Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội
Nhạc: Phạm Đình Chương & Hoàng Anh Tuấn
Giọng hát: Khánh Ly
Mưa Sài Gòn lại nhớ mưa Hà Nội, nhớ đến nôn nao mùa ổi chín và tiếng sấu rụng ngoài vườn.
Sài Gòn sau một đêm mưa, cái hơi gió lành lạnh mà thấy ấm áp trong lòng sợi nhớ sợi thương, trước những Lộc hoa đất trời gửi gắm vào mùa. Sài Gòn không có những con đường tháng ba với hoa gạo - mộc miên, những con đường ngập tán hương hoa sữa … Sài Gòn - “con đường có lá me bay” như hòa nhịp chung với cái rét Lộc tháng Hai của đất trời, vạn vật cây cối xung quanh cũng mơn mởn những chồi non xanh tươi đâm ra trước gió vẫy gọi lòng người...

Theo Băng Tâm:

Hẳn không phải người miền Nam nào cũng đã được đến thăm thủ đô Hà Nội và đương nhiên không hẳn người Hà Nội nào cũng đòi đặt chân đến Sài Gòn, đất Trấn Biên xưa và đang là thành phố lớn nhất nước. Nhưng có lẽ ấn tượng về Hà Nội - Thăng Long, tưởng tượng về thành phố phương Nam rỡ ràng nắng lửa với những trận mưa rào quá thảng thốt như lá me bay ... thì người Việt chúng ta luôn mang nó trong lòng, nếu một lần đến sẽ là hoài niệm, nếu chưa một lần qua là thương nhớ đợi chờ .

Cách đây khoảng trên dưới 50 năm, khi Sài Thành vào tuổi 250, Nguyễn Tuân từng nổi máu giang hồ, nhảy lên con tàu lửa vài toa, một mạch vượt những khúc lưng rồng xương sống đất nước, không hiểu lòng lòng ông đã hòa Hà Nội vào Sài Gòn, hoà Sài Gòn vào Hà Nội như thế nào, khi con người luôn Thiếu quê hương ấy ốp đồng trong những câu văn quằn quại ?

Câu thơ Nguyễn Bính tha hương khi thì Chợ Quán khi thì Đakao..., anh chàng thi sĩ đồng quê mà lang bạt với những Hành phương Nam ấy có qua những cái tên không Hà Nội, chẳng Nam Định, càng không Huế : Bà Quẹo, Hàng Xanh, Cầu Muối, Thị Nghè, Sở Thú ... để rồi từ đó một lèo ra bưng kháng chiến, với những câu thơ xót dạ :

... Hai ta lưu lạc phương Nam này
Trải mấy mùa qua én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
Riêng ta với người buồn vậy thay ! ...


vẫn là trên đất nước mình sao lại mang tâm trạng bơ vơ lưu lạc ?

Thì ra con đường xuôi Nam thiên lý của dân tộc đã thành con đường trong mỗi lòng con người, không con phân biệt bắc, nam!
Từng thời gian dài, Hà Nội được gọi là Hà Thành hoa lệ, còn Sài Gòn gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông. Cốm HàNội đi máy bay vào đó, xoài cát từ trong đó bay ra. Hình ảnh người con trai da ngăm đen, có hiếc răng vàng, đầu đội mũ phớt lệch ngang ngang tàng, gọi là công tử Bạc Liêu, anh Hai Nam Bộ, anh Năm Sài Gòn, với giọng nói ấm trầm ... đã quen với người Hà Nội. Người miền bắc hòa đồng Nam Bộ và Sài Gòn làm một. Ít ai phân biệt đâu là Tiền Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Cà Mau hay Kiên Giang, Rạch Giá ... mà chỉ biết đó cũng là người Việtnam ta, ở tít tận phương Nam nắng gió, sống hiên ngang, phóng khoáng, không cần chắt bóp như người đồng bằng Bắc Bộ quen cùng lam lũ ...

Tôi từng nhiều lần tạm biệt Hồ Gươm, Hồ Tây vào với Sài Gòn trong nhiều mùa khác nhau. Kể cả lúc Sài Gòn chưa nhiều cao ốc, cái chợ cũ Võ Di Nguy gần chợ Bến Thành còn là cái chợ trời inh ỏi băng cát xét, cạnh đó là cả một phố dài la liệt sách cũ làm mình mê mẩn; đêm nằm ngủ ở khách sạn loại sang; nhưng ăn nắm bột mì hấp của bữa cơm hai hào và tôi lang thang tìm người bạn cũ.

Sài Gòn không như Hà Nội, đường phố nào cũng dài. Nếu phố hồ Hoàn kiếm bên bờ hồ Gươm, trông sang phố Cầu Gỗ ngắn nhất, chỉ vừa 52 mét, điển hình cho một phố ngắn Hà Nội, thì Sài Gòn có những con đường không thể đi bộ, nó dài hàng chục cây số ngàn (cây số ngàn là tôi nói theo tác giả Vương Hồng Sển, có lý hơn là nói cây số ), như đường Trần Hưng Đạo nối Sài Gòn với Chợ Lớn, như đường Xô- Viết Nghệ Tĩnh, và hàng chục con đường khác .

Sài Gòn cũng như Hà Nội, khá nhiều chợ: Bến Thành, Chợ Lớn, An Đông, Tân Định, Bà Chiểu, Hòa Hưng...không đếm xuể như Hà Nội có chợ Đồng Xuân, chợ Hôm, chợ Mơ, chợ Bưởi, cả chợ có cái tên kỳ quặc là chợ Âm phủ ... Ai cũng dễ bị ngợp vì hoa trái miền Nam trong các chợ Sài Gòn, cho đến thời điểm 300 năm này, Hà Nội không còn khác biệt, đã quen với xoài, măng cụt, vú sữa, chôm chôm, mãng cầu, sầu riêng, cam xanh, nhãn trong dịp Tết ( miền bắc tháng 6 mới có nhãn ), cho đến hủ tiếu, sực tắc bán rao trên các đường phố lúc về đêm. ( Hà Nội đã mất hẳn tiếng rao nhu sênh phách ấy rồi !).

Một lần nhà báo Trần Thanh Phương khoe những bản địa chỉ và tư liệu về Sài Gòn, về Lục tỉnh, về đồng bằng sông Cửu Long mà anh biên khảo đầy yêu mến với miền anh sinh trưởng, dù anh cũng đã từng gắn bó với Hà Nội mấy chục năm. Chúng tôi đọc nghiến ngấu với bao háo hức về vùng đất của nước non mình mà mình chưa được biết.

Sài Gòn, một thành phố trẻ mà tưng bừng, vươn lên mạnh mẽ, đi đầu cả nước về công nghiệp. Ba trăm năm, so với gần ngàn năm Hà Nội, thì sức bật ấy quả là đáng tự hào và kinh ngạc, nó mới già hơn nước Mỹ một chút ít; nhưng cái nối nó vào với dân tộc và đất nước lá ngấm sâu nguồn mạch, bất tận chan chứa, đang phát huy chất Việtnam, dù có pha tạp bởi nó ở ngã ba con đường văn hóa đông, tây .

Hà Nội mùa này vẫn đang còn ấm ướt và se lạnh trong mưa xuân. Mỗi đêm, lắng nghe bản tin thời tiết, không thể bỏ qua đoạn nói về SaiGon mưa nắng ra sao, nhiệt độ 33 hay 35, nghĩ về một thành phố rất quen thuộc với mình trong tâm tưởng; nhưng cũng rất xa lạ với mình khi mỗi lần gặp lại là một bỡ ngỡ, vì đổi thay rất tốc độ - nghĩ về những bạn ngồi trong phòng máy lạnh hay người bạn ở nhà mái tôn, ban ngày không thể ngồi trong nhà; mà phải đến một chỗ nào đó tránh nóng; đêm về mới hì hục miệt mài cùng trang bản thảo góp vào đời sống tinh thần của thành phố có thể tới hàng chục triệu dân ấy .

Những chiếc toa tàu hạng ba sơn màu đỏ mà Nguyễn Tuân đi giang hồ, nay ở đâu? Những quán cơm vỉa hè mà Nguyễn Bính ngồi ăn như một kẻ tha hương, chắc đã thành thiên cổ. Ngôi nhà tập thể ở ngoại vi thành phố, chỗ trú ngụ của nhà thơ Hoàng Tấn, thường ký bút danh Hồ Tăng Ấn , trong các bài ca cải lương Nam Bộ , người từng có nhiều năm phụ trách mục Tiếng thơ trên đài Tiếng nói Việtnam , nay về hưu - tường treo la liệt tranh và thơ. Ông vẫn là một người không thể quên Hà Nội, nên khi gặp đồng hương Thăng Long, ông trào nước mắt mà cười - một ông già Sài Gòn áo bà ba chính hiệu .

Tôi đã lang thang Sài Gòn, nếm vị phở bắc trong hương nắng, với cả giá đỗ sống và rau ngổ ba lá. Tôi đã nếm món bún ốc trên đường Võ Thị Sáu, với sợi bún to và cứng, con ốc hơi dai , ăn quả cóc trên hè phố với muối ớt ... để Sài Gòn thấm vào mình, để mình hòa vào Sài Gòn, những đại đồng tiểu dị, và đồng sàng đồng mộng với người bạn xa nhau lâu nay gặp ồn ã một Sài Gòn .

Theo Trần Huiền Ân

Hồi học tiểu học, tôi có đọc những cuốn thơ bình dân của nhà xuất bản Phạm Văn Thình ở Chợ Lớn (có bạn nói là Phạm Văn Thinh?). Nay còn nhở bốn câu thơ, không biết ở tác phẩm nào:

Này sự công chúa Quỳnh Nương
Trên lầu bước xuống thảm thương nhiều bề
Buồn đi dạo cảnh vườn lê
Sớm nương cội liễu tối về cội thung


Nơi trang bìa bốn các cuốn thơ này thường là một bài thơ quảng cáo. Như bài thơ quảng cáo cho tiệm Thanh Thanh, giới thiệu khá nhiều mặt hàng, có cả thuốc lào Cẩm Lệ và nước mắm nhỉ Liên Thành, nhưng trước hết là giới thiệu sách báo với quyển Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh:

Tiệm Thanh Thanh, tiệm Thanh Thanh

Góc đường De La Somme - Pellerin

Sách vở báo chí Trung Nam Bắc

Hán Việt từ điển Đào Duy Anh

Lại nhớ những buổi trưa bị bắt buộc ngủ mà không ngủ được, nằm nhìn lên trần mùng bồi bằng giấy báo, trong tầm mắt tôi là một mẩu tin chiến tranh Trung - Nhật và ô quảng cáo dầu khuynh diệp Viễn Đệ với hình người mang chai dầu lớn bằng cái gùi trên vai.

Bước vào tuổi trưởng thành tôi mới biết Sài Gòn. Đến Sài Gòn trong một chuyến máy bay đêm. Từ trên cao nhìn xuống, Sài Gòn là một vùng rộng lớn nhấp nháy những ánh đèn. Về nghỉ tại nhà một người quen ở đường Da Bà Bàu (Chợ Lớn - sau đổi là đường Nhật Tảo), sáng thức dậy vẫn là trên cao nhìn xuống, từ bao lơn tầng ba thấy Sài Gòn thật nhiều cây xanh. Cái ấn tượng đầu tiên của tôi với Sài Gòn là một đô thị đêm nhấp nháy đèn và sáng mượt mà xanh. Việc đầu tiên của tôi là đi tìm tiệm Thanh Thanh.

Lúc này De La Somme đã thành đại lộ Hàm Nghi, Pellerin đổi là Pasteur. Tôi, một cậu trai nhà quê xa lạ ngại ngùng không dám hỏi ai, không biết cái tiệm Thanh Thanh trong bài thơ quảng cáo ở phía nào của góc đường De La Somme và Pellerin cũ?

Từ đó, tuy không ở Sài Gòn nhưng tôi có nhiều dịp đến Sài Gòn, mỗi lần lưu lại mươi ngày, nửa tháng, đi xe lam, đi xe đạp và đi bộ len lỏi khắp các ngõ hẻm của Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định… Bến Vân Đồn nhà số chồng lên số, đường Lão Tử khuất lấp, Bình Hòa, Cây Thị còn thưa thớt dân cư. A, cái ngày ấy sao tôi đi khắp cả… Có rất nhiều chỗ bây giờ không còn hình dung ra được.

Bao nhiêu ngày tháng trôi qua. Bây giờ thường lấy mười năm làm một đơn vị tính. Sài Gòn rộng rãi hơn và đông đảo gấp bội. Bởi nó vốn là hai thành phố và một tỉnh: Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Đi qua Xóm Mới (Gò Vấp) không còn những khoảng ruộng xanh. Sài Gòn xe cộ kín đường và tốc độ choáng ngợp. Sài Gòn tất bật, vội vàng làm cho những người có tuổi sống ở các tỉnh nhỏ khó quen.

Cho nên khi ở xa nghĩ về Sài Gòn tôi vẫn nuôi giữ hình ảnh của một đô thị nhấp nháy sáng - mượt mà xanh của tuổi trẻ, một mình nhàn nhã len lỏi tìm tòi. Và mỗi lần qua đường Hàm Nghi tôi vẫn chưa quên câu hỏi: Cái tiệm Thanh Thanh xưa ấy ở phía nào của góc đường De La Somme - Pellerin ?

Theo Tưởng Năng Tiến

Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội“Mưa chiều nay như lệ khóc phần đất quê hương tù đầy.”
(Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội – Phạm Đình Chương & Hoàng Anh Tuấn)

Thi sĩ Hoàng Anh Tuấn ra đời ngày 7 tháng 5 năm 1932 tại Hà Nội. Ông đi du học năm 1949 và không bao giờ có dịp trở lại nơi sinh trưởng nữa. Không phải Hà Nội mà Paris, Sàigòn, Đà Lạt, và San Jose mới là những nơi ông đã sống gần hết cuộc đời lưu lạc của mình. Tuy thế, tác giả “Yêu Em, Hà Nội” (có lẽ) chưa bao giờ thôi nhớ đến thành phố này – dù chỉ một ngày – trong suốt những năm tháng tha hương. Hoàng Anh Tuấn qua đời sáng nay – ngày 1 tháng 9 năm 2006 – tại California. Bài viết này xin được coi như một nén hương lòng, gửi người đã khuất.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa (Tears Before The Rain) là tựa một cuốn sách của Larry Engelmann do Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ, và Tin Biển xuất bản năm 1995. Tôi tiếc là mình đã quá tuổi để có thể đọc một tác phẩm dầy tới 360 trang bằng ngoại ngữ, và sẽ không bao giờ có cơ may đọc được bản dịch (bằng tiếng mẹ đẻ của mình) dù đã tình cờ nhìn thấy nó, đôi lần. Tôi đã trót thề sẽ không bao giờ đọc thêm bất cứ điều gì viết bởi ông Nguyễn Bá Trạc, bất kể bằng văn vần hay văn xuôi – kể luôn văn dịch.
Lý do giản dị như sau. Mùa hè năm 1985, từ Santa Clara, tôi di chuyển đến một thành phố kế cận – San Jose, thuộc tiểu bang California. Nơi đây, tôi hân hạnh được ở gần nhà một danh sĩ Việt Nam – nhà thơ Nguyễn Bá Trạc. Một người cầm bút tăm tiếng và cũng (hơi hơi) … tai tiếng.

Không bao lâu sau, tôi khám phá ra rằng giữa tôi và vị danh sĩ này có một nỗi bận tâm chung: chúng tôi đều rất dư thì giờ, đều quá rảnh, hay nói một cách rõ ràng hơn là đều … thất nghiệp – nếu hiểu nghề nghiệp, một cách đơn thuần, là làm chuyện gì đó có thể kiếm được ra tiền.

Bởi vậy nhà văn và nhà thơ Nguyễn Bá Trạc đều đặn thăm viếng tệ thất của tôi đôi/ba bận mỗi ngày, dù tôi chưa bao giờ tỏ ý mời – kể cả mời lơi. Đã nhiều lần tôi tỏ ý quan ngại rằng sự thân thiết quá mức như thế – rất có thể – làm phương hại đến tình đồng loại và tình đồng hương giữa chúng tôi.
Nguyễn Quân, tiếc thay, tuyệt đối không hề bận tâm đến điều này. Tuy không thốt ra bằng lời nhưng thái độ thản nhiên của ông, khi vẫn tiếp tục và đều đặn gõ cửa nhà tôi (sáng – trưa- chiều – tối), đã nói lên điều đó.
Thêm một chuyện đáng phàn nàn khác nữa (và chuyện này, dường như, định mệnh chỉ nhắm riêng tôi) là thời gian này danh sĩ Nguyễn Bá Trạc đang thai nghén một tác phẩm văn thơ tổng hợp, tác phẩm đầu tay của ông, có tên là Ngọn Cỏ Bồng.

Sáng tác, đối với đa số nghệ sĩ, là một việc làm thầm lặng. Nguyễn tiên sinh thì khác. Đã thế, ông còn (hoàn toàn) không đồng ý với tôi rằng ép buộc tha nhân phải nghe thơ văn của mình, cho dù là tuyệt tác chăng nữa, là một việc làm vô cùng không …tế nhị – nếu chưa muốn nói là nhẫn tâm. Đó là một hình thức “quấy nhiễu tri thức”(intellectual harassement), nếu nhìn vấn đề theo khía cạnh pháp lý.

Bởi vậy, trước khi cuốn Ngọn Cỏ Bồng được đem in, tôi đã phải nghe văn sĩ kiêm thi sĩ Nguyễn Bá Trạc đọc đi đọc lại bản thảo cỡ đâu khoảng một … tỉ lần – hay hơn nữa, không chừng! Câu chuyện mà Nguyễn Bá Trạc vô cùng lấy làm thú vị và đắc ý, có tên là “Ông Khó Tính”, đại khái như sau:
“Bạn tôi, ông Khó Tính, lúc còn ở Sàigòn vốn làm nghề mô phạm. Kể cả trường công lẫn trường tư, sĩ tử theo học kinh nghĩa có đến mấy nghìn. Gặp lúc can qua, học trò thì đông mà chả mấy ai hiển đạt: cứ học nủa chừng lại bị gọi đi lính, ba phần chết tiệt mất hai. Số còn lại trở về chống gậy, đi xe lăn. Thầy trò nhìn nhau nghẹn ngào chửi thề những câu tục tĩu…”
“Khi cộng sản từ Bắc tiến vào Nam, xe tăng vừa ì ạch đến sát cửa dinh Độc Lập thì ông Khó Tính quyết định dắt vợ cõng con xuống tàu lánh xa bạo ngược. Cuối cùng trôi dạt đến Mỹ. Đất lạ quê người, tiếng Anh ăn đong, kinh nghĩa nói không ai hiểu…”

“Từ ngày xa nhà, tính tình lại càng khó chịu hơn. Mặt mày hầm hầm, mồm lúc nào cũng lẩm nhẩm nói chuyện một mình. Chiều chiều đứng chống nạnh bắt con tập võ ta. Đứa đi quyền, đứa dang chân đứng tấn. Nguời bản xứ cho là lạ, tò mò rủ nhau nhìn trộm qua hàng rào như đi xem xiếc. Ban đêm bắt con học Việt sử. Đứa nào không thuộc bài thì co dò mà đá, đến nỗi bị cảnh sát còng cả tay.”

“Càng cay đắng, càng chửi, càng chê. Chê nguời gì mà nhiều lông lá, chê nhà chọc trời nhìn thêm mỏi mắt, có ngày động đất nó đổ xuống đầu cho mà khốn. Lại chửi trời nhiều hơn, chửi tục hơn, gọi trời là thằng không kiêng nể gì nữa…”
“Bạn khen biển, ông chê lạnh, tắm cóc sướng bằng Long Hải, Vũng Tầu. Bạn khen núi, ông bĩu môi: ’Tôi lấy làm ngờ về cái thẩm mỹ của anh. Núi trọc thế này so sao được gót chân Đại Lãnh?’
“Bạn ngượng, không còn dám mở mồm khen điều gì. Bụng bảo dạ:’Bọn Đông Dương ta khối đưá bị bịnh tâm thần’. Có ý thương xót mà lui tới thăm viếng nhiều hơn…”
“Một hôm nhận được bao trà từ Việt Nam gửi sang, bạn thân ái mời ông khó tình đến. Nước đun xủi tăm, trà trút vào bình, chủ khách ân cần đối ẩm.
Được đôi tuần, bạn lên tiếng hỏi:
- “Trà uống được không?’
Ông Khó Tính:
- “Cũng được. Nhưng thua Đỗ Hữu”.
Bạn cười dòn:
- “Bố ơi! Chính hiệu trà Đỗ Hữu Bảo Lộc vừa gửi sang.”
Ông Khó Tính:
- “ Thảo nào. Có điều cái nước máy chát qúa!”
Bạn chồm lên:
- “Biết tính bố thích trà Bảo Lộc, phải hứng nước mưa pha trà đây. Không phải nước máy đâu.”
Ông Khó Tính tuột giầy gãi nách ngáp:
- “Nước mưa ở Mỹ, uống vào đắng cả mồm!”
Tôi đã nghe khá nhiều danh gia ngỏ ý xuýt xoa tán thưởng sự duyên dáng (quá cỡ) của ông Nguyễn Bá Trạc qua câu chuyện viết về ông Khó Tính, nhất là ở câu nói cuối cùng – như vừa dẫn. Chao ơi, tôi thất vọng đến nỗi có thể chết (ngay) được vì sự hiểu biết quá giới hạn về môi sinh của văn sĩ kiêm thi sĩ Nguyễn Bá Trạc (nói riêng) và của giới danh sĩ Việt Nam ở hải ngoại (nói chung).

Ông Khó Tính không phải là một nhân vật hư cấu. Ông ta sống (ràng ràng) ở thành phố San Jose một thời gian khá lâu, cùng lúc với tôi và danh gia họ Nguyễn. Và nếu tôi nhớ không lầm, vào thời gian này, ông ta cũng rảnh, nghĩa là cũng đang thất nghiệp!

Nhờ đó, tôi đã có nhiều dịp được hân hạnh hầu chuyện cùng ông Khó Tính. Nhân sinh quan và vũ trụ quan của ông ra sao, phận kẻ hậu sinh, tôi (tuyệt nhiên) không dám lạm bàn nhưng nhận xét rằng “nước mưa ở Mỹ uống vào đắng cả mồm” – theo thiển ý – thì vô cùng chính xác.

Tôi bắt chiếc cổ nhân, ăn nói cầu kỳ (chút đỉnh) như thế cho ra vẻ mình cũng là người khiêm tốn. Chứ thực ra, nuớc mưa ở Mỹ uống ngang phè hay đắng cả mồm là một sự kiện hiển nhiên chứ chả dính dáng (mẹ) gì đến “tôn ý” hoặc “thiển ý” của bất cứ ai.

Những hoá chất như sulfur dioxide, nitrogen oxides … từ chất đốt của săng dầu than củi trong không khí, khi gặp môi trường không khí ẩm thấp sẽ góp phần tạo thành mưa hay tuyết với nồng độ acid cao – có thể làm ô nhiễm nước uống, hư hại nhà cửa, mùa màng và ảnh hưởng đến sinh hoạt của của nhiều sinh vật – là một tiến trình tự nhiên.

Khói xe, khói nhà máy phun tùm lum ở Mỹ vẫn được coi là nguyên nhân chính tạo ra nồng độ acid cao trong nước mưa. Uống vào đắng cả mồm là phải. Ông Khó Tính – dù thực sự đúng là một người không dễ tính chăng nữa – nói như thế thì có sai sót, oan ức chỗ nào đâu mà qúi vị che miệng chúm chím cười. Đã thế, còn dám xa gần ám chỉ rằng tinh thần ông ta (hơi) bất ổn.

Đã lâu, tôi không có dịp gặp lại ông Khó Tính dù thỉnh thoảng vẫn nhớ đến “cố nhân” – với đôi chút quan hoài, và rất nhiều… ái ngại! Sáng qua, tình cờ đọc lại một tờ báo cũ – Việt Báo USA, ấn bản Bắc California, số ra ngày 15 tháng 10 năm 98 – thấy loan tin mưa acid ở Việt Nam mỗi lúc một thường hơn, và nồng độ acid cũng cao hơn, đến độ có thể làm chết cá ở ao hồ.

Bài báo (viết theo bản tin của AP) cũng có trích dẫn lời một nhân viên thuộc Trung Tâm Khí Tượng Phía Nam, bà Nguyễn Kim Lan, cho rằng nguyên do chính của hiện tượng này là việc lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu, cùng với khói thải của nhà máy ở Việt Nam và từ những lân bang.
Ủa, chớ nhà máy nào ở xứ mình mà hoạt động dữ dội vậy kìa? Mỏ than Nông Sơn – ai cũng biết – muốn xụp tiệm tới nơi, đang ở tình trạng bỏ thì thương vương thì tội, chỉ còn được khai thác lai rai để giảm số người thất nghiệp. Nếu nó có tỏa khói thì nhiều lắm cũng chỉ là khói hâm cơm trưa của công nhân chứ làm gì đến độ gây ô nhiễm môi sinh, tạo thành mưa acid với nồng độ cao, làm hư hại mùa màng và chết cá?

Hay là nhà máy thép Thái Nguyên chăng? Sau 1975 thì cả nước đều rõ là cái nhà máy thổ tả này chỉ thực sự hoạt động (bằng mồm, theo kiểu trăm voi không được bát nước xáo) và đạt thành tích trên đài hay trên báo. Truyền thống này, chắc chắn, vẫn còn được giữ vững cho đến ngày nay. Báo Tiền Phong – số ra ngày 7 tháng 10 năm 2005 – đăng bài “Chúng Ta Chưa Tự Làm Được Cái Đinh Vít”, có đoạn, như sau: “… dù có hàng chục luận án tiến sĩ về tôi thép và cơ khí nhưng trong nước vẫn chưa tự làm được con ốc cho xe máy, ô tô đạt tiêu chuẩn quốc tế (cứ vặn là trờn ren)”.
Như vậy, không lẽ khói thải tùm lum lại từ những cơ xưởng kỹ nghệ của những lân bang cỡ như Miên Quốc hay Lào Quốc? Người Lào, dù đã vượt quá độ từ tư bản chủ nghĩa sang xã hội chủ nghĩa từ lâu, nghe đâu, vẫn còn đi xe bò lòng vòng trong thành phố và cưỡi voi dạo chơi tà tà ở trong rừng. Còn người Miên, cách đây chưa lâu, họ vẫn còn có thể (nhân danh chủ nghĩa cộng sản) giết hàng triệu người bằng cuốc chim hay chầy vồ gì đó. Đời sống của nhân dân ở hai nước xã hội chủ nghĩa láng giềng, cũng như ở nước ta, đâu mấy ai đụng chạm hay dính dáng gì tới máy móc mà có khói – ngoại trừ những lúc nướng khoai.

Vậy thì khói thải ở đâu ra? Lửa phải có ở chỗ nào mới được chớ? Không có lửa sao có khói? Tôi thực lòng không dám nghi ngờ độ khả tín và khả xác của nguồn tin từ tờ Việt Báo USA; tuy nhiên, vì chút bồn chồn lo lắng nên loay hoay vào “internet” truy tìm phần tin tức của AP để mong được hiểu biết sự việc rõ ràng hơn. Tôi không kiếm ra được bài báo dẫn thượng nhưng (chả may) lại thu lượm được nhiều sự kiện rất phiền lòng khác về tình trạng mưa acid ở Việt Nam.

Qua địa chỉ “web site” của South East Asian Science Policy Advisory Network tôi đọc được một bài báo ngắn của ông Nguyễn Hiệp – người mà tôi đoán là một chuyên gia hiện đang định cư tại Úc – có tựa là “Transboundary Sulfur Pollution &Vietnam” . Ông Nguyễn Hiệp đã bầy tỏ sự quan ngại rằng ở Đông Nam Á có những quốc gia chỉ tạo ra những lượng lưu huỳnh rất nhỏ nhưng lại phải chịu nhận sự tích tụ của loại hoá chất này rất lớn từ những lân bang hoặc ngay cả từ những quốc gia xa xôi khác. Việt Nam và Nepal là hai (receptor) “nạn nhân” điển hình trong vùng về tệ trạng này.

Tài liệu ông Hiệp trích dẫn cho thấy Trung Cộng là nước đứng thứ nhì thế giới về lượng thải sulfur, và hơn 60 phần trăm số lượng hoá chất này – từ cơ xưởng kỹ nghệ của họ – đã theo gió rơi rớt và tích tụ ở Việt Nam (R. Arndt, G. Carmichael, J. Roorda – Seasonal source-receptor relationship in Asia, Journal of Amostpheric Enviornment, Vol. 32, No.8, 1998, pp. 1397-1406).

Thảo nào, bà Nguyễn Kim Lan nào đó đã có vẻ ấp úng khi nói là nguyên do mưa acid một phần là do khói thải từ những nước lân bang nhưng không nói rõ từ đâu. Bà sợ làm mất lòng người anh em cộng sản láng giềng, dù nước Việt (từ lâu nay) đã trở thành cái thùng rác chứa đựng 60 phần trăm lượng hoá chất ô nhiễm của Trung Cộng – một quốc gia có lượng thải lưu huỳnh cao thứ nhì thế giới!

Thái độ nhũn nhặn thái quá và khó hiểu này, phần nào, có thể giải thích được nếu biết rằng sự ô nhiễm môi sinh ở Việt Nam hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến đời sống của giai cấp cầm quyền. Họ có dư phương tiện để tránh hết mọi điều bất tiện. Giai cấp bị trị, nhất là những người ở thôn quê, không có cái may mắn xa xỉ đó. Xin đơn cử một thí dụ.

Báo Lao Động, số 189, phát hành ngày 11 tháng 7 năm 2006 (trong mục “Bạn Đọc Viết”) có đề cập đến tình trạng nước uống ở làng An Bình, xã Cam Thanh, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị – như sau:
“Nước có lọc qua năm lần bảy lượt rồi cũng thế. Phèn – đục – đỏ ngầu là ‘bản chất’ của nguồn nước nơi ni” – anh Nguyễn Viết, Trưởng thôn An Bình – bức xúc: An Bình là vùng đất trũng, do đó sau những trận mưa lớn, lụt lội…, nó trở thành rốn chứa nước bẩn. Tất cả rác thải của các vùng lân cận đều trôi dạt về đây. Sau trận mưa, mùi xú uế của rác thải bao trùm lấy ngôi làng này…”

“Anh Hồng Văn Mừng – Chủ tịch xã Cam Thanh – cho biết: ’Một thôn có chưa đầy 1.000 nhân khẩu như An Bình mà đã có hơn 40 người mắc bệnh ung thư, quả là con số đáng để các cơ quan chức năng có kế hoạch kiểm tra một cách nghiêm túc về hiện tượng mắc bệnh của người dân’ – vị chủ tịch xã này trông sự mong mỏi vào cuộc ráo riết, cấp bách của ngành chức năng.

Mong lắm thay, một ngày gần nhất An Bình sẽ bình an .
Tôi thực lòng không tin rằng thôn An Bình – cũng như hàng ngàn vạn thôn làng khác nữa, trên quê hương mình – sẽ được sống bình an trong những ngày tháng tới.

Quê hương tôi ở vùng nhiệt đới, nơi đây mỗi năm chỉ có hai mùa: mưa và nắng. Vũ độ hàng năm tính hào phóng theo đơn vị mét (meter), nghĩa là cả trăm “inches”. Cũng chính nơi đây là xuất xứ của câu tục ngữ “hiền như một ngụm nước mưa”. Vậy mà, sau nửa thế kỷ đói ăn, đồng bào tôi – đã đến lúc – thiếu luôn nước uống.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Tụy Tâm Ngư.

Chưa khi nào anh yêu chị, nhưng vẫn sống cùng chị đến cuối đời. Từ lúc còn trẻ, anh đã sớm thành danh trong giới văn nghệ sĩ. Cha mẹ anh dường như biết được rằng người nghệ sĩ tâm hồn phóng khoáng nên họ đã cưới chị cho anh rất sớm. Chị không đẹp, chữ nghĩa cũng không nhiều, tính tình lặng lẽ, cam chịu. Sống với chị, nhiều lúc anh chán nản, nhưng ngại vì dư luận chê cười, anh không nỡ hắt hủi chị mà lén lút ngoại tình. Những nụ hồng hàm tiếu, lời nói dịu dàng, vòng tay ấm áp anh không dành cho chị mà nó trôi theo năm tháng lơi lỏng của anh.

Anh làm gì bên ngoài chị biết rõ cả, biết rồi để đấy, chỉ mỗi ngày qua chị thầm lặng, ít lời hơn, nhẫn nại thu vén việc nhà, chăm lo bố mẹ thay anh. Cuộc sống cứ trôi, chị vẫn lặng lẽ, người ngoài trông vào ai cũng khen vợ chồng chị hạnh phúc.

Thế rồi, không biết vì lý do gì mà anh không thể sáng tác được nữa. Những buổi nhậu nhẹt thưa dần. Anh thấy mình vô dụng giữa đất này. Thế là anh quyết định đưa cả nhà đến một nông trường xa xôi. Rồi anh đổ bệnh, những cơn đau lưng vật vã vắt kiệt của anh từng giọt mồ hôi và sức lực. Chị vẫn bên anh sớm tối chịu đựng để kéo dài sự sống cho anh. Mỗi bận trở về nhà, anh nằm vật ra giường tưởng như không thể nhấc nổi mình dậy nữa, chị còn ở trong bếp đang đỏ lửa bận rộn.

Chưa bao giờ chị hưởng trọn vẹn tình yêu chồng vợ với anh, nhưng anh lại mang đến cho chị bao lo buồn. Anh vẫn không hề yêu chị, đôi khi ít nhiều vẫn cố tình gây sự làm chị đau lòng thêm. Nông trường ở gần hồ, thỉnh thoảng các gia đình được phần cá tươi để cải thiện, hoạ hoằn lắm anh mới gắp vào bát của chị một đũa.

Chị gắp trở lại nói : " Em không ăn cá ". Lúc đầu anh ngỡ chị nhường chồng con nhưng sau này mới biết chị không hề biết ăn cá.

Thời gian trôi nhanh như người ta lật từng trang tiểu thuyết. Cuộc sống dễ chịu thêm một chút, anh dần bình phục và trở về trên chiếc bàn viết nhưng vẫn không thể như thời hoàng kim đã qua. Có điều kiện chăm lo bồi dưỡng, mỗi bữa cơm hôm nào cũng có một món cá, chị chỉ gắp vài cọng rau, tuyệt nhiên không bao giờ đụng đũa.

Chị vẫn không đẹp nhưng già một chút, trông có vẻ đằm thắm hơn. Anh thói nào vẫn tật ấy, trong giấc mơ lại có những bóng hồng.

Cha mẹ anh bảo, tính nó vậy con đừng có chấp, chị cũng giả mù, giả câm. Cuộc sống lặp lại như xưa - buồn tẻ, cam chịu. Con gái họ đã thành một thiếu nữ, bữa nó đi lấy chồng, họ hàng chúc mừng anh chị :" Từ nay đến già, cô chú yên tâm mà hưởng hạnh phúc nhàn hạ ". Nửa tháng sau ngày cưới con, chị đổ bệnh, bị ung thư gan. . .

Mười mấy năm có gia đình nhưng anh xa lạ với tất cả. Anh không biết chỗ nào là công tắc bóng đèn. Đồ dùng nhà bếp đấy, anh không dùng nổi thứ gì. Mất chị, anh ngơ ngác như trẻ lên ba. Từ trước đến nay, anh vẫn cho rằng mình là bầu trời của vợ. Bây giờ hoá ra lại chính là cô ấy. Đôi vai gầy mảnh mai cam chịu, khoan dung tất cả những trò hư đốn của một con ngựa bất kham. Chị cần được tẩm bổ, không ăn đồ béo, bác sĩ dặn chị ăn nhiều cá. Anh xuống bếp, vất vả lắm mới làm chín con cá, bưng lên, chị nhất định lắc đầu : " Em không ăn ".

Mọi người khuyên giải đến lúc anh phát cáu, chị mới miễn cưỡng nhắm mắt nhắm mũi uống một bát canh. Vừa nuốt khỏi cổ thì lên cơn đau bụng quằn quại, bò lê bò càng vật vã nôn thốc nôn tháo rồi lại lắc đầu liên tục kêu : " Đắng quá. . . đắng quá. . . "

Từ sau hôm ấy, chị như người mất trí, suốt ngày lảm nhảm hai từ : " Đắng quá... đắng quá... "

Một tháng sau, chị qua đời. Trong khi lượm lại di vật của chị, anh bất ngờ phát hiện ra rằng chị có thói quen ghi nhật ký, trong đó ghi rõ những lần anh lén lút trốn chị đi gặp tình nhân.

Chị đã từng theo anh đến tận chân nhà tình nhân nhưng chị lại không đủ dũng khí xô cửa xông vào như bao người vợ vẫn làm, chị chỉ đứng chôn chân dưới lầu. Nép vào căn bếp công cộng tối om, ở đó chị nhìn rõ một con cá ai nuôi trong bình, đã bị cạn nước mà chết, miệng cá há ra tội nghiệp như đang cầu khẩn : " Cho tôi thở đi ! Cho tôi thở đi ! "

Chị viết : " Anh chính là không khí của em, nhưng anh đã không cho em được thở, em nghĩ, mình cũng sẽ có số phận như con cá kia ".

Anh đốt hết mọi thứ của chị, cả cuốn nhật ký, hình như anh mong manh nghĩ rằng ở nơi xa ấy chị sẽ nhận lại nỗi bi thương, đau khổ, oán giận chất chồng. Anh nhìn như chết vào làn khói bốc lên, rồi bất giác đưa hai tay bịt chặt lấy mặt, anh khóc không thành tiếng, lần đầu tiên anh khóc vì chị.

40 năm nay, anh là sinh mệnh tồn tại lúc mờ lúc tỏ bên chị. Trước mắt anh hiện lên hình ảnh cái bàn viết, chiếc mâm. . . Nhưng anh đã quên rằng, người đàn bà dù có xấu xí thế nào chăng nữa cũng lấp lánh một tâm hồn nhân hậu đáng quý, một linh hồn không dễ chịu tổn thương.

Chị sống trong sự thờ ơ lãnh đạm của anh, sống như con cá sống trên cạn, chết dần chết mòn. Anh là hơi thở của chị ư ? Tại sao anh không truyền cho chị để chị mãi mãi phải xa anh. Khi chỉ còn lại một mình, anh mới nhận rõ một điều, thì ra, chị mới là hơi thở cho anh, của anh.

Chỉ có điều, tình yêu của anh đã đến muộn, cuộc sống từ nay về sau của anh, liệu có như con cá trong bình ?

Lão Phu Tử

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Khánh Ly: Đa đoan một kiếp cầm ca


Khánh Ly hát hay, Khánh Ly nổi tiếng, nhưng cuộc đời thì sao? Câu trả lời là: Tài hoa cũng lắm, đa đoan cũng nhiều! Tài hoa thì do thiên phú. Còn đa đoan thì hầu như do Khánh Ly chọn lựa.

Khánh Ly là nghệ danh được ghép từ tên của hai nhân vật lừng lẫy trong truyện "Đông Chu Liệt Quốc": Khánh Kỵ và Yêu Ly. Nhưng xem ra, cách sống và xử sự của Khánh Ly chẳng giống chút nào với hai con người khí khái này.

Chào đời tại Hà Nội vào năm đói Ất Dậu (1945), tên cúng cơm của Khánh Ly là Nguyễn Thị Lệ Mai, bạn bè thương gọi là "Mai Đen". Được trời ban cho một chất giọng đặc biệt, 9 tuổi Khánh Ly đã bước lên sân khấu tham gia một cuộc thi ca hát với ca khúc "Ngây thơ", nhưng chẳng nhận được một thứ hạng đáng kể nào cả. Năm 1956, sau khi theo gia đình vào định cư tại Đà Lạt, Khánh Ly đã tham gia cuộc thi hát nhi đồng, do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức tại Sài Gòn. Với nhạc phẩm "Ngày trở về" của Phạm Duy, Khánh Ly đoạt được giải nhì. Mãi đến năm 1962, Khánh Ly mới thật sự bước vào đời ca hát chuyên nghiệp tại phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện, Sài Gòn. Chưa có tiếng tăm gì, khó cạnh tranh, chỉ một thời gian ngắn, Khánh Ly phải quay về Đà Lại hát cho một vài hộp đêm tại đó.
Mãi đến năm 1967, Khánh Ly mới thật sự nổi tiếng. Cô nhanh chóng chinh phục được người nghe bằng dòng nhạc của Trịnh Công Sơn, trở thành một trong ba giọng ca nữ hàng đầu của Sài Gòn thời đó, theo thứ tự là Thái Thanh - Lệ Thu - Khánh Ly. Năm 1968, cô đứng ra thành lập hội quán Cây Tre ở số 2bis Đinh Tiên Hoàng, Đakao, thu hút đông đảo văn nghệ sĩ và thanh niên, sinh viên, học sinh tìm đến.

Hội quán Cây Tre tuy rất nổi tiếng nhưng không có hiệu quả về kinh tế. Đến năm 1972, Khánh Ly trở thành bà chủ phòng trà cùng tên (Khánh Ly) tại số 12 - 14 đường Tự Do (Đồng Khởi). Nhưng tiền của kiếm được bao nhiêu, hầu như Khánh Ly đều nướng sạch vào những canh bạc thâu đêm suốt sáng, thường xuyên tổ chức tại phòng trà cũng là nơi ở của mình. Tại địa chỉ này, Khánh Ly còn tập họp một số "bằng hữu" toàn là những tay anh chị khét tiếng trong đám sĩ quan người nhái, có mặt hằng đêm, như: Phong Nhái, Chánh Râu, Chất Lựu Đạn… Đám giang hồ áo lính này coi phòng trà Khánh Ly như trụ sở, từ đó bung ra đi thu tiền bảo kê hầu hết các vũ trường, snack bar, night club khắp trung tâm Sài Gòn, rồi quay về "trụ sở Khánh Ly" chia chác chiến lợi phẩm. Hai món cờ bạc mà Khánh Ly say mê nhất là xì phé và xập xám. Dường như câu nói cửa miệng của dân đổ bác: "Tiền xâu, đánh đâu, thua đó" đã hoàn toàn ứng nghiệm vào cuộc đỏ đen của Khánh Ly.

Tài danh có thừa, nhưng đời ca hát của Khánh Ly không chỉ toàn vinh quang, mà cũng có khi lắm nỗi nhục nhằn. Năm 1973, Khánh Ly tổ chức một chương trình ca nhạc tại Đà Lạt. Nhiều ngày trước đó, người ta thấy trên những băng rôn quảng cáo có nhiều tên tuổi ca sĩ nổi tiếng. Thế là khán giả nô nức đến xem, vé đã được bán sạch sành sanh. Vậy mà xuyên suốt chương trình, chỉ có Khánh Ly và Ngọc Minh thay nhau bao hết. Ngoài ra không có một ca sĩ nào khác. Cho là mình bị lừa, khán giả bắt đầu la ó, rồi tràn lên sân khấu đập phá. Khánh Ly phải chui ván sàn thoát thân. Ngày hôm sau, một tờ nhật báo tại Sài Gòn đã đưa tin với tựa đề giựt gân "Khánh Ly chui lỗ chó chạy trốn tại Đà Lạt". Khánh Ly cay lắm, nhưng đành ngậm bồ hòn.

Dân văn nghệ Sài Gòn trước năm 1975, thảy đều biết rằng Khánh Ly rất kỵ Lệ Thu, chỉ vì con gà ganh nhau tiếng gáy. Dạo đó nhiều bầu sô và người làm chương trình đến mời Khánh Ly tham gia, đều bị hỏi một câu: "Có Lệ Thu không? Có bà ấy là không có tôi!". Một lần, nhân dịp họp mặt khóa 10 trường Võ bị Đà Lạt được tổ chức tại hồ nước trong khuôn viên Tiểu đoàn 61 Pháo binh, tại Gò Vấp (nay là UBND quận Gò Vấp), người làm chương trình cố tình sắp xếp cho Lệ Thu hát mở màn và Khánh Ly hát phần sau để tránh cho hai người gặp nhau. Chẳng may, sau khi hát xong, thay vì về sớm thì Lệ Thu lại được tướng Lê Minh Đảo mời ngồi lại đến mãn tiệc. Khi đến nơi, thoáng thấy Lệ Thu, Khánh Ly lập tức bỏ hát quay về. Người làm chương trình hết lòng nài nỉ, nhưng Khánh Ly vẫn không đổi ý: "Anh nói với tôi là không có Lệ Thu, tôi mới nhận lời. Tôi đã nói trước với anh rồi, có Lệ Thu là không có tôi".

Có một dạo, dư luận xã hội đồn ầm lên rằng, chất giọng được mệnh danh là "giọng hát ma túy" của Khánh Ly có được là do chơi thuốc phiện. Kỳ tình "Mai Đen" không hề dính líu tới ả phù dung. Nhưng một lần, Khánh Ly đi từ Sài Gòn lên Thủ Đức trên một xe du lịch với một ông cò Cảnh sát. Khi đi ngang qua lãnh địa của một ông cò khác, thuộc phe đối nghịch, xe bị chặn lại khám xét. Mở cốp xe ra thì thấy một bàn đèn để hút thuốc phiện. Tuyệt nhiên, thuốc phiện thì không thấy. Khánh Ly nhận là của mình, nhưng cho đó chỉ là vật trang trí. Vậy là hôm sau, đi đâu cũng nghe người ta bàn tán việc Khánh Ly hút xách một cách sôi nổi với những tình tiết được thêm mắm, thêm muối thật hấp dẫn.

Khánh Ly có vóc dáng mình hạc xương mai, phảng phất nét liêu trai chí dị. Khuôn mặt dễ nhìn, không thuộc loại "hồng nhan", nhưng đường tình ái cũng rất "đa truân!". Thuở mới thành danh, Khánh Ly gá nghĩa vợ chồng với một tay chơi, có cái biệt danh kèm theo tên cúng cơm rất ấn tượng: "Minh Đĩ". Anh chàng này vốn con nhà giàu, có bà chị lấy chồng là một đại tá không quân. Nhờ vào tiền của và thế lực của ông anh rể, Minh Đĩ chui vào làm lính kiểng với cấp hàm trung sĩ, thuộc binh chủng không quân, để tránh ra trận. Được hai mặt con thì Khánh Ly và Minh Đĩ ca bài chia tay. Chẳng bao lâu, Khánh Ly lấy Mai Bá Trác, một Đại úy biệt kích, khi ông ta đang làm trưởng trại Lực lượng đặc biệt (LLĐB) Thiện Ngôn ở biên giới Tây Ninh. Thời đó mà được làm trưởng trại LLĐB là coi như trúng số. Dưới quyền, có từ 4 đến 5 Đại đội biệt kích quân, phần lớn là người Miên và dân tộc thiểu số. Thứ lính này không có số quân, do Mỹ trang bị và trả lương. Mỗi đại đội chỉ cần vài chục lính ma, lính kiểng là mỗi tháng, sau khi chia chác cho đàn em, trưởng trại dễ dàng đút túi cả chục cây vàng. Cứ tưởng tượng, lúc bấy giờ ông Trác đã sắm xe du lịch Mustang, để sẵn ở Sài Gòn thì đủ biết. Tháng nào, ông ta cũng về ăn chơi xả láng, tiêu tiền như nước, nên dễ dàng chinh phục được Khánh Ly.

Sống với Mai Bá Trác có một mặt con thì năm 1972, nhân một chuyến đi hát tiền đồn để úy lạo binh sĩ, Khánh Ly gặp Đỗ Hữu Tùng, Trung tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Thủy quân lục chiến. Bị ngay một tiếng sét ái tình, dù trai đã có vợ, gái đã có chồng, họ vẫn rất say đắm nhau. Tuy là mối tình "ngoài luồng" nhưng hầu hết những ai quen biết hai người trong cuộc đều xác nhận đây là một đôi nhân tình rất xứng đôi, vừa lứa về mọi mặt. Bây giờ, Tùng đã thành người thiên cổ. Ông ta tử trận tại bãi biển Đà Nẵng năm 1975, nhưng Khánh Ly vẫn tâm sự với bạn bè thân thiết, rằng Tùng là người mà Khánh Ly yêu thương nhất đời.

Sau tháng 1975, trên bước đường di tản, định mệnh đã xui khiến Khánh Ly gặp Nguyễn Hoàng Đoan, người chồng đang sống với Khánh Ly từ đó cho đến nay. Nhiều người đã tỏ ra tiếc cho Khánh Ly, vì có một người bạn (cuối cùng) đời thuộc loại văn dốt, võ dát dù ông ta mang danh là một nhà báo của làng báo Sài Gòn cũ. Nguyễn Hoàng Đoan chỉ thật sự được nhiều người biết đến từ khi sang Mỹ và trở thành "ông Khánh Ly".

Từ năm 1972 cho đến ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ, Nguyễn Hoàng Đoan thất nghiệp. Không một tờ báo nào nhận ông ta vì khả năng viết lách thì yếu kém nhưng lại giỏi ăn tạp. Ông ta đã có vợ và 2 con gái, nhưng Nguyễn Hoàng Đoan lại sống vô trách nhiệm. Chính xác, Đoan lo thân mình còn chưa xong, lấy đâu ra để lo cho vợ con. Không chu toàn được cơm áo, Đoan cũng chẳng là chỗ dựa tinh thần cho con cái. Suốt ngày, ông ta thường xuyên có mặt chầu rìa tại sòng bài Ba Hóa ở khu vực nhà thờ Huyện Sĩ. Dần dà, ông ta tán tỉnh được cô con gái của chủ sòng bài khét tiếng này, để trở thành một "đấng trai bao"! Thời gian rảnh, Đoan thường xuyên có mặt tại hai động chứa gái hạng sang. Một ở trên đường Huỳnh Tịnh Của và một tại villa số 11, đường Đặng Đức Siêu (nay là Nam Quốc Cang) để kiếm ăn và chơi lụi.

Sang Mỹ, chẳng có nghề ngỗng gì, nên Đoan phải bám váy Khánh Ly. Việc hát xướng của Khánh Ly tại hải ngoại cũng không đều đặn, thu nhập cũng chẳng là bao, đời sống cũng khá chật vật. Nguyễn Hoàng Đoan đã "tham mưu" cho Khánh Ly cách làm mình, làm mẩy và lật lọng với các bầu show. Ai mời đi hát ở đâu đó, dù rỗi rảnh, Khánh Ly vẫn hô hoán: "Chết rồi, chị trót nhận lời hát cho một người quen, lỡ nhận tiền trước rồi!". Nếu như đối tác tiếp tục năn nỉ, Khánh Ly sẽ dở chiêu đòi tăng giá vào giờ chót, lật bài ngửa: "Vậy thì em trả thêm cho chị chút đỉnh!". Cô thường đồng ý tham gia chương trình để bầu show quảng cáo tên tuổi ì xèo. Kề ngày diễn, Khánh Ly đột ngột đòi tăng giá từ 3.000 lên 5.000 USD mới có mặt. Thế là bầu show phải đắng cay ngậm quả bồ hòn. Giới bầu show hải ngoại đã đặt cho Khánh Ly hai biệt hiệu rất lẫy lừng: "nữ hoàng nâng giá", và "ca sĩ xù show". Ngay cả nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cũng không được Khánh Ly nể mặt. Cay đắng đến độ, trước khi qua đời, người nhạc sĩ tài hoa này đã trăn trối với vợ con: Cấm cửa, không cho Khánh Ly đến viếng!

Tháng 5/2000, Khánh Ly có về Việt Nam thăm gia đình. Quay lại Mỹ, Nguyễn Hoàng Đoan và Khánh Ly, kẻ xướng, người họa, nửa úp, nửa mở: "Việt Nam mời tôi về hát với catse 2 triệu USD. Nhưng chắc không có chuyện đó với tôi". Chẳng cần truy cứu hư thực, mới nghe ai cũng đã phì cười, bởi sự bịa đặt hết sức ấu trĩ của "nữ hoàng nâng giá".
Đúng là nồi nào úp vung nấy. Đáng tiếc cho danh ca của một thời...

Đoàn Thạch Hãn

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

MUSIC ENTERTAINMENT WEEKEND
AT PAOLO 's CLUB


Image
Paolo và The Black Caps

(soạn: Việt Hải - Los Angeles)

Tôi biết ca sĩ Paolo khi còn ở Việt Nam, nhưng khi ra xứ ngoài một hôm tình cờ qua Nhóm Văn Nghệ TMC của bác sĩ Vi Sơn bên Houston, tôi có xem email của anh Paolo gửi ra ngoài. Paolo nổi tiếng tại quê hương trong thập niên 60s, anh hát nhạc Pháp và Mỹ, tôi xem trong live show Asia 59, anh góp mặt xuất hiện với khán thình giả cùng ca sĩ Thanh Lan ca duet những nhạc phẩm tình ca Mỹ Pháp, nhắc lại trong tôi của cái thuở Sài Gòn đáng nhớ và khó quên của ngày trước. Năm 2010, tôi còn nhớ lúc chúng tôi cho ra mắt tổ chức Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ tại nhà hàng Mon Ami (Nam Californie), hôm ấy anh Paolo đến chung vui, các nhạc sĩ góp mặt tại buổi tiệc như Anh Bằng, Lê Văn Khoa, Lam Phương, Nam Lộc, Diệu Hương, Cao Minh Hưng,...

Ca sĩ Paolo tên thật là Đào Thiệu Doãn, khởi nghiệp trong lãnh vực nhạc trẻ từ những năm đầu của thập niên 60s với tên Thanh Tuấn. Với bộ quần áo da mầu đen như Elvis Presley thuở nào, Thanh Tuấn đã trở thành một trong những nam ca sĩ tiên phong của nền nhạc trẻ Việt Nam trong thời gian cộng tác với ban nhạc The Black Caps. Paolo thời đó rất được chú ý qua phần trình diễn sống động với những nhạc phẩm lời Pháp thịnh hành trong thời kỳ phong trào "yé yé" đang lên cao tại Việt Nam, chủ yếu là tại Sài Gòn. Thời bấy giờ những khuôn mặt ca sĩ nước ngoài được ái mộ như: Cliff Richard, Elvis Presley, Paul Anka, nhóm The Shadows, The Ventures, The Beatles, Johnny Halliday, Dalida, Sylvie Vartan, Francoise Hardy...
Mãi đến khi Paolo bước vào lãnh vực phòng trà ca nhạc và vũ trường thì anh đã tạo cho mình một ngôi vị vững chắc, anh có phong cách trình diễn riêng, qua làn hơi dài nồng ầm, đã gây được chú ý với những nhạc phẩm lời Anh.


Paolo hát nhạc Pháp từ khi khởi nghiệp, các nhạc phẩm Pháp theo tôi khi anh ca được bà con chú ý như Adieu Jolie Candy, Fais La Rire, Si L'amour Existe Encore, Je Sais, Elle Était Si Jolie (Em Đẹp Như Mơ),... Và rồi khi nghe Paolo ca những bài ca do Tom Jones hát như Green Green Grass Of Home, She's A Lady, I (Who Have Nothing) hay Delilah, làm không gian chung quanh như có air Tom Jones vang vọng. Tại Sài Gòn năm xưa khi anh hát bài Bebop A Lula được bà con khen là giọng ca Vietnamese Vince Taylor... hihihi... Tuy vậy, Paolo ca nhạc Việt rất tình tự dân tộc, mặc dù sở trường anh sinh hoạt nhạc Pháp Mỹ khá lâu, nửa thế kỷ rồi còn gì...

Paolo ra CDs:

Paolo đến Mỹ năm 1975, tôi xem anh giúp vui trong Pendleton camp, vùng Oceanside, Nam Cali. Sau đó như bao nhiều người khác anh chuyển nghề vi nhu cầu mưu sinh trên xứ người. Năm 2001 anh quyết định trở lại với âm nhạc. Anh cho ra mắt hai CD mang tên "Một Thuở Một Đời" và "Now And Then" gồm những nhạc phẩm chọn lọc mà anh ưng ý nhất, cũng chính những bài ca này đã gắn liền với tên tuổi của anh.


Những ban nhạc trẻ:

Khi quân đội Đồng Minh đến miền Nam, làn nhạc Anh ngữ bùng phát mạnh mẽ vì nhu cầu giúp vui cho các căn cứ Mỹ, cũng như các vũ trường, hội quán từ Sài Gòn, Vũng Tàu, Biên Hòa, Đà Nẵng,... Những ban nhạc trẻ góp mặt như: The Black Caps, The Rocking Stars, Les Fanatiques, Les Pénitents, The Crazy Dogs, The CBC, The Blue Stars, The Strawberry Four, The Dreamers, The Ants, The Teen Sound, The Uptight, The Black Stones, The Rising Sun, The Sunshines, The Teddy Bear, The Enterprise,...
Image
Ban nhạc The Black Caps

Ban nhạc the Black Caps:

Bây giờ hãy nói về nhóm nhạc the Black Caps, những chiếc mũ đen đã đóng góp vào phong trào nhạc trẻ một thuở nở rộ tại Sài Gòn yêu dấu ngày xưa. Ban nhạc The Black Caps ra đời vào cuối năm 1962 nếu tôi nhớ không lầm với: Ngọc Tùng (lead guitar), Paolo Tuấn (vocal), Tùng Lân (drum), Lương Huy (bass), và Đình Thăng (accord). Vào năm 1965 Paolo từ giả nhóm, nam ca sĩ Tuấn Ngọc vào thay thế. Phong trào nhạc trẻ hình thành thoạt đầu trong giới học sinh của các trường trung học dạy chương trình Pháp như Jean Jacques Rousseau, Marie Curie, hay Taberb góp mặt, họ hát nhạc Pháp và nhạc Anh. Về sau này chính phủ VNCH có khuynh hướng khuyến khích giới trẻ hãy sáng tác nhạc Việt, phong trào nhạc trẻ mà lời được Việt hóa được phổ biến rộng rãi. Những tên tuổi điển hình đã góp công vào phong trào này như các anh Trường Kỳ, Nam Lộc, Vũ xuân Hùng, Tùng Giang, Huỳnh Kỳ Phát, Tuấn Dũng,...

Nhân dịp tạo một buổi ra mắt hội ngộ vào mùa hè 2008, ban kích động nhạc The Black Caps trong đêm dạ tiệc và khiêu vũ sẽ được tổ chức vào tối thứ Sáu, ngày 29 tháng 8, 2008, lúc 6: PM đến 12:AM tại nhà hàng Seafood Kingdom, vùng Anaheim. Tưởng cũng nên đề cập đến thành phần các thành viên ca nhạc sĩ đợt sau cùng này của ban nhạc The Black Caps khi tái họp lại sau một thời gian dài vắng bóng, gần 40 năm trên sân khấu sẽ qui tụ các gương mặt quen thuộc trong làng nhạc trẻ như: Ngọc Tùng (lead guitar), Quốc Hùng (accord), Minh Phúc (bass), và Billy Hùng (drum). Các ca sĩ góp mặt gồm có Paolo, Minh Xuân, Công Thành và Lynn, Lương Huy, Mạnh Hà, Elvis Huy, Nguyễn Bình và Minh Trang cùng Kim Thoa/the Blue Stars.

Rất mong các thân hữu forums Tâm Tình Văn Nghệ Sĩ, Câu Lạc Bộ Mon Ami và những forums thân hữu bạn bè xin đến chung vui với Paolo và Quốc Dương hằng tuần tại VIP Room của Quốc Dương Ball Room số 7724 Garden Grove, nằm tại góc Beach, trên đường Westminster CA 92683. Khách đến dự có DNA văn nghệ dù là nghiệp dư hay nghiệp thiệt chính hiệu "Bà Lang Trọc" vẫn có thể chung vui sân khấu với Paolo và Quốc Dương.


Viet Hai Los Angeles
(Theo một số chi tiết từ quý anh Trường Kỳ, Nam Lộc, và Billy Hùng)

Image
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=UIUrg1nNNv

Liên Khúc Delilah & Je Sais & Mùa Tình Yêu

Chút ánh sáng cho cuộc đời , cất tiếng hát cho một người , có mắt biếc soi nụ cười , tưoi như cánh hoa tình ái , đã biét nói yeu 1 lần ,
sẽ thấy đớn đau thật gần , sẽ thấy nắng phai nhạt dần , khi vương vấn trong tình yêu , đời là một thời để yêu ,
yêu trong bóng đêm lẻ loi yeu trong bao nỗi đắng cay yeu cho quên từng ngày tháng ,
tình là một lần được mơ mơ trong bóng đêm lẻ loi có những chiếc lá úa rơi , rơi chơi vơi vào trời tối ....(Les amoureux qui passent)

Les amoureux qui passent
Ne se retournent pas
Mais il reste la trace
Dans mon coeur de leurs pas


Cuộc tình mà tôi đã biết tàn rồi, Cuộc tình mà tôi đã nghe tàn phai... Than ôi! Tôi biết nhưng vẫn mong ước Ước mong, nhưng biết sẽ mơ hoài công...
Một mình mà lo đi giữa cuộc đời Lạnh lùng hồn ma giữa đêm mù khơi Than ôi! Tôi khóc cho tới khi sáng,
Tôi oán ghét, oán ghét tôi trong màn đêm...
Ah, mais j'ai mal, si mal

De penser qu'un autre déjà
Te serre dans ses bras
Ah oui, j'ai mal, très mal
Depuis tant

Depuis bien longtemps
Je sais, je sais

mùa tình yêu đến đây rồi , mùa tưoi thắm cho đời , lời yêu thương vang khắp nơi , mùa tình yêu ngất ngây lòng ,
mùa phiêu lãng tang bồng vào đắm đuối mê say, dù tình yêu có điên cuồng , tình yêu có đau buồn , lòng ta vẫn cứ yêu và còn mãi yêu ,
đời nguòi có những lúc vui , những lúc sống trong mùa yêu thương trời tình ái đã ngát hoa ta hãy vui trong tình yêu chớ lo chi ..
(la temps de lamour)

C'est le temps de l'amour
Le temps des copains
Et de l'aventure
Quand le temps va et vient
On ne pense à rien
Malgré ses blessures

Car le temps de l'amour
C'est long et c'est court
Ça dure toujours
On s'en souvient

I saw the light on the night that I passed by her window
I saw the flickering shadows of love on her blind

She was my woman
As she deceived me I watched and went out of my mind

My, my, my, Delilah
Why, why, why, Delilah
So before they come to break down the door
Forgive me Delilah I just couldn't take any more
Forgive me Delilah I just couldn't take any more

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Những Ngày Thơ Ấu Với Bạn Tôi, Ở Hà Nội

Nguyễn Thế Đỉnh
Trước khi kể chuyện

Ông Du Tử Lê thân mến và yêu dấu

Tôi tự hào là một trong những người bạn hiếm hoi còn lại của ông từ thời nhỏ dại, thoắt cái chúng ta đã là bằng hữu của nhau hơn 52 năm, nếu tính tuổi thọ là 100 thì quả thật tôi được kết thân với ông quá lâu - hơn nửa đời rồi còn gì. Kinh hãi hơn nữa là lúc tôi ngồi một mình tự đếm lại tuổi mình. Và, chợt hốt hoảng khi thấy tôi và ông - người bạn còm cõi , tư lự tên Lê Cự Phách ở Triệu Việt Vương, Hanoi, đã trải qua hai thế kỷ. Không, chúng ta là bạn của nhau đã sang đến Thiên niên kỷ thứ hai rồi. Những năm, những tháng đã qua có lúc tôi cư ngụ xa tít tắp với ông, lúc thì là hàng xóm gần gũi, thảng hoặc có thời gian cả năm chẳng đứa nào dòm ngó đến nhau, nhưng không giận vì biết nhau quá rõ. Từ cái tên Lê Cự Phách đến Du Tử Lê những dòng thơ trải dài trong cõi nhân gian. Tôi thích thú, sung sướng và có cả u buồn khi đọc thơ ông. Tâm hồn tôi phơi phới và hí hửng khi được nghe ai đó, hoặc đọc từ bài báo, cuốn sách nào đó luận về thơ ông. Tôi sướng mê cả người vì bạn tôi được yêu thương quá đỗi, nhất là người khoái thơ, khoái bạn tôi lại là nữ nhân thì tôi tưởng mình có thể nhảy cẫng lên được.

Vậy mà, tiếc thay tôi lại chẳng thể là nhà văn, nhà thơ để được viết những dòng chữ khen cái áo tốt của ông Phò Mã, tôi là người lính đánh giặc khắp miền đất nước -lính BÐQ- binh chủng mà đã có lần ông nói với nơi cà phê La Pagode: “Chúng mày đi thứ lính gì mà nghe đến tên là hãi bỏ mẹ”. Tôi không thể viết về thơ bạn ta được, nhưng tôi có thể kể rành mạch về những ngày tháng thơ dại của hai chúng ta để ông nghe, bằng hữu khác nghe và nhất là cho chính tôi được sống thỏa thuê, chạy nhảy quanh quẩn trong cõi thiên đường ấu thời chúng mình. Quả thật có lúc nghĩ lại, chợt dưng tôi thấy mắt mình có hạt bụi, kênh sót và xao xuyến.

Bạn tôi, Du Tử Lê,

Không nói được về thơ văn bạn mình thì tôi cũng chỉ xin được bắt chước người, kể chuyện ấu thơ, kể trên giấy thay lời nói bên tai. Tôi khoái trá mỗi lần ông và tôi gặp nhau. Ai cũng vác mấy bó tuổi trên vai nặng oằn lưng mà vẫn mày, tao loạn cả lên, thật đã vô cùng. Chẳng biết ông có còn nhớ được bao nhiêu về dĩ vãng chúng mình, Hanoi? Sẵn đây tôi cũng nói với ông điều này:

Năm 1992, lúc tôi chưa xuất cảnh sang Mỹ, có dịp ra Hanoi. Tôi về thăm nhà xưa, số 9 Triệu Việt Vương, có người ở nhưng rêu phong, mục nát, mặt mũi u trầm như con bệnh ung thư những ngày cuối đời, còn căn nhà 11 Huyền Trân Công Chúa, nơi tôi cư ngụ sau cùng trước khi chia xa, nay không còn nữa, tìm mãi không thấy cái cầu thang lộ thiên bằng đá trắng, nó khuất dạng nơi nào?

Thôi bây giờ tôi kể chuyện những ngày tháng cũ nhé. Kể Chuyện Thuở Ấu Thời...

Gần cuối năm 1948, gia đình tôi từ Thanh Hóa hồi cư về Hanoi. Căn nhà cũ đã có chủ mới, ở phố Hàng Nâu. Bố mẹ tôi đem các con về Bạch Mai ở đậu nhà dì Nguyệt tôi. Bố tôi trình diện nhiệm sở cũ. Sau khi hoàn tất thủ tục người được bổ nhiệm về Hải Dương để nhận công tác mới. Gia đình lại chuyển cư một lần nữa. Riêng tôi, năm đó đã khá lớn, chưa có chỗ học ổn định, và bố tôi quyết định giao công việc trông nom, săn sóc cho chị K, chị lớn của tôi. Tôi ở lại Hà Nội, đi học. Tôi về ở với gia đình chị K, ở phố Triệu Việt Vương, nhà số 9.

Nơi trú ngụ này đã lưu giữ trong tôi những kỷ niệm ấu thời. Hình như tôi không quên một điều gì. Nhớ tất cả, từ những hàng cây rợp bóng mát, ngõ Tràng An quanh quất bên hông nhà đến những cây dầu, cây sấu cao ngất nơi cuối phố, gần nhà Diêm. Ở Triệu Việt Vương, tôi đã có những người bạn nhỏ, cùng khu phố, cùng trang lứa. Và từ bấy lâu, nay còn lại mỗi một. Ðó, Lê Cự Phách -tên thơ: Du Tử Lê! Năm mươi hai năm đã ra đi, biền biệt vào quá khứ, nhưng mỗi lần chợt nhớ về tuổi thơ –Hànội. Bóng hình ấu thơ như sợi dây phơi chăng ngang trí não, chợt dưng chùng xuống, chiếc võng khẳm đầy kỷ niệm về bằng hữu thơ dại, về nơi chốn ấp ủ thiên đường dĩ vãng, lại đong đưa nơi trí tưởng. Xin được kể lại ở đây để cùng bạn -Lê Cự Phách- dắt nhau về với những ngày xưa thân ái.

Thời gian tản cư, từ Hànội vào Ninh Bình rồi Thanh Hóa, dù chạy trốn bom đạn, và tạm cư ở đâu, bố tôi cũng dạy cho hai anh em tôi học. Tôi có một người anh trai duy nhất, còn lại toàn chị gái.

Nhờ vậy, khi về đến Hànội, tôi đã đọc thông viết thạo và làm khá rành bốn phép tính, kể cả tính đố 2 con. Vốn liếng chữ nghĩa đó đã giúp tôi được nhận thẳng vào trường Tiểu học Ngô Sĩ Liên, phố Hàm Long. Hoặc cũng có thể nhờ anh rể tôi cũng là nhà giáo, ông dạy sinh ngữ, môn Pháp văn, đã vận động xin cho tôi được nhập học tại đây không chừng. Chỉ biết là tôi bắt đầu học tại Ngô Sĩ Liên từ niên học đó. Ở tuổi chúng tôi thời đó, sinh hoạt hàng ngày không được tự nhiên lắm, thường hay e thẹn, đôi khi nhút nhát nhất là công việc làm quen với nhau. Hơn nữa, với tôi, khi về trọ ở nhà chị, dù được chăm nom chu đáo và thương yêu, từ anh rể, chị và các cháu, nhưng tôi vốn là đứa bé, thuở lọt lòng đến bấy giờ, lúc nào cũng quanh quẩn trong vòng tay mẹ. Miếng ăn, tấm áo, giờ ngủ, mọi thứ đều được mẹ lo. Hình bóng mẹ đối với tôi to rộng, vĩ đại như Ðại dương, Nay, phải xa mẹ, tôi tự thấy mình lẻ loi và cô độc không tưởng được. Những buổi sáng, khi thức dậy, ngó quanh ngó quẩn chẳng thấy mẹ đâu, tôi muốn khóc. Nỗi nhớ chợt đầy và xót xa. Tôi thường ra trước sân nhà -một khoảng sân thật nhỏ để ngóng nhìn về hướng chân trời rồi tự hỏi mẹ tôi đang làm gì nơi ấy. Sao lại bỏ mặc tôi cô độc?

Và, tôi đã gặp Lê Cự Phách tại nơi này, lúc thì ngồi tư lự, hai tay chống cằm trên bậc thềm, nhìn ra con phố, có lúc đứng trơ trọi ngay dưới chân cột đèn. Dù nhìn thấy Phách cũng chỉ có một mình, tôi vẫn ngần ngại chưa dám lại gần.

Có lẽ hiểu được tâm trạng tôi, thảng hoặc vì phải tất bật với công việc hàng ngày của bà mẹ có khá nhiều con, nên chị K. đã thả lỏng cho tôi phần nào trong sinh hoạt mỗi ngày, miễn sao, buổi tối trước khi đi ngủ, tôi phải học bài khoảng một tiếng đồng hồ hoặc lâu hơn chút đỉnh. Triệu Việt Vương là căn phố im vắng, chạy song song cùng những con đường như Phố Huế, Huyền Trân Công Chúa.

Triệu Việt Vương khởi từ ngã ba giáp với phố Nguyễn Du chạy thẳng về phía nhà Diêm và có còn tới đâu nữa không, tôi đã quên, nhớ không hết. Hai bên phố là những căn nhà ở, vùng này không phải khu thương mại, nơi những công chức, giáo chức và quân nhân cư ngụ. Cả con đường được che mát bằng những cây bàng, không cao lắm, nhưng tàn xòe rộng và lá to. Bóng mát đủ che cho những trẻ thơ như chúng tôi tụ nhau lại để trò chuyện hay cùng chơi một trò chơi gì đó.

Tôi trở thành bạn của Lê Cự Phách (lúc đó làm gì có cái tên Du Tử Lê) một buổi trưa thật tình cờ. Sau khi đi học về, anh rể tôi đi dạy chưa về tới, cả nhà đợi cơm. Tôi chưa biết làm gì, chợt nghe tiếng gọi Phá... ch... ơi... ời, tiếng gọi nhão nhẹt thấy ghét và lạ tai. Tò mò, tôi mở cửa, bước ra đường cùng lúc ấy, Phách cũng mở cửa, chậm rãi đi ra. Tôi khựng lại quan sát, Phách và mấy người bạn đối đáp, Phách được chia bốn cục kẹo nougat (kẹo đậu phụng tây). Bất chợt Phách quay lại, thấy tôi, ngần ngừ một giây, Phách tự nhiên chia cho tôi hai cục. Tôi xấu hổ, chưa dám nhận, Phách đã nói: “Cứ ăn đi của Tuấn Còm đấy”. Lúc đó Tuấn Còm, bạn học của Phách cũng nói: “Ăn đi, tớ mới đổ bi được đấy (một trò chơi do mấy người bán kẹo dạo, đóng một cái bàn với những hàng đinh dích-dắc để dựng đứng. Người mua 1 đồng, lấy hòn bi thả vào những khoảng giữa hai hàng đinh, viên bi chạy từ trên xuống nếu rơi trúng số nào thì được bấy nhiêu cục kẹo và số to nhất là 10 cục -nếu ngược lại không trúng cũng được 4 cục. Coi như mua). Thế là tình bằng hữu của chúng tôi khởi đi do hai cục kẹo Nougat, chạy dích-dắc đến nay đã được 52 năm (1948-2000) chỉ tiếc Tuấn Còm đã không bao giờ chúng tôi gặp lại, vì gia đình Tuấn Còm di cư vào Saigon năm 54. Và, cũng ngay buổi sơ giao ấy, tôi được biết Phách học trường Hàng Vôi (Nguyễn Du). Cũng từ đó Phách và tôi thường quanh quẩn với nhau lúc rảnh. Thường thì chúng tôi rảnh nhiều hơn bận. Vì được thả lỏng, phần thì bản tính thích lang thang đây đó, bất kể giờ giấc, sáng, trưa, chiều có khi cả buổi tối, nếu bữa nào anh chị tôi bận việc gì đó, không để ý đến lũ nhóc chúng tôi, lúc nào tôi cũng có thể đi hoang được. Có lần mê mải dong chơi quên cả ăn, tôi bị phạt đứng úp mặt vào tường, tức đến vỡ ngực. Tình cờ, tôi và Phách cùng học một buổi và đi cùng một con đường. Thế là tôi tận dụng ngay sự tình cờ này để mỗi ngày tôi luôn luôn đi học trước giờ vào lớp cho thỏa và dĩ nhiên có Lê Cự Phách đi bên cạnh. Tôi chả cần biết, tự thâm tâm Lê có tính thích la cà nơi này, chốn kia trước khi đến trường lúc chưa là bạn của tôi? Nhưng kể từ khi kết thân, chưa một Lê Cự Phách từ chối.

Tôi gọi là Phách mang cặp cùng tôi đi ngay. Sau này, tôi suy nghĩ có thể Phách không muốn vậy, nhưng bản tính chiều bạn và chấp nhận cùng nhau lang bạt mỗi ngày. Tội nghiệp cho Lê Cự Phách luôn luôn đặt mình theo sự bày vẽ, hướng dẫn của tôi. Có ngày, từ phố Hàm Long, thay vì vào trường, tôi kéo tay Phách không cho rẽ qua Ngô Quyền để lên trường Hàng Vôi. Hai đứa vượt qua nhà thờ, đến ngõ Ðại Khánh để rủ Trần Hữu Khôi, Phương (cháu giáo sư Sử Trần Hữu Quảng). Mấy đứa nhập lại rủ nhau sang phố Lò Ðúc, cà khịa với mấy ông Tây Lai con; tôi và Khôi nhẹt miệng ra nhạo:

“Tây lai ăn khoai cả vỏ...”, bị ném đá, thế là hè nhau ù té chạy, chỉ tội cho Lê Cự Phách, gầy còm và lèo khoèo hơn chúng tôi, nên bao giờ cũng chạy sau và sợ mất vía.

Hàng năm chúng tôi đóng vai người lớn một cách tự nhiên đưa đến, đó ngày giỗ Hai Bà Trưng, nhóm bạn thân chúng tôi gồm Phách, Tuấn Còm, Hiền, Khoát và tôi từ phố Lò Ðúc, qua Lò Rượu rồi quẹo trái để đến làng Ðồng Nhân, nơi có đền thờ Hai Bà Trưng, có những cây đa rợp bóng mát. Chúng tôi tìm cách lọt vào trong đền để được nhìn ngắm thỏa thuê những đồ thờ và cách tế lễ, không khí trang nghiêm đã khiến chúng tôi người lớn hẳn lên, nhất là Lê Cự Phách, mặt mũi trầm ngâm, hai tay khoanh trước ngực, không nhỏ to thì thầm, đứng im lìm, thả hồn vào ngày giỗ Hai Bà. Sau khi lễ tất, mọi người được chia phần xôi, oản. Thông thường chúng tôi từ chối vì xấu hổ hoặc có người nhận, sau đó nhường lại cho ai đó đứng gần.

Nhà số 9 Triệu Việt Vương cấu trúc khác với những căn phố cùng đường, ngôi nhà được xây dựng theo hình thước thợ -căn chị K. tôi thuê, thẳng góc cùng với căn gia đình Lê đang ở. Tôi biết chừng vài tháng gì đó chị Tâm (chị của Lê) có lẽ thấy tôi ngổ ngáo và nhanh tay lẹ chân hơn em chị, nên chị đã dặn tôi: KH, em chơi với Phách đừng để ai bắt nạt nó nhé. Chị nhờ em “trông”nó đấy. Tôi vừa ngượng vừa sướng tê cả người vì được gởi gấm và cứ tưởng mình là quan trọng. Thật ra, chị Tâm không dặn dò, tôi cũng chẳng để yên cho kẻ khác bắt nạt bạn tôi - và đến hôm nay tôi vẫn giữ nguyên như vậy. Tôi cố gắng bảo vệ và chia xẻ với bằng hữu những gì bạn tôi cần và trong khả năng tôi có thể làm được. Có lẽ chị Tâm thương em và thấy tôi nói năng liến thoắng, chạy nhảy huỳnh huỵch. Tóm lại về thể lực, tôi trội hơn hẳn Lê Cự Phách, hơn nữa cũng có thể chị Tâm dùng câu nói thân tình để phòng ngừa trường hợp tôi đổ quạu đánh em của chị.

Vào những năm từ 48 đến 49 hoặc 1950, những trò chơi tuổi dại của chúng tôi thường là đánh bi, đáng khăng hoặc là những cách chơi như trốn tìm v.v... Nhưng khu phố chúng tôi ở, tất cả các môn này đều không có. Hàng ngày, nếu không phải giờ học bài, chúng tôi hay tụ họp, quay quanh một gốc bàng, hoặc ngồi trước hiên nhà ai đó để chia nhau đọc tờ quảng cáo ciné (lúc đó có tên gọi là tờ program). Mỗi đứa chia nhau đi khắp các ngã đường, từ những rạp xa như Lửa Hồng, Philarmonique, Majestic, Ðại Nam và gần nhà chúng tôi là Ciné Hànội gần chợ Hôm, ai xin được tờ pro-gram phim mới, là vội về gọi nhau để coi cốt truyện được tóm gọn trên đó.

Ðọc xong, là lúc bàn tán, có anh vào cửa rạp coi hình, vẫn cứ tưởng là mình đã xem, kể chuyện phim loạn lên một cách rất mạch lạc đáng nể. Tôi cũng lọt vào trong nhóm này, nhất là những loại phim có bắn súng, đánh gươm như Zoro, Les Troi Mousquetairs v.v... Tôi liến thoắng cũng chẳng thua ai; đến đây lại phải nhắc đến một nét rất khác người của Lê. Chưa bao giờ Lê tự đến các rạp để xin cho mình -có lẽ Lê không thích- thế nhưng lần nào tôi hoặc các bạn rủ rê Lê vẫn tham dự, cũng đọc nhưng không mặn mà lắm, và nếu có được hỏi sao không xin được tờ nào Lê trả lời:

“Chị tao không cho đi”. Dĩ nhiên điều đặc biệt tôi muốn nói là nếu tôi yêu cầu, thế nào ngày hôm đó Lê cũng mang về một tờ program cho tôi.

Bên hông nhà số 9 Triệu Việt Vương là đầu ngõ Tràng An, con hẻm quanh co một đoạn ngắn thì trổ ra phố Huế, nói là ngỏ (hẻm) nhưng thực tế lối đi rộng và cũng có trồng hai ba cây bàng, để có bóng mát. Ðầu ngõ Tràng An phía phố Huế, bên kia đường có hiệu sách Vĩnh Tường của con nhà Nguyễn Xuân Tùng (anh này nhỏ hơn tụi tôi vài tuổi) và tầng trên của hiệu sách là nơi cư ngụ của gia đình Nguyên Huy-Nguyễn Huy Tiến, ông này thì lại lớn hơn chúng tôi một hai tuổi, nhưng chúng tôi sợ hãi không dám làm quen, vì thời đó ông ấy ngoài giờ đi học, đã bận chở đào lên Nghi Tàm - Quảng Bá ăn ổi hoặc lên Cổ Ngư ăn bánh tôm. Nhà sách này và Văn Chương Thư Quán ở phố Chợ Ðuổi là hai nơi Lê và tôi nhiều khi la cà nửa ngày để đọc sách “khín”. Hai đứa chúng tôi vào nhà sách vòng qua vòng lại, giả vờ hỏi mua cục tẩy, cái ngòi bùt để có cớ đọc sách cho đỡ ngượng. Dường như Ðịnh Mệnh đã an bài, thân phận đã được định đoạt từ một cõi nào xa tít cho một đời người mai sau, khi hắn đã là người lớn, suy từ đời riêng Lê Cự Phách và tôi đã diễn ra gần trọn vẹn cho mỗi cá nhân. Những môn học như Toán, Luận, Chính Tả v.v... Bài làm văn của tôi chỉ ở mức trung bình, riêng Lê thì đã ứng nghiệm ngay từ thời thơ ấu, bài luận nào cũng được 8, 9 điểm. Còn nhớ, tôi được thầy giáo cho bài luận về nhà làm (năm lớp nhất): “Em hãy tả lại điều gì làm em cảm động nhất”. Tôi sợ điếng hồn, biết tả cái gì bây giờ, nói lại nỗi lo của mình cho bạn nghe, Lê phán ngay: “Viết về mẹ mày đi.” Ngưng một giây Lê tiếp: “Ðể tao làm hộ cho”. Quả nhiên, hôm sau tôi đã có bài làm, chỉ việc chép vào tập, Lê tả nỗi vui mừng, xúc động của đứa con khi được mẹ từ tỉnh lẻ lên thăm và đón về thăm nhà. Ðứa con đó là tôi. Bài luận ấy tôi được chấm hạng nhất và thày tiên đoán, nếu cứ chịu khó học và cố gắng suy nghĩ để làm bài, rất có thể tôi sẽ là nhà văn sau này. Bây giờ nhớ lại còn ngượng ê cả mặt. Vì tôi đến hết kiếp này vẫn chẳng trở thành nhà văn được.

Ngày qua tháng lại, tôi ở trọ nhà chị đã được 4 năm, sinh hoạt của tôi vẫn cứ đều đặn như tất cả mọi ngày và gần giống với những người cùng trang lứa. Mỗi buổi sáng tôi được một đồng để ăn quà.

Ở Hànội có món xôi lạp xưởng tôi thấy ngon chưa từng thấy. Cầm đồng bạc trong tay, tôi ra cửa ngồi đợi, thường thì Lê đã đợi ở đó từ trước, tiếng rao “Lạp xường mà đô mái phàm” (tôi chả hiểu nghĩa của câu này cho đến bây giờ) từ phía cuối phố. Chúng tôi chạy ra lề đường đứng chờ, ông bán xôi đến, một đồng một đĩa xôi trắng muốt, thơm dẻo và năm hay sáu miếng lạp xưởng mỏng như giấy bóng, nhưng cái ngon chính là những giọt magie, lần nào tôi cũng xin thêm vào giọt, đã không được lại còn bị lườm cho mấy cái. Thật là tức.

Sướng nhất là những buổi sáng thứ Năm, không phải đi học. Dặn dò tôi vài điều thông lệ, chị K. tôi cùng cháu H. con gái lớn của chị đi chợ Ðồng Xuân hay đi chợ Mơ ở Bạch Mai, thế là tôi rủ Lê qua Huyền Trân Công Chúa gọi Tuấn Còm, Khoát, Hiền lác (mắt lé), Hải béo cùng nhau đi một mạch đến nhà Bác Cổ (tức Viện Bảo Tàng) để vui đùa. Chúng tôi xếp hàng vào nhà Bác Cổ để xem những cổ vật lịch sử như Long Sàng của vua Gia Long, chiếc áo giáp của Quang Trung Ðại Ðế và những khẩu thần công đúc bằng đồng, kế tiếp chúng tôi rủ nhau ra bờ sông Hồng, vào mùa nước cạn trơ lại mấy đụn cát, chỗ tốt cho chúng tôi vùng vẫy, bắn nhau bằng mồm, chỉ tội nghiệp Lê Cự Phách, lẽo đẽo theo bạn không than phiền, không nổi quạu, -vẻ chịu đựng không tham dự nhưng vẫn không bỏ cuộc, đi tới đâu cũng có mặt. Dường như trong suốt cuộc dong chơi Lê chỉ có mặt. Lê không thích quẫy lộn, mà chỉ đứng quan sát. Sở dĩ Lê với tôi thân nhau một phần vì hoàn cảnh sống của chúng tôi hơi giống nhau. Tôi xa cả cha lẫn mẹ.

Riêng Lê, tôi không được gặp cha Lê lần nào, có lẽ người cũng làm xa ở Hànội, hoặc vì còn quá nhỏ để tôi nhận ra sự thật (tôi xin lỗi bạn tôi: Du Tử Lê nếu có điều xúc phạm ở đây). Mẹ của Lê, cụ cũng thường đi vắng cả ngày. Lẽ ra chúng tôi được quanh quẩn bên mẹ và có thể cả nhõng nhẽo nữa, nhưng điều này hơi ít với chúng tôi nên cả hai đứa cùng thích rủ nhau đi lang thang đây đó trên phố phường Hànội với hai hàng cây bàng, cây sấu bóng mát, cứ thế hai đứa chúng tôi chiều theo ý thích của nhau. Tôi còn nhớ Lê chỉ thích, những lúc rảnh là vào đền Ngọc Sơn, đi ra phía sau nơi gọi là Trấn Ba Ðình để ngồi im hàng giờ nhìn ra mặt hồ, ngoài ra Lê cũng hay rủ tôi đi dọc theo phố Nguyễn Du, từ cửa Trường Thiếu Sinh Quân mải miết về phía hồ Ha-Le hai đứa vào chùa Long Vân để nhìn ngắm nơi này chỗ kia. Và, lần nào cũng vậy, tôi chưa bao giờ bỏ lỡ dịp may, lợi dụng lúc này để xuống hồ bơi lội. Tắm hồ là nỗi đam mê của tôi thuở nhỏ, đã có lần đang bì bõm lội, tôi bị mấy ông nhóc đánh giày ở Trần Nhân Tôn dìm gần chết. Lại thêm một điều lạ nữa, dù tôi rủ rê, mời mọc hay cách gì Lê cũng nhất định không chịu xuống bơi chung với tôi, dù một lần. Mãi ba chục năm sau tôi mới phát giác ra cậu Lê không biết bơi. Nhiều lúc ngồi trên bờ đợi lâu quá, Lê gọi tôi: KH. ơi khéo không lại bị chuột rúc đấy, hoặc “KH. ơi, thôi lên đi trên này gió rét rồi đấy”.

Kỷ niệm về tuổi thơ Hànội thì nhiều nhưng không phải là những sự kiện to lớn, hoàn toàn là những ngày, những giờ chúng tôi cùng chung nhau một trò chơi, một thói quen, một sở thích rất thơ dại.

Thế nhưng con đường một chiều ấy trôi hút mất hút vào hư không, để lúc nhìn lại thì chỉ còn là những bóng hình, lúc rực rỡ như bình minh, lúc thì u uẩn như chiều đông. Lê Cự Phách và tôi cùng trú ngụ chung một địa chỉ, cùng được nâng niu, thương yêu của mẹ, của những người thân và cùng trải dài những tháng năm ấu thơ của mình trên những con phố, thậm chí chia cho nhau từ miếng xôi lạp xường, khúc “Khán chế sủi ê” hoặc cục kẹo nougat ngọt bùi.

Tình thân bằng hữu thâm giao của tôi và Lê Cự Phách khởi đi từ những ngày cuối năm 1948 ở số 9 Triệu Việt Vương Hànội đến nay, đã được 52 năm, con số khá dài của một đời người, dù rằng kể từ tháng 10/1954. Cha mẹ dắt tôi lại một lần nữa bỏ Hànội, bỏ quê hương di cư vào Nam theo tinh thần hiệp định Geneve -vào Nha Trang- Lê và tôi cứ nghĩ là chúng tôi sẽ chẳng bao giờ còn gặp, và là bạn bè với nhau nữa, vì Lê có di cư hay ở lại Hànội lúc đó làm sao tôi biết được. Thật lòng, những ngày tháng ở Nha Trang, vì lo học hành (tôi đã xin được vào học tại trường Trung học Võ Tánh) ngày một lớn, nên bố tôi kiểm soát gắt gao hơn, thêm vào đó là sống với thành phố có biển, có núi, có nhiều cảnh lạ, bạn mới rủ rê, thế là tôi lại mặc tình dong chơi vào ngày nghỉ hè. Và, đã có lúc tôi quên mất người bạn thuở nhỏ Hanoi của tôi. Có còn chăng là những lần trốn học (chuyện trốn học với tôi là bình thường và thích thú) đi lang thang nơi bãi biển vắng tanh, nhất là những ngày biển động, bãi ít người, tôi ra ngồi trên cát để ngó mông về chân mây xám, đục để nhớ lại tuổi mình. Lúc đó, tôi nhớ Lê đến thảm thiết, nhớ người bạn còm cõi, tư lự và chịu đựng. Nỗi nhớ ngút ngàn trong tôi và tôi khấn thầm, ước ao sẽ được tụ họp đầy đủ những bằng hữu Hanoi ấu thơ như Lê, Tuấn còm, Hải béo, Khoát v.v... để vui chơi như ngày tháng cũ...

Thay Lời Chấm Hết.

Bạn tôi, ông Du Tử Lê
Cuối cùng thì chúng ta: Lê Cự Phách hay Du Tử Lê, nhà thơ lớn, một nguồn hãnh diện cho nền văn học, cho bạn bè, đã gặp lại nhau. Tôi và bạn ta vẫn quanh quẩn bên tình thân hữu và ông vẫn có nguyên dáng vẻ của sự chịu đựng, nhường nhịn như ngày xưa, Hanoi.

Sau một thời gian học ở Võ Tánh, bố tôi lại quyết định cho tôi vào Saigon để học, vì ở Nha Trang, tôi ngồi tại bãi biển nhiều hơn trong lớp. Vào Saigon được vài tháng, lớ quớ thế nào, tôi lại “tó” được ông -Du Tử Lê nơi nhà bạn tôi- Hoàng Ðình Tập. Chúng ta lại có nhóm bạn mới, tuy nhiên, lúc này đã là Cậu cả rồi, đang học Trung học cả. Những cái tên Ðào Quý Châu, Hoàng Ðình Tập, Nguyễn Ngọc Chấn v.v... thay cho những cái tên bạn cũ -đã thất lạc. Và, điều tôi chẳng dè, hay chẳng bao giờ nghĩ được rằng tôi sẽ có một người bạn thi sĩ nổi danh: Lê Cự Phách – Du Tử Lê. Người bạn nhỏ mà chị Tâm đã dặn dò:

“Em bênh nó nhé, đừng để nó bị bắt nạt, Phách nó yếu lắm”.

Bạn tôi, Du Tử Lê.
Hẳn bạn còn nhớ, một lần có bốn đứa: Hoàng Ðình Tập, Ðào Quý Châu, Lê Cự Phách và tôi, tại Café La Pagode, Saigon, sau khi tôi “đấu” về một chuyến hành quân, đụng độ khá nặng tại Rừng Tây Ninh, con nhà Tập khen tôi là “thằng Ð. (tôi cũng đã được đổi tên mới) có trí nhớ tốt thật, cái gì nó cũng nhớ, kể lại rành mạch như chuyện mới xảy ra ngày hôm qua, tao chịu thua”. Tôi khoái chí, phổng mũi buột miệng: “Những chuyện vài chục năm tao cũng còn nhớ, như chuyện của tao và con nhà Lê ở Hanoi, tao bắt nạt nó thế nào, còn nhớ hết”. Hoàng Ðình Tập vồ ngay lấy: “Mày nói cho anh em nghe đi, tao với nó học chung từ Ðệ Thất đến bây giờ mà nó dấu đời tư ghê lắm, mày phanh phui sự thật ra đi”.

Tập nó chết đã ba mươi hai năm. Trong đám tụi mình: Tôi, Ðào Quý Châu, Hoàng Ðình Tập, Nguyễn Ngọc Chấn đều đã mặc chung bộ quân phục, đội mũ nâu của binh chủng Biệt Ðộng Quân ra trận, có đứa nào chết đâu, một mình Hoàng Ðình Tập xé lẻ -bỏ anh em- nó chết trong lúc đang chỉ huy một Trung đội BÐQ xung phong tái chiếm lại ngôi nhà thờ do VC chiếm đóng tại vùng Bình An, quận 7 Saigon năm Mậu Thân 1968. Nó ra đi trước sự sững sờ, chết lặng của tôi. Bạn nó, cấp chỉ huy của nó. Trái B40 đã giúp nó cơ hội, rẽ hàng bỏ anh em lại, đi một mình. Tập chết đã ba mươi hai năm, nhanh thế đấy, và, lời hứa với nó tôi cứ lần lữa qua ngày, đến nay vẫn chưa làm được, cũng bởi nguyên do mâu thuẫn: nửa muốn khai thật, khai hết về đời tư của bạn ta ở Hanoi, nhưng nửa kia, lại muốn cất giữ riêng trong ngăn kéo tâm hồn, để dành làm vốn.

Tháng Giêng/2000 vừa qua, nhân ngày giỗ của Tập, chúng mình nhắc lại những ngày tháng nó còn sống, cùng với tôi xách súng lên mặt trận. Ðạn nổ như giã gạo trên đầu, vẫn nghênh ngang, cười cười, ngậm cái pipe (tẩu thuốc lá) Dunhill nhả khói. Tôi chợt nhớ đến lời yêu cầu của bạn mình. Trước sau cũng phải trả nợ một lần cho xong. Không còn cơ hội để nói trực tiếp cho nó nghe về câu chuyện ấu thơ của bạn tôi, và tôi dong chơi phố phường Hà Nội, với Triệu Việt Vương, ngõ Tràng An, Huyền Trân Công Chúa v.v... Thì đành vậy, tôi viết trên giấy và chúng ta cứ coi như Hoàng Ðình Tập đang vừa đọc vừa bập bập cái ống vố nhồi đầy thuốc 79 thơm lừng, nó cùng với chúng mình dắt nhau về thăm lại khu vườn tuổi nhỏ thần tiên -Hà Nội- Du Tử Lê há.

Chấm hết ở đây nhé bạn tôi, yêu dấu!

Tháng một năm hai ngàn
Nguyễn Thế Ðỉnh

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image

MỢ TÔI

Nguyễn Khắp Nơi


Mẹ là một danh từ chung, mà một số người Việt đã dùng để chỉ người đàn bà đã sinh ra mình. Ngoài tiếng kêu Mẹ, chúng ta còn nhiều danh từ khác để gọi mẹ: Má, Mợ, Mệ... Tựu chung, tiếng gọi mẹ của người Việt chúng ta hầu như đều bắt đầu bằng vần M.
Không riêng gì người Việt Nam, đa số dân chúng trên thế giới đều gọi mẹ bắt đầu bằng vần M. Tại sao lại có sự trùng hợp như vậy?

Theo sự suy đoán của tôi, đứa trẻ khi vừa mới sinh ra, chỉ biết há miệng bú sữa và ngậm miệng đi ngủ. Âm thanh phát ra từ vành môi khi đứa trẻ mở miệng, chúng ta nghe dường như là MMMMM... dịch ra tiếng Việt Nam, nghe như MẦMMẦM... Như vậy có nghĩa là, âm M là âm tự nhiên mà bất cứ đứa trẻ nào của bất cứ sắc dân nào, khi mới sinh ra cũng có thể phát âm được. Người Mẹ là người gần gũi đứa trẻ nhất khi nó vừa sinh ra đời, do đó, để có thể gọi người mẹ, chắc chắn đứa trẻ đều phát âm bắt đầu bằng âm M. Chính vì thế, mà:

Người Anh gọi mẹ là MUM - Người Pháp gọi mẹ là Maman - Người Mỹ gọi mẹ là Mom - Người Tây Ban Nha gọi mẹ là Mamá - Người Đức gọi mẹ là Mama - Người Na Uy gọi mẹ là Mamma...

Tôi là dân sinh đẻ ở miền Bắc, theo cung cách xa xưa, tôi được dạy gọi mẹ tôi là MỢ.

Mợ tôi cũng chỉ là một trong số hàng triệu người mẹ Việt Nam bình thường mà bất cứ gia đình Việt Nam nào cũng có: Rất mực thương con và có thể hy sinh tất cả những gì mình đang có cho những đứa con của mình.

Chuyện xưa kể rằng:

Có hai người đàn bà tranh giành một đứa trẻ sơ sinh. Người nào cũng nhận mình là mẹ của đứa trẻ. Không còn cách nào khác, hai bà phải đem nhau ra tòa để nhờ đèn trời soi sáng.

Ông Chánh án cho điều tra đủ mọi thứ, từ thói quen của đứa trẻ cho đến áo quần và cách thức ăn uống, cả hai bà đều nói đúng hết. Chánh án hết cách xử, ngồi trầm ngâm trên án suy nghĩ giờ lâu. Cuối cùng, ông gọi hai người đàn bà lại, nghe phán quyết:

“Cả hai bà đều dành quyền nuôi đứa trẻ. Thôi thì để cho công bằng, ta sẽ... cho mỗi bà một nửa thân hình của đứa trẻ. Lính hầu đâu, đem xẻ đứa nhỏ này ra làm hai phần, đưa cho mỗi bà mẹ một nửa. Ai cũng có phần, không cần phải cãi cọ chi nữa”.

Người đàn bà thứ nhất đứng lên tuyên bố chấp nhận phán quyết của tòa, và chỉ mặt người đàn bà kia mà nói:

“Đó, cho bà dành đó. Tôi mà không được nuôi đứa bé thì thà cho nó chết đi còn hơn là để cho bà nuôi nó”.

Người đàn bà thứ hai ngồi im, gương mặt âu sầu buồn thảm, cặp mắt xót thương nhìn đứa trẻ đang nằm trên bàn chánh án. Một lúc sau, bà mới vừa khóc vừa thưa với quan tòa:

"Thưa quan tòa, tôi không nỡ nhìn con tôi bị phanh thây. Thôi thì tôi nhường cho bà kia được quyền nuôi đứa con của tôi đó. Ít nhất, nó còn đuợc sống."

Nói xong, bà òa lên khóc chạy ra ngoài tòa.

Quan Chánh án đập bàn sai lính chặn bà lại, đem trở lại phòng xử, nạt lớn:

"Ta chưa xử xong, sao ngươi dám mạo phạm mà rởi khỏi phòng xử?

Hãy nghe ta phán đây:

"Phàm là bậc cha mẹ, từ cổ chí kim, từ con người cho đến loài cầm thú, ai cũng có lòng thương con, lo lắng, đùm bọc cho con cái của mình.

Ta nói đem đứa trẻ ra xẻ làm hai là cũng căn cứ vào lẽ thường tình của người mẹ thương con để phân xử mà thôi. Ngươi đã cho ta thấy lòng mẹ thương con, thà để cho người khác nuôi con mình còn hơn là để cho nó bị chết. Ngươi mới chính là người mẹ của đứa trẻ, ta xử giao lại đứa trẻ cho ngươi nuôi dưỡng, tặng thêm một ít dồ tiện dụng hàng ngày cho hai mẹ con sinh sống.

Còn tên đàn bà kia, nhà ngươi đã không có lòng thương, mà chỉ có lòng hận thù mà thôi. Ngươi thà để cho ta chặt đứa nhỏ ra làm hai, còn hơn là để nó được sống với người khác. Ngươi không có lòng thương yêu đứa trẻ thì làm sao có thể là mẹ đẻ ra nó được? Ngươi chỉ là phường lường gạt vô lương tâm mà thôi. Ta phạt ngươi ba mươi hèo, giam giữ ba năm cho ngươi biết luật trời công minh."


Mợ tôi thì không phải ra trước quan nha để nghe xử, vì hàng xóm chung quanh nhà tôi ai cũng có cả đống con, cho bớt đi cũng còn được, nói chi đến chuyện tranh giành nuôi con người khác. Hơn nữa, anh em chúng tôi trên dưới tám đứa, phá phách dữ lắm, có cho đi cũng chẳng ai dám nhận nuôi.

Tôi sinh ra ở Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang. Cậu tôi (ba tôi) làm thầy giáo làng, đi dạy học ở mãi Lạng Sơn, lâu lâu mới về thăm nhà, mẹ tôi một mình ôm năm đứa con nhỏ vừa phải buôn bán kiếm thêm, chứ trông vào tiền lương của cậu tôi thì làm sao mà đủ sống.

Mợ tôi kể lại, khi tôi được một tuổi, mợ tôi phải lo đi buôn gạo để sinh sống. Mỗi buổi sáng, mợ đong gạo đầy một bên thúng, bên kia quấn chăn để tôi nằm lọt thỏm trong đó mà gánh đi từ sáng tinh mơ để kịp giờ họp chợ xa. Hôm nào bán được gạo thì mợ tôi mua thêm ít vải vóc đem về bán chợ gần, và chỉ ngày hôm đó anh em chúng tôi mới có ít cơm ăn, không phải ăn cháo.

Đến khi tôi được ba tuổi, tôi nặng quá rồi, không thể ngồi trong thúng được nữa, mợ tôi phải để tôi ở nhà cho anh Hiệp trông nom tôi. Hơn nữa, bọn Việt minh (sau này mới đổi tên là Việt cộng) thường hay mang súng đến chợ bắc loa kêu gọi mọi người không được nhóm chợ nữa, mà phải theo chính sách "Vườn Không Nhà Trống" hoặc là "Tiêu Thổ Kháng Chiến". Nếu ai không nghe lệnh là chúng bắn bỏ ngay, vừa để đe dọa người dân, vừa tịch thu hàng hóa của họ. Điều kinh khủng cho người dân hơn nữa là, mỗi khi bọn Việt minh xuất hiện, là thế nào bọn mật thám của Pháp cũng biết tin mà báo cho bọn lính thuộc địa đem quân Lê Dương đi càn (đi hành quân). Hai bên đụng nhau súng bắn khắp nơi, ai chạy chậm ráng mà chịu chết, vì thế, mợ mới phải để tôi ở nhà.

Một hôm, tôi ở nhà với anh Hiệp, anh lại bị cảm lạnh, đắp chiếu nằm ngủ li bì. Trời sắp tối rồi mà các chị tôi đi mò cua bắt ốc đâu đó chưa về, mợ tôi chắc cũng còn đang gồng gánh đâu đó trên con đường đê chưa tới nhà. Trời bắt đầu đổ cơn mưa, lại gió lên nữa, mái nhà tranh cũ kỹ rách nát đâu còn đủ sức mà chịu đựng những cơn gió mạnh. Mỗi lần gió nổi lên ào ạt là mỗi lần mái tranh nhà tôi bay đi một ít, lần này cơn gió ác hại đã làm bay đi mảng tranh ngay trên đầu chỗ anh tôi đang nằm, nước mưa nhỏ xuống trúng nguời, làm anh lạnh quá, rên lên hừ hừ nghe thật là sợ. Tôi cũng cảm thấy lạnh, ngồi co ro ở cuối giường, mỗi lần cơn gió mạnh ào đến, lạnh thấu xương, tôi chỉ còn cách chắp tay lạy trời lạy đất:

"Lạy Trời đừng... Hừ... Hừ... đừng gió nữa... chỉ... Hừ... Hừ . . . mưa thôi."

Tới lúc trời tối đen như mực, mợ tôi mới gồng gánh về tới nhà, hàng của mợ coi như bị mất sạch vì Việt minh tịch thu không cho nhóm chợ. Mẹ ôm tôi vào lòng, hai mẹ con khóc như mưa. May mà lúc đó các chị tôi cũng về, đem theo được ít khoai mót ở ngoài ruộng. Mợ vội vàng nhúm lửa luộc khoai bóc cho anh tôi ăn rồi chia đều cho tất cả chúng tôi.

Mãi tới khi cậu tôi bỏ dạy học trốn về nhà (chính phủ bắt phải dạy học, Việt minh thì rình mò bắt tù, vì chúng nghi cậu tôi theo Việt Nam Quốc Dân Đảng), gia đình chúng tôi mới liên lạc được với bác Quế, Cô Tích ở Hà Nội để từ đó tìm đường... "Về Tề" tức là về vùng Quốc Gia kiểm soát.

Tối hôm đó, cậu tôi được đám học trò lội ruộng đưa xuống thuyền trốn đám ám sát của Việt minh, mợ tôi dắt các chị gái của tôi, còn anh Hiệp cõng tôi chạy thục mạng ra bờ sông. Phần thì trời tối đen như mực, phần vì sợ hãi, ai cũng cắm đầu chạy thục mạng, anh Hiệp cõng tôi một lúc thì thở không ra hơi, anh bỏ tôi xuống dắt tôi chạy. Tôi chạy bước thấp bước cao ngã lia lịa. Anh Hiệp đỡ tôi đứng dậy, nhìn lên chẳng còn thấy ai nữa, anh hoảng hồn kêu lên:

"Mợ ơi... chờ con với... "

Một người học trò của cậu tôi nghe được tiếng kêu cứu của anh Hiệp, chạy trở lại cõng tôi và dắt anh chạy nước rút. Khi tới bờ sông, cả nhà lên thuyền thì bọn du kích đã biết tin, chúng chạy tới lùng kiếm dọc bờ sông, tay chém dao xuống nước, chân thọc vào từng bụi cỏ, làm những người học trò không dám chèo thuyền nữa, mà phải nhẩy xuống nước kéo thuyền đi, còn anh em chúng tôi sợ tới không còn hồn vía nào nữa. Qua đến giữa sông, các anh học trò mới dám nhẩy lên thuyền, ra sức chèo thật nhanh cho tới bờ bên kia, tức là vùng an toàn của Quốc Gia.

Về đến Hà Nội, gia đình tôi tá túc tại nhà của bác Quế, ở Phố Huế, ngay trước cửa Chợ Hôm. Cậu tôi lo đi trình diện Nha Học Chính để xin tái bổ dụng, còn mợ tôi được bác Quế cho mượn cái tủ thuốc ngồi bán thuốc lá lẻ ngay trước cửa hàng bán cam táo của bác.

Hàng ngày, các anh chị tôi đi học, một mình tôi đứng sớ rớ bên cạnh mợ mở to cặp mắt ra mà nhìn người đi qua đi lại. Trời đã vào cuối thu, lạnh lắm, tôi được con của bác Quế cho cái áo ba đờ suy (coat) cũ, thỉnh thoảng lại cúi xuống tự ngắm mình, vì từ thủa mới sinh ra, tôi đâu có bao giờ được mặc cái áo đẹp như thế này đâu! Ngắm người đi bộ chán rồi, tôi quay ra ngắm xe điện (xe tram) chạy lên chạy xuống, rồi cũng bắt chước mọi người đi ra xem chợ bán hoa (cũng ngay trước cửa nhà). Mưa phùn lất phất, tôi thọc tay vào túi đi xem hoa cứ y như là người lớn. Tôi lang thang tới mãi tận rạp cinê Thăng Long (rạp chiếu bóng, bên đây gọi là movie) thì mợ tôi hoảng hốt đi tìm tôi dắt về.

Gia đình tôi di cư vào Nam năm 1954, những ngày đầu tiên, chúng tôi sống trong trại tỵ nạn ở Trường Nữ Trung Học Gia Long. Sau khi đã an vị tại gầm cầu thang của truờng, sáng sớm ngày hôm sau, mợ tôi dắt anh chị em chúng tôi đi vòng vòng khu trường học để... xem cho biết. Trường Gia Long thật là to lớn và đẹp đẽ với những hàng cây dọc lối đi và những căn nhà hai tầng dùng làm lớp học. Hồi ở Hà Nội và Sơn Tây, tôi đã có tới trường đi học rồi, nhưng những ngôi trường đó chỉ là truờng Tiểu học mà thôi, đôi khi nằm trong chùa, hoặc ở một khu vực hẻo lánh nào đó, chứ chưa bao giờ tôi được học hoặc là vào thăm một ngôi trường nào lớn như trường Gia Long này. Kỷ niệm mà tôi nhớ mãi cho đến ngày hôm nay là, khi chúng tôi đứng ở giữa sân, nhìn lên bầu trời trong xanh với những tia nắng vàng rực rỡ, mợ tôi đã buột miệng nói:

“Nắng Miền Nam... đẹp quá!”

Cũng nhờ những tia nắng đẹp của Miền Nam này mà gia đình chúng tôi và tất cả dân chúng ở Miền Nam đã đuợc sống những chuỗi ngày hạnh phúc thanh bình. Sau khi trung tâm Tỵ Nạn tại trường Thạnh Mỹ Tây đóng cửa, chính phủ mở ra các trường học di chuyển và cậu tôi lại được tuyển dụng dạy học ngay tại Trường Di Chuyển Thạnh Mỹ Tây Thị Nghè. Mợ tôi chạy đôn chạy đáo mướn được căn nhà lá ở khu Sở Bông, gần Thảo Cầm Viên Sàigòn. Lạ nước lạ cái, lạ phong thổ và lạ cả tiếng nói, mợ tôi chưa thể buôn bán gì thêm được, cả gia đình sống nhờ vào đồng lương giáo viên của cậu tôi. Cũng như đa số những người đàn ông khác, cậu tôi chỉ biết đi làm kiếm tiền thôi, chứ làm sao có thể chăm lo cái ăn cái uống cho anh chị em chúng tôi. Kỳ lãnh lương đầu tiên, cũng là kỳ lãnh lương mà cậu tôi được sống ở nhà chung với cả gia đình (từ xưa tới giờ, cậu tôi luôn luôn phải đi dạy học xa nhà), khi cả nhà quây quần sau bữa ăn tối, cậu tôi móc túi đưa một xấp tiền (đối với đứa con nít 8 tuổi như tôi là nhiều lắm rồi) ra và hỏi mợ tôi:

“Bà... cần bao nhiêu?”

Mợ tôi đã nói một câu thật là chắc nịch:

“Ông cứ... đưa hết cho tôi là... được rồi.”

(câu nói lịch sử này, những bạn bè của tôi đã lấy vợ, đã có gia đình, chắc chắn ít ra cũng đã hơn một lần được nghe vợ mình nói một câu như vậy, phải không bạn?)

Nhờ tài xoay sở chắt bót của mợ tôi mà cả gia đình tôi gồm cha mẹ và bảy anh chị em (sau này em út tôi được sinh ra mới đủ con số 8) đã có một cuộc sống tạm gọi là no đủ. Mỗi đứa trong chúng tôi được mợ tôi đo cắt và khâu tay cho hai bộ quần áo mặc lúc đi học cũng như ở nhà, loại vải thật dầy, để khi đứa lớn mặc chật thì truyền lại cho đứa sau. Suốt cả thời kỳ tôi học tiểu học, chỉ có một lần duy nhất gia đình chúng tôi được đi chơi chung với nhau là kỳ nghỉ “Lễ Quốc Khánh 26 tháng 10”, cậu tôi đã dắt cả nhà đi thăm Thảo Cầm Viên Sàigòn (gọi tắt là Sở Thú). Sở Thú này, thật sự chỉ có cách nhà tôi khoảng mười phút đi bộ qua cầu (cũng được gọi là cầu sở thú, bắc ngang sông Thị Nghè) là tới nơi. Đó cũng là lần đầu tiên trong đời thơ ấu, tôi được nhìn thấy tận mắt những con khỉ, voi, cọp... mỗi đứa chúng tôi được mợ mua cho một cây kem, tiếng Miền Nam gọi là Cà Rem Cây.

Ngoài cây cà rem đó ra, chúng tôi chưa bao giờ bước chân đến bất cứ tiệm ăn nào, dù chỉ là một cái quán ăn bình dân, nơi tôi và đám thằng Tự, thằng Nam... đã tới đó để nhặt nút chai, lon sữa bò làm đồ chơi. (Bạn bè thủa xưa của tôi vào những năm 1956 còn nhiều lắm, nào là thằng Tự (niểng) (vì xương cổ của nó bị cong, làm cái đầu nghiêng sang một bên. Tự sau này giữ chức Thiếu Tá, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân, tử trận vào lúc 4 giờ chiều ngày 30 04 1975), thằng Giao (dao cùn), thằng Giáo (dao sắc), thằng Nam (Lùn, vì nó không được cao cho lắm), thằng Tâm (cháu của Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam), thằng Hà (họa sĩ). Bên con gái có chị Hạnh, chị Trần Mộng Tú (làm thơ), chị Én... đến bây giờ chúng tôi vẫn còn liên lạc emails với nhau, vui lắm).

Cho đến bây giờ, tôi cũng không hiểu làm sao mà chỉ với số lương giáo viên ít ỏi của cậu tôi mà mợ tôi có thể nuôi nổi cả gia đình với một bầy con tám đứa ăn như quỷ phá như giặc như chúng tôi?

Chắc là tại vì cậu tôi chịu nghe lời... “Ông cứ đưa hết cho tôi là được rồi.” và chắc cũng vì cái... Nắng Đẹp Miền Nam mà đời sống dân chúng không quá khó khăn đến nỗi phải bon chen chụp giựt vào thời gian đó. Cũng theo cái lý thuyết “Đưa hết cho tôi” mà khi chị Oanh, anh Hiệp đi làm, cũng đều đưa tiền cho mợ tôi lo phần chi thu trong gia đình, chỉ có mỗi mình tôi đi lính xa nhà, nên tôi giữ luơng lại mà sinh sống. Hơn nữa, tôi đóng quân ở mãi Pleiku, đâu có đuợc về nhà đâu mà đưa tiền cho mợ tôi giữ.

Đến khi tôi lấy vợ, câu đầu tiên mà mợ tôi dậy dỗ cô con dâu là:

“Con phải bảo thằng An nó... đưa hết tiền cho con giữ mới được đấy.” Nhưng mà khó cho vợ tôi là vào thời gian năm 1977, vợ chồng tôi lo bán đồ trong nhà đi mà tiêu xài, chứ tôi đâu có đi làm ở đâu đâu để mà đưa hết tiền cho vợ. Khi tìm được đường để lo vượt biên, chủ tầu chỉ cần tôi góp vốn một “Cây” thôi, vợ chồng tôi cũng không có cách nào mà kiếm ra. Vậy mà mợ tôi có đấy! Mợ nói với tôi:
“Để mợ... cho con mượn”

Thế là ngày hôm sau, khi tôi đến nhà mợ (lúc đó chúng tôi ở riêng), mợ đã đưa cho tôi một gói giấy, trong đó có đúng một lát vàng hình ba trái núi. Mợ tôi tài thật.

May mắn cho tôi, chuyến vượt biên được trót lọt (những lần vượt biên trước, vợ chồng con cái chúng tôi đi đều bị đình hoãn hoặc bị bể). Lênh đênh trên biển đúng bốn ngày bốn đêm, tầu vượt biên của chúng tôi đã cặp bến đảo Pulau Tanga của Mã Lai, đúng một tháng sau là tôi đã có mặt ở Melbourne, mượn tiền của Hostel đánh điện tín về nhà báo tin đã tới nơi an toàn. Số tiền trợ cấp một tuần lễ đầu tiên (và là số tiền trợ cấp duy nhất tôi lãnh ở Úc cho đến ngày hôm nay) tôi được lãnh tại xứ Úc, tôi đã mua vải vóc thuốc tây gởi hết về cho mợ. Nhận được quà, mợ gọi vợ con tôi đến, giao cho vợ tôi việc đi bán lấy tiền. Ba tháng sau, đơn bảo lãnh vợ tôi vừa mới gởi đi thì đã được tin vợ con tôi đã vượt biên an toàn đến đảo Pulau Bidong.

Tôi có được đến ngày hôm nay cũng là nhờ cây vàng mà mợ tôi đã cho (đứa con gái út của tôi cũng đã được tôi kể cho nghe câu chuyện này hơn một ngàn lần. Khi gặp bà nội ở Canada, nó cũng bá cổ bà nội mà đòi... mượn một lạng).

Câu đầu tiên mợ tôi nói với vợ tôi khi hai vợ chồng tôi sang thăm mợ lần đầu tiên ở Montreal là:

“Thằng An nó có... đưa hết tiền cho con giữ hay không đấy?”

Vợ tôi trả lời mợ, chắc như bắp:

“Mợ yên trí, con nhớ lời mợ dặn mà. Tiền khách hàng trả là con thâu chứ ảnh đâu có được rớ tới đâu, con thâu tiền hổng thiếu một cắc, mợ... đừng có lo”

Bây giờ thì tôi mới hiểu tại sao tôi chỉ có mỗi... hai chục đồng ở trong bóp (mỗi tuần, vợ tôi đưa cho tôi hai chục đồng để tiêu vặt. Đến cuối tháng, bả coi lại, nếu tôi chưa xài gì nhiều, số tiền còn dư, bả... lấy lại, chỉ để đúng hai chục đồng trong bóp tôi mà thôi. Cũng may là ở xứ Úc này không có bán bánh tráng nướng, chứ không thì lỡ tôi đi đường, đụng bể mấy cái bánh tráng, chắc không có đủ tiền đền).

Anh Hiệp tôi bảo lãnh cậu mợ và các chị em tôi qua Canada (tám anh chị em tôi sống tản mát khắp mọi nơi: Cậu mợ và một chị gái, một em trai tôi sống ở Canada với gia đình anh Hiệp (anh lớn), chỉ Oanh là chị cả của tôi và hai đứa em trai sống ở Mỹ, gia đình tôi ở Úc, và gia đình chị Bảo tôi còn ở lại ở Việt Nam). Mặc dù không phải chi tiêu gì cho gia đình nữa, nhưng mợ tôi vẫn cứ xách lược cũ mà áp dụng: “Ông cứ đưa hết tiền đây cho tôi”, làm cho cậu tôi đôi khi bị xính vính mỗi lần muốn đi chơi ngoài phố, tôi biết vậy, nên đã lén mợ tặng riêng cho cậu tôi một số tiền để ông tiêu vặt.

Khi trở về Úc, khoảng vài tháng sau, tôi nhận được thư của cậu gởi cho tôi (lâu lắm rồi, khoảng năm 1991 gì đó. Cậu tôi qua đời năm 1998, thọ 86 tuổi). Cậu khoe tôi:

“Có tiền của con đưa, cậu đi chơi vòng khắp thành phố Montreal, thấy người ta bán bánh Pizza, cậu mua ăn thử... ngon lắm con ạ. Chiều về nhà, mợ dọn cơm ra, cậu nói dối mợ là... bị đau bụng nên không ăn cơm (cậu tôi nói tiếng Pháp rành lắm, dân Montreal nghe ông nói đúng giọng, không vấp váp, cứ tưởng là cậu tôi sinh đẻ ở Pháp). Thật ra là cậu ăn bánh còn no lắm, và cũng có đi cầu thật, vì bánh có nhiều bơ quá. Nhưng chỉ một tuần sau, mợ lục túi cậu, thấy có tiền, mợ lại... lấy hết rồi. Mợ nói:

“Khi nào ông cần thì tôi sẽ đưa. Ông ăn cơm ở nhà, đi đâu có thằng Hiệp lái xe đưa đi, cần gì đến tiền mà phải giữ.”

Thế là cậu lại không có tiền dằn túi. Nếu con có gửi tiền cho cậu, con cứ gởi qua nhà bác Phan (Bác Phan là bạn của cậu tôi từ thời hai người còn học tiểu học chung với nhau. Bác cũng được con trai bảo lãnh qua Montreal và ở gần nhà cậu mợ tôi), khi nào cậu đi chơi, cậu sẽ ghé bác lấy xài dần.”

Mợ tôi bây giờ đã 95 tuổi rồi, bà sống trong Viện Dưỡng Lão ở Montreal. Viện này dành cho tất cả dân chúng trong vùng. Mợ tôi sống vui vẻ lắm, vì bà nói được tiếng Pháp và lại ăn được đồ ăn nấu theo kiểu Pháp nữa. Ngày ba buổi có người bưng đồ ăn nóng lại cho bà, bà ăn ngon miệng lắm. Năm 2010 vừa qua, vợ chồng con cái chúng tôi lại dắt díu nhau qua Montreal thăm bà nội. Hai đứa con của tôi học mãi cũng chỉ nói được với bà nội một câu:

“Bà Nọi... Bà Nọi khòe hong?”

Bà nội cũng chỉ nhìn cháu mà cười:

“Cháu... cháu ngoan quá”

Rồi mấy bà cháu nhìn nhau cười, vui lắm.

Vì mợ tôi sống trong nhà dưỡng lão, không còn phải lo chi thu hàng ngày nữa, và cũng vì cậu tôi qua đời rồi, nên cái lý thuyết “Ông đưa hết đây cho tôi” không còn được áp dụng nữa. Tuy nhiên, mợ đã truyền cái lý thuyết này lại cho mấy cô con dâu rồi, và cô nào cũng áp dụng chặt chẽ lắm, nên mợ rất là vui vẻ với đám con dâu biết nghe lời.

Vợ tôi có thể là một trong những học viên giỏi nhất của mợ. Mỗi lần tôi đòi... tăng lương, vợ tôi đã thẳng thừng từ chối:

“Cứ ăn xài kiểu như anh, em mà không lo cắt bớt, anh giờ này chắc... hổng có cái “quần xả lỏng” mà bận đâu, nói chi đến chuỵên mua nhà, mua xe...”..

Trước đây, cứ mỗi năm năm là chúng tôi lại qua thăm mợ một lần, nhưng vì công việc, chúng tôi chỉ có thể đi vào kỳ nghỉ hè, tức là vào tháng Một. Mà tháng này ở bên Canada lạnh thấu xương, có khi lạnh xuống tới trừ ba mươi độ, nên cả gia đình chỉ ngồi trong nhà nói chuyện, ăn uống với mọ mà thôi, chứ không dám dẫn mợ đi chơi, vì sợ tuyết trơn, sẽ bị ngã. Kỳ đi thăm mợ vừa qua, chúng tôi đổi qua tháng Năm, tôi chưa có bận bịu công việc làm cho lắm, và thời tiết bên Montreal đang là mùa Hè, nên chúng tôi có thể ra ngoài chơi, nhưng tiếc rằng, bà nội phải thở bằng ống dưỡng khí, nên không đi xa được. Vì mợ tôi đã lớn tuổi rồi, nên chúng tôi lại phải thay đổi thời gian đi thăm mợ mỗi ba năm, nên đến năm tới, chúng tôi lại đi thăm mợ lần nữa. Mai mốt đây, chắc là mỗi năm chúng tôi sẽ đi thăm mợ một lần...

Mợ tôi nghe không rõ cho lắm, nhưng mắt bà vẫn còn tinh, vẫn còn khâu vá đan áo len và đọc báo được. Lần trước, mợ đưa ra tờ báo “Văn Nghệ Montreal” khoe với tôi:

“Đây này, báo ở Montreal đăng bài của con đây này, con viết vui lắm, mợ đọc thích lắm. Lúc trước, mẹ đọc thấy tên ai là Nguyễn Khắp Nơi mà lại viết chuyện giống như chuyện nhà mình? Mãi sau con Bình nó mới nói cho mợ biết Nguyễn Khắp Nơi chính là thằng An con của mợ. Con mợ giỏi quá” (Mợ khen con, không đúng đâu đó).

Nhân dịp lễ “Ngày của Mẹ” năm nay, tôi viết bài này tặng cho MỢ TÔI, chắc thế nào báo Văn Nghệ cũng lấy đăng vào báo của họ và gởi cho mợ tôi đọc (mợ tôi mua báo năm). Tôi không cần mợ khen “Con mợ giỏi quá” mà tôi chỉ cần mợ tôi biết rằng:

“Con cám ơn MỢ. Nhờ có mợ mà con có đến ngày hôm nay. Nhờ có một cây vàng của mợ mà con vượt biên đến được bến bờ tự do. Nhờ có lý thuyết “Ông cứ đưa hết đây cho tôi” của mợ mà vợ con đã áp dụng theo, để con có cái “Quần Xà Lỏn” mà bận cho đến ngày hôm nay”.

CON CÁM ƠN MỢ
NHỮNG NGƯỜI CON VIỆT NAM CÁM ƠN NHỮNG NGƯỜI MẸ VIỆT NAM ĐÃ NUÔI DẠY CON CÁI NÊN NGƯỜI HỮU DỤNG CHO XÃ HỘI.
NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI, LÀ THẾ ĐẤY!

NGUYỄN KHẮP NƠI.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Cà phê sữa và cà phê đen
Vào quán uống nước, Anh luôn gọi café sữa. Em luôn gọi café đen.
Người ta mang nước ra, luôn luôn nhầm lẫn. Anh café đen. Em café sữa.

Em nhanh tay đổi 2 món. Người bồi bàn đứng ngẩn ra, mặt đầy vẻ thắc mắc. Anh cười trừ. Đợi người ta đi, anh trách:

- "Sao không để người ta đi rồi em hãy đổi? Làm mất mặt anh quá!!!"
Em cười phá lên: "Đằng nào cũng vậy. Đâu có gì mắc cỡ!".

Anh con trai nhưng rất thích café sữa.Em con gái mà lại thích café đen.

Anh bảo café cho thêm tí sữa sẽ đậm mùi café hơn, lại còn cảm giác ngọt ngào của sữa...
Em bảo café đen nguyên chất, tuy đắng nhưng uống rồi sẽ mang lại dư vị, mà nếu pha thêm sữa thì sẽ chẳng còn cảm giác café nữa.

Anh và em luôn thế. Khác nhau hoàn toàn.Anh và em không yêu nhau. Đơn giản chỉ là bạn bè. Mà không, trên bạn bè 1 chút. Gần giống như tình anh em.
Nhưng em không chịu làm em gái anh. Em bảo, em gái có vẻ phụ thuộc vào anh trai, có vẻ yếu đuối, có vẻ... hàng trăm cái "có vẻ" và em không đồng tình.

Anh cũng không muốn anh là anh trai của em. Anh trai suốt ngày phải lo cho em gái, bị nhõng nhẽo, vòi vĩnh đủ thứ. Anh không thể kiên nhẫn.

Lâu lâu em hẹn anh ra ngoài đi uống café. Em café đen, anh café sữa.
Thỉnh thoảng buồn buồn anh lôi em đi vòng vòng, rốt cuộc cũng đến quán nước. Anh café sữa. Em café đen.

Anh có bạn gái. Bạn gái anh xinh xắn, rất dịu dàng, nữ tính. Đi với anh giống như 1 con thỏ non yếu ớt. Anh tự hào bảo, cô ấy không "ba gai", bướng bỉnh như em.
Em có bạn trai. Bạn trai em đẹp trai, galant, luôn chiều chuộng em. Đi với em, anh ấy không bao giờ khiến em tức chết. Em kiêu hãnh khoe, anh ấy thực sự là chỗ dựa vững chắc.

2 cặp thỉnh thoảng gặp nhau. Em vẫn café đen. Anh luôn café sữa.

Bạn trai em nói, anh đổi ly cho em. Em không chịu, café đen là sở thích của em.
Bạn gái anh thắc mắc, anh không uống café đen như những người con trai khác. Anh nhún vai, café sữa hợp khẩu vị với anh.

Trong lúc nói chuyện, thường thường anh và em vẫn cãi nhau. Bạn trai em luôn là người hòa giải. Bạn gái anh dịu dàng nói anh phải biết nhường nhịn con gái.

Cuối cùng anh là anh. Em vẫn là em.

Anh chia tay bạn gái. Cũng có thời gian chông chênh. Nhưng anh không hối tiếc. Anh và cô căn bản không hợp nhau. Dù cô ra sức chiều chuộng anh, nhưng anh vẫn thấy thiếu thiếu cá tính gì đó. Mà cá tính thiếu ấy mới thật sự hấp dẫn anh.

Em chia tay bạn trai. Có một lúc cảm thấy trống vắng. Nhưng em không hối hận. Em và bạn trai không tìm được tiếng nói chung. Dù anh ấy không khiến em bực mình, ít khi gây sự với em. Nhưng em vẫn thấy thiếu thiếu. Mà "thiếu thiếu" ấy làm em chán nản.

Anh và em không hẹn mà gặp nhau ở quán café cũ.Em gọi café đen.Anh gọi café sữa.

Người bồi đã quen với 2 người. Anh ta không để nhầm chỗ nữa.Anh yên lặng. Em cũng không nói. Đợi người bồi đi, anh kéo ly café đen về phía mình, đẩy ly café sữa về phía em.
Hôm đó 2 người uống thử "khẩu vị" của người kia.

Đêm ấy, anh nhắn tin cho em "Café đen hay thật! Anh bắt đầu thấy thích nó!"
Em nhắn tin lại cho anh "Café thêm sữa cũng rất tuyệt vời. Em sẽ uống café sữa..."

Sau đó em và anh luôn đi cùng nhau, bất luận ở đâu, em cũng luôn gọi café sữa cho em và không quên gọi café đen cho anh...

Kết:

Café đen hay café sữa đều là café, phải không?
Tình yêu đắng hay tình yêu ngọt đều là tình yêu... chẳng phải sao???

[Sưu tầm]

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image
Johann Strauss II


The Blue Danube - Bản Waltz bất hủ
Những ai yêu âm nhạc chắc cũng đã từng nghe bản Waltz “The Blue Danube” của Johann Strauss (II). Năm 1867, Johann Strauss sáng tác “The blue Danube” tên đầy đủ của bản nhạc này là “An der schönen blauen Donau”.

Hàng năm cứ mỗi lần đón chào năm mới, hàng trăm triệu khán giả truyền hình trên khắp thế giới đều háo hức chờ đợi dàn nhạc giao hưởng “Wiener Philharmoniker” của Áo trình diễn buổi hoà nhạc truyền thống “New Year Concert” chào mừng năm mới với bản nhạc kết thúc luôn luôn là bản Waltz “The Blue Danube” của Johann Strauss II.

"The Blue Danube" được Johann Strauss II (con) biên soạn và công diễn lần đầu tiên vào 9 tháng 2 năm 1867 trong buổi hoà nhạc của Ban Thánh ca nam thành Viên (Vienna Men's Choral Association). Phần lời ca do Josef Weyl viết dưới cái tên “An der schönen blauen Donau” (On the Beautiful Blue Danube – Trên dòng sông Đa nuýp xanh xinh đẹp).Tuy nhiên lúc này bản nhạc chưa được nhiều người chú ý.


Cũng năm đó, tại hội chợ Quốc tế Paris (World's Fair in Paris). Johann Strauss đã chuyển soạn bài này thành một phiên bản cho dàn nhạc hoà tấu với tên gọi là “Le beau Danube bleu” (Blue Danube Waltz) và đã thành công rực rỡ ngay từ buổi trình diễn đầu tiên. Từ đó về sau bản The Blue Danube soạn cho dàn nhạc hoà tấu, được nhiều dàn nhạc nổi tiếng trên thế giới trình diễn và đã trở thành một trong những tác phẩm âm nhạc được yêu thích nhất. The Blue Danube phần lời nhạc để hát theo do Josef Weyl viết và được chính Johann Strauss II đồng ý cho sử dụng trong Hội Chợ Quốc tế Paris năm 1867. Tuy nhiên sau đó thì phần lời hát đã bị lược bỏ để chỉ còn lại giai điệu, phần lời cũng được biên dịch ra cho nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới.

The Blue Danube không chỉ làm cho người nghe mê đắm mà cũng còn là một tác phẩm được ngay cả những nhà soạn nhạc hàng đầu thế giới khâm phục. Nhà soạn nhạc vĩ đại Johannes Brahms cũng đã phải khâm phục khi ghi những trang đầu của sheet nhạc The Blue Danube rằng "Thật đáng tiếc rằng bản nhạc này không phải do Johannes Brahms sáng tác".
Image
Bìa của bản "The Blue Danube"
Tổng hợp từ Internet.
"The Blue Danube" đã ra đời thế nào?

Dưới đây là các clips The Blue Danube (trên trang You Tube) được trình diễn do dàn nhạc theo các phong cách khác nhau.

BEAUTIFUL BLUE DANUBE!.avi

Famous Waltz Blue Danube Strauss - Silvester 2008

Blue Danube Waltz - New Year's Concert 2011 - Vienna Philharmonic

Vienna New Year's Concert 2012 - Johann Strauss: "The Blue Danube", Waltz, op. 314

André Rieu - The Beautiful Blue Danube

André Rieu & DJ Ötzi at Schönbrunn - La Ola Walzer

*******


Trở lại với bản “Dòng Sông Xanh” tiếng Việt do Phạm Duy viết lời từ bản nhạc này.
Trong “Ngàn lời ca khác”, Phạm Duy nói: “Cho tới năm 1949, tôi lập gia đình với Thái Hằng ở Chợ Neo Thanh Hoá và vì Thái Thanh,
lúc đó còn bé lắm, thích hát nhạc cổ điển cho nên tôi soạn lời ca cho những bài Dạ Khúc (Schubert), DòngSôngXanh (Johann Strauss),
Trở Về Mái Nhà Xưa (Curtiss) v.v... để cho cả hai chị em hát.

Thái Thanh thì lại bảo: “Hồi đó, năm tôi 14 tuổi, anh Phạm Duy cứ dùng tôi làm cái cớ lấy điểm với chị Thái Hằng, chị ruột của tôi.
Năm đó Thái Hằng khoảng 21 tuổi. Không lạ gì mà hồi đó đã có bài "Giòng Sông Xanh" nhạc Johann Strauss lời Việt.
Ông Phạm Duy đã phải đặt lời Việt cho bài "Giòng Sông Xanh" để cho cô Thái Thanh bé xíu hát thì mới lấy điểm được với bà Thái Hằng.”
(Thái Thanh, Giai phẩm Xuân Người Việt Ất Dậu, 2004)
Một dòng xanh xanh, một dòng tràn mông mênh
Một dòng nồng ý biếc, một dòng sầu mấy kiếp
Một dòng trời xao xuyến, một dòng tình thương mến
Một dòng còn quyến luyến, một dòng nhớ
Quay về miền đời lúc mơ huyền

(Kết ở đây)
Ánh dương lên xôn xao, hai ven bờ sông sâu
Cười ròn tiếng người, đẹp lòng sớm mai.
Những cô em tươi môi ngồi giặt yếm yên vui
Thả ý thắm theo người chở gió về suôi.
Hát vang lên cho vui, cô nàng ngồi bên tôi
Đời là khúc nhạc, đời là tiếng thơ
Nước sông reo như ru cuồn cuộn sóng trôi xa
Là tiếng hát mơ hồ mời đón lòng ta.

Sông về sông dào dạt ý
Hát tang bồng theo tầu mà đi
Ai giang hồ sau ngàn hải lý
Lỡ tình duyên nơi đâu đó ghé qua kinh kỳ.
Ôi, mắt em hoe như mây chiều rơi, rơi vàng lòng đời.
Ôi, mắt em xanh như đêm dài, đời người quên kiếp mai.
Sông về, sông cười ròn tiếng
Yêu mối tình bên bờ Thành Vienne.
Đôi giang hồ quay về bờ bến
Ngỡ mình vui trong ánh sáng muôn sao Thiên Đàng.

Ngày ấy, có tiếng ai khoan hò thuyền về.
Ngày ấy, có dáng em soi dòng chiều hè.
Ngày ấy, có tiếng ta hát gọi tình về
Nước sông miên man trôi đi.
Ngày ấy, lúc đến với em một lời thề.
Ngày ấy, lúc nói với em một chuyện gì.
Ngày ấy, lúc vui cuộc sống nhịp tràn trề
Nước sông miên man trôi đi.
. . . . .
A á a a a a a a a a ! Em ơi ! Em ơi ! Yêu đi !
A á a a a a a a a a ! Có sóng nước trên sông ghi.
A á a a a a a a a a ! Em ơi ! Em ơi ! Ra đi !
A á a a a a a a a a ! Nước cũ đón đưa về...
Những bạn yêu thích bài này và đã từng nghe Thái Thanh, Mai Hương… trình bày chắc hẳn không biết một điều rằng:
Có một đoạn chiếm gần hết nửa bài đã không đuợc hát lên. Chính Phạm Duy cũng thừa nhận như vậy:
“Bài Beau Danube Bleu” còn có một đoạn sau rất hay mà tôi có soạn lời Việt.
Tiếc rằng khi Thái Thanh-Thái Hằng và ban Thăng Long lăng xê bài này, họ đã không hát đầy đủ tất cả lời ca”
Người hỡi ! Ánh trăng rụng không tới nước.
Vì đêm rét mướt, dòng sông lắng câm.
Người hỡi ! Giúp nhau mở đôi mắt ướt
Ngắm cầu nhớ sông im cúi gầm.
Đi về đâu ? Đi về đâu ?
Nước lặng khô cứng đờ.
Màn tang buông tuyết phủ.
Người ơi ! Đi về đâu ?
Kiếp tù đầy nước giá
Xót thương cho cây khô nghèo.

Rồi đàn chim xanh từ trời thanh về vờn quanh.
Gió Đông chết ngoài sông mới, mùa Xuân tới.
Ai mơ hồ ngủ kỹ, mau ra đời
Bông hoa đầu rụng rơi trên sông xanh lơ.
Đi ! Ta đi, cùng đi theo sông, vờn sóng nước biếc.
Theo nhịp sóng vui tưng bừng.
Sông vi vu ù u... vui nghe tầu hú... u hú.
Sẽ đưa ta đi nơi xa mờ
Cùng đi, vào Thương với Nhớ.

(Trở lại từ đầu để kết)
Dòng Sông Xanh
Le Beau Danube Bleu


Nhạc Johann Strauss - Lời Việt : Phạm Duy
Do Mai Hương trình bày
Và do Thu Giang trình bày trọn lời

Thai Thanh - Giong Song Xanh

[Dòng Sông Xanh] - Ngọc Hạ - Full HD

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Khi người lao công quét dọn thuyết trình

Nguyễn Duy-An
Ngày ấy... năm 1994, TRW (Thompson Ramo Wooldridge, Inc.) với 8 hãng lớn khác trúng thầu của Bộ Năng Lượng (Department of Energy) về việc nghiên cứu thiết lập một “kho phế thải chứa đựng chất phóng xạ” (Radioactive Waste Management) trong lòng núi Yucca Mountain cách thành phố Las Vegas, tiểu bang Nevada, khoảng 100 dặm về hướng Tây Bắc. Lúc bấy giờ tôi là trưởng toán kỹ thuật của TRW chịu trách nhiệm nối kết các hệ thống máy móc từ hiện trường (Yucca Mountain) về văn phòng Bộ Năng Lượng ở Hoa Thịnh Đốn về trụ sở của 9 hãng xưởng rải rác trên khắp nước Mỹ nên “bị” chỉ định thuyết trình phần “Systems Integration” trong cuộc họp “kick off”. Hiện diện trong cuộc họp này, ngoài ban quản trị và một số nhân viên kỳ cựu của các hãng trúng thầu, còn có đại diện chính chức của Bộ Năng Lượng, cùng những người rất quan tâm tới vấn đề bảo vệ môi sinh vì lo sợ ảnh hưởng của chất phóng xạ trên vùng đất của họ như: Thống Đốc, Nghị sĩ và Dân Biểu của tiểu bang Nevada.
Image Sau khi nhận được tin, tôi đã lên gặp ông giám đốc lo về kỹ thuật của TRW để năn nỉ xin ông đổi người khác, hoặc chính ông ta thuyết trình vì tôi run lắm. Ông ta chẳng những không chấp thuận mà còn nhắc tôi rằng đây là “vinh dự” của hãng TRW nên phải cố gắng hết sức mình làm cho tốt trước mặt “bá quan văn võ” của chính phủ cũng như ban quản trị của các hãng khác. Tôi tìm gặp một vài người Việt Nam đã làm cho TRW lâu năm xin ý kiến, ai ai cũng sợ cho tôi, vì tiên đoán tôi sẽ bị những chuyên viên của nhiều hãng khác bắt bẻ về kỹ thuật, và nhất là bị kỳ thị vì giọng nói tiếng Anh không chuẩn. Tôi làm liều gọi cho “xếp lớn” của TRW xin ông can thiệp để thay đổi nhưng chính ông ta lại bảo tôi rằng đây là “ván bài định mệnh” và hãy dẹp hết những công việc khác, lo chuẩn bị kỹ lưỡng vì ban giám đốc đã họp bàn nhiều lần trước khi quyết định đưa tôi ra làm người thuyết trình về kỹ thuật...
Image Tôi đã “ăn không ngon, ngủ không yên” suốt hai tuần lễ chuẩn bị tài liệu thuyết trình, và cuối cùng lại còn run sợ hơn nữa vì cuộc họp được dời về trụ sở của hãng Booz, Allen & Hamilton (BAH) để tiện đường “Metro” (xe điện ngầm) cho những người tham dự, đặc biệt là nhân viên chính phủ đến từ Hoa Thịnh Đốn. Tôi chẳng xa lạ gì với hội trường của hãng BAH, vì lúc mới qua Mỹ tôi vẫn tới nơi này mỗi tối để lau chùi quét dọn trong thời gian còn là sinh viên ở Virginia. Tôi lo sợ không biết những nhân viên và ban quản trị tại đây sẽ nghĩ gì về mình khi nhận ra anh chàng “thuyết trình viên” hôm đó xuất thân là người “lao công quét dọn” văn phòng cho họ hơn 8 năm về trước. Tôi tâm sự với một số bạn bè người Việt trong sở về điều này và người nào cũng ưu tư lo lắng cho tôi. Đã tới đường cùng nên tôi chỉ biết liều mình “nhắm mắt đưa chân” phó mặc cho số phận. Ngay từ đầu, cơ hội thành công của tôi chỉ như “sợi tóc treo mành” vì tất cả những hãng đấu thầu đều muốn gạt TRW ra khỏi vị trí đứng đầu về kỹ thuật trong đề án mới; riêng cá nhân tôi chỉ là một người “thiểu số” nói tiếng Anh chưa rành... và bây giờ lại còn thêm mặc cảm là người “lao công quét dọn” ngay chính nơi mình sẽ lên bục đứng thuyết trình.


Buổi sáng hôm đó tôi tới “hiện trường” thật sớm nhưng đã có lác đác một số người đang xếp hàng trước phòng tiếp tân để nhận tên và tài liệu. Theo chương trình, tôi và 4 người thuyết trình khác sẽ lên họp bàn với phát ngôn viên của Bộ Năng Lượng khoảng 30 phút trước khi bắt đầu, để làm quen và thống nhất chương trình làm việc. Vừa bước vào văn phòng phía sau hội trường, tôi đã đụng đầu ngay ông Sam, phó chủ tịch của hãng BAH, đang đứng tán gẫu với người điều khiển chương trình hôm đó, bà Jeanette, phát ngôn viên của Bộ Năng Lượng. Sau khi bắt tay giới thiệu, ông ta quay sang hỏi tôi:
Image Tôi thấy anh quen lắm, không biết chúng mình đã bao giờ gặp nhau chưa?

- Tôi đã nhận ra ông Sam chính là vị giám đốc đã từng nói chuyện và khích lệ tôi ngày trước, mỗi khi tôi đến hút bụi văn phòng cho ông vì hầu như tối nào ông ấy cũng ở lại rất trễ, nên nhỏ nhẹ trả lời:

- Gần 10 năm trước, tôi vẫn tới dọn dẹp văn phòng cho ông mỗi tối.

- À ha. Anh chính là “người sinh viên trẻ” vừa đi học vừa làm lao công ban tối. Đúng rồi. Tôi đã nhớ ra rồi. Anh chỉ già dặn hơn một tý. Khâm phục... Khâm phục!

Tôi chỉ biết mỉm cười nói “cám ơn”, còn bà Jeanette thì niềm nở:

- Hay quá! Nếu anh John không ngại, tôi sẽ dùng chi tiết này để giới thiệu về anh trước khi thuyết trình. Sam nghĩ sao?

- Tôi cũng nghĩ vậy. Để xem... Từ hơn 8 năm nay, tôi không gặp lại John, và tôi cũng chưa bao giờ gặp một người lao công ham học như thế. Tôi còn nhớ John đã từng xin tôi những xấp giấy chi chít những “source code” nhân viên của tôi vất thùng rác để về nghiên cứu học hỏi thêm. Đáng lẽ ngày đó tôi nên nói chuyện với anh nhiều hơn và thuê anh vào làm trong hãng của tôi... Sau khi anh nghỉ làm ban đêm, tôi hỏi thăm mới biết anh đã ra trường và có việc làm tốt, nhưng tôi không ngờ “thuyết trình viên kỹ thuật” hôm nay lại chính là anh. Anh xứng đáng làm thầy của chúng tôi!

Sau đó, bà Jeanette nhờ ông Sam ghi lại những chi tiết về cá nhân tôi trong khi bà tiếp tục gặp gỡ và nói chuyện với những thuyết trình viên khác vì đã có vài người tới phòng họp. Sau mấy phút giới thiệu và họp bàn về buổi thuyết trình, ai ai cũng vui vẻ khích lệ tôi... Theo chương trình, bà Jeanette và ông Sam sẽ điều hợp chương trình và năm chúng tôi sẽ ngồi trên “sân khấu”, quay mặt xuống hội trường với khoảng gần 400 người tham dự. Tôi sẽ là người thuyết trình cuối cùng vì trước đó, đại diện Bộ Năng Lượng sẽ nói sơ qua kế hoạch chung của quốc gia về vật liệu phế thải chất phóng xạ, một người sẽ nói về dự án “Yucca Moutain”, rồi các công ty trúng thầu, hãng nào lo phần nào cũng như kế hoạch nghiên cứu, quản lý tài chánh và cuối cùng là hệ thống thông tin, nối kết tất cả vào một mối do chính tôi trình bầy.
Image Tôi mừng thầm trong bụng vì bước đầu coi như thuận lợi. Trong nhóm thuyết trình viên, ngoại trừ anh chàng giám đốc của hãng Duke Engineering có vẻ hơi “kỳ thị” vì thường nhăn mặt hay nheo mắt mỗi khi nhìn tôi, còn những người khác đều rất vui vẻ hòa đồng...

* * * * *

Tôi run run đứng dậy chuẩn bị lên bục thuyết trình khi bà Jeanette giới thiệu:

- Để tiếp tục chương trình, tôi xin nhường lời lại cho ông Sam, phó chủ tịch của BAH sẽ giới thiệu một thuyết trình viên rất đặc biệt, đến từ hãng TRW sẽ trình bầy với chúng ta về “systems integration” của dự án “ Yucca Mountain ”.

Ông Sam chờ tôi bước lên bục thuyết trình và khi “ánh đèn sân khấu” đã rọi vào tôi, mới bắt đầu lên tiếng:

- Kính thưa quý vị, tôi rất hãnh diện được bà phát ngôn viên của Bộ Năng Lượng uỷ thác cho việc giới thiệu anh John Nguyễn, một thuyền nhân Việt Nam đến Mỹ mới được 10 năm nay, và tôi đã có cơ may “quen biết” anh ta trong thời gian đó. Suốt hơn 2 năm trời, mỗi tối anh John vẫn tới lau chùi quét dọn văn phòng cho chúng tôi trong lúc theo học đại học; kính thưa quý vị, chính cái hội trường này cũng đã từng được anh ta hút bụi, lau bàn ghế... Và hôm nay, 8 năm sau, anh John đã trở về, không phải để làm “custodian” buổi tối, nhưng là đứng trên “podium” sáng nay để làm “thầy” dẫn giải cho chúng ta về phương án nối kết tất cả hệ thống máy móc trong dự án này. Kính thưa quý vị, giọng nói của anh John có thể còn mang nặng âm hưởng Á Châu, nhưng đồ án anh ta đưa ra, tôi thiết nghĩ quý vị cũng sẽ đồng ý với chúng tôi là “không chê vào đâu được” vì chính tôi và nhiều người đã xem qua và tất cả đều đồng ý như thế. Bây giờ, tôi xin được trân trọng giới thiệu anh John, một người đã rời bỏ “quê cha đất tổ” và gia đình để bước xuống một chiếc thuyền tre nhỏ bé, cùng bạn bè vượt biển tìm tự do, một thân một mình tới Mỹ, vừa tự mưu sinh vừa tiếp tục học để có được ngày hôm nay. Và đây, anh John Nguyễn, một thuyền nhân Việt Nam , một người lao công đã từng quét dọn nơi này, nhưng sáng hôm nay là thuyết trình viên kỹ thuật của chúng ta.

Tôi bàng hoàng xúc động vì những lời giới thiệu của ông Sam... Trong khi cả hội trường rền van tiếng vỗ tay cổ võ, tim tôi đập mạnh, tâm trí tôi vượt thời gian tìm về dĩ vãng của những ngày gian khổ ở quê nhà, những ngày lênh đênh trên biển, những ngày đợi chờ trong lo âu ở trại tỵ nạn Galang, và những ngày đầu bơ vơ lạc lõng nơi xứ lạ quê người. Khi tiếng vỗ tay vừa dứt, tôi nghẹn ngào run rẩy bắt đầu:

- Kính thưa quý vị, tôi xin chân thành cám ơn những lời giới thiệu chân tình của bà Jeanette và ông Sam. Tôi xin cám ơn những tràng pháo tay khích lệ của quý vị dành cho tôi, một người Việt Nam nói tiếng Mỹ chưa rành. Tôi xin cám ơn ban giám đốc TRW và toàn thể ban quản trị dự án “ Yucca Mountain ” đã tín nhiệm tôi... Từ chốn tận cùng của trái tim tôi, một niềm cảm xúc nghẹn ngào đang ào ạt dâng lên như sóng đại dương nên giọng nói của tôi lại càng khó nghe hơn lúc bình thường; tuy nhiên, tôi tin tưởng rằng tất cả quý vị sẽ thông cảm bỏ qua những sai lỗi của tôi trong cách phát âm tiếng Mỹ không chuẩn. Thêm vào đó, tôi cũng hy vọng rằng những sơ đồ minh họa trên màn ảnh sẽ thay tôi giải thích tất cả, vì ai trong chúng ta cũng hiểu rằng một biểu đồ (diagram) còn có giá trị hơn cả ngàn lời giải thích loanh quanh...
Image Tôi thật sự choáng ngợp và bối rối vì một tràng pháo tay lớn và rất dài vang lên từ khắp hội trường; tuy nhiên, tràng pháo tay đó cũng đã giúp tôi thêm lòng tự tin và hoàn tất buổi thuyết trình một cách tốt đẹp. Cũng có một vài câu hỏi có tính cách bắt bẻ, một vài ý kiến đề nghị thay đổi chỗ này chỗ kia, nhưng phần lớn đều đồng ý và tán thành đề án kỹ thuật của TRW do tôi trình bầy.

Ngay khi chương trình vừa chấm dứt, ông xếp của tôi chạy vội ra phía sau hội trường nắm chặt tay tôi khích lệ:

- John. Chúng tôi rất hãnh diện vì anh. Anh cứ ở đây gặp gỡ làm quen những người khác, hôm nay không cần về lại văn phòng. Ngày mai chúng ta sẽ nói chuyện nhiều hơn. Cố gắng lên. Anh làm tốt lắm. Anh nói bằng con tim và trí óc chứ không phải bằng miệng lưỡi ... Đừng mang nặng mặc cảm về giọng nói của mình nữa.
Image Tôi hớn hở bước ra hành lang phía trước hội trường, bắt tay trò chuyện với nhiều người thuộc nhiều hãng xưởng khác nhau. Người hỏi về chuyện vượt biên, “thuở hàn vi” ngày đi học tối làm lao công, kẻ hỏi về phương án làm việc và trao đổi “business card”... Tôi choáng ngợp vì ân tình của bao nhiêu người xa lạ, có những người đã từng là “đối thủ” của tôi trong thời gian đấu thầu dự án Yucca Mountain... Giữa tiếng ồn ào náo nhiệt của bao nhiêu người vây quanh, tôi nghe vọng tới một giọng phụ nữ nói tiếng Việt:

- Anh Khanh nì... Mình chờ một tý gặp anh John làm quen và mời anh ấy về Eden ăn trưa luôn cho vui.

- Đi thôi. Thằng chả chỉ gặp may chứ có hay ho gì hơn ai!

- Mình cũng được hãnh diện vì là người Việt chứ anh.

- Nếu Thy mê nó thì cứ ở lại chờ.

- Anh kỳ quá hà. Hơi một tý là ghen bậy ghen bạ. Đi thì đi...

Tôi ngoái cổ nhìn chung quanh nhưng vì chiều cao quá khiêm tốn của mình nên không tìm được những người bạn “đồng hương yêu dấu” ấy... Tự nhiên tôi cảm thấy cô đơn lạc lõng giữa rừng người không cùng màu da, tiếng nói. Tôi được người ngoại quốc niềm nở tiếp đón và có vẻ thán phục, nhưng hình như, tôi không được một số “đồng bào” của tôi tiếp nhận! Tại sao?

Mãi gần nửa giờ sau tôi mới một mình lững thững lê bước ra bãi đậu xe, lòng buồn man mác nhớ lại câu ca dao tôi đã thuộc nằm lòng từ thuở còn mài đũng quần trên ghế trường tiểu học ở Làng Ba, Bình Giả:

Khôn ngoan đối đáp người ngoài,
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

Mẹ Việt Nam ơi, từng bước từng bước chúng con đang hội nhãp vào nền văn hóa mới, nhưng cũng từng bước từng bước chúng con đang quên dần tình nghĩa “đồng bào” theo truyền thuyết “con rồng cháu tiên” của hơn bốn ngàn năm văn hiến. Liệu rồi thế hệ con cháu người Việt đang lưu lạc khắp bốn phương trời có còn nhận nhau là anh chị em “máu đỏ da vàng” nữa không?

Nguyễn Duy-An

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Cung Trầm Tưởng
MỘT HÀNH TRÌNH THƠ 1948-2008
KQ võ ý

I- HỒN TÔI CÁI ĐĨA THÂU THANH*

Vào ngày thứ bảy 21/07/2012 tới đây, tập thơ Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ 60 Năm, 1948-2008, sẽ ra mắt đồng hương, chiến hữu và cựu tù chính trị tại miền Trung Cali. Tập thơ bề thế, dày 644 trang kể cả 12 phụ bản tranh màu của các họa sĩ nổi tiếng như Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Vị Ý, Nguyễn Trung, Chóe và Ngô Vương Toại. Thơ in trên giấy màu vàng nhạt, bìa cứng màu lục sậm, đẹp và trang nhã, do Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2012 tại Hoa Kỳ, ấn phí 30 mỹ kim.

Một Hành Trình Thơ (MHTT) do bảy Thi Tập hợp lại, được phân chia như sau:

- 01- Sóng Đầu Dòng – Tình Ca và Quá Độ.

“là một bộ ba ghi những dấu chân lên đường còn giữ được của một hành trình thơ mà mục đích tiên khởi là chỉ để tiêu dao, cám cảnh và tỏ tình bông lông”. (CTT, MHTT, trang 25)

- 02- Lời Viết Hai Tay.

“Khi hai tay bị còng khóa số 8, khi hai chân bị cùm gông thiết diệp, khi thân xác bị trói gù lưng tôm, cái tâm người thơ cũng trực tiếp bị xúc phạm, nhức nhối và khốn khổ. Tâm chập vào thể, ra một nhất nguyên. Người thơ tù biệt giam – tù của tù – lấy cái đầu viết hộ cho hai tay bị còng, làm thơ như chơi cờ tưởng”. (CTT, MHTT, trang 130)

- 03- Bài Ca Níu Quan Tài.

“Nhan đề Bài Ca Níu Quan Tài được chuyển sát nghĩa từ từ Hán Việt “vãn ca”, tức hát níu quan tài. Vãn còn có nghĩa là một điệu hát buồn dùng để khóc than. Sự kết hợp nhuần nhuyễn của ba động tác khóc, hát và níu đã cung cấp cho người khóc Việt Nam một khả năng lột tả tối ưu nỗi đau ê chề, bề bộn của cảnh sinh ly tử biệt...Vì được viết bằng cái tâm nên sử thi nầy không thể không là một bản cáo trạng về tội ác của cộng sản” (CTT, MHTT, trang 293)

- 04- Những Dấu Chân Ngang Trên Một Triền Phiếm Định.

Người tù vác một vật nặng trên vai (bó nứa, khúc gỗ...) đi xuống “dốc mỡ”. Muốn được an toàn, bàn chân anh ta phải bám ngang dốc để lần từng bước xuống thì mới an toàn. Nếu đi thẳng thì rất dễ chúi mũi trượt té. Một cách nghĩ khác, đi ngang vừa thấy phía trước là tương lai, vừa nhìn được phía sau là quá khứ. Tương lai thì đen tối và đầy mai phục và quá khứ như là điểm tực cho sự sống. Còn Phiếm Định là bất trắc, là bất ổn. Có thể tác giả muốn biệu hiện một sự ham muốn sống, cố giữ một thế đứng thẳng và vững cho dù có bị lâm vào những hoàn cảnh đầy thử thách, bấp bênh, hiểm nghèo, bi đát.

- 05- Thi Bá – Con Tắc Kè và Bà Góa Phụ.

Tiếng kêu của Con Tắc Kè trong đêm vắng, biểu thị cho nỗi cô đơn. Bà Góa Phụ là nạn nhân của chế độ. Khi tuyệt vọng và cô đơn, Bà Góa Phụ mới phát hiện tiếng kêu của Con Tắc Kè, bà hàn huyên tâm sự với nó. Con Tắc Kè như thông cảm nỗi đau khổ của bà. Con Tắc Kè chính là hóa thân của Thi Bá. Tóm lại, người thi sĩ sinh ra là để ca ngợi và tô điểm cuộc sống, người thi sĩ cũng luôn tìm cách làm vơi đi nỗi khổ của thế nhân. CTT thể hiện Tâm Sử Thi nầy như một vở kịch thơ mà “lời thoại” được đẽo gọt qua từng “con chữ” thể hiện tính riêng biệt trong “cõi thơ” của mình..

- 06- Mỗi Dặm Đường Một Nghìn Vần Thơ.

Tác giả vẽ lại vạn vật cỏ cây hoa lá dưới trí tưởng tượng phong phú của một nhà thơ. Đây là bài thơ xanh ca ngợi sinh thái mang chủ nghĩa “Duy Nhiên” (naturalism). Những vần thơ tỏa ra nhiều hình ảnh rất thơ và rất đẹp. Thi Tập thứ 6 nầy là một công trình sáng tạo đầy ắp kiến thức, rung cảm và nhân tính của nhà thơ CTT.

- 07- Sáng Ký Về Người Tình Đầu.

Sáng là sáng tạo, ký là câu chuyện. Câu chuyện sáng tạo về người Tình Đầu (first lover) cũng là Thi Sĩ. Thượng đế rất ưu ái người thi sĩ và phái xuống trần gian để vỗ về an ủi con người. Thi sĩ là người Tinh Đầu của nhân loại. Ý tác giả muốn vẽ lại sự xuất hiện của thi nhân bằng trí tưởng tượng của một thi sĩ mắc bịnh bìa (borderline) nửa tỉnh nửa điên. Có thể nói Thi Tập 7 nầy như là một thứ “Kinh Cựu Ước” nói về sự hình thành sự sống đầu tiên của con người trên trái đất qua hình ảnh của một thi nhân. Đây là sáng tạo độc đáo của nhà thơ CTT. Từ cổ chí kim, từ đông sang tây chưa hề có một thi tập như thế nầy.

- Cung Trầm Tưởng là bút hiệu, tên trong khai sinh là Cung Thức Cần,
- Ngày sinh: 28 tháng 2 năm 1932, tại Hà Nội.
- Tốt nghiệp Kỹ sư Trường Võ Bị Không Quân Pháp,
- Tốt nghiệp Cao Học Khí Tượng tại Saint Louis University, MO, Hoa Kỳ,
- Quản Trị An Ninh Quốc Gia Và Tài Nguyên Quốc Phòng Hoa Kỳ (hậu đại học)
- Cựu Trung Tá Không Quân, phục vụ tại BTLKQ, Sài Gòn
- Đi tù cộng sản 10 năm (1975-1985), bị quản chế 3 năm (1985-1988).
- Định cư tại Minnesota, Hoa Kỳ cùng gia đình kể từ 1993.


Chúng tôi nhận được Tập Thơ do tác giả ký tặng như là một đồng đội và nhất là một bạn tù cùng chia sẻ những tủi nhục và cùng nung nấu một niềm tin với tác giả trong các trại tù Suối Máu, Hoàng Liên Sơn và Hà Tây.

Các Thi Tập Lời Viết Hai Tay, Bài Ca Níu Quan Tài, Những Dấu Chân Ngang Trên Một Triền Phiếm Định và Thi Bá, Con Tắc Kè Và Bà Góa Phụ, là những Tâm Sử Thi ghi lại những hình ảnh sống động đầy ắp tính man rợ, cùng những tiếng khóc thảm khốc của Việt Nam sau tháng 4/1975. Hai Tập sau cùng Mỗi Dặm Đường Một Nghìn Vần Thơ và Sáng Ký Về Người Tình Đầu mang tính sáng tạo triệt để về nội dung cũng như phong cách. Toàn tập là một công trình đồ sộ, công phu tỉ mỉ của thi nhân (mà cũng là nghệ nhân) miệt mài đẽo gọt từng con chữ, khắt khe từng gam màu, ve vuốt từng ngữ điệu, biến dòng thơ 60 năm thành một Cõi Thơ Cung Trầm Tưởng riêng biệt rạch ròi.

Vì lẽ đó chúng tôi liều mạng viết đôi điều cảm nhận thô thiển để giới thiệu đến độc giả đồng hương hải ngoại, cũng là nhân chứng của một giai đoạn lịch sử, về tuyển tập thơ giá trị của nhà thơ Cung Trầm Tưởng.

II- CÓ MỘT ĐỜI TA TRÔI BẤP BÊNH

Sau 30/04/1975, tôi gặp nhà thơ Cung Trầm Tưởng (CTT) trong Trại giam Suối Máu Biên Hòa, mới biết nhà thơ là Trung Tá Trưởng Phòng Chương Trình và Kế Hoạch Bộ Tư Lệnh Không Quân, chứ trước đó thì chỉ biết ông là tác giả có tên trong Nhóm Sáng Tạo, đã xuất bản tập thơ đầu Tình Ca, do họa sĩ Ngy Cao Uyên vẽ bìa và Phạm Duy phổ nhạc bài Tiễn Em, Bên Ni Bên Nớ, Mùa Thu Paris...

Cùng hoạn nạn là đã thương cảm nhau rồi, huống hồ lại cùng màu cờ sắc áo. Chỉ mấy câu thơ chào sân tại trại Suối Máu của CTT đã đi vào tiềm thức của tôi một cách êm ái từ 1976 cho đến bây giờ: “Nắng nhói như kim khêu thương tích/ Thuyền mây từng mảng vỡ lênh đênh/ Trên trăm ngàn mảnh trời kia vỡ/ Có một đời ta trôi bấp bênh...”.

Tết 1976, tết đầu tiên bị tù trong đời, khi nghe chuông nhà thờ Tam Hiệp ngân nga lúc giao thừa, CTT ngấn lệ nghĩ đến thân phận cá chậu chim lồng và bài thơ Lệ Chuông ra đời và anh thân tặng chúng tôi, như thể cùng một cảnh phương trời hoạn nạn: “Nay muốn bay lên không có trời/ Trong lồng gẫy cánh nằm im hơi/ Chim vốn là tim, trời là máu/ Không máu tim nào chẳng héo rơi/” (Lệ Chuông, MHTT, trang 138)

Mấy tháng sau tết 1976, chúng nó đóng hộp tất cả Sĩ quan tại Suối Máu chuyển ra các trại giam Hoàng Liên Sơn. Chúng tôi tìm cách liên lạc với nhau mỗi ngày lao khổ, đứa leo núi đẵn gỗ, người lên đồi vở đất trồng sắn, kẻ chặt giang nứa rừng hoang. Năm 1979, khi mấy tỉnh phía bắc bị giặc Tàu tàn phá, chúng đưa tù từ miền cao về miền trung du. Chúng tôi lại gặp nhau tại trại Hà Tây, CTT “biên chế” vào đội mộc, tôi vào đội rau xanh, cách nhau một cái ao nuôi cá. Hầu như mỗi ngày, lợi dụng xuống ao rửa sạch “phân xanh” khi tưới rau, tôi lẻn qua trại mộc để nhặt từng vỏ bào nung nấu của CTT, “bằng vai giạng đứng thế chân, bào cho lên nước đường vân của lòng”....

Tôi như con nghiện, phải tìm cách lội qua ao tù mỗi ngày để được chích vào tĩnh mạch những đường vân ma túy có tên gọi Kỳ Cùng:
…
“Có sông nhưng mà người không nước/ Nước bán xon rồi, bán lấy chi?- Một núi hư vô lầm chủ thuyết/ Bốn bên mây phủ kín màu chì” (Đất, trang 209, CTT, MTHT)
…
“Nó cõng vua Lê và chúa Mác/ Về quê cha giết mẹ hiền lành/ Tang sô bạc trắng đầu con trẻ/ Cỏ ngút sân trường, chợ vắng tang” (Người, trang 210, CTT, MHTT)
…
“Có chồng mà tưởng như chồng mất/ Hương nhang đã cháy trong lòng/...Em đứng ôm con bồng mưa nắng/ Sắt son, dũng cảm đến Kỳ Cùng” (Và Em, trang 211, CTT, MHTT)

Đường vân của lòng là một quy tụ những nung nấu trong lò cừ dưới thời của quỷ qua cái bảng hiệu mỹ miều Trại Cải Tạo treo đầu dê bán thịt chó. Đường vân của lòng chính là những áng mây hiện thực từ đáy sâu tâm tưởng đã bùng ra và tỏa bay khắp trời thênh thang sau mười năm hai tay bị còng qua thi phẩm thứ hai của CTT là tập thơ Lời Viết Hai Tay: “...Bài học rút ra thật dứt khoát/ Nó tôi chẳng thể đội chung trời/ Nó còn tôi mất, đơn sơ vậy/ Nó mất tôi còn, chỉ thế thôi!...Vẫn cất hồn lên tìm ánh sáng/ Xa vùng cát lún, bãi lầy sâu/ Đêm đêm thơ giống như cờ tưởng/ Bầy chữ tung tăng múa ở đầu...”

Do điều kiện dinh dưỡng vệ sinh trong tù, nhiều bệnh truyền nhiễm hoành hành, mà thông thường là kiết lị và lao phổi. Tôi đã nhờ vào số thuốc tây của CTT (do Hội Văn Bút Thụy Điển (?) gởi về trại Hà Tây biếu anh) để trị bịnh kiết lỵ. Nhưng liều thần dược linh nghiệm hơn thuốc kiết lỵ, chính là những vần thơ hào hùng có đủ đa sinh tố cần thiết để vực dậy những bi quan yếm thế trong tù. Nếu ngày xưa Phùng Quán đã nói (đại ý): Khi ngã quỵ, hãy vịn câu thơ mà đứng dậy, thì ngày nay, trong trại tù cộng cản, CTT vẫn an nhiên nói : “Nếu giữa cơn đau tôi ngã xuống/ Vết thương bầm tím máu hình hài/ Lòng tôi vẫn đứng không lui nhượng/ Gối chẳng quỳ hàng, miệng chẳng khai” (MHHT, trang 251)...”Lòng ta đứng vững như Vầu/ .../ Nắng mưa thì cũng trọn đời đứng ngay” (MHHT, trang 173)...”Tóc vấn phong ba em đứng mũi/ Một thuyền lèo lái cõi càn khôn/ .../ Em vẫn đoan trang từng lóng trúc/ Vút roi quất ngã kẻ thù người/” ...(MHHT, trang 211).

Người tù nào cũng nhận thấy Thơ Tù CTT mang hơi thở và ước vọng như của chính mình, nên họ rất mong được chia sẻ và bảo bọc nhà thơ. Nhân một ngày lao động khổ sai, mọi tù nhân cố vượt qua con suối với gánh “hom sắn” trên vai, trừ CTT đang lóng cóng bên bờ suối. KQ Nguyễn Minh Công bèn cõng bạn qua con suối xiết, và bài thơ Con Công ra đời trong tình tù: “Cám ơn chim công/ Cõng ta qua sông/ Mấy mùa nước lũ/ Lận đận mưa ròng/ (...)/ Mấy năm ở rừng/ Gặp toàn thú ác/ Lòng ta tan tác/ Những dòng lệ rưng/ (…) Công bay lên trời/ Vẫn nhìn nhớ đất/ Công chuyền cành quất/ Vẫn không quên trời” (MHTT, trang 192).

Trung Tá Nguyễn Minh Công, Giám Đốc Trường Mưu Sinh Thoát Hiểm/ TTHLKQ Nha Trang, ra tù năm 1988 và mất vào năm 1989 tại Tân Định. CTT có mặt trong ngày đưa tang và chị Công đã xin nguyên bài thơ Con Công chép tay để trên bàn thờ của người bạn đời yêu dấu của mình.

Vừa ra khỏi nhà tù nhỏ, CTT âm thầm viết Bài Ca Níu Quan Tài (BCNQT), một tâm sử thi thu âm lại tiếng khóc, chụp lại hình ảnh tận cùng bi thiết của xã hội Việt Nam sau 04/1975. BCNQT được viết tay vào một tập vở học trò, như một quả bom nghìn tấn được cất giấu tại từng 3 một chung cư ở ngay trung tâm Sài Gòn: “...Kinh bang sao chép Nga Tàu/ Bình quân là chặt cái đầu cao hơn.../ Một bầy táng tận lương tâm/ Ăn hồ, ăn giẻ, ăn vần ngày công/ Ăn tranh trẻ lọt lòng/ Ăn lường tiếng khóc khép vòng tử sinh.../ Ngón đòn lý lịch ly kỳ/ Cha là “ngụy”, phạm trường quy con rồi.../ Mẹ xưa khóc níu quan tài/ Nàng giờ ai vãn lại lời mẹ xưa...”

BCNQT được chào đời tại Mỹ quốc trong sự đùm bọc của đồng đội anh em. Cá nhân tôi được đọc qua BCNQT tại Sài Gòn và tôi nghĩ ngay đến việc làm sao giúp tập thơ chào đời tại Mỹ quốc. Vào thời điểm ấy, đang có chương trình HO và ODP cho phép thân nhân và cựu tù chính trị đủ điều kiện định cư Mỹ quốc. Sẽ là chuyện điên rồ nếu nhờ những đồng đội sắp xuất cảnh mang theo BCNQT. Chúng tôi nghĩ cách an toàn hơn là nhờ các “bộ nhớ” xuất sắc mà chúng tôi đã gặp trong tù sắp ra đi theo diện HO, chịu khó học thuộc lòng tập thơ. Cuối cùng, Thiếu Tá Lâm Tùng Nguyên, Trưởng Phòng Quân Báo Sư Đoàn 4 KQ, nhận lời học thuộc lòng khúc “Ai Vãn” tròm trèm 1000 câu thơ trong vòng một tháng trước khi gia đình anh đi Mỹ theo diện ODP vào năm 1989. Bài Ca Níu Quan Tài được ghi chép lại và xuất bản tại Mỹ năm 2001. Thơ tù của CTT đã được đồng đội cưu mang trong tình nghĩa như vậy đó.

Sau BCNQT, chúng tôi không được dịp thưởng thức những vần thơ sáng tác tại Minnesota. Khoảng 2008, tôi từ Saint Louis, Missouri chuyển về miền trung Cali, được biết CTT muốn ra một tuyển tập thơ 60 năm. Tôi giới thiệu CTT với nhà thơ Tâm Vô Lệ, Giám Đốc Thư Viện Toàn Cầu, và hai bên đã đồng thuận tiến hành những bước cần thiết cho việc in ấn. Mãi đến tháng 5 năm 2012, tôi nhận tập thơ ký tặng của tác giả, vừa bất ngờ vừa mừng vui.

Những cảm nhận dù thô thiển, cũng là cách đáp lại cái tình cố tri (chữ của CTT) mà tác giả đã dành cho tôi...


III- CHẬP CHỜN CÁNH BƯỚM HIỆN DẦN RA

Trong tiểu mục nầy, chúng tôi muốn mượn hình ảnh chập chờn cánh bướm để diễn đạt những ghi nhận về “Tính Thơ CTT”.

A- TÍNH LIÊN TỤC - Tập thơ là một hành trình liên tục và xuyên suốt 60 năm, ghi nhận những thăng trầm của đời người, dân tộc và lịch sử. Tính thủy chung đã tạo thành một dòng thơ cá biệt, có thể gọi là Cõi Thơ CTT: “Riêng bản thân người viết dựa vào kinh nghiệm sáu mươi năm làm thơ của mình, nhận thấy có một liên hệ nhân quả giữa những chữ thơ gieo đầu đời và mùa gặt thơ mai sau” (CTT, MHHT, trang 30).

Còn Giang Hữu Tuyên thì ghi nhận như sau: “Mỗi nhà thơ có một cơ duyên và “lộ trình” riêng để đến với độc giả, đến với người thưởng ngoạn thơ mình.
Cung Trầm Tưởng trước: diễm lệ, khuê các.
Cung Trầm Tưởng sau: hoành tráng, phẫn nộ.
Nhưng thủy chung như nhất, nằm tận sóng đáy tâm hồn tác giả là dòng “dưỡng trấp” trữ tình”. (Giữa Trước Và Sau, Giang Hữu Tuyên, MHHT, trang 504)

B- TÍNH SÁNG TẠO- Tính sáng tạo hiển hiện trong mỗi bài thơ, nó cũng hiển hiện trong mỗi con chữ trong mỗi câu thơ ông viết ra. Ba Thi Tập 5, 6 và 7 chính là ba Thi Tập mang tính sáng tạo toàn diện. Trong lãnh vực thơ, nếu hiểu sáng tạo là sáng kiến để tạo một ngôn ngữ mới, thì Lục Bát CTT mà nhà thơ Viên Linh gọi là “Lục Kinh Bát Quái”, là một thí dụ điển hình: “Tôi về bước bước đăm chiêu/ Tâm tư khoác kín sợ chiều lạnh thêm/” (…). (Khoác Kín, MHTT, trang 73). Xin mời đọc lại Tiểu Mục I, nhận xét về tính sáng tạo trong Thi Tập 6 và Thi Tập 7:
Tính sáng tạo trong Thi Tập 6: “Chào lim lưng trời tựa/ Lẫy lừng rừng bạch dương/ Phi lao lớn phi thường/ Chào hào hùng trắc bá/ .../Chào ném lao phi yến/ Thế vận hội vàng anh/ Chào khướu, khách đua tranh/ Vành khuyên dòn kỷ lục/.../ Mưa nuôi đời phồn thực/ Làm thành thế giới xanh/ Người ngoan, đất cũng lành/ Vì Trời hằng muốn thế/ Trời Đất chỉ biết cho/ Nên Đất Trời bất tử”

Tính sáng tạo trong Thi Tập 7 :”Nó khóc hay hơn là hát hỏng/ Đời phèn họng nó cũng đùn chua/ Rốn vừa xót xáy lìa lòng mẹ/ Hồn đã tanh tao bị bỏ bùa/ “Xung phong uống máu thù phanh xác!”/ Lời hát đeo như một bớt chàm/ Nó tắm trong nồi da xáo thịt/ Sinh làm nô Bắc, tử binh Nam”...

C- TÍNH SỬ THI – Ba Thi Tập Lời Viết Hai Tay, Bài Ca Níu Quan Tài và Thi Bá Con Tắc Kè Và Bà Góa Phụ là ba thi phẩm ghi lại cảnh sống của dân tộc trong một giai đoạn lịch sử sau 04/1975 cho tận ngày nay: “Người thơ xưa nói lên tâm thức bộ lạc. Người thơ tù “cải tạo” bây giờ, một nạn nhân kiêm chứng nhân, nói lên tâm thức cộng đồng của những người tù cải tạo” (Ainsi Parlait Le Poète, CTT, MHTT, trang 130): “Ngón đòn lý lịch ly kỳ/ Cha là “ngụy”, phạm trường quy con rồi/ ...Nỗi đau da thịt không liền/ Phân ly, kỳ thị hai miền nát tan/ .../ Mẹ xưa khóc níu quan tài/ Nàng giờ lệ đổ nối dài trường giang/ “ (Bài Ca Níu Quan Tài, MHTT trang 347)

D- TÍNH TRỮ TÌNH – Tính trữ tình trước 75 nằm rải rác trong Tình Ca: “Mùa thu nơi đâu/ Người em mắt nâu/ Tóc vàng sợi nhỏ/ Mong em chín đỏ trái sầu/ (…) Tàu em đi tuyết phủ/ Toa em lạ lẫm đầy/ Làm sao em yên thấm/ Cho ấm mộng đêm nay/ Và xuôi ngon trên trống trải đường dài/” (MHTT, trang 70,71)

Tính trữ tình vẫn hiển hiện sau 1975. Khi VietHome phỏng vấn về tính trữ tình trong thơ tù, CTT trả lời: “Có chứ, và khá nhiều đấy. Chất trữ tình nó ở trong máu mình rồi, có muốn cai nó cũng không được. (…) Xin dẫn một số câu thơ:”Nhớ em trông ngóng hằng đêm/ Màn lay tưởng tóc, gối mềm tưởng da/ (...)/ Em về giữa lúc khuya sang/ Mênh mông đức hạnh, dịu dàng ưu tư/ Em đoan trang dáng hiền từ/ Tóc rừng thu liễu rũ bờ vai thương/ (…) “Tôi đi thu nghiệm thêm mầu phép/ Níu giữ mặt trời đứng ngọ lâu/ (...)/ Tôi làm chiếc ghế lót trăng đêm/ Mời cô ngồi xuống nồng hơi lụa/ Để đá như da cũng biết mềm/ (...)” (Những Dấu Chân LIZ, MHTT, trang 457).

E- TÍNH PHẢN KHÁNG – Khi VietHome phong vấn về tinh phản kháng trong tù, nhà thơ CTT lại trả lời: “Cũng như thơ của nhiều người tù khác, thơ của tôi có những vần phản kháng và chống kháng mãnh liệt. Giáo Sư Nguyễn Ngọc Diễm gọi những vần thơ nầy của tôi là nộ thi. Tôi tự nghĩ rằng, nếu không làm những vần thơ phẫn uất như vậy, tôi sẽ là một kẻ đạo đức giả. (…) Xin trich dẫn một số câu thơ điển hình cho dòng nộ thi của tôi: “Cái đau vì nắng rần rần/ Vì thâm thù mới mười lần gớm hơn/ Mồ hôi tuột cán cuốc trơn/ Nắm cho chặt nỗi căm hờn này nhe!/…/ Một nhát quắm sâu dang đứt phựt/ Nghe vùi hun hút một phiền âu/ Hai nhát tông bay rên xiết nứa/ Nghe chôn u uất bốn buồn rầu/.../ Môt quắm. Hai tông. Ba phạt núi/ Bốn tông. Năm quắm. Sáu băng rừng/ Từ ấy rừng băng chân cứng đá/ Mai về đạp vỡ cửa lao lung/.../ Hãy chặt chặt sâu tông phắt phắt/ Hãy phang phang gắt quắm ào ào/ Mai về đạn nhảy ngay nòng súng/ Trực chỉ đầu thù nổ thật mau!” (MHTT, trang 558)

F- TÍNH NHỤC THỂ – Có thể nói Cõi Thơ CTT thể hiện nhiều bất ngờ mà một trong những bất ngờ này là Tính Nhục Thể: “ Chúng ta chỉ có đời nầy thôi để hưởng thụ/ Để ăn bùi, uống lịm, làm tình/ Và làm ra sản phụ/ Bú mớm lớn tương lai/ Cất lợp một vòm đài cho linh hồn trú ngụ”. (Nhả Tụng Cho Một Thân Xác, trang 459)

Xin trích dẫn vài câu thơ mang gợi cảm nhục tính xuyên suốt dòng thơ 60 năm của CTT: “Đến anh thân thể lụa là/ Dài đuôi con mắt, ngắn tà váy yêu/ Đến anh lưng thắt chiết yêu/ Sểnh tâm phá giới con diều ái ân” (Râu Xanh, trang 82). “Thì ra anh mới biết, Sau xoắn xuýt thân nhau/ Con sâu tình tội lỗi/ Vào đùn mối hồn sầu” (Mãn Cuộc, trang 100). “Mời em cạn cốc nầy luôn/ Buông con hoẵng chạy vào hồn nửa đêm/ Sương dầm tuyết dãi rơi êm/ Trở thân con hoẵng chao mềm thịt da/.../ Lông con hoẵng ấy vàng tơ/ Xin quỳ hai gối vái thờ thần linh” (Vật Tổ, trang 425). “Con chim mào đỏ về hong nắng/ Phút ấy đời trai chỉ một lần/.../Rúc tiếng còi sương, đêm khuya rách/ Một hồn con gái rớm tình yêu/ Gối chăn nồng bén hương thân thể/ Biển dưới Trường Sơn khóc mỹ miều” (Những Dấu Chân Liz, trang 450). “Bốn mắt thắp mặt trời đêm rạng rỡ/ Bước nhịp nhàng một luân vũ lung linh/ Với trăm thương nghìn mến nến ân tình/ Tỏa sáng láng môi thơm men hợp cẩn” (Môt Luân Vũ Lung Linh, trang 465).

Tính nhục thể trong thơ CTT mang tính ẩn dụ, thôi thúc người đọc vận dụng đến trí tưởng từ những câu thơ trau chuốt, bóng bẩy để rồi khi đã vỡ ý ra rồi thì lại cảm thấy sung sướng, hả dạ và thích thú.

IV- SỐNG SAO CHO XỨNG LŨY THỪA THƯƠNG ĐAU

Thơ tù của CTT vừa là thuốc đa sinh tố vừa là cây gậy (để giúp người tù đứng thẳng), nên các bạn tù của ông hầu như ai cũng học thuộc lòng một vài câu cho đến một vài bài thích hợp để nuôi dưỡng cuộc sống tù. Mà cuộc sống trong tù của Quân Cán Chinh VNCH chính là Tình Nước và Tình Nhà. Tôi cũng vậy, những câu thơ hoặc bài thơ mang tính Trữ Tình và Phản Kháng (Nộ Thi) của CTT tôi đều học thuộc hay tìm cách lưu giữ. Bài thơ Những Dấu Chân Liz gồm 246 câu được tôi chép kín bằng chữ nhỏ vào hai trang của một tờ giấy học trò từ Trại Hà Tây và cất giấu cho đến ngày mang nó sang Saint Louis MO năm 1992. Các bài khác như Biểu Tượng, Kỳ Cùng, Vạn Vạn Lý...rất cần thiết cho ngũ tạng lục phủ của tôi, bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu.

Như hai câu kết trong bài Biểu Tượng, trang 173: “Vầu đanh như thép sáng ngời, Nắng mưa thì cũng tron đời đứng ngay” là một nhắc nhở quý báu đối với người tù trong địa ngục của quỷ. Được biết, cây vầu cùng họ với cây nứa cây tre hay cây trúc, nhưng cao và to hơn cây tre rất nhiều. Cây vầu được nhà thơ chọn làm biểu tượng, để noi lên khí phách của người tù chính trị, vì vầu như trúc đều là tiết trực tâm hư (lóng thẳng ruột rỗng) là biểu tượng của người quân tử.

Quan niệm sống của thi sĩ ngày càng thiên về với thiên nhiên. Tư tưởng nầy kết thành Thi Tập 6 và bàng bạc trong Những Dấu Chân Ngang: “Lên lên ráp nối phi thuyền/ Ghép chung trí tuệ, nối liền cảm thông/ Hãy đi bốn biển tang bồng/ Kết cho bền mối tương đồng năm châu/ Nghe châu Mỹ, ngóng châu Âu/ Dưỡng nuôi nhân bản, đỡ đầu hành tinh/ Hãy đi đan nối tâm tình/ Dấn thân vào chuyến viễn chinh màu hồng/ Khẳng khiu một nhánh xương rồng/ Giữa sa mạc cát vẫn nồng nhựa say” (Chuyến Chót, trang 394).

Vừa qua ngưỡng cửa bát tuần mà cụ ông CTT vẫn cứ bước chân ngang trên một triền phiếm định như thuở nào, nghĩa là vẫn yêu đời yêu người chưa nguôi với một luyến ái quan không tuổi (chữ của CTT): “Dưới nếp trán nhăn nheo/ Một luồng niềm đằm thắm/ Lưu niên hồn mẫn cảm/.../Sống bắc qua tha nhân/ Một chiếc cầu lân trợ/ Xích ghế lại kề gần/ Bằng nụ cười niềm nở/ .../ Mỗi lần nói thương nhau/ Là cách tân ngôn ngữ/.../ Anh trẻ ra trăm tuổi/ Khi em nói yêu anh/ Yêu em anh nói với/ Tiếng nói của lòng mình/ Một trinh nguyên ngôn ngữ/ Của bảy sắc cầu vồng”...(Cho Một Hồn Không Tuổi, CTT, thư riêng).

Quan niệm sống như vậy, là ông đã thực sự thủy chung với từng con chữ và với cả cõi thơ của riêng ông. Trong bài Điểm Tâm Xuân Hoàng Liên Sơn sáng tác năm 1978 với 4 câu kết như sau:

Mai sau thịt thắm da liền,
Cái yêu khác trước, cái nhìn khác xưa,
Cái tin vô cớ xin chừa,
Sống sao cho xứng lũy thừa thương đau.

Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ 1948-2008 ra đời, là để thể hiện cách sống sao cho xứng với lũy thừa thương đau mà cả dân tộc của ông đã và đang hứng chịu.

Bắc Đẩu võ ý
Corona, 06/2012

(*) Tựa của 4 Tiểu Mục là thơ của CTT

Post Reply