theo dõi, thông báo và cầu nguyện cho sức khỏe của vị tù nhân lương tâm, biểu tượng đấu tranh bất khuất cho Dân chủ Nhân quyền và Tự do tôn giáo tại VN.

Nhóm Phóng viên FNA Khối 8406
tường trình theo lời kể của bà Nguyễn Thị Hiểu.
Huế ngày 28-08-2009, lúc 15g30

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image
Đức Giám Mục Cao Đình Thuyên và Người Buôn Gió

Tin thêm về việc bắt giữ Blogger Người Buôn Gió
Theo những thông tin nhận được tối nay thì Bloger Người Buôn Gió (Tên thật là Bùi Thanh Hiếu) đang bị giam giữ và đang kiểm tra máy tính để tìm tài liệu. Vợ của Bloger Người Buôn Gió cũng đã được Công an thẩm vấn về các mối quan hệ của Người Buôn Gió, công an cho vợ Người buôn gió biết rằng tội trạng của anh ấy như thế nào phụ thuộc vào 'mức độ thành khẩn' của anh ấy.Bloger Người Buôn Gió (Bùi Thanh Hiếu) là một công dân giàu lòng nhiệt tình yêu nước,

đã đau đáu với vận mệnh đất nước, với biển đảo của Tổ Quốc. Dù chỉ là cá nhân không nằm trong tổ chức chính trị nào nhưng đã không quản ngại khó khăn để thổi lên lòng nhiệt tình yêu nước ở mỗi công dân VN. Anh cũng là những người đứng ở tuyến đầu của phong trào thanh niên biểu tình trước ĐSQ Trung Quốc phản đối xâm lược lãnh thổ đất nước. Anh cũng đã từng một mình lặn lội đến tận biên giới phía Bắc đất nước, thăm hỏi các gia đình Liệt sĩ đã hi sinh vì cuộc chiến bảo vệ biên cương 1979. Anh là một cây viết có tài, những bài viết của anh bênh vực lẽ phải đã đi vào lòng người bằng cách viết sâu sắc, lắng đọng và thâm thúy, ý nghĩa. http://nguoibuongio.multiply.com/ http://nguoibuongio.blogspot.com/

Anh cũng là một người giàu lòng nhân ái với những mảnh đời bất hạnh, rất nhiều thời gian, công sức anh đã dành cho viêc cứu trợ, thăm hỏi, làm từ thiện với những mảnh đời bất hạnh ở nhiều nơi, dù hoàn cảnh của anh cũng đặc biệt khó khăn, không có nhà riêng phải ở nhờ đến nay.

Hình như những điều đó ở một công dân không làm hài lòng nhà cầm quyền, nên cuộc sống của anh luôn được giám sát đặc biệt nhưng anh vẫn chăm chỉ, cần mẫn và hăng hái trong những việc làm anh xác định là chính nghĩa.

Những việc làm của anh, anh xác định với động cơ chính là tinh thần của một người yêu đất nước.

Là một người bố thương con hết mực, tận tâm với bạn bè, giữ tình cảm anh em chân thành, vì vậy khi anh bị bắt giữ rất nhiều bạn bè anh em đã cảm thấy lo lắng cho anh.

Chưa biết những gì sẽ xảy đến với anh trong những ngày tới.

12 PM 28.08.09
Bạch Vân

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Khiếu nại Việt Nam vi phạm nhân quyền ra quốc tế
Friday, August 28, 2009

Hà Giang/Người Việt
WESTMINSTER - Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc gửi thư xác định đã nhận, và sẽ cứu xét, hồ sơ khiếu kiện về việc Việt Nam “vi phạm nhân quyền có tổ chức và hệ thống.” Ðơn khiếu nại do Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ Phong Trào Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam gửi cho Hội Ðồng ngày 14 Tháng Năm, 2009.

Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Hùng, đại diện ủy ban, xác nhận với Người Việt tin này. Ông Hùng cũng trao cho Người Việt bản chụp lá thư do chủ tịch Hội Ðồng Nhân Quyền (chief of Human Rights Council Branch), Eric Tistounet, gởi cho ông hôm 3 Tháng Tám, 2009.

Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Hùng cho biết, sau nhiều tháng nghiên cứu, ủy ban xúc tiến việc nộp đơn khiếu kiện các vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền Hà Nội, và đã đệ nộp đơn này theo thủ tục khiếu nại của Hội Ðồng. Thủ tục này được thiết lập theo Nghị Quyết 5/1 hồi năm 2007, nay được biết với tên gọi Thủ Tục 1503.

Từ Canada, Luật Sư Lâm Chấn Thọ, chuyên viên nghiên cứu về thủ tục pháp lý của ủy ban, cho Người Việt biết: “Ðây là bước đầu tiên của một thủ tục kéo dài mà tất cả những đơn khiếu nại về vi phạm nhân quyền của một quốc gia phải trải qua.”

Cũng theo Luật Sư Thọ, một quốc gia được xem là “vi phạm nhân quyền một cách có tổ chức và hệ thống,” khi họ “vi phạm một công việc nhiều lần hoặc là vi phạm trầm trọng, chẳng hạn bắt bớ người không có lý do, bắt bớ nhiều người giam giữ lâu ngày mà không do một tòa án xét xử, hoặc là thủ tiêu người, hoặc là tra tấn tù nhân...”

Thư hồi đáp của Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc cho biết sẽ tiếp tục thông báo cho ủy ban biết kết quả đơn khiếu nại qua những chặng kế tiếp.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Chuyện vỉa hè:
Nhạc sĩ Tô Hải nói chuyện di chúc

Saturday, August 29, 2009

Nhạc sĩ Tô Hải, người thả quả bom “Hồi ký của một thằng hèn” mấy tháng trước, vẫn lai rai viết blog nói chuyện đời. Cuối đời, ông vượt qua được nỗi sợ hãi để thú nhận cái “hèn” của mình, không dám nói điều mình nghĩ suốt một thời gian dài.

Gần đây, nghe nói một đoàn cán bộ các cấp đến nhà ông, đưa quà cáp rồi dặn dò nhỏ nhẹ “cụ già rồi, đừng có blog bliếc gì nữa”. Chỉ dặn nhỏ thôi. Dĩ nhiên, hàm ý gì, tự hiểu.

Nhưng, như ông đã viết ông đã “hết hèn” nên cứ viết blog về những điều nhậy cảm.

Dưới đây là bài mới nhất của Nhạc sĩ Tô Hải.


Di chúc, di chúc và di chúc?


Mấy tuần nay, trên khắp các mặt báo và màn hình, từ địa phương đến trung ương, người ta đều thi nhau” kỷ niệm 40 năm ngày làm theo di chúc bác Hồ”. Tại sao lại 40 năm mới kỉ niệm? Tại sao 10 năm, 20 năm không làm hoặc để 50 năm hãy làm kỉ niệm. Thế là, tớ đâm ra... “tự thắc mắc” rồi phải tự đi tìm hiểu bằng cách gõ vào google, vào wikipedia. Thế là... eo ơi!, cả một rừng về di chúc bác Hồ, đặc biệt, quá nhiều những di chúc của “bọn phản động nước ngoài” đưa lên Internet những bản di chúc bằng bản thảo viết tay, chụp đầy đủ những chỗ, dập, xóa, thêm, bớt mà họ bảo đảm rằng không phải là di chúc giả vì nó đã qua những chuyên viên về phân tích chữ viết... Lại còn những gì di chúc khi đọc lên thì tớ thấy đúng như trong “Mạt Lộ” của Ðào Hiếu là di chúc này được viết trong một hoàn cảnh bị cô lập ở K5 nào đó. Thế là, tớ đành đóng mạng để khỏi hoang mang tinh thần và kiên quyết chỉ dựa vào những gì báo chí chính thống và truyền hình nhà nước để viết lên những suy nghĩ của tớ về cái vụ “40 năm di chúc bác Hồ” này.


Những nhận thức mới của tớ


Té ra bản di chúc này được khởi thảo từ 10 Tháng Năm 1965 cho tới mùng 10 Tháng Năm 1969 mới xong (báo tuổi trẻ này 25 Tháng Tám).

Lập tức một lô câu hỏi lại xuất hiện trong đầu.

1. Một tác giả từng nổi tiếng với hàng ngàn bài báo viết rất đơn giản, dễ hiểu, khúc chiết, rõ ràng, rất đại chúng, từng nêu gương học tập cách viết cho hàng loạt cây bút vô sản lẽ nào viết có hai trang “dặn dò trước khi chết” lại phải kéo dài tới 1,460 ngày!? cái gì đã làm cho ông Hồ khó khăn khi cầm bút thế nhỉ? Có sức ép nào không? Mà lại phải coi là tài liệu “tuyệt đối bí mật” cho đến ngày tuyên bố nữa chứ?

2. Bản di chúc công bố trong lễ tang và đăng trên báo nhân dân ngày mùng 10 Tháng Chín 1969 vì sao lại bị cắt cúp, sửa chữa, mặc dầu trước đó, khi phổ biến cho giới văn nghệ để phát động một cuộc sáng tác “Thương tiếc Bác” thì chính những điều cắt cúp đó lại được “đồng chí Tố Hữu” và sau là ông Cù Huy Cận cũng phổ biến “vo” cho bọn tớ. Chẳng anh nào nghi ngờ các ông lãnh đạo văn nghệ to nhất nước đã “bịa” ra những chi tiết mà bản di chúc được phổ biến công khai lần đầu lại không có cả! Tớ vẫn nhớ như in cái quang cảnh thực sự xúc động của hàng trăm văn nghệ sỹ ở 51 Trần Hưng Ðạo Hà Nội ngày 4 hay 5 Tháng Chín 1969 gì đó, khi hai ông to (một đảng, một chính quyền, nói về bản di chúc với một nội dung làm xúc động cử tọa (cả hai ông đều là nhà thơ mà!). Với những cảm xúc có thật, thêm vào là những lời lẽ gây ấn tượng, đầy hình ảnh... không cần có trong tay bản di chúc chính thức nào, các ông đã truyền cảm xúc cho biết bao tác giả (nhất là cánh nhạc sỹ và thi sỹ), chỉ trong có một đêm đã cho ra cả ngàn bài hát, bài thơ... Cái thời thông tin “bịt kín” đó, chẳng ai, dù đã không còn tin ông Cụ mấy, do các sai lầm của đảng, (Cải cách ruộng đất, Chấn chỉnh tổ chức...) mà ông đã đứng ra xin lỗi đồng bào cũng đều có những xúc cảm khác nhau nhưng gần như đồng nhất về cái ý tưởng “Yên bình cho người đã khuất” (“Paix aux morts”) và càng thấy “tội cho ông cụ” khi có tin lọt ra ngoài là ông cụ đã bị “vô hiệu hóa từ 5 năm nay rồi, kể từ ngày ông gửi thư riêng và hoa đào Tết vào Nam để tặng T.T. Ngô Ðình Diệm!”... Phải nói rằng bản di chúc được phổ biến “vo” của 2 nhà thơ lãnh đạo văn nghệ đã... thuyết phục được nhiều người trong bọn tớ, ít nhất trên bình diện... “9 bỏ làm 10”. Ví dụ đoạn ông cụ viết: Tôi chẳng có 1 ham muốn gì ngoài ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta đều hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, được học hành (Ðặc biệt là đoạn cuối cùng nói đến nguyện vọng sau khi chết là “được chôn ở một ngọn đồi và dưới chân đồi thì nhớ dựng một căn lều để có ai đến thăm thì có chỗ nghỉ chân” phổ biến cái ý chứ không đọc nguyên văn). Chỉ riêng cái chi tiết một túp lều hay một ngôi nhà dựng ở trên đồi hay dưới chân đồi thì thời đó 2 ông Tố Hữu và Cù Huy Cận khi phổ biến (không có bản thảo chính trong tay) đều có 2 chi tiết “trên đồi”: hay “dưới đồi” khác nhau. Bọn văn nghệ chúng tớ, cho đến tận bây giờ chẳng bao giờ chú ý đến “trên” hay “dưới” có hay không trồng cây, vì cái nội dung chôn ở trên đồi và dựng nơi nghỉ chân cho đồng bào mới là điều quan trọng! Ngay bản thân tớ, khi nghe ông Tố Hữu nói đến vấn đề “nguyện vọng sau khi chết của bác Hồ” thú thật tớ cũng ứa nước mắt vì đường đường một vị chủ tịch nước mà nguyện vọng cuối cùng sau khi chết đừng làm ma chay to lớn, linh đình... thì quả là có một không hai.Vậy mà gần đây vẫn cái ông Nguyễn Thiên Lương (mà do mắt kèm nhèm tớ đọc thành Thiện Lương nên chơi chữ thành Ác Lương) đã phê phán tớ trên báo Văn Nghệ Công An là tớ xuyên tạc di chúc bác, rằng thì là: Bác Hồ không có viết trong di chúc là làm nhà ở chân đồi mà phải làm nhà ở trên đồi?! Thử hỏi rằng một ông Tố Hữu, Cù Huy Cận, trong tay không có bản di chúc mà ra phổ biến trước giới văn nghệ những chi tiết này còn khác nhau thì hỏi rằng, bản di chúc mà ông công an làm văn nghệ “ăn lương nhà giời” này đưa lên báo (lại là bản đánh máy nữa), dù có nguệch ngoạc mấy dòng ở cuối di chúc mấy chữ “chứng thực của TBT Lê Duẩn” (y hệt khi người dân cần xin công an phường chứng thực để đi xin việc vây!) mà cái ông Ngờ tờ lờ này bắt những cái đầu biết suy nghĩ nay phải “Dạ! Thưa các quan! Những bản trước, dù có đúng từng chữ, từng dấu chấm phết, phẩy, cũng phải quên đi. Làm khác ý của chúng tao là đồ ‘đánh lận con đen’, là ‘phản động’, là có ‘ý đồ chính trị’, là cần ‘bắt nóng’, cần ‘tiêu diệt’, là... là...” như báo của ngành công an các ông vẫn thường làm cái công việc mà tôi thường viết trong ngoặc kép là như vậy đấy.... Tớ lại lạc đề di chúc của Bác về những chuyện chẳng nên cãi cọ đôi co làm gì vì một câu nói một dòng chữ cũng như hai người đối thoại bằng hai ngôn ngữ khác nhau. Hoặc tệ hại hơn, họ lại sử dụng ngôn ngữ hai con 8 thì... Xin quay lai với chuyện di chúc Bác Hồ.

3. Lí do gì mà mãi đến năm 1989, nhân kỉ niệm 20 năm ngày mất của bác, bản di chúc mới được công bố đầy đủ? Cho đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ. Vậy bản năm 65, 68, 69, bản nào là bản chuẩn? Ðặc biệt là bản cuối cùng lại có chứng nhận, chứng kiến của Tổng Bí Thư Lê Duẩn kí ở trang cuối lại càng gây thêm thắc mắc: vì sao một bản di chúc đọc kĩ thì chẳng có điều gì bí mật? Chẳng có kế hoạch chiến đấu, xây dựng đi theo đường lối ai, đoàn kết với ai, cảnh giác với ai mà đến nỗi phải có tổng bí thư đứng ra làm công chứng. Chẳng lẽ những điều dặn lại con cháu đồng chí là phải giữ gìn, đoàn kết trong đảng như con ngươi của mình, chẳng lẽ những điều mong muốn cho nhân dân có cơm no, áo ấm, được học hành. Chẳng nhẽ những nguyện vọng được an táng như một người dân bình thường lại trở thành những điều tuyệt mật hay sao?

Nói tóm lại, trong thời đại Internet này, việc khơi lại một bản di chúc đã được cắt cúp, sửa đi sửa lại và cuối cùng phải có chứng nhận của tổng bí thư để đến nỗi một thằng già sắp chết như tớ cũng phải lao vào tìm hiểu sự thật để rồi nảy ra hàng trăm cái dấu hỏi trong đầu, theo tớ là chẳng có lợi gì, nhất là những nhà lãnh đạo ít tuổi, chỉ biết tin vào một bản di chúc nào mà bây giờ người ta muốn coi là chính thức.


Tác dụng ngược của việc tuyên truyền di chúc


Chẳng biết đến ngày hôm nay những người chủ trương làm lớn vụ 40 năm làm theo di chúc Hồ Chí Minh này đã “kịp thời uốn nắn”. Riêng tớ, có nhiều thì giờ theo dõi và đọc báo chí trong dịp này thì thấy:

1. Ðây là một dịp tự do tư tưởng nhất chưa từng có để các nhà nghiên cứu, các tiến sĩ giáo sư lên tiếng đàng hoàng về cái sự tréo ngoe, giữ những lời “Người” dặn dò với thực tế các học trò của người sau này. Này nhé, ông tiến sĩ Phùng Hữu Phú, phó ban tuyên giáo thẳng thừng bộc lộ “Chúng ta còn ân hận vì nhiều việc chưa làm tròn theo lời bác căn dặn, nhiều điều cũ kĩ hư hỏng vẫn đang tác oai tác quái trong đời sống thường ngày...” Ðược lời một loạt các tiến sĩ Bùi Ðình Phong, Phạm Sành, Lê Mậu Hân, các nhà chính trị như Trần Trọng Tân lần đầu tiên công khai bày tỏ sự bất bình đối với tình trạng xã hội hiện nay, chẳng có làm theo lời di chúc của bác được chút nào. Ông Trần Trọng Tân còn đề ra hẳn một cách làm theo lời bác là: “Các cấp lãnh đạo hãy tự phê bình về những gì mình chưa làm theo lời bác và đưa ra công khai cho quần chúng góp ý”. Còn có ông thì đi đến kết luận là di chúc của bác để lại chẳng qua chỉ là di chúc về con người (?)Thậm chí có ông lại tinh tế hơn, nhấn mạnh đến 4 chữ “thật” trong di chúc: “Giữ gìn đảng thật trong sạch”, “Thật” sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, “là người đầy tớ ‘thật’ sự trung thành” rồi bình luận rất sâu sắc về tại sao bác phải dùng nhiều lần chữ thật như thế, để rồi đi tới kết luận là mọi điều bác dặn, chưa “thật sự” được ai thi hành.

2. Gần như 99% các tiến sĩ, giáo sư đều chỉ nhấn mạnh tới phần tư cách và đạo đức. Tớ chẳng đọc được, nghe được một câu nào về tư tưởng Hồ Chí Minh cả. Có vị lại còn lên tiếng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng nhân dân?” Tất cả bản di chúc đều toát lên tư tưởng vì nhân dân. Hình ảnh đưa lên cũng là những hình ảnh rất bình dân của ông cụ. Cách viết, cách nói rất dễ hiểu, đại chúng, và khi bình luận đến những câu như. “Tôi chỉ có một ham muốn... hoặc phải chỉnh đốn lại đảng. Phải giữ gìn sự đoàn kết trong đảng như con ngươi của mình thì vị nào vị nấy bỗng như có niềm hứng khởi chưa từng thấy trong cách phát biểu, viết lách. Nhưng có những điều “nhạy cảm” như tại sao không an táng bác như bác mong muốn, hình như các vị giáo sư, tiến sĩ đều cố tình tảng lờ nên chẳng thấy ai nói lại cái câu “theo nguyện vọng của nhân dân miền Nam mong được gặp bác như xưa cả nữa”. Không một lời giải thích tại sao dưới thời ông Lê Duẩn. Tại sao được bổ sung chi tiết kia dưới thời ông Nguyễn Văn Linh?

Bỏ đi tất cả những thứ di chúc giả do bọn phản động nước ngoài công bố, bỏ đi tất cả những bài viết trước sau... không như một. Lần này bản di chúc được phóng to, đánh máy, công bố trên báo thậm chí bày như bày tranh triển lãm ở các nhà bảo tàng. Nhân kỉ niệm 40 năm làm theo di chúc bỗng dưng đưa tớ trở lại những năm xưa và càng thêm thắc mắc về những năm cuối đời của ông cụ và tớ đi đến kết luận rằng: Trong lịch sử các triều đại từ phong kiến đến tư bản, đến xã hội chủ nghĩa, có một ông vua, ông tổng thống hay ông chủ tịch nào mà chỉ có một bản di chúc lại lưu truyền cho đời sau, nhiều dị bản và nhiều dấu hỏi như thế hay không? Hỏi tức là trả lời nhưng trả lời đã đầy đủ hay không thì xin nhường cho các friends.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

VN tăng cường quân sự trên biển Đông
Sunday, August 30, 2009
Thành lập thêm Vùng 2 Hải Quân SÀI GÒN (NV) - Trong một động thái mới nhất về tương quan lực lượng trên biển Ðông, Bộ Quốc Phòng Việt Nam vừa tuyên bố thành lập thêm Vùng 2 Hải Quân vào ngày 28 Tháng Tám tại Sài Gòn.

Tờ Tuổi Trẻ cho hay, Vùng 2 Hải Quân có nhiệm vụ “bảo vệ chủ quyền vùng biển từ Bình Thuận đến Bạc Liêu, trong đó có khu vực trọng điểm là vùng biển có các cụm kinh tế-khoa học-dịch vụ (gọi tắt là DK1) thuộc thềm lục địa phía Nam.”

Vẫn theo báo này, lãnh đạo Vùng 2 Hải Quân là hai Ðại Tá Nguyễn Văn Tuyến (Tư lệnh) và Mai Tiến Tuyên (Chính ủy) nhưng không tiết lộ lực lượng mới này sẽ có bao nhiêu quân và được trang bị tàu bè, vũ khí ra sao.

Như vậy, hiện nay Việt Nam có 5 Vùng Hải Quân bao gồm: Vùng 1 Hải Quân (kiểm soát toàn bộ Vịnh Bắc Bộ, từ Quảng Ninh đến Quảng Bình), Vùng 3 và Vùng 4 Hải Quân (kiểm soát từ Quảng Bình đến Bình Thuận, bao gồm cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa), Vùng 2 Hải Quân (kiểm soát từ Bình Thuận đến Bạc Liêu) và Vùng 5 Hải Quân (kiểm soát vùng Ðồng Bằng Sông Cửu Long).

Báo Tuổi Trẻ trích lời Phó Ðô Ðốc Nguyễn Văn Hiến, tư lệnh quân chủng Hải Quân Việt Nam nói, “Việc ra đời của Vùng 2 Hải Quân cũng nhằm xây dựng Hải Quân VN theo hướng: tinh gọn, mạnh, cơ động, phản ứng nhanh, có cơ cấu cân đối, đồng bộ, đủ thành phần lực lượng tác chiến trên các khu vực biển đảo.”

Còn Mai Tiến Tuyên, chính ủy Vùng 2 Hải Quân, cho biết lực lượng mới này còn có các “nhiệm vụ khác như bảo vệ, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, hỗ trợ ngư dân khi gặp dông bão hoặc gặp nạn trên biển.”

Việc gia tăng lực lượng Hải Quân của Việt Nam được cho là tăng đối trọng với Hải Quân Trung Quốc khi nước này đang gia tăng sự bành trướng của mình trên biển Ðông. Bằng chứng là hàng loạt các vụ tàu tuần của Trung Quốc bắn chết ngư dân Việt Nam, đâm chìm tàu đánh cá của họ, bắt ngư dân đòi tiền chuộc... ngay trong vùng biển mà Việt Nam có chủ quyền.

Một mặt Việt Nam tăng cường khả năng quân sự, mặt khác tăng cường sự hợp tác quân sự với Hoa Kỳ như mới đây, cựu đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Raymond Burnhardt, thừa nhận rằng “Mỹ và Việt Nam đều muốn kềm chế Trung Quốc.”

Theo lời cựu đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, nay đang làm giám đốc các khóa hội thảo Ðông-Tây của Trung Tâm Nghiên Cứu Ðông-Tây ở Honolulu “Mỹ và Việt Nam cùng có chung nhiều lợi ích chiến lược, trong số đó có cả sự duy trì cân bằng (thế lực) ở Ðông Nam Á.”

Các lợi ích của Mỹ trong mối quan hệ với Việt Nam gồm cả “chia sẻ những quan tâm về sự gia tăng sức mạnh quân sự của Trung Quốc.”

Trước đó, hôm 19 Tháng Tám, Thượng Nghị Sĩ Jim Webb (chủ tịch Ủy Ban Á Châu Thái Bình Dương trong Ủy Ban Ðối Ngoại của Thượng Viện Hoa Kỳ) đã đến Hà Nội nhằm cân bằng quyền lực giữa Trung Quốc với các quốc gia Ðông Nam Á trong đó có Việt Nam.

Nhận xét về chuyến đi của ông Webb, Giáo Sư Lê Xuân Khoa trong cuộc trả lời phỏng vấn của Người Việt, nói “Ðể bảo vệ quyền lợi của mình, Washington cần khuyến khích và giúp đỡ cho các nước Ðông Nam Á giải quyết một cách công bằng vấn đề chủ quyền tại biển Ðông và cùng các quốc gia này tạo một thế cân bằng lực lượng đối với Trung Quốc.”

Lực lượng Hải Quân của Việt Nam hiện nay trong tương quan lực lượng với các quốc gia Ðông Nam Á, đặc biệt là với Trung Quốc, được coi là thiếu và yếu cả về trang bị tàu thuyền lẫn sức mạnh về vũ khí.

Khi xảy ra các vụ tàu Trung Quốc tấn công và hà hiếp ngư dân, người ta không thấy lực lượng hải quân của Việt Nam có bất cứ động thái nào để bảo vệ ngư dân của mình trên chính vùng biển Việt Nam có chủ quyền.

Việc duy nhất mà Việt Nam có thể làm là “động viên ngư dân nên đánh cá ở khu vực ngư trường “đã xác định chủ quyền” như lời của Tướng Lê Văn Dũng, chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị quân đội VN trả lời cuộc phỏng vấn của VietnamNet ngày 12 Tháng Sáu, 2009, khi được hỏi “ngư dân hiện nay có thể yên tâm đánh bắt ở những vùng được xác định là chủ quyền của mình không? Lực lượng bảo vệ ở đó thế nào?”

Ông Dũng trả lời, “Vẫn tốt, vẫn đầy đủ. Các tàu mà bị bắt hầu hết do không nhận biết được giữa vùng biển mênh mông là tàu có trên đúng vùng biển của mình hay không.”

Lời của ông Lê Văn Dũng hoàn toàn trái với thực tế đang diễn ra với ngư dân Việt Nam.

Sau sự kiện thành lập Vùng 2 Hải Quân, hôm 29 Tháng Tám, Việt Nam cũng loan báo Ðài Tiếng Nói Việt Nam đã phát sóng toàn bộ khu vực biển Ðông với tầm phủ sóng 3,500 cây số tính từ bờ biển, bao gồm toàn bộ khu vực lãnh hải Việt Nam và hầu hết những vùng đánh bắt cá xa bờ của ngư dân.

Ngoài việc giúp phòng tránh thiên tai, cứu hộ cứu nạn cho ngư dân, đây còn được coi là hành động khẳng định chủ quyền của Việt Nam. (K.N)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

CSVN liên tục bắt giam những người có tinh thần chống Trung Quốc
Monday, August 31, 2009

HÀ NỘI (NV) - Một số người đã bị nhà cầm quyền CSVN bắt giam thời gian gần đây, cả trường hợp bất chấp thủ tục tố tụng hình sự, có vẻ liên quan đến những bài viết hoặc ngay cả một vài chữ bày tỏ lòng yêu nước và hình ảnh vẽ trên áo chống Trung Quốc bá quyền.

Tin tức trong ngày 31 Tháng Tám, cho hay, cô Phạm Ðoan Trang, bút hiệu Ðoan Trang, một người viết ký sự quen thuộc của báo điện tử “Tuần Việt Nam”, một bộ phận của báo điện tử VietnamNet, đã bị bắt.

Báo điện tử Vietnamnet hiện nằm trong sự điều khiển trực tiếp của Bộ Thông Tin Truyền Thông.

Ký giả Ðoan Trang bị bắt ngày Thứ Sáu vừa qua và được tổng biên tập của tờ báo là Nguyễn Anh Tuấn xác nhận hôm Thứ Hai, 31 Tháng Tám, 2009, với thông tấn xã Ðức DPA. Cô bị bắt vì đã viết một số bài báo có tính cách “nhạy cảm,” “quốc cộng,” cũng như một số đề tài liên quan chủ quyền biển đảo, khai thác bauxite, và nêu những điều không có tính cách 'chính thống' đối với bản hiệp định Geneve 1954 chia đôi đất nước.

Có một bài cô viết về sự đa dạng, cả hình thức và nội dung, của báo chí VNCH trước khi Cộng Sản chiếm miền Nam. Bài viết vào ngày 27 Tháng Bảy, 2009 có vẻ chỉ trích các lãnh tụ CSVN khi chuyện chia đôi đất nước năm 1954 xảy ra.

Theo bản tin DPA, các viên chức CSVN từ chối trả lời phỏng vấn qua điện thoại.

Nhưng theo một nguồn tin khác, một trong những lý do khiến ký giả Ðoan Trang bị bắt vì cô đã tiết lộ tin Tham Tán Kinh Tế Trung Quốc Hồ Tỏa Cẩm “lên lớp” báo chí Việt Nam “không hữu hảo” với Trung Quốc cho nhà báo tự do Người Buôn Gió viết phiếm ngày 3 Tháng Bảy, 2009 qua đề tài “Một số báo chí Việt Nam có ngôn luận không hữu nghị với Trung Quốc...”

Ðoan Trang bị cáo buộc liên quan đến bài viết “Tham tán Kinh Tế-Thương Mại của TQ Hồ Tỏa Cẩm đề nghị phía VN kỷ luật các tờ báo đã cho đăng bài của bà Phạm Chi Lan và Nguyễn Minh Phong” được nhiều báo điện tử và diễn đàn thông tin ở hải ngoại khai thác.

Cùng một ngày bắt nữ ký giả Ðoan Trang, một người thỉnh thoảng viết bài trên Internet nhưng không mở blog riêng tên Lê Minh Phát cũng đã bị bắt. Ông này từng mặc chiếc áo có hàng chữ “Stop Bauxite” “Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam.”

Bà Oanh, vợ ông Phát, trong một điện thư gửi cho thân hữu, tuy rất bối rối nhưng cho biết ông Phát đã bị “thẩm vấn suốt đêm” về “cái áo màu xanh lá cây và những bài viết trên mạng.”

Bà Oanh cho hay chồng bà bị dẫn đi “không có bất cứ giấy tờ giam giữ gì.”

Một ngày trước, tức Thứ Năm 27 Tháng Tám, 2009, blogger Người Buôn Gió bị bắt ở Hà Nội.

Trong Tháng Tám, báo chí nhà nước CSVN loan tin có tất cả 27 người (chưa kể Người Buôn Gió, Ðoan Trang và Lê Minh Phát) đã bị bắt liên quan đến “an ninh quốc gia.” Người ta không biết con số vừa kể có gồm những người bị bắt từ hai đợt Tháng Tám và Tháng Chín 2008 với khoảng hơn 10 người hay không.

Nhưng ít nhất, một số người đã không thấy nhà cầm quyền CSVN loan báo khi bắt giữ nên dư luận chỉ biết đến họ khi có người thân trong gia đình báo động cho bằng hữu.

Ký giả Ðoan Trang, Người Buôn Gió, Lê Minh Phát nằm trong số các trường hợp sau này.

Tuần trước, ký giả Huy Ðức, đã bị sa thải khỏi tờ Sài Gòn Tiếp Thị không phải vì những bài ông viết trên tờ báo này mà vì những gì ông viết trên báo cá nhân “blogosin.org.”

Post Reply