
Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội
Nhạc: Phạm Đình Chương & Hoàng Anh Tuấn
Giọng hát: Khánh Ly Mưa Sài Gòn lại nhớ mưa Hà Nội, nhớ đến nôn nao mùa ổi chín và tiếng sấu rụng ngoài vườn.
Sài Gòn sau một đêm mưa, cái hơi gió lành lạnh mà thấy ấm áp trong lòng sợi nhớ sợi thương, trước những Lộc hoa đất trời gửi gắm vào mùa. Sài Gòn không có những con đường tháng ba với hoa gạo - mộc miên, những con đường ngập tán hương hoa sữa … Sài Gòn - “con đường có lá me bay” như hòa nhịp chung với cái rét Lộc tháng Hai của đất trời, vạn vật cây cối xung quanh cũng mơn mởn những chồi non xanh tươi đâm ra trước gió vẫy gọi lòng người...
Theo Băng Tâm:
Hẳn không phải người miền Nam nào cũng đã được đến thăm thủ đô Hà Nội và đương nhiên không hẳn người Hà Nội nào cũng đòi đặt chân đến Sài Gòn, đất Trấn Biên xưa và đang là thành phố lớn nhất nước. Nhưng có lẽ ấn tượng về Hà Nội - Thăng Long, tưởng tượng về thành phố phương Nam rỡ ràng nắng lửa với những trận mưa rào quá thảng thốt như lá me bay ... thì người Việt chúng ta luôn mang nó trong lòng, nếu một lần đến sẽ là hoài niệm, nếu chưa một lần qua là thương nhớ đợi chờ .
Cách đây khoảng trên dưới 50 năm, khi Sài Thành vào tuổi 250, Nguyễn Tuân từng nổi máu giang hồ, nhảy lên con tàu lửa vài toa, một mạch vượt những khúc lưng rồng xương sống đất nước, không hiểu lòng lòng ông đã hòa Hà Nội vào Sài Gòn, hoà Sài Gòn vào Hà Nội như thế nào, khi con người luôn Thiếu quê hương ấy ốp đồng trong những câu văn quằn quại ?
Câu thơ Nguyễn Bính tha hương khi thì Chợ Quán khi thì Đakao..., anh chàng thi sĩ đồng quê mà lang bạt với những Hành phương Nam ấy có qua những cái tên không Hà Nội, chẳng Nam Định, càng không Huế : Bà Quẹo, Hàng Xanh, Cầu Muối, Thị Nghè, Sở Thú ... để rồi từ đó một lèo ra bưng kháng chiến, với những câu thơ xót dạ :
... Hai ta lưu lạc phương Nam này
Trải mấy mùa qua én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
Riêng ta với người buồn vậy thay ! ...
vẫn là trên đất nước mình sao lại mang tâm trạng bơ vơ lưu lạc ?
Thì ra con đường xuôi Nam thiên lý của dân tộc đã thành con đường trong mỗi lòng con người, không con phân biệt bắc, nam!
Từng thời gian dài, Hà Nội được gọi là Hà Thành hoa lệ, còn Sài Gòn gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông. Cốm HàNội đi máy bay vào đó, xoài cát từ trong đó bay ra. Hình ảnh người con trai da ngăm đen, có hiếc răng vàng, đầu đội mũ phớt lệch ngang ngang tàng, gọi là công tử Bạc Liêu, anh Hai Nam Bộ, anh Năm Sài Gòn, với giọng nói ấm trầm ... đã quen với người Hà Nội. Người miền bắc hòa đồng Nam Bộ và Sài Gòn làm một. Ít ai phân biệt đâu là Tiền Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Cà Mau hay Kiên Giang, Rạch Giá ... mà chỉ biết đó cũng là người Việtnam ta, ở tít tận phương Nam nắng gió, sống hiên ngang, phóng khoáng, không cần chắt bóp như người đồng bằng Bắc Bộ quen cùng lam lũ ...
Tôi từng nhiều lần tạm biệt Hồ Gươm, Hồ Tây vào với Sài Gòn trong nhiều mùa khác nhau. Kể cả lúc Sài Gòn chưa nhiều cao ốc, cái chợ cũ Võ Di Nguy gần chợ Bến Thành còn là cái chợ trời inh ỏi băng cát xét, cạnh đó là cả một phố dài la liệt sách cũ làm mình mê mẩn; đêm nằm ngủ ở khách sạn loại sang; nhưng ăn nắm bột mì hấp của bữa cơm hai hào và tôi lang thang tìm người bạn cũ.
Sài Gòn không như Hà Nội, đường phố nào cũng dài. Nếu phố hồ Hoàn kiếm bên bờ hồ Gươm, trông sang phố Cầu Gỗ ngắn nhất, chỉ vừa 52 mét, điển hình cho một phố ngắn Hà Nội, thì Sài Gòn có những con đường không thể đi bộ, nó dài hàng chục cây số ngàn (cây số ngàn là tôi nói theo tác giả Vương Hồng Sển, có lý hơn là nói cây số ), như đường Trần Hưng Đạo nối Sài Gòn với Chợ Lớn, như đường Xô- Viết Nghệ Tĩnh, và hàng chục con đường khác .
Sài Gòn cũng như Hà Nội, khá nhiều chợ: Bến Thành, Chợ Lớn, An Đông, Tân Định, Bà Chiểu, Hòa Hưng...không đếm xuể như Hà Nội có chợ Đồng Xuân, chợ Hôm, chợ Mơ, chợ Bưởi, cả chợ có cái tên kỳ quặc là chợ Âm phủ ... Ai cũng dễ bị ngợp vì hoa trái miền Nam trong các chợ Sài Gòn, cho đến thời điểm 300 năm này, Hà Nội không còn khác biệt, đã quen với xoài, măng cụt, vú sữa, chôm chôm, mãng cầu, sầu riêng, cam xanh, nhãn trong dịp Tết ( miền bắc tháng 6 mới có nhãn ), cho đến hủ tiếu, sực tắc bán rao trên các đường phố lúc về đêm. ( Hà Nội đã mất hẳn tiếng rao nhu sênh phách ấy rồi !).
Một lần nhà báo Trần Thanh Phương khoe những bản địa chỉ và tư liệu về Sài Gòn, về Lục tỉnh, về đồng bằng sông Cửu Long mà anh biên khảo đầy yêu mến với miền anh sinh trưởng, dù anh cũng đã từng gắn bó với Hà Nội mấy chục năm. Chúng tôi đọc nghiến ngấu với bao háo hức về vùng đất của nước non mình mà mình chưa được biết.
Sài Gòn, một thành phố trẻ mà tưng bừng, vươn lên mạnh mẽ, đi đầu cả nước về công nghiệp. Ba trăm năm, so với gần ngàn năm Hà Nội, thì sức bật ấy quả là đáng tự hào và kinh ngạc, nó mới già hơn nước Mỹ một chút ít; nhưng cái nối nó vào với dân tộc và đất nước lá ngấm sâu nguồn mạch, bất tận chan chứa, đang phát huy chất Việtnam, dù có pha tạp bởi nó ở ngã ba con đường văn hóa đông, tây .
Hà Nội mùa này vẫn đang còn ấm ướt và se lạnh trong mưa xuân. Mỗi đêm, lắng nghe bản tin thời tiết, không thể bỏ qua đoạn nói về SaiGon mưa nắng ra sao, nhiệt độ 33 hay 35, nghĩ về một thành phố rất quen thuộc với mình trong tâm tưởng; nhưng cũng rất xa lạ với mình khi mỗi lần gặp lại là một bỡ ngỡ, vì đổi thay rất tốc độ - nghĩ về những bạn ngồi trong phòng máy lạnh hay người bạn ở nhà mái tôn, ban ngày không thể ngồi trong nhà; mà phải đến một chỗ nào đó tránh nóng; đêm về mới hì hục miệt mài cùng trang bản thảo góp vào đời sống tinh thần của thành phố có thể tới hàng chục triệu dân ấy .
Những chiếc toa tàu hạng ba sơn màu đỏ mà Nguyễn Tuân đi giang hồ, nay ở đâu? Những quán cơm vỉa hè mà Nguyễn Bính ngồi ăn như một kẻ tha hương, chắc đã thành thiên cổ. Ngôi nhà tập thể ở ngoại vi thành phố, chỗ trú ngụ của nhà thơ Hoàng Tấn, thường ký bút danh Hồ Tăng Ấn , trong các bài ca cải lương Nam Bộ , người từng có nhiều năm phụ trách mục Tiếng thơ trên đài Tiếng nói Việtnam , nay về hưu - tường treo la liệt tranh và thơ. Ông vẫn là một người không thể quên Hà Nội, nên khi gặp đồng hương Thăng Long, ông trào nước mắt mà cười - một ông già Sài Gòn áo bà ba chính hiệu .
Tôi đã lang thang Sài Gòn, nếm vị phở bắc trong hương nắng, với cả giá đỗ sống và rau ngổ ba lá. Tôi đã nếm món bún ốc trên đường Võ Thị Sáu, với sợi bún to và cứng, con ốc hơi dai , ăn quả cóc trên hè phố với muối ớt ... để Sài Gòn thấm vào mình, để mình hòa vào Sài Gòn, những đại đồng tiểu dị, và đồng sàng đồng mộng với người bạn xa nhau lâu nay gặp ồn ã một Sài Gòn .
Theo Trần Huiền Ân
Hồi học tiểu học, tôi có đọc những cuốn thơ bình dân của nhà xuất bản Phạm Văn Thình ở Chợ Lớn (có bạn nói là Phạm Văn Thinh?). Nay còn nhở bốn câu thơ, không biết ở tác phẩm nào:
Này sự công chúa Quỳnh Nương
Trên lầu bước xuống thảm thương nhiều bề
Buồn đi dạo cảnh vườn lê
Sớm nương cội liễu tối về cội thung
Nơi trang bìa bốn các cuốn thơ này thường là một bài thơ quảng cáo. Như bài thơ quảng cáo cho tiệm Thanh Thanh, giới thiệu khá nhiều mặt hàng, có cả thuốc lào Cẩm Lệ và nước mắm nhỉ Liên Thành, nhưng trước hết là giới thiệu sách báo với quyển Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh:
Tiệm Thanh Thanh, tiệm Thanh Thanh
Góc đường De La Somme - Pellerin
Sách vở báo chí Trung Nam Bắc
Hán Việt từ điển Đào Duy Anh
Lại nhớ những buổi trưa bị bắt buộc ngủ mà không ngủ được, nằm nhìn lên trần mùng bồi bằng giấy báo, trong tầm mắt tôi là một mẩu tin chiến tranh Trung - Nhật và ô quảng cáo dầu khuynh diệp Viễn Đệ với hình người mang chai dầu lớn bằng cái gùi trên vai.
Bước vào tuổi trưởng thành tôi mới biết Sài Gòn. Đến Sài Gòn trong một chuyến máy bay đêm. Từ trên cao nhìn xuống, Sài Gòn là một vùng rộng lớn nhấp nháy những ánh đèn. Về nghỉ tại nhà một người quen ở đường Da Bà Bàu (Chợ Lớn - sau đổi là đường Nhật Tảo), sáng thức dậy vẫn là trên cao nhìn xuống, từ bao lơn tầng ba thấy Sài Gòn thật nhiều cây xanh. Cái ấn tượng đầu tiên của tôi với Sài Gòn là một đô thị đêm nhấp nháy đèn và sáng mượt mà xanh. Việc đầu tiên của tôi là đi tìm tiệm Thanh Thanh.
Lúc này De La Somme đã thành đại lộ Hàm Nghi, Pellerin đổi là Pasteur. Tôi, một cậu trai nhà quê xa lạ ngại ngùng không dám hỏi ai, không biết cái tiệm Thanh Thanh trong bài thơ quảng cáo ở phía nào của góc đường De La Somme và Pellerin cũ?
Từ đó, tuy không ở Sài Gòn nhưng tôi có nhiều dịp đến Sài Gòn, mỗi lần lưu lại mươi ngày, nửa tháng, đi xe lam, đi xe đạp và đi bộ len lỏi khắp các ngõ hẻm của Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định… Bến Vân Đồn nhà số chồng lên số, đường Lão Tử khuất lấp, Bình Hòa, Cây Thị còn thưa thớt dân cư. A, cái ngày ấy sao tôi đi khắp cả… Có rất nhiều chỗ bây giờ không còn hình dung ra được.
Bao nhiêu ngày tháng trôi qua. Bây giờ thường lấy mười năm làm một đơn vị tính. Sài Gòn rộng rãi hơn và đông đảo gấp bội. Bởi nó vốn là hai thành phố và một tỉnh: Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Đi qua Xóm Mới (Gò Vấp) không còn những khoảng ruộng xanh. Sài Gòn xe cộ kín đường và tốc độ choáng ngợp. Sài Gòn tất bật, vội vàng làm cho những người có tuổi sống ở các tỉnh nhỏ khó quen.
Cho nên khi ở xa nghĩ về Sài Gòn tôi vẫn nuôi giữ hình ảnh của một đô thị nhấp nháy sáng - mượt mà xanh của tuổi trẻ, một mình nhàn nhã len lỏi tìm tòi. Và mỗi lần qua đường Hàm Nghi tôi vẫn chưa quên câu hỏi: Cái tiệm Thanh Thanh xưa ấy ở phía nào của góc đường De La Somme - Pellerin ?
Theo Tưởng Năng Tiến
Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội“Mưa chiều nay như lệ khóc phần đất quê hương tù đầy.”
(Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội – Phạm Đình Chương & Hoàng Anh Tuấn)
Thi sĩ Hoàng Anh Tuấn ra đời ngày 7 tháng 5 năm 1932 tại Hà Nội. Ông đi du học năm 1949 và không bao giờ có dịp trở lại nơi sinh trưởng nữa. Không phải Hà Nội mà Paris, Sàigòn, Đà Lạt, và San Jose mới là những nơi ông đã sống gần hết cuộc đời lưu lạc của mình. Tuy thế, tác giả “Yêu Em, Hà Nội” (có lẽ) chưa bao giờ thôi nhớ đến thành phố này – dù chỉ một ngày – trong suốt những năm tháng tha hương. Hoàng Anh Tuấn qua đời sáng nay – ngày 1 tháng 9 năm 2006 – tại California. Bài viết này xin được coi như một nén hương lòng, gửi người đã khuất.
Nước Mắt Trước Cơn Mưa (Tears Before The Rain) là tựa một cuốn sách của Larry Engelmann do Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ, và Tin Biển xuất bản năm 1995. Tôi tiếc là mình đã quá tuổi để có thể đọc một tác phẩm dầy tới 360 trang bằng ngoại ngữ, và sẽ không bao giờ có cơ may đọc được bản dịch (bằng tiếng mẹ đẻ của mình) dù đã tình cờ nhìn thấy nó, đôi lần. Tôi đã trót thề sẽ không bao giờ đọc thêm bất cứ điều gì viết bởi ông Nguyễn Bá Trạc, bất kể bằng văn vần hay văn xuôi – kể luôn văn dịch.
Lý do giản dị như sau. Mùa hè năm 1985, từ Santa Clara, tôi di chuyển đến một thành phố kế cận – San Jose, thuộc tiểu bang California. Nơi đây, tôi hân hạnh được ở gần nhà một danh sĩ Việt Nam – nhà thơ Nguyễn Bá Trạc. Một người cầm bút tăm tiếng và cũng (hơi hơi) … tai tiếng.
Không bao lâu sau, tôi khám phá ra rằng giữa tôi và vị danh sĩ này có một nỗi bận tâm chung: chúng tôi đều rất dư thì giờ, đều quá rảnh, hay nói một cách rõ ràng hơn là đều … thất nghiệp – nếu hiểu nghề nghiệp, một cách đơn thuần, là làm chuyện gì đó có thể kiếm được ra tiền.
Bởi vậy nhà văn và nhà thơ Nguyễn Bá Trạc đều đặn thăm viếng tệ thất của tôi đôi/ba bận mỗi ngày, dù tôi chưa bao giờ tỏ ý mời – kể cả mời lơi. Đã nhiều lần tôi tỏ ý quan ngại rằng sự thân thiết quá mức như thế – rất có thể – làm phương hại đến tình đồng loại và tình đồng hương giữa chúng tôi.
Nguyễn Quân, tiếc thay, tuyệt đối không hề bận tâm đến điều này. Tuy không thốt ra bằng lời nhưng thái độ thản nhiên của ông, khi vẫn tiếp tục và đều đặn gõ cửa nhà tôi (sáng – trưa- chiều – tối), đã nói lên điều đó.
Thêm một chuyện đáng phàn nàn khác nữa (và chuyện này, dường như, định mệnh chỉ nhắm riêng tôi) là thời gian này danh sĩ Nguyễn Bá Trạc đang thai nghén một tác phẩm văn thơ tổng hợp, tác phẩm đầu tay của ông, có tên là Ngọn Cỏ Bồng.
Sáng tác, đối với đa số nghệ sĩ, là một việc làm thầm lặng. Nguyễn tiên sinh thì khác. Đã thế, ông còn (hoàn toàn) không đồng ý với tôi rằng ép buộc tha nhân phải nghe thơ văn của mình, cho dù là tuyệt tác chăng nữa, là một việc làm vô cùng không …tế nhị – nếu chưa muốn nói là nhẫn tâm. Đó là một hình thức “quấy nhiễu tri thức”(intellectual harassement), nếu nhìn vấn đề theo khía cạnh pháp lý.
Bởi vậy, trước khi cuốn Ngọn Cỏ Bồng được đem in, tôi đã phải nghe văn sĩ kiêm thi sĩ Nguyễn Bá Trạc đọc đi đọc lại bản thảo cỡ đâu khoảng một … tỉ lần – hay hơn nữa, không chừng! Câu chuyện mà Nguyễn Bá Trạc vô cùng lấy làm thú vị và đắc ý, có tên là “Ông Khó Tính”, đại khái như sau:
“Bạn tôi, ông Khó Tính, lúc còn ở Sàigòn vốn làm nghề mô phạm. Kể cả trường công lẫn trường tư, sĩ tử theo học kinh nghĩa có đến mấy nghìn. Gặp lúc can qua, học trò thì đông mà chả mấy ai hiển đạt: cứ học nủa chừng lại bị gọi đi lính, ba phần chết tiệt mất hai. Số còn lại trở về chống gậy, đi xe lăn. Thầy trò nhìn nhau nghẹn ngào chửi thề những câu tục tĩu…”
“Khi cộng sản từ Bắc tiến vào Nam, xe tăng vừa ì ạch đến sát cửa dinh Độc Lập thì ông Khó Tính quyết định dắt vợ cõng con xuống tàu lánh xa bạo ngược. Cuối cùng trôi dạt đến Mỹ. Đất lạ quê người, tiếng Anh ăn đong, kinh nghĩa nói không ai hiểu…”
“Từ ngày xa nhà, tính tình lại càng khó chịu hơn. Mặt mày hầm hầm, mồm lúc nào cũng lẩm nhẩm nói chuyện một mình. Chiều chiều đứng chống nạnh bắt con tập võ ta. Đứa đi quyền, đứa dang chân đứng tấn. Nguời bản xứ cho là lạ, tò mò rủ nhau nhìn trộm qua hàng rào như đi xem xiếc. Ban đêm bắt con học Việt sử. Đứa nào không thuộc bài thì co dò mà đá, đến nỗi bị cảnh sát còng cả tay.”
“Càng cay đắng, càng chửi, càng chê. Chê nguời gì mà nhiều lông lá, chê nhà chọc trời nhìn thêm mỏi mắt, có ngày động đất nó đổ xuống đầu cho mà khốn. Lại chửi trời nhiều hơn, chửi tục hơn, gọi trời là thằng không kiêng nể gì nữa…”
“Bạn khen biển, ông chê lạnh, tắm cóc sướng bằng Long Hải, Vũng Tầu. Bạn khen núi, ông bĩu môi: ’Tôi lấy làm ngờ về cái thẩm mỹ của anh. Núi trọc thế này so sao được gót chân Đại Lãnh?’
“Bạn ngượng, không còn dám mở mồm khen điều gì. Bụng bảo dạ:’Bọn Đông Dương ta khối đưá bị bịnh tâm thần’. Có ý thương xót mà lui tới thăm viếng nhiều hơn…”
“Một hôm nhận được bao trà từ Việt Nam gửi sang, bạn thân ái mời ông khó tình đến. Nước đun xủi tăm, trà trút vào bình, chủ khách ân cần đối ẩm.
Được đôi tuần, bạn lên tiếng hỏi:
- “Trà uống được không?’
Ông Khó Tính:
- “Cũng được. Nhưng thua Đỗ Hữu”.
Bạn cười dòn:
- “Bố ơi! Chính hiệu trà Đỗ Hữu Bảo Lộc vừa gửi sang.”
Ông Khó Tính:
- “ Thảo nào. Có điều cái nước máy chát qúa!”
Bạn chồm lên:
- “Biết tính bố thích trà Bảo Lộc, phải hứng nước mưa pha trà đây. Không phải nước máy đâu.”
Ông Khó Tính tuột giầy gãi nách ngáp:
- “Nước mưa ở Mỹ, uống vào đắng cả mồm!”
Tôi đã nghe khá nhiều danh gia ngỏ ý xuýt xoa tán thưởng sự duyên dáng (quá cỡ) của ông Nguyễn Bá Trạc qua câu chuyện viết về ông Khó Tính, nhất là ở câu nói cuối cùng – như vừa dẫn. Chao ơi, tôi thất vọng đến nỗi có thể chết (ngay) được vì sự hiểu biết quá giới hạn về môi sinh của văn sĩ kiêm thi sĩ Nguyễn Bá Trạc (nói riêng) và của giới danh sĩ Việt Nam ở hải ngoại (nói chung).
Ông Khó Tính không phải là một nhân vật hư cấu. Ông ta sống (ràng ràng) ở thành phố San Jose một thời gian khá lâu, cùng lúc với tôi và danh gia họ Nguyễn. Và nếu tôi nhớ không lầm, vào thời gian này, ông ta cũng rảnh, nghĩa là cũng đang thất nghiệp!
Nhờ đó, tôi đã có nhiều dịp được hân hạnh hầu chuyện cùng ông Khó Tính. Nhân sinh quan và vũ trụ quan của ông ra sao, phận kẻ hậu sinh, tôi (tuyệt nhiên) không dám lạm bàn nhưng nhận xét rằng “nước mưa ở Mỹ uống vào đắng cả mồm” – theo thiển ý – thì vô cùng chính xác.
Tôi bắt chiếc cổ nhân, ăn nói cầu kỳ (chút đỉnh) như thế cho ra vẻ mình cũng là người khiêm tốn. Chứ thực ra, nuớc mưa ở Mỹ uống ngang phè hay đắng cả mồm là một sự kiện hiển nhiên chứ chả dính dáng (mẹ) gì đến “tôn ý” hoặc “thiển ý” của bất cứ ai.
Những hoá chất như sulfur dioxide, nitrogen oxides … từ chất đốt của săng dầu than củi trong không khí, khi gặp môi trường không khí ẩm thấp sẽ góp phần tạo thành mưa hay tuyết với nồng độ acid cao – có thể làm ô nhiễm nước uống, hư hại nhà cửa, mùa màng và ảnh hưởng đến sinh hoạt của của nhiều sinh vật – là một tiến trình tự nhiên.
Khói xe, khói nhà máy phun tùm lum ở Mỹ vẫn được coi là nguyên nhân chính tạo ra nồng độ acid cao trong nước mưa. Uống vào đắng cả mồm là phải. Ông Khó Tính – dù thực sự đúng là một người không dễ tính chăng nữa – nói như thế thì có sai sót, oan ức chỗ nào đâu mà qúi vị che miệng chúm chím cười. Đã thế, còn dám xa gần ám chỉ rằng tinh thần ông ta (hơi) bất ổn.
Đã lâu, tôi không có dịp gặp lại ông Khó Tính dù thỉnh thoảng vẫn nhớ đến “cố nhân” – với đôi chút quan hoài, và rất nhiều… ái ngại! Sáng qua, tình cờ đọc lại một tờ báo cũ – Việt Báo USA, ấn bản Bắc California, số ra ngày 15 tháng 10 năm 98 – thấy loan tin mưa acid ở Việt Nam mỗi lúc một thường hơn, và nồng độ acid cũng cao hơn, đến độ có thể làm chết cá ở ao hồ.
Bài báo (viết theo bản tin của AP) cũng có trích dẫn lời một nhân viên thuộc Trung Tâm Khí Tượng Phía Nam, bà Nguyễn Kim Lan, cho rằng nguyên do chính của hiện tượng này là việc lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu, cùng với khói thải của nhà máy ở Việt Nam và từ những lân bang.
Ủa, chớ nhà máy nào ở xứ mình mà hoạt động dữ dội vậy kìa? Mỏ than Nông Sơn – ai cũng biết – muốn xụp tiệm tới nơi, đang ở tình trạng bỏ thì thương vương thì tội, chỉ còn được khai thác lai rai để giảm số người thất nghiệp. Nếu nó có tỏa khói thì nhiều lắm cũng chỉ là khói hâm cơm trưa của công nhân chứ làm gì đến độ gây ô nhiễm môi sinh, tạo thành mưa acid với nồng độ cao, làm hư hại mùa màng và chết cá?
Hay là nhà máy thép Thái Nguyên chăng? Sau 1975 thì cả nước đều rõ là cái nhà máy thổ tả này chỉ thực sự hoạt động (bằng mồm, theo kiểu trăm voi không được bát nước xáo) và đạt thành tích trên đài hay trên báo. Truyền thống này, chắc chắn, vẫn còn được giữ vững cho đến ngày nay. Báo Tiền Phong – số ra ngày 7 tháng 10 năm 2005 – đăng bài “Chúng Ta Chưa Tự Làm Được Cái Đinh Vít”, có đoạn, như sau: “… dù có hàng chục luận án tiến sĩ về tôi thép và cơ khí nhưng trong nước vẫn chưa tự làm được con ốc cho xe máy, ô tô đạt tiêu chuẩn quốc tế (cứ vặn là trờn ren)”.
Như vậy, không lẽ khói thải tùm lum lại từ những cơ xưởng kỹ nghệ của những lân bang cỡ như Miên Quốc hay Lào Quốc? Người Lào, dù đã vượt quá độ từ tư bản chủ nghĩa sang xã hội chủ nghĩa từ lâu, nghe đâu, vẫn còn đi xe bò lòng vòng trong thành phố và cưỡi voi dạo chơi tà tà ở trong rừng. Còn người Miên, cách đây chưa lâu, họ vẫn còn có thể (nhân danh chủ nghĩa cộng sản) giết hàng triệu người bằng cuốc chim hay chầy vồ gì đó. Đời sống của nhân dân ở hai nước xã hội chủ nghĩa láng giềng, cũng như ở nước ta, đâu mấy ai đụng chạm hay dính dáng gì tới máy móc mà có khói – ngoại trừ những lúc nướng khoai.
Vậy thì khói thải ở đâu ra? Lửa phải có ở chỗ nào mới được chớ? Không có lửa sao có khói? Tôi thực lòng không dám nghi ngờ độ khả tín và khả xác của nguồn tin từ tờ Việt Báo USA; tuy nhiên, vì chút bồn chồn lo lắng nên loay hoay vào “internet” truy tìm phần tin tức của AP để mong được hiểu biết sự việc rõ ràng hơn. Tôi không kiếm ra được bài báo dẫn thượng nhưng (chả may) lại thu lượm được nhiều sự kiện rất phiền lòng khác về tình trạng mưa acid ở Việt Nam.
Qua địa chỉ “web site” của South East Asian Science Policy Advisory Network tôi đọc được một bài báo ngắn của ông Nguyễn Hiệp – người mà tôi đoán là một chuyên gia hiện đang định cư tại Úc – có tựa là “Transboundary Sulfur Pollution &Vietnam” . Ông Nguyễn Hiệp đã bầy tỏ sự quan ngại rằng ở Đông Nam Á có những quốc gia chỉ tạo ra những lượng lưu huỳnh rất nhỏ nhưng lại phải chịu nhận sự tích tụ của loại hoá chất này rất lớn từ những lân bang hoặc ngay cả từ những quốc gia xa xôi khác. Việt Nam và Nepal là hai (receptor) “nạn nhân” điển hình trong vùng về tệ trạng này.
Tài liệu ông Hiệp trích dẫn cho thấy Trung Cộng là nước đứng thứ nhì thế giới về lượng thải sulfur, và hơn 60 phần trăm số lượng hoá chất này – từ cơ xưởng kỹ nghệ của họ – đã theo gió rơi rớt và tích tụ ở Việt Nam (R. Arndt, G. Carmichael, J. Roorda – Seasonal source-receptor relationship in Asia, Journal of Amostpheric Enviornment, Vol. 32, No.8, 1998, pp. 1397-1406).
Thảo nào, bà Nguyễn Kim Lan nào đó đã có vẻ ấp úng khi nói là nguyên do mưa acid một phần là do khói thải từ những nước lân bang nhưng không nói rõ từ đâu. Bà sợ làm mất lòng người anh em cộng sản láng giềng, dù nước Việt (từ lâu nay) đã trở thành cái thùng rác chứa đựng 60 phần trăm lượng hoá chất ô nhiễm của Trung Cộng – một quốc gia có lượng thải lưu huỳnh cao thứ nhì thế giới!
Thái độ nhũn nhặn thái quá và khó hiểu này, phần nào, có thể giải thích được nếu biết rằng sự ô nhiễm môi sinh ở Việt Nam hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến đời sống của giai cấp cầm quyền. Họ có dư phương tiện để tránh hết mọi điều bất tiện. Giai cấp bị trị, nhất là những người ở thôn quê, không có cái may mắn xa xỉ đó. Xin đơn cử một thí dụ.
Báo Lao Động, số 189, phát hành ngày 11 tháng 7 năm 2006 (trong mục “Bạn Đọc Viết”) có đề cập đến tình trạng nước uống ở làng An Bình, xã Cam Thanh, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị – như sau:
“Nước có lọc qua năm lần bảy lượt rồi cũng thế. Phèn – đục – đỏ ngầu là ‘bản chất’ của nguồn nước nơi ni” – anh Nguyễn Viết, Trưởng thôn An Bình – bức xúc: An Bình là vùng đất trũng, do đó sau những trận mưa lớn, lụt lội…, nó trở thành rốn chứa nước bẩn. Tất cả rác thải của các vùng lân cận đều trôi dạt về đây. Sau trận mưa, mùi xú uế của rác thải bao trùm lấy ngôi làng này…”
“Anh Hồng Văn Mừng – Chủ tịch xã Cam Thanh – cho biết: ’Một thôn có chưa đầy 1.000 nhân khẩu như An Bình mà đã có hơn 40 người mắc bệnh ung thư, quả là con số đáng để các cơ quan chức năng có kế hoạch kiểm tra một cách nghiêm túc về hiện tượng mắc bệnh của người dân’ – vị chủ tịch xã này trông sự mong mỏi vào cuộc ráo riết, cấp bách của ngành chức năng.
Mong lắm thay, một ngày gần nhất An Bình sẽ bình an .
Tôi thực lòng không tin rằng thôn An Bình – cũng như hàng ngàn vạn thôn làng khác nữa, trên quê hương mình – sẽ được sống bình an trong những ngày tháng tới.
Quê hương tôi ở vùng nhiệt đới, nơi đây mỗi năm chỉ có hai mùa: mưa và nắng. Vũ độ hàng năm tính hào phóng theo đơn vị mét (meter), nghĩa là cả trăm “inches”. Cũng chính nơi đây là xuất xứ của câu tục ngữ “hiền như một ngụm nước mưa”. Vậy mà, sau nửa thế kỷ đói ăn, đồng bào tôi – đã đến lúc – thiếu luôn nước uống.
















